1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp xử lý nợ xấu cho thuê tài chính ngành vận tải biển tại công ty cho thuê tài chính II ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam

118 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 393,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng số tiền thuê một loại tài sản qui định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ítnhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.Bản chất của CTTC trong các khái

Trang 1

-  

 -TRẦN HUY HIẾU

GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÀNH VẬN TẢI BIỂN TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II – NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT

TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Tp.Hồ Chí Minh năm 2013

Trang 2

-  

 -TRẦN HUY HIẾU

GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÀNH VẬN TẢI BIỂN

TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II – NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT

TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Giảng viên hướng dẫn: TS NGUYỄN THANH PHONG

Tp.Hồ Chí Minh năm 2013

Trang 3

Tôi xin cam đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu thống kê làtrung thực, nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công

bố trong bất cứ công trình nào cho tới thời điểm này

Tp Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 10 năm 2013

Tác giả luận văn

Trần Huy Hiếu

Trang 4

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 3

1.1 Cơ sở lý luận về cho thuê tài chính 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Đặc điểm của cho thuê tài chính 5

1.1.3 Vai trò của cho thuê tài chính 9

1.1.4 Các hình thức cho thuê tài chính 11

1.2 Cơ sở lý luận về nợ xấu 14

1.2.1 Khái niệm nợ xấu 14

1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu 17

1.2.3 Phân loại nợ xấu 18

1.2.4 Ảnh hưởng của nợ xấu 19

1.3 Cơ sở lý luận về xử lý nợ xấu 20

1.3.1 Khái niệm về xử lý nợ xấu 20

1.3.2 Tiêu chí đánh giá kết quả xử lý nợ xấu 20

1.4 Nợ xấu trong cho thuê tài chính 20

1.4.1 Quy định về nợ xấu trong cho thuê tài chính 20

1.4.2 Ảnh hưởng của nợ xấu đối với công ty cho thuê tài chính 21

1.4.3 Các biện pháp xử lý nợ xấu tại công ty cho thuê tài chính 21

Trang 5

thôn Việt Nam 22

1.5.1 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACBL) 22

1.5.2 Bài học cho Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 25

Kết luận Chương 1 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XỬ LÝ NỢ XẤU CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÀNH VẬN TẢI BIỂN TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II – NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 27

2.1 Khái quát về hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam 27

2.2 Tổng quan về Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam và ngành vận tải biển của Việt Nam 31

2.2.1 Tổng quan về Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 31

2.2.2 Tổng quan về ngành vận tải biển của Việt Nam 35

2.3 Thực trạng hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 38

2.3.1 Chính sách cho thuê tài chính 38

2.3.2 Nguồn vốn và các sản phẩm cho thuê tài chính 40

2.3.3 Kết quả kinh doanh 47

2.3.4 Thực trạng nợ xấu cho thuê tài chính 49

2.4 Thực trạng xử lý nợ xấu cho thuê tài chính ngành vận tải biển 51

2.4.1 Thực trạng nợ xấu cho thuê tài chính ngành vận tải biển 51

2.4.2 Nguyên nhân 60

Trang 6

2.4.5 Nhận xét đánh giá 75

Kết luận Chương 2 79

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÀNH VẬN TẢI BIỂN TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II – NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 81

3.1 Định hướng phát triển của Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 81

3.2 Các biện pháp xử lý nợ xấu cho thuê tài chính ngành vận tải biển tại Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 81

3.2.1 Các biện pháp trước mắt, cấp bách để xử lý nợ xấu cho thuê tài chính ngành vận tải biển 82

3.2.2 Các biện pháp mang tính chiến lược, lâu dài 85

3.2.3 Các biện pháp mang tính phòng ngừa 88

3.3 Một số kiến nghị 89

3.3.1 Kiến nghị với Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 89

3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 90

3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước Việt Nam 92

3.3.4 Kiến nghị với Chính phủ, các ban ngành 93

Kết luận Chương 3 96

KẾT LUẬN 97

Tài liệu tham khảo

Trang 7

I Từ viết tắt Tiếng Việt

1 CP

2 CTTC

3 NHNN VN

: Cổ phần

: Cho thuê tài chính

: Ngân hàng nhà nước Việt Nam

4 NHNo&PTNT VN: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt

và phát triển nông thôn Việt Nam

: Agriculture Leasing Company IICông ty Cho thuê tài chính II-Ngân hàng nông nghiệp

và phát triển nông thôn Việt Nam

: Asia Comercial Bank LeasingCông ty Cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu

: Initial Public Offering

Phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu.

Trang 8

Bảng 1.1: Phân biệt giữa cho thuê tài chính và vay vốn ngân hàng 7

Bảng 1.2: So sánh sự khác nhau cơ bản giữa cho thuê tài chính và cho thuê vận hành 9

Bảng 2.1: Vốn điều lệ của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam 28

Bảng 2.2: Thị phần cho thuê của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam 29

Bảng 2.3: Dư nợ và tỷ lệ nợ xấu tại một số công ty cho thuê tài chính năm

2012 31

Bảng 2.4: Kết quả bán cổ phần cho các nhà đầu tư 33

Bảng 2.5: Tình hình nguồn vốn hoạt động kinh doanh giai đoạn 2008 – 2012 43

Bảng 2.6: Kết quả kinh doanh giai đoạn 2008 -2012 48

Bảng 2.7: Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro qua các năm 50

Bảng 2.8: Tổng hợp cơ cấu cho thuê qua các năm 52

Bảng 2.9: Nhu cầu phải thanh toán cho nhà cung ứng 58

Trang 9

Biểu đồ 1.1: Mức tăng trưởng thị phần của ACBL 23

Biểu đồ 1.2: Tốc độ tăng trưởng dư nợ và lợi nhuận của ACBL 24

Biểu đồ 1.3: Danh mục tài sản CTTC năm 2012 của ACBL 25

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thônViệt Nam là đơn vị hạch toán độc lập trực thuộc Ngân hàng nông nghiệp và phát triểnnông thôn Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực cho thuê tài chính Từ năm 2008, donhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, Công ty cho thuê tài chính II – Ngânhàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam rơi vào tình trạng thua lỗ trầmtrọng, nợ xấu cho thuê tài chính, đặc biệt là nợ xấu cho thuê tài chính ngành vận tảibiển tăng rất cao Vì vậy việc xử lý nợ xấu cho thuê tài chính ngành vận tải biển là vôcùng cấp bách và cần thiết để thu hồi vốn cho Công ty cho thuê tài chính II – Ngânhàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, cho NHNo&PTNT VN, và rộnghơn là làm lành mạnh thị trường tài chính – ngân hàng Chính vì vậy nên tôi đã chọn đềtài “Giải pháp xử lý nợ xấu cho thuê tài chính ngành vận tải biển tại Công ty cho thuêtài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam” để nghiên cứutrong luận văn Thạc sỹ kinh tế

