Đây là những yếu tố có ảnh hưởng to lớn đến chất lượng ra quyết địnhcủa KTV và qua đó ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc kiểm toán.Các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam cũng chỉ tập trung v
Trang 1-NGUYỄN THỊ NGỌC MAI
ĐÁNH GIÁ TẦM QUAN TRỌNG CỦA MỘT SỐ THUỘC TÍNH CÁ NHÂN CỦA KIỂM TOÁN VIÊN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2013
Trang 2-NGUYỄN THỊ NGỌC MAI
ĐÁNH GIÁ TẦM QUAN TRỌNG CỦA MỘT SỐ THUỘC TÍNH CÁ NHÂN CỦA KIỂM TOÁN VIÊN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đình Hùng
TP Hồ Chí Minh - Năm 2013
Trang 3hoàn toàn được xây dựng, phát triển từ những quan điểm cá nhân của tác giả vàdưới sự hỗ trợ, hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Đình Hùng Các số liệu và kếtquả có được trong luận văn tốt nghiệp là hoàn toàn trung thực.
TP Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Mai
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1Tính cấp thiết của đề tài 1
2Tổng quan nghiên cứu 2
3Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
4Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5Phương pháp nghiên cứu 4
6Đóng góp mới của luận văn về lý thuyết và thực tiễn ứng dụng 4
7Kết cấu của đề tài 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC THUỘC TÍNH CÁ NHÂN CỦA KIỂM TOÁN VIÊN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN 6
1.1 Tổng quan về chất lượng kiểm toán 6
1.1.1 Định nghĩa về chất lượng 6
1.1.2 Định nghĩa về chất lượng kiểm toán 6
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán 8
1.2.1 Yếu tố đầu vào của một cuộc kiểm toán 9
1.2.2 Quá trình kiểm toán 10
1.2.3 Công ty kiểm toán 10
1.2.4 Ngành công nghiệp kiểm toán và thị trường kiểm toán 10
1.2.5 Thể chế 10
1.2.6 Tác động kinh tế của kết quả kiểm toán 11
Trang 51.3.2 Ảnh hưởng của thuộc tính cá nhân của kiểm toán viên đối với chất
lượng kiểm toán 12
1.3.3 Các thuộc tính cá nhân đặc trưng của một kiểm toán viên chuyên nghiệp 18
CHƯƠNG 2.KHẢO SÁT TH C TR NG CÁC THUỘC TÍNH CÁ NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN 25
2.1 Thực trạng về chất lượng kiểm toán, thị trường kiểm toán, các công ty kiểm toán và đội ngũ kiểm toán viên ở Việt Nam hiện nay 25
2.1.1 Thực trạng về chất lượng kiểm toán ở Việt Nam hiện nay 25
2.1.2 Thực trạng về thị trường kiểm toán, các công ty kiểm toán và đội ngũ kiểm toán viên ở Việt Nam hiện nay 26
2.2 Mô hình nghiên cứu 30
2.2.1 Cơ sở khoa học cho nghiên cứu 30
2.2.2 Xây dựng bảng hỏi và thảo luận nhóm tập trung 30
2.2.3 Kiểm tra thí điểm và hoàn thiện bảng hỏi 31
2.2.4 Phương pháp nghiên cứu và kích thước mẫu 32
2.3 Thống kê mô tả của mẫu 34
2.4 Phân tích kết quả nghiên cứu 35
2.4.1 Kết quả của phần liệt kê các thuộc tính cá nhân cần thiết đối với một kiểm toán viên 35
2.4.2 Kết quả của phần đánh giá các thuộc tính được xác định trước 40
2.4.2.1 Kết quả đánh giá chung về tầm quan trọng của các thuộc tính 40
2.4.2.2 Phân tích sự khác nhau trong kết quả đánh giá giữa các cấp bậc khác nhau 49
2.5 Tóm tắt các kết quả nghiên cứu đã đạt được 53
CHƯƠNG 3.GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 58
Trang 63.2 Kiến nghị 593.2.1 Về phía các công ty kiểm toán 593.2.2 Về phía các đối tượng muốn trở thành một kiểm toán viên chuyênnghiệp 633.2.3 Về phía các trường đào tạo và các tổ chức nghề nghiệp 64TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7AICPA Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ
CLKT Chất lượng kiểm toán
FASB Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính
FRC Hội đồng báo cáo tài chính
GAAP Những nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận
GAO Văn phòng kiểm toán chính phủ Mỹ
PCAOB Ủy ban giám sát hoạt động kiểm toán cho các công ty đại chúng
VACPA Hiệp hội kế toán viên công chứng Việt Nam
VSA220 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp tình hình tăng trưởng của đội ngũ kiểm toán viên 29
Bảng 2.2: Bảng kết quả tóm tắt của 10 thuộc tính được liệt kê nhiều nhất 36
Bảng 2.3: Bảng kết quả đánh giá dựa trên giá trị trung bình của các thuộc tính 40
Bảng 2.4: Trị số thống kê 44
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 2.1: Biểu đồ tỷ trọng của các cấp bậc tham gia khảo sát 34
Hình 2.2: Biểu đồ tỷ trọng của các công ty tham gia khảo sát 35
Hình 2.3: Biểu đồ thể hiện sự biến thiên của giá trị trung bình 42
Hình 2.4: Biểu đồ thể hiện sự chênh lệch trong kết quả đánh giá giữa các nhóm 50
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chất lượng luôn là sự thách thức và là mối quan tâm hàng đầu mà bất kỳ tổchức và doanh nghiệp nào đều phải đối mặt trong quá trình hoạt động của mình.Hàng hóa, dịch vụ nào cũng cần có chất lượng mới đảm bảo được khả năng thươngmại và tồn tại lâu dài trên thị trường Kiểm toán cũng là một loại hình dịch vụ vàcòn là một loại dịch vụ đặc biệt đòi hỏi phải có chất lượng cao tuân thủ các quyđịnh, chuẩn mực của ngành, nghề và kỳ vọng của xã hội Bởi chất lượng của mộtcuộc kiểm toán ảnh hường rất nhiều đến quyết định của các tổ chức cá nhân khácnhau trong nền kinh tế trong đó có ngân hàng, nhà đầu tư, nhà cung cấp…và cả cácnhà chính sách, cơ quan Nhà nước
Hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam ra đời từ năm 1991 Tính đến nay,kiểm toán độc lập ở Việt Nam chỉ mới hơn 20 năm hình thành và phát triển So vớithế giới thì hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam còn rất non trẻ Tuy nhiên,cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động kiểm toán độc lập cũng ngày càngđược mở rộng cả về số lượng công ty kiểm toán lẫn số lượng kiểm toán viên (KTV)
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán (CLKT) như tính độclập của KTV, giá phí kiểm toán, quy mô và mức độ chuyên nghiệp của công ty kiểmtoán…trong đó có yếu tố đầu vào là các thuộc tính cá nhân của KTV như khả năngthích nghi, tinh thần trách nhiệm, tính sáng tạo, khả năng truyền đạt, kinh nghiệm,kiến thức… cũng ảnh hưởng đến chất lượng của kiểm toán
Bởi vì KTV là người trực tiếp tham gia vào một cuộc kiểm toán và là yếu tốđầu tiên chi phối chất lượng của một cuộc kiểm toán Do đó, các thuộc tính cá nhâncủa họ là yếu tố quan trọng đầu tiên phải nói đến khi nghiên cứu CLKT
Hiện nay các nhà làm luật và các công ty kiểm toán phần lớn chỉ chú trọngđến vấn đề xây dựng các chuẩn mực và các quy định, quy trình, thủ tục kiểm toán
mà ít có sự quan tâm đến việc đưa ra các thuộc tính cần thiết để có thể trở thành mộtKTV chuyên nghiệp cũng như đánh giá tầm quan trọng của những thuộc tính này
Trang 9đối với KTV Đây là những yếu tố có ảnh hưởng to lớn đến chất lượng ra quyết địnhcủa KTV và qua đó ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc kiểm toán.
