CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỬA TIỀN VÀ PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 1.1 Những vấn đề cơ bản về rửa tiền1.1.1 Khái niệm rửa tiền - Theo Liên Hợp Quốc, dựa vào công ướ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-NGUYỄN NGỌC LOAN
GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN QUA
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN HUY HOÀNG
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa công
bố tại bất cứ nơi nào Luận văn được hoàn thành sau quá trình học tập, nghiên cứuthực tiễn, kinh nghiệm bản thân và dưới sự tận tình hướng dẫn của PGS - TS TrầnHuy Hoàng
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình
TP Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Loan
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô Trường Đại học Kinh tế TP Hồ ChíMinh đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốtthời gian tôi học tập tại trường
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS – TS Trần Huy Hoàng, người đãhướng dẫn cho tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả
Nguyễn Ngọc Loan
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu
Danh mục các hình vẽ
Lời mở đầu
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỬA TIỀN VÀ PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
1.1 Những vấn đề cơ bản về rửa tiền
1.1.1 Khái niệm rửa tiền
1.1.2 Các hình thức rửa tiền
1.1.3 Chu trình rửa tiền
1.2 Ảnh hưởng của rửa tiền đối với nền kinh tế
1.3 Hoạt động rửa tiền qua hệ thống ngân hàng
1.3.1 Khái niệm rửa tiền qua hệ thống ngân hàng
1.3.2 Các dấu hiệu nhận biết rửa tiền qua hệ thống ngân hàng
1.3.3 Nội dung phòng chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng
1.4 Các tổ chức tham gia phòng chống rửa tiền trên phạm vi quốc tế
1.5 Hoạt động phòng chống rửa tiền trên thế giới
Trang 51.5.1 Hoạt động phòng chống rửa tiền ở Mỹ 22
1.5.2 Hoạt động phòng chống rửa tiền ở Anh 25
1.5.3 Hoạt động phòng chống rửa tiền ở một số nước khác 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 27
2.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam 27
2.2 Tổ chức thực hiện phòng chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam……… 29
2.3 Thực trạng hoạt động rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam 31
2.4.1 Những kết quả đã đạt được 33
2.4.2 Những tồn tại, hạn chế 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 45
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM 47
3.1 Giải pháp về phía Nhà nước 47
3.2 Các giải pháp về phía NHNN: 51
3.3 Các giải pháp về phía NHTM 52
3.3.1 Các giải pháp liên quan đến nguồn nhân lực 52
3.3.2 Giải pháp về cơ chế vận hành, quản trị hệ thống 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 66
KẾT LUẬN 67
Trang 6PHỤ LỤC 1 70 PHỤ LỤC 2 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
AML (Anti – Money Laundering): chống rửa tiền
AMLO (Anti – Money Laundering Office) hay AMLC (Anti – Money Laundering
Council): Cơ quan chuyên trách chống rửa tiền
APG (Asia Pacific Group): Nhóm Châu Á – Thái Bình Dương
CDD (Customer Due Diligence): yêu cầu chú ý xác đáng khách hàng
FATF (Financial Action Task Force): Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa
tiền
FIU (Financial Intelligence Unit): đơn vị tình báo tài chính
GPML (Global Programme against Money – Laundering): chương trình toàn cầu
về chống rửa tiền
IMF (International Moneytary Fund): Quỹ tiền tệ quốc tế
KYC (Know your customer): Biết về khách hàng của mình
ODC (Office on Drugs anh Crime): Văn phòng Ma túy và Tội Phạm
UNODC (United Nations Office on Drugs anh Crime): Cơ quan phòng chống ma
túy và tội phạm của Liên Hợp Quốc
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
CSTT: chính sách tiền tệ
G7: Nhóm 7 nước công nghiệp hàng đầu của thế giới bao gồm Pháp, Đức, Ý, Nhật,
Anh, Hoa Kỳ, Canada
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1: Những ngân hàng bị chính phủ Mỹ cáo buộc liên quan đến rửa tiền với số tiền phạt lớn nhất 24 Bảng 2.1: Kết quả tiếp nhận, phân tích báo cáo giao dịch đáng ngờ 32 Bảng 2.2: Số lượng báo cáo giao dịch đáng ngờ được Cục PCRT thu thập từ năm 2006 – 2012 (số báo cáo) 33 Bảng 3.1 Các dấu hiệu định lượng 55 Bảng 3.2 Các dấu hiệu định tính 58 Biểu đồ 1.1: Số trường hợp bị kết án về tội rửa tiền từ năm 2006 – 2011 ở Mỹ 24 Biểu đồ 2.1: Lượng kiều hối chuyển về Việt Nam giai đoạn 2006 – 2012 (Tỷ USD). 40 Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán 43
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Chu trình rửa tiền 8 Hình 2.1: Quy trình phòng chống rửa tiền tại Vietcombank 30
Trang 11Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động rửa tiền thường gắn liền với hoạt động tội phạm ở các quốc gia nhằm cheđậy nguồn gốc bất hợp pháp của nguồn thu nhập có được từ hoạt động phạm tội Rửatiền không chỉ ảnh hưởng xấu đến uy tín của quốc gia mà còn tác động đến cơ cấuchính trị, tác động đến tính hiệu quả của thị trường tài chính, tác động đến môi trườngđầu tư…Vì vậy, kiểm soát được hoạt động rửa tiền là một trong những cách thức bảo
vệ hữu hiệu nhất cho nền kinh tế xã hội chính trị của mỗi quốc gia Ngày nay cùng vớiquá trình toàn cầu hóa và sự phát triển liên tục của công nghệ thông tin, hành vi rửatiền ngày càng lớn về mặt quy mô, đa dạng, tinh vi về cách thức tiến hành Ngân hàng
và tổ chức tài chính có thể vô tình trở thành trung gian cho việc chuyển những khoảntiền thu được từ hoạt động phạm tội, cung ứng cho bọn tội phạm dịch vụ bảo quản tiềnmột cách thuận lợi và an toàn Đặc biệt, khi các trung tâm tiền tệ hàng đầu thế giớiđang nỗ lực chống lại hoạt động rửa tiền thì tội phạm rửa tiền có xu hướng chuyển hoạtđộng rửa tiền sang các quốc gia mới nổi, có hệ thống tài chính ngân hàng lỏng lẻo, sơkhai trong đó có Việt Nam Công tác phòng chống rửa tiền tại các NHTM Việt Nammới được chú ý trong những năm gần đây nhưng vẫn thiếu sự hỗ trợ của các qui địnhpháp luật, các công cụ cũng như nguồn lực cần thiết Với mong muốn đóng góp ý kiếnvào công cuộc phòng chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam, đề tài “GIẢIPHÁP PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM”được chọn để nghiên cứu
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về hoạt động rửa tiền
- Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết kết hợp với thực trạng của hoạt động rửa tiềntrên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng để đánh giá những kết quả đã đạt
Trang 12được, những tồn tại và hạn chế của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong hoạt động chống rửa tiền.
