Ngân hàng nhà nướcNgân hàng thương mạiNhân viênQuản lýQuản trị rủi ro DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1 Triết lý của nhà quản lý của NH TMCP Bản Việt về rủi roBảng 1.2 Chính sách nhân sự tại NH
Trang 1LÊ THỊ HẬU
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢN VIỆT
THEO HƯỚNG KIỂM SOÁT RỦI RO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.HCM - 2013
Trang 2LÊ THỊ HẬU
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢN VIỆT
THEO HƯỚNG KIỂM SOÁT RỦI RO
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS, TS HÀ XUÂN THẠCH
TP.HCM - 2013
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân
hàng TMCP Bản Việt theo hướng kiểm soát rủi ro” là công trình do tôi tự nghiên
cứu và hoàn thành dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học
Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng đượccông bố trong các luận văn trước đây
TP.HCM, ngày 9 tháng 11 năm 2013
Lê Thị Hậu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý đo chọn đề tài 1
2 Tổng quan về đề tài nghiên cứu 1
3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của luận văn 4
7 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 Tổng quan về hệ thống KSNB 6
1.1.1 Theo báo cáo COSO 6
1.1.1.1 Báo cáo COSO 1992 6
1.1.1.2 Báo cáo COSO 2004 12
1.1.1.3 Báo cáo COSO 2013 22
1.1.2 Theo Basel 26
1.1.2.1 Giới thiệu tổng quát về Basel 26
Trang 51.2.1 Môi trường kiểm soát 34
1.2.2 Thiết lập mục tiêu 34
1.2.3 Nhận dạng sự kiện tiềm tàng 34
1.2.4 Đánh giá rủi ro 34
1.2.5 Phản ứng với rủi ro 35
1.2.6 Hoạt động kiểm soát 36
1.2.7 Thông tin và truyền thông 36
1.2.8 Giám sát 36
1.3 Nhận diện rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các NHTM 37
1.3.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của các NHTM 37
1.3.2 Các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các NHTM 37
1.3.2.1 Khái niệm về rủi ro hoạt động kinh doanh 37
1.3.2.2 Rủi ro cơ bản trong hoạt động kinh doanh của NHTM 38
1.4 Một số nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém trong tổ chức KSNB theo hướng kiểm soát rủi ro trong hoạt động của ngân hàng trên thế giới 38
Kết luận chương 1 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KSNB TẠI NH TMCP BẢN VIỆT 2.1 Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng TMCP Bản Việt 42
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của NH TMCP Bản Việt 42
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 43
Trang 62.1.2.3 Các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động NH TMCP
2.2 Thực trạng về KSNB tại NHTMCP Bản Việt
2.2.1 Mô hình tổ chức KSNB tại NH TMCP Bản Việt
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.3 Đánh giá thực trạng hệ thống KSNB tại NH TMCP Bản Việt
2.2.3.1 Đánh giá tổ chức hệ thống KSNB tại NH TMCP Bản Việt
2.2.3.2 Đánh giá nội dung KSNB tại NH TMCP Bản Việt
2.3 Nhận xét những mặt đã làm được và tồn tại, nguyên nhân tồn tại của hệ thống KSNB tại NH TMCP Bản Việt
2.3.1 Những mặt đã làm được
2.3.1.1 Môi trường kiểm soát
2.3.1.2 Thiết lập mục tiêu
2.3.1.3 Nhận dạng sự kiện tiềm tàng
2.3.1.4 Đánh giá rủi ro
2.3.1.5 Phản ứng với rủi ro
2.3.1.6 Hoạt động kiểm soát
2.3.1.7 Thông tin và truyền thông
2.3.1.8 Giám sát
2.3.2 Những mặt còn hạn chế
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế
Kết luận chương 2
Trang 73.1 Quan điểm hoàn thiện hệ thống KSNB của NH TMCP Bản Việt. 78
3.1.1 Quan điểm kế thừa và phát triển 78
3.1.2 Quan điểm hội nhập 79
3.2 Giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB tại NH TMCP Bản Việt 79
3.2.1 Hoàn thiện công tác tổ chức hệ thống KSNB 79
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện các bộ phận cấu thành hệ thống KSNB 80
3.2.2.1 Môi trường kiểm soát 80
3.2.2.2 Thiết lập mục tiêu 82
3.2.2.3 Nhận dạng sự kiện tiềm tàng 82
3.2.2.4 Đánh giá rủi ro 84
3.2.2.5 Phản ứng rủi ro 84
3.2.2.6 Hoạt động kiểm soát 86
3.2.2.7 Thông tin và truyển thông 87
3.2.2.8 Hoạt động giám sát 87
3.3.1 Giải pháp hổ trợ từ bên trong ngân hàng 88
3.3 Kiến nghị 90
3.3.1 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 90
3.3.1.1 NHNN cần quy định về quản lý rủi ro cụ thể, chi tiết hơn nhằm nâng cao năng lực đánh giá, nhận dạng, đo lường rủi ro của các ngân hàng 90
3.3.1.2 NHNN cần tăng cường việc giám sát của các ngân hàng thực hiện quy chế về kiểm tra, KSNB 91
Trang 8KẾT LUẬN 94 Tài liệu tham khảo 96
Trang 9Ngân hàng nhà nướcNgân hàng thương mạiNhân viên
Quản lýQuản trị rủi ro
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Triết lý của nhà quản lý của NH TMCP Bản Việt về rủi roBảng 1.2 Chính sách nhân sự tại NH TMCP Bản Việt Bảng 1.3 Thiết lập mục tiêu tại NH TMCP Bản Việt
Bảng 1.4 Nhận dạng rủi ro tiềm tang tại NH TMCP Bản Việt
Bảng 1.5 Đánh giá rủi ro tại NH TMCP Bản Việt
Bảng 1.6 Cách thức phản ứng với rủi ro tại NH TMCP Bản ViệtBảng 1.7 Hoạt động kiểm soát tại NH TMCP Bản Việt
Bảng 1.8 Thông tin và truyền thông tại NH TMCP Bản Việt
Bảng 1.9 Hoạt động giám sát tại NH TMCP Bản Việt
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Các phương pháp đo lường rủi ro
Phụ lục 2: Các rủi ro kinh doanh trong hoạt động NHTM
Phụ lục 3: Mô hình tổ chức của NHTM
Phụ lục 4: Sơ đồ tổ chức hệ thống NH TMCP Bản Việt
Phụ lục 5: Các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động NHTMPhụ lục 6: Danh sách các lãnh đạo và nhân viên tham gia khảo sátPhụ lục 7: Kết quả khảo sát hệ thống KSNB tại NH TMCP Bản Việt
theo hướng kiểm soát rủi ro
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống Ngân hàng Việt Nam đang không ngừng phát triển, hoàn thiện vànâng cao khả năng hoạt động để phù hợp hơn với xu hướng hội nhập kinh tế thếgiới Tuy nhiên, các Ngân hàng Việt Nam, trong đó có NHTM hiện nay đang chịunhiều áp lực về mở rộng quy mô hoạt động, tốc độ tăng trưởng trong khi trình độquản lý và năng lực kiểm soát còn non yếu Nếu các Ngân hàng Việt Nam khôngnhanh chóng đổi mới trên mọi phương diện sẽ không bắt kịp, cạnh tranh được vớicác Ngân hàng nước ngoài đang có nhiều thế mạnh trong ứng dụng khoa học côngnghệ, nguồn nhân lực, trình độ quản lý hoạt động, quản trị rủi ro, Để cạnh tranh
và tồn tại vững mạnh thì một trong những giải pháp quan trọng, mang tính chiếnlược, cấp thiết hiện nay là tổ chức lại, nâng cấp hệ thống KSNB Vì hệ thốngKSNB là một trong những cơ chế phòng chống rủi ro quan trọng nhất của Ngânhàng Trên thực tế, hệ thống KSNB của NHTM đã được đề cập và áp dụng vàothực tiễn nhưng vẫn còn nhiều lúng túng, thiếu kinh nghiệm và chưa được quantâm đúng mực Chính vì vậy, cần phải nghiên cứu một cách toàn diện trên cơ sở lýluận và thực tiễn về hệ thống KSNB nhằm góp phần đảm bảo an toàn trong hoạtđộng của NHTM
Xuất phát từ nhu cầu trên mà tác giả chọn đề tài “Hoàn Thiện hệ thống kiểm
soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Bản Việt theo hướng kiểm soát rủi ro” để
nghiên cứu
2. Tổng quan về đề tài nghiên cứu:
Từ trước đến nay đã có rất nhiều luận văn nghiên cứu về hệ thống KSNB vớinhiều đối tượng ở nhiều góc độ và mục đích khác nhau, nhằm đưa ra các giảipháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống KSNB
Đáng chú ý nhất là luận văn “phát triển hệ thống KSNB tại các doanh nghiệpViệt Nam trên cơ sở quản trị rủi ro doanh nghiệp” của tác giả Trần Công Chính -
Trang 11Đại học kinh tế TP.HCM - 2007, tác giả đã làm rõ sự phát triển của hệ thống lýluận về KSNB và tiếp cận lý thuyết về rủi ro và quản trị rủi ro hiện đại theo báocáo COSO năm 2004 Đề xuất các định hướng để hoàn thiện hệ thống KSNB theohướng tích hợp với việc quản trị rủi ro theo báo cáo COSO năm 2004 Thànhcông lớn nhất của luận văn này là làm tiền đề, gợi ý cho những nghiên cứu sâuhơn và cụ thể hơn về hoàn thiện hệ thống KSNB theo hướng quản trị rủi ro doanhnghiệp.
