1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đóng góp của TFP đối với tăng trưởng kinh tế của các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía nam giai đoạn 2001 2010

82 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên các cơ sở lý thuyết tăng trưởng kinh tế tân cổ điển và lý thuyết tăngtrưởng kinh tế nội sinh, các lý thuyết này sử dụng năng suất các yếu tố tổng hợp TFPnhư thành phần giải thíc

Trang 1

VÕ TẤN PHƯỚC

ĐÓNG GÓP CỦA TFP ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH

TẾ CỦA CÁC TỈNH VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM

PHÍA NAM GIAI ĐOẠN 2001 - 2010

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh, tháng 11, năm 2013

Trang 2

VÕ TẤN PHƯỚC

ĐÓNG GÓP CỦA TFP ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH

TẾ CỦA CÁC TỈNH VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM

PHÍA NAM GIAI ĐOẠN 2001 - 2010

Chuyên ngành : KINH TẾ PHÁT TRIỂN

Mã số : 60310105

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

TS TRẦN ANH TUẤN

TP Hồ Chí Minh, tháng 11, năm 2013

Trang 3

1 Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy TS Trần Anh Tuấn

2 Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố.

Người thực hiện

VÕ TẤN PHƯỚC

Trang 4

Mục lục

Danh mục bảng biểu và hình

TÓM TẮT

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.6 KẾT CẤU LUẬN VĂN

CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TÂN CỔ ĐIỂN (MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG SOLOW)

2.1.1 HÀM SẢN XUẤT

2.1.2 ĐIỂM MẠNH – ĐIỂM YẾU MÔ HÌNH SOLOW

2.2 MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG NỘI SINH

2.2.1 MÔ HÌNH AK

2.2.2 MÔ HÌNH “HỌC HAY LÀM”

2.2.3 MÔ HÌNH R & D

2.2.4 ĐIỂM MẠNH VÀ ĐIỂM YẾU MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG NỘI SINH

2.3 GIỚI THIỆU NĂNG SUẤT CÁC YẾU TỐ TỔNG HỢP (TFP)

Trang 5

2.3.4 TỐC ĐỘ TĂNG TFP 18

2.3.5 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI TĂNG TRƯỞNG TFP 19

2.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 24

2.5 KHUNG LÝ THUYẾT 31

CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1 HÀM SẢN XUẤT VÀ CÁCH TÍNH TFP 33

3.2 MÔ HÌNH HỒI QUY 35

3.3 CHỌN MẪU VÀ DỮ LIỆU 36

CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

4.1 SƠ LƯỢC VỀ VỊ THẾ VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM 39

4.2 TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CÁC ĐỊA PHƯƠNG VKTTĐPN 41 4.3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HỒI QUY 48

4.3.1 KẾT QUẢ HỒI QUY CHO VKTTĐPN 48

4.3.2 KẾT QUẢ HỒI QUA CHO CÁC TỈNH/THÀNH VKTTĐPN 49

CHƯƠNG V KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tăng trưởng ở các nước OECD 25

Bảng 2.2 Tăng trưởng 1960 -1994 27

Bảng 2.3 Tăng trưởng Đông Á, 1978 – 1996 28

Bảng 4.1 Tốc độ tăng trưởng Vốn của các tỉnh VKTTĐPN 42

Bảng 4.2 Tỷ lệ biết chữ và có trình độ chuyên môn kỹ thuật của dân số từ 15 tuổi trở lên ở các tỉnh 44

DANH MỤC HÌNH Hình 2.1 Khung lý thuyết 31

Hình 4.2 Tốc độ tăng trưởng Vốn các địa phương giai đoạn 2001 - 2010 43

Hình 4.3 Tốc độ tăng trưởng lao động các địa phương giai đoạn 2001 - 2010 44

Hình 4.4 Cơ cấu lao động phân theo khu vực kinh tế tính đến 2010 45

Hình 4.5 So sánh chỉ số TFP các tỉnh/thành 51

Trang 7

TÓM TẮT

Tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với khoahọc công nghệ, phát triển nền kinh tế tri thức là mục tiêu theo đuổi dài hạn của các nềnkinh tế Dựa trên các cơ sở lý thuyết tăng trưởng kinh tế tân cổ điển và lý thuyết tăngtrưởng kinh tế nội sinh, các lý thuyết này sử dụng năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP)như thành phần giải thích tăng trưởng kinh tế, bài nghiên cứu đã phân tích đóng góp củaTFP đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh Vùng kinh tế trọng điểm phía nam trong giaiđoạn 2001– 2010cũng như xác định mức độ ảnh hưởng của yếu tố TFP đến tăng trưởngkinh tế của Vùng cũng như cho các tỉnh/thành trong vùng Kết quả nghiên cứu cho thấy,khi các yếu tố vốn và lao động không đổi thì sự tác động của TFP đến tăng trưởng kinh tếcủa VKTTĐPN là làm gia tăng sản lượng GDP thêm 7.93% Ngoài ra, phân tích TFP từngđịa phương cho kết quả các tỉnh/thành của vùng trong giai đoạn 2001 – 2010 đều có mứctác động của TFP là tích cực, Vũng Tàu là địa phương có mức TFP cao nhất, cao hơn mứctrung bình của Vùng Vàtừ những kết quả đạt được đề xuất các giải pháp nhằm tăngcường đóng góp của yếu tố này đến tăng trưởng kinh tế cho vùng và các địa phương nhằmphát triển bền vững trong thời gian tới

Trang 8

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU 1.1LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Năng suất là nội lực phát triển của các công ty, ngành và nền kinh tế Để nâng cao năngsuất một cách bền vững cần hoàn thiện lực lượng sản xuất gồm vốn, lao động (yếu tố hữuhình) và quan hệ sản xuất (yếu tố vô hình) gồm đổi mới công nghệ, giáo dục đào tạo, hợp

lý hóa sản xuất, cải tiến quản lý…theo hướng tăng dần sự đóng góp các yếu tố vô hình vàgiảm dần sự lệ thuộc vào các yếu tố hữu hình Tăng trưởng đầu ra không nhất thiết phảităng vốn và lao động, nếu biết sử dụng tối ưu các yếu tố đầu vào này và kết hợp nâng caochất lượng lao động, cải tiến kỹ thuật công nghệ, quản lý, giáo dục đào tạo…thì sẽ đemlại giá trị gia tăng mới cao hơn Như vậy ngoài phần đóng góp của các yếu tố hữu hìnhcòn có sự đóng góp giá trị của các yếu tố vô hình Giá trị này thể hiện thông qua năng suất

các yếu tố tổng hợp (TFP) Theo Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển của Solow (1956) thì

tăng vốn và lao động có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, phù hợp với giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, còn tăng TFP mới là nguồn gốc tăng trưởng trong dài hạn Do đó đề tài sẽ phân tích đóng góp của TFP đối với tăng trưởng kinh tế, đặc biệt

là tăng trưởng kinh tế của các tỉnh Vùng kinh tế trọng điểm phía nam (VKTTĐPN) từ đó

đề xuất một số khuyến nghị chính sách nhằm phát triển kinh tế bền vững trong tương lai.

Đề tài chọn địa bàn VKTTĐPN vì vai trò địa chính trị của vùng Đây là vùng bao gồm 8

tỉnh – thành thuộc cả miền Đông và miền Tây Nam Bộ: TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, BàRịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang Tuy chỉchiếm 20.5% dân số, hơn 9% diện tích cả nước (Cục Xúc tiến thương mại, 2011) nhưngVKTTĐPN có vai trò rất quan trọng, là trung tâm công nghiệp, thương mại, tài chínhhàng đầu cả nước Vùng kinh tế trọng điểm này đóng góp lớn nhất cho kinh tế Việt Namvới hơn 42% GDP, chiếm gần 60% thu ngân sách, trên 70% kim ngạch xuất khẩu, so với

cả nước thì tỷ lệ đầu tư trên GDP chiếm 50%, cao gấp 1,5 lần; có nhịp độ tăng trưởngkinh tế cao hơn khoảng 1,4 - 1,6 lần so với nhịp độ tăng trưởng bình quân chung cả nước,