- Đề xuất giải pháp để phòng chống hoạt động rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: PCRT qua hệ thống ngân hàng Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: chỉ xem xét ở góc độ hoạt động rửa tiền qua hệ thống ngânhàng Việt Nam Khung thời gian thu thập số liệu trong nghiên cứu: từ 2006 – 2012
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính
5. Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu theo 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về rửa tiền và phòng chống rửa tiền qua ngân hàng.Chương 2: Thực trạng hoạt động phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam trong thời gian qua
Chương 3: Giải pháp phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỬA TIỀN VÀ PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 1.1 Những vấn đề cơ bản về rửa tiền
1.1.1 Khái niệm rửa tiền
- Theo Liên Hợp Quốc, dựa vào công ước Vienna (1988) và công ước Palermo
(2000), khái niệm rửa tiền được nhiều quốc gia đồng thuận nhất là: Việc sử dụng (nghĩa
là bất cứ hình thức nào của cả hành động cho và nhận) bất cứ tài sản nào mà nó được cho là có nguồn gốc từ hoạt động hoàn toàn hay một phần của phạm tội mà có hoặc từ hoạt động che đậy, trá hình nhằm giúp đỡ người phạm tội đó thoát khỏi pháp luật.
- Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB): “Rửa tiền” là quá trình chuyển
đổi
qua nhiều giai đoạn khoản tiền kiếm được từ những hoạt động bất hợp pháp hoặc tội phạm để nó có vẻ được phát sinh từ các quỹ hợp pháp.
- Theo quan điểm của các nhà tội phạm học, “rửa tiền” là hoạt động mà bọn tội
phạm tiến hành để che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của những đồng tiền tội lỗi Hoạt
động rửa tiền là hành vi hợp thức hoá những khoản tiền thu được từ hoạt động tộiphạm Mục đích của hoạt động rửa tiền là tạo ra một khoảng cách xa nhất giữa tài sảnbất hợp pháp và chủ sở hữu những tài sản đó Hình thức biểu hiện lợi nhuận có đượcban đầu thông thường là “tiền”, nhưng sau các giai đoạn chuyển đổi để hợp pháp hoá
“tiền” đã có các hình thức biểu hiện khác như: ngân phiếu, thẻ tín dụng, bất động sản Nhìn chung các hình thức biểu hiện lợi nhuận của hoạt động rửa tiền bao gồm nhữnglợi ích kinh tế của hoạt động rửa tiền mang lại được quy là “sản phẩm của tội phạm”(Theo Công ước Strasbong 1990 của Hội đồng Châu Âu)
- Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền ( FATF) đã định nghĩa hoạt động “rửa tiền” là:
Việc giúp đỡ các đối tượng phạm pháp lẫn tránh sự trừng phạt của pháp luật;
Việc cố ý che giấu nguồn gốc, bản chất, việc cất giấu, di chuyển hay chuyển quyền sở hữu tài sản phạm pháp;
Việc cố ý mua, sở hữu hay sử dụng tài sản phạm pháp
Trang 14- Luật phòng, chống rửa tiền đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam khóa XVIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/06/2012, hiệu lực từ
01/01/2013 giải thích thuật ngữ “rửa tiền” như sau: “ Rửa tiền là hành vi của cá nhân,
tổ chức nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có, bao gồm:
a) Hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự;
b) Trợ giúp cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến tội phạm nhằm trốn tránh trách nhiệm pháp lý bằng việc hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có;
c) Chiếm hữu tài sản nếu tại thời điểm nhận tài sản đã biết rõ tài sản đó
do phạm tội mà có, nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản”
- Đối tượng hoạt động rửa tiền bao gồm những cá nhân và pháp nhân tham giavào quá trình “rửa tiền” với mong muốn hợp pháp hoá tiền và tài sản có được từ hoạtđộng tội phạm và sử dụng tài sản đó Chủ sở hữu những khoản tiền cần tẩy rửa baogồm những cá nhân và tổ chức đã thực hiện các hành vi tội phạm như:
Buôn bán ma tuý, vũ khí, mại dâm, làm tiền giả, tổ chức đánh bạc
Tham nhũng, nhận hối lộ hoặc lợi dụng chức vụ, địa vị trong bộ máy nhà nước
để biết trước các chủ trương, chính sách quy hoạch để trục lợi cá nhân
Mua bán nội gián trên thị trường chứng khoán
Trốn thuế hoặc do hoạt động chuyển giá giữa các công ty thuộc cùng một tập đoàn hoặc công ty mẹ - con
Ở một số nước có hệ thống chống rửa tiền nghiêm khắc và hoàn chỉnh như Mỹ
và cộng đồng Châu Âu thì đối tượng hoạt động rửa tiền khá rộng Ngoài những cánhân, pháp nhân có hành vi rửa tiền một cách trực tiếp, nhân viên ngân hàng vô ý hay
cố ý tiếp tay cho hành vi rửa tiền qua ngân hàng đều phải chịu trách nhiệm trước phápluật Vì vậy, luật Ngân hàng các nước này quy định: Mọi nhân viên ngân hàng khi tiếpnhận các khoản tiền gửi lớn đều phải có nghĩa vụ yêu cầu khách hàng khai báo nguồngốc tiền, chủ sở hữu thực phục vụ thông tin phòng chống rửa tiền Nhân viên nàokhông thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trên, nếu phát hiện ra các khoản tiền bất hợppháp, cơ quan pháp luật hoàn toàn có thể truy tố họ về một trong các tội rửa tiền vì mấtcảnh giác, không thực hiện nghĩa vụ quy định cho dù họ cho rằng, họ không biết đây là
Trang 15tiền có nguồn gốc tội phạm và như vậy, họ cũng bị quy kết tham gia vào quá trình rửatiền.