Theo sau là luận văn “Hoàn thiện hệ thống KSNB tại Ngân hàng đầu tư vàphát triển Việt Nam theo hướng đối phó với rủi ro hoạt động” của tác giả PhạmQuỳnh Như Sương- Đại học kinh tế TP.HCM - 2010 Tác giả đã nghiên cứu vàphân tích, đánh giá thực trạng KSNB để đối phó rủi ro hoạt động kinh doanh tạiBIDV Việt Nam và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện hệ thống KSNB nhằmquản trị tốt hơn đối với rủi ro hoạt động Thành công của luận văn này là nghiêncứu sâu và chi tiết về một đối tượng cụ thể là Ngân hàng BIDV Việt Nam Hạnchế của luận văn là phạm vi khảo sát chỉ diễn ra tại một chi nhánh của BIDV ViệtNam vì vậy mà luận văn chưa có đủ điều kiện để đưa ra kết luận đánh giá đầy đủ
về hệ thống KSNB của BIDV Việt Nam nhằm đối phó với rủi ro hoạt động
Tiếp đó là luận văn “Hoàn thiện hệ thống KSNB tại NH TMCP Quân Độinhằm đối phó với rủi ro hoạt động” của tác giả Quách Nữ Trường Giang - Đại họckinh tế TP.HCM - 2012, Tác giả cũng nghiên cứu và phân tích, đánh giá thựctrạng kiểm soát nội bộ để đối phó rủi ro hoạt động kinh doanh tại NHTMCP QuânĐội và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện hệ thống KSNB nhằm quản trị tốt hơnđối với rủi ro hoạt động Hạn chế của luận văn là phạm vi khảo sát cũng chỉ diễn
ra tại một chi nhánh của NHTMCP Quân Đội vì vậy mà luận văn chưa có đủ điềukiện để đưa ra kết luận đánh giá đầy đủ về hệ thống KSNB nhằm đối phó với rủi
ro hoạt động
Kế thừa những nghiên cứu trên và thực trạng hệ thống KSNB của NHTMCP
Bản Việt mà tác giả đã chọn luận văn “Hoàn Thiện hệ thống kiểm soát nội bộ
tại NHTMCP Bản Việt theo hướng kiểm soát rủi ro” để nghiên cứu Điểm nổi
bật của luận văn là tác giả đã đề xuất một số giải pháp hoàn thiện phù hợp với quy
Trang 12mô và điều kiện sẵn có của NHTMCP Bản Việt để đáp ứng với nhu cầu hội nhập
và thích ứng với tình hình kinh tế đầy biến động như hiện nay
3. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn thực hiện nghiên cứu tổng quan và làm sáng tỏ lý luận về hệ thốngKSNB theo báo cáo COSO 2004 và vai trò của nó trong việc quản trị rủi ro giúp NHđạt được mục tiêu đề ra
Luận văn phản ánh và đánh giá thực trạng hoạt động KSNB của NH TMCPBản Việt (Viết tắt Vietcapital Bank) nhằm kiểm soát rủi ro, nhận biết những hạn chế
và nguyên nhân những hạn chế của hệ thống KSNB tại NH
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đưa ra những giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB tại NH TMCP Bản Việt theo hướng kiểm soát rủi ro
Các câu hỏi nghiên cứu:
a. Hệ thống KSNB hiện nay được xác định dựa trên hệ thống lý thuyết nào?
b. Thực trạng hệ thống KSNB hiện nay có khả năng phát hiện rủi ro và kiểm soát rủi ro tốt không?
c. Bằng cách nào Ngân hàng TMCP Bản Việt có thể phát hiện rủi ro và kiểm soát rủi ro trong kinh doanh hiện nay?
Đối tượng nghiên cứu: Là các hoạt động kiểm tra, KSNB tại NH TMCP Bản Việt bao gồm; các chính sách, quy chế, quy định, quy trình,
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu hệ thống KSNB; quan điểm về rủi ro và cáchthức kiểm soát rủi ro của NH TMCP Bản Việt Từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện
hệ thống KSNB của NH TMCP Bản Việt
Trang 135. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu địnhtính bên cạnh đó tác giả còn sử dụng những phương pháp cụ thể như:
Phương pháp hệ thống: Tác giả hệ thống hóa các cơ sở lý luận của báo cáoCOSO 1992, COSO 2004, COSO 2013 và Basel 1, Basel 2 làm cơ sở lý luận chủ yếutrong chương 1
Phương pháp thống kê mô tả: thống kê các thông tin thu thập được từ việcphỏng vấn trưc tiếp, khảo sát ý kiến các đối tượng liên quan, để mô tả cơ cấu tổ chức,quy chế, quy định, quy trình và cách thức thực hiện của hệ thống kiểm soát nội bộ tạingân hàng TMCP Bản Việt Phương pháp này chủ yếu sử dụng trong chương 2
Phương pháp so sánh: thông qua kết quả đạt được của phương pháp thống kê
mô tả, tác giả đã so sánh giữa thực tế và lý luận nhằm phân tích, đánh giá thực trạng
hệ thống Kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Bản Viêt từ đó đề xuất các giải pháphoàn thiện trong chương 3
Để thực hiện các phương pháp trên thì phương pháp thu thập số liệu của tácgiả như sau:
Số liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các đối tượng có liên quan và thông qua bảng khảo sát
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo về KSNB, các văn bản, quy chế liên quan của NH TMCP Bản Việt
Luận văn góp phần làm rõ lý luận về hệ thống KSNB tại NHTM tiếp cận quanđiểm về rủi ro và quản trị rủi ro theo Báo Cáo COSO 2004, mối quan hệ giữa hệthống KSNB và quản trị rủi ro NH
Luận văn đánh giá những ưu điểm cùng với những hạn chế trong việc thiết kế
và thực hiện hệ thống KSNB nhằm kiểm soát rủi ro tại NHTMCP Bản Việt
Trang 14 Luận văn đã đưa ra những giải pháp góp phần khắc phục những thiếu sót vàhoàn thiện hệ thống KSNB tại NHTMCP Bản Việt nhằm đảm bảo NH hoạt động antoàn, hiệu quả, đạt được mục tiêu đề ra.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ
Chương 2: Thực trạng hệ thống KSNB tại NHTMCP Bản Việt nhằm kiểm soátrủi ro
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB tại NHTMCP Bản Việt
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.1 Tổng quan về hệ thống KSNB
Dấu móc quan trọng của cơ sở lý luận về hệ thống KSNB là Báo cáo COSO
1992 Báo cáo bao gồm năm bộ phận: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạtđộng kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát Các bộ phận này có mối liên hệchặt chẽ với nhau Từ khi COSO 1992 được Ủy ban Treadway công bố đã khôngngừng đổi mới và khắc phục nhược điểm Năm 2001 Ủy ban Treadway triển khainghiên cứu hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp và chính thức được ban hành vàonăm 2004, COSO 2004 là cánh tay nối dài của COSO 1992 chứ không nhằm thay thếCOSO 1992, COSO 2004 mở rộng thêm 3 bộ phận là: Thiết lập các mục tiêu, nhậndạng sự kiện tiềm tàng và phản ứng với rủi ro COSO 2004 đã đem lại nhiều lợi ích
về mặt quản trị rủi ro doanh nghiệp nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Để đáp ứng nhucầu cấp thiết về chuẩn hóa các nguyên tắt phù hợp hơn với môi trường kinh doanhđang thay đổi nhanh chóng và ngày càng khắt khe thì tháng 11 năm 2011 Ủy banTreadway lấy ý kiến lần thứ nhất của công chúng về dự thảo COSO 2013, lấy ý kiếnlần thứ hai vào tháng 9 năm 2012 và chính thức phát hành vào tháng 5 năm 2013
COSO 2013[33] tổng kết những thay đổi trong hoạt động và môi trường kinhdoanh trong vòng 20 năm thực hiện COSO 1992 COSO 2013 giữ lại định nghĩa củaKSNB và 5 bộ phận của KSNB, sự thay đổi có ý nghĩa nhất chính là hệ thống hóa 17nguyên tắc để hổ trợ cho 5 bộ phận, 17 nguyên tắc chính là những khái niệm cơ bản
ẩn chứa trong COSO 1992 Để KSNB một cách hiệu quả, COSO 2013 yêu cầu; mỗi
bộ phận trong số 5 bộ phận và 17 nguyên tắc có liên quan phải được trình bày vàthực hiện; 5 bộ phận phải được vận hành cùng nhau trong một cơ chế tổng hợp
Nghiên cứu chuyên sau hơn vào những ngành cụ thể là Báo cáo Basel Báocáo được ban hành bởi Ủy ban Basel, Ủy ban đã nghiên cứu và đưa ra các chuẩn mựcvốn quốc tế và các phương pháp đo lường vốn, quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu,các nguyên tắc cơ bản về giám sát NH và được ban hành lần đầu vào năm 1988 gọi làBasel I