Các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam cũng chỉ tập trung vào các nhân tố ảnhhưởng đến CLKT như quy mô công ty kiểm toán, giá phí kiểm toán, nhiệm kỳ củaKTV… mà ít quan tâm đến các đặc điểm cá nhân cũng như những thuộc tính cầnthiết để có thể trở thành một KTV chuyên nghiệp hay đánh giá mức độ quan trọngcủa những thuộc tính này đối với một KTV để từ đó có thể nâng cao chất lượng củaviệc ra quyết định và cuối cùng là nâng cao chất lượng của cuộc kiểm toán
Để có cái nhìn cụ thể hơn về vấn này tác giả đã chọn và nghiên cứu đề tài
“Đánh giá tầm quan trọng của một số thuộc tính cá nhân của KTV đối với CLKTcủa các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam” và tiến hành khảo sát thực nghiệmcác KTV ở các công ty kiểm toán tại Việt Nam
2 Tổng quan nghiên cứu
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến đề tài về thuộc tính cánhân của KTV cũng như ảnh hưởng của các thuộc tính cá nhân của KTV đối vớiCLKT Tuy nhiên do thuộc tính cá nhân là một phạm tr thiên về tâm l học xã hội vàrất khó đo lường cho nên các nghiên cứu thường chỉ được thực hiện thông qua hìnhthức khảo sát và thống kê mô tả mà ít có trường hợp nghiên cứu định lượng hay xâydựng mô hình thể hiện mối tương quan giữa thuộc tính cá nhân của KTV và CLKT.Các nghiên cứu thông thường đi th o hướng khảo sát kinh nghiệm thực tiễn từnhững người đã và đang hành nghề kiểm toán để từ đó đ c r t ra những kết luậnchung, khái quát nên những nhận thức chung Ch ng hạn như nghiên cứu củaMalone và Roberts về các yếu tố để giải thích hành vi làm giảm CLKT, được thựchiện thông qua phân tích 257 câu trả lời phản hồi từ cuộc điều tra 16 công ty kiểmtoán hay nghiên cứu về thuộc tính cá nhân của một người kiểm toán viên chuyênnghiệp của các tác giả Mohammad A dolmohammadi và am s Shant au năm 1992.Chính vì sự hạn chế cố hữu này mà tính thuyết phục cũng như tính logic chặt ch củacác nghiên cứu vẫn chưa cao Các nhà nghiên cứu cũng thừa nhận r ng có nhữngthuộc tính cá nhân của KTV có ảnh hưởng đến CLKT nhưng họ không thể
Trang 10đo lường hay nghiên cứu được Các nghiên cứu chủ yếu đi th o hướng khảo sát kiến
từ những người có kinh nghiệm trong nghề và từ đó r t ra những quan điểm chung nhất giữa họ để đi đến kết luận cuối c ng cho nghiên cứu cho nên các kết quả nghiêncứu khá rời rạc và chưa tạo ra được một ức tranh tổng thể
Cũng ởi những hạn chế trên mà cho đến nay ở Việt Nam chưa có ất kỳnghiên cứu nào về vấn đề này Do đó chưa có một kết quả nghiên cứu nào được nêu
ra Chính vì l đó, tác giả đã chọn hướng nghiên cứu là dựa nên nền của một nghiêncứu đã được thực hiện trước đó của các tác giả Mohammad A dolmohammadi và
am s Shant au để định hướng cho nghiên cứu của mình Tuy nhiên do nghiên cứunày được thực hiện ở nước ngoài cho nên có nhiều sự khác iệt với điều kiện củaViệt Nam Chính vì thế tác giả đã thực hiện khảo sát th và phỏng vấn lấy kiến trên
20 KTV có kinh nghiệm và dựa vào kết quả đó để thay đổi, ổ sung thêm các thuộctính cho ph hợp với những đặc trưng riêng của các KTV ở Việt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hóa các nghiên cứu trước đây có liên quan đến thuộc tính cá nhâncủa KTV ảnh hưởng đến việc ra quyết định trong kiểm toán thông qua đó ảnhhưởng đến CLKT
Nghiên cứu thực nghiệm thông qua khảo sát các KTV và các đối tượng đã vàđang làm kiểm toán từ đó thống kê mô tả những thuộc tính cá nhân cần có để trởthành một KTV chuyên nghiệp
Thống kê đánh giá của các đối tượng được nghiên cứu về mức độ quan trọngcủa một số thuộc tính cá nhân của KTV đối với việc ra quyết định của KTV màthông qua đó có ảnh hưởng đến chất lượng của một cuộc kiểm toán
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong một cuộc kiểm toán có rất nhiều đối tượng cùng tham gia vào quátrình kiểm toán bao gồm: trợ lý kiểm toán, trưởng nhóm kiểm toán, chủ nhiệm kiểmtoán và chủ phần hùn…T y thuộc vào quy mô và mức độ phức tạp của từng kháchhàng mà mức độ tham gia của các đối tượng trên s khác nhau Do đó, tác giả chọnkhảo sát trên a nhóm đối tượng:
Trang 11- Nhóm thứ nhất là nhóm KTV có nhiều kinh nghiệm và kiến thức nhất bao gồm chủ phần, chủ nhiệm, giám đốc, trưởng phòng, phó phòng kiểm toán.
- Nhóm thứ hai là nhóm các KTV ít kinh nghiệm và kiến thức hạn chế hơn nhóm thứ nhất bao gồm các trưởng nhóm kiểm toán
- Nhóm thứ ba là nhóm các trợ lý kiểm toán năm một, năm hai và chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán
- Nghiên cứu này chỉ được thực hiện trong phạm vi các công ty kiểm toán ở TP.HCM
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu kế thừa kinh nghiệm b ng cách tìm hiểu và hệ thốnghoá các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam và trên thế giới có liên quan
đến đề tài và từ đó r t ra các kết quả, tưởng có thể áp dụng cho đề tài nghiên cứu
- Nghiên cứu thực nghiệm thông qua g i bảng câu hỏi khảo sát và thống kê mô
tả dựa vào dữ liệu khảo sát các KTV của các công ty kiểm toán trên địa bàn TP.HCM
- Phương pháp phân tích nh m đánh giá tầm quan trọng của một số thuộc tính
cá nhân của KTV đối với việc ra quyết định trong kiểm toán và thông qua đó ảnh hưởngđến CLKT
6 Đóng góp mới của luận văn về lý thuyết và thực tiễn ứng dụng
Trong nghiên cứu này tác giả đã hệ thống lại các nghiên cứu trước đây vềảnh hưởng của thuộc tính cá nhân của KTV đối với CLKT
Nghiên cứu này cũng đã đ c kết các kinh nghiệm và nhận thức của chính bảnthân những người đã và đang thực hiện công việc kiểm toán, những KTV hànhnghề, từ đó đưa ra một cái nhìn tổng quát về các thuộc tính cần có để có thể trởthành một người KTV chuyên nghiệp cũng như đánh giá mức độ ảnh hưởng củanhững thuộc tính này đối với một KTV chuyên nghiệp trong việc ra quyết định màthông qua các quyết định đó s ảnh hưởng đến CLKT
Trang 12Thông qua nghiên cứu này, các đối tượng có định phát triển sự nghiệp và gắn
bó lâu dài với nghề kiểm toán có thể rèn luyện và trang bị cho mình những thuộctính cần thiết để có thể tiến xa hơn trong nghề nghiệp mà mình yêu thích
Nghiên cứu này cũng gi p cho các công ty kiểm toán có thể nhận thấy đượccác KTV chuyên nghiệp tiềm năng trong tương lai, thông qua đó s có chiến lượctuyển dụng, đào tạo, đánh giá và đãi ngộ thích hợp Điều này có thể giúp các công
ty kiểm toán xây dựng được một đội ngũ KTV chuyên nghiệp, cam kết gắn bó lâudài và đam mê trong công việc
Cuối cùng nghiên cứu này giúp cho các nhà làm luật, các tổ chức nghềnghiệp xây dựng các chuẩn mực, chính sách liên quan để có thể đưa ra một số tiêuchuẩn chung hay gợi ý chung về những thuộc tính cần có của một KTV
7 Kết cấu của đề tài
Đề tài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Tóm tắt cơ sở lý luận về CLKT và ảnh hưởng của các thuộc tính
cá nhân của KTV đối với CLKT
Chương 2: Nêu thực trạng về CLKT và chất lượng đội ngũ KTV hiện nay ởViệt Nam cũng như trình ày nội dung và kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ảnhhưởng của các thuộc tính cá nhân của KTV đối với CLKT
Chương 3: Tóm tắt về các kết quả nghiên cứu đã đạt được và đưa ra một số
đề xuất cho các công ty kiểm toán, các KTV cũng như những người muốn trở thànhKTV trong tương lai, các tổ chức nghề nghiệp và các trường đại học
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC THUỘC TÍNH CÁ NHÂN CỦA KIỂM TOÁN VIÊN ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN 1.1 Tổng quan về chất lượng kiểm toán
bộ sự vật và không tách khỏi sự vật Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thìkhông thể mất chất lượng của nó Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của
sự vật về căn ản Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về
số lượng của nó và không thể tồn tài ngoài tính quy định ấy Mỗi sự vật bao giờcũng là sự thống nhất của chất lượng và số lượng”
1.1.2 Định nghĩa về chất lượng kiểm toán
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 VSA220 (2003, trang 2) Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán thì: “Chất lượng hoạt động kiểm toán làmức độ thoả mãn của các đối tượng s dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và
-độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của KTV; đồng thời thoả mãn mong muốn của đơn
vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của KTV, nh m nâng cao hiệu quảhoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp l ”
Tuy nhiên, do kiểm toán là loại hình dịch vụ đặc biệt nên CLKT rất khó cóthể quan sát, đo lường và kiểm tra Kết quả của một cuộc kiểm toán được s dụng bởinhiều đối tượng khác nhau, mỗi đối tượng s dụng báo cáo kiểm toán với những mụcđích khác nhau nên quan điểm và yêu cầu của họ về CLKT cũng khác nhau Do đócũng có rất nhiều định nghĩa về CLKT:
Ch ng hạn, theo DeAngelo (1981), CLKT là khả năng KTV:
1) phát hiện sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính của khách hàng
Trang 142) báo cáo các sai sót trọng yếu đó
Hay định nghĩa CLKT dựa trên khía cạnh mức độ đảm bảo cho r ng vì mụcđích của kiểm toán là để cung cấp đảm bảo trên báo cáo tài chính (BCTC) cho nênCLKT là xác suất mà BCTC không chứa sai sót trọng yếu (Palmrose, 1988) Trongthực tế, định nghĩa này s dụng kết quả kiểm toán, có nghĩa là, độ tin cậy của BCTCđược kiểm toán để phản ánh CLKT
Có một số định nghĩa khác về CLKT trong các tài liệu đề cập đến các tráchnhiệm của KTV trên các khía cạnh của quá trình kiểm toán, mục tiêu của cuộc kiểmtoán Văn phòng Kiểm toán Chính phủ Mỹ - GAO (2003) định nghĩa CLKT là việcthực hiện “tuân thủ chuẩn mực kiểm toán chung được chấp nhận (GAAs) để cungcấp đảm bảo hợp lý r ng các BCTC đã được kiểm toán và thuyết minh liên quan (1)trình bày theo các nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận (GAAP) và (2) không
bị sai sót trọng yếu cho dù là do sai sót hoặc gian lận” Những nhà nghiên cứu kháclại tập trung vào việc phát hiện lỗi và kết quả BCTC, họ cho r ng một cuộc kiểmtoán có chất lượng cao s phát hiện được sai sót trong báo cáo thu nhập và nâng cao
độ tin cậy của BCTC (Chan và Wong, 2002; Gul và cộng sự, 2002; Behn và cộng
sự, 2008; Chang và cộng sự, 2009) Xa hơn nữa, một số nghiên cứu chỉ ra r ngCLKT có liên quan trực tiếp đến số lượng công việc kiểm toán (Carcello và cộng
sự, 2002) Tuy có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này, tuy nhiên có một giả địnhthông thường r ng KTV càng thực hiện nhiều thủ tục kiểm toán thì càng có nhiều cơhội thu thập được các b ng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp từ đó góp phầnnâng cao CLKT
Tóm lại, hiện nay không có định nghĩa thống nhất về CLKT Nhận thức(quan điểm) về CLKT phụ thuộc rất nhiều vào việc nó được nhìn nhận dưới con mắtngười s dụng, KTV, người làm luật hay xã hội - tất cả những người có liên quan đếnBCTC có thể có những quan điểm rất khác nhau về những yếu tố cấu thành CLKT
mà ảnh hưởng đến các chỉ số mà qua đó người ta có thể s dụng để đánh giá CLKT
Trang 15Người s dụng BCTC có thể tin r ng CLKT cao có nghĩa là không có sai sóttrọng yếu Kiểm toán viên thực hiện kiểm toán có thể định nghĩa một cuộc kiểmtoán có chất lượng cao khi mà cuộc kiểm toán đó thỏa mãn việc hoàn thành tất cảcác nhiệm vụ theo yêu cầu của phương pháp kiểm toán của công ty Công ty kiểmtoán có thể đánh giá CLKT cao khi mà công việc của họ có thể được bảo vệ chốnglại thách thức trong một cuộc kiểm tra hoặc cáo buộc tại tòa án Cơ quan quản lý cóthể xem một kiểm toán là có chất lượng cao khi nó tuân thủ các tiêu chuẩn nghềnghiệp Cuối cùng, xã hội có thể xem cuộc một kiểm toán là có chất lượng cao khi
nó có thể tránh các vấn đề tổn thất về kinh tế cho một công ty hoặc thị trường Nóitóm lại, đối với các quan điểm khác nhau đòi hỏi cách thức nghiên cứu khác nhau
về CLKT
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán
Như đã nói ở trên có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CLKT, do đó ứng vớimỗi định nghĩa khác nhau s dẫn đến những cách thức đo lường CLKT khác nhaucho nên các yếu tố ảnh hưởng đến CLKT cũng khác nhau
Th o định nghĩa của DeAngelo về CLKT thì có thể thấy có hai thành phầnảnh hưởng đến CLKT Thành phần đầu tiên trong định nghĩa của DeAngelo liên hệđến khả năng của một KTV và mức độ nỗ lực của KTV đó - khả năng KTV pháthiện ra những sai sót trọng yếu trong khi thành phần thứ hai trong định nghĩa nàyliên hệ đến tính khách quan của một KTV, tính hoài nghi nghề nghiệp và tính độclập - khả năng KTV báo cáo những sai sót trọng yếu đó Hai thành phần này cũngcho thấy các khía cạnh khác nhau của cuộc kiểm toán có thể ảnh hưởng đến CLKTtổng thể Việc phát hiện ra một sai sót trọng yếu đòi hỏi các nguồn lực thích hợpđược s dụng hiệu quả trong quá trình kiểm toán (ví dụ đầu vào và quá trình) trongkhi báo cáo một sai sót trọng yếu đòi hỏi KTV phải có hành động thích hợp trongbối cảnh hiện tại vào cuối cuộc kiểm toán (tức là đầu ra và bối cảnh)
Theo Francis, ông đề ra một khuôn khổ cho sự hiểu biết và nghiên cứuCLKT Ông lưu r ng CLKT là một khái niệm phức tạp và là một thể liên tục(Francis, 2011) Francis lập luận r ng CLKT bị ảnh hưởng bởi sáu nhân tố bao
Trang 16gồm: (1) đầu vào kiểm toán (các th nghiệm kiểm toán và nhân sự của cuộc kiểmtoán), (2) quy trình kiểm toán (việc áp dụng các th nghiệm kiểm toán của KTV),(3) công ty kiểm toán (KTV làm việc trong công ty kiểm toán, công ty kiểm toánthuê, đào tạo và trả lương cho KTV cũng như xây dựng các quy trình kiểm toán,báo cáo kiểm toán được phát hành dưới tên của công ty kiểm toán), (4) ngành côngnghiệp kiểm toán và thị trường kiểm toán (các công ty kiểm toán cấu thành ngànhcông nghiệp kiểm toán, cấu trúc của ngành công nghiệp kiểm toán s ảnh hưởng đếnthị trường và hành vi kinh tế), (5) thể chế (thể chế ảnh hưởng đến hoạt động kiểmtoán và tạo động lực nâng cao CLKT như Hội đồng kế toán Hoa Kỳ, AICPA,FASB, SEC, and PCAOB, cũng như các hệ thống pháp lý rộng hơn), (6) tác độngkinh tế của kết quả kiểm toán (kết quả của cuộc kiểm toán ảnh hưởng đến kháchhàng và người s dụng các thông tin đã được kiểm toán).
Còn theo Hội đồng BCTC của Vương quốc Anh - FRC, sau khi tham khảo ýkiến rộng rãi, FRC xác định năm nhân tố chi phối CLKT bao gồm: (1) văn hóatrong công ty kiểm toán, (2) các kỹ năng và phẩm chất cá nhân của các chủ phầnhùn kiểm toán và nhân viên kiểm toán, (3) hiệu quả của quá trình kiểm toán; (4) độtin cậy và tính hữu dụng của báo cáo kiểm toán, và (5) các yếu tố bên ngoài sự kiểmsoát của KTV như sự hỗ trợ của ban quản trị, ban kiểm toán, và cổ đông đối vớiKTV (FRC, 2008)
Tóm lại các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT có thể được chia thành các nhómsau (dựa trên quan điểm của Francis):
1.2.1 Yếu tố đầu vào của một cuộc kiểm toán
Đầu vào của một cuộc kiểm toán bao gồm các thủ tục kiểm toán được sdụng và nhân sự của cuộc kiểm toán Chất lượng đầu vào của cuộc kiểm toán chủyếu phản ánh trong đặc điểm cá nhân của đội ngũ kiểm toán viên như tính hoài nghinghề nghiệp, kiến thức và chuyên môn Cuộc kiểm toán có chất lượng cao hơn khiKTV đưa ra quyết định đ ng trong các th nghiệm kiểm toán và đánh giá một cách thích hợp b ng chứng thu được từ các th nghiệm đó để làm căn cứ cho báo cáo kiểmtoán
Trang 171.2.2 Quá trình kiểm toán
Quá trình kiểm toán là quá trình đội ngũ KTV áp dụng các thủ tục kiểm toán
để thu thập các b ng chứng kiểm toán Đây là quá trình thực hiện những quyết định
và xét đoán của KTV thể hiện trong việc lập kế hoạch, thu thập, giải thích và phântích các b ng chứng kiểm toán để đáp ứng yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán nh mthu thập đầy đủ b ng chứng kiểm toán thích hợp cho việc đưa ra kiến trên báo cáokiểm toán
1.2.3 Công ty kiểm toán
Công ty kiểm toán đóng vai trò rất quan trọng trong việc tìm hiểu CLKT bởi
vì các công ty kiểm toán thuê và đào tạo KTV và tạo động lực cho KTV thông quatiền lương và các chính sách khác Công ty kiểm toán cũng thiết kế các chương trình
và thủ tục kiểm toán hướng dẫn quy trình thu thập b ng chứng kiểm toán Công tykiểm toán cũng có cấu trúc quản trị nội bộ để đảm bảo CLKT tuân thủ theo cácchính sách kiểm toán
1.2.4 Ngành công nghiệp kiểm toán và thị trường kiểm toán
Các công ty kiểm toán cấu thành một ngành công nghiệp kiểm toán Cơ cấucác ngành công nghiệp có thể ảnh hưởng đến hành vi kinh tế trên thị trường, ch nghạn như mức độ chất lượng sản phẩm và giá cả dịch vụ Đối với hoạt động kiểmtoán, thị trường kiểm toán cho các công ty niêm yết bị chi phối bởi bốn công tykiểm toán lớn Tính chất tập trung này dẫn đến một sự độc quyền, và các công tykiểm toán lớn thường hợp tác để th c đẩy việc thiết lập một tập hợp các lợi íchchung cho họ như vận động hành lang để giảm trách nhiệm pháp lý, hoặc vận độnghành lang trực tiếp với các thành viên của Quốc hội để phản đối chính sách của SEC
có thể loại dịch vụ tư vấn cho khách hàng kiểm toán Những vấn đề này có ảnhhưởng không nhỏ đến CLKT
1.2.5 Thể chế
Việc thiết lập thể chế, mà theo đó hoạt động kiểm toán được thực hiện liênquan đến hệ thống pháp luật và các quy định xác định trách nhiệm và nghĩa vụ củacủa KTV, công ty kiểm toán cũng như các thể khác điều chỉnh hoạt động kế toán và
Trang 18kiểm toán Do đó, nó tạo động lực cho cả KTV và công ty kiểm toán tuân thủ cácquy định để bảo đảm CLKT được cung cấp.