Trang 9

tỷ lệ dân số đô thị gần 50% so với mức bình quân 25% của cả nước (Cục Xúc tiến thươngmại, 2011) Do đó, VKTTĐPN thực sự là đầu tàu, đóng vai trò động lực, thúc đẩy mạnh

mẽ sự phát triển kinh tế Việt Nam Với tầm vóc và vị thế như vậy nhưng chất lượng tăngtrưởng chưa tương xứng với tiềm năng của Vùng Tăng trưởng kinh tế VKTTĐPN tronggiai đoạn vừa qua phụ thuộc nhiều vào sự tích lũy của các yếu tố đầu vào gồm vốn và laođộng Hiện nay nền kinh tế đã phát triển ở mức cao hơn, bên cạnh chiến lược tăng trưởngdựa vào đầu vào thì phải định hướng vào nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn và laođộng, do đó đề tài “Đóng góp của TFP đối với tăng trưởng kinh tế của các tỉnh Vùng kinh

tế trọng điểm phía nam giai đoạn 2001 - 2010” sẽ phân tích đóng góp của TFP đối vớităng trưởng kinh tế của trong giai đoạn 2001 – 2010, từ đó đánh giá được vai trò của củacác nguồn lực đối với tăng trưởng và khuyến nghị những chính sách thúc đẩy tăng trưởngkinh tế trong dài hạn cho Vùng

1.2MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu tổng quát của đề tài là nhận diện được sự đóng góp của yếu tố này sẽ giúp íchcho việc đưa ra các khuyến nghị chính sách phát triển nhằm nâng cao chất lượng tăngtrưởng kinh tế trong dài hạn

Với mục tiêu tổng quát như trên, luận văn đặt ra các mục tiêu cụ thể sau:

-Phân tích đóng góp của TFP đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh Vùng kinh tếtrọng điểm phía nam trong giai đoạn 2001 – 2010 để từ đó tiếp tục tăng cườngkhả năng đóng góp của các yếu tố này vào tăng trưởng kinh tế dài hạn cho cácđịa phương VKTTĐPN

-Xác định mức độ ảnh hưởng của yếu tố TFP đến tăng trưởng kinh tếVKTTĐPN, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường đóng góp của yếu tốnày đến tăng trưởng kinh tế cho vùng

Trang 10

1.3CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Từ mục tiêu nghiên cứu, đề tài rút ra câu hỏi nghiên cứu như sau:

(1)TFP tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế các tỉnh/thành VKTTĐPN và cho cả vùng ?

(2)Các nhà hoạch định chính sách làm gì để tiếp tục tăng cường khả năng đóng góp của các yếu tố này vào tăng trưởng kinh tế dài hạn cho các địa phương ?

1.4PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để tìm hiểu về đóng góp của TFP đối với tăng trưởng kinh tế của các tỉnh Vùng kinh tếtrọng điểm phía nam, luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả trình bày hiện trạngtăng trưởng kinh tế các tỉnh giai đoạn 2001 -2010

Để tính đóng góp TFP vào tăng trưởng kinh tế các tinh/thành VKTĐPN và đóng góp TFPcho vùng, phương pháp phân tích hồi quy đa biến được sử dụng thông qua dữ liệu bảngpanel data

Dữ liệu được thu thập từ nguồn thứ cấp, tổng hợp từ các nguồn chính thức là Tổng cụcthống kê, Cục thống kê, các niên giám thống kê của các tỉnh/thành trong VKTTĐPN giaiđoạn từ 2001-2010

Dữ liệu K theo thời gian được qui về giá cố định 1994 bằng cách lấy K theo giá hiện hànhhàng năm chia cho chỉ số giá hàng năm (CPI hay khử lạm phát GDP)

GDP cũng lấy theo giá cố định để đảm bảo là GDP thực khi tính tốc độ tăng trưởng hàngnăm

1.5PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài được Nghiên cứu trong phạm vi địa bàn của các tỉnh VKTTĐPN được thành lậptheo Quyết định số 159/2007/QĐ-TT ngày 10 tháng 10 năm 2007 của Thủ tướng Chínhphủ bao gồm các tỉnh, thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – VũngTàu, Bình Dương, Tây Ninh, Bình Phước, Long An, Tiền Giang

Trang 11

1.6KẾT CẤU LUẬN VĂN

Luận văn được chia làm 5 chương như sau:Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Trang 12

CHƯƠ NG II C Ơ SỞ LÝ T HUYẾT

Để làm sán g tỏa đóng góp của T FP đến tăn g trưởng, c hương nàyn êu lên những kháiniệ m TFP của c ác nhà nghiên cứu cũng như giớ i thiệu các lý thuyết tăng trưởn g có sửdụng TFP như m ột thành p hần giải thích cho tăng trưởng ki nh tế bao gồm lý thuyết nộisinh và ngoại sinh

2.1LÝ THUYẾT TĂNG TR ƯỞNG KINH TẾ TÂN CỔ ĐIỂN (MÔ H

ÌNH TĂ NG TRƯỞNG SOLO W)

Mô hình tă ng trưởng kinh tế tân cổ điển c òn gọi là m ô hình tăng trưởng k inh tế Solow,được phát triển bởi Robert Solo w năm 1956, và đến nay được xem như là một mô hình tăngtrưởng tân cổ điển chuẩn trong hệ thốn g lý thuyết tăng trưởn g kinh tế tro ng dài dạn

Y là sản lượng đầu ra

K là vốn (vốn ở đây là vố n vật thể)

L là lao động

t là giai đoạn th ời gian

Giả thiết rằng hàm sả xuất dạng Cobb-Douglas là có tính thuần n hất tuyến tính và lợi tức không đổi theo quy m ô và hàm (2.1) được biể u diễn như sau:

(2.2)

Trang 13

Chia phương trìn h (2.2) cho Y và sắp xếp lại ta đ ược:

(2.3)Trong đó:

là tốc đ ộ tăng trưở ng sản lượn g hay ký hiệu G(Y)

là độ co giản của s ản lượng theo vốn, hay ký

hiệu α là tốc độ tăng trưởng vốn hay ký hiệu G( K)

là độ co giản của sản lượng theo lao độn g, hay ký hiệu

β là tốc đ ộ tăng trưở ng lao động hay G(L)

và L, hay ký hiệu G(A)

Nên p hương trình (2.3) viết lại:

G(Y) = G(A) + αG(K) + βG(L)

Vì G(K) và (GL) là tốc độ tăng trưởng của vốn và lao động, nên khi n hân chúng với α và

β ta được phần đóng góp của sự gia tă ng K và L đ ối với tăng trưởng của Y

Nếu c ó số liệu chuỗi thời gian của Y, K, L thì ta tính được G(A) bằng cách lấy G (Y) trừ

đi αG(K) và βG(L) theo ph ương trình (2.4) Vì G (A) là phần dư của tăng trưởng Y saukhi trừ đi các hiệu ứng của K và L nên nó ước lượng được tăng trưởng sản lượng khi cácđầu vào la o động và vốn không đổi (Trần T họ Đạt, 2010, trang 237)

Tóm lại, G(A) chính là số dư trong mô hình Solo w (tiến bộ kỹ thuật) h ay còn gọi là tăngtrưởng năng suất các yếu t ố tổng hợp – TFP Như vậy, ý ng hĩa của phương trình (2.4) là tốc

đ ộ tăng trưở ng sản lượn g có thể đư ợc giải thích bởi tốc độ tăng trư ởng của vốn và lao

Trang 14

động được sử dụng trong nền kinh tế cũng như tốc độ tăng trưởng của tiến bộ kỹ thuật,hay nói cách khác là tốc độ tăng trưởng TFP.