Trang 16Basel I chủ yếu tập trung vào rủi ro tín dụng với tỷ lệ vốn tối thiểu ít nhất là8% Đến cuối năm 1996 Basel I được sửa đổi với rất nhiều điểm mới nhưng Basel Ivẫn còn nhiều hạn chế
Khắc phục những hạn chế của Basel I thì tháng 6 năm 1999, Ủy ban Basel đã
đề xuất khung đo lường mới với 3 trụ cột chính: Quy định yêu cầu tỷ lệ vốn tối thiểutrên cơ sở kế thừa Basel I; Quy trình kiểm tra kiểm soát của Cơ quan chủ quản,Nguyên tắc thị trường và minh bạch thông tin, đến ngày 26/6/2004 Basel II chínhthức được ban hành và có hiệu lực từ ngày 31/12/2006 Basel II được coi là một cơchế quan trọng để đẩy mạnh cải cách và củng cố toàn bộ công tác điều hành tronglĩnh vực tài chính nhưng cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã cho thấy nhữngthiếu sót và bất cập của Basel II Một số thiếu sót cơ bản của Basel II là thiếu yêu cầu
về phí vốn thanh khoản, quá tin cậy vào cơ quan xếp hạng tín dụng và bản chất cótính chu kỳ Vì vậy để giúp các NH ứng phó tốt hơn với khủng hoảng và ngăn khủnghoảng tài chính lặp lại thì Basel III chính thức được ban hành vào ngày 12/09/2010.Basel III đã đưa ra các biện pháp cải thiện chất lượng, số lượng vốn của các NH vàthắt chặt yêu cầu thanh khoản Thời hạn để thực hiện riêng quy định này là ngày1/1/2015 Lộ trình để thực hiện Basel III bắt đầu từ tháng 1/2013 và hoàn thành vàocuối năm 2018
Để phù hợp với luận văn và thực tế áp dụng của NHTMCP Bản Việt tác giảnghiên cứu COSO 1992, 2004, 2013 và Basel I, II làm cơ sở lý luận cho luận văn
1.1.1 Theo báo cáo COSO
1.1.1.1 Báo cáo COSO năm 1992
Vào thập niên 1970 – 1980 cùng với sự phát triển về kinh tế, các vụ gian lậnngày càng tăng với quy mô lớn, gây ra tổn thất đáng kể cho nền kinh tế Vì vậy màyêu cầu về báo cáo KSNB của công ty cho công chúng là một chủ đề gây nhiều tranhluận Các tranh luận trên cuối cùng đã đưa đến việc thành lập Ủy ban COSO
COSO[6] (The Committee of sponsoring Organizations of TreadwayCommission) là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận
Trang 17trên báo cáo tài chính, thường gọi là Ủy ban Treadway được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của 5 tổ chức nghề nghiệp:
- Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA)
- Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA – American Accounting Assocciation)
- Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI – Financial Executives Institute)
- Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA – Institute of Managenment
Accountants.)
- Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA- Institute of Internal Auditors)
Báo cáo COSO 1992 tuy chưa thực sự hoàn chỉnh và còn nhiều hạn chế nhưng
đã tạo lập được cơ sở lý thuyết rất cơ bản về KSNB Cấu trúc của COSO 1992 gồm 4phần: phần 1: tóm tắt dành cho người điều hành, phần 2: khuôn mẫu của KSNB, phần
3: báo cáo cho các đối tượng bên ngoài, phần 4: công cụ đánh giá hệ thống KSNB
Định nghĩa: KSNB là một quá trình chịu ảnh hưởng bởi các nhà quản lý và
các nhân viên của một tổ chức, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lýnhằm thực hiện các mục tiêu sau:
Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động
Mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính.
Mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định.
Trong định nghĩa trên, có bốn nội dung cơ bản cần lưu ý đó là: quá trình, conngười, đảm bảo hợp lý và mục tiêu
KSNB là một quá trình: KSNB không phải là một sự kiện hay tình huống mà
là một chuỗi các hoạt động hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp vớinhau thành một thể thống nhất KSNB tỏ ra hữu hiệu nhất khi nó được xây dựng nhưmột phần cơ bản trong hoạt động của doanh nghiệp chứ không phải là một sự bổ sungcho các hoạt động của doanh nghiệp hoặc là một gánh nặng bị áp đặt bởi các cơ quanquản lý hay thủ tục hành chính
Trang 18KSNB bị chi phối bởi con người: KSNB tác động đến hành vi của con người
(HĐQT, Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên), là công cụ được nhà quản lý
sử dụng chứ không thay nhà quản lý KSNB sẽ tạo ra ý thức kiểm soát ở mỗi cá nhân
và hướng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của tổ chức
Đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ
không phải đảm bảo tuyệt đối trong việc đạt được các mục tiêu của đơn vị Điều nàyliên quan đến các hạn chế vốn có của KSNB
Các mục tiêu: Mỗi một đơn vị phải đặt ra mục tiêu mà mình cần đạt tới, mục
tiêu chung và mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị Có thểchia các mục tiêu mà đơn vị thiết lập ra thành ba nhóm:
Nhóm mục tiêu về hoạt động: Nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực, bảo mật thông tin, nâng cao uy tín
Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: Đơn vị phải đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà mình cung cấp
Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: Đơn vị phải tuân thủ các luật lệ và quy định
Sự phân chia các nhóm mục tiêu như trên chỉ mang tính tương đối vì một mụctiêu cụ thể có thể liên quan đến hai hoặc ba nhóm trên Sự phân chia này chủ yếu dựavào sự quan tâm của các nhóm đối tượng khác nhau đối với hệ thống KSNB của đơnvị
Các bộ phận hợp thành của hệ thống KSNB[29]:
Theo báo cáo COSO 1992 thì hệ thống KSNB bao gồm năm bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đó là:
- Môi trường kiểm soát
- Đánh giá rủi ro
- Hoạt động kiểm soát
- Thông tin và truyền thông
- Giám sát
Môi trường kiểm soát: Phản ánh sắc thái chung của một tổ chức, tác động
đến ý thức của mọi người trong đơn vị, là nền tảng cho các bộ phận khác trong hệ
Trang 19thống KSNB như tính trung thực và các giá trị đạo đức, cam kết về năng lực, triết lý
và phong cách điều hành của nhà quản lý,
Đánh giá rủi ro: Mỗi đơn vị phải nhận thức được và đối phó với những rủi ro
mà đơn vị gặp phải để đạt được mục tiêu đề ra Điều kiện tiên quyết của đánh giá rủi
ro là thiết lập mục tiêu và nhận dạng phân tích các rủi ro đe dọa đến mục tiêu của đơn
vị, trên cơ sở đó giúp nhà quản lý xác định rủi ro và đưa ra phương án
Hoạt động kiểm soát: Là những chính sách và thủ tục kiểm soát để đảm bảo
cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện, hoạt động kiểm soát diễn ra trongtoàn đơn vị ở mọi cấp độ và mọi hoạt động như: soát xét của nhà quản lý cấp cao,quản trị hoạt động, phân chia trách nhiệm hợp lý, kiểm soát quá trình xử lý thông tin,kiểm soát vật chất, phân tích rà soát
Thông tin và truyền thông: Các thông tin cần thiết phải được nhận dạng, thu
thập và trao đổi trong đơn vị dưới hình thức và thời gian thích hợp sao cho nó giúpmọi người trong đơn vị thực hiện được nhiệm vụ của mình Thông tin và truyềnthông tạo ra báo cáo, chứa đựng các thông tin cần thiết cho việc quản lý và kiểm soátđơn vị Sự trao đổi thông tin hữu hiệu đòi hỏi phải diễn ra theo nhiều hướng: Từ cấptrên xuống cấp dưới, từ dưới lên trên và giữa các cấp với nhau Mỗi cá nhân cần hiểu
rõ vai trò của mình trong hệ thống KSNB cũng như hoạt động của mỗi cá nhân có tácđộng tới công việc của người khác như thế nào Ngoài ra, cũng cần có sự trao đổihữu hiệu giữa đơn vị với các đối tượng bên ngoài như khách hàng, nhà cung cấp, cổđông và các cơ quan quản lý
Giám sát: Là quá trình đánh giá chất lượng của hệ thống KSNB qua thời gian.