Hệ thống luật pháp phòng chống rửa tiền ở những nước khác nhau có những quyđịnh khác nhau về loại tội phạm này Có quốc gia chỉ rõ những hành vi phạm tội cụ thểnhư: Pháp luật Malaysia liệt kê 18 tội danh, Thái Lan 24 tội danh, Australia 180 tộidanh, Có quốc gia (như ở Việt Nam) không xác định rõ nguồn tiền được sinh ra từhành vi phạm tội nào cụ thể, miễn đó là thu nhập từ hành vi phạm tội
- Tội phạm nguồn của tội rửa tiền là hành vi phạm tội chính, từ đó đã tạo ranhững đồng tiền mà khi đã được rửa thì sẽ dẫn tới hành vi phạm tội rửa tiền
Hoạt động rửa tiền, bề ngoài có vẻ như vô hại nhưng kì thực là loại hoạt động có
tổ chức và vô cùng nguy hiểm Rửa tiền vừa là công cụ vừa là động lực của các tổ chứctội phạm Khi tiền bẩn được đem rửa thì có nghĩa trước đó đã xảy ra các hoạt độngphạm pháp Tiền có rửa được thì bọn tội phạm mới tồn tại được và càng lao vào phạmtội để kiếm tiền bất hợp pháp Rửa tiền là khâu cuối cùng và quan trọng nhất trongnhững hoạt động phạm pháp nhằm đem lại những tài khoản kếch xù
1.1.2 Các hình thức rửa tiền
Theo phạm vi thực hiện, thì hình thức rửa tiền thể hiện dưới 5 trường hợp:
- Trường hợp 1: “tiền bẩn” được rửa và sử dụng ngay trong nước Đây là quátrình rửa tiền trong đó số tiền bất hợp pháp thu được, được rửa cũng như được tái đầu
tư qua hệ thống tài chính nước đó
- Trường hợp 2: “tiền bẩn” có nguồn gốc trong nước, sau đó chuyển ra nướcngoài để tẩy rửa trong hệ thống tài chính khác và cuối cùng đem trở lại lưu thông ở thị trường trong nước
- Trường hợp 3: “tiền bẩn” được hình thành ở nước ngoài, được tẩy rửa ở nước đóhay nước khác và cuối cùng được đầu tư cho các nước đang phát triển
- Trường hợp 4: “tiền bẩn” được rửa và rút ra khỏi hệ thống tài chính của mộtnước đang phát triển để sử dụng ở nước khác, không quay lại đầu tư cho nước đó
- Trường hợp 5: “tiền bẩn” được chuyển vào một quốc gia đang phát triển nhưng
không phải để đầu tư mà được lưu thông tản mạn, tiêu thụ khắp nơi
Theo nội dung hoạt động, rửa tiền biểu hiện thông qua một số hình thức sau đây:
Trang 16- Thông qua các giao dịch trực tiếp bằng tiền mặt: đổi từ đồng tiền nước này sang
đồng tiền nước khác để tiêu thụ
- Thông qua việc mua tài sản: vàng, bạc, kim cương… là những tài sản gọn nhẹ,
có giá trị cao và thực hiện mua đi bán lại các tài sản này
- Thông qua sổ tiết kiệm của người lao động ngụ cư ở nước ngoài: bọn tội phạmthường lợi dụng người lao động nước ngoài, cho họ một ít hoa hồng và yêu cầu họ gửi một số tiền dưới mức kiểm soát của nước đó đến một tài khoản cụ thể
- Thông qua các trung tâm giải trí, sòng bạc, xổ số, cá cược: Đây là những lĩnhvực kinh doanh có tỉ lệ thanh toán tiền mặt cao Lợi dụng các casino, sòng bạc này, bọntội phạm tổ chức đánh bạc, việc thắng thua không quan trọng, cái chính là sau khi rakhỏi đây, chúng có giấy chứng nhận đã thắng với một khoản tiền lớn của các ông chủCasino Hoặc chúng có thể tìm mua những vé xổ số, cá cược trúng thưởng có giá trịlớn để chứng minh cho nguồn thu nhập của mình là hợp pháp
- Thông qua các hợp đồng thương mại: bọn tội phạm khai tăng số lượng hàng hóa
trong hóa đơn mua bán hoặc lợi dụng các công ty kinh doanh hàng hóa thật nhưngkhông bán hàng hoặc bán rất ít so với hóa đơn Những hóa đơn chứng từ đó, chứngminh cho thu nhập của chúng có được là nhờ hoạt động kinh doanh
- Thông qua đầu tư nước ngoài: Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cácquốc gia đang phát triển tăng cường kêu gọi đầu tư nước ngoài, tạo hành lang pháp líthông thoáng cho nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư trong nước Đây là điều kiện thuậnlợi cho hoạt động rửa tiền Chúng mang tiền vào thuê quyền sử dụng đất, lập nhàxưởng… Trong quá trình hoạt động, lợi nhuận được chuyển đến một số địa chỉ theomong muốn Một thời gian sau, chúng tuyên bố phá sản hoặc biến mất, những đồngtiền bẩn đã được khoác vỏ bọc hợp pháp
- Thông qua các giao dịch xuyên quốc gia: Lợi dụng các yếu tố địa lí và sự khácnhau về mặt pháp luật, bọn tội phạm vận chuyển tiền qua biên giới, tạo khoảng cách vềđịa lí giữa tội phạm gốc và đồng tiền cần tẩy rửa Từ đó, chúng tìm cách đưa vào hệthống tài chính, ngân hàng để rồi có thể rút ra ở nước thứ ba, thứ tư Ở một số quốc gia,hoạt động rửa tiền chưa được quy định là tội phạm hình sự nên những hành vi phạm tộicủa bọn tội phạm ở đó càng gặp ít rủi ro
