1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến VN INDEX trên thị trường chứng khoán việt nam

104 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 564,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng các yếu tố kinh tế vĩ môđang tác động nhiều lên chỉ số giá chứng khoán, tùy thuộc vào từng thị trường ứngvới những đặc điểm khác nhau của nề

Trang 1

-LÊ THANH TÙNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

TP HCM NĂM 2013

Trang 2

-LÊ THANH TÙNG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ

VĨ MÔ ĐẾN VN – INDEX TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS BÙI KIM YẾN

TP HCM NĂM 2013

Trang 3

Đề tài nghiên cứu “Đánh giá tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến VN – Index trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là đề tài nghiên cứu do chính tác giả thực

hiện

Đề tài này thực hiện thông qua việc vận dụng các kiến thức đã học, qua thamkhảo nhiều tài liệu và sự tận tình hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học, cùngvới sự góp ý của các cá nhân, tập thể khác

Luận văn này không sao chép từ bất kỳ một nghiên cứu nào khác

Tôi xin cam đoan những lời nêu trên đây là hoàn toàn đúng sự thật

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 10 năm 2013

LÊ THANH TÙNG

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1

2 Mục đích 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Điểm mới của đề tài 3

6 Tóm tắt nội dung luận văn 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TRÊN TTCK 1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán 4

1.1.1 Khái niệm, phân loại về thị trường chứng khoán 4

1.1.2 Các hàng hóa trên thị trường chứng khoán 6

1.1.3 Chức năng của thị trường chứng khoán 7

1.2 Tổng quan về chỉ số giá cổ phiếu và tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá cổ phiếu 9

1.2.1 Tổng quan về chỉ số giá cổ phiếu 9

1.2.2 Một số phương pháp tính chỉ số giá cổ phiếu 9

1.2.3 Tác động của một số nhân tố kinh tế vĩ mô tác động lên chỉ số giá cổ phiếu 12

1.2.3.1 Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây 12

1.2.3.2 Tác động của một số nhân tố kinh tế vĩ mô lên chỉ số giá cổ phiếu 16

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 23

Trang 5

2.1.1 Giai đoạn 2001-2005 24

2.1.2 Giai đoạn bùng nổ và tăng trưởng 2006-2007 26

2.1.3 Giai đoạn suy giảm và phục hồi 2008-2013 30

2.1.4 Một số hạn chế của chỉ số giá cổ phiếu VN – Index 37

2.2 Đánh giá tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô lên VN - Index 38

2.2.1 Mô hình nghiên cứu 38

2.2.1.1 Cơ sở lựa chọn mô hình nghiên cứu 38

2.2.1.2 Mẫu nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu 39

2.2.1.3 Phương pháp nghiên cứu 40

2.2.1.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất 40

2.2.1.5 Mô hình toán nghiên cứu đề xuất 41

2.2.1.6 Mô tả và đo lường các biến 41

2.2.2 Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu 43

2.2.2.1 Phân tích thống kê mô tả 43

2.2.2.2 Kiểm tra tính dừng 44

2.2.2.3 Xác định độ trễ và đồng liên kết 47

2.2.2.4 Xác định mô hình quan hệ dài hạn giữa các biến nghiên cứu 49

2.2.3 Kết quả nghiên cứu 51

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 55

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN TTCK VIỆT NAM 3.1 Đối với hoạt động đầu tư của nhà đầu tư 56

3.2 Đối với nhà điều hành chính sách, quản lý thị trường 58

KẾT LUẬN CHUNG 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

ADF (Augemented Dicky-Fuller): Kiểm định ADF (mở rộng của kiểm định DF)CPI (Consume price index): Chỉ số giá tiêu dùng

DF (Dicky-Fuller): Kiểm định Dicky-Fuller

ECM (Error correction model): Mô hình hiệu chỉnh sai số

Eview (Econometric Views): Phần mềm thống kê Eview

EX (Exchange rate of USD): Tỷ giá đola Mỹ

HOSE (HoChiMinh Stock Exchange): Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ ChíMinh

HNX (Hanoi Stock Exchange): Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

HNX Index: Chỉ số giá chứng khoán sàn Hà nội

IP (Industrial output): Sản lượng công nghiệp

M2: cung tiền M2

OLS (Ordinary Least Square): Phương pháp bình phương bé nhất

OP (Oil price): Giá dầu

TTCK: Thị trường chứng khoán

VECM (Vector error correction model): Mô hình vecto hiệu chỉnh sai số

VN: Việt Nam

VN-INDEX (Việt Nam Stock Index): Chỉ số giá chứng khoán Việt Nam

UBCKNN: Ủy ban chứng khoán nhà nước

Trang 7

Bảng biểu

Bảng 2.1 : Quy mô giao dịch VNIndex giai đoạn 2000-2005

Bảng 2.2: Thống kê giao dịch VN-Index nửa đầu năm 2013

Bảng 2.3 Bảng tóm tắt các biến trong mô hình

Bảng 2.4 Kết quả phân tích thống kê mô tả cho các chuỗi số liệu

Bảng 2.5 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị (Unit Root Test ) cho các chuỗi số liệutrong nghiên cứu

Bảng 2.6 Xác định độ trễ của mô hình

Bảng 2.7 Kết quả kiểm định đồng liên kết

Biểu đồ

Biểu đồ 2.1 Diễn biến VN-Index giai đoạn 2000 – 2005

Biểu đồ 2.2 Diễn biến VN-Index năm 2006 – 2007

Biểu đồ 2.3 Diễn biến VN-Index năm 2008 – 2013

Sơ đồ

Sơ đồ 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Trong nền kinh tế hiện đại thị trường chứng khoán đóng một vai trò rất quantrọng bởi nó là kênh huy động vốn lớn và hữu hiệu cho nền kinh tế, đồng thời nócung cấp một môi trường đầu tư cho các tổ chức, cá nhân cả trong nước lẫn ngoàinước Ngoài ra thị trường chứng khoán còn là thước đo đánh giá giá trị doanhnghiệp và là hàn thử biểu của nền kinh tế

Vai trò quan trọng của thị trường chứng khoán thật sự có ý nghĩa đối với nềnkinh tế khi thị trường chứng khoán có mối quan hệ “ nhân quả” với các yếu tố kinh

tế vĩ mô Thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả thì nền kinh tế tăng trưởng vàthịnh vượng Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng các yếu tố kinh tế vĩ môđang tác động nhiều lên chỉ số giá chứng khoán, tùy thuộc vào từng thị trường ứngvới những đặc điểm khác nhau của nền kinh tế, thậm chí có những kết quả nghiêncứu trái chiều nhau về tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô lên chỉ số giá chứngkhoán

Nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế mới nổi, thuộc nhóm quốc gia đangphát triển, với thị trường chứng khoán còn non trẻ, trải qua hơn 10 năm thành lập vàhoạt động, đã có những đóng góp nhất định cho nền kinh tế, tuy nhiên vẫn còn cầnnhiều hơn nữa những nghiên cứu nhằm hoàn thiện thêm cho thị trường chứngkhoán, cả về phía chính sách quản lý điều hành, và cả về phía nhà đầu tư, kinhdoanh chứng khoán, đặc biệt là các tác động qua lại của các chính sách vĩ mô và thịtrường chứng khoán Vì vậy trong nội dung bài nghiên cứu này, hy vọng có thể tìmhiểu chi tiết hơn về tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế ViệtNam lên chỉ số giá VN – Index trong giai đoạn từ khi thành lập thị trường đến nay

2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhắm tìm hiểu tác động của nhân tố kinh tế vĩ mô lên chỉ số giácủa thị trường chứng khoán Việt Nam (cụ thể là lên chỉ số giá VN – Index), nhằmđánh giá mức độ tác động của các nhân tố này, từ đó có thể giúp các nhà đầu tư cócái nhìn rõ ràng hơn đối với các tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô, giúp họ đưa

Trang 9

ra các quyết định đầu tư hợp lý hơn, kịp thời hơn khi có sự biến động của các nhân

tố kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế Việc hoàn thiện, và định hướng cho nhà đầu tưhoạt động đúng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến thị trường chứng khoán Vì vậy nghiêncứu này mong muốn góp một phần để nhà đầu tư có thêm những công cụ hoàn thiệnhơn nữa, phục vụ cho nhu cầu đầu tư một cách chuyên nghiệp của các mình