Những khiếm khuyết của hệ thống KSNB cần được báo cáo lên cấp trên và điều chỉnh lại khi cần thiết
Hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ[2]
KSNB chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho ban giám đốc và nhàquản lý về việc đạt được các mục tiêu của đơn vị Điều này là do những hạn chế tiềmtàng xuất phát từ nghững nguyên nhân sau:
- KSNB phụ thuộc vào yếu tố con người như: Thiếu sự chú ý, đãng trí khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, hoặc do không hiểu rõ yêu cầu công việc
Trang 20- Khi tổ chức hệ thống KSNB tại đơn vị thì các nhà quản lý luôn cân nhắc giữa chi phí và lợi ích mà hệ thống KSNB mang lại.
- Khả năng nhà quản lý đưa ra các thủ tục kiểm soát để giám sát kiểm tra việcgian lận và sai sót của nhân viên bỏ qua các chính sách quy định của đơn vị vì lợi ích
- Chưa áp dụng các phương pháp, kỹ thuật để quản trị rủi ro: Báo cáo COSO
1992 cung cấp khá nhiều các phương pháp, kỹ thuật cho KSNB Tuy nhiên, các kỹthuật này mới chỉ dừng lại ở mức độ kiểm soát chứ chưa đáp ứng được yêu cầu vềđánh giá và quản trị rủi ro liên quan đến đơn vị
- Chưa thể hiện vai trò của người quản lý cao cấp và trách nhiệm của họ đối vớirủi ro: Hệ thống KSNB được xây dựng bởi những người quản lý trong đơn vị nhằmđảm bảo hợp lý việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra Tuy nhiên, lý thuyết KSNB chỉ
Trang 21giới hạn trách nhiệm của người quản lý trong các hoạt động của đơn vị, chưa thể hiệntrách nhiệm liên quan đến việc kiểm soát các rủi ro tiềm ẩn.
1.1.1.2 Báo cáo COSO 2004[25,31]
COSO 2004 là cánh tay nối dài của COSO 1992, vào năm 2001, COSO đãtriển khai nghiên cứu hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp trên cơ sở Báo cáo COSO
1992 Dự thảo đã được hình thành và công bố vào tháng 7 năm 2003 theo đó quản trịrủi ro doanh nghiệp được định nghĩa gồm 8 bộ phận: Môi trường nội bộ, thiết lậpmục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát,thông tin truyền thông và giám sát
Khuôn khổ chung của quản trị rủi ro doanh nghiệp
Định nghĩa của COSO 2004 về quản trị rủi ro doanh nghiệp
COSO định nghĩa QTRR doanh nghiệp là “Một quy trình được thiết lập bởiHĐQT, ban quản lý và các cán bộ có liên quan khác áp dụng trong quá trình xâydựng chiến lược doanh nghiệp, thực hiện xác định những sự vụ có khả năng xảy ragây ảnh hưởng đến doanh nghiệp, đồng thời quản lý rủi ro trong phạm vi cho phépnhằm đưa ra mức độ đảm bảo trong việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp”
Theo định nghĩa trên, các nội dung cơ bản của QTRR là: Quá trình, conngười, thiết lập chiến lược, áp dụng toàn đơn vị, nhận dạng sự kiện, đảm bảo hợp lý
và mục tiêu
Quản trị rủi ro doanh nghiệp là một quá trình: QTRR bao gồm một chuỗi
các hoạt động liên tục tác động đến toàn đơn vị thông qua những hoạt động quản lý
để điều hành sự hoạt động của đơn vị Quá trình QTRR doanh nghiệp giúp đơn vị tácđộng trực tiếp đến việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra và góp phần hoàn thành sứmạng của đơn vị
Quản trị rủi ro doanh nghiệp được thiết kế và vận hành bởi con người:
QTRR không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu mà phải bao gồmnhững con người trong đơn vị như HĐQT, ban giám đốc và các nhân viên khác Mỗi
Trang 22cá nhân trong đơn vị với đặc điểm riêng sẽ tác động đến cách thức của người đó trongviệc nhận dạng, đánh giá và phản ứng với rủi ro.
Quản trị rủi ro đƣợc áp dụng trong việc thiết lập các chiến lƣợc: Mỗi đơn
vị thường thiết lập các sứ mạng cho tổ chức của mình và các mục tiêu liên quan đểđạt đến sứ mạng đó Với mỗi mục tiêu, đơn vị thiết lập các chiến lược tương ứng đểthực hiện và cũng có thể thiết lập các mục tiêu liên quan ở cấp độ thấp hơn Khi đó,QTRR hỗ trợ cho các cấp quản lý xem xét các rủi ro liên quan đến việc lựa chọn cácchiến lược thay thế khác nhau
Áp dụng cho toàn đơn vị: QTRR không xem xét rủi ro trong một sự kiện
riêng biệt hoặc cấp độ riêng rẽ mà xem xét hoạt động trên tất cả các cấp độ của đơn
vị, từ cấp độ toàn đơn vị như kế hoạch, chiến lược và phân bổ nguồn lực đến cácmãng hoạt động cụ thể như hoạt động marketing, nguồn nhân lực và đến các chutrình nghiệp vụ như xem xét hạn mức tín dụng của khách hàng
QTRR đƣợc thiết kế để nhận dạng các sự kiện: Các sự kiện tiềm tàng tác
động đến đơn vị phải được nhận dạng thông qua QTRR Khi sự kiện tiềm tàng đượcnhận dạng, đơn vị đánh giá được rủi ro và cơ hội liên quan đến các sự kiện, từ đó xâydựng các cách thức quản lý
Mức rủi ro có thể chấp nhận: Là mức độ rủi ro mà đơn vị sẵn sàng chấp
nhận để thực hiện việc làm tăng giá trị xét trên bình diện toàn đơn vị Nó phản ánhtriết lý về rủi ro và phong cách văn hóa của đơn vị rủi ro có thể chấp nhận có thểđược xem xét một cách định lượng hoặc định tính Theo phương thức định tính, rủi rođược chia thành các cấp độ như cao, trung bình và thấp, còn phương thức địnhlượng thì rủi ro được xem xét trong sự tương quan với các mức độ tăng trưởng và lợinhuận
Rủi ro bộ phận: Là mức rủi ro liên quan đến từng mục tiêu cụ thể Rủi ro bộ
phận là mức rủi ro chấp nhận được trong việc thực hiện những mục tiêu cụ thể Việcxác định mức rủi ro có thể chấp nhận giúp định hướng phân bổ các nguồn lực trongđơn vị dựa trên tương quan giữa kết quả kỳ vọng và nguồn lực đã đầu tư Các nhàquản lý xem xét mức rủi ro có thể chấp nhận trong sự phù hợp với cơ cấu tổ chức,
Trang 23con người, quá trình thực hiện và qua đó thiết lập các yếu tố cần thiết phản ứng vàgiám sát rủi ro một cách hữu hiệu.
QTRR đem lại một sự đảm bảo hợp lý chứ không phải là đảm bảo tuyệt đối, làcác mục tiêu sẽ được thực hiện Vì những sự kiện không chắc chắn và rủi ro thuộc vềtương lai, do đó không ai có thể dự đoán tuyệt đối chính xác Hơn nữa, QTRR đượcvận hành bởi con người do đó những sai sót do con người gây ra là không thể tránh.Mặt khác, các hoạt động kiểm soát dù có được thiết kế và hoàn thiện đến thế nào đichăng nữa vẫn không thể kiểm soát hết được tất cả các sự kiện liên quan đến đơn vị.QTRR là phương tiện để đạt được mục tiêu: trong phạm vi sứ mạng của đơn vị đãđược thiết lập, các nhà quản lý xây dựng các mục tiêu chiến lược lựa chọn cách thứctiến hành và thiết lập các mục tiêu liên quan QTRR, với sự phân loại các mục tiêu sẽphân định rõ từng nội dung mà đơn vị hướng đến
Các mục tiêu của đơn vị bao gồm:
Mục tiêu chiến lược: Liên quan đến các mục tiêu tổng thể và phục vụ cho sứmạng của đơn vị
Mục tiêu hoạt động: Liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực một cách hữu hiệu và hiệu quả
Mục tiêu báo cáo: Liên quan đến sự trung thực và đáng tin cậy của báo cáoliên quan đến đơn vị
Mục tiêu tuân thủ: Đảm bảo hợp lý việc chấp hành luật pháp và các quy định
Các yếu tố quản trị rủi ro doanh nghiệp
Quản trị rủi ro doanh nghiệp gồm tám thành phần: Các thành phần của quản trịrủi ro doanh nghiệp thực chất được xây dựng trên cơ sở các thành phần của KSNB,bao gồm các nội dung sau:
Môi trường kiểm soát
Thiết lập các mục tiêu.