2.1.2 ĐIỂM MẠNH – ĐIỂM YẾU MÔ HÌNH SOLOW

2.1.2.1ĐIỂM MẠNH

Ngay từ khi ra đời, mô hình tăng trưởng Solow đã gây ra một tiếng vang lớn, bởi đây là

mô hình tương đối hoàn chỉnh đầu tiên về tăng trưởng kinh tế Nó đã trở thành xuất phátđiểm của nhiều nghiên cứu tăng trưởng kinh tế trong những thập kỷ gần đây

- (1) Mô hình khám phá ra một biến giải thích mới trong hàm sản xuất, đó là tiến bộ công nghệ (TFP)

- (2) Sử dụng mô hình Solow để ước tính tác động tương đối của công nghệ

và tích lũy vốn trên tăng trưởng thu nhập

- (3) “Dựa trên sinh lợi của vốn giảm dần, mô hình Solow dự đoán rằng sảnlượng bình quân đầu người nước nghèo sẽ tăng trưởng nhanh hơn và bắt kịpcác nước giàu, ngụ ý có sự hội tụ quốc tế về tốc độ tăng trưởng và mức thunhập bình quân đầu người Mô hình cũng dự rằng suất sinh lợi của vốn ở cácnước giàu sẽ thấp hơn so với ở các nước nghèo, ngụ ý rằng có những động lựcmạnh mẽ thôi thúc vốn chảy từ nước giàu sang nước nghèo, thúc đẩy nhanhquá trình hội tụ” (Nguyễn Trọng Hoài, 2010, trang 106)

2.1.2.2ĐIỂM YẾU

Mô hình tân cổ điển cũng có những điểm yếu:

- Tiến bộ công nghệ chỉ là biến ngoại sinh, hay nói cách khác là một hằng sốcho trước nằm ngoài mô hình Sự thay đổi của nó sẽ không ảnh hưởng đến tỷ lệtăng trưởng sản lượng, tuy nhiên nó là nhân tố quyết định của tăng trưởng

- Bức tranh hội tụ là phức tạp hơn những ngụ ý từ mô hình “Trong mô hìnhnày, ngoài mức vốn ra, yếu tố duy nhất quyết định thu nhập bình quân đầungười là tính hiệu quả của lao động, nhưng ý nghĩa chính xác của tính hiệu quảlao động lại không được xác định rõ và hành vi biến đổi của nó lại được coi làngoại

Trang 15

sinh Hơn nữa, giả sử rằng mức sinh lợi trên vốn phản ánh đóng góp của vốntrong sản lượng, và rằng tỷ phần của nó trong tổng thu nhập được thiết lập ởmức hợp lý thì sự chênh lệch về vốn không thể giải thích được sự chênh lệch vềthu nhập giữa các quốc gia” (Trần Thọ Đạt, 2010, trang 173).

Tóm lại, lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển, bất chấp những giới hạn của nó, đã chỉ ra haiđiểm quan trọng Thứ nhất, đã làm sáng tỏ sự tồn tại của một nhân tố mới trong tăngtrưởng kinh tế, đó là tiến bộ công nghệ Thứ hai, lý thuyết tân cổ điển đã nhấn mạnh tầmquan trọng của tích lũy vốn, một nhân tố quan trọng trong tăng trưởng kinh tế

2.2MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG NỘI SINH

Trong mô hình Solow không đưa ra được sự giải thích tại sao TFP đôi khi tăng trưởngnhanh, đôi khi tăng trưởng chậm Căn nguyên của tăng trưởng TFP trong lý thuyết tân cổđiển về cơ bản xuất phát từ sự tiến bộ công nghệ Yếu tố này chỉ đạt yêu cầu ở giai đoạnđầu của thời kỳ tăng trưởng, sau đó khi một nước nghèo có thể đảm bảo kỹ thuật và tiếpthu công nghệ sản xuất từ các nước giàu thông qua các hoạt động thương mại hay viện trợnước ngoài, vì thế yếu tố này không thể giải thích thỏa đáng về tồn tại khoảng cách thunhập bình quân đầu người của mỗi nước Ngoài ra, trong lý thuyết tân cổ điển thì tăngtrưởng kinh tế phụ thuộc phần lớn vào tích lũy vốn là không hợp lý Do đó cần tìm ranhững đặc tính mới của TFP để có thể giải thích hoàn toàn khác biệt về GDP bình quânđầu người trong mỗi quốc gia

Với những lý do trên đã dẫn đến sự ra đời một loạt mô hình tăng trưởng (vẫn dựa trênkhuôn khổ lý thuyết tân cổ điển) được gọi là các mô hình tăng trưởng nội sinh Trong các

mô hình này thì giả định chung là lợi nhuận không đổi theo quy mô, còn giả định sinh lợicủa vốn giảm dần không được sử dung, đây là điểm mới

Trong mô hình tăng trưởng nội sinh, TFP không chỉ là phần không giải thích được của các

tỷ lệ tăng trưởng từ các yếu tố đầu vào bao gồm vốn và lao động mà TFP còn có ý nghĩarộng hơn, đó là tất cả các yếu tố có thể dẫn đến đổi mới công nghệ như ý tưởng

Trang 16

mới, tri thức mới, thể chế, phát triển nguồn nhân lực…Trong mô hình này, tiến bộ côngnghệ là một biến nội sinh, được giải thích bên trong mô hình tăng trưởng.

Để hiểu rõ hơn những biểu hiện của TFP, luận văn sẽ xem xét trong các mô hình tăngtrưởng nội sinh sau đây

2.2.1 MÔ HÌNH AK

Romer (1987) và Rebelo (1991) là những người đầu tiên đưa ra mô hình này Đây là mộttrong những mô hình đơn giản nhất theo quan điểm tăng trưởng nội sinh Sự khác biệt cơbản giữa mô hình Solow và mô hình AK là không chỉ có vốn vật chất mà còn các loại vốnkhác như vốn con người (ví dụ, những tri thức và kỹ năng được sở hữu bởi lực lượng laođộng) hoặc trạng thái của tri thức là đầu vào sản xuất Với giả định lợi nhuận không đổitheo quy mô và sinh lợi của vốn giảm dần, hàm sản xuất của mô hình này được mô tả làhàm Cobb-Douglas từ như sau:

trong đó:

Yt = A.Kt (2.5) Kt là đại diện cho tập hợp của tích lũy vốn bao gồm vốn vật chất và các thành phần nguồn vốn con người

Yt là sản lượng

A (A>0) là cải thiện trình độ công nghệ, như trong mô hình Solow

Theo phương trình (2.5), vai trò của TFP rõ ràng là nội sinh và đây là một điểm tiến bộhơn so với lý thuyết tân cổ điển chính thống Do đó, sự khác biệt chủ yếu giữa mô hình

AK và mô hình tân cổ điển là ở yếu tố quyết định của tốc độ tăng trưởng bình quân đầungười Trong mô hình AK, các thành phần của tăng trưởng kinh tế là một mức độ cải tiếncủa công nghệ lấy từ đổi mới công nghệ trong khi trong các mô hình tân cổ điển TFP chỉ

là một biến ngoại sinh gắn với tiến bộ kỹ thuật Nhưng điểm giống nhau của hai mô hình

là nhấn mạnh vai trò quan trọng của vốn trong tăng trưởng

Trang 17

2.2.2 MÔ HÌNH “HỌC HAY LÀM”

Mô hình học hay làm được đưa ra bởi Paul Romer (năm 1986 và 1989) và Kenneth Arrow

(1962).Trong mô hình này, mỗi hoạt động đầu tư của các cá nhân hay các công ty có thể

ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Theo giả định lợi tức không đổi theo quy mô, hàm số theo dạng Cobb-Douglas như sau:

Lưu ý rằng, trong mô hình này sự gia tăng kiến thức không phải là một biến cho trước, nó

là một hàm số của sự gia tăng trong vốn và do đó tích lũy kiến thức A(t) là một hàm số

của tích lũy vốn K(t) và được mô tả trong hàm dưới đây:

A(t) = B.K(t)θ với B > 0, θ > 0 (2.7) Theo phương trình (2.7),

sự gia tăng trong đầu tư có thể dẫn đến sự gia tăng trình độ kiến thức, và sự gia tăng kiến

thức lần lượt mang lại sự gia tăng sản lượng sản xuất trong một quốc gia [bắt nguồn từ

phương trình (2.6)]

Để rõ hơn, phương trình (2.7) có thể được hiểu như sau: vì mỗi công ty trong quốc gia có

thể học hỏi kiến thức mới từ quá trình đầu tư của mình trong quy trình sản xuất cũng như

từ hoạt động đầu tư của các công ty khác và từ hoạt động đầu tư của các công ty có thể có

ảnh hưởng đến quá trình sản xuất của nền kinh tế nói chung, đó là sự gia tăng tích lũy vốn

thông qua đầu tư sẽ dẫn đến sự gia tăng về trình độ tri thức Với lợi nhuận không đổi theo

quy mô, sự gia tăng lao động và vốn đầu vào với một trạng thái của kiến thức [được xác

định trong (2.7)], sẽ dẫn đến sự gia tăng sản lượng

Trang 18

Như vậy, thông qua mô hình học hay làm, hai điểm quan trọng được làm rõ: thứ nhất giớithiệu một hình thức thay thế khác của TFP, những tri thức của con người, và thứ hai nhấnmạnh vai trò nội sinh của TFP trong những mô hình tăng trưởng.