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố kinh tế vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam

và tác động của nó lên chỉ số giá VN – Index Theo những nghiên cứu trước đây, córất nhiều những nhân tố kinh tế vĩ mô tác động lên chỉ số giá chứng khoán, tuynhiên, trong giới hạn của đề tài này, bài nghiên cứu chỉ xin tập trung vào ba nhân tốkinh tế vĩ mô, mà đã được nhiều nghiên cứu khác trên thế giới chỉ ra rằng nó có tácđộng đến thị trường chứng khoán là hoạt động kinh tế thực, cung tiền và giá dầu đểnghiên cứu cho thị trường chứng khoán Việt Nam, với mong muốn đánh giá kỹ hơn

về ba nhân tố này

Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung vào nghiên cứu tác động của các nhân tốkinh tế vĩ mô lên chỉ số VN-Index, vì quy mô niêm yết, lượng giao dịch, khả năngthu hút đầu tư, cùng với hầu hết các doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế Việt Namtham gia niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM, do đó nó có khả năngđại diện tốt cho biến động của thị trường, và biến động của nền kinh tế hơn so vớichỉ số HNX-Index Đồng thời nghiên cứu sẽ tập trung vào ba nhân tố là hoạt độngkinh tế thực, đại diện bằng giá trị sản lượng công nghiệp, cung tiền M2 và giá dầutrong giai đoạn 2000 -2012 để đánh giá sự tác động của các biến này lên chỉ số VN-Index

4. Phương pháp nghiên cứu

Thông qua các nghiên cứu trước đây về tác động của các nhân tố kinh tế vĩ

mô lên chỉ số giá của thị trường chứng khoán ở các quốc gia và các nghiên cứu cóliên quan ở thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó lựa chọn các nhân tố kinh tế vĩ

mô tác động lên chỉ số giá thị trường chứng khoán, xây dựng mô hình nghiên cứucho đề tài

Trang 10

Đồng thời áp dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng, thống kê, sửdụng các dữ liệu về biến động của các nhân tố kinh tế vĩ mô bao gồm sản lượngcông nghiệp, cung tiền M2, giá dầu, và chỉ số giá thị trường chứng khoán trong giaiđoạn 2000 – 2012 để phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô nàylên chỉ số giá VNIndex.

Nghiên cứu sử dụng mô hình VECM để đánh giá mối quan hệ dài hạn giữacác nhân tố này với biến động của VN - Index nhằm xây dựng mô hình phù hợp,phục vụ cho hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán

5. Điểm mới của đề tài

Đề tài tiến hành nghiên cứu với một số nhân tố kinh tế vĩ mô chưa đượcnghiên cứu nhiều về tác động của nó lên thị trường chứng khoán Việt Nam là sảnlượng công nghiệp, cung tiền M2, và giá dầu trên thế giới Đồng thời nghiên cứu sẽchú trọng vào mục tiêu cung cấp những thông tin, công cụ phục vụ cho các nhà đầu

tư ở Việt Nam, thay vì đi sâu về hướng chính sách vĩ mô như các nghiên cứu trướcđó

6. Tóm tắt nội dung luận văn

Chương 1 Tổng quan về tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ sốgiá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán

Chương 2 Thực trạng về thị trường chứng khoán Việt Nam và đánh giá tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô lên chỉ số giá VN – Index

Chương 3: Một số giải pháp đối với hoạt động đầu tư và quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ

VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TRÊN TTCK 1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán

1.1.1 Khái niệm, phân loại về thị trường chứng khoán

Khái niệm về thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán là một bộ

phận quan trọng của thị trường vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồnvốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanhnghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tếhay cho các dự án đầu tư

Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán cácloại chứng khoán Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp,

do vậy thị trường chứng khoán là nơi chứng khoán được phát hành và trao đổi

Phân loại về thị trường chứng khoán

- Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn:

Thị trường sơ cấp : là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành,

trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư được chuyển sang nhà phát hành thông quaviệc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành

việc phát hành chứng khoán

rỗi tạm thời trong dân chúng vào đầu tư, chuyển tiền sang dạng vốn dài hạn

Đặc điểm của thị trường sơ cấp

người phát hành

NHNN, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành

thường được in ngay trên chứng khoán

Trang 12

Thị trường thứ cấp : nơi diễn ra các giao dịch chứng khoán đã được phát hành

các chứng khoán đã phát hành

Đặc điểm của thị trường thứ cấp

thuộc về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc vềnhà phát hành

chứng khoán trên thị trường thứ cấp do cung và cầu quyết định

mua và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trường thứ cấp

- Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường: thị trường chứng khoán

được phân thành thị trường tập trung và phi tập trung

+ Trên thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) các giao dịch được

tập trung tại một địa điểm, các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành giá giao dịch

+ Trên thị trường phi tập trung (OTC): các giao dịch cả sơ cấp lẫn thứ cấp,

được tiến hành thông qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán trên khắpquốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử Giá cả trên thị trường này hìnhthành theo phương thức thỏa thuận

- Căn cứ vào hàng hóa trên thị trường: thị trường được chia thành thị trường

cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh

bao gồm cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi

hành, bao gồm trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ

mua đi bán lại các chứng khoán phái sinh đã được phát hành Đây là loại thị trường

Trang 13

cao cấp chuyên giao dịch những công cụ tài chính cao cấp, do đó thị trường này chỉxuất hiện ở những nước có thị trường chứng khoán phát triển mạnh.

1.1.2 Các hàng hóa trên thị trường chứng khoán

Chứng khoán là hàng hóa trên thị trường chứng khoán Theo Luật chứngkhoán, chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người

sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thểhiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm cácloại sau:

+ Cổ phiếu: là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ

hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu

cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần Theo tính chất của cácquyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông, có hai loại cổ phiếu cơ bản: cổ phiếuphổ thông và cổ phiếu ưu đãi

+ Trái phiếu: là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát

hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) mộtkhoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàntrả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn

+ Chứng chỉ quỹ đầu tư: là dạng chứng chỉ được phát hành ra công chúng

bởi các công ty quản lý quỹ, người mua chứng chỉ không được tham gia vào quátrình ra quyết định đầu tư của quỹ mà sẽ ủy thác việc quản lý quỹ cho công ty Công

ty quản lý quỹ sẽ đảm nhận cả hai khâu huy động vốn và đầu tư vốn vào các chứngkhoán Dựa trên hình thái vận động của vốn, có thể phân loại thành quỹ đóng vàquỹ mở Trong quỹ đóng các chứng chỉ hay cổ phần quỹ chỉ được phát hành mộtlần, với một số lượng xác định Sau khi phát hành lần đầu ra công chúng, quỹ khôngmua lại những chứng chỉ, cổ phần khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại, cũng khôngphát hành bổ sung

Trái lại quỹ đầu tư dạng mở liên tục phát hành cổ phiếu hay chứng chỉ racông chúng, số lượng cổ phần hay chứng chỉ có thể không hạn chế, và quỹ sẵn sàngmua lại chứng chỉ hay cổ phiếu mỗi khi nhà đầu tư có nhu cầu bán Cổ phiếu hay

Trang 14

chứng chỉ của quỹ mở không giao dịch trên thị trường thứ cấp mà giao dịch thẳng với quỹ hoặc các đại lý được ủy quyền của quỹ.

+ Chứng khoán có thể chuyển đổi: là những chứng khoán cho phép người

nắm giữ nó, tùy theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định, có thể đổi nó lấymột chứng khoán khác Thông thường có cổ phiếu ưu đãi được chuyển đổi thành cổphiếu thường, và trái phiếu được chuyển đổi thành cổ phiếu thường

+ Các chứng khoán phái sinh:

Quyền mua cổ phần: là quyền ưu tiên mua trước dành cho các cổ đông hiện

hữu của một công ty cổ phần được mua một số lượng cổ phần trong một đợt pháthành cổ phiếu phổ thông mới tương ứng với tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công

ty, tại một mức giá xác định, thấp hơn mức giá chào mời ra công chúng và trongmột thời hạn nhất định, đôi khi chỉ vài tuần

Chứng quyền: là một loại chứng khoán trao cho người nắm giữ nó được mua

một số lượng xác định một loại chứng khoán khác, thường là cổ phiếu phổ thông,với một mức giá xác định và trong một thời gian nhất định

Hợp đồng kỳ hạn: là một thỏa thuận trong đó một người mua và một người

bán chấp nhận thực hiện một giao dịch hàng hóa với khối lượng xác định, tại mộtthời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định ngày hôm nay

Hợp đồng tương lai: là một thỏa thuận đòi hỏi một bên của hợp đồng sẽ mua

hoặc bán một hàng hóa nào đó tại một thời hạn xác định trong tương lai theo mộtmức giá đã định trước Nó cung cấp một cơ hội cho những người tham gia thịtrường để phòng ngừa rủi ro về những biến động giá bất lợi

Quyền chọn: là một hợp đồng cho phép người nắm giữ nó được mua (quyền

mua) hoặc được bán (quyền bán) một khối lượng nhất định hàng hóa tại một mứcgiá xác định và trong một thời hạn nhất định

1.1.3 Chức năng của thị trường chứng khoán

Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: khi các nhà đầu tư mua chứng khoán

do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuấtkinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Bằng cách hỗ trợ các hoạt

Trang 15

động đầu tư của công ty, thị trường chứng khoán đã có những tác động quan trọngđối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Thông qua thị trường chứng khoán,chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn chomục đích sử dụng và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, phục vụ cho nhu cầu chungcủa xã hội.

Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: thị trường chứng khoán cung

cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọnphong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thờihạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư lựa chọn loại hàng hóa phù hợp với khảnăng, mục tiêu và sở thích của mình Chính vì vậy, thị trường chứng khoán gópphần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia

Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán: nhờ có thị trường chứng khoán

các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt, hoặccác loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản là một trong nhữngđặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tínhlinh hoạt, an toàn của vốn đầu tư Thị trường chứng khoán càng năng động và hiệuquả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịchtrên thị trường

Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp: thông qua giá chứng khoán, hoạt

động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúpcho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp được nhanh chóng vàthuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng caohiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm

Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô: các

chỉ báo của thị trường chứng khoán phản ánh động thái của nền kinh tế một cáchnhạy bén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mởrộng, nền kinh tế tăng trưởng, và ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy cácdấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế thị trường chứng khoán được gọi là phong

vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp chính phủ thực hiện các

Trang 16

chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua thị trường chứng khoán, chính phủ có thể mua

và bán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản

lý lạm phát Ngoài ra, chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháptác động vào thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự pháttriển cân đối của nền kinh tế

1.2 Tổng quan về chỉ số giá cổ phiếu và tác động của một số nhân tố kinh tế vĩ

mô đến chỉ số giá cổ phiếu

1.2.1 Tổng quan về chỉ số giá cổ phiếu

Chỉ số giá cổ phiếu là chỉ số phản ánh mức giá bình quân của các cổ phiếu tạimột ngày nhất định so với ngày gốc Chỉ số giá cổ phiếu là chỉ số phản ánh mức giábình quân của cổ phiếu tại một ngày nhất định so với ngày gốc Nó phản ánh xuhướng phát triển của thị trường, của giá cổ phiếu, tình hình giao dịch trên thị trườngchứng khoán, từ đó đánh giá cảm nhận của các nhà đầu tư về tình trạng của nềnkinh tế

Một chỉ số thị trường được xây dựng tốt sẽ cung cấp một chỉ dẫn khách quan

về giá cả của tổng thể nghiên cứu, ngược lại, một chỉ số xây dựng kém sẽ chỉ đưa ranhững những gì mà nó không có tính đại diện của tổng thể Để xây dựng một chỉ sốgiá cổ phiếu người ta có những phương pháp xác định khác nhau tùy thuộc vào đặcđiểm của thị trường và mục tiêu của nhà quản lý

1.2.2 Một số phương pháp tính chỉ số giá cổ phiếu

Phương pháp Passcher:

Đây là loại chỉ số giá cổ phiếu thông dụng nhất và nó là chỉ số giá bình quângia quyền giá trị với quyền số là số lượng chứng khoán niêm yết thời kỳ tính toán.Kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số thời kỳ tính toán:

Người ta dùng công thức sau để tính:

q t p t

I p =

-q t p o Trong đó:

Trang 17

Ip : Là chỉ số giá Passcher

lượng thời điểm tính toán

lượng cổ phiếu niêm yết) thời kỳ gốc

i: Là cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá

n: là số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số

Chỉ số giá bình quân Fisher

Chỉ số giá bình quân Fisher là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ số giáPasscher và chỉ số giá Laspayres: Phương pháp này trung hoà được yếu điểm củahai phương pháp trên, tức là giá trị chỉ số tính toán ra phụ thuộc vào quyền số của cả

2 thời kỳ: Kỳ gốc và kỳ tính toán

Trang 18

Trong đó:

Phương pháp số bình quân giản đơn:

Ngoài các phương pháp trên, phương pháp tính giá bình quân giản đơn cũngthường được áp dụng.Công thức đơn giản là lấy tổng thị giá của chứng khoán chiacho số chứng khoán tham gia tính toán:

p i

I p =

-n Trong đó:

Ip: là giá bình quân;

Pi: là giá Chứng khoán i;

n: là số lượng chứng khoán đưa vào tính toán

Công thức tính chỉ số VN-Index:

Theo quy định của Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM thì chỉ số VN-Indexđược tính bằng cách so sánh giá trị thị trường hiện hành với giá trị thị trường cơ sởvào ngày gốc 28/07/2000, ngày đầu tiên thị trường chứng khoán chính thức đi vàohoạt động Giá trị thị trường cơ sở trong công thức tính chỉ số được điều chỉnh trongcác trường hợp như niêm yết mới, huỷ niêm yết và các trường hợp có thay đổi vềvốn niêm yết

Chỉ số VNIndex = (Giá trị thị trường hiện hành / Giá trị thị trường cơ sở) x100

=

Trong đó:

Trang 19

Qio: Số lượng niêm yết vào ngày gốc của cổ phiếu I (I= 1,…,n)

1.2.3 Tác động của một số nhân tố kinh tế vĩ mô lên chỉ số giá cổ phiếu

1.2.3.1 Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây

Thị trường chứng khoán chịu tác động của nhiều nhân tố, bao gồm các nhân

tố kinh tế vĩ mô và vi mô Mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô với chỉ số chứngkhoán (đại diện cho tình hình của thị trường chứng khoán) đã được nhiều nhànghiên cứu trên thế giới quan tâm Stephen A Ross (1976) đã phát triển Lý thuyếtkinh doanh chênh lệch giá (APT – Arbitrage Pricing Theory) để giải thích tỉ suấtsinh lợi của chứng khoán trên thị trường

Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá là một lý thuyết tổng quát về định giátài sản, và nó đang dần có sức ảnh hưởng lớn trong việc định giá các cổ phần APTnói rằng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản tài chính có thể được đo lường thôngqua các yếu tố kinh tế vĩ mô khác nhau hoặc là yếu tố thị trường Sự nhạy cảm củatài sản với sự thay đổi trong mỗi yếu tố được đại diện bằng đại lượng xác định gọi là

hệ số beta Xuất phát từ lý thuyết này, mô hình xác định tỷ suất sinh lợi cho cácchứng khoán đã được sử dụng để định giá tài sản một cách chính xác Giá của tàisản phải bằng với mức kỳ vọng vào cuối giai đoạn đầu tư chiết khấu về hiện tại vớimức chiết khấu được tính toán trong mô hình Nếu giá khác nhau, cơ hội kinh doanhchênh lệch sẽ đưa nó về lại đúng đường thẳng như mô hình

Chen, Roll và Ross đã xác định các yếu tố kinh tế vĩ mô sau là rất quan trọngtrong việc giải thích tỷ suất sinh lợi của chứng khoán:

Trang 20

+ Một chỉ số chứng khoán được đa dạng hóa ví dụ như S&P500 hoặc chỉ số

Nhiều nhà khoa học đã chứng minh bằng thực nghiệm tác động của các nhân

tố vĩ mô như sản lượng công nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền, GDP, tỉ giá hốiđoái, lãi suất, lạm phát, rủi ro chính trị, giá dầu, khu vực mậu dịch, và các chỉ sốchứng khoán thị trường khu vực… đến thị trường chứng khoán như:

Mukherjee và Naka (1995) điều tra các mối quan hệ giữa giá chứng khoán

trên thị trường Tokyo và sáu biến kinh tế vĩ mô, sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai sốvector (VECM) Nghiên cứu của họ bao gồm 240 quan sát hàng tháng cho mỗi biếntrong giai đoạn từ tháng 5 năm 1971 đến tháng 12 năm 1990 Các kết quả củanghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa giá chứng khoán Tokyo, tỷ giá, cung tiền, vàsản xuất công nghiệp là tích cực, trong khi mối quan hệ giữa giá chứng khoánTokyo và lạm phát, lãi suất là hỗn hợp

Ibrahim (1999) điều tra sự tương tác giữa giá cổ phiếu trên thị trường chứng

khoán Malaysia và bảy biến kinh tế vĩ mô trong giai đoạn 1977-1996 Tác giả sửdụng mô hình kiểm định quan hệ nhân quả Granger Các biến số kinh tế vĩ mô baogồm các sản xuất công nghiệp, giá tiêu dùng, M1, M2, tập hợp tín dụng, dự trữngoại hối và tỷ giá hối đoái Nghiên cứu cho thấy rằng có sự biến động giá cổ phiếutheo sự thay đổi trong sản xuất công nghiệp, cung tiền, và tỷ giá hối đoái trong khi

nó phản ứng ngược chiều với giá tiêu dùng, tập hợp tín dụng, và dự trữ ngoại hối

Zhao (1999) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát, yếu tố đầu ra ( giá

sản xuất công nghiệp) lên thị trường chứng khoán Trung Quốc Nghiên cứu sử dụngcác giá trị hàng tháng cho giai đoạn từ tháng Giêng năm 1993 đến tháng 3 năm

1998 Kết quả cho thấy có mối quan hệ tiêu cực giữa giá cổ phiếu và lạm phát.Đồng thời nghiên cứu cũng cho thấy rằng việc tăng sản lượng công nghiệp cũng ảnhhưởng tiêu cực và đáng kể đến giá cổ phiếu