Nhận dạng sự kiện tiềm tàng.
Đánh giá rủi ro.
Phản ứng với rủi ro.
Trang 24 Hoạt động kiểm soát.
Thông tin và truyền thông.
Giám sát.
Một điều cần lưu ý, quản trị rủi ro không phải là một quá trình nhất thiết phảituân theo một trình tự nhất định mà có thể tiến hành theo nhiều hướng khác nhau vớimỗi nhân tố có liên hệ và ảnh hưởng tới những nhân tố còn lại
Môi trường kiểm soát.
Môi trường quản lý phản ánh sắc thái văn hóa chung của một tổ chức, chi phối
ý thức của các thành viên trong đơn vị về rủi ro và đóng vai trò nền tảng cho các yếu
tố khác của QTRR Nó tạo nên cấu trúc và phương thức vận hành về QTRR trongđơn vị
Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý: Triết lý về
QTRR là quan điểm, nhận thức và thái độ của nhà quản lý, điều này tạo nên cáchthức mà đơn vị tiếp cận với rủi ro trong tất cả các hoạt động, từ phát triển chiến lượcđến các hoạt động hàng ngày
Rủi ro có thể chấp nhận: Là mức độ rủi ro mà xét trên bình diện tổng thể,
đơn vị sẵn lòng chấp nhận để theo đuổi giá trị Nó phản ánh triết lý về QTRR của nhàquản lý cấp cao, và ảnh hưởng đến văn hóa, cách thức hoạt động của đơn vị Rủi ro
có thể chấp nhận được xem xét khi đơn vị xác định các chiến lược, ở đó lợi ích củamột chiến lược phải phù hợp với mức độ rủi ro có thể chấp nhận đã đề ra
Hội đồng quản trị: Đây là một bộ phận quan trọng và ảnh hưởng đến những
yếu tố khác Vai trò của HĐQT được thể hiện ở việc giám sát ban quản lý trong việclựa chọn chiến lược, lên kế hoạch và việc thực hiện nó Các nhân tố được xem xét đểđánh giá sự hữu hiệu của HĐQT gồm mức độ độc lập, kinh nghiệm và uy tín của cácthành viên, và mối quan hệ giữa họ với bộ phận kiểm toán nội bộ và kiểm toán độclập
Tính chính trực và giá trị đạo đức: Sự hữu hiệu của hệ thống QTRR trước
tiên phụ thuộc vào tính chính trực và việc tôn trọng các giá trị đạo đức của nhữngngười có liên quan đến quá trình QTRR Để đáp ứng yêu cầu này, các nhà quản lý
Trang 25cấp cao phải xây dựng những chuẩn mực về đạo đức trong đơn vị và cư xử đúng đắn
để ngăn cản không cho các thành viên có các hành vi thiếu đạo đức hoặc phạm pháp
Đảm bảo về năng lực: Là đảm bảo cho nhân viên có được những kỹ năng và
hiểu biết cần thiết để thực hiện được nhiệm vụ của mình, nếu không họ sẽ không thựchiện nhiệm vụ được giao hữu hiệu và hiệu quả
Cơ cấu tổ chức: Là sự phân chia quyền hạn và trách nhiệm của các bộ phận
trong đơn vị, góp phần quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu Nói cách khác,
cơ cấu phù hợp sẽ là cơ sở cho việc lập kế hoạch, điều hành, kiểm soát và giám sátcác hoạt động của đơn vị
Cách thức phân định quyền hạn và trách nhiệm: Phân định quyền hạn và
trách nhiệm được xem là phần mở rộng của cơ cấu tổ chức Nó cụ thể hóa quyền hạn,trách nhiệm của từng thành viên và từng nhóm thành viên trong đơn vị hợp tác đểhoàn thành mục tiêu
Chính sách nhân sự: Là các chính sách và thủ tục của nhà quản lý về việc
tuyển dụng, huấn luyện, bổ nhiệm, đánh giá, sa thải, khen thưởng, kỷ luật nhân viên,chính sách nhân sự có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của môi trường quản lýthông qua tác động đến những nhân tố khác trong môi trường quản lý như đảm bảo
về năng lực, tính chính trực
Thiết lập mục tiêu
Mục tiêu được thiết lập đầu tiên ở cấp độ chiến lược, từ đó đơn vị xây dựngbốn mục tiêu tổng quát: Chiến lược, hoạt động, báo cáo và tuân thủ Việc thiết lậpcác mục tiêu là điều kiện tiên quyết để nhận dạng, đánh giá và phản ứng với rủi ro
Các mục tiêu chiến lƣợc: Là những mục tiêu cấp cao của đơn vị, các mục
tiêu này phù hợp và ủng hộ cho sứ mạng mà đơn vị đã đề ra
Các mục tiêu hoạt động: Các mục tiêu này liên quan đến sự hữu hiệu và hiệu
quả của hoạt động tại đơn vị, bao gồm cách thức hoạt động của đơn vị, lợi nhuận vàviệc bảo vệ nguồn lực như thế nào
Trang 26 Các mục tiêu về báo cáo: Gắn liền với sự trung thực, đáng tin cậy của báo
cáo, bao gồm các báo cáo cho bên trong, bên ngoài và có thể liên quan đến các thôngtin tài chính, phi tài chính Các báo cáo đáng tin cậy cung cấp cho nhà quản lý nhữngthông tin đầy đủ và chính xác để điều hành và giám sát các hoạt động xảy ra tại đơn
vị, hướng đến các mục đích đã dự tính trước
Các mục tiêu tuân thủ: Liên quan đến việc tuân thủ luật pháp, quy định của
nhà nước và chấp hành các chính sách, thủ tục tại đơn vị, Đơn vị phải kiểm soát cáchoạt động của mình sao cho phù hợp với luật pháp, quy định của nhà nước cũng như các chính sách, thủ tục mà đơn vị đặt ra
Nhận dạng sự kiện tiềm tàng
Sự kiện tiềm tàng là biến cố bắt nguồn từ các yếu tố bên trong (cơ sở vật chất,nhân sự, chu trình, áp dụng khoa học kỹ thuật, ) hoặc bên ngoài (môi trường kinh tế,môi trường tự nhiên, các yếu tố chính trị, ) ảnh hưởng đến viêc thực hiện mục tiêucủa đơn vị Việc xác định được các yếu tố bên trong và bên ngoài có tác dụng quantrọng đến việc nhận dạng các sự kiện tiềm tàng
Đánh giá rủi ro
Các nhân tố bên trong và bên ngoài có thể tạo ra các sự kiện ảnh hưởng đếnviệc thực hiện mục tiêu của đơn vị Mặc dù một số nhân tố có tính chất chung đặctrưng cho từng ngành, nhưng sự tác động đối với từng đơn vị cụ thể thì hoàn toànkhác nhau, bởi vì mục tiêu và sự lựa chọn của mỗi đơn vị Trong việc đánh giá rủi ro,đơn vị phải xem xét các sự kiện trong hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của riêng đơn vịmình như: quy mô của đơn vị, sự phức tạp của các hoạt động, mức độ tác động củacác quy định lên các hoạt động của đơn vị Các sự kiện được xem xét bao gồm các sựkiện đã được đơn vị dự tính và các sự kiện không được dự tính
Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát: Rủi ro tiềm tàng là rủi ro do thiếu các
hoạt động của đơn vị nhằm thay đổi khả năng hoặc sự tác động của các rủi ro đó Rủi
ro kiểm soát là rủi ro vẫn còn tồn tại sau khi đơn vị đã phản ứng với rủi ro
Trang 27 Ước lượng khả năng và ảnh hưởng: Các sự kiện tiềm tàng phải được đánh
giá trên hai khía cạnh, khả năng xảy ra và mức độ tác động của nó Những sự kiện màkhả năng xuất hiện thấp và tác động ít đến đơn vị thì không cần phải tiếp tục xem xét.Ngược lại, các sự kiện với khả năng xuất hiện cao và tác động lớn thì cần phải xemxét kỹ càng Các sự kiện nằm giữa hai thái cực này đòi hỏi sự đánh giá phức tạp, điềuquan trọng là phải phân tích kỹ lưỡng và hợp lý Để đo lường khả năng xuất hiện một
sự kiện, có thể dùng các chỉ tiêu định tính như cao, trung bình, thấp hoặc các cấp độchi tiết khác Hoặc có thể dùng chỉ tiêu định lượng như: tỷ lệ xuất hiện, tần suất xuấthiện Đơn vị đo lường tác động của một sự kiện thông thường là cùng hoặc tương tựvới đơn vị đo lường của việc thực hiện mục tiêu để có thể đánh giá được mức độ tácđộng của sự kiện đó