Trang 17- Thông qua thị trường chứng khoán: Những đồng tiền bẩn được dùng để mua cổ
phiếu tại thị trường chứng khoán Sau một thời gian, số cổ phiếu này được bán lại vớigiá thấp hơn Số tiền mà bọn tội phạm nhận được thông qua hệ thống tài chính nênđược xem là hợp pháp
- Thông qua hệ thống tài chính ngân hàng:
Bọn tội phạm gửi tiền dưới mức kiểm soát vào những thời điểm khác nhau, ởnhiều nơi trên thế giới Sau một thời gian chuyển khoản qua nhiều ngân hàng,chúng có thể rút tiền ở ngân hàng của nước thứ ba, thứ tư một cách hợp pháp
Bọn tội phạm nhân danh hoặc trà trộn vào các khoản kiều hối thông thường đểchuyển tiền từ nước ngoài về trong nước Lúc này các ngân hàng thường đượcchọn lựa không những vì khả năng có thể giao dịch những khoản tiền rất lớn, màcòn vì một đồng tiền lọt được vào tài khoản ngân hàng lập tức trở thành đồngtiền sạch và từ đó có thể thực hiện được ngay các lệnh thanh toán
Lợi dụng tổ chức tín dụng: Bọn tội phạm gửi tiền vào các quỹ tiết kiệm hoặcmua trái phiếu, tín phiếu…làm cho đồng tiền nằm im trong một thời gian phùhợp với quy định của mỗi nước Sau đó, người gởi tiền rút dần hoặc mang cácgiấy tờ có giá đi cầm cố, thế chấp để vay một khoản tiền nhất định
- Thông qua hệ thống ngân hàng “ngầm”: Tại một số nước, hệ thống ngân hànghoạt động kém hiệu quả, đắt đỏ mà lại quan liêu Do đó, trong cộng đồng những ngườinước ngoài tại các quốc gia này tồn tại hệ thống ngân hàng không chính thức gọi làngân hàng “ngầm” Hệ thống ngân hàng ngầm này hoạt động và luân chuyển tài chínhnhư các ngân hàng chính thức nhưng với chi phí dịch vụ rẻ hơn, bí mật hơn các ngânhàng hợp pháp Các ngân hàng ngầm có đại diện ở nhiều nước khác nhau để thực hiệndịch vụ chuyển tiền từ nước này sang nước khác hoặc từ thành phố này sang thành phốkhác trong cùng một quốc gia Sự hoạt động của ngân hàng này chủ yếu dựa trên niềmtin giữa ngân hàng và bạn hàng nên thủ tục giấy tờ gọn nhẹ Bọn tội phạm lợi dụngnguyên tắc giữ bí mật của những ngân hàng này đã đem tiền đến gửi và yêu cầu nhậnlại ở một thành phố khác Những địa chỉ cần nhận tiền tẩy rửa thông thường là nhữngquốc gia khao khát đầu tư tài chính nhưng ít quan tâm đến nguồn gốc đồng tiền, việc
Trang 18thanh toán qua ngân hàng chưa phải là yêu cầu bắt buộc và phổ biến, hệ thống phápluật về phòng chống rửa tiền chưa nghiêm.
1.1.3 Chu trình rửa tiền
Nguyên tắc của rửa tiền là tạo ra một chuỗi các giao dịch nhằm mục đích che đậynguồn gốc của các nguồn tiền có được từ các hoạt động phi pháp và làm cho chúngngày càng xa nguồn gốc ban đầu “Tiền bẩn” được chuyển từ tổ chức tài chính nàysang tổ chức tài chính khác, vượt ra khỏi biên giới của quốc gia, vùng lãnh thổ để chegiấu nguồn gốc và chủ sở hữu của nó Việc rửa tiền thường được tiến hành theo mộtchu trình cơ bản bao gồm 3 giai đoạn: phân phối, dàn trải, hội nhập
Hình 1.1: Chu trình rửa tiền
- Giai đoạn phân phối: Phân phối nguồn tiền từ các hoạt động phi pháp vào cácđịnh chế tài chính mà không bị phát hiện bởi các cơ quan luật pháp Các tội phạm rửatiền thực hiện đầu tư phân tán bằng cách chia các khoản “tiền bẩn” thành nhiều khoảntiền nhỏ dưới mức quy định phải khai báo nguồn gốc
- Giai đoạn dàn trải: Tiền được chuyển từ tổ chức tài chính này sang tổ chức tàichính khác để che giấu nguồn gốc và chủ sở hữu của tiền Thực chất đây là quy trìnhtạo ra một chuỗi các giao dịch nhằm mục đích che đậy các nguồn tiền từ các hoạt độngphi pháp và làm cho chúng ngày càng xa nguồn gốc ban đầu Giai đoạn này có thể gồmrất nhiều giao dịch giữa các ngân hàng, giao dịch từ tài khoản này sang tài khoản khácvới tên giao dịch khác nhau tại các ngân hàng khác nhau; hay gửi và rút tiền liên tiếp
Trang 19với giá trị khác nhau; thay đổi loại tiền tệ, hay mua những món đồ đắt tiền (du thuyền,nhà, ô tô, kim cương) để chuyển tiền thành những mặt hàng khác Đây là giai đoạnphức tạp nhất trong quá trình rửa tiền, mục đích khiến cho “tiền bẩn” càng khó theodõi, càng khó lần ra nguồn gốc càng tốt.