1.2.6 Tác động kinh tế của kết quả kiểm toán
Có một cách khác để đánh giá CLKT là dựa trên những hậu quả kinh tế củakết quả kiểm toán đối với các công ty và người s dụng
Phân tích kinh tế về kết quả kiểm toán là rất quan trọng vì hai lý do Thứnhất, nó chứng minh r ng kiểm toán nói chung là có giá trị và có những hậu quảkinh tế về mặt vật chất Thứ hai, tác động kinh tế của kết quả kiểm toán cung cấp b
ng chứng về tác động của CLKT BCTC của một công ty được coi là có chất lượngcao hơn trên thị trường nợ và thị trường vốn khi nó được kiểm toán bởi công tykiểm toán lớn hoặc hoặc các công ty có chuyên môn cao trong ngành
1.3 Mối quan hệ giữa thuộc tính cá nhân của kiểm toán viên và chất lượng kiểm toán
1.3.1 Định nghĩa thuộc tính cá nhân
Funder (2001) định nghĩa thuộc tính cá nhân như "những kiểu đặc trưng củamột cá nhân về suy nghĩ, cảm xúc và hành vi, cùng với các cơ chế tâm l đ ng saunhững đặc trưng đó" (Funder, 2001, p 2) Trong đó, hành vi là trung tâm tâm lý họcnói chung và tâm lý tính cách nói riêng Như Saucier và Goldberg (2003) đã lưu ,thuộc tính cá nhân ý muốn nói đến các đặc điểm về mặt tâm lý của cá nhân ở mức
độ hợp lý (tức là không hoàn toàn) ổn định theo thời gian Do đó định nghĩa củaFunder phân biệt đặc điểm cá nhân ở trạng thái tâm lý tạm thời (ví dụ như tức giận
so với hạnh phúc), (tốt so với xấu), và các thuộc tính về mặt vật lý (cao so vớithấp)
Như vậy từ định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu r ng thuộc tính cá nhân là bất
cứ điều gì hoặc tất cả các đặc điểm thuộc về một cá nhân để phân biệt cá nhân đóvới những cá nhân khác Các thuộc tính này có thể là tích cực hay tiêu cực, thay đổihoặc cố định và khác nhau tùy theo từng đối tượng cá nhân khác nhau Thuộc tính
cá nhân thể hiện thái độ, niềm tin, kỹ năng; thường là kết quả trực tiếp của nguồnlực xã hội hoặc hoàn cảnh và lịch s của cá nhân
Trang 19Thuộc tính cá nhân bao gồm những đặc điểm của một cá nhân là kết quả từmột nguyên nhân cụ thể Các đặc điểm như là sự ình tĩnh, tự tin, năng động, nhanhnhẹn hoặc ưa mạo hiểm, có thể tất cả là kết quả của kinh nghiệm hoặc kỳ vọng vềcuộc sống Đây cũng có thể là kết quả của điều kiện kinh tế giáo dục, hoặc bất kỳnguyên nhân nào khác Dù là nguyên nhân nào thì các thuộc tính có thể thay đổitheo thời gian thông qua kinh nghiệm Ví dụ một người ưa mạo hiểm có thể trở nênthận trọng sau khi họ trải qua một lần mạo hiểm su t đ dọa tính mạng…
Như vậy thuộc tính của một cá nhân không h n là cố hữu mà có thể thay đổitheo thời gian
1.3.2 Ảnh hưởng của thuộc tính cá nhân của kiểm toán viên đối với chất
lượng kiểm toán
Như đã nói ở trên CLKT là một khái niệm rất phức tạp và khó có thể đolường được một cách chính xác Bởi vì trên thực tế CLKT là không thể quan sátđược cho nên người ta thường ủy nhiệm cho các biến khác để thông qua đó đolường CLKT
Theo quan điểm của Francis thì yếu tố đầu vào cụ thể là nhân sự của cuộckiểm toán – KTV có ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc kiểm toán Tuy nhiên, đểxem xét mức độ ảnh hưởng của những thuộc tính cá nhân của KTV đối với CLKTnhư thế nào ch ng ta hãy c ng điểm lại những nghiên cứu trước đây về ảnh hưởngcủa những thuộc tính cá nhân của KTV đến CLKT
CLKT đầu tiên không phải là các chuẩn mực kiểm toán mà nó nói về chấtlượng của con người,việc đào tạo họ và tiêu chuẩn đạo đức FRC lập luận r ng các
kỹ năng, phẩm chất cá nhân của các chủ phần hùn và nhân viên, và việc đào tạo chonhân viên kiểm toán là những yếu tố quan trọng để xác định CLKT (FRC, 2008)
Các nhà nghiên cứu cũng cho r ng các đặc tính liên quan đến nhóm kiểm toán
có ảnh hưởng quan trọng đối với CLKT hơn là các đặc điểm liên quan đến bản thâncác công ty kiểm toán Các đặc điểm cá nhân của KTV cũng như thành viên củanhóm kiểm toán có thể là yếu tố quan trọng nhất đối với CLKT (Carcello và cáccộng sự, 1992) Khi nghiên cứu tác động của 15 yếu tố đến CLKT và so sánh giữa
Trang 20các yếu tố của công ty kiểm toán và nhóm kiểm toán, các nhà nghiên cứu cũng đưa
ra kết quả xác nhận r ng yếu tố nhóm kiểm toán quan trọng hơn yếu tố công ty kiểmtoán (Schroeder và cộng sự, 1986)
Các tài liệu về tâm lý học xã hội và nhân khẩu học cũng cho thấy r ng, đặcđiểm tâm sinh lý, và nhận thức có thể ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của một cánhân Ngoài ra trong các nghiên cứu trước đây về tâm lý học cũng cho thấy r nghành vi của từng cá nhân phản ánh tính cách của con người và được bộc lộ khi mà
họ quyết định thực hiện một hành động nào đó (Jensen và Von Gilnow, 1985) Nếumột KTV có xu hướng thực hiện hành vi làm giảm CLKT thì đó có thể là do tínhcách cá nhân của mỗi KTV (Kelley và Margheim, 1990)
Nghiên cứu của Treadway tập trung về vấn đề phân tích tính cách của từngKTV và đưa ra kết luận r ng CLKT không phải l c nào cũng đạt được cho dù trongcùng một công ty kiểm toán KTV nếu bỏ sót các thủ tục kiểm toán s làm giảmCLKT (Treadway, 1987) Hành vi làm giảm CLKT được định nghĩa là hành độngcủa kiểm toán viên thực hiện trong cuộc kiểm toán mà làm giảm tính hiệu lực vàtính thích hợp của b ng chứng kiểm toán được thu thập
Malon và Ro rts đã phát triển một mô hình toàn diện hơn về các yếu tố đểgiải thích hành vi làm giảm CLKT Họ nghiên cứu mối quan hệ giữa hành vi làmgiảm CLKT và đặc điểm cá nhân của KTV, tính chuyên nghiệp của KTV, thủ tụcsoát xét và quản lý CLKT, cấu trúc của công ty kiểm toán và nhận thức của KTV về
áp lực thời gian Các nghiên cứu thực hiện thông qua phân tích 257 câu trả lời phảnhồi từ cuộc điều tra 16 công ty kiểm toán Kết quả cho thấy sự cảm nhận áp lực củaKTV về thủ tục soát xét và quản lý CLKT của công ty họ có mối quan hệ nghịchđảo với hành vi làm giảm CLKT (Malone và Roberts, 1996) Wooten cho r ng việckiểm soát của chủ phần hùn và chủ nhiệm kiểm toán, kinh nghiệm của từng kiểmtoán viên về ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng, tính chuyênnghiệp của KTV, sự kiên trì và thái độ hoài nghi nghề nghiệp s ảnh hưởng đếnCLKT (Wooten ,2003)
Trang 21Các nghiên cứu gần đây cũng đã ghi nhận mối quan hệ tích cực giữa tínhhoài nghi nghề nghiệp và CLKT (Chen và cộng sự, 2009) Cụ thể, KTV có tính hoàinghi nghề nghiệp với mức độ cao hơn có khả năng đối đầu với khách hàng hoặcthực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung nhiều hơn (Shaub và Lawrence, 1996),hoặc có nhiều khả năng để phát hiện gian lận hơn (Bernardi, 1994), ít tin tưởng vàokhách hàng hơn, và đầu tư nỗ lực kiểm toán ở mức độ cao hơn (Bowlin và cộng sự,2012).
Trong khi đó, đối với nhóm các nghiên cứu về kiến thức và chuyên môn củaKTV có ảnh hưởng trực tiếp đến CLKT thì cho r ng các lĩnh vực kiến thức cụ thể(ví dụ, tích lũy kiến thức thông qua các khách hàng, nhiệm vụ và kinh nghiệm vềngành) có liên quan đến chất lượng của phán đoán nghề nghiệp của KTV (Bonner,1990) và là cần thiết cho phát triển chuyên môn kiểm toán (Libby, 1986; Bedard,1989; Bonner và Lewis, 1990; Ashton, 1989) KTV với nhiều lĩnh vực kiến thức cụthể s đưa ra quyết định phù hợp hơn với các chuẩn mực chuyên môn và có đượcmức độ đồng thuận cao hơn (B dard, 1989) Tương tự như vậy, trình độ hiểu biếtcủa KTV về một khách hàng cụ thể được phát hiện là có sự ảnh hưởng tích cực đếnhoạt động kiểm toán theo thời gian (Beck và Wu, 2006)
Nghiên cứu của Ferdinand A Gul , Donghui Wu, Zhifeng Yang ở thị trườngkiểm toán Trung Quốc về vấn đề bản thân cá nhân người KTV có ảnh hưởng đếnCLKT hay không được thực hiện năm 2011 đã xem xét tầm quan trọng của từng cánhân KTV trong việc xác định CLKT Các nhà nghiên cứu đã ghi nhận được một sựkhác biệt đáng kể trong CLKT giữa các cá nhân KTV, những ảnh hưởng của cánhân KTV đến chất lượng của báo cáo kiểm toán là trọng yếu cả về mặt kinh tế lẫnmặt thống kê
Các nhà nghiên cứu cũng khám phá ra r ng mức độ ảnh hưởng của cá nhânKTV có thể được giải thích là do đặc điểm nhân khẩu học của họ Nghiên cứu chothấy r ng các KTV đồng thời là chủ phần h n mà đã tiếp xúc với hệ thống kế toánphương Tây trong chương trình giáo dục đại học của họ, hoặc đã từng làm việctrong một công ty kiểm toán quốc tế lớn, thì s thận trọng hơn, trong khi các KTV
Trang 22đã nhận được b ng thạc sĩ trở lên hoặc có một nền tảng về chính trị thì thường nóngvội hơn Những kết quả này cho thấy r ng đặc điểm cá nhân của KTV, ch ng hạnnhư học thuật và kinh nghiệm, có thể ảnh hưởng đến quyết định và phán đoán nghềnghiệp của họ, mà cuối cùng chúng chuyển đổi thành sự khác biệt về CLKT giữacác cá nhân KTV.