Trang 21

Maysami và Koh (2000) xem xét các mối quan hệ tác động giữa biến kinh tế

vĩ mô và thị trường chứng khoán Singapore bằng cách sử dụng mô hình hiệu chỉnhvector Các biến số kinh tế vĩ mô là tỷ giá hối đoái, lãi suất ngắn hạn và dài hạn, tỷgiá, lạm phát, cung tiền, xuất khẩu trong nước, và sản xuất công nghiệp Dữ liệuđược điều chỉnh theo mùa và bao gồm các giai đoạn từ 1988-1995 Nghiên cứu chothấy lạm phát, tăng trưởng cung tiền, thay đổi trong tỷ lệ lãi suất ngắn hạn và dàihạn, sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái không ảnh hưởng đến biến động trên thịtrường chứng khoán Singapore Nghiên cứu này cũng xem xét mối liên hệ giữa cácthị trường chứng khoán Mỹ, Nhật Bản và thị trường chứng khoán Singapore Kếtquả cho thấy ba thị trường có sự tương tác nhất định

Ralph và Eriki (2001) với nghiên cứu trên thị trường chứng khoán Nigeria

kiểm tra mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và lạm phát, hỗ trợ mạnh mẽ cho ý kiến lạmphát sẽ tạo nên một tác động tiêu cực lên hoạt động của giá cổ phiếu Hơn nữa,nghiên cứu cho thấy giá cổ phiếu cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi mức độ hoạtđộng của nền kinh tế được đo bằng GDP, lãi suất, cổ tức, và biến động của các yếu

tố pháp lý Mặt khác, các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng biến động giá dầu không

có ảnh hưởng đáng kể đến giá cổ phiếu

Al-Qenae et (2002) với nghiên cứu về tác động của các biến số kinh tế vĩ mô

và giá cổ phiếu của thị trường chứng khoán Kuwait trong giai đoạn 1981-1997 Cácbiến số kinh tế vĩ mô được kiểm định là tổng sản phẩm quốc dân (GNP), lãi suất vàlạm phát Nghiên cứu cho thấy lạm phát và lãi suất có tác động tiêu cực và có ýnghĩa thống kê trong gần như tất cả các trường hợp trên giá cổ phiếu, trong khi GNP

có tác động tích cực nhưng nó chỉ có ý nghĩa trong một khoảng thời gian nhất định.Trong các yếu tố bên ngoài tác động thì tổng sản phẩm trong nước, giá tiêu dùng,cung tiền, lãi suất, giá dầu là những yếu tố bên ngoài quan trọng nhất

Dimitrios Tsoukalas (2003) xem xét mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và các

yếu tố kinh tế vĩ mô trong thị trường chứng khoán mới nổi Síp Trong nghiên cứunày, các tác giả đã sử dụng các mô hình tự hồi quy véc tơ (VAR) Các yếu tố kinh tế

vĩ mô được kiểm tra trong nghiên cứu này, từ giai đoạn 1975-1998, là tỷ giá hối

Trang 22

đoái, sản xuất công nghiệp, cung tiền, và chỉ số giá tiêu dùng Các kết quả nghiêncứu cho thấy có mối quan hệ mạnh mẽ giữa giá cổ phiếu và các yếu tố kinh tế vĩ

mô Theo tác giả, các mối quan hệ mạnh mẽ giữa giá cổ phiếu và tỷ giá hối đoái, bởinền kinh tế Síp phụ thuộc cho hầu hết các hoạt động dịch vụ như du lịch, và ngânhàng Ông cũng lưu ý rằng mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và sản xuất công nghiệp,cung tiền, và giá tiêu dùng phản ánh các chính sách kinh tế vĩ mô thực hiện bởi cơquan tài chính và tiền tệ Síp

Ibrahim (2003) áp dụng mô hình VAR để đánh giá mối quan hệ và tương tác

trong dài hạn giữa thị trường chứng khoán Malaysia với các biến số kinh tế Cácbiến kinh tế vĩ mô được sử dụng là sản lượng công nghiệp thực, giá tiêu dùng, cungtiền, và tỷ giá hối đoái Nghiên cứu này mang lại hai kết quả chính: đầu tiên, giá cổphiếu của Malaysia chịu tác động tích cực bởi cung tiền, chỉ số giá tiêu dùng và sảnxuất công nghiệp Thứ hai, nó chịu tác động tiêu cực của sự biến động tỷ giá hốiđoái

Chaudhuri và Smiles (2004) kiểm tra các mối quan hệ lâu dài giữa giá cổ

phiếu và những thay đổi trong hoạt động kinh tế vĩ mô trên thị trường chứng khoán

Úc trong khoảng thời gian 1960-1998 Các hoạt động kinh tế vĩ mô được xem xétbao gồm GDP thực, sản lượng tiêu thụ, tiền thật, và giá dầu Kết quả nghiên cứu của

họ chỉ ra rằng có mối quan hệ lâu dài giữa giá cổ phiếu và hoạt động kinh tế vĩ mô.Nghiên cứu cũng thấy rằng thị trường chứng khoán nước ngoài như thị trường Mỹ

và New Zealand cũng ảnh hưởng đáng kể đến thị trường chứng khoán Úc

Nguyễn Phú Hiếu (2011) nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô

đến chỉ số giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam Nghiên cứu thựchiện trong giai đoạn từ tháng 7 năm 2004 đến tháng 12 năm 2009 Kết quả nghiêncứu cho thấy, trong dài hạn chỉ số chứng khoán bị tác động ngược chiều của yếu tốlạm phát và lãi suất bình quân của thị trường liên ngân hàng, trong ngắn hạn chỉ sốchứng khoán bị tác động cùng chiều bởi chính nó với độ trễ (1 tháng và 4 tháng)đồng thời bị tác động ngược chiều bởi yếu tố lãi suất với độ trễ (4 tháng)

Trang 23

Có thể nói các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị tài sản nói chung và giá cổ phiếunói riêng thì rất phong phú và đa dạng Những yếu tố này có thể phân ra như sau :yếu tố công ty, yếu tố ngành, yếu tố quốc gia và quốc tế hoặc những yếu tố thuộc vềthị trường và không thuộc thị trường, những yếu tố thuộc về kinh tế và không thuộc

về kinh tế Tất cả những yếu tố đó được xếp thành hai nhóm (yếu tố vi mô và yếu tố

vĩ mô), những yếu tố trong mỗi nhóm thì rất đa dạng, tuy nhiên tất cả đều có ảnhhưởng đến quyết định của nhà đầu tư và giá của chứng khoán

1.2.3.2 Tác động của một số nhân tố kinh tế vĩ mô lên chỉ số giá cổ phiếu

Những nghiên cứu trước đây cho thấy đã có sự tác động giữa các biến kinh tế

vĩ mô với chỉ số giá cổ phiếu Có nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa lạm phát,lãi suất, tỷ giá với giá cổ phiếu, cũng có những nghiên cứu cho thấy các biến vĩ môkhác như lãi suất, chỉ số công nghiệp, lượng cung tiền,…cũng có tác động nhất địnhđến giá cổ phiếu

Tuy nhiên dựa trên cơ sở lý thuyết và đặc biệt là xem xét các nghiên cứutrước đó, có thể nói chỉ số giá cổ phiếu là một hàm ảnh hưởng bởi nhiều biến vĩ mô(biến độc lập) như GDP, lãi suất (R), lạm phát (INFT, đo lường bởi CPI), cung tiền(M1, M2), tỷ giá hối đoái (EX), giá một số kim loại quý như vàng, giá dầu, rủi rochính trị, tỷ lệ thất nghiệp đến giá cổ phiếu

Lãi suất: Lãi suất là tỷ lệ mà theo đó tiền lãi được người vay trả cho việc sử

gốc (P) phải trả cho một số lượng nhất định của thời gian (m) mỗi thời kỳ (thường

tiền gốc trong một khoảng thời gian một năm

Lãi suất danh nghĩa là số lượng, theo tỷ lệ phần trăm, của tiền lãi phải trả Lãi

Tác động của lãi suất đến chỉ số giá cổ phiếu

Lãi suất là chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp, khi lãi suất giảm thì chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng giảm và ngược lại Khi đó doanh nghiệp sẽ

Trang 24

gia tăng các khoản đầu tư với chi phí thấp, làm lợi nhuận doanh nghiệp có xu hướng

đi lên, từ đó làm tăng giá trị doanh nghiệp Khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh

ổn định và xu hướng phát triển tốt, nó sẽ được thị trường đánh giá tốt, và giá cổphiếu sẽ có xu hướng tăng lên, từ đó tác động lên tổng thể chung của thị trường

Khi lãi suất giảm, các kênh đầu tư khác trở nên kém hấp dẫn hơn Việc lãisuất giảm sẽ không khuyến khích nhà đầu tư gửi tiền vào ngân hàng, hoặc ít đầu tưvào những khoản đầu tư mang tính chất cố định, phòng thủ như trái phiếu Thayvào đó nhà đầu tư có thể huy động được vốn có chi phí thấp, và dòng tiền sẽ đổ vàocác kênh đầu tư có tỷ suất sinh lời cao như chứng khoán, bất động sản , điều đó sẽthúc đẩy sự gia tăng của thị trường chứng khoán