- Giai đoạn hội nhập: Tiền được đầu tư vào những hoạt động kinh doanh hợppháp Tiền sẽ được phân phối trở lại vào nền kinh tế với nguồn gốc không thể tìm rađược dấu vết của chúng Giai đoạn này được tiến hành bằng các hành vi tiêu dùng, đầu
tư vào các doanh nghiệp và đầu tư tài chính Thủ đoạn của những kẻ rửa tiền lúc đầuthường chuyển đổi sang chi phí quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng đểtạo vỏ bọc uy tín, làm ăn có lãi, tài trợ từ thiện, đóng góp xây dựng hoặc mua bất độngsản, mua ô tô đắt tiền, xây dựng các công trình…sau đó bán lại để thu tiền; hay đónggóp cổ phần vào các công ty lớn, sau đó chuyển nhượng cổ phần Lúc này, chúng cóthể sử dụng số tiền thu được một cách hợp pháp mà không bị truy tố Rất khó để bắt kẻrửa tiền trong giai đoạn này nếu không có đầy đủ giấy tờ và hồ sơ liên quan tới các giaiđoạn trước của quá trình rửa tiền
1.2 Ảnh hưởng của rửa tiền đối với nền kinh tế
Rửa tiền không trực tiếp ảnh hưởng đến tính mạng của con người, không trực tiếp làmmất đi tài sản của bất cứ cá nhân, gia đình nào Do vậy, thoạt nhìn, rửa tiền có vẻ là vôhại, không có nạn nhân, không có tổn thất Xét dưới một góc độ nào đó, nhiều ý kiếncho rằng rửa tiền cũng mang lại lợi ích, đặc biệt là đối với các nước có nền kinh tế đangphát triển, chẳng hạn như rửa tiền sẽ làm tăng nguồn vốn đầu tư (có thể là nguồn vốnphi pháp) vào các nước đang phát triển, tạo cơ hội cho việc phát triển hạ tầng, pháttriển kinh tế (có thể mang tính chất nhất thời) ở các quốc gia này; rửa tiền sẽ làm chotính thanh khoản được cải thiện đáng kể, giải quyết được bài toán cung – cầu ngoại tệcủa quốc gia Tuy nhiên, xét về bản chất, hành vi rửa tiền tác động rất lớn, rất nghiêmtrọng đến nhiều lĩnh vực của xã hội, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế của các quốc gia đangphát triển, cụ thể:
- Làm mất sự kiểm soát các chính sách kinh tế: các sai sót của chính sách tàichính từ các thành phần kinh tế “ảo” Dòng tiền bẩn được đổ vào thị trường theo ý củanhững kẻ rửa tiền, tạo nên những nhu cầu giả, và chính quyền phải đưa ra các chính
Trang 20sách để cân bằng lại Và khi những kẻ rửa tiền đã đạt được lợi nhuận theo ý muốn, haykhi bắt đầu bị chính quyền để mắt tới, chúng sẽ rút toàn bộ số tiền này về làm khuynhđảo nền kinh tế, gây mất ổn định trong toàn bộ nền kinh tế như hiện tượng tháo chạyvốn nước ngoài đã từng xảy ra ở Thái Lan trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khuvực Đông Nam Á năm 1997.
- Làm suy yếu khu vực kinh tế tư nhân:
Các tổ chức tội phạm lợi dụng những khoản tiền bất hợp pháp đã được tẩy rửa
để thâu tóm một cách hợp pháp các công ty kinh doanh trong nước, kể cả cácngân hàng và biến những tổ chức này thành công cụ rửa tiền Quyền và lợi íchcủa các cá nhân, tổ chức làm ăn chính đáng bị xói mòn và không được bảo vệbình đẳng
Những doanh nghiệp nhỏ làm ăn hợp pháp không thể cạnh tranh lại được vớicác doanh nghiệp rửa tiền, do các doanh nghiệp này bán hàng với giá rẻ hơnnhiều vì mục đích chính của chúng là rửa tiền chứ không phải là thu lợi nhuận từviệc bán hàng Họ vẫn thu được món lời lớn ngay cả khi bán hàng với giá thấphơn giá cả thực của mặt hàng đó
- Làm suy yếu nền kinh tế thực: Rửa tiền có tác dụng tiêu cực trực tiếp và lớn hơnlên tăng trưởng của nền kinh tế thực thông qua việc chuyển hướng các nguồn lực khanhiếm đến các khu vực/hoạt động ít hiệu quả hơn Tiền sau khi "rửa" thường được đầu
tư vào những nơi không tạo ra thêm nhiều giá trị thặng dư như bất động sản, đồ cổ, tácphẩm nghệ thuật, đồ trang sức và ô tô sang Nhập khẩu những mặt hàng xa xỉ này hayđầu tư vào những ngành không tạo giá trị thặng dư có tác động tiêu cực đến tăngtrưởng
Rửa tiền sẽ làm tăng tội phạm, đặc biệt là tăng tình hình tham nhũng - một vấn
đề khá phức tạp tại Việt Nam hiện nay Mục đích của bọn tội phạm, đặc biệt là tội thamnhũng là tạo ra nhiều tiền, tạo ra lợi nhuận Tuy nhiên, việc sử dụng số tiền, số lợinhuận có được từ việc phạm tội, từ việc tham nhũng là một bài toán hóc búa, dễ bịphanh phui, vạch trần hành vi vi phạm Rửa tiền thành công giúp cho bọn tội phạm vừa
sử dụng được nguồn tiền đã chiếm được, vừa né trách sự vạch trần, phanh phui hành vi
vi phạm Tội phạm rửa tiền có thể biến các doanh nghiệp lành mạnh thành nơi phục vụ
Trang 21chủ yếu mục đích rửa tiền chứ không phải là theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận hợp pháp, dẫn đến giảm tăng trưởng.
- Rửa tiền sẽ làm suy yếu các TCTC, gây nguy hại cho sự lành mạnh của hệ thốngtài chính của một đất nước cũng như sự ổn định cho từng TCTC Những hậu quả đóđược coi là rủi ro đối với uy tín, nghiệp vụ, pháp lý và rủi ro tập trung đều có mối quan
hệ qua lại với nhau Mỗi rủi ro đều gây ra những chi phí cụ thể:
Mất đi hoạt động kinh doanh sinh lợi
Những vấn đề về tính thanh khoản do việc rút tiền gây ra
Cắt đứt các cơ sở ngân hàng đại lý
Các chi phí điều tra và tiền phạt
Thu giữ tài sản
Tổn thất cho vay
Giảm giá trị cổ phiếu của các TCTC
Rủi ro về uy tín là một loại rủi ro tiềm ẩn, ở đó công chúng biết về các khía cạnh bấtlợi trong các phương pháp kinh doanh và những mối liên kết của ngân hàng Dù điều
đó có chính xác hay không thì cũng sẽ làm mất niềm tin vào tính liêm chính của tổchức đó Khách hàng, cả người vay tiền lẫn người gởi tiền cũng như các nhà đầu tư sẽngừng kinh doanh với một tổ chức mà uy tín đã bị hủy hoại bởi sự nghi ngờ hoặcnhững lập luận thiếu căn cứ về rửa tiền Việc mất những khách hàng vay tiền có phẩmchất cao sẽ làm giảm các khoản cho vay sinh lợi và làm tăng rủi ro của toàn bộ danhmục vốn cho vay Việc những người gởi tiền rút tiền gởi ra khỏi các TCTC sẽ làm giảmnguồn tài trợ với chi phí thấp TCTC lại càng không thể dựa vào những khoản tiền gởicủa những kẻ rửa tiền để làm nguồn cấp vốn ổn định Những khoản tiền lớn sau khiđược rửa thường bị bất ngờ rút ra khỏi TCTC thông qua lệnh chuyển tiền điện tử hoặcnhững phương tiện chuyển tiền khác, từ đó gây ra những vấn đề tiềm ẩn về tính thanhkhoản
Rủi ro nghiệp vụ cũng tiềm tàng do những thất thoát bắt nguồn từ các quy trình nội
bộ không đầy đủ, từ con người và hệ thống hoặc từ những sự kiện ngoại sinh Nhữngthất thoát xảy ra khi các TCTC phải gánh chịu tình trạng giảm, ngừng hoặc tăng chi phí
Trang 22đối với các dịch vụ liên ngân hàng hoặc các dịch vụ giao dịch ngân hàng; chi phí vayvốn và chi phí cấp vốn tăng lên.