Sự liên hệ giữa các sự kiện: Đối với những sự kiện độc lập với nhau thì đơn
vị đánh giá các sự kiện một cách độc lập Nhưng nếu có sự liên hệ giữa các sự kiệnhoặc các sự kiện cùng kết hợp lại với nhau sẽ tạo nên những tác động lớn thì đơn vịphải đánh giá được tác động tổng hợp đó Khi rủi ro tác động đến nhiều bộ phận, đơn
vị kết hợp các rủi ro đó trong danh sách các sự kiện và xem xét trước hết là sự tácđộng đến từng bộ phận, sau đó xem xét tác động tổng thể đến toàn đơn vị Việc lựachọn các cách thức khác nhau để đánh giá rủi ro tùy thuộc vào bản chất của sự kiện
sẽ xảy ra, Để đánh giá sự tác động riêng lẻ của các sự kiện, đơn vị thường sử dụngphương pháp xác suất như: thảo luận, phỏng vấn, khảo sát thực tế,… để định lượnghoặc so sánh khả năng xảy ra của sự kiện và tác động của sự kiện đó Đánh giá sự tácđộng tổng hợp của các sự kiện thì phương pháp mô phỏng hoặc phân tích xu hướngthường hữu ích hơn
Phản ứng với rủi ro
Sau khi đã đánh giá các rủi ro liên quan, đơn vị xác định các cách thức để phản ứng với các rủi ro đó Các cách thức để phản ứng với rủi ro bao gồm:
Né tránh rủi ro: Không thực hiện các hoạt động mà có rủi ro cao như sản
xuất một mặt hàng mới, giảm doanh số ở một số khu vực của thị trường,
Trang 28 Giảm bớt rủi ro: Các hoạt động nhằm làm giảm thiểu khả năng xuất hiện
hoặc mức độ tác động của rủi ro hoặc cả hai Các hoạt động này liên quan đến việcđiều hành hàng ngày tại đơn vị
Chuyển giao rủi ro: Làm giảm thiểu khả năng xuất hiện và mức độ tác động
của rủi ro bằng cách chuyển giao hoặc chia sẽ một phần rủi ro như: mua bảo hiểm, dựphòng cho tổn thất, các hoạt động thuê ngoài,
Chấp nhận rủi ro: đơn vị không làm gì cả đối với rủi ro Chấp nhận rủi ro khi
rủi ro tiềm tàng của sự kiện nằm trong phạm vi của bộ phận
Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là tập hợp tất cả các chính sách và thủ tục đảm bảo chocác chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện Nó tồn tại ở mọi bộ phận và mọi cấp độ tổchức trong một đơn vị để đối phó với những rủi ro đe dọa đến việc đạt được mục tiêucủa tổ chức Chính sách kiểm soát là những nguyên tắc, cơ sở cho việc thực hiện cácthủ tục kiểm soát và những quy định cụ thể để thực thi chinh sách kiểm soát
Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập, duytrì, nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo cáo
để cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính và sự tuân thủ Thông tin phải được thuthập xử lý, truyền đạt tới những cá nhân, bộ phận có liên quan một cách kịp thời,thích hợp và quan trọng là phải phù hợp với nhu cầu vì vậy phải thay đổi để đáp ứngnhững mục tiêu, chiến lược mới của đơn vị Truyền thông đóng vai trò quan trọngtrong hệ thống thông tin Hệ thống truyền thông hữu hiệu và xuyên suốt trong nội bộđảm bảo mọi thành viên bên trong đơn vị hiểu rõ công việc, tiếp nhận đầy đủ các chỉthị từ cấp trên và sự tương tác thông tin của cấp dưới lên cấp trên để nắm bắt rõ hiệuquả công việc, những rủi ro mới từ môi trường, đề xuất cho ban giám đốc để cónhững chỉ dẫn cần thiết Bên cạnh đó thông tin cung cấp cho bên ngoài cũng cầnđược truyền đạt kịp thời, đảm bảo độ tin cậy và phù hợp với yêu cầu pháp luật đảmbảo uy tín và khả năng hoạt động ổn định, lâu dài của doanh nghiệp
Trang 29 Giám sát
Giám sát trong quản trị rủi ro cũng hoàn toàn tương tự trong KSNB mục tiêuchính của việc giám sát là nhằm đảm bảo cho hệ thống KSNB luôn hoạt động hữuhiệu do vậy cần phải giám sát tất cả các hoạt động bên trong đơn vị và đôi khi còn ápdụng cho các đối tượng bên ngoài như nhà cung cấp, khách hàng
Lợi ích của quản trị rủi ro doanh nghiệp[31]
Giúp cho nhà quản trị trước khi lựa chọn một chiến lược giữa nhiều khả năng
khác nhau thì phải luôn xem xét mức rủi ro có thể chấp nhận sau đó mới lựa chọnchiến lược cụ thể, thiết lập các mục tiêu liên quan đến chiến lược đã chọn và cuốicùng là cách thức được thiết lập để quản lý các rủi ro liên quan
Cung cấp các kỹ thuật phương pháp cụ thể trong việc nhận dạng và lựa chọn
các phương thức phản ứng với rủi ro như né tránh rủi ro, giảm thiểu rủi ro, chuyểngiao rủi ro và chấp nhận rủi ro sẽ giúp các nhà quản lý phản ứng với rủi ro một cáchhiệu quả
Làm tăng khả năng của đơn vị về nhận dạng các sự kiện tiềm tàng, đánh giá
rủi ro, thiết lập cách thức phản ứng với rủi ro và do đó giảm thiểu những chi phí và tổn thất bất ngờ
Đòi hỏi người quản lý không chỉ quản lý các loại rủi ro riêng biệt mà còn phảihiểu được sự tác động lẫn nhau của các rủi ro và phản ứng hiệu quả hơn cho mục tiêutổng thể của đơn vị
Xem xét các rủi ro một cách tổng thể và hệ thống vì vậy các giải pháp phảnứng thường hướng đến được xem xét cho các rủi ro liên quan do đó một giải pháp có thể xử lý cho nhiều rủi ro khác nhau
Giúp đơn vị nắm bắt những cơ hội trong kinh doanh
Giúp nhà quản lý đánh giá tổng quát nhu cầu về vốn và tối ưu hóa việc phân
bổ vốn của đơn vị
Hạn chế của quản trị rủi ro doanh nghiệp[31]
Một hệ thống dù đã được thiết kế và vận hành thế nào đi chăng nữa, nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý trong việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị chứ
Trang 30không đảm bảo tuyệt đối Điều này xuất phát từ những hạn chế của hệ thống QTRR doanh nghiệp Cụ thể như sau:
Rủi ro là yếu tố liên quan đến tương lai và chứa đựng khả năng không chắcchắn vì vậy một chu trình QTRR dù được đầu tư rất nhiều trong thiết kế cũng khôngthể nhận dạng hết toàn bộ các rủi ro và không thể đánh giá chính xác sự tác động của chúng
Những hạn chế xuất phát từ con người như: Việc ra quyết định sai do thiếuthông tin, bị áp lực trong sản xuất kinh doanh; sự vô ý, bất cẩn, đãng trí, hiểu sai chỉdẫn của cấp trên hoặc báo cáo của cấp dưới; việc đảm nhận vị trí công việc tạm thời, thay thế cho người khác
Sự thông đồng giữa các nhân viên với nhau hay với các bộ phận bên ngoài
đơn vị
Khi đưa ra các quyết định, yêu cầu thường xuyên và trên hết của người quản
lý là xem xét quan hệ giữa chi phí bỏ ra và lợi ích thu được Việc phản ứng với rủi ro
và tiếp theo đó là các hoạt động giám sát cũng phải đảm bảo rằng lợi ích có đượcphải lớn hơn chi phí mà đơn vị bỏ ra
Luôn có khả năng những người quản lý lạm quyền trong chu trình QTRR nhằm phục vụ cho các mưu đồ riêng
Những điểm khác biệt so với kiểm soát nội bộ[21]
QTRR có nội dung rộng hơn so với KSNB và được phát triển thêm trên cơ sởnội dung của KSNB Đặc biệt yếu tố phân tích và đánh giá rủi ro của KSNB đượcphát triển thành 4 yếu tố của QTRR: Thiết lập mục tiêu, nhận dạng sự kiện tiềm tàng,Đánh giá rủi ro và phản ứng với rủi ro Ngoài ra QTRR cũng đề cập nhiều điểm mới
Sự khác biệt căn bản giữa KSNB và QTRR như sau:
Trang 32và Truyền thông, giám sát.