Tóm lại, trên cơ sở lý thuyết có thể nhận định rằng khi lãi suất tăng dẫn đếnchỉ số chứng khoán giảm và ngược lại

Lạm phát: Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mứcgiá chung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thịtrường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì

Thuật ngữ "lạm phát" ban đầu được chỉ các gia tăng trong số lượng tiền tronglưu thông, và một số nhà kinh tế vẫn sử dụng từ này theo cách này Tuy nhiên, hầuhết các nhà kinh tế hiện nay sử dụng thuật ngữ "lạm phát" để chỉ một sự gia tăngtrong mức giá Thường xuyên nhất, thuật ngữ "lạm phát" đề cập đến một sự gia tăngchỉ số giá mở rộng đại diện cho mức giá tổng thể đối với hàng hóa và dịch vụ trong

Tác động của lạm phát đến chỉ số giá chứng khoán

Lạm phát ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán thông qua việc tác độngđến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Lạm phát biểu hiện cho sự giatăng về giá của các yếu tố trong nền kinh tế Nguyên vật liệu, chi phí sản xuất đầuvào tăng, khiến cho tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trở nên khókhăn trước những biến động của nền kinh tế Khi chi phí sản xuất tăng cao, lợi

Trang 25

nhuận doanh nghiệp của doanh nghiệp có thể có khả năng giảm sút vì giá thành sảnphẩm tăng cao, và người tiêu dùng có thể hạn chế chi tiêu hoặc tìm đến các sảnphẩm thay thế Hệ quả là giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết bị giảm xuống

do e ngại về triển vọng tăng trưởng của doanh nghiệp trong tương lai

Bên cạnh đó, việc lạm phát tăng cao rất có khả năng sẽ dẫn đến việc chínhphủ thực hiện những chính sách cắt giảm chi tiêu, thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chếlạm phát, ổn định nền kinh tế vĩ mô Điều này sẽ khiến cho lãi suất trên thị trường

có xu hướng gia tăng, và doanh nghiệp khó tiếp cận được nguồn vốn có chi phí thấpcho các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

Đồng thời các nhà đầu tư sẽ đòi hỏi một tỷ suất sinh lợi cao hơn khi lãi suấtdanh nghĩa gia tăng, do đó chênh lệnh giữa tỷ suất sinh lợi và mức tăng trưởng cổtức hàng năm có thể gia tăng, và dẫn đến giá chứng khoán sẽ giảm theo mô hìnhđịnh giá cổ phiếu của Gordon:

Po = Div1/(ke-g)Trong đó:

Như vậy có thể thấy thị trường chứng khoán dường như phản ứng tiêu cựcđối với những biến động của yếu tố lạm phát, khi lạm phát gia tăng, thị trường sẽ có

xu hướng giảm điểm và ngược lại

Cung tiền: Cung ứng tiền tệ, gọi tắt là cung tiền, chỉ lượng cung cấp tiền tệ

Các quy mô cung tiền:

Anh)

Trang 26

M1: bằng tổng lượng tiền mặt (M0) và tiền mà các ngân hàng thương mại

dụng

hàng thương mại, qua đó thay đổi lượng tiền dự trữ R, và tổng lượng cung tiền M.Ngân hàng trung ương còn có thể điều chỉnh, bán các giấy tờ có giá của mình đốivới các tổ chức tín dụng, từ đó tác động tới lượng vốn khả dụng của các tổ chức này.Khi đó lượng cung tiền cũng sẽ được điều tiết

Thu nhập quốc dân danh nghĩa bằng thu nhập quốc dân thực tế nhân với chỉ

số giảm phát GDP (tỷ lệ lạm phát) Thu nhập quốc dân danh nghĩa cũng bằng tốc độlưu thông tiền tệ nhân với cung tiền Do đó, tỷ lệ lạm phát bằng tốc độ lưu thôngtiền tệ nhân với cung tiền rồi chia cho thu nhập quốc dân thực tế Nếu hai yếu tố cònlại không đổi, tốc độ thay đổi của tỷ lệ lạm phát bằng đúng tốc độ thay đổi của cungtiền

Tác động của cung tiền lên chỉ số giá chứng khoán

Tác động cung tiền tạo hiệu ứng tích cực đối với thị trường chứng khoán:

Cung tiền tăng sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm dẫn đến thu nhập củangười dân tăng lên, từ đó làm cho tổng cầu tăng Tổng cầu tăng lên sẽ thúc đẩy sảnxuất phát triển, từ đó tạo ra ảnh hưởng tích cực đối với thị trường chứng khoán

Tác động cung tiền ảnh hưởng tiêu cực đối với thị trường chứng khoán:Cung tiền tăng làm cho lạm phát tăng, ảnh hưởng đến tâm lý của nhà đầu tư Do longại lạm phát tăng, NHNN sẽ thắt chặt cung tiền ảnh hưởng đến dòng vốn chảy vàothị trường chứng khoán nên các nhà đầu tư tăng bán, giảm mua dẫn đến giá chứngkhoán giảm

Trang 27

Ngoài ra, chúng ta biết rằng, một khi NHNN nới rộng cung tiền thì chắc chắnlãi suất sẽ hạ với một 1 độ trễ nhất định Và vì thế, khi tín hiệu M2 giảm được phát

ra thì thị trường chứng khoán cũng sẽ có những phản ứng nhất định đối với dự báo

về biến động của các nhân tố vĩ mô

Tỷ giá hối đoái: Trong tài chính, tỷ giá hối đoái (còn được gọi là tỷ giá trao

một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác Nó cũng được coi là giátrị đồng tiền của một quốc gia đối với một tiền tệ khác

Mỗi quốc gia, thông qua các cơ chế khác nhau, quản lý giá trị đồng tiền của

áp dụng cho đồng tiền của mình Ví dụ, tiền có thể được thả nổi tự do, bị chốt hay

cố định, hoặc kết hợp cả hai

Tác động của tỷ giá đến chỉ số giá chứng khoán

Lý thuyết hiệu ứng Fisher quốc tế thể hiện mối quan hệ chính xác giữa chênhlệch lãi suất của hai nước và thay đổi tỷ giá hối đoái dự kiến Mối quan hệ đó đượcthể hiện trong phương trình sau:

Trong đó:

là phần trăm thay đổi trong giá trị của ngoại tệ

là lãi suất trong nước

là lãi suất nước ngoài

tăng giá khi lãi suất nước ngoài thấp hơn lãi suất trong nước Sự tăng giá này sẽ cảithiện tỷ suất sinh lợi từ nước ngoài cho các nhà đầu tư trong nước, làm cho tỷ suấtsinh lợi từ chứng khoán nước ngoài tương tự với tỷ suất sinh lợi từ chứng khoán

lãi suất nước ngoài cao hơn lãi suất trong nước Sự giảm giá này sẽ làm giảm tỷ suấtsinh lợi từ chứng khoán nước ngoài dưới góc nhìn của các các nhà đầu tư trong

Trang 28

nước, làm cho tỷ suất sinh lợi từ chứng khoán nước ngoài không cao hơn tỷ suấtsinh lợi từ chứng khoán trong nước.

Tác động của tỷ giá đến giá chứng khoán đã được rất nhiều công trình nghiêncứu khác nhau, tuy nhiên vẫn không có sự thống nhất về chiều của sự tác động Mộtvài công trình nghiên cứu cho rằng tỷ giá có quan hệ cùng chiều với giá cổ phiếunhư nghiên cứu của Aggarwal (1981), Solnik (1987) và Smith (2002) Trong khi đómột số nghiên cứu khác lại chứng minh rằng tỷ giá có quan hệ ngược chiều với giáchứng khoán như nghiên cứu của Ajayi and Mougoue (1996) Tóm lại mối quan hệgiữa tỷ giá và giá cổ phiếu chưa thật sự rõ ràng

Sản lượng công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị sản phẩm(vật chất và dịch vụ) của toàn ngành công nghiệp được sản xuất ra trong một thời kỳnhất định, là căn cứ để tính chỉ tiêu giá trị tăng thêm và tổng sản phẩm trong nước(GDP), phục vụ tính cơ cấu ngành kinh tế và tốc độ tăng, giảm kinh tế

Từ năm 1994 đến nay, Tổng cục Thống kê đã sử dụng năm 1994 làm gốc sosánh để tính “Chỉ số giá trị sản xuất công nghiệp theo giá cố định 1994” Phươngpháp này đơn giản, biểu thị ý niệm trực quan rõ ràng và phù hợp với nền kinh tế kếhoạch tập trung, phù hợp với thời kỳ mà chủng loại sản phẩm không nhiều, chấtlượng sản phẩm ít thay đổi và giá cả sản phẩm ổn định trong thời gian dài Tuynhiên phương pháp này đã bộc lộ nhiều bất cập trong nền kinh tế hiện nay như:nhiều sản phẩm mới xuất hiện nhưng không có giá trong bảng giá cố định, nhiều sảnphẩm có giá nhưng không còn sản xuất và lưu thông trên thị trường, hoặc nhiều sảnphẩm giá bán ngày càng hạ do đơn vị sản xuất áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật,nâng cao chất lượng sản phẩm…

Vì vậy để khắc phục điều này, chỉ số sản xuất công nghiệp theo phương phápmới đã được Tổng cục Thống kê đưa vào sử dụng và tính toán từ 1/6/2011 theoThông tư số 07/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, để phản ánh thực chất kếtquả tăng trưởng của ngành công nghiệp hàng tháng trên phạm vi toàn quốc và 63tỉnh, thành phố Kết quả tính toán này cũng đã được Tổng cục Thống kê công bố để

Trang 29

tham khảo rộng rãi, công khai và nhận được sự ủng hộ, tin dùng của các tổ chức, cánhân trong nước và quốc tế.