Rủi ro pháp lý cũng tiềm ẩn do những vụ kiện, phán quyết bất lợi của tòa án, hợpđồng không thể thực hiện được, tiền phạt và các hình phạt khác sẽ gây ra thua lỗ, làmtăng chi phí thậm chí dẫn đến nguy cơ phá sản của TCTC
Rủi ro tập trung bắt nguồn từ rủi ro do có quá nhiều khoản tín dụng hoặc vốn chovay tập trung vào một khách hàng vay Những quy định pháp luật thường hạn chế rủi
ro về tập trung vốn vay vào một khách hàng hay một nhóm khách hàng có liên quan.Việc thiếu hiểu biết về khách hàng, hoạt động kinh doanh của khách hàng đó hoặc mốiquan hệ của khách hàng này với những khách hàng vay vốn khác là rủi ro thực sự nếunhững đối tác có liên quan với nhau, những người vay vốn có quan hệ với nhau vàcùng thu nhập chung hoặc tài sản chung Tổn thất vốn vay cũng bắt nguồn từ nhữnghợp đồng không khả thi hoặc những hợp đồng được ký với những nhân vật hư cấu.Các ngân hàng và các chủ tài khoản ngân hàng sẽ được bảo vệ khi ngân hàng có sẵncác hệ thống hữu hiệu về sự chú ý xác đáng khách hàng và nhận dạng chủ sở hữuhưởng lợi
- Tác động tiêu cực đến hoạt động ngoại thương và lưu chuyển vốn: Rửa tiền cóthể dẫn đến sự méo mó về ngoại thương, với nhập khẩu các mặt hàng xa xỉ tăng mạnhnhờ tiền đã được rửa Rửa tiền còn dẫn đến “chảy máu” vốn ra nước ngoài dưới bàn tayđiều khiển của các tổ chức tài chính nội địa và/hoặc nước ngoài trong các đường dâyrửa tiền xuyên quốc gia, dẫn đến khan hiếm vốn ngoại tệ thiết yếu cho các hoạt độngkinh tế nội địa
- Làm giảm uy tín quốc gia và giảm đầu tư nước ngoài: Khi một quốc gia khôngkiểm soát được vấn nạn rửa tiền thì đồng nghĩa với việc quốc gia đó không có hệ thốngtài chính minh bạch; không có hệ thống pháp luật chặt chẽ, nghiêm minh; các con sốthống kê tài chính của quốc gia bị bóp méo, không phản ánh đúng bản chất thực tế Dovậy, các tuyên bố của quốc gia về tình hình tài chính gần như bị nghi ngờ về độ chínhxác Đồng nghĩa với việc giảm uy tín quốc gia, các nhà đầu tư nước ngoài luôn phải đặtdấu chấm hỏi trước khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào một nước có tình hình tài chínhkhông ổn định Họ luôn e dè bởi họ luôn phải đối mặt với nguy cơ không có khả năng
Trang 23thu hồi vốn, đặc biệt là việc tiếp cận với những nguồn vốn viện trợ, những khoản vay
nợ nước ngoài với điều kiện ưu đãi hầu như là không thể đối với các quốc gia bị xếphạng tín nhiệm kém, các quốc gia không tuân thủ phòng, chống rửa tiền
- Ngăn cản hội nhập quốc tế: trong bối cảnh hội nhập nhiều vấn đề đã trở thànhthách thức toàn cầu như bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái, phòng chống dịch bệnh,chống khủng bố, chống tội phạm có tổ chức, bảo vệ sở hữu trí tuệ, trong đó có đấutranh phòng, chống rửa tiền luôn được quan tâm hàng đầu Tiêu chí để đánh giá mộtquốc gia tích cực đấu tranh phòng chống rửa tiền là quốc gia đó phải đạt được các tiêuchí sau:
Công nhận và tham gia ký kết các công ước quốc tế về phòng, chống rửa tiền
Có hệ thống phòng, chống rửa tiền được xây dựng trên cơ sở 40 + 9 khuyến nghị của FATF
Có tổ chức chuyên trách về đấu tranh phòng chống rửa tiền và tổ chức tốt cuộcđấu tranh này
1.3 Hoạt động rửa tiền qua hệ thống ngân hàng
1.3.1 Khái niệm rửa tiền qua hệ thống ngân hàng
Rửa tiền qua hệ thống ngân hàng là việc lợi dụng những kẻ hở trong các quy định giaodịch, cho vay của ngân hàng để thực hiện tẩy rửa tiền Rửa tiền qua hệ thống ngân hàng
là một trong những phương thức mà bọn tội phạm thường sử dụng vì ưu điểm nổi bậtcủa phương thức ngày là nếu thực hiện trót lọt, dấu vết của đồng “tiền bẩn” gần nhưđược xóa bỏ hoàn toàn Đồng tiền đội lốt hợp pháp được bổ sung vào dòng chảy vốncủa nền kinh tế một cách tự nhiên Hơn nữa trên thế giới hầu như nước nào cũng có hệthống ngân hàng Càng ở những nước có quy định về phòng, chống rửa tiền còn sơkhai, việc lợi dụng hệ thống ngân hàng để rửa tiền càng thuận lợi hơn
1.3.2 Các dấu hiệu nhận biết rửa tiền qua hệ thống ngân hàng
Rửa tiền qua hệ thống ngân hàng là một trong những phương thức mà bọn tội phạmthường sử dụng vì khả năng giao dịch lớn và đồng tiền qua ngân hàng sẽ trở thành “tiềnsạch”, từ đó có thể giao dịch đến bất kỳ đâu mà không gây ra bất cứ một sự nghi ngờnào về tính hợp pháp của chúng Tuy nhiên, để có thể rửa tiền qua kênh này, bọn
Trang 24tội phạm thường sử dụng các thủ thuật hết sức tinh vi Do vậy, việc đưa các dấu hiệu nhận biết rửa tiền qua hệ thống ngân hàng là hết sức cần thiết.