2 Mục tiêu nghiên cứu

thuê tài chính

ngành vận tải biển tại Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát triểnnông thôn Việt Nam

Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn Việt Nam

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Trang 11

- Đối tượng nghiên cứu: Tình hình xử lý nợ xấu cho thuê tài chính ngành vận tảibiển tại Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn ViệtNam.

nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ

01/01/2008 đến 31/12/2012

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính Sử dụng các phương pháp thống kê phân tích, so sánh…để đưa ra kết luận

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ XỬ LÝ NỢ

XẤU TRONG CHO THUÊ TÀI CHÍNH

1.1 Cơ sở lý luận về cho thuê tài chính

1.1.1 Khái niệm

Khái niệm cho thuê

Cho thuê là sự thoả thuận giữa bên cho thuê và bên thuê về việc bên cho thuêchuyển quyền sử dụng tài sản cho bên thuê trong một khoảng thời gian nhất định đểđược nhận tiền cho thuê một lần hoặc nhiều lần

Hoạt động cho thuê đã được hình thành từ rất lâu trong giai đoạn đầu của nềnkinh tế, trong đó chủ yếu là các giao dịch cho thuê tài sản Cùng với sự phát triển củasản xuất và trao đổi hàng hóa, các giao dịch cho thuê tài sản phát triển thành tín dụngthuê mua và đến nay đã phát triển thành CTTC

Khái niệm cho thuê tài chính

CTTC là kết quả của sự phát triển của tín dụng thuê mua Ngày nay, hoạt độngCTTC ngày càng hoàn thiện, điều này được đánh dấu bởi sự ra đời của hàng loạt công

ty CTTC độc lập CTTC thật sự đã trở thành một hình thức tài trợ vốn trung dài hạncho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ

Về lý thuyết cũng như thực tiễn, hiện nay có nhiều quan điểm về CTTC Tuỳtheo góc độ nghiên cứu, hoặc theo qui định luật pháp của mỗi nước khác nhau thì cócác khái niệm khác nhau

Đơn giản nhất, CTTC có thể coi là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyểngiao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sỡ hữu tài sản cho bên thuê Quyền

sỡ hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê

Trang 13

Theo đó, một giao dịch cho thuê tài sản được coi là CTTC nếu thỏa một trong các trường hợp sau:

thuê

với mức giá ước tính thấp hơn gía trị hợp lý vào cuối thời hạn thuê

dù không có sự chuyển giao quyền sở hữu

thuê tối thiểu chiếm phần lớn gía trị thanh lý của tài sản thuê

Hợp đồng thuê tài sản cũng được coi là hợp đồng thuê tài chính nếu hợp đồng thoả mãn ít nhất một trong ba trường hợp sau:

hợp đồng cho bên cho thuê

sản thuê gắn với bên thuê

với tiền thuê thấp hơn giá thuê thị trường

Theo một định nghĩa khác, CTTC được định nghĩa là hoạt động tín dụng trung

và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và cácđộng sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên chothuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản kháctheo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bênthuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn đã được hai bênthoả thuận Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sảnthuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài

Trang 14

chính Tổng số tiền thuê một loại tài sản qui định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ítnhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.

Bản chất của CTTC trong các khái niệm trên đều được hiểu như nhau, đó là:

“CTTC là một hoạt động tín dụng trung dài hạn thông qua hợp đồng cho thuê giữa bênthuê và bên cho thuê, trong đó theo yêu cầu của bên thuê, bên cho thuê chuyển giaoquyền sử dụng tài sản cho thuê trong suốt thời gian thuê và nắm giữ quyền sở hữu tàisản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn đãthoả thuận Quyền sở hữu tài sản thuê có thể được chuyển giao vào cuối thời hạn thuêhay không là tùy vào thỏa thuận trong hợp đồng cho thuê”

Như vậy có thể kết luận rằng: CTTC là hình thức cấp tín dụng trung dài hạn,trong đó bên cho thuê chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho thuê trong một khoảngthời gian xác định, bên thuê sử dụng tài sản và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn

đã thoả thuận Khi kết thúc thời hạn cho thuê, bên thuê được quyền mua lại tài sản thuêhoặc tiếp tục thuê tài sản đó hoặc hoàn trả lại tài sản cho bên cho thuê tuỳ theo các điềukiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê

1.1.2 Đặc điểm của cho thuê tài chính

Ngoài những đặc điểm chung của nghiệp vụ cấp tín dụng của ngân hàng, CTTCcòn có những điểm đặc thù sau:

sản theo yêu cầu của bên thuê và chuyển giao cho bên thuê sử dụng Do tài trợ vốn dướihình thức tài sản nên CTTC không thay thế tín dụng trung dài hạn mà tham gia tài trợ vốnlàm đa dạng hóa, chuyên nghiệp hóa nghiệp vụ tín dụng trung dài hạn Thời hạn của CTTCchiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản Tài sản CTTC là tài sản có giá trị lớn và thờigian hữu dụng dài

cũng mang đầy đủ bản chất của tín dụng trung dài hạn

Trang 15

- Trong CTTC, bên thuê không cần dùng tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụtrả nợ Tài sản cho thuê cũng chính là tài sản bảo đảm bởi vì trong suốt thời hạn cho thuê,quyền sở hữu tài sản thuộc về bên cho thuê.

thuê Bên cho thuê trực tiếp ký hợp đồng mua toàn bộ tài sản cho thuê và thanh toán toàn bộcác chi phí phát sinh cho việc hình thành tài sản cho thuê

móc, thiết bị phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của bên thuê

nhà cung ứng

lập để thực hiện nghiệp vụ CTTC, bao gồm các công ty CTTC độc lập và công ty CTTCtrực thuộc NHTM

hoạt động sản xuất kinh doanh

tượng trưng hoặc bên cho thuê chuyển giao quyền sở hữu

Để hiểu rõ thêm, các đặc điểm của CTTC so với hình thức vay vốn ngân hàng được tóm tắt qua bảng so sánh dưới đây