Trang 33Sự thay đổi có ý nghĩa nhất được thực hiện trong COSO 2013 chính là sự hệthống hoá 17 nguyên tắc để hổ trợ cho 5 thành phần 17 nguyên tắc chính là nhữngkhái niệm cơ bản ẩn chứa trong COSO 1992 Để kiểm soát nội bộ một cách hiệu quả,COSO 2013 yêu cầu:
Mỗi thành phần trong số 5 thành phần và 17 nguyên tắc có liên quan phải được trình bày và thực hiện
5 thành phần phải được vận hành cùng nhau trong một cơ chế tổng hợp
Định nghĩa và Các mục tiêu.
Kiểm soát nội bộ được định nghĩa trong COSO 2013 “là một quá trình, bị ảnhhường bởi ban giám đốc, quản lý, và nhân viên của một tổ chức, được thiết kết đểcung cấp sự đảm bảo hợp lý liên quan đến việc đạt được các mục tiêu liên quan đếnhoạt động, báo cáo và tuân thủ.”
COSO 2013 liệt kê ba phạm trù của các mục tiêu, tương tự như COSO 1992
Mục tiêu hoạt động – liên quan đến tính hiệu quả và hiệu suất hoạt động của
tổ chức, bao gồm các mục tiêu vận hành và mục tiêu tài chính, bảo vệ tài sản chốngthất thoát Trong COSO 1992, mục tiêu hoạt động bị giới hạn để “sử dụng tài nguyêncủa một tổ chức có hiệu quả và hiệu suất.”
Mục tiêu báo cáo – liên quan đến báo cáo tài chính và phi tài chính trong nội
bộ và bên ngoài cho các cổ đông, bao gồm độ tin cậy, tính kịp thời, minh bạch hoặcnhững khoản khác như được thành lập bởi nhà quản lý, người thiết lập tiêu chuẩn,hoặc các chính sách của tổ chức Trong COSO 1992, mục tiêu báo cáo được gọi làmục tiêu báo cáo tài chính và nó được mô tả như là có “mối liên hệ đến sự chuẩn bịcho các phát ngôn tài chính đáng tin cậy.”
Mục tiêu tuân thủ - liên quan đến việc tôn trọng pháp luật và các quy định
mà tổ chức phải tuân theo Trong COSO 1992, mục tiêu tuân thủ được mô tả “liênquan đến sự tuân thủ của tổ chức đối với những luật và quy định thích hợp.” COSO
2013 xem xét những nhu cầu đã tăng trưởng và những phức tạp trong pháp luật, quy định và chuẩn mực kế toán đã xảy ra kể từ năm 1992
Trang 34 Các bộ phận cấu thành
Năm thành phần của kiểm soát nội bộ là như nhau trong COSO 1992 và COSO
2013, tuy nhiên, định nghĩa đã được mở rộng trong COSO 2013 để giải quyết cácthay đổi trên diện rộng sau đây:
Khái niệm quản trị - khái niệm quản trị được đẩy mạnh cái mà đã bị áp đặt bởicác cơ quan quản lý và các tổ chức toàn cầu phức tạp hơn
Mô hình kinh doanh khác nhau và cơ cấu tổ chức - mở rộng để bao gồm các nhà cung cấp dịch vụ của bên thứ ba và các thỏa thuận hợp tác
Pháp luật và các quy định - nhu cầu mở rộng và phức tạp trong luật, quy định,tiêu chuẩn và để thúc đẩy bảo vệ các bên liên quan hơn và tự tin trong báo cáo bênngoài
Thẩm quyền và trách nhiệm của nhân viên, nhu cầu về năng lực và tráchnhiệm lớn hơn bởi vì các tổ chức trở nên phức tạp hơn và hoạt động theo quy trình vàcông nghệ tiên tiến hơn
Hệ thống thông tin – tăng cường sự liên quan và tinh vi của công nghệ trên toàn tổ chức và các quy trình
Nguy cơ gian lận - tăng cường xem xét khả năng gian lận trong đánh giá rủi ro
và phản ứng của tổ chức giảm thiểu rủi ro đó
Môi trường kiểm soát: "là tập hợp các tiêu chuẩn, quy trình, và cơ cấu tạo cơ
sở cho việc thực hiện kiểm soát nội bộ trong tổ chức Hội đồng quản trị và quản lýcấp cao thiết lập tiêu chẩn ở đầu liên quan đến tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ
và tiêu chuẩn dự kiến sẽ thực hiện."
Năm nguyên tắc liên quan đến môi trường kiểm soát:
Các tổ chức thể hiện một cam kết cho sự toàn vẹn và các giá trị đạo đức
Ban giám đốc thể hiện sự độc lập từ việc quản lý và thực hiện giám sát sự pháttriển và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ
Quản lý và ban giám sát thiết lập quy trình báo cáo, và các bộ phận chức năng chịu trách nhiệm trong việc theo đuổi các mục tiêu
Trang 35 Các tổ chức thể hiện một cam kết để thu hút, phát triển, duy trì các cá nhân vàliên kết họ với các mục tiêu.
Tổ chức nắm giữ các cá nhân chịu trách nhiệm về trách nhiệm kiểm soát nội
bộ của họ trong việc theo đuổi các mục tiêu
Đánh giá rủi ro: "Đánh giá rủi ro liên quan đến một quá trình và lặp đi lặp lại
để xác định và phân tích rủi ro để đạt được mục tiêu của tổ chức, tạo thành một cơ sở
để xác định rủi ro cần được quản lý như thế nào Quản lý xem xét thay đổi có thểtrong môi trường bên ngoài và bên trong có thể cản trở khả năng đạt được các mụctiêu "
Bốn nguyên tắc liên quan đến đánh giá rủi ro:
Tổ chức xác định mục tiêu có đủ rõ ràng để cho phép xác định và đánh giá rủi
ro liên quan đến mục tiêu
Tổ chức xác định các rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu của nó trênthực tế và phân tích rủi ro như một cơ sở để xác định những rủi ro cần được quản lýnhư thế nào
Tổ chức xem xét khả năng gian lận trong đánh giá rủi ro để đạt được các mụctiêu
Tổ chức xác định và đánh giá những thay đổi có thể tác động đáng kể hệ thốngkiểm soát nội bộ
Hoạt động kiểm soát: "là các hành động được thiết lập bởi các chính sách và
thủ tục để giúp đảm bảo rằng chỉ thị quản lý để giảm thiểu rủi ro đối với việc đạtđược các mục tiêu được thực hiện Hoạt động kiểm soát được thực hiện ở tất cả cáccấp của đơn vị, ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình kinh doanh, và trong môitrường công nghệ”
Ba nguyên tắc liên quan đến hoạt động kiểm soát:
Tổ chức lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát góp phần vào việc giảm thiểu rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu đến mức chấp nhận được
Tổ chức lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát chung trong công nghệ
để hỗ trợ việc đạt được các mục tiêu
Trang 36 Tổ chức triển khai các hoạt động kiểm soát thông qua các chính sách thiết lập những gì được mong đợi và thủ tục mà đặt chính sách thành hành động.
Thông tin và Truyền thông: "Thông tin cần thiết cho Đơn vị thực hiện trách
nhiệm kiểm soát nội bộ để hỗ trợ cho các mục tiêu của nó Thông tin liên lạc xảy ra
cả trong lẫn ngoài và cung cấp các tổ chức với các thông tin cần thiết để thực hiệncác hoạt động kiểm soát nội bộ diễn ra hàng ngày Thông tin liên lạc cho phép nhânviên hiểu rõ trách nhiệm kiểm soát nội bộ và tầm quan trọng của họ để đạt được cácmục tiêu "
Ba nguyên tắc liên quan đến thông tin và truyền thông:
Tổ chức thu thập hay tạo ra và sử dụng, thông tin có liên quan để hỗ trợ các hoạt động của kiểm soát nội bộ
Tổ chức cách truyền đạt thông tin trong nội bộ, bao gồm cả mục tiêu và trách nhiệm kiểm soát nội bộ, cần thiết để hỗ trợ các hoạt động của kiểm soát nội bộ
Tổ chức truyển đạt thông tin với bên ngoài về các vấn đề ảnh hưởng đến hoạtđộng của kiểm soát nội bộ
Hoạt động giám sát: "Đánh giá quá trình đang thực hiện, đánh giá riêng biệt,
hoặc kết hợp của cả hai để xác định liệu mỗi thành phần của kiểm soát nội bộ có hữuhiệu và hiệu quả Kết quả đánh giá và những thiếu sót phải được truyền đạt một cáchkịp thời, để báo cáo quản lý cấp cao và hội đồng quản trị."