Nghiên cứu này nâng cao sự hiểu biết của chúng ta về CLKT thông quanhiều hướng Các nhà nghiên cứu đã đưa ra ng chứng r ng các cá nhân KTV đóngvai trò quan trọng trong quá trình kiểm toán BCTC, và do đó chứng minh tầm quantrọng của việc phân tích CLKT ở cấp độ cá nhân KTV
Mặc dù các nhà nghiên cứu chỉ ra một số đặc điểm nhân khẩu học có thểquan sát được có thể giải thích sự khác biệt trong CLKT giữa các cá nhân KTVnhưng chỉ đến một phạm vi nào đó, có nhiều sự khác biệt vẫn không thể giải thíchđược Các đặc tính cá nhân của KTV được xem xét trong nghiên cứu này chỉ là mộtcấu thành của một tập hợp con nhỏ trong các đặc điểm cá nhân có thể liên quan đếnviệc phán đoán nghề nghiệp của KTV và việc ra quyết định của họ Và họ khuyếnkhích các nghiên cứu trong tương lai có thể tìm hiểu xem liệu các đặc điểm khác ch
ng hạn như hình thức (appearance), ràng buộc xã hội, và nền tảng gia đình có thểđóng góp vào sự khác biệt trong CLKT giữa các KTV hay không
Nghiên cứu này có nhiều ứng dụng thực tế cho các công ty kiểm toán Ví dụ,các tác giả đã tìm thấy r ng một số KTV có tính nóng vội hơn so với những KTVkhác, và xác định một số đặc điểm cá nhân có thể có liên quan đến thái độ nóng vội
đó trong kiểm toán (audit aggr ssiv n ss) Để giảm thiểu tác động tiêu cực của sựbốc đồng nóng vội mang tính cá nhân đó đến CLKT và rủi ro kiểm toán, các công tykiểm toán có thể phân công cho các KTV có tính cách thận trọng trong các đội kiểmtoán có các đồng nghiệp có tính cách nóng vội Nghiên cứu này cũng có thể là mốiquan tâm của các nhà làm luật Nó góp phần vào các cuộc tranh luận về tính chấtbắt buộc của quy định luân chuyển KTV Một giả định cơ ản của quy định này là cánhân KTV trong các công ty kiểm toán cũng là không đồng nhất
Trang 23Nghiên cứu về thuộc tính cá nhân của một người kiểm toán viên chuyênnghiệp của các tác giả Mohammad J Abdolmohammadi và James Shanteau năm
1992 Nghiên cứu của hai tác giả này đã tìm hiểu nhận thức về các thuộc tính cánhân của các chuyên gia kiểm toán trên ba nhóm đối tượng: nhóm các trưởng phòngkiểm toán/các chủ phần h n (manag rs/partn rs), nhóm các trưởng nhóm kiểmtoán/những người giám sát (seniors/supervisors), và nhóm các sinh viên chuyênngành kiểm toán (auditing students)
Đầu tiên các đối tượng này s liệt kê tất cả các thuộc tính họ cảm thấy quantrọng đối với một KTV Sau đó họ đánh giá hai mươi thuộc tính được liệt kê sẵntrong các bảng câu hỏi để đánh giá tầm quan trọng của ch ng đối với việc ra quyếtđịnh của các KTV Các thuộc tính này được đ c kết từ kết quả của các quan sátchính thức và không chính thức được thực hiện trong các nghiên cứu trước đó
Kết quả nghiên cứu cho thấy r ng các thuộc tính trên có thể được chia thành 3nhóm với mức độ tác động khác nhau đối với việc ra quyết định của KTV như sau:
Nhóm thứ nhất bao gồm kiến thức (Current knowledge), kinh nghiệm(Experience) và sự hiểu biết sâu rộng, thấu hiểu vấn đề (Perceptive), (Knows what
is relevant), khả năng phán đoán, lựa chọn và giải quyết vấn đề (Problemselectivity) Đây là nhóm được đánh giá là nhóm các thuộc tính quan trọng nhất đốivới một KTV Những thuộc tính này đại diện cho đặc điểm nhận thức hoặc tư duy
Nhóm thứ hai bao gồm tinh thần trách nhiệm (Assumes Responsibility) khảnăng quyết đoán (D cisiv n ss), khả năng nắm bắt và giải quyết vấn đề một cáchnhanh chóng (Adaptability), tính linh hoạt trong việc giải quyết vấn đề (Makesexceptions), khả năng chịu đựng áp lực cao (Stress tolerance) và khả năng thuyếtphục và truyền đạt thông tin (Communicates expertise) là nhóm thuộc tính phản ánhđặc điểm về phong cách đặc trưng của từng KTV Đây là nhóm thuộc tính đượcđánh giá là có tầm quan trọng đứng thứ hai sau nhóm kiến thức chuyên môn vànhận thức
Trang 24Nhóm thứ ba là nhóm các thuộc tính như sáng tạo (Creativity), sự tự tin(Self-confidence), tính thích tìm tòi học hỏi (Inquisitive), làm việc có phương pháp(Methodical), cầu toàn (Perfectionist), khả năng đơn giản hóa vấn đề(Simplification), vẻ ngoài chuyên nghiệp, thân thiện và ấm áp (Physical appearance,Warm and fri ndly) và năng động (Energetic) là nhóm các thuộc tính được xem là ítquan trọng nhất.
Như vậy, từ những nghiên cứu trên có thể thấy các thuộc tính khác nhau cóảnh hưởng khác nhau đến việc ra quyết định của một KTV Các quyết định này đếnlượt chúng lại ảnh hưởng đến CLKT được cung cấp Có rất nhiều thuộc tính cá nhânkhác nhau liên quan đến một KTV Tuy nhiên, thông qua các nghiên cứu đã đượcthực hiện tác giả có thể rút ra một số thuộc tính cơ ản như sau: kiến thức, kinhnghiệm, tinh thần trách nhiệm, khả năng chịu áp lực, khả năng lựa chọn và giảiquyết vấn đề, khả năng thích nghi, khả năng giao tiếp, tính quyết đoán, ham họchỏi…
Trong nghiên cứu của mình, tác giả s dựa trên nền các thuộc tính của nghiêncứu ở trên đồng thời s thêm vào một số thuộc tính theo kết quả khảo sát sơ ộ từchính những KTV đã và đang làm việc tại các công ty kiểm toán lớn ở TP.HCM đểhoàn thiện bảng câu hỏi nghiên cứu Đồng thời tác giả cũng thay đổi đối tượng khảosát sang chỉ thực hiện khảo sát đối với những người đã và đang hoạt động trong lĩnhvực kiểm toán mà không khảo sát các sinh viên chuyên ngành kiểm toán bởi vì theoquan điểm của tác giả với mục tiêu đ c kết những thuộc tính mà KTV cần có để cóthể nâng cao hơn nữa CLKT thì việc khảo sát trên những đối tượng chưa có kinhnghiệm gì về lĩnh vực này là không hiệu quả
Kết quả nghiên cứu của luận văn s là một bảng tổng hợp các thuộc tính đượcsắp xếp từ cao đến thấp theo mức độ ảnh hưởng của ch ng đối với việc ra quyết địnhcủa một KTV chuyên nghiệp Kết quả này được rút ra từ ý kiến của bản thân nhữngKTV chuyên nghiệp và những người đã và đang trực tiếp thực hiện công việc kiểmtoán như các trưởng nhóm kiểm toán hay các trợ lý kiểm toán Do đó nó s là cơ sở
để các sinh viên chuyên ngành kiểm toán hay những trợ lý kiểm
Trang 25toán cố gắng đạt tới để có thể hoàn thiện mình và cũng là những tiêu chí để công tykiểm toán có thể lựa chọn và đào tạo những ứng viên thích hợp cho công ty để gópphần nâng cao CLKT cung cấp cho khách hàng.
tính cá nhân đặc trưng của một kiểm toán viên chuyên nghiệp
Nghiên cứu này của tác giả như đã nói ở trên dựa trên nền tảng của nghiên cứu vềcác thuộc tính cá nhân của một KTV chuyên nghiệp “P rsonal Attri ut s of xp rtauditor” của các tác giả Mohammad J Abdolmohammadi (Bentley College) vàJames Shanteau (Kansas State University) Nghiên cứu của hai tác giả này tìm hiểu
về nhận thức của các KTV chuyên nghiệp trên ba nhóm: nhóm các trưởngphòng/các chủ phần hùn kiểm toán(manag rs/partn rs), nhóm các trưởng nhóm kiểmtoán/giám sát (seniors/supervisors), và nhóm các sinh viên chuyên ngành kiểmtoán (auditing students)
Đầu tiên các đối tượng này s liệt kê tất cả các thuộc tính họ cảm thấy quantrọng đối với một KTV Sau đó họ đánh giá hai mươi thuộc tính được liệt kê sẵntrong các bảng câu hỏi để đánh giá tầm quan trọng của ch ng đối với việc ra quyếtđịnh của các KTV
Câu hỏi được đặt ra là 20 thuộc tính này là những thuộc tính gì và tại sao mà
ch ng được s dụng như là các thuộc tính cần thiết cho một KTV chuyên nghiệp và
có ảnh hưởng đến vấn đề ra quyết định của KTV hay nói khác hơn là ảnh hưởng đếnCLKT được cung cấp
Xuất phát từ yêu cầu cần xác định ai hay người như thế nào có thể được coi
là một chuyên gia hay có khả năng trở thành một chuyên gia trong tương lai và aikhông phải là chuyên gia trong một lĩnh vực nhất định mà người ta đã phải tốn kémrất nhiều thời gian và chi phí Việc xác định này nh m mục đích xây dựng hệ thốngchuyên gia, phát triển chương trình đào tạo và những quy định cụ thể hướng dẫncho việc tuyển dụng, và thiết lập các quy trình đánh giá/thăng tiến cho nhân viên, do
đó nó có nghĩa rất quan trọng đối với cả bản thân nhân viên cũng như là của nhàtuyển dụng
Trang 26Để trả lời câu hỏi ai có thể là một chuyên gia người ta cần phải xác định đượcmột tập hợp các tiêu chuẩn khách quan để đo lường Tuy nhiên, các tiêu chuẩn nàyhiếm khi tồn tại trong lĩnh vực chuyên môn Bởi vì việc đánh giá một cách kháchquan công việc của một chuyên gia là rất khó nếu không phải nói là không thể Do
đó, người ta cần tìm ra những cách khác để xác định đâu là các chuyên gia hay cóthể trở thành một chuyên gia trong tương lai Một cách tiếp cận được đưa ra là sosánh các đặc điểm cá nhân của các chuyên gia được công nhận với những ngườikhông phải là chuyên gia để rút ra các thuộc tính cá nhân của người được công nhận
là chuyên gia B ng cách s dụng cách tiếp cận này, Shant au đã xác định được mộttập hợp các thuộc tính cá nhân mà các chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau(trong đó có cả KTV) hầu như đều sở hữu và kết quả là ông đã đưa ra được 13 thuộctính trong số 20 thuộc tính được nêu ra ở trên Bảy thuộc tính còn lại (được đánhdấu * trong bảng hỏi) là những thuộc tính phụ được rút ra từ kết quả của các nghiêncứu chính thức và không chính thức được tiến hành trước đó
Các thuộc tính trong nghiên cứu của Shanteau là những mô tả cho các thuộctính chung nhất của các chuyên gia ở tất cả các lĩnh vực KTV cũng là một chuyêngia và các thuộc tính này cũng có thể được áp dụng cho KTV Tuy nhiên, vẫn cómột số thuộc tính nhất định s phù hợp với một số ngành nghề hơn là những ngànhnghề khác Hai mươi thuộc tính nói trên bao gồm:
1 Khả năng chịu đựng áp lực (Stress Tolerance)
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) có thể đưa ra quyết định trong các tình huống
có tính căng th ng cao Họ chịu đựng được tình huống căng th ng Họ liên tục
là một người giải quyết vấn đề hiệu quả ngay cả khi tình hình dần dần xấu đi
vì mức độ áp lực cao (Exp rts ar a l to make decisions under high stresssituations They continue tolerance stress situations They continue to beeffective problem solvers even as conditions progressively worsen because ofhigh levels of pressure.)