Trang 16

Bảng 1.1: Phân biệt giữa cho thuê tài chính và vay vốn ngân hàng

tài trợ - Không bắt buộc phải có tài sản thế - Phải có tài sản thế chấp

chấp

Quyền sở hữu - Tài sản thuê thuộc sở hữu của Bên - Tài sản đứng tên sở hữu

gian vay

Thể hiện - Tài sản thuê được thể hiện trong một - Tài sản mua bằng tiền vay

trên bảng mục riêng trên bảng tổng kết tài sản thể hiện trên bảng tổng kết

tổng kết của Doanh nghiệp, không thể hiện là tài sản và làm thay đổi tình

tài sản một khoản vay nợ nên tình hình tài hình tài chính của Doanh

đổi

Khác với CTTC, cho thuê vận hành hay còn gọi là cho thuê hoạt động, là hìnhthức cho thuê tài sản trong đó bên thuê sử dụng tài sản của bên cho thuê trong một thờigian nhất định và sẽ trả lại tài sản đó cho bên cho thuê khi kết thúc thời hạn thuê theohợp đồng Bên cho thuê giữ quyền sở hữu tài sản cho thuê và nhận tiền cho thuê theohợp đồng cho thuê vận hành

Theo đó, một giao dịch cho thuê được xác định là cho thuê vận hành khi:

thúc hợp đồng cho thuê vận hành

thuê giữa bên cho thuê và bên thuê

cho thuê

Trang 17

Hai hình thức CTTC và cho thuê vận hành đều có điểm giống nhau là cùng có

sự tách biệt giữa quyền sở hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng tài sản Tài sảnthuộc quyền sở hữu, định đoạt của bên cho thuê nhưng quyền sử dụng tài sản được bêncho thuê giao lại cho bên thuê khai thác Theo thông lệ quốc tế, các loại tài sản là đốitượng của cho thuê vận hành và CTTC có thể là động sản hay bất động sản

Thuê vận hành có thời hạn thuê rất ngắn so với toàn bộ đời sống hữu ích của tàisản Để chấm dứt hợp đồng thuê, bên thuê chỉ cần báo trước với bên cho thuê một thờigian ngắn Trong giao dịch thuê vận hành, bên cho thuê phải chịu mọi chi phí như chiphí bảo trì, bảo hiểm, thuế và mọi rủi ro Bên thuê có quyền sử dụng tài sản trong thờigian thuê có nghĩa vụ trả tiền thuê và có thể hủy ngang Đây là hình thức thuê ngắn hạn

do vậy bên thuê chỉ phải trả chi phí thuê thấp hơn nhiều so với toàn bộ giá trị tài sảnthuê Khi hết hạn hợp đồng, bên cho thuê có quyền bán tài sản đó hoặc gia hạn hợpđồng hoặc tìm khách hàng khác cho thuê tiếp

Hình thức cho thuê vận hành được áp dụng tại Việt Nam từ lâu, tài sản thuê vậnhành thường là các máy móc thiết bị có giá trị lớn vì bên thuê chỉ cần sử dụng trongthời gian ngắn Tuy nhiên vì phải tốn nhiều thời gian, công sức thẩm định, xử lý dự án,cho nên để tránh chôn vốn lâu ngày nên các công ty CTTC thường áp dụng cho thuêvận hành các loại tài sản nhỏ, thông dụng là các phương tiện vận tải

Trang 18

Bảng 1.2: So sánh sự khác nhau cơ bản giữa cho thuê tài chính và cho thuê vận hành

Quyền hủy bỏ hợp Không được phép hủy bỏ Có thể được phép hủy bỏ

đồng

hiểm, thuế và bảo trì

Mức thu hồi vốn của Tổng số tiền thuê gần bằng Tổng số tiền thuê nhỏ hơn

hợp đồng hoặc lớn hơn giá trị tài sản nhiều so với giá trị tài sản

Chuyển quyền sở hữu Có điều khoản thỏa thuận Không có thỏa thuận

hoặc bán tài sản chuyển quyền sở hữu, bán

hoặc tiếp tục cho thuê

Trách nhiệm về rủi ro Bên thuê phần lớn chịu mọi Bên cho thuê phần lớn chịu

liên quan đến tài sản rủi ro, kể cả rủi ro không mọi rủi ro, chỉ trừ lỗi do bên

Ưu đãi về thuế Bên thuê được hưởng Bên cho thuê hưởng và khấu

trừ vào tiền thuê

Cung ứng tài sản thuê Tài sản cho thuê thường do Tài sản cho thuê thường do

nhận và sử dụng

1.1.3 Vai trò của cho thuê tài chính

Đối với nền kinh tế

Bản chất của hoạt động CTTC là một hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn,thị trường CTTC cũng là một bộ phận của thị trường vốn, thị trường này diễn ra cáchoạt động trao đổi mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chính trung dài hạn theonhững phương thức giao dịch nhất định Do đó, CTTC hay thị trường CTTC đã mộtgóp một phần để giải quyết bài toán về vốn cho nền kinh tế

Trang 19

Đặc biệt thông qua hình thức CTTC, nền kinh tế có thể thu hút một lượng vốnlớn từ dân cư qua các hình thức huy động vốn trung dài hạn hoặc liên doanh với nướcngoài để tạo ra kênh dẫn vốn từ bên ngoài vào.

CTTC gắn chặt với việc trang bị và đổi mới máy móc, công nghệ và mở rộngsản xuất, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất của các ngành công nghiệp vừa và nhỏ.Phát triển tốt thị trường CTTC sẽ giúp cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nângcao năng suất của doanh nghiệp cũng như của toàn nền kinh tế

Đối với bên cho thuê

Lợi ích đầu tiên của hoạt động CTTC là mang lại thu nhập và lợi nhuận cho bêncho thuê Cũng như các hoạt động kinh doanh tiền tệ khác, trong CTTC bên cho thuêcũng thu được tiền lãi từ số tiền cho thuê

Đối với bên cho thuê, việc ra đời và áp dụng phương thức tài trợ cho thuê tàichính không phải là loại hình thay thế các phương thức tài trợ cổ điển như cho vaytrung và dài hạn bằng tiền, mà nó là hình thức tài trợ bổ sung nhằm tạo điều kiện chocác định chế tài chính mở rộng khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh và giúp phântán rủi ro Đứng trên góc độ người cho thuê phương thức tài trợ này có một số lợi ích

so với loại tài trợ khác như sau:

kinh doanh của bên đi thuê, vì vậy mục đích sử dụng vốn được đảm bảo, từ đó tạo tiền đề đểhoàn trả tiền thuê đúng hạn

quản lý và kiểm soát tài sản theo các điều khoản của hợp đồng thuê Trong trường hợp bên

đi thuê không thanh toán tiền thuê đúng hạn thì bên cho thuê được thu hồi tài sản, đồng thờibuộc bên đi thuê phải bồi thường các thiệt hại Nếu bên đi thuê bị phá sản, giải thể hay mấtkhả năng thanh toán thì tài sản cho thuê tài chính không bị phát mãi để trả nợ cho các chủ nợkhác, bên cho thuê có thể thu hồi lại được