2.2.3 MÔ HÌNH R & D

Các mô hình này thường được trình bày trong các nghiên cứu của Uzawa (1965), Lucas(1988) và Romer (1990) Trong các mô hình này, các nhà kinh tế đưa ra quan điểm chorằng lực lượng thúc đẩy tăng trưởng là sự tích lũy kiến thức (ý tưởng mới), với những cơchế tạo ra kiến thức khác nhau và những nguồn lực được phân bổ vào ngành sản xuất kiếnthức Có hai cơ chế chính tạo ra kiến thức được đưa vào các mô hình tăng trưởng nộisinh : (1) kiến thức là một sản phẩm phụ của hoạt động kinh tế, và (2) bản thân sự tạo rakiến thức là một hoạt động sản xuất [Trần Thọ Đạt, 2010, trang 174-175]

Kiến thức mới (lấy từ những ý tưởng mới), là sản phẩm kết hợp của cả vốn con người và

sự tích lũy hiện có của kiến thức, như nghiên cứu khoa học, phát triển sản phẩm, đổi mớitrong kỹ thuật sản xuất và cải tiến quản lý, tất cả có thể nâng cao năng suất Rõ ràng sựgia tăng tích lũy vốn con người theo thời gian có thể ảnh hưởng đến năng suất của tất cảcác yếu tố sản xuất và do đó ảnh hưởng đến tăng trưởng

Trong các mô hình R & D, hàm sản xuất vốn con người (thể hiện bằng hàm sản xuất trithức) là quan trọng hơn hàm sản xuất của vốn vật chất (bởi hàm sản xuất hàng hóa) Điềunày có nghĩa rằng sự tham gia của nguồn vốn con người được đánh giá cao trong việc giảithích sự tăng trưởng kinh tế Tương tự trường phái trên, Griffin (1994) đã đồng ý vốn conngười bao gồm kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lượng và sáng tạo của người dân.Một cá nhân có thể đạt được nó bằng nhiều cách khác nhau như được đào tạo nghề, giáodục chính quy, học hỏi qua công việc hoặc các hoạt động khác

Trong mô hình, hàm sản xuất có dạng Cobb-Douglas, với hai hàm phụ: hàm sản xuất hànghóa và hàm sản xuất kiến thức

Hàm sản xuất hàng hóa:

Y(t) = AKα (uH)1-α

Trang 19

Hàm sản xuất:

H* + δH = B(1-u)HTrong đó: Y là sản lượng hàng hóa

A,B> 0 là tham số công nghệ

H là vốn con người

α (0 ≤ α ≤ 1) là tỷ phần của vốn vật chất

1 – α (0 ≤ α ≤ 1) là tỷ phần của lao động

u (0 ≤ u ≤ 1) là phân số của vốn con người được sử dụng trong sản xuất

1 – u (0 ≤ u ≤ 1) là phân số của vốn con người được sử dụng trong vốn conngười tạo ra

H* + δH là tổng đầu tư vào vốn con ngườiMột cá nhân có thể có được kiến thức bằng nhiều cách khác nhau Đồng ý với Griffin(1998), Lucas (1998) ghi nhận rằng có hai cách chính mà kiến thức có thể được hấp thụ.Cách thứ nhất là do tác động bên trong của vốn con người, có khả năng tăng lên và sinh rakhi sử dụng ; thứ hai là do tác động bên ngoài đó là tri thức rất dễ dàng di chuyển và chia

sẽ Phương trình (2.9) cho thấy rằng khi đầu tư nâng cao kiến thức của con người, vốncon người cũng sẽ tăng

Bên cạnh đó, theo mô hình Romer lĩnh vực R & D sản xuất ý tưởng hoặc cải tiến ý tưởng

để sản xuất hàng hóa cuối cùng Như đã trình bày trong phương trình (2.8) và (2.9), kiếnthức có thể đi vào sản xuất sản phẩm cuối cùng trong hai cách khác nhau Cách thứ nhất

là bằng các phương tiện sản xuất một đầu vào trung gian mới, và sau đó đầu vào trunggian này có thể được sử dụng trong sản xuất sản phẩm cuối cùng Cách thứ hai là một ýtưởng mới sẽ làm tăng tổng tích lũy kiến thức và do đó dẫn đến sự gia tăng năng suất củavốn con người được sử dụng trong lĩnh vực R & D Chủ sở hữu của một ý tưởng mới cóquyền sở hữu nhất định trong việc sử dụng nó trong sản xuất, được gọi là bằng sáng chế.Bằng cách bán các bằng sáng chế này, các ý tưởng mới có thể mở rộng ý nghĩa của nó

Trang 20

trong các ngành công nghiệp Vì vậy, nhiều sản phẩm cuối cùng hơn trong nền kinh tế sẽđược sản xuất.

Với những lý do trên, thông qua hoạt động R & D, cải thiện vốn con người được tạo ra.Đây là xu hướng tốt gia tăng sản lượng trong nền kinh tế

Giả định chung của các hàm sản xuất là đầu tư được tài trợ bởi tiết kiệm trong nước.Trong thực tế, ở các nước đang phát triển, đầu tư có thể được tài trợ bởi vốn nước ngoàithông qua việc nhập khẩu hàng hóa vốn Do đó, tác động bên trong và tác động bên ngoàicủa vốn con người tồn tại và sẽ là một yếu tố nội sinh có ảnh hưởng đến quá trình tăngtrưởng của một nền kinh tế

Nói chung, mô hình R & D này, như hai mô hình trên, nhấn mạnh đặc tính nội sinh củaTFP trong việc giải thích tăng trưởng kinh tế cũng như mở ra một khái niệm mới của TFPbằng cách giới thiệu kiến thức như một yếu tố có thể cải thiện vốn con người thông quacác hoạt động R & D trong quá trình sản xuất

Lưu ý rằng mặc dù vai trò của nguồn nhân lực trong lý thuyết tăng trưởng nội sinh là đángchú ý, vai trò của vốn vật chất và tiến bộ kỹ thuật không được bỏ qua, trong kiểm tra mốiquan hệ giữa TFP và tăng trưởng Người lao động ngay cả khi có đầy đủ kiến thức cũngkhông thể sản xuất bất cứ điều gì mà không có thiết bị máy móc và công cụ Tương tựnhư vậy, một công nhân sử dụng máy cũ không có thể sản xuất nhiều như một công nhân

sử dụng thiết bị và công nghệ hiện đại và tốt hơn

2.2.4 ĐIỂM MẠNH VÀ ĐIỂM YẾU CỦA MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG NỘI

SINH 2.2.4.1.ĐIỂM MẠNH

- TFP không còn là một yếu tố ngoại sinh Từ bây giờ, nó là một nội sinh: đây

là sự tiến bộ vượt trội so với lý thuyết tân cổ điển Điểm này đặc biệt nhấnmạnh vào mô hình học hay làm và mô hình R & D : gia tăng kiến thức xuấtphát từ sự gia tăng đầu tư ; do đó, tỷ lệ đổi mới là nội sinh

Trang 21

-Trong các mô hình này, TFP được mở rộng trong những biểu hiện của nó: nókhông chỉ là tiến bộ kỹ thuật mà còn cải thiện trình độ công nghệ (mô hình AK)

và kiến thức mới (mô hình học hay làm và mô hình R & D)

-‘‘Các mô hình tăng trưởng nội sinh đề cao vai trò của chính phủ trong việcthúc đẩy phát triển kinh tế thông qua đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào giáo dụcđào tạo, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào những ngành công nghiệp

sử dụng nhiều tri thức như phần mềm máy tính, viễn thông ‘’ (Trần Thọ Đạt,

2010, trang 226)

2.2.4.2.ĐIỂM YẾU

-Các mô hình tăng trưởng nội sinh vẫn phụ thuộc vào một số giả định tân cổđiển truyền thống mà không phù hợp với các nền kinh tế đang phát triển Chẳnghạn, các mô hình này còn bỏ qua những yếu tố như sự yếu kém về cấu trúc hạtầng, cấu trúc thể chế, các thị trường vốn và thị trường hàng hóa không hoànhảo…(Trần Thọ Đạt, 2010, trang 227)

-Khó khăn để ước lượng vốn con người cũng như của tỷ phần đóng góp

Tóm lại, sau khi trở thành biến nội sinh trong các lý thuyết tăng trưởng kinh tế, vai trò củaTFP ngày càng trở nên quan trọng hơn

Cùng với các tiến bộ trước đây, những biểu hiện của sự thay đổi TFP trong nhiều cáchkhác nhau so với TFP trong lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển Nó được coi là: cải thiệnvốn con người như tăng kỹ năng lao động, hoặc tăng kiến thức lao động… ; Phát triểnvốn con người sẽ dẫn đến tiến bộ kỹ thuật ; cải thiện các môi trường hữu quan trong quátrình sản xuất