Một số dấu hiệu nhận biết các giao dịch đáng ngờ mà bọn tội phạm sử dụng để rửa tiềnnhư sau:
- Khách hàng yêu cầu thực hiện các giao dịch có liên quan tới các tổ chức, cánhân thuộc danh sách đen, danh sách cảnh báo bao gồm các giao dịch mà khách hànghoặc các bên có liên quan thuộc các danh sách sau:
Danh sách đen: là danh sách tổ chức, cá nhân có liên quan tới khủng bố
và tài trợ khủng bố do Bộ Công An chủ trì lập theo quy định của pháp luật
Danh sách cảnh báo: là danh sách tổ chức, cá nhân do Ngân hàng Nhà nước lập nhằm cảnh báo tổ chức, cá nhân có rủi ro cao về rửa tiền
- Thông qua thông tin về khách hàng: khách hàng có thái độ miễn cưỡng khi cungcấp các thông tin, chứng từ theo quy định của ngân hàng; hạn chế cung cấp thông tin,cung cấp thông tin sai sự thật
- Thông qua tính chất, đặc điểm của giao dịch:
Các giao dịch không mang lợi ích về mặt kinh tế: các giao dịch nàythường có đặc điểm là không phù hợp với các hoạt động thông thường củakhách hàng Ví dụ như việc sử dụng thư tín dụng và một số biện pháp tàichính thương mại để chuyển tiền từ quốc gia này sang sang quốc gia khác.Tuy nhiên, việc chuyển tiền này không phù hợp với hoạt động kinh doanhthông thường của khách hàng Một trường hợp điển hình khác là các giaodịch qua các tài khoản mà trước đó hầu như không có giao dịch nào, nhưnghiện tại lại có rất nhiều giao dịch một cách bất thường mà chủ tài khoảnkhông đưa ra được sự giải thích hợp lý cho việc liên tục sử dụng tài khoản ởmức độ cao
Các giao dịch gồm nhiều khoản tiền mặt giá trị lớn:
Mua hoặc bán ngoại tệ bằng tiền mặt với số lượng lớn cho dù khách hàng có tài khoản trong ngân hàng
Thường rút tiền mặt từ tài khoản với số lượng lớn mà số tiền nàydường như không phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của kháchhàng
Trang 25 Rút tiền mặt từ tài khoản với số lượng lớn từ tài khoản vừa mới nhận được một khoản tiền từ nước ngoài chuyển về
Gửi tiền mặt với số lượng lớn vào tài khoản bằng cách chia nhỏ
số tiền mặt muốn gởi thành nhiều khoản khác nhau
Khách hàng thường xuyên gửi tiền mặt với số lượng lớn vàongân hàng nhưng rút tiền ra khỏi tài khoản thường bằng séc chi trả chocác cá nhân hay công ty không có quan hệ kinh doanh với khách hàng
Các giao dịch liên quan đến các tài khoản trong ngân hàng có một số điểm bất thường:
Tài khoản có tốc độ chu chuyển tiền trong ngày rất cao thể hiện
ở việc doanh số giao dịch trên tài khoản thay đổi đột biến, doanh sốgiao dịch lớn trong một khoản thời gian ngắn nhưng số dư tài khoảnnhỏ
Các giao dịch chuyển tiền có giá trị nhỏ từ nhiều tài khoản khácnhau về một tài khoản thành một khoản tiền lớn và ngược lại Trongmột khoản thời gian ngắn, tiền được chuyển lòng vòng qua nhiều tàikhoản khác nhau
Các giao dịch liên quan đến các cuộc chuyển tiền ra nước ngoài:
Một khách hàng vãng lai chuyển tiền ra nước ngoài mà không đưa ra lý do hợp lý
Một khách hàng chuyển tiền đến chi nhánh nước ngoài, công tycon hoặc ngân hàng có trụ sở tại một quốc gia nơi mà buôn lậu, thamnhũng, sản xuất và buôn bán ma túy diễn ra thường xuyên
Các giao dịch liên quan đến hoạt động đầu tư:
Hoạt động mua bán chứng khoản không phù hợp với vị thế củakhách hàng hoặc khách hàng đầu tư kinh doanh chứng khoán bằng tiềnmặt một cách khác thường với số lượng lớn
Vốn đầu tư để thành lập doanh nghiệp đến từ các quốc gia có tỷ
lệ tội phạm cao, có hệ thống pháp luật về phòng, chống rửa tiền kém
Trang 26- Thông qua các khoản vay có hoặc không có tài sản thế chấp: các khoản vayđược đảm bảo bằng tài sản của bên thứ ba mà không có mối liên hệ minh bạch với khách hàng
1.3.3 Nội dung phòng chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng
Các quốc gia trên thế giới đã thực hiện phương thức phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng như sau:
- Thành lập cơ quan chuyên trách về phòng, chống rửa tiền
Nhiệm vụ của cơ quan này là giám sát việc thực hiện Luật phòng, chống rửa tiền Có 2
mô hình hoạt động phổ biến:
Mô hình 1: cơ quan phòng, chống rửa tiền là đơn vị trực thuộc bộ máy củaChính phủ, thường là trực thuộc NHTW, trợ giúp Chính phủ thực hiện công tácphòng, chống rửa tiền Bên cạnh việc thực hiện chức năng giám sát thi hànhLuật phòng, chống rửa tiền, cơ quan này còn thực hiện chức năng thu thập cácthông tin từ các tổ chức tín dụng, xử lý báo cáo giao dịch đáng ngờ và đề xuấtcác biện pháp liên quan đến công tác phòng, chống rửa tiền
Mô hình 2: cơ quan phòng, chống rửa tiền là đơn vị hoàn toàn độc lập với bộmáy Chính phủ, không chịu sự chi phối của bất kỳ đơn vị nào trong bộ máychính phủ Nó có quyền hạn, chức năng, phạm vi hoạt động rộng rãi hơn Ở cácnước xem cơ quan này là cơ quan tình báo tài chính Ưu điểm của mô hình này
là đảm bảo tính độc lập và khách quan trong điều tra rửa tiền
- Ban hành Luật và các quy định liên quan đến phòng, chống rửa tiền