Trang 20

- Hợp đồng CTTC là hợp đồng tín dụng không hủy ngang, bên thuê không đượcđơn phương chấm dứt hợp đồng trước hạn nếu không thanh toán toàn bộ số tiền thuê

và được sự chấp thuận của bên cho thuê Điều này giúp cho bên cho thuê hạn chế đượcrủi ro trong việc thu hồi số tiền cho thuê

Đối với bên thuê

doanh nghiệp có mức độ tín nhiệm thấp có được cơ sở vật chất và thiết bị cần thiết để sửdụng, đồng thời giúp tạo khả năng dự trữ các nguồn tín dụng cho tương lai của doanh nghiệpcũng như giúp doanh nghiệp vượt qua được những giai đoạn khó khăn về tài chính trướcmắt Như vậy doanh nghiệp vừa có tài sản để sử dụng lại vừa có vốn lưu động để kinhdoanh

làm thủ tục thế chấp, bảo lãnh

đẩy nhanh cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, tránh được rủi ro về tính lạc hậu và lỗi thờicủa tài sản, đặc biệt đối với những thiết bị có tốc độ phát triển nhanh (như ngành côngnghiệp máy tính), từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của bên thuê

1.1.4 Các hình thức cho thuê tài chính

Trên thực tế, có rất nhiều căn cứ để phân biệt các loại CTTC Đứng trên giác độ bên cho thuê và bên thuê, người ta phân ra các loại CTTC thường gặp như sau:

Cho thuê tài chính thuần – Cho thuê trực tiếp

Theo loại hình này, có ba bên tham gia giao dịch cho thuê: bên cho thuê, nhà cung cấp, bên thuê

Bên cho thuê mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của bên thuê để tài trợ cho bên thuê Hình thức này có một số đặc điểm cơ bản như sau:

chủ sở hữu tài sản thuê về mặt pháp lý

Trang 21

- Vốn tài trợ hoàn toàn do bên cho thuê đảm nhiệm.

ích do tài sản đem lại

Cho thuê tài chính hợp tác

Đây là một loại hình CTTC đặc biệt, là một dạng mở rộng của hình thức CTTCthuần, xuất phát từ thực tế là các công ty CTTC có những hạn chế về nguồn vốn, không

đủ khả năng tự tài trợ cho khách hàng với những tài sản yêu cầu vốn lớn Loại hình chothuê này khá phức tạp với sự tham gia của bốn bên: bên cho thuê, bên thuê, nhà cungcấp, nhà cho vay

Theo loại hình này, bên cho thuê đi vay vốn từ một hay nhiều người cho vaynào đó để mua tài sản và cho bên thuê thực hiện giao dịch CTTC Theo luật CTTC củamột số quốc gia, số tiền vay này không vượt quá 80% tổng giá trị tài sản được tài trợ.Vật thế chấp cho khoản vay này thông thường là quyền sở hữu tài sản cho thuê và cáckhoản tiền thuê mà bên thuê sẽ trả trong tương lai Người cho vay được hoàn trả tiền đãcho vay từ các khoản tiền thuê, thường do bên thuê trực tiếp chuyển trả theo yêu cầucủa bên cho thuê Sau khi trả hết nợ vay, những khoản tiền thuê còn lại sẽ được trả chobên cho thuê Đối với bên thuê, không có sự khác biệt trong mối quan hệ giao dịch vớibên cho thuê so với phương thức cho thuê có sự tham gia của ba bên

Cho thuê tài chính liên kết

Đây là loại cho thuê bao gồm từ 02 công ty CTTC trở lên cùng tài trợ cho mộtbên thuê, do vậy còn gọi là “cho thuê tài chính hợp vốn” hay “cho thuê đồng tài trợ”.Các bước và đặc điểm trong giao dịch giữa các bên của loại CTTC này không khác biệtvới loại CTTC thuần

Cho thuê tài chính giáp lưng

Đây là loại hình CTTC mà trong đó bên thuê thứ nhất (bên trực tiếp ký hợpđồng CTTC với bên cho thuê) không phải là bên trực tiếp sử dụng tài sản thuê, tài sản

Trang 22

thuê được chuyển cho bên thuê thứ hai sử dụng dưới sự giám sát của bên thuê thứ nhất.Hình thức này thường được áp dụng trong trường hợp:

nhu cầu thuê hay vì một lý do nào đó mà họ không muốn thuê tài sản này nữa nhưng hợpđồng CTTC mà bên thuê thứ nhất đã ký với bên cho thuê là loại hợp đồng không hủy ngangnên buộc họ phải tìm bên thuê thứ hai để chuyển giao quyền thuê tài sản Bởi nếu họ khôngchuyển giao quyền thuê cho bên thứ hai, thì cho dù không sử dụng tài sản họ vẫn phải trảtiền thuê

một số lý do nào đó không đủ điều kiện để ký hợp đồng CTTC trực tiếp với bên cho thuênên phải thông qua bên thuê thứ nhất

Thực chất, bên thuê thứ nhất chỉ là bên trung gian nhưng chịu hoàn toàn tráchnhiệm về việc sử dụng tài sản thuê và nghĩa vụ thanh toán tiền thuê đối với bên chothuê

Mua và cho thuê lại

Trong thực tiễn hợp đồng sản xuất kinh doanh, nhiều doanh nghiệp nhất là cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ gặp rất nhiều khó khăn về vốn lưu động Vay vốn sẽ gặp phảinhiều thủ tục, điều kiện khắt khe mà các doanh nghiệp này khó có thể thỏa mãn Đồngthời trong điều kiện doanh nghiệp có nhu cầu phải duy trì năng lực sản xuất nên khôngthể bán bớt tài sản cố định để chuyển thành tài sản lưu động Trong bối cảnh đó hìnhthức giao dịch “Mua và cho thuê lại” đã được ra đời để đáp ứng nhu cầu này

Trong phương thức “Mua và cho thuê lại”, bên cho thuê mua lại máy móc, thiết

bị, phương tiện vận chuyển và các động sản thuộc sở hữu của bên thuê và cho bên thuêthuê lại chính các tài sản đó dưới hình thức CTTC để bên thuê tiếp tục sử dụng phục vụcho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Bên thuê chuyển giao quyền sở hữu pháp

lý sang bên cho thuê, thuê lại tài sản và đồng thời nhận được tiền bán tài sản Bên thuê

sử dụng tiền bán tài sản này vào mục đích sản xuất kinh doanh của mình và tiến hành

Trang 23

thanh toán tiền thuê tài sản cho bên cho thuê theo định kỳ được quy định trong hợpđồng CTTC.