Sự sản xuất (hàng hoá và dịch vụ) và phát triển của nền kinh tế, là những tiêubiểu cho GDP, có ảnh hưởng rất lớn trên mọi người dân của một nước Trong mộtquốc gia mà nền kinh tế phát triển đều đặn, số người thất nghiệp thấp, lương nhânviên gia tăng vì các thương vụ cần sức lao động Sự thay đổi trên GDP, dù lên hayxuống, đều có tác động mạnh trên thị trường chứng khoán (stock market) Điều nàycũng dễ hiểu, một nền kinh tế èo uột sẽ kéo theo sự yếu kém lợi tức từ các công ty,

và cũng có nghĩa là giảm giá cổ phần Người đầu tư rất ngại GDP xuống chỉ số âm,tức là giai đoạn trì trệ kinh tế

Giá dầu

Việc tăng giá dầu chắc chắn làm căng thẳng lên sức ép lạm phát do tăng chiphí đầu vào trong nền kinh tế Mặt dù dưới góc độ kinh tế vĩ mô thì việc tăng giánày giúp giảm bớt thâm hụt ngân sách vì Nhà nước không phải bù lỗ hàng chụcnghìn tỷ đồng hàng năm cho doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, gián tiếp hỗ trợcho cán cân thanh toán quốc gia, tuy nhiên giá xăng dầu tăng sẽ ảnh hưởng trực tiếpđối với các hộ gia đình đang sử dụng mặt hàng xăng dầu làm sức mua của họ giảm,trong đó các hộ giàu hơn thường có khuynh hướng chịu ảnh hưởng nhiều hơn Mặc

dù chưa xác định được việc tăng giá dây chuyền ở những mặt hàng khác sẽ xói mònsức mua của các hộ gia đình ở những mức thu nhập khác nhau ra sao, nhưng lạmphát nhìn chung gây tổn thương nhiều hơn cho các hộ nghèo

Đồng thời việc tăng giá xăng dầu cũng gây sức ép lên các ngành sản xuất.Chi phí đầu vào tăng lên khiến cho các doanh nghiệp phải gánh chịu sức ép trongquá trình sản xuất của đơn vị mình Sức ép tăng giá khác nhau tùy theo mỗi ngành,tùy thuộc vào yếu tố kỹ thuật của cấu trúc chi phí, doanh nghiệp, toàn nền kinh tế,

và phụ thuộc nhiều vào yếu tố tâm lý, cấu trúc thị trường Yếu tố tâm lý có thể cókhuynh hướng thổi phồng ảnh hưởng của giá xăng dầu theo hướng quá bi quan, dẫntới sức ép tăng giá mạnh hoặc cắt giảm sản xuất Trong khi đó, cấu trúc thị trường,chẳng hạn như với các thị trường có tính độc quyền cao, sự tăng giá có thể diễn ra

Trang 30

do doanh nghiệp có khả năng tăng giá một cách tuỳ tiện, chứ không nhất thiết chỉ làdựa trên tính toán kỹ thuật Cũng tương tự như vậy, việc tăng giá xăng dầu có thểtác động đến tâm lý nhà đầu tư, bên cạnh việc tác động đến việc sản xuất của doanhnghiệp, gây ra những tác động nhất định đến thị trường.

TÓM TẮT CHƯƠNG 1.

Chương 1 đã trình bày về tổng quan của thị trường chứng khoán, chỉ số giá

cổ phiếu, các khái niệm, phân loại, vai trò, chức năng cũng như các sản phẩm trên thị trường chứng khoán Ở chương 1 cũng trình bày về lý thuyết nền APT áp dụng cho bài nghiên cứu, cùng với những nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và trên thế giới, cho thấy các nhân tố vĩ mô có tác động nhất định lên chỉ số giá của thị trường chứng khoán Nghiên cứu cũng diễn giải về một số nhân tố kinh tế vĩ mô này để làm

rõ thêm về xu hướng tác động của nó lên chỉ số giá trên thị trường chứng khoán.

Trang 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ TTCK VIỆT NAM VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ LÊN VN - INDEX

Sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi , ngày 11-7-1998 Chính phủ đã ký Nghịđịnh số 48/CP ban hành về chứng khoán và TTCK chính thức khai sinh cho Thịtrường chứng khoán Việt Nam ra đời

Cùng ngày, Chính phủ cũng ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịchChứng khoán đặt tại TP.HCM và Hà Nội Việc chuẩn bị cho TTCK VN thực ra đã

do Uỷ Ban Chứng khoán Việt Nam ra đời bằng Nghị định 75/CP ngày 28-11-1996.Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (TTGDCK TP.HCM) được thành lậptheo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11-7-1998 và chính thức đi vào hoạtđộng thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28-7-2000

Trung tâm Giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà Nội đã chính thức chàođời vào ngày 8/3/2005 Khác với TTGDCK TP.HCM (vốn là nơi niêm yết và giaodịch chứng khoán của các công ty lớn), TTGDCK Hà Nội sẽ là nơi niêm yết cho các

DN nhỏ và vừa (với vốn điều lệ từ 5 đến 30 tỷ đồng)

2.1 Thực trạng của thị trường chứng khoán Việt Nam

2.1.1 Giai đoạn 2000-2005: Giai đoạn chập chững của thị trường chứng khoán

Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưavào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000

và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 Ở thời điểm lúc bấy giờ,chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE và SAM) với số vốn 270 tỷđồng và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch

Khi đó nền kinh tế Việt Nam vốn mới bước vào thời kỳ hồi phục sau cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ 1997, và năm 2000, Việt Nam chặn được sự giảm sút

về tốc độ tăng trưởng, đến năm 2001 đã đưa tổng sản phẩm trong nước tăng 6,89%,trong đó công nghiệp và xây dựng tăng 10,39%, đồng thời các yếu tố lạm phát, tỷgiá được giữ tương đối ổn định, lãi suất có xu hướng giảm Có thể với sự hỗ trợ tốt

Trang 32

từ các yếu tố vĩ mô, kèm theo sự mới ra đời, thị trường chứng khoán đã tạo nên cơnsốt vào năm 2001, chỉ số VN index tăng từ 227 điểm (07/2001) và cao nhất đạt571.04 điểm vào khoảng tháng 6/2001 Tuy nhiên chỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng,

từ tháng 6 đến tháng 10, các cổ phiếu niêm yết đã mất giá tới 70% giá trị, chỉ số VNIndex sụt từ 571,04 điểm vào ngày 25/4/2001 xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vàotháng 10/2001 và dao động trong khoảng từ 130 điểm đến 300 điểm trong khoảng 4năm tiếp theo Lý do chính được cho là ít hàng hoá, các doanh nghiệp niêm yết cũngnhỏ, không nổi tiếng, không hấp dẫn nhà đầu tư trong nước, trong khi "room" cũnghết, thị trường không thực sự thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng vàcác diễn biến tăng giảm của thị trường chưa tạo ra tác động xã hội mở rộng để cóthể ảnh hưởng tới sự vận hành của nền kinh tế cũng như tới cuộc sống của mỗingười dân

Bảng 2.1 : Quy mô giao dịch VNIndex giai đoạn 2000-2005

Năm200020012002200320042005

Nguồn: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Trang 33

Biểu đồ 2.1 Diễn biến VN-Index giai đoạn 2000-2005

Nguồn: Sở GDCK TP.HCM

2.1.2 Giai đoạn bùng nổ và tăng trưởng 2006 - 2007

Năm 2006 nền kinh tế vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao Hầu hếtcác chỉ tiêu kinh tế chủ yếu do Quốc hội đề ra đều đạt và vượt kế hoạch Tổng sảnphẩm trong nước (GDP) ước tăng gần 8,2% (kế hoạch 8%), trong đó khu vực côngnghiệp và xây dựng tăng 10,46% (kế hoạch 10,2%), riêng công nghiệp tăng 10,28%

và khu vực dịch vụ tăng 8,26% (kế hoạch tăng 8%) Đáng chú ý là tốc độ tăngtrưởng kinh tế thời kỳ sau cao hơn thời kỳ trước: quý I tăng 7,2%; quý II tăng 7,4%;quý III tăng 7,8% và quý IV ước tăng 8,4% GDP bình quân đầu người đạt trên 11,5triệu đồng, tương đương 720 USD, tăng 80 USD so năm 2005