2 Tinh thần trách nhiệm (Assumes Responsibility)
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) chịu trách nhiệm về các kết quả từ quyết
Trang 27định của họ, cho d là thành công hay thất ại Họ sẵn sàng chịu trách nhiệm về
quyết định của mình (Exp rts acc pt r sponsi ility for th outcom s of
decisions, successful or Responsibility unsuccessful They are willing to stand
behind their decisions.)
3 Kiến thức (Current Knowledge)
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) có kiến thức nền rộng Họ nỗ lực rất cao để
ắt kịp hiện tại, xu hướng và sự phát triển (Exp rts hav an xtensiveknowledge base They make a special effort to keep up with the current facts,
trends, and developments.)
4 Làm việc có phương pháp (Methodical)*
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) tiếp cận tình huống của vấn đề mới rất có hệ
thống với một kế hoạch giải quyết được chuẩn ị kỹ Họ s dụng cách đã đượcvạch sẵn để x m xét vấn đề và thận trọng tiến hành từng ước để đưa ra mộtquyết định (Exp rts approach ach n w pro l m situation v ry syst maticallywith one thought-out plan of attack They use a set way to examine problems
and carefully proceed step-by-step to make a decision.)
5 Khả năng thích nghi (Adaptability)
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) có khả năng điều chỉnh các chiến lược đưa ra
quyết định của họ để ph hợp với tình hình hiện tại Họ linh hoạt phản ứng lại
sự thay đổi của các điều kiện của của vấn đề phát sinh (Exp rts adjust th ir
decision-making strategies to fit the current situation They are responsive to
changes in conditions of the on-going problem situation.)
6 Khả năng nhận diện các vấn đề có liên quan và vận dụng kiến thức đúng
chỗ
(Knows What Is Relevant)
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) dựa trên kinh nghiệm của mình, có thể dễ
dàng phân iệt được những thông tin thích hợp và những thông tin không thíchhợp của c ng một vấn đề Họ chỉ s dụng những gì có liên quan, họ ỏ quanhững gì không liên quan (Exp rts, as d on xp ri nc , can r adily
Trang 28distinguish relevant from irrelevant information in a problem They use only what is relevant; they ignore what is not.)
7 Truyền tải thông tin chuyên nghiệp (Communicates Expertise)
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) có thể thuyết phục người khác r ng họ cókiến thức chuyên môn Họ có thể truyền đạt một cách hiệu quả khả năng đưa
ra quyết định của họ đến những người khác (Exp rts can convinc others thatthey have specialized knowledge They can effectively communicate theirability to make decisions to others.)
8 Linh hoạt giải quyết vấn đề (Makes Exceptions)
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) iết khi nào nên th o đuổi chiến lược quyếtđịnh đã được thiết lập và khi nào không nên Họ không chỉ có một cách duynhất để giải quyết vấn đề (Exp rts know wh n to follow sta lish d d cisionstrategies and when not to They don't have just one way to solve problems.)
9 Sự tự tin (Self Confidence)
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) có một niềm tin mạnh m vào khả năng của
họ để đưa ra quyết định đ ng đắn Họ ình tĩnh tự tin và chắc chắn khi đưa raquyết định (Exp rts hav a strong li f in th ir a ility to mak good
decisions They are calm and self-assured while making decisions.)
10 Kinh nghiệm (Experience)
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) s dụng kinh nghiệm quá khứ để đưa ra quyếtđịnh một cách tự động Nền tảng và kinh nghiệm của họ tạo ra quyết định màkhông cần đến nỗ lực rõ ràng (Exp rts us past experience to make decisionsmore-or-less automatically Their background and experience producesdecisions without obvious effort.)
11 Khả năng lựa chọn và giải quyết vấn đề (Problem selectivity)
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) s dụng tầm nhìn và kế hoạch của mìnhtrong việc lựa chọn những vấn đề để giải quyết và vấn đề nào không Họ giảiquyết những vấn đề mà họ có thể x l hoặc giải quyết có hiệu quả (Exp rts useforesight and planning in selecting which problems to work on and
Trang 29Selectivity which problems to work on and which not They tackle those problems that they can effectively handle or resolve.)
12 Tính khám phá, ham học hỏi (Inquisitive)*
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) thể hiện tính khám phá cao trong việc giảiquyết các tình huống của vấn đề Họ có xu hướng giải quyết một vấn đề chỉ đểthoát khỏi sự lôi cuốn của khám phá (Exp rts xhi it a high d gr ofinquisitiveness in problem solving situations They have a tendency to work onproblems just out of curiosity.)
13 Khả năng nhận thức sâu sắc (Perceptive)
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) có thể đ c kết được thông tin từ một vấn đề
mà những người khác có thể không thể nhận thức được Khả năng ra quyếtđịnh của họ được tăng cường ởi sự nhận diện và đánh giá sâu sắc các tìnhhuống khó hiểu (Experts are able to extract information from a problem thatothers cannot see Their decision-making ability is enhanced by insightfulrecognition and evaluation of confusing situations.)
14 Vẻ ngoài chuyên nghiệp (Physical Appearance)*
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) thể hiện ra ên ngoài r ng mình là người rấtgiỏi giải quyết vấn đề Họ có phong cách và diện mạo của một người có thểgiải đưa ra quyết định đ ng đắn (Exp rts pr s nt th outward imag of someonewho is good at solving problems They have the style and physical appearance
of someone who makes good decisions.)
15 Khả năng quyết đoán (Decisiveness)*
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) đưa ra quyết định một cách nhanh chóng, rõràng và dứt khoát Họ không ận tâm đến việc phân tích tiểu tiết của vấn đề.(Experts make decisions quickly, clearly, and emphatically They do notbother with a detailed analysis of the problem situation.)
16 Ấm áp và thân thiện (Warm and Friendly)*
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) hòa thuận với mọi người, thậm chí trongnhững tình huống phải đưa ra quyết định khó khăn Họ s dụng sự lịch thiệp
Trang 30để làm vấn đề trở nên dễ dàng hơn và dường như thuyết phục hơn khi ra quyếtđịnh (Th y g t along w ll with p opl , v n in difficult d cision-making tasks.They use personality to smooth things over and appear more convincing whenmaking decisions.)
17 Năng động (Energetic) *
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) có khả năng đầu tư một lượng lớn nănglượng vào việc giải quyết vấn đề Họ thể hiện r ng họ s sẵn sàng tìm hiểu kỹhơn khi đưa ra quyết định (Exp rts ar capa l of inv sting larg amounts ofenergy into problem solving They give the appearance of going the extra milewhen make decisions.)
18 Đơn giản hóa vấn đề (Problem Simplification)
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) iết cách s dụng cách tiếp cận chia nhỏ nhữngvấn đề phức tạp để giải quyết Họ làm việc trên từng phần để có được
một sự hiểu iết tốt hơn về toàn ộ một vấn đề phức tạp (Exp rts know how touse a divide-and-conquer approach with complex problems They work onparts to get a better understanding of a complex problem.)
19 Tính sáng tạo (Creativity)
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) có thể tìm ra các giải pháp độc đáo và mới lạcho các vấn đề hóc a Họ có khả năng đưa ra những cách tiếp cận mới đối vớivấn đề phát sinh khi cần thiết (Exp rts can find nov l or uniqu solutions todifficult problems They are capable of generating new approaches toestablished problems as necessary.)
20 Cầu toàn (Perfectionist)*
Các chuyên gia (Kiểm toán viên) cố gắng để đạt được cấp độ cao của việc raquyết định ng cách tìm kiếm chiến lược tốt nhất trong tất cả các chiến lược Họtiếp tục làm việc để tìm ra giải pháp tốt nhất tuyệt đối cho vấn đề (Exp rtsattempt to achieve high levels of decision making by seeking the best of allpossible strategies They keep working to find the absolute best solution fortheproblem.)