Bên thuê lần lượt giữ các vị thế: người chủ sở hữu ban đầu (nhà cung ứng),người sử dụng, người thuê Bên cho thuê, từ vị trí người mua tài sản thành người chủ

sở hữu tài sản và cho thuê Từ thời điểm này mọi điều kiện cho thuê sẽ diễn ra như mộtgiao dịch CTTC bình thường

Điều đáng chú ý là những tài sản được sử dụng vào giao dịch này phải là nhữngtài sản có giá trị sử dụng hữu ích Giá mua tài sản tùy thuộc vào giá cả hợp lý của tàisản trên thị trường ở thời điểm diễn ra hoạt động mua bán Các loại tài sản mới hay đã

sử dụng đều có thể được mua và cho thuê lại, giá của tài sản mới thường được căn cứvào hoá đơn của nhà cung cấp, còn giá trị tài sản đã sử dụng thì cần phải được định giáđộc lập

1.2 Cơ sở lý luận về nợ xấu

1.2.1 Khái niệm nợ xấu

Theo Hiệp ước Basel

Vào năm 1988, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng ở Basel - Thụy Sĩ đã xuấtbản một tập hợp các yêu cầu về vốn tối thiểu đối với các ngân hàng, còn được gọi làhiệp ước Basel 1988 hay Basel I Basel I bây giờ được xem là lỗi thời Thật vậy, thếgiới đã thay đổi như các tập đoàn tài chính, tổ chức kinh tế mới và quản lý rủi ro đãphát triển Vì vậy, một tập hợp toàn diện các chủ trương, được gọi là Basel II trong quátrình thực hiện của một số nước Hiệp ước mới nhất là Basel III đã được đề cập pháttriển với cuộc khủng hoảng tài chính

Cụ thể, theo yêu cầu của Basel II, các ngân hàng sẽ sử dụng các mô hình dựatrên hệ thống dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng Các ngân hàng sẽxác định các biến số như PD (xác xuất khách hàng không trả được nợ), LGD (tỷ trọngtổn thất ước tính), EAD (tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng khôngtrả được nợ)

Trang 24

Thông qua các biến số trên, ngân hàng sẽ xác định được EL (tổn thất có thể ước tính) Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể ước tính được tính toán dựa trên công thức sau:

EL = PD x EAD x LGDTuy nhiên biến số PD (xác suất không trả được nợ) là nhân tố quyết định đếnviệc phân loại khoản nợ của các khách hàng Cơ sở của xác suất này là các số liệu vềcác khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ tronghạn và khoản nợ không thu hồi được

Theo yêu cầu của Basel II, để tính toán được nợ trong vòng một năm của kháchhàng, ngân hàng phải căn cứ vào số liệu dư nợ của khách hàng trong vòng ít nhất là 5năm trước đó

Những dữ liệu được phân theo 3 nhóm sau:

như các đánh giá của các tổ chức xếp hạng

nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng tăng trưởng củangành…

năng không trả được nợ cho ngân hàng như số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi…

Từ những dữ liệu trên, ngân hàng nhập vào một mô hình định sẵn, từ đó tínhđược xác suất không trả được nợ của khách hàng Đó có thể là mô hình tuyến tính, môhình probit… và thường được xây dựng bởi các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp

Theo Ngân hàng Trung ương Châu Âu

(ECB) Nợ xấu gồm:

đòi bồi thường từ nợ

Trang 25

+ Người mắc nợ bỏ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ.

hoặc không thể tìm được người mắc nợ

tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ

không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ Người mắc nợ không liênlạc với ngân hàng để trả và lãi hoặc gốc có thời hạn thanh toán, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằngkhoản nợ sẽ không thể thu hồi được đầy đủ như:

phần còn lại không thể được đền bù cho khoản nợ, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng

+ Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu được gia hạn

nợ nhưng không đền bù được trong thời gian thoả thuận

khả năng trả nợ đầy đủ

hoàn ít hơn dư nợ

Theo Phòng Thống kê của Liên Hiệp Quốc

Theo định nghĩa của Phòng Thống kê của Liên Hiệp Quốc: “về cơ bản mộtkhoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc cáckhoản trả lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trảtheo thỏa thuận, hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý

do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”

Trang 26

Như vậy nợ xấu cơ bản được xác định dựa trên 2 yếu tố: quá hạn trên 90 ngày

và khả năng trả nợ bị nghi ngờ Đây được coi là định nghĩa của Chuẩn mực Kế toánquốc tế (IAS) đang được áp dụng phổ biến hiện hành trên thế giới

Ngoài ra vào đầu năm 2005, một định nghĩa nữa về nợ xấu theo chuẩn mực báocáo tài chính quốc tế (IFRS) là IAS 39 do Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế cho rađời và được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển Về cơ bản IAS 39 chỉ chútrọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngàyhoặc chưa quá hạn Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường

là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay của kháchhàng Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng việc áp dụng thực tếgặp nhiều khó khăn Vì vậy, nó đang được Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế chỉnhsửa lại

Tóm lại, nợ xấu là những khoản nợ mà khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bịnghi ngờ hoặc đã được xác định chắc chắn

1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu

Nhìn vào con số nợ xấu trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng Việt Nam hiệnnay, nhiều người không khỏi giật mình trước sự gia tăng với tốc độ chóng mặt Tuynhiên, theo đánh giá của NHNN VN, sỡ dĩ có sự tăng nhanh nợ xấu trong những nămqua, đặc biệt vào năm 2012 là do hệ quả phát sinh và tích tụ từ một số năm trước và domột số nguyên nhân khác nhau như sau:

Nguyên nhân khách quan

Nguyên nhân khách quan có thể đến từ bản thân khách hàng vay vốn sử dụngvốn vay không hiệu quả, và nó thường phát sinh sau một chu kỳ vay vốn, thậm chí saumột thời gian dài Bên cạnh đó còn một số nguyên nhân khách quan khác như:

tài chính và suy thoái kinh tế thế giới kéo dài đã tác động đến hoạt động đầu tư và

Trang 27

thương mại quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là thị trường tài chính và bất động sản sụt giảm, trì trệ kéo dài.

khóa cũng đã tạo điều kiện cho tín dụng tăng trưởng nhanh

xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng

trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm, rủi ro trong hoạt động cấp tíndụng

quả trong nhiều ngành, lĩnh vực, không được thanh tra, giám sát phát hiện kịp thời, hoặc cóphát hiện những chế tài xử lý chưa đủ mạnh, không đủ sức răn đe

Nguyên nhân chủ quan

điều hành chung còn nhiều bất cập

vàng…)

1.2.3 Phân loại nợ xấu

Cũng cần nhấn mạnh rằng, không có một tiêu chuẩn toàn cầu nào dùng để phânloại nợ xấu trên thực tế cả Nhưng hiện nay hệ thống phân loại nợ xấu của Ngân hàng

Thanh toán Quốc tế (BIS) thành 5 nhóm: Không vấn đề; Chú ý đặc biệt; Dưới chuẩn;

Nghi ngờ; và Mất vốn là hệ thống phân loại nợ xấu được sử dụng rộng rãi nhất, dựa

Trang 28

trên tiêu chuẩn kiểm toán quốc tế (IAS) Trong một số trường hợp khác, người ta sẽ ápdụng hệ thống báo cáo kép theo vừa theo chủ trương chính sách trong nước, vừa theophương pháp phân loại của BIS.