Trong khi đó năm 2007 là năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2006-2010, nềnkinh tế vĩ mô mặc dù gặp nhiều khó khăn thách thức, trong đó có những yếu tốkhông lường trước được, nhưng hầu hết các lĩnh vực kinh tế then chốt đều đạt đượcnhững kết quả vượt trội so với năm 2006 và tạo đà cho những năm tiếp theo pháttriển mạnh hơn Năm 2007, tổng sản phẩm trong nước tăng 8,48%, cao hơn hẳnmức tăng 7,1% của năm 2002, cũng là năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2001-2005.Theo ước tính sơ bộ, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2007 theo giá so sánh

1994 ước tính tăng 8,48% so với năm 2006, đạt kế hoạch đề ra (8,2-8,5%), gồm cókhu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,41% (kế hoạch 3,5-3,8%); khu vựccông nghiệp và xây dựng tăng 10,6% đạt kế hoạch đề ra (10,5-10,7%); khu vực dịch

Trang 34

vụ tăng 8,68% vượt kế hoạch đề ra (8,0-8,5%) Tăng trưởng kinh tế năm 2007 củanước ta đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong khu vực(Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển Châu Á-ADB thì năm 2007 kinh tế TrungQuốc tăng 11,2%; Việt Nam tăng 8,3%; Xin-ga-po tăng 7,5%; Phi-li-pin tăng 6,6%;In-đô-nê-xi-a tăng 6,2%; Ma-lai-xi-a tăng 5,6%; Thái Lan tăng 4%).

Bên cạnh các kết quả tích cực đã đạt được trong thời gian 2006 - 2007, nềnkinh tế cũng đang đứng trước những yếu kém và khó khăn Chất lượng tăng trưởng

và hiệu quả sản xuất kinh doanh vẫn còn hạn chế, sức cạnh tranh của hàng hoá dịch

vụ thấp, trong khi phải mở cửa theo lộ trình đã cam kết làm cho cán cân thương mạimất cân đối lớn, nhập siêu cao Giá tiêu dùng tăng nhanh, nhất là giá lương thực,thực phẩm đang tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống, đặc biệt là đời sống bộphận dân cư vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số có thu nhậpthấp

Mặc dù vậy, nhìn chung với sự ổn định vủa kinh tế vĩ mô trong thời kỳ này

và kỳ vọng về sự tăng trưởng trong thời gian tới, thì thị trường chứng khoán trongnăm 2006 – 2007 đã có những bước phát triển vượt bậc Với mức tăng trưởng đạttới 60% từ đầu đến giữa năm 2006 chứng khoán Việt Nam trở thành thị trường cótốc độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới, chỉ sau Dim-ba-buê Và sự bừng dậy của thịtrường non trẻ này đang ngày càng thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Trong năm 2006 , TTCK Việt Nam có sự phát triển vượt bậc, chỉ số Index tại sàn giao dịch TP Hồ Chí Minh (HOSE) tăng 144% năm 2006, tại sàn giaodịch Hà Nội (HNX) tăng 152,4% VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần so đầu năm.Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP), giá trị cổphiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạt khoảng 4 tỉ USD, chiếm16,4% mức vốn hóa của toàn thị trường Trên thị trường phi tập trung, tổng khốilượng giao dịch gấp khoảng 6 lần so với khối lượng giao dịch trên HNX

Vn-Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 41 công ty năm 2005 đã lên tới 193công ty, số tài khoản giao dịch đạt hơn 100.000, gấp 3 lần năm 2005 và 30 lần sovới 6 năm trước Trong vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn 500 điểm, từ hơn

Trang 35

300 điểm cuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006 Mức vốn hóa của thị trường chứngkhoán Việt Nam tăng đột biến, tháng 12-2006 đạt 13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP)Đặc biệt, số lượng các nhà đầu tư mới tham gia thị trường ngày càng đông, tính đếncuối tháng 12- 2006, có trên 120.000 tài khoản giao dịch chứng khoán được mở,trong đó gần 2.000 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài.

Năm 2006, kỷ lục mới của VN-Index được xác lập ở mốc 809,86 điểm VớiHNX - Index là nỗ lực chạm mốc 260 điểm Tính chung, so với đầu năm, chỉ sốVN-Index đã có mức tăng trưởng tới 146% và HNX-Index tăng tới 170% Đây lànhững mức tăng mà các thị trường trên thế giới phải thừa nhận là quá ấn tượng.Tính đến phiên 29/12/2006, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM đã có sựgóp mặt của 106 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quỹ và 367 trái phiếu với tổng giá trị niêmyết theo mệnh giá là trên 72 nghìn tỷ đồng Còn tại Trung tâm Giao dịch Chứngkhoán Hà Nội, số lượng chứng khoán tham gia đã lên đến 87 cổ phiếu và 91 tráiphiếu với tổng mức đăng ký giao dịch theo mệnh giá đạt 29 nghìn tỷ đồng Xétriêng về mức vốn hoá cổ phiếu, toàn bộ thị trường chứng khoán chính thức ViệtNam với 193 cổ phiếu vào phiên cuối năm, đã lên tới 220 nghìn tỷ đồng, tươngđương với 13,8 tỷ USD

Biểu đồ 2.2 Diễn biến VN-Index giai đoạn 2006-2007

Nguồn: Sở GDCK TP.HCM

Bước vào năm 2007, Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đãgóp phần thúc đẩy thị trường phát triển và tăng cường khả năng hội nhập vào thị

Trang 36

trường tài chính quốc tế Tính công khai, minh bạch của các tổ chức niêm yết đượctăng cường VNIndex đạt đỉnh 1.170,67 điểm HNX-Index chạm mốc 459,36 điểm.Nhìn chung diễn biến của thị trường và giá cả chứng khoán trong các phiên giaodịch có nhiều biến động, Index của cả 2 sàn giao dịch đều có biên độ giao độngmạnh Kết thúc phiên giao dịch cuối năm, VNIndex đạt 927,02 điểm, HNX-Indexdừng ở mức 323,55 điểm, như vậy sau 1 năm hoạt động VNIndex đạt được mứctăng trưởng là 23,3%; HNX-Index tăng 33,2% so với mức điểm thiết lập vào cuốinăm 2006.

Trong 3 tháng đầu năm 2007 thị trường có những đợt sóng cao, khiến Indexcủa cả 2 sàn giao dịch đều lập kỷ lục: chỉ số VN-Index đã đạt mức đỉnh là 1.170,67điểm sau 7 năm hoạt động và HNX-Index thiết lập mức đỉnh 459,36 điểm sau 2 nămhoạt động Có thể nói, đây là giai đoạn thị trường đạt mức tăng trưởng với tốc độlớn nhất khi đạt mức tăng 126% chỉ trong vòng 3 tháng giao dịch Nhờ sự tăngtrưởng về giá của các cổ phiếu, tổng giá trị vốn hóa của thị trường trong giai đoạnnày lên đến con số 398.000 tỷ đồng So với tổng giá trị vốn hóa 492.900 tỷ đồng của

cả năm 2007, con số của 3 tháng đầu năm đã chiếm tỷ trọng 4/5

Với nỗi lo sợ về một “thị trường bong bóng”, các cơ quan quản lý nhà nướccũng như Chính phủ đã vào cuộc để giảm nhiệt thị trường bằng các biện pháp kiểmsoát thị trường chặt chẽ, ban hành những thiết chế để kiềm chế sự tăng trưởng quánóng của thị trường như Chỉ thị 03/2007/CT-NHNN về kiểm soát quy mô, chấtlượng tín dụng cho vay, đầu tư kinh doanh chứng khoán, Luật thuế thu nhập cánhân… Phản ứng trước điều này, thị trường chứng khoán đã có những đợt điềuchỉnh rõ rệt Một đợt điều chỉnh giảm của thị trường đã diễn ra trong một khoảngthời gian rất dài (từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 9)

Thị trường bước vào giai đoạn phục hồi mạnh mẽ trong khoảng thời gian đầutháng 9 đến cuối Tháng 10/2007 Trong giai đoạn này, VN-Index đã có những phiêngiao dịch vượt lên trên ngưỡng 1.100 điểm (1.106,6 điểm vào ngày 3/10/2007),HNX-Index cũng gần chạm trở lại ngưỡng 400 điểm (393,59 điểm ngày01/10/2007) Lượng giao dịch bình quân phiên trên sàn giao dịch chứng khoán

Trang 37

TP.HCM luôn ở trên mức 10 triệu cổ phiếu (phiên giao dịch kỷ lục đạt 19.047.000

cổ phiếu vào ngày 01/10/2008)

Tuy nhiên, thị trường sau một đợt phục hồi đã nhanh chóng điều chỉnh giảmvào 2 tháng cuối năm Trong giai đoạn này, thị trường thỉnh thoảng cũng có các đợtphục hồi giả với sự tăng lên mạnh mẽ của tất cả các yếu tố Tuy nhiên sự phục hồinày không duy trì được lâu, thậm chí đã có dấu hiệu suy giảm chỉ sau 1 phiên tăngđiểm Chính điều này đã dẫn tới việc các nhà đầu tư bị đọng vốn, Trong khi nguồncầu có xu hướng cạn kiệt, thì nguồn cung vẫn tiếp tục gia tăng Tương quan cungcầu mất cân bằng khiến thị trường ngày càng tuột dốc cả về giá lẫn khối lượng giaodịch và giá trị giao dịch VNIndex giảm xuống dưới ngưỡng điểm 1.000 và chỉ xoayquanh mốc 900 điểm, với lượng chứng khoán chuyển nhượng rất hạn chế