Trang 31KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chất lượng kiểm toán luôn là phạm trù phức tạp và khó đo lường Có rấtnhiều định nghĩa khác nhau về CLKT T y vào góc độ và cách nhìn của các đốitượng khác nhau mà CLKT được quan niệm theo những hướng khác nhau
Do có nhiều quan điểm khác nhau về CLKT cho nên cũng có nhiều quanđiểm khác nhau về các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT Tuy nhiên tựu trung lại có thể
kể đến các nhân tố sau: đầu vào của cuộc kiểm toán, quy trình kiểm toán, công tykiểm toán, ngành công nghiệp kiểm toán và thị trường kiểm toán, các thể chế, tácđộng kinh tế của kết quả kiểm toán và các yếu tố bên ngoài sự kiểm soát của KTVnhư sự hỗ trợ của ban quản trị, ban kiểm toán, và cổ đông đối với KTV Tuy nhiên,cho d th o trường phái nào đi nữa thì yếu tố thuộc tính cá nhân của KTV cũng đượcđánh giá là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng không nhỏ đến CLKT
Tuy ở Việt Nam có rất ít các nghiên cứu hay bài viết nói về ảnh hưởng củacác thuộc tính cá nhân của KTV đối với CLKT, tuy nhiên trên thế giới đã có nhiềunghiên cứu học thuật về vấn đề này Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra r ng các thuộctính thuộc về nhóm kiểm toán có ảnh hưởng quan trọng đối với CLKT hơn là cácđặc điểm liên quan đến bản thân các công ty kiểm toán
Bản thân người KTV có rất nhiều thuộc tính cá nhân khác nhau nhưng thôngthường những thuộc tính sau thường được người ta nhắc đến khi nói đến nghề kiểmtoán: chịu được áp lực cao, có kiến thức chuyên môn tốt, có tinh thần đồng đội vàkhả năng thích nghi cao, có tinh thần trách nhiệm, khả năng học hỏi và nắm bắt vấn
đề nhanh cũng như khả năng diễn đạt, giao tiếp tốt
Trong nghiên cứu của mình, tác giả s dựa trên nền của hai mươi thuộc tínhtrong nghiên cứu của hai tác giả Mohammsad và James Shanteau Tuy nhiên, tác giả
s thêm vào một số thuộc tính dựa vào kết quả khảo sát sơ ộ trên các KTV ở cáccông ty kiểm toán hàng đầu tại Việt Nam để đảm bảo phù hợp với đặc điểm riêngcủa các KTV ở Việt Nam
Trang 32CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT TH C TRẠNG CÁC THUỘC TÍNH CÁ NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
2.1 Thực trạng về chất lượng kiểm toán, thị trường kiểm toán, các công ty kiểm toán và đội ngũ kiểm toán viên ở Việt Nam hiện nay
2.1.1 Thực trạng về chất lượng kiểm toán ở Việt Nam hiện nay
Qua kết quả khảo sát thực nghiệm của tiến sĩ Trần Khánh Lâm trong luận ánTiến sĩ kinh tế với đề tài “ Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng cho hoạt độngkiểm toán độc lập ở Việt Nam” năm 2011 thì CLKT của các công ty kiểm toán độclập tại Việt Nam hiện nay chịu tác động bởi các yếu tố như: Quy mô công ty kiểmtoán, mức độ chuyên sâu trong kiểm toán (chuyên ngành), nhiệm kỳ của KTV, giáphí kiểm toán, phạm vi của dịch vụ phi kiểm toán cung cấp, phương pháp luận kiểmtoán và tính cách của KTV, kiểm soát chất lượng dịch vụ cung cấp
Chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán có quy mô nhỏ cònkhá thấp tuy nhiên lại chiếm tỷ trọng khá lớn (khoản 2/3 trong tổng số các công tykiểm toán độc lập đăng k hoạt động tại Việt Nam hiện nay) và cung cấp dịch vụkiểm toán cho đến hơn 70% số lượng khách hàng nhưng chỉ chiếm chưa đến 30%tổng doanh thu của toàn ngành kiểm toán
Thực tế ở Việt Nam trong thời gian vừa qua đã có nhiều vụ bê bối có liênquan đến nhiều công ty kiểm toán lớn như vụ Vinashin (KPMG), Bông Bạch Tuyết(A&C và AISC), hay Habubank (Ernst & Young), công ty cổ phần Dược ViễnĐông (Ernst & Young) Tuy các công ty kiểm toán này không bị quy trách nhiệmtrực tiếp nhưng dư luận ít nhiều cũng đặt câu hỏi về chất lượng dịch vụ của cáccông ty này Đó là chưa kể đến hàng ngàn báo cáo kiểm toán khác được ra đời hàngnăm mà “chưa có sự chú ý của bên thứ a” tức là chưa bị phát hiện sai phạm nhưnhững trường hợp trên
Ông Nguyễn Thế Thọ, Vụ trưởng Vụ Giám sát thị trường chứng khoán (Uỷ banChứng khoán Nhà nước) trong bài viết về “Nâng chất công ty kiểm toán” trên áoSài Gòn đầu tư số ra ngày 20/08/2012, cũng chỉ rõ một số BCTC doanh nghiệpniêm yết chưa tuân thủ chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán doanh nghiệp và doanh
Trang 33nghiệp kiểm toán chưa đánh giá hết ảnh hưởng trọng yếu liên quan đến chất lượngBCTC sau kiểm toán.
Nhiều ý kiến kiểm toán loại trừ những giá trị lớn, đáng kể trên BCTC liênquan đến việc không chấp hành chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán Bên cạnh đó,doanh nghiệp kiểm toán độc lập chưa nhận thức rõ và chưa thực hiện trách nhiệmbồi thường thiệt hại gây ra do có sai sót về kiểm toán
Đây quả thật là tình trạng đáng áo động về chất lượng dịch vụ kiểm toán độclập ở Việt Nam hiện nay
Chất lượng dịch vụ kiểm toán như trên d trực tiếp hay gián tiếp cũng phảnánh chất lượng của đội ngũ KTV bởi họ là những người trực tiếp tham gia vào quátrình kiểm toán và đưa ra kết quả của cuộc kiểm toán Có thể KTV và công ty kiểmtoán có đủ cơ sở để chứng minh họ đã làm hết các thủ tục kiểm toán th o quy địnhnhưng điều quan trọng ở đây là những người bị thiệt hại do tin tưởng vào kết quảkiểm toán của họ có quyền đặt ra nghi ngờ r ng liệu họ có đủ tay nghề và làm hếttrách nhiệm hay không? Bởi nếu KTV là người chuyên tâm, có nhiều kinh nghiệmthì những “chiêu” gian lận của khách hàng cũng khó có thể qua mắt họ được
Đầu năm 2013, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đã x phạt 5 KTV của của 4công ty kiểm toán với mức phạt 60 triệu đồng mỗi người vì các hành vi vi phạmnhư: không ghi kiến về các sai phạm của công ty được kiểm toán khi không trìnhbày về khoản đầu tư vượt vốn chủ sở hữu để đầu tư tài chính; không ghi đầy đủ ýkiến về những sai phạm của doanh nghiệp được kiểm toán trong việc cho các cổđông nội bộ và người có liên quan vay tiền th o quy định…Đó không phải là con sốđáng kể nhưng nó giống như một tín hiệu áo động về tình trạng chất lượng của độingũ KTV hiện nay ở Việt Nam
2.1.2 Thực trạng về thị trường kiểm toán, các công ty kiểm toán và đội ngũ
kiểm toán viên ở Việt Nam hiện nay
Trên thị trường kiểm toán Việt Nam hiện nay các công ty kiểm toán trongnhóm Big 4 bao gồm D loitt , EY, KPMG và PwC đang chiếm ưu thế về doanh thulẫn số lượng khách hàng
Trang 34Th o “Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2012 và phương hướng hoạt độngnăm 2013 của các công ty kiểm toán” của VACPA, tính đến ngày 28/02/2013 có
155 công ty kiểm toán đã đăng k hành nghề, bao gồm:
- 04 Công ty 100% vốn nước ngoài (E&Y, PwC, KPMG, Grant Thornton)
- 05 Công ty có vốn đầu tư nước ngoài (E Jung, Mazars, HSK, Immanuel, S&S)
Và theo số liệu báo cáo của 147 công ty kiểm toán, tính đến 31/12/2012 có10.070 người làm việc trong các công ty kiểm toán, trong đó có 8.836 nhân viênchuyên nghiệp và 1.385 nhân viên khác; 1.582 người có chứng chỉ KTV, trong đó
có 192 người vừa có chứng chỉ KTV Việt Nam vừa có chứng chỉ KTV nước ngoài;
129 người có chứng chỉ KTV nước ngoài
Tuy số lượng công ty kiểm toán đã tăng lên đáng kể nhưng đa phần có quy
mô nhỏ và vừa, uy tín nghề nghiệp chưa cao, còn khó khăn về cơ sở vật chất vànăng lực đào tạo, khả năng cạnh tranh thấp, chưa chuyên môn hóa, chưa đủ tiềm lực
để phát triển, nhất là chưa tự xây dựng được một cơ chế hoạt động và quy trìnhkiểm toán chuẩn làm nền tảng cho hoạt động nghề nghiệp, dẫn đến trình độ nhânviên, chất lượng dịch vụ giữa các công ty kiểm toán chưa đồng đều
Một số công ty kiểm toán phải cơ cấu lại, trong đó có khoảng 40 công tykiểm toán không đủ điều kiện so với yêu cầu tối thiểu của Luật Kiểm toán độc lập
có hiệu lực từ ngày 1-1-2014 (có ít nhất 5 KTV và vốn 3 tỷ đồng trở lên), còn lại lànhững công ty phải cơ cấu để đủ điều kiện kiểm toán doanh nghiệp niêm yết Điềunày cho thấy dù số lượng doanh nghiệp kiểm toán không phải là ít, nhưng chấtlượng đang thực sự là vấn đề đáng lo ngại
Đối với các công ty kiểm toán nhỏ do hạn chế về thời gian, kinh phí nênkhông thực hiện được chương trình đào tạo cho từng cấp bậc nhân viên Tại cáccông ty này, hình thức đào tạo chủ yếu là đào tạo trong quá trình làm việc, chưa xâydựng được kế hoạch đào tạo cụ thể, không lập và thu lại bảng thống kê chương
Trang 35trình, thời gian đào tạo và tài liệu đào tạo, theo dõi số giờ đào tạo của từng nhân viên, không tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo Hơn nữa những công ty kiểmtoán nhỏ thường ít danh tiếng nên không thu h t được nhân sự giỏi trong khi số lượng lại chiếm đến khoản 2/3 trong tổng số các công ty kiểm toán độc lập đăng k hoạt động tại Việt Nam hiện nay Ngoài ra những công ty này cũng không đủ tiềm lực để tài trợ cho nhân viên của mình học các chứng chỉ kế toán, kiểm toán quốc tế như CPA, ACCA Do đó chất lượng đội ngũ nhân viên của họ cũng không thể cải thiện được.