Theo phương pháp của BIS thì nợ được phân loại cụ thể như sau:

1 Không vấn đề: là các khoản cho vay sẽ thu hồi được.

2 Chú ý đặc biệt: là các khoản cho vay các doanh nghiệp có thể có khó khăn khi

thu hồi nợ, ví dụ, do tiếp tục sản xuất kinh doanh thua lỗ

3 Dưới chuẩn: là các khoản cho vay mà tiền trả lãi và gốc bị nợ quá hạn trên 3

tháng Các ngân hàng phải trích lập dự phòng 10% trên phần vốn cho vay không được bảođảm và được xác định là dưới chuẩn

4 Nghi ngờ: khả năng tất toán toàn bộ khoản cho vay tỏ ra đáng nghi ngờ, cho

thấy có khả năng sẽ mất vốn, tuy nhiên mất bao nhiêu thì chưa rõ Các ngân hàng phải tríchlập dự phòng 50% cho các khoản vay nghi ngờ này

5 Mất vốn thật sự và không có khả năng thu hồi: các khoản cho vay này được

coi là không có khả năng thu hồi Thường là các khoản vay cho các doanh nghiệp đang tiếnhành các thủ tục pháp lý để được bảo vệ theo luật phá sản Các ngân hàng trích dự phòng100% cho các khoản vay này

Nợ xấu được định nghĩa là các khoản cho vay rơi vào 3 nhóm cuối cùng trong

hệ thống phân loại 5 nhóm nói trên của BIS

1.2.4 Ảnh hưởng của nợ xấu

Đối với tổ chức tín dụng

Nợ xấu làm cho khả năng thu hồi các khoản nợ thấp, do đó các tổ chức tín dụngphải dùng vốn để trang trải cho các khoản thất thoát này, đến một chừng mực nào đócác tổ chức tín dụng có thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán cho ngườigửi tiền, từ đó dẫn đến:

- Làm giảm uy tín của các tổ chức tín dụng

- Giảm lợi nhuận

Trang 29

- Giảm khả năng hội nhập.

Đối với nền kinh tế

Nợ xấu ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ chức tín dụng nên vì vậy cũng ảnhhưởng đến nền kinh tế gây tác động đến khả năng khai thác và đáp ứng vốn cho nềnkinh tế, quyền lợi của người gửi tiền không được đảm bảo

Đối với khách hàng

Ngoài việc ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của bản thânkhách hàng, nợ xấu sẽ làm cho các tổ chức tín dụng mất lòng tin vào khách hàng,khách hàng sẽ mất nguồn tài trợ từ các tổ chức tín dụng, tài sản có thể bị tịch thu dẫnđến nguy cơ phá sản

1.3 Cơ sở lý luận về xử lý nợ xấu

1.3.1 Khái niệm về xử lý nợ xấu

Xử lý nợ xấu là những hoạt động của ngân hàng được triển khai khi nợ xấu đãphát sinh nhằm giảm thiểu những tổn thất do nợ xấu gây ra bằng các công cụ phổ biếnnhư: đòi nợ; tái cấu trúc các khoản nợ; bán nợ; phong tỏa tài sản người vay; thanh lý tàisản thế chấp; gán nợ, xiết nợ; yêu cầu bồi thường từ những người có trách nhiệm liênđới; sử dụng quỹ dự phòng tài chính hoặc xử lý từ dự phòng rủi ro tín dụng và các biệnpháp tài trợ rủi ro tín dụng khác

1.3.2 Tiêu chí đánh giá kết quả xử lý nợ xấu

Đối với quá trình xử lý nợ xấu, có thể đánh giá qua các chỉ tiêu sau:

1.4 Nợ xấu trong cho thuê tài chính

1.4.1 Quy định về nợ xấu trong cho thuê tài chính

Trang 30

CTTC là nghiệp vụ cấp tín dụng, các công ty CTTC là tổ chức tín dụng phi ngânhàng nên cũng phải chịu sự ràng buộc bởi các quy định về phân loại nợ đối với các tổchức tín dụng Về cơ bản việc phân loại nợ trong CTTC cũng không khác trong lĩnhvực ngân hàng Nợ xấu được định nghĩa là các khoản cho vay rơi vào 3 nhóm cuốicùng trong hệ thống phân loại 5 nhóm nói trên của BIS.

- Nhóm 3: Nợ dưới chuẩn: là các khoản nợ mà tiền trả lãi và gốc bị nợ quá hạn

trên 3 tháng Các công ty CTTC phải trích lập dự phòng 10% trên phần vốn CTTC khôngđược bảo đảm và được xác định là dưới chuẩn

- Nhóm 4: Nợ nghi ngờ: khả năng tất toán toàn bộ khoản nợ tỏ ra đáng nghi ngờ,

cho thấy có khả năng sẽ mất vốn, tuy nhiên mất bao nhiêu thì chưa rõ Các công ty CTTCphải trích lập dự phòng 50% cho các khoản vay nghi ngờ này

- Nhóm 5: Nợ mất vốn thật sự và không có khả năng thu hồi: các khoản nợ này

được coi là không có khả năng thu hồi Các công ty CTTC trích dự phòng 100% cho các khoản nợ này

1.4.2 Ảnh hưởng của nợ xấu đối với công ty cho thuê tài chính

Cũng như các hoạt động cấp tín dụng khác, nợ xấu CTTC khiến các công tyCTTC không thu hồi được đầy đủ vốn gốc và lãi thuê, ảnh hưởng đến chất lượng tíndụng của khoản đầu tư từ đó ảnh hưởng đến hoạt động, thu nhập và lợi nhuận của cáccông ty CTTC