2.1.3 Giai đoạn suy giảm và phục hồi 2008 - 2013

Cùng trong xu thế chung của nền kinh tế, thị trường chứng khoán Việt Namkhép lại năm 2008 với sự sụt giảm mạnh Nền kinh tế năm 2008 diễn ra trong bốicảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó lường Giádầu thô và giá nhiều loại nguyên liệu, hàng hoá khác trên thị trường thế giới tăngmạnh trong những tháng giữa năm kéo theo sự tăng giá ở mức cao của hầu hết cácmặt hàng trong nước; lạm phát xảy ra tại nhiều nước trên thế giới; khủng hoảng tàichính toàn cầu dẫn đến một số nền kinh tế lớn suy thoái, kinh tế thế giới suy giảm;thiên tai, dịch bệnh đối với cây trồng vật nuôi xảy ra liên tiếp trên địa bàn cả nướcgây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống dân cư

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tínhtăng 6,23% so với năm 2007, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng3,79%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng 7,2%.Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước năm nay tuy thấp hơn tốc độ tăng 8,48% củanăm 2007 và mục tiêu kế hoạch điều chỉnh là tăng 7,0%, nhưng trong bối cảnh tàichính thế giới khủng hoảng, kinh tế của nhiều nước suy giảm mà nền kinh tế nước

ta vẫn đạt tốc độ tăng tương đối cao như trên là một cố gắng rất lớn

Trang 38

Kết quả là một loạt các biện pháp đã được chính phủ áp dụng nhằm kiềm chếlạm phát và ổn định đời sống kinh tế xã hội Trong năm 2008 chính phủ đã thựchiện đồng bộ 8 nhóm giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảođảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, trong đó ưu tiên mục tiêu kiềm chếlạm phát với giải pháp thắt chặt tiền tệ là nguyên nhân cơ bản giữ cho lạm phát thấphơn 20% Nhờ đó giá tiêu dùng đã giảm dần từ tháng 10 năm 2008, giá dầu thô vàgiá nhiều loại nguyên liệu hàng hoá khác trên thị trường thế giới nước ta nhập khẩuvới khối lượng lớn cũng đã giảm mạnh vào những tháng cuối năm, tạo thuận lợi chogiảm giá đầu vào của sản xuất trong nước, tình hình sản xuất trong nước nhữngtháng cuối năm cũng đã bớt khó khăn hơn, do tiếp cận các nguồn vốn và mức độgiải ngân khá hơn.

Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn, tháchthức Khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm 2008 đã đẩy kinh

tế thế giới vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thịtrường vốn, thị trường lao động và tác động tiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế - xãhội khác của nước ta

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước quý I/2009 chỉ đạt 3,14%, là quý cótốc độ tăng thấp nhất trong nhiều năm gần đây; nhưng quý II, quý III và quý IV củanăm 2009, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước đã nâng dần lên lần lượt là 4,46%;6,04% và 6,9% Tính chung cả năm 2009, tổng sản phẩm trong nước tăng 5,32%,bao gồm: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,83%; khu vực công nghiệp

và xây dựng tăng 5,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,63%

Các chính sánh nới lỏng tiền tệ và tài khóa của chính phủ đã có hiệu quảtrong việc chống lại suy giảm kinh tế, nhưng thúc đẩy tăng trưởng tín dụng lên mứcrất cao so với tăng trưởng GDP Năm 2009, tăng trưởng tín dụng gấp 7.14 lần so vớităng trưởng GDP Đây được xem là mức quá cao cho nền kinh tế Chính sách hỗ trợtín dụng và việc nới rộng chính sách tiền tệ với lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiếtkhấu, tái cấp cấp vốn và tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở mức thấp nhất trong nhiều năm qua,

đã bơm một lượng tín dụng lớn vào nền kinh tế

Trang 39

Kinh tế thế giới năm 2010 mặc dù đang phục hồi sau khủng hoảng tài chínhtoàn cầu và có những chuyển biến tích cực, song nhìn chung chưa thực sự ổn định

và còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi tác động đến kinh tế nước ta

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 ước tính tăng 6,78% so với năm

2009, trong đó quý I tăng 5,84%; quý II tăng 6,44%; quý III tăng 7,18% và quý IVtăng 7,34% Đây là mức tăng khá cao so với mức tăng 6,31% của năm 2008 và caohơn hẳn mức 5,32% của năm 2009, vượt mục tiêu đề ra 6,5% Trong 6,78% tăngchung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,78%, đóng góp0,47 điểm phần trăm; công nghiệp, xây dựng tăng 7,7%, đóng góp 3,20 điểm phầntrăm và khu vực dịch vụ tăng 7,52%, đóng góp 3,11 điểm phần trăm

Bước vào năm 2011, năm đầu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5năm 2011-2015, nước ta có những thuận lợi cơ bản: Tình hình chính trị ổn định;kinh tế-xã hội phục hồi trong năm 2010 sau hơn một năm bị tác động mạnh của lạmphát tăng cao và suy thoái kinh tế toàn cầu

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2011 ước tính tăng 5,89% so với năm

2010, tuy thấp hơn mức tăng 6,78% của năm 2010 nhưng trong điều kiện tình hìnhsản xuất rất khó khăn và cả nước tập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh

tế vĩ mô thì mức tăng trưởng trên là khá cao và hợp lý Trong 5,89% tăng chung củanền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4%, đóng góp 0,66 điểmphần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,53%, đóng góp 2,32 điểm phầntrăm và khu vực dịch vụ tăng 6,99%, đóng góp 2,91 điểm phần trăm

Kinh tế - xã hội nước ta năm 2012 tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn củakinh tế thế giới do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở Châu Âu chưađược giải quyết Những bất lợi từ sự sụt giảm của kinh tế thế giới ảnh hưởng xấuđến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống dân cư trong nước Thị trường tiêuthụ hàng hóa bị thu hẹp, hàng tồn kho ở mức cao, sức mua trong dân giảm Tỷ lệ nợxấu ngân hàng ở mức đáng lo ngại Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ

và vừa phải thu hẹp sản xuất, dừng hoạt động hoặc giải thể

Trang 40

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước tínhtăng 5,03% so với năm 2011, trong đó quý I tăng 4,64%; quý II tăng 4,80%; quý IIItăng 5,05%; quý IV tăng 5,44% Trong 5,03% tăng trưởng chung của toàn nền kinh

tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,72%, đóng góp 0,44 điểm phầntrăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,52%,khu vực dịch vụ tăng 6,42%

Kinh tế-xã hội những tháng đầu năm 2013 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thếgiới tiếp tục chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, nhất là khu vực đồng Euro và hầuhết các nước trong khu vực

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2013 ước tính tăng 4,89% so vớicùng kỳ năm 2012, cao hơn mức tăng 4,75% của quý I/2012 Tăng trưởng quý I củakhu vực nông lâm nghiệp và thủy sản là 2,24%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm vàomức tăng trưởng chung và thấp hơn mức tăng 2,81% của quý I/2012 Tăng trưởngquý I của khu vực công nghiệp và xây dựng là 4,93%, đóng góp 1,98 điểm phầntrăm và thấp hơn mức tăng 5,15% cùng kỳ năm 2012, khu vực dịch vụ tăng 5,65%,đóng góp 2,60 điểm phần trăm và cao hơn mức tăng 4,99% cùng kỳ

Kinh tế-xã hội nước ta trong giai đoạn 2008 – 2013 đã đạt được một số kếtquả nhất định: tuy nhiên, trước mắt còn rất nhiều khó khăn, thách thức mà nền kinh

tế - xã hội nước ta phải đối mặt: Kinh tế thế giới chuyển biến chậm Tổng cung vàtổng cầu trong nước đều giảm Sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn nhiềukhó khăn, khả năng tiếp cận vốn khó, tồn kho sản phẩm vẫn ở mức cao Sức muatrong dân yếu Dư nợ tín dụng thấp Lãi suất tuy giảm nhưng vẫn là áp lực cho sảnxuất Lạm phát mặc dù không cao nhưng còn chịu nhiều tác động của các yếu tố bấtthường từ thị trường bên ngoài cũng như thị trường trong nước

Cùng với những khó khăn của nền kinh tế, thị trường chứng khoán Việt Namcũng trải qua một thời kỳ suy giảm đáng kể

Tính từ đầu năm 2008 đến tháng 06/2008, VNIndex đã mất đi gần 60% giátrị và trở thành một trong những thị trường giảm điểm mạnh nhất trên thế giới trongnửa đầu năm 2008

Ngày đăng: 10/10/2020, 11:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w