Các kết quả kiểm tra hoạt động của các công ty kiểm toán năm 2012 từ HộiKTV hành nghề Việt Nam (VACPA) công bố cũng cho thấy, khó khăn chung củacác công ty nhỏ là số lượng KTV hành nghề ít, thường xuyên biến động về nhân sự,không có điều kiện đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên…Ngoài KTVcủa các công ty kiểm toán lớn, đa số các KTV còn lại ở các công ty hiện nay chưađược đào tạo một cách bài bản về kỹ năng hành nghề chuyên nghiệp Số lượng KTV
có chứng chỉ kiểm toán quốc tế còn hạn chế
Ngoài ra, việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật hành nghề của KTVđôi khi vẫn chưa được nhận thức một cách đầy đủ, chưa trở thành ý thức tự giác đốivới mỗi KTV khi hành nghề Chế tài x phạt hành vi vi phạm của KTV chưa đủmạnh để phòng ngừa và răn đ nên cũng ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểmtoán Hệ thống các văn ản pháp quy liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập cũngchưa được an hành, hướng dẫn đầy đủ và thống nhất Sự trợ giúp về chuyên môn và
kỹ thuật của các hiệp hội và tổ chức nghề nghiệp chưa có tác dụng nhiều trong hoạtđộng của các công ty kiểm toán
Việc đào tạo KTV ở các Học viện, Trường Đại học chỉ mang tính chất lýluận, chưa sát với thực tế Ngoài ra, việc đào tạo KTV ở các công ty kiểm toánthường mang tính chất kinh nghiệm chưa vận dụng lý luận kiểm toán hoặc việc đàotạo KTV theo tiêu chuẩn quốc tế ở các hãng kiểm toán Do đó, việc vận dụng kiếnthức vào hoạt động kiểm toán thực tế thường bị hạn chế
Trang 36Nội dung môn thi để cấp chứng chỉ KTV hiện nay chủ yếu vẫn như chươngtrình học đại học, có hệ thống lại và cập nhật cơ chế chính sách mới Nội dung ônthi chủ yếu vẫn là kiến thức lý thuyết, hầu như ít kinh nghiệm thực tế.Với cách thinày, nhiều trường hợp có chứng chỉ KTV phải thêm vài a năm kinh nghiệm thực tếnữa mới hành nghề được.
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp tình hình tăng trưởng của đội ngũ
kiểm toán viên (dựa trên kết quả báo cáo tình hình hoạt động
hàng năm của VACPA)
Năm
2012 2011
Tỷ lệ
2010 2009 2008 2007 (%)
Trang 38khá cao là 33,70%, doanh thu bình quân cho từng nhân viên cũng tăng với tỷ lệ 20%trong khi đó tổng số lượng nhân viên chỉ tăng 7% và số lượng người có chứng chỉKTV chỉ tăng 11% Điều này chứng tỏ số lượng của đội ngũ KTV chưa đáp ứngđược yêu cầu tăng trưởng của hoạt động kiểm toán độc lập hiện nay Nếu số lượngkhách hàng không ngừng gia tăng trong khi đó số lượng KTV tăng không tươngứng s dẫn đến áp lực về thời gian cho các KTV Vì bận rộn với lịch làm việc dàyđặc họ s không có đủ thời gian để nghỉ ngơi cũng như học tập, nghiên cứu nâng caotrình độ, kiến thức và từ đó cũng ảnh hưởng CLKT.
2.2 Mô hình nghiên cứu
2.2.1 Cơ sở khoa học cho nghiên cứu
Trong nghiên cứu của mình, tác giả s dựa trên nền của hai mươi thuộc tínhtrong nghiên cứu của hai tác giả Mohammsad và James Shanteau như đã trình àytrong phần cơ sở lý luận Tuy nhiên, tác giả s thêm vào một số thuộc tính dựa vàokết quả khảo sát sơ ộ trên 20 KTV ở các công ty kiểm toán hàng đầu tại Việt Nam.Đồng thời tác giả cũng thay đổi đối tượng nghiên cứu so với nghiên cứu gốc banđầu Tác giả s không nghiên cứu trên nhóm các đối tượng là sinh viên chuyên ngànhkiểm toán mà s thay b ng nhóm các trợ lý KTV Bởi vì th o quan điểm của tác giảcác sinh viên chuyên ngành kiểm toán là những đối tượng hoàn toàn chưa có kinhnghiệm thực tiễn gì trong lĩnh vực kiểm toán, do đó đánh giá và nhận xét của họ đốivới các thuộc tính cần thiết cho một KTV s không có nhiều nghĩa Nghiên cứu nàycủa tác giả nh m đánh giá tầm quan trọng của các thuộc tính trên trong việc ra quyếtđịnh của các chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán hay KTV Quyết định của KTVhiển nhiên ảnh hưởng đến CLKT, như vậy việc đánh giá tầm quan trọng của cácthuộc tính này đối với việc ra quyết định của một KTV cũng có nghĩa là đánh giátầm quan trọng của ch ng đối với CLKT thông qua yếu tố đầu vào là KTV
2.2.2 Xây dựng bảng hỏi và thảo luận nhóm tập trung
Đầu tiên tác giả dựa trên nền của hai mươi thuộc tính được rút ra từ nghiêncứu của hai tác giả Mohammad J Abdolmohammadi và James Shanteau để xây
Trang 39dựng bảng câu hỏi cho nghiên cứu của mình Bảng hỏi an đầu cũng được xây dựngdựa trên kết quả thảo luận nhóm với 5 trưởng nhóm kiểm toán có kinh nghiệm ở bacông ty kiểm toán lớn như KPMG, E&Y, D loitt Bảng hỏi được thiết kế gồm baphần: Phần 1: Đặc điểm nhân khẩu học, Phần 2: Liệt kê các thuộc tính mà theo quanđiểm của các KTV cho là quan trọng, cần thiết đối với một KTV chuyên nghiệp(đây là phần câu hỏi mở cho phép các đối tượng được khảo sát liệt kê tất cả cácthuộc tính mà họ cho là cần thiết/quan trọng đối với một KTV), Phần ba: Phần đánhgiá của các KTV về các thuộc tính đã cho sẵn.
2.2.3 Kiểm tra thí điểm và hoàn thiện bảng hỏi
Như đã nói ở trên bảng câu hỏi an đầu được tác giả xây dựng dựa trên haimươi thuộc tính của nghiên cứu trước đó và kết quả thảo luận nhóm tập trung với 5trưởng nhóm kiểm toán có kinh nghiệm ở ba công ty kiểm toán lớn Sau đó ảngkhảo sát nàyđược khảo sát th trên 20 trưởng nhóm kiểm toán có kinh nghiệm ở cáccông ty KPMG, PWC, EY
Kết quả khảo sát cho thấy r ng, ở phần câu hỏi mở cho phép các đối tượngđược khảo sát liệt kê các thuộc tính mà th o quan điểm của họ là quan trọng/cầnthiết đối với một KTV chuyên nghiệp thì đa phần các thuộc tính được liệt kê khágiống nhau đó là: khả năng chịu đựng được áp lực, tinh thần trách nhiệm, tính cẩnthận, ham học hỏi, khả năng làm việc nhóm, khả năng giao tiếp, đam mê nghềnghiệp, tham vọng nghề nghiệp…
Do đó, khi đưa ra ảng câu hỏi cuối cùng tác giả đã thay đổi một chút cấu trúccủa phần 2 như sau: chia phần 2 ra thành hai phần nhỏ Phần 2.1 liệt kê sẵn ba mươithuộc tính để người trả lời lựa chọn Ba mươi thuộc tính này được rút ra từ kết quảtrong phần kiểm tra thí điểm 20 KTV và dựa trên việc tham khảo của tác giả ở cácnguồn khác nhau cũng như dựa trên 20 thuộc tính trong nghiên cứu trước về cácthuộc tính/phẩm chất cần thiết cho một KTV Phần 2.2 là phần câu hỏi mở để ngườitrả lời bổ sung các thuộc tính khác ngoài những thuộc tính đã nêu ở phần 1 Cáchlàm này cũng nh m hạn chế tình trạng người được khảo sát không liệt kê/liệt kê sơsài các thuộc tính bởi vì tâm lý của người được khảo sát thường không thích phải
Trang 40viết ra quá nhiều Do đó, việc liệt kê sẵn cho họ những thuộc tính để cho họ lựa chọn là phương án tối ưu nhất.
Ngoài ra ở phần 3, phần đánh giá hai mươi thuộc tính cho sẵn, tác giả bổ sung thêm ba thuộc tính khác (được đánh dấu # trong bảng hỏi) đó là:
Thuộc tính cẩn thận cũng được x m như là 1 đặc điểm cá nhân quan trọng màmột KTV cần có để có thể làm tốt được công việc kiểm toán và đảm bảo CLKT.Đây cũng là các thuộc tính được nhắc đến 17 lần/20 bảng khảo sát th
2.2.4 Phương pháp nghiên cứu và kích thước mẫu
Th o như số liệu thống kê ở các phần trên có thể thấy số lượng KTV và cáccông ty kiểm toán ở Việt Nam hiện nay là khá lớn Tuy nhiên, do giới hạn về khảnăng tiếp cận cũng như thời gian và chi phí nghiên cứu, tác giả chỉ dự định lấykhoảng 90-100 mẫu trả lời và chỉ chọn mẫu trên các công ty kiểm toán trên địa bànTP.HCM
Bảng câu hỏi khảo sát được thiết kế thông qua công cụ googl docs và sau đóđường dẫn của bảng khảo sát được g i đến các KTV ở các công ty kiểm toán khác