Vì là hình thức cấp tín dụng đặc trưng bằng tài sản nên khi xảy ra nợ xấu, khoảnđầu tư của các công ty CTTC còn trở nên rủi ro hơn do tài sản bị hao mòn theo thờigian và không được sử dụng, bảo quản đúng kỹ thuật Nợ xấu nhiều khiến các công tyCTTC mất uy tín, mất khả năng thanh khoản có thể dẫn đến phá sản, gây thiệt hại đếncác tổ chức kinh tế khác và rộng hơn là ảnh hưởng xấu đến hệ thống tài chính – ngânhàng của một quốc gia

1.4.3 Các biện pháp xử lý nợ xấu tại công ty cho thuê tài chính

Trang 31

Có thể coi xử lý nợ xấu CTTC là một nghệ thuật và nó không hoàn toàn có mộtquy trình chung hoặc hướng dẫn nào cụ thể, tùy từng hoàn cảnh và khả năng khác nhau

mà áp dụng những phương pháp khác nhau Xử lý nợ xấu CTTC phải đi đôi với quản

lý và hạn chế sự gia tăng của nợ xấu, cơ bản có thể bám sát 10 giải pháp sau:

biện pháp xử lý

tổ chức tín dụng…

1.5 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu và bài học đối với Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

1.5.1 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu (ACBL)

ACBL là Công ty CTTC 100% vốn trực thuộc Ngân hàng TMCP Á Châu, đượcthành lập và đi vào hoạt động từ ngày 29/10/2007, có trụ sở chính tại số 131 Châu VănLiêm, Phường 14, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh với vốn điều lệ ban đầu là 200 tỷđồng ACBL hoạt động trong các ngành nghề, lĩnh vực sau:

Trang 32

- Cho thuê vận hành.

cho thuê tài chính

Nhìn chung, thị trường CTTC trong năm 2012 tiếp tục tăng trưởng chậm và chịutác động lớn từ những khoản nợ xấu Hiệu quả hoạt động của các công ty CTTC kháthấp tuy nhiên ACBL vẫn tiếp tục tăng trưởng ổn định và an toàn, duy trì hiệu quả hoạtđộng xuyên suốt trong kinh doanh Mặc dù dư nợ CTTC của toàn ngành năm 2012giảm xấp xỉ 10%, ACBL vẫn đạt mức tăng trưởng tín dụng dương và có mức tăngtrưởng tốt nhờ chính sách bán hàng phù hợp và linh hoạt

Thị phần của ACBL liên tục tăng trưởng trong 5 năm qua Đến 31/12/2012, dư

nợ cho thuê tài chính của ACB Leasing là 925,2 tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2011.Như vậy, ACBL đã nâng thị phần của mình thêm 1,23%, chiếm 5,95% tổng dư nợCTTC toàn ngành (theo thống kê của Hiệp hội CTTC Việt Nam)

Biểu đồ 1.1: Mức tăng trưởng thị phần của ACBL

[Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2012 của Ngân hàng TMCP Á Châu]

Trang 33

Biểu đồ 1.2: Tốc độ tăng trưởng dư nợ và lợi nhuận của ACBL

[Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2012 của Ngân hàng TMCP Á Châu]Điểm nổi bật trong hoạt động của ACBL là quản lý và giám sát rủi ro Trướcthực trạng bùng phát nợ xấu và chất lượng tín dụng toàn ngành CTTC nhìn chung giảmsút, ACBL đã tập trung kiểm soát tốt rủi ro tín dụng, thường xuyên rà soát và thực hiệnquyết liệt công tác đôn đốc, thu hồi nợ Tỷ lệ nợ quá hạn năm 2012 của ACBL chỉ là0,04% Danh mục ngành nghề và tài sản CTTC cũng được rà soát định kỳ để đánh giátác động và mức độ biến động thị trường của tài sản, từ đó điều chỉnh cơ cấu tài sảncho thuê tài chính phù hợp Trong danh mục tài trợ của ACBL, công nghiệp chế biến,chế tạo chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng dư nợ tài trợ là 39%, bên cạnh các ngành cònlại chủ yếu như y tế, khí đốt, xây dựng, v.v ACBL hướng đến đa dạng hóa loại tài sảntài trợ, chủ yếu là máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất tập trung theo đúng địnhhướng của Nhà nước là khuyến khích tập trung vốn cho doanh nghiệp sản xuất

Trang 34

Biểu đồ 1.3: Danh mục tài sản CTTC năm 2012 của ACBL

[Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2012 của Ngân hàng TMCP Á Châu]Định hướng phát triển của ACBL đảm bảo ba mục tiêu quản lý tốt, tăng trưởnghợp lý và an toàn Cùng với việc mở rộng mạng lưới chi nhánh nhằm cung cấp dịch vụCTTC đến rộng rãi hơn đến khách hàng trên toàn quốc, phát triển thị phần ACBL tậptrung nâng cao chất lượng phục vụ, cung cấp giải pháp tư vấn đầu tư vốn đổi mới côngnghệ toàn diện đối với khách hàng, phấn đấu trở thành một trong ba công ty CTTC cóquy mô lớn nhất và an toàn

1.5.2 Bài học cho Công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng nông nghiệp

và phát triển nông thôn Việt Nam

Từ thực tiễn quá trình hoạt động CTTC và kinh nghiệm của các công ty CTTC,bản thân ALCII rút ra được một số điều cần lưu ý như sau:

hướng dẫn của cơ quan chủ quản và quy định của pháp luật liên quan

Trang 35

- Tăng trưởng trong điều kiện phải quản lý được tài sản, quản lý được kháchhàng thuê, không đầu tư dàn trải vào quá nhiều lĩnh vực và địa bàn hoạt động rộng nhưngcũng không được đầu tư quá nhiều vào một lĩnh vực, không vi phạm nguyên tắc “Không bỏtrứng vào cùng một rổ”.

trạng hoạt động với cơ quan chủ quản và các cơ quan cấp trên Nghiêm túc chấn chỉnh cáctồn tại theo yêu cầu của cơ quan kiểm tra

triển khai, vừa kiểm tra và chấn chỉnh kịp thời các sai sót, bổ sung phần còn thiếu

mục tiêu hoạt động trong từng thời kỳ và đề ra giải pháp, chỉ đạo triển khai

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong Chương 1, luận văn đề cập đến những nội dung cơ bản về CTTC, cácgiao dịch CTTC như khái niệm, các hình thức CTTC, những điểm khác biệt giữaCTTC và vay vốn ngân hàng, giữa CTTC và cho thuê vận hành

Đặc biệt trong chương này, luận văn đã tập trung đề cập những lý luận về nợxấu và khái quát tình hình nợ xấu trong hoạt động CTTC của một số công ty CTTC từ