Hai nguyên tắc liên quan đến hoạt động giám sát là:
Tổ chức lựa chọn , phát triển, thực hiện và đánh giá liên tục hoặc riêng biệt để xác định liệu các thành phần của kiểm soát nội bộ hữu hiệu và hiệu quả
Tổ chức đánh giá và truyền đạt những thiếu sót về kiểm soát nội bộ một cáchkịp thời đến bộ phận chịu trách nhiệm và các hoạt động khắc phục, bao gồm cả quản
lý cấp cao và hội đồng quản trị một cách thích hợp
1.1.2 Theo Basel
1.1.2.1Giới thiệu tổng quát về basel [3,28]
Ủy ban Basel về giám sát nghiệp vụ NH là một Ủy ban bao gồm các chuyêngia giám sát hoạt động NH được thành lập bởi các thống đốc NH trung ương củanhóm G10 vào cuối năm 1974 và một số nước có hệ thống Ngân hàng lớn mạnh hàng
Trang 37đầu thế giới bao gồm các nước: Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Italia, Nhật, Luxembourg, HàLan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Anh, Mỹ đã ký Hiệp ước vốn Basel, và được Uỷ banQuản lý ngân hàng thuộc ngân hàng thanh toán Quốc tế ban hành lần đầu tiên vàonăm 1988 Một cơ quan gọi là Hội đồng basel về giám sát ngân hàng quốc tế cũng đãchính thức thành lập để theo dõi và chỉ đạo việc thực thi hiệp ước Ngoài ra hệ thốngngân hàng của nhiều quốc gia khác trên thế giới biểu thị đồng thuận tham gia tuân thủhiệp ước.
Uỷ ban Basel tổ chức họp thường niên tại trụ sở ngân hang thanh toán quốc tếtại Washington hoặc tại thành phố Basel-Thuỵ Sĩ, ban thư ký thường trực của Uỷ bannày cũng có trụ sở làm việc tại Washington DC-Mỹ
Quan điểm của Uỷ ban Basel là sự yếu kém trong hệ thống ngân hang củaquốc gia dù là phát triển hay đang phát triển, đều có thể đe doạ không chỉ d9e67n1 sự
ổn định về tài chính của quoc gia dù là phát triển hay đang phát triển, đều có thể đedoạ không chỉ đến sự ổn định về tài chính của quốc gia đó mà còn cả trên phạm vitoàn thế giới Để có thể giảm bớt khoảng cách trong công tác giám sát hoạt độngngân hàng trên thế giới thì Uỷ ban Basel đã cố gắng tìm hiểu và thực hiện được bađiều cơ bản:
- Trao đổi thông tin về hoạt động giám sát cấp quốc gia
- Cải thiện hiệu quả kỹ thuật giám sát hoạt động ngân hàng quốc tế
- Đặt ra những tiêu chuẩn giám sát tối thiểu trong những lĩnh vực mà Uỷ ban thực sự quan tâm
1.1.2.2 Những nội dung cơ bản của Basel [3,28]
Trang 38và phụ thuộc vào độ rủi ro của chúng.
Tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu(CAR) =[(Vốn tự có hay vốn cơ bản)/(Tài sản đã điều chỉnhrủi ro)]x 100%
Tài sản đã điều chỉnh rủi ro (RWA) = Tổng(Tài có nội bảng x Hệ số rủi ro) +
Tổng( Tài sản ngoại bảng x Hệ số chuyển đổi x Hệ số rủi ro)
khoản dự phòng cho các khoản vay ( Vốn chủ sở hữu vĩnh viễn; Lợi nhuận giữ lạiđược công bố; Lợi ích thiểu số tại các công ty con, có hợp nhất báo cáo tài chính; Lợithế thương mại)
Vốn cấp 2: Bao gồm: Lợi nhuận giữ lại không công bố; Dự phòng đánh giá lại tài
sản; Dự phòng chung; Công cụ vốn hỗn hợp; Vay với thời hạn ưu đãi; Đầu tư vào cáccông ty con tài chính và các tổ chức tài chính khác
Trang 39Vốn Cấp 3: Bao gồm các khoản vay ngắn hạn
Hạn chế của Basel I
Thứ nhất, Việc phân loại rủi ro chưa chi tiết cho các khoản cho vay Hệ số rủi
ro chưa chi tiết cho rủi ro theo đối tác (ví dụ như khả năng tài chính của khách hàng)hoặc theo đặc điểm của khoản tín dụng( ví dụ như theo thời hạn) Điều này chỉ rarằng có thể cac ngân hàng có cùng tỷ lệ an toàn vốn nhưng có thể đối mặt với các loạirủi ro khác nhau, ở mức độ khác nhau
Thứ hai: Basel I chưa tính đến lợi ích của đa dạng hóa hoạt động, Các lí thuyết
về đầu tư chỉ ra rủi ro sẽ giảm thông qua đa dạng hóa danh mục đầu tư Theo Basel I,quy định về vốn tối thiểu không khác biệt giưa một ngân hàng có hoạt động kinhdoanh đa dạng và một ngân hàng kinh doanh tập trung
Thứ ba: Basel I chỉ đề cập đến những rủi ro vế tín dụng chứ chưa đề cập đến các rủi ro khác như rủi ro quốc gia, rủi ro ngoại tệ, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động
Thứ tư: Một số quy tắc do Basel I đưa ra chỉ có thể vận dụng trong trường hợpngân hàng hoạt động theo kiểu ngân hàng đơn, không dựa trên một sự áp nhập hayhoạt động theo theo kiểu tập đoàn ngân hàng, ngân hàng mẹ, ngân hàng – chinhánh,
Thứ năm: Một số quy định trong Basel I đã không còn phù hợp khi các ngânhàng dần dần sáp nhập với nhau để tạo thành những tập đoàn lớn có khả năng cạnhtrang cao và có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, các ngân hàng không còn chỉhoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà luôn vươn ra tầm quốc tế
Basel II[1,3]
Sau một thời gian hoạt động, ủy ban đã nghiên cứu, đưa ra các chuẩn mực vốnquốc tế, các phương pháp đo lường vốn, quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, cácnguyên tắc cơ bản về giám sát NH và được ban hành lần đầu vào năm 1988 gọi làBasel I Mặc dù đã đưa ra được nhiều quy định có ý nghĩa cho công tác QTRR củacác NHTM nhưng qua quá trình áp dụng thì Basel I đã bộc lộ một số hạn chế nên Ủyban Basel đã cho ra đời hiệp ước mới gọi là Basel II vào năm 2001
Hiệp ước Basel II bao gồm một loạt các chuẩn mực giám sát nhằm hoàn thiệncác kỹ thuật QTRR và được cấu trúc theo 3 trụ cột:
Trang 40 Trụ cột thứ nhất: Quy định yêu cầu tỷ lệ vốn tối thiểu.
Trụ cột thứ hai: Quy trình kiểm tra kiểm soát của Cơ quan chủ quản.
Trụ cột thứ ba: Nguyên tắc thị trường và minh bạch thông tin.
Nội dung cơ bản của các trụ cột như sau
Trụ cột thứ nhất: yêu cầu tỷ lệ vốn tối thiểu
So với Basel I, Basel II linh động hơn trong việc xử lý các tình huống khácnhau để xác định nhu cầu vốn tối thiểu cho từng khoản mục tài sản có rủi ro của cácNHTM, đồng thời những tiêu chuẩn do hiệp ước Basel II đưa ra nhạy cảm hơn vớirủi ro thông qua xử lý các biến xác suất và kỳ vọng Basel II cho phép quyền tự quyếtrất lớn trong giám sát hoạt động NH và mỗi loại rủi ro Basel II cho phép lựa chọnnhiều phương pháp đo lường rủi ro khác nhau để đo lường rủi ro tín dụng, rủi ro thịtrường, rủi ro hoạt động
Các phương pháp đo lường rủi ro[Phụ lục 1]
Phương pháp đo lường
rủi ro tín dụng
- Phương pháp chuẩn hóa
- Phương pháp dựa trên hệ
thống đánh giá nội bộ cơ
bản
- Phương pháp đánh giá nội
bộ tiên tiến
Trụ cột thứ hai: Quy trình kiểm tra kiểm soát của Cơ quan chủ quản
Trong trụ cột 2 của Basel II nhấn mạnh 1 nguyên tắc chủ chốt của công tác kiểm tra, giám sát:
Nguyên tắc 1: Các NH cần có một quy trình đánh giá mức độ vốn nội bộ theo
danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược duy trì mức vốn của họ