2.3GIỚI THIỆU NĂNG SUẤT CÁC YẾU TỐ TỔNG HỢP (TFP)

2.3.1 KHÁI NIỆM NĂNG SUẤT

Từ những năm 90 của thế kỷ 20 về trước, năng suất được hiểu và áp dụng ở Việt Namtheo khái niệm truyền thống, năng suất đồng nghĩa với năng suất lao động và thườngđược quan tâm, tính toán bằng số lượng hay khối lượng sản phẩm tạo ra hoặc tổng giá trịsản xuất-dịch vụ tạo ra trên một lao động hay giờ lao động Năng suất truyền thống định

Trang 22

hướng theo các yếu tố đầu vào, chủ yếu là lao động, nguyên vật liệu, thiết bị và giải phápnhằm đạt mục tiêu tăng năng suất là tăng đầu ra và giảm đầu vào Cách tiếp cận nàykhông còn thích hợp với kinh tế thị trường, kinh tế phát triển trên nền tảng công nghệ tiến

bộ, phát triển theo chiều sâu

Từ năm 1995-1996 lại đây, sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Năng suấtChâu Á (APO- Asian Productivity Organization), Việt Nam đã dần tiếp nhận khái niệm vàmột số chỉ tiêu tính toán năng suất theo cách tiếp cận mới Đặc điểm của cách tiếp cậnmới này là:

Định hướng theo các kết quả của Đầu ra, hướng tới nhu cầu của thị trường và giảm lãngphí trong mọi hình thức chứ không là chỉ giảm Đầu vào Bản chất của vấn đề ở đây làtăng thêm giá trị, do đó không chỉ sử dụng hợp lý, tiết kiệm Đầu vào mà còn chú trọngchất lượng và tính hữu ích của Đầu ra

Năng suất là làm việc thông minh hơn chứ không phải vất vả hơn

Nguồn nhân lực và khả năng tư duy của con người đóng vai trò quan trọng trong việc đạtnăng suất cao hơn và hành động là kết quả của quá trình tư duy Vốn và công nghệ là quantrọng nhưng chính con người với khả năng tư duy và kỹ năng cao là yếu tố quyết địnhnhất

Năng suất không chỉ là năng suất bộ phận như năng suất lao động, năng suất vốn, mà còn

là năng suất các nhân tố tổng hợp

Năng suất được coi là biểu hiện cho cả hiệu lực và hiệu quả trong sử dụng các nguồn lực

để đạt mục tiêu, vì năng suất cao nhưng không được lãng phí tài nguyên và hủy hoại môitrường, phải là năng suất xanh tức là năng suất được tạo ra trong các hệ thống sản xuấtsạch

Đặc biệt năng suất theo cách tiếp cận mới không đối lập mà đồng hướng, cùng tạo nênhiệu quả với chất lượng Chất lượng hóa các yếu tố và các quá trình là điều kiện để tăngnăng suất với tốc độ cao và ổn định, bền vững

Trang 23

Tóm lại, định nghĩa năng suất theo Eatwell năm 1991 thì năng suất là một tỷ lệ đo lườngsản lượng một số chỉ tiêu sử dụng đầu vào Tương tự như vậy, Shim và Siegel (1995) đãđịnh nghĩa về năng suất như một "sản lượng trên một đơn vị đầu vào làm việc" trong từđiển của họ về kinh tế hiện đại.

2.3.2 KHÁI NIỆM NĂNG SUẤT CÁC YẾU TỐ TỔNG HỢP (TFP)

Case (1996) đã định nghĩa năng suất là “sản lượng đầu ra chia cho 1 đơn vị đầu vào”, còn Tổ chức Năng suất Châu Á (APO) xác định “năng suất là một mối quan hệ giữa số

lượng đầu ra và số lượng đầu vào được sử dụng để tạo đầu ra”, hiểu khái quát nhất năng

suất là quan hệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào Để tăng thêm giá trị không chỉ sử dụnghợp lý, tiết kiệm đầu vào mà còn chú trọng chất lượng và tính hữu ích của đầu ra Năngsuất là làm việc thông minh hơn chứ không phải vất vả hơn Nguồn nhân lực và khả năng

tư duy của con người đóng vai trò quan trọng trong việc đạt năng suất cao hơn và hànhđộng là kết quả của quá trình tư duy Vốn và công nghệ là quan trọng nhưng chính conngười với khả năng tư duy và kỹ năng cao là yếu tố quyết định nhất Năng suất không chỉ

là năng suất bộ phận như năng suất lao động, năng suất vốn, mà còn là năng suất chung,năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP – Total factor productivity)

Trong nghiên cứu của Solow (1956) thì năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) là phần dưcủa hàm sản xuất, phần không giải thích được của các tỷ lệ tăng trưởng từ các yếu tố đầuvào vốn và lao động hay còn gọi là số dư Solow TFP được định nghĩa là “chênh lệch giữatăng trưởng sản lượng và tốc độ tăng trưởng của các đầu vào vốn và lao động (có trọng sốtheo tỷ phần của từng nhân tố trong tổng thu nhập) Do bản chất của nó là một số dư nêntrên thực tế, nó là “thước đo phần bỏ qua” Rõ ràng là nhiều nhân tố có thể tạo ra sựchuyển biến của hàm sản xuất như cải tiến kỹ thuật, thay đổi về thể chế…” (Trần ThọĐạt, 2010, trang 234)

Theo Edgman (1987) đã giải thích TFP kỹ hơn khái niệm của Solow khi cho rằng TFP làchỉ tiêu thể hiện hiệu quả tổng thể của nền kinh tế TFP không chỉ phụ thuộc vào sự thayđổi kỹ thuật mà còn thể hiện sự phân bổ các tài nguyên, chuyên cần của người lao động,

kỹ năng quản lý v.v Tương tự như vậy, Mankiw (1992) đã bổ sung TFP là một chỉ tiêu

Trang 24

nắm bắt toàn bộ sự thay đổi kỹ thuật và tất cả những yếu tố sản xuất khác làm gia tăngsản xuất như gia tăng kiến thức về sản xuất, giáo dục và quy định của chính phủ.

Và Ngân hàng Thế giới năm 1993 đã đưa ra định nghĩa chung nhất TFP bao gồm tiến bộ

và hiệu quả kỹ thuật; cải thiện kiến thức, kỹ năng nguồn nhân lực; mức tích lũy vốn chomỗi lao động; hiệu quả phân bổ tài nguyên như tái cấu trúc nền kinh tế, phục hồi kinh tế

và sự can thiệp chính phủ Và các đặc trưng của TFP theo Ngân hàng thế giới (1993) cũng

đã thay đổi Nó không còn là biến ngoại sinh trong mô hình Solow nữa TFP được nhấnmạnh trong các lý thuyết tăng trưởng mới là một biến nội sinh Bất kỳ sự thay đổi nào củaTFP sẽ tác động đến tăng trường kinh tế

Tóm lại, TFP là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụngvốn và lao động (các nhân tố hữu hình), nhờ vào tác động của các nhân tố vô hình như đổimới công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độ lao động của côngnhân,v.v

2.3.3 Ý NGHĨA

TFP phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực vào sản xuất, phản ảnh sự thay đổi côngnghệ, trình độ lành nghề của công nhân, trình độ quản lý

TFP phản ánh chất lượng của tăng trưởng, phản ánh tăng trưởng theo chiều sâu

Nâng cao TFP tức là nâng cao hơn kết quả sản xuất với cùng đầu vào Điều này là rấtquan trọng đối với người lao động, doanh nghiệp và toàn nền kinh tế Đối với người laođộng, nâng cao TFP sẽ có góp phần nâng lương, nâng thưởng, điều kiện lao động được cảithiện, công việc ổn định hơn Đối với doanh nghiệp thì có khả năng mở rộng tái sảnxuất.Còn đối với nền kinh tế sẽ nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế, nâng caophúc lợi xã hội

2.3.4 TỐC ĐỘ TĂNG TFP

Chỉ tiêu tốc độ tăng TFP (TFPG – total factor productivity growth) là tỉ lệ tăng lên của kếtquả sản xuất do nâng cao năng suất tổng hợp theo nguồn lực, nó phản ánh toàn diện vềchiều sâu của quá trình sản xuất kinh doanh, là một trong những chỉ tiêu chất lượng quantrọng nhất để đánh giá chất lượng tăng trưởng của một ngành, một lĩnh vực hay toàn bộ

Trang 25

nền kinh tế quốc dân.

Tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp phản ánh tốc độ tiến bộ khoa học công nghệ

là chỉ tiêu tổng hợp phản ảnh sự nhanh, chậm của tiến bộ khoa học công nghệ trong mộtthời gian nhất định

2.3.5 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI TĂNG TRƯỞNG TFP

Tăng trưởng TFP chịu tác động bởi nhiều nhân tố Có rất nhiều tài liệu nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động này, dựa trên các nghiên cứu vĩ mô, ngành và vi mô Romer (1990) đã cho rằng vốn con người mà ở đây cụ thể là trình độ học vấn có ảnh hưởng quan trọng đến TFP bởi vì vai trò của nó như một yếu tố quyết định khả năng của nền kinh tế để thực hiện đổi mới công nghệ và đặc biệt đối với các nước đang phát triển

để ứng dụng kỹ thuật của nước ngoài Yếu tố vốn con người có tác động đến TFP còn được thể hiện qua nghiên cứu của Black và Lynch (1996) đã chứng minh tầm quan trọng củachất lượng giáo dục cho năng suất trong cả lĩnh vực sản xuất và phi sản xuất

Sức khỏe, y tế cũng có tác động đến tăng trưởng TFP Cole và Neumayer (2003) nghiêncứu tác động của sức khỏe kém đến TFP, đóng góp của các tác giả là sức khỏe kém có ảnhhưởng tiêu cực đến năng suất tổng hợp xuyên quốc gia

Theo nghiên cứu của Bloom và Sachs (1998) cho giai đoạn 1965-1990, y tế và các biếnnhân khẩu học giải thích hơn 50 phần trăm của sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng giữachâu Phi và phần còn lại của thế giới Bloom và cộng sự (1999) cũng thấy rằng gánh nặngthấp về mặt sức khỏe và sự phụ thuộc đã giải thích một phần lớn của sự thành công củaĐông Á

Đổi mới và sáng tạo của tri thức có tác động tích cực đến TFP Guellec và vanPottelsberghe de la Potterie (2001) nghiên cứu mối quan hệ giữa R & D và tăng trưởngTFP ở mức độ tổng hợp của nền kinh tế trong 16 nước OECD từ năm 1980 đến năm

1998 Ba nguồn R & D được xem xét với 3 nguồn: nghiên cứu kinh doanh trong nước,công trình nghiên cứu (ví dụ các trường đại học ) và nghiên cứu kinh doanh được thực

Trang 26

hiện bởi các quốc gia khác Các nguồn đầu tiên và thứ ba dẫn đến hàng hóa và dịch vụmới, chất lượng đầu ra cao hơn và quy trình sản xuất mới , trong khi điều thứ hai tạo ra vàlàm tăng kiến thức cơ bản và khoa học Kết quả cho thấy tất cả ba nguồn R & D rất quantrọng cho sự tăng trưởng TFP, với nước ngoài có nguồn gốc từ R & D có ảnh hưởng lớnnhất.

Thương mại và FDI cũng có tác động gián tiếp đến TFP như các kênh quan trọng cho việcchuyển giao công nghệ, lan truyền kiến thức trong nền kinh tế [nghiên cứu của Mayer(2001), Griffith và cộng sự (2003)]

Hệ thống tài chính có ảnh hưởng đến TFP Trong nền kinh tế mà các hệ thống tài chínhđược phát triển tốt, cơ hội đầu tư có thể dễ dàng được tận dụng, các nguồn tài nguyên cónhiều khả năng được phân bổ tối ưu và chuyên môn được đẩy mạnh Nếu có khó khăn tàichính có thể ngăn chặn các nước nghèo tận dụng triệt để chuyển giao công nghệ; hay ápchế tài chính sẽ ngăn chặn động cơ để tiết kiệm từ đó làm méo mó việc phân bổ hiệu quảtiết kiệm vào đầu tư và gây tác động tiêu cực đối với tăng trưởng TFP [Fisman và Love(2004)]

Thể chế có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và là yếu tố quyết định sâu cótác động to lớn đến TFP Thể chế - thông qua các quyết định về chính sách như tạo dựngmôi trường đầu tư thông thoáng, mở cửa thương mại, phát triển sâu hệ thống tài chính, tạomôi trường khuyến khích học tập, đầu tư đổi mới công nghệ, chính trị ổn định…sẽ tạo ramôi trường ổn đinh cho phát triển kinh tế và tác động tích cực đến tăng trưởng TFP

Ngoài ra, theo các nghiên cứu vĩ mô, vi mô và nghiên cứu cấp độ ngành thì còn nhiều yếu

tố khác tác động đến TFP Năm 2007, tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm, Tổ chức Pháttriển Công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO) đã đưa ra bảng Báo cáo tổng hợp các nhân tốtác động đến TFP như vốn con người (giáo dục và y tế), cơ sở hạ tầng, nhập khẩu, thể chế,

mở cửa nền kinh tế, cạnh tranh, phát triển tài chính, địa lý, đổi mới và hoạt động R&D.Bảng báo cáo đã chia các nhân tố tác động đến tăng trưởng TFP thành 4 nhóm bao gồm:

Trang 27

(1) Sáng tạo, truyền tải và hấp thụ tri thức(2) Cung cấp các yếu tố và phân bổ hiệu quả(3) Thể chế, hội nhập và yếu tố bất biến (địa lý)(4) Cạnh tranh, quy mô xã hội và môi trường.

Tất nhiên việc chia nhóm này chỉ mang tính chất tương đối bởi quan hệ tác động qua lạigián tiếp giữa các nhân tố với nhau

(1) Sáng tạo, truyền tải và hấp thụ tri thức

Sáng tạo, truyền tải và hấp thụ tri thức ở đây bao gồm:

Đổi mới và sáng tạo (hoạt động R&D): Một hệ thống đổi mới và sáng tạo củakiến thức có hiệu quả là rất quan trọng cho tăng trưởng TFP Vai trò chính củamột hệ thống đổi mới là thúc đẩy hoạt động R&D, lần lượt dẫn đến sản phẩmmới, quy trình mới và kiến thức mới R&D thường có 2 khía cạnh: đầu tiên làđổi mới, thứ hai là tạo thuận lợi cho sự hiểu biết và bắt chước những khám phácủa người khác R&D có thể diễn ra ở tại công ty hoặc cấp ngành công nghiệp,nhưng cuối cùng sẽ thúc đẩy phát triển tổng thể kinh tế thông qua nâng caonăng suất R&D có 2 kênh: trong nước và từ sự lan tỏa quốc tế Và các lýthuyết cho rằng cả 2 kênh của R&D rất quan trọng cho sự tăng trưởng TFP.Chuyển giao công nghệ: chuyển giao công nghệ ở đây bao gồm FDI và thươngmại Vốn FDI được xem như một kênh quan trọng cho việc chuyển giao tiến bộcông nghệ và là hình thức tổ chức cao cấp từ các nước công nghiệp sang cácnước phát triển Vốn FDI được cho là tạo ra ngoại tác tích cực trong các hìnhthức lan truyền kiến thức cho nền kinh tế trong nước thông qua liên kết giữanhà cung cấp và khách hàng địa phương, các công ty trong nước học hỏi từ cáccông ty nước ngoài gần đó và các chương trình đào tạo nhân viên Cải cáchthương mại cũng quan trọng đối với tăng cường tiếp cận với nguồn vốn nướcngoài, có tác động gián tiếp đến TFP Tóm lại, FDI và cải cách thương mại là

Trang 28

quan trọng đối với chuyển giao công nghệ nhưng mà mức độ ý nghĩa của nóphụ thuộc vào khả năng hấp thụ của bên tiếp nhận.