đó đưa ra bài học về xử lý nợ xấu cho ALCII

Những nội dung tổng hợp lý thuyết nêu trên là cơ sở cho việc thực hiện mụcđích nghiên cứu mà luận văn đề ra tại ALCII

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XỬ LÝ NỢ XẤU CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÀNH VẬN TẢI BIỂN TẠI CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II – NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN

NÔNG THÔN VIỆT NAM

2.1 Khái quát về hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam

Hoạt động CTTC tại Việt Nam tuy chỉ mới ra đời vào thập niên cuối của thế kỷ

nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt là cung ứng vốn cho các doanh nghiệp vừa vànhỏ Ngoài ra, CTTC còn góp phần thu hút vốn đầu tư và công nghệ của nước ngoài trongđiều kiện thiếu nguồn vốn để phát triển đất nước như hiện nay

Tính đến tháng 6/2012, tại Việt Nam đã có 12 công ty CTTC được thành lập vàcấp giấy phép hoạt động bao gồm: 4 công ty CTTC 100% vốn nước ngoài; 2 công tyCTTC 100% vốn trong nước trực thuộc NHNo&PTNT VN; 5 công ty CTTC 100% vốntrong nước trực thuộc 5 Ngân hàng TMCP, 1 công ty CTTC thuộc tập đoàn Vinashin

12 công ty CTTC này có mạng lưới hoạt động trải đều khắp các tỉnh và thành phố lớn ởViệt Nam Về vốn điều lệ, các công ty CTTC khi thành lập có vốn điều lệ tối thiểu là

100 tỷ đồng Tuy nhiên vốn điều lệ của các công ty CTTC được bổ sung liên tục Đếnthời điểm hiện tại các công ty CTTC đều có số vốn điều lệ cao hơn mức vốn tối thiểu

Đến tháng 3/2013, ngoài ANZ/V-TRAC đã bị NHNN VN thu hồi giấy phéphoạt động, công ty CTTC 100% vốn nước ngoài khác là Kexim cũng gần như đã ngừnghoạt động CTTC Hai công ty 100% vốn nước ngoài còn lại trong lĩnh vực này là Công

ty CTTC Quốc tế Việt Nam và Công ty CTTC Quốc tế Chailease cũng hoạt độngkhông mấy hiệu quả

Trang 37

Bảng 2.1: Vốn điều lệ của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam

Đơn vị: tỷ đồng.

điều lệ thành lập

triển Việt Nam (hợp nhất từ BLC1 và BLC2)

Ngoại Thương Việt Nam

Thương Việt Nam

Công nghiệp tàu thủy

Trang 38

[Nguồn: NHNN VN và website của các công ty CTTC]

Trang 39

Hoạt động CTTC là hình thức tín dụng thông qua việc tài trợ tài sản đã mở ramột kênh dẫn vốn mới đáp ứng vốn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệpvừa và nhỏ, doanh nghiệp không đủ điều kiện vay vốn về tài sản thế chấp Tuy vậy,tổng vốn điều lệ của các công ty CTTC Việt Nam và tổng mức dư nợ chỉ chiếm một tỷ

lệ khiêm tốn, hơn 3.000 tỷ đồng và khoảng 1% trên tổng dư nợ tín dụng nền kinh tế

Bảng 2.2: Thị phần cho thuê của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam

Đơn vị: tỷ đồng, %.

Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

[Nguồn: Hiệp hội cho thuê tài chính Việt Nam]

Dư nợ tại các công ty CTTC trong giai đoạn từ năm 2008 đến 2012 tuy có lúctăng, có lúc giảm nhưng cơ bản biến động không nhiều Sự biến động dư nợ lớn tạiCông ty CTTC 1 - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (hiện nay là BLC - Công

ty CTTC Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam) là do trong năm 2011 Công ty

Trang 40

CTTC 2 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam sáp nhập vào Công ty CTTC 1 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam làm dư nợ tại Công ty CTTC 1 - Ngân hàngĐầu tư và Phát triển Việt Nam tăng hơn 90% Ngoài ra từ năm 2009, ALCII tăng dư nợmột cách đột biến đến 85,5% nguyên nhân là do trong giai đoạn này ALCII đã địnhhướng chiến lược kinh doanh sai, dẫn đến việc ồ ạt mở rộng dư nợ cho thuê đặc biệt làcho thuê tài sản là tàu biển Đây là nguyên nhân chính dẫn đến nợ xấu tại ALCII tăngrất cao tại thời điểm hiện nay.

-Từ năm 2008, do ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới bị suy giảm, nềnkinh tế Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng rất lớn, các doanh nghiệp Việt Nam gặp rấtnhiều khó khăn dẫn đến hoạt động CTTC bị ảnh hưởng không nhỏ Đến năm 2009,theo thống kê của Hiệp hội CTTC Việt Nam thì nợ xấu của một số công ty CTTC ởmức trên 10%, thậm chí cá biệt ALCII có tỷ lệ nợ xấu ở mức 57,93% Điều này chothấy hoạt động CTTC tại Việt Nam trong thời gian 5 năm trở lại đây hoạt động khônghiệu quả Nguyên nhân nợ xấu tăng cao được cho là xuất phát từ tình hình kinh tế thếgiới bị khủng hoảng, việc đánh giá, dự báo thị trường không chính xác, cũng như chưanhận được sự quan tâm đúng mức của các cơ quan quản lý nhà nước về cơ chế, chínhsách và các nguyên nhân chủ quan trong quá trình quản lý, thực hiện nghiệp vụ của cáccông ty CTTC Số liệu nợ xấu đến 31/12/2012 của các công ty CTTC Việt Nam chothấy ngoại trừ Công ty CTTC Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và Công tyCTTC Ngân hàng TMCP Á Châu thì các công ty CTTC còn lại đều có tỷ lệ nợ xấu rấtcao Cá biệt có ALCII gần như toàn là nợ xấu và trong đó dư nợ CTTC của tài sản làtàu thuyền các loại luôn chiếm tỷ trọng cao

Với trình trạng nợ xấu trong mối quan hệ với các chỉ số kinh tế vĩ mô của ViệtNam thì có thể thấy việc xử lý nợ xấu các công ty CTTC mang tính hệ thống là yêu cầucấp thiết, và điều cần nhất trong lúc này là sự đồng thuận về phương án để đưa ra cáchgiải quyết triệt để và nhanh nhất Chắc chắn sẽ có những đánh đổi, thậm chí là mất mátlớn, nhưng chắc chắn, qua giai đoạn đó, thị trường sẽ có những tiến bộ rõ rệt

Ngày đăng: 10/10/2020, 11:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w