Khả năng hấp thụ và áp dụng công nghệ: phụ thuộc vào trình độ học vấn, ở đây

là tích lũy vốn con người Một dân số được giáo dục tốt hơn sẽ có một vị trí tốthơn để học hỏi và tiếp thu kiến thức Vốn con người và hoạt động R&D làphương tiện quan trọng của việc tăng khả năng hấp thu công nghệ của mộtquốc gia Các công cụ khác có thể bổ trợ là công nghệ thông tin và truyềnthông

Tóm lại, kiến thức là quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và rằng nó hoạtđộng thông qua các khía cạnh khác nhau của tăng trưởng TFP Các kết quả trêncho thấy một mối quan hệ lâu dài giữa TFP và hoạt động R&D Cũng có một sốbằng chứng cho thấy số lượng các nước tiên tiến đã tăng lên theo thời gian

(2) Cung cấp các yếu tố và phân bổ hiệu quả

Giáo dục và đào tạo: Một dân số được giáo dục và đào tạo tốt sẽ giúp xã hộităng khả năng tiếp thu và áp dụng công nghệ có liên quan Trình độ học vấn cótác dụng quan trọng trên TFP bởi vì vai trò của nó như là một yếu tố quyết địnhkhả năng của nền kinh tế để thực hiện đổi mới công nghệ

Y tế (sức khỏe): Sức khỏa ảnh hưởng đến TFP trực tiếp thông qua thu nhập vàtài sản gia đình và gián tiếp thông qua năng suất lao động, tiết kiệm và đầu tư.Người lao động có sức khỏe tốt hơn sẽ tham gia sản xuất tốt hơn Sức khỏe tốt,

tỷ lệ tử vong thấp dẫn đến động cơ để tiết kiệm tăng và dẫn đến tăng trưởngTFP cao hơn Các nhà đầu tư sẽ không nhận thấy tiềm năng vào môi trường đầu

tư nếu như người lao động có một gánh năng bệnh tật tương đối cao Ngoài ra,

tỷ lệ đi học cao hơn nếu trẻ em được khỏe mạnh và có khả năng nhận thức tốthơn

Cơ sở hạ tầng: Đầu tư công thể hiện thông qua cơ sở hạ tầng chiếm 1 tỷ lệ lớnngân sách của nhiều quốc gia Vai trò của cơ sở hạ tầng để mở rộng năng lực

Trang 29

sản xuất bằng cách gia tăng nguồn lực và nâng cao năng suất của vốn tư nhân.

Đã có bằng chứng thực nghiệm rằng cải thiện cơ sợ hạ tầng vật lý (đường,nước, hệ thống xử lý nước thải, cung cấp điện) có tương quan với năng suất[Aschauer, 1989] Do đó quản lý vốn công là rất quan trọng, điều đó cho thấyvai trò quan trọng của thể chế trong việc thực thi chính sách, quản lý và sửdụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư công

Thay đổi cấu trúc và phân bổ lại nguồn lực: Thay đổi cơ cấu để tạo ra một cơcấu sản xuất linh hoạt là một yếu tố quan trọng trong tăng trưởng năng suất bởi

vì nó cho phép nền kinh tế nhanh chóng phân phối lại các nguồn lực để tậndụng tối ưu thay đổi mô hình của tiến bộ công nghệ, và thay đổi cô cấu cungcấp một động lực quan trọng cho tăng trưởng

Hệ thống tài chính: Hệ thống tài chính có ảnh hưởng đến TFP Trong nền kinh

tế mà các hệ thống tài chính được phát triển tốt, cơ hội đầu tư có thể dễ dàngđược tận dụng, các nguồn tài nguyên có nhiều khả năng được phân bổ tối ưu vàchuyên môn được đẩy mạnh Nếu có khó khăn tài chính có thể ngăn chặn cácnước nghèo tận dụng triệt để chuyển giao công nghệ; hay áp chế tài chính sẽngăn chặn động cơ để tiết kiệm từ đó làm méo mó việc phân bổ hiệu quả tiếtkiệm vào đầu tư và gây tác động tiêu cực đối với tăng trưởng TFP

(3) Thể chế, hội nhập và yếu tố bất biến (địa lý)

Hội nhập: hội nhập ở đây chủ yếu là tự do hóa thương mại Thương mại có tácdụng quan trọng đến tăng trưởng cũng như ảnh hưởng đáng kể đến năng suấttổng thể Thông qua thương mại, các hàng hóa được giao dịch nhất định sẽ cónhiều hàm lượng công nghệ hữu ích, công nghệ được khuyến tán từ các nướccông nghiệp đến các nước kém phát triển

Thể chế: Thể chế có vai trò quan trọng khi tạo ra môi trường và các chính sáchdẫn đến sự thịnh vượng của nền kinh tế Chất lượng thể chế có tác động tíchcực mạnh mẽ về năng suất

Trang 30

Địa lý: Trong một nghiên cứu rất thú vị, Gallup và Sachs (1998) đã điều tra vaitrò của địa lý, các quốc gia có bờ biển sẽ có quan trọng về thương mại và TFP,cũng như các thành phố dọc theo bờ biển có xu hướng có động cơ tăng trưởngtrong nền kinh tế Khu vực kém địa lý như khí hậu khắc nghiệt, dịch bệnh rõràng ảnh hưởng đến khả năng tận hưởng thành quả của chuyển giao công nghệ

và điều này rõ ràng ảnh hưởng đến TFP

(4) Cạnh tranh, quy mô xã hội và môi trường

Cạnh tranh thúc đẩy tăng trưởng Tăng tính cạnh tranh, các doanh nghiệp sẽ cốgắng tối đa hóa lợi nhuận và có động cơ để gia tăng đầu tư, tái cấu trúc, hợp lýhóa sản xuất, nâng cao năng lực quản lý và đầu tư phát triển công nghệ Cònquy mô xã hội chủ yếu là phân phối thu nhập và sự thịnh vượng trong một nềnkinh tế mà còn ở mức độ can thiệp chính sách xã hội, gián tiếp ảnh hưởng đếntăng trưởng TFP thông qua sức khỏe và giáo dục

2.4MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

Dựa trên các lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển và lý thuyết tăng trưởng nội sinh, trên thếgiới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về đóng góp của các yếu tố sản xuấtTFP đến tăng trưởng kinh tế trong nhiều giai đoạn

Christensen, Cummings và Jorgenson (1980) đã thực hiện việc này ở một số nước OECD(trước thời kỳ giảm tăng trưởng năng suất) Dougherty (1991) thực hiện ở các nướcOECD nhưng bao gồm cả thời kỳ giảm tăng trưởng năng suất Bảng 2.1 tổng kết nhữngkết quả này

Trang 31

Bảng 2.1 Tăng trưởng ở các nước OECD

Nguồn: Christensen, Cummings và Jorgenson (1980) và Dougherty (1991)

Từ Bảng 2.1 cho thấy, các nước khác nhau và thời gian tính toán khác nhau sẽ cho kết quảkhác nhau Các kết luận của nghiên cứu cho thấy: sự đóng góp của TFP đối với tăng

Trang 32

trưởng thu nhập thực tế quan trọng hơn nhiều so với đóng góp của các yếu tố đầu vào vốn

và lao động”

Dennison (1985) đã nhận thấy rằng chỉ khoảng 25% tăng trưởng thu nhập trên đầu người

ở Hoa kỳ từ năm 1929 – 1982 là do tăng tỷ số vốn – lao động, phần còn lại chủ yếu là do tiến bộ công nghệ

Krugman (1994) trong bài “Thần Kỳ Châu Á” đã lập luận rằng tăng trưởng kinh tế ởChâu Á chủ yếu là đóng góp của các nhân tố sản xuất còn đóng góp của thay đổi côngnghệ là rất ít Nghiên cứu của Krugman cho thấy rằng tăng trưởng của Singapore và Liên

Xô thực chất là như nhau trong đó cả hai cùng dựa trên lượng đầu tư khổng lồ mà rất ítdựa vào thay đổi công nghệ

Và tiếp sau đó, Jong II Kim và Lawrence (1996) đã đưa ra lập luận đầy tranh cải rằngmức tích lũy vốn nhanh là tất cả những gì mà người ta nói về thần kỳ Đông á, chứ khôngphải là công nghệ Theo ước lượng của họ, tổng tăng trưởng năng suất các yếu tố được thểhiện bởi phần sản lượng tăng thêm mà không được giải thích bởi sự gia tăng của vốn hoặclao động thì không đáng kể ở các nước Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan

Trái với những kết luận của Krugman, Noriyoshi (2002) trong bài tổng hợp phân tích tăngtrưởng TFP của 12 quốc gia Châu Á (Ấn Độ, Indonesia, Iran, Nhật Bản, Hàn Quốc,Malaysia, Nepal, Philippine, Singapo, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam) trích trong Báocáo khảo sát tăng trưởng TFP của Tổ chúc Năng suất Châu Á đã kết luận rằng tăng trưởngTFP đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế ở các nước này như đóng góp TFPtrong tăng trưởng Nhật Bản là 94%, Việt Nam là 51% và nghiên cứu kết luận cải thiệnchất lượng lao động đóng góp nhiều vào tăng trưởng kinh tế của nhiều nước

Và trong một nghiên cứu nổi tiếng, dựa trên phương pháp luận như đã trình bày ở trên,Young (1995) đã lập luận rằng: trong ba thập kỷ trước đó, tốc độ tăng trưởng cao củaHồng Kông, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan có được là nhờ gia tăng đầu tư, tăng tỷ lệtham gia lực lượng lao động và tăng chất lượng lao động chứ không nhờ tiến bộ côngnghệ nhanh hay các lực lượng khác tác động tới số dư Solow Cụ thể, Young đã ước

Trang 33

lượng được tốc độ tăng trưởng của TFP ở các nước náy rất thấp so với các nước côngnghiệp Vì vậy, theo quan điểm của Young, không có gì thần kỳ trong sự tăng trưởng ởĐông á Kết luận này càng được củng cố bởi nghiên cứu của Susan M.Collins và BarryP.Bosworth (1996) Trong giai đoạn 1960 -1994, họ ước lượng được rằng tốc độ tăngtrưởng trung bình của sản lượng bình quân lao động ở Đông Á là 4.2% trong đó 1.1%được quy về đóng góp của tăng trưởng TFP và có tới 2.5% quy về tốc độ tích lũy vốn vậtchất bình quân lao động cao (Bảng 2.2)

Bảng 2.2 Tăng trưởng 1960 -1994

IndonesiaHàn QuốcMalaysiaPhilippineSingaporeThái LanĐài LoanĐông ÁNam ÁChâu PhiTrung Đông

Mỹ Latin

Trang 35

Một số tác giả [như Howard Pack và John page (1994), và Michael Sarel (1997)] nghingờ sự tin cậy trong tính toán của Young và cho rằng tăng trưởng TFP ở Đông Á phải caohơn những gì Young trình bày Phân tích của Sarel tập trung vào 5 nước Đông Á:Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan (trong tương quan so sánh vớiMỹ) trong thời kỳ 1978 – 1996.

Theo Sarel (1997), tỷ phần của vốn ước lượng được nằm trong khoảng 0.28 cho Thái Lanđến 0.34 cho Singapore

Ngược lại, Young (1995) thu được tỷ phần của vốn bằng 0.5 đối với Singapore

Kết quả của Sarel được tóm tắt trong bảng 2.3

Bảng 2.3 Tăng trưởng Đông Á, 1978 – 1996

Trang 37

Kết luận của phần đánh giá tổng quan các nghiên cứu cho thấy, kinh nghiệm của các nướccông nghiệp với tích lũy vốn vật chất là nguồn gốc quan trọng của tăng trưởng trong cácgiai đoạn đầu của quá trình phát triển; một khi nền kinh tế đã đạt tới một mức thâm dụngvốn cao tương đối thì tiến bộ công nghệ có xu hướng trở thành lực lượng chủ yếu chi phốităng trưởng kinh tế.

Ở Việt Nam có một số nghiên cứu trong nước đáng chú ý như các nghiên cứu TFP trongcác ngành dệt may và nông nghiệp Tuy nhiên, đây mới là các nghiên cứu ở mức khuvực.Đối với nghiên cứu tổng thể nền kinh tế, nghiên cứu của Trần Thọ Đạt (2002) là mộttrong những nỗ lực đầu tiên trong việc xác định các nguồn tăng trưởng và các nhân tốquyết định tăng trưởng TFP ở Việt Nam.Công trình nghiên cứu trên đã sử dụng số liệu từTổng cục Thống kê và Bộ lao động , thương binh xã hội để đo tổng sản lượng và lao độngtrong thời kỳ 1986-2002 Mức vốn trong thời kỳ này được xác định theo phương phápkiểm kê liên tục, với tỷ lệ khấu hao cố định 5% cho vốn cố định và 10% cho vốn lưu độngchỉ ra yếu tố TFP đã đóng góp khá cao trong tốc độ tăng trưởng GDP cho Việt Nam giaiđoạn 1986-2000

Nguyễn Thị Tuệ Anh và Lê Xuân Bá (2005) trong bài nghiên cứu “Chất lượng tăngtrưởng kinh tế – Một số đánh giá ban đầu cho Việt Nam ” đã sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas cho thấy tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990-2004 với kết luậnrằng vốn vật chất, vốn con người và lao động là những nguồn lực chính đóng góp vàotăng trưởng kinh tế còn đóng góp TFP là còn thấp Trong đó đóng góp của vốn con ngườitương đối cao Nghiên cứu đưa yếu tố vốn con người vào phân tích tăng trưởng sẽ chomột cái nhìn tốt hơn về các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, việc đưayếu tố này vào mô hình tính toán tăng trưởng sẽ làm giảm sự đóng góp của tổng năng suấtyếu tố TFP

Cù Chí Lợi (2008) đă sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas để xem xét mối tương quangiữa gia tăng về vốn, lao động và tăng trưởng đầu ra Nghiên cứu sử dụng yếu tố vốn làtổng vốn đầu tư của nền kinh tế Kết quả của nghiên cứu này cho thấy vai trò của yếu tố

Trang 38

TFP trong tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn vừa qua là khá thấp [khoảng 6% giaiđoạn 1990-2006 và 9,6% (giai đoạn 2001-2006)] Và việc gia tăng về vốn và lao động lànhững động lực chủ yếu đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Ưu điểm củanghiên cứu trên là đã bốc tách được một cách tương đối sự đóng góp của các yếu tố sảnxuất vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn vừa qua.

Theo Nguyễn Thị Cành năm 2009 đã sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas ước lượng tỷphần thu nhập của vốn và lao động thông qua ước lượng hệ số mũ Kết quả bài nghiêncứu cho thấy trong 1% lên của GDP thì đóng góp của yếu tố vốn là 73%, lao động là2.5% và của TFP là 24.5% Như vậy, vốn đóng góp phần lớn vào tăng trưởng kinh tế ViệtNam giai đoạn 1990 – 2008

Đặng Hoàng Thống và Võ Thành Danh trong bài viết 2011 “Phân tích các yếu tố tác độngđến tăng trưởng của thành phố Cần Thơ: cách tiếp cận Tổng năng suất các yếu tố”, kếtquả cho thấy trong giai đoạn 2001 – 2003 thì mức tăng trưởng của vốn luôn ở mức cao và

là yếu tố đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế tỉnh, trong khi yếu tố lao độngđóng góp rất nhỏ và TFP không đóng vai trò đáng kể Tuy nhiên, giai đoạn 2004 -2007 thì

sự đóng góp của vốn giảm và đóng góp TFP tăng đáng kể

Các nghiên cứu của các tác giả chủ yếu dựa trên các lý thuyết tăng trưởng và chủ yếu sửdụng hàm sản xuất Cobb-Douglas để đánh giá đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tếcủa quốc gia hay địa phương

Trang 39

bổ lại nguồn lực

Hệ thống tài chính

Laođộng

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Hình 2.1 Khung lý thuyết

Trang 40

Kết luận

Ngay từ khi ra đời, mô hình tăng trưởng tân cổ điển đã gây ra một tiếng vang lớn, bởi đâythực sự là mô hình tương đối hoàn chỉnh đầu tiên về tăng trưởng kinh tế Mô hình đã giảithích tăng trưởng của các kinh tế ngoài yếu tố vốn và lao động thì còn đóng góp của tiến

bộ công nghệ Đó rõ ràng là một kết quả tiến bộ tại thời điểm đó Nhưng sau đó, giải thíchnày không đủ mạnh để đáp ứng các nhà kinh tế và dẫn đến tranh cải trong nhiều thậpkỷ.Cùng với sự cải tiến của các lý thuyết phát triển, khái niệm TFP đã mở rộng vai trò của

nó Trong lý thuyết tăng trưởng mới, TFP trở thành biến nội sinh và được bổ sung thêmcác đặc tính Đó không chỉ là tiến bộ công nghệ mà còn là một ý tưởng mới, kiến thứcmới, phát triểnchất lượng lao động, cải tiến quản lý, giáo dục đào tạo…Nói cách khác,biến nội sinh này bao gồm tất cả các yếu tố có thể dẫn đến đổi mới công nghệ Do đó, đểphát triển kinh tế theo chiều sâu thì sự đóng góp của TFP vào tăng trưởng là quan trọngtrong phát triển dài hạn, đặc biệt đối với VKTTĐPN Việc phân tích đóng góp của TFPđược nghiên cứu thực hiện trong các chương tiếp theo

Ngày đăng: 10/10/2020, 11:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w