Hiện nay, hầu hết các nước phát triển đã ban hành Luật phòng, chống rửa tiền Đặcđiểm chung của Luật phòng, chống rửa tiền ở các nước này như sau: (i) Luôn hướngđến việc tuân thủ các khuyến nghị của FATF;(ii) Liệt kê tất cả các tội danh liên quanđến rửa tiền; (iii) Yêu cầu các tổ chức tín dụng phải thực hiện quy tắc nhận biết kháchhàng (iv) Quy định mức giao dịch phải báo cáo; (v) Các dấu hiệu của giao dịch đángngờ; (vi) Trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan chuyên trách về phòng, chống rửatiền
- Tổ chức thực hiện: thiết lập quy trình phòng, chống rửa tiền tại các NHTM
Trang 27 Đánh giá khách hàng, phân loại rủi ro: thông thường các ngân hàng trênthế giới thường phân loại khách hàng theo 3 nhóm rủi ro sau:
Nhóm khách hàng có rủi ro cao: tiến hành kiểm tra, giám sát thường xuyên
và bắt buộc trong việc tìm hiểu thông tin khách hàng
Nhóm khách hàng rủi ro trung bình: tiến hành kiểm tra, giám sát ở mức độ
bình thường và tìm hiểu thông tin về khách hàng khi có yêu cầu
Nhóm khách hàng rủi ro thấp: tiến hành kiểm tra, giám sát ở mức độ đơn
giản và chỉ đòi hỏi những thông tin thông thường về khách hàng
Kiểm soát các giao dịch đáng ngờ: khi phát hiện các giao dịch đángngờ, nhân viên ngân hàng phụ trách sẽ tiến hành xử lý hoặc báo cáo cấp trênxem xét Sau khi kiểm tra tính xác thực về thông tin khách hàng, ngân hàng
sẽ chuyển thông tin này cho cơ quan phòng, chống rửa tiền Để thực hiện tốtviệc kiểm soát này, các ngân hàng phải được hướng dẫn xây dựng quy trìnhbáo cáo thông tin về giao dịch đáng ngờ nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc bảomật thông tin khách hàng
Giữ bí mật: các tổ chức tài chính phải đảm bảo giữ bí mật thông tin khách hàng tránh ảnh hưởng đến hoạt động của khách hàng
Lưu giữ hồ sơ về khách hàng: các thông tin về nhận dạng khách hàng
và thông tin giao dịch được lưu trong thời gian tối thiếu 5 năm hoặc dài hơntheo yêu cầu của cơ quan chức năng, đặc biệt là các hồ sơ có liên quan đếncông tác điều tra khởi tố
- Tuân thủ các khuyến nghị của FATF và thực hiện hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền
1.4 Các tổ chức tham gia phòng chống rửa tiền trên phạm vi quốc tế
- Liên Hợp Quốc là tổ chức quốc tế đầu tiên tiến hành một hoạt động quan trọng
về chống rửa tiền thực sự trên toàn cầu LHQ giữ vị trí quan trọng trong lĩnh vực này vìmột số lý do Thứ nhất, đây là một tổ chức quốc tế với số thành viên lớn nhất Đượcthành lập vào tháng 10/1945, hiện nay số thành viên LHQ trên toàn cầu là 193 Thứ
hai, LHQ tích cực điều hành một chương trình chống rửa tiền – đó là Chương trình toàn cầu về chống rửa tiền (GPLM) có trụ sở ở Viên, thủ đô nước Áo và là một bộ phận
Trang 28của Văn phòng Ma túy và tội phạm (ODC) của LHQ Thứ ba và có lẽ là quan trọngnhất, LHQ có khả năng thông qua những hiệp ước hoặc công ước quốc tế có hiệu lựcnhư luật ở một nước khi nước đó đã ký, thông qua và thực hiện công ước dựa trên hiếnpháp và cơ cấu luật pháp của nước đó Trong những trường hợp nhất định, Hội đồngbảo an có quyền bắt buộc tất cả các nước thành viên tuân thủ thông qua một Nghị quyếtcủa Hội đồng bảo an, bất chấp một nước thành viên nào đó có hành động khác.
Công ước Vienna
Do mối quan ngại tăng lên trước tình trạng buôn bán bất hợp pháp ma túy quốc tếngày càng tăng lên và những khối lượng tiền khổng lồ liên quan được đưa vào hệthống ngân hàng, LHQ thông qua Chương trình LHQ về kiểm soát ma túy(UNDCP) đã khởi xướng một hiệp định quốc tế về chống buôn bán bất hợp pháp
ma túy và rửa tiền Trong năm 1988, nỗ lực đó đã đưa đến việc thông qua Công ước
của LHQ về chống buôn bán ma túy và chất hướng thần (Công ước Vienna) Hiệu
lực từ tháng 11/1990 Công ước này chủ yếu đề cập đến các điều khoản để chốngbuôn bán bất hợp pháp ma túy và các vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật, 169nước đã tham gia vào công ước này Mặc dù Công ước không sử dụng thuật ngữ rửatiền nhưng Công ước đã đưa ra định nghĩa về khái niệm này và yêu các các nướchình sự hóa hoạt động đó Tuy nhiên, Công ước Vienna chỉ quy định tội buôn bánbất hợp pháp ma túy là tội nguồn và không xử lý các khía cạnh mang tính phòngngừa việc rửa tiền
Công ước Palermo
Nhằm tăng cường nổ lực chống tội phạm quốc tế có tổ chức, LHQ đã thông qua
Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia vào năm 2000 (Công ước Palermo) Công ước bao gồm nhiều điều khoản về chống tội phạm có tổ chức và
yêu cầu những nước đã thông qua Công ước này phải thực hiện các điều khoản củaCông ước bằng cách ban hành luật trong nước Về rửa tiền, Công ước Palermo bắtbuộc mỗi nước thông qua Công ước phải:
Hình sự hóa việc rửa tiền và quy định tất cả các tội phạm nghiêm trọng
là tội nguồn của tội rửa tiền, bất kể phạm tội được thực hiện ở trong nướchay
Trang 29nước ngoài và cho phép suy đoán về sự cố ý phạm tội từ những tình tiết khách quan
Xây dựng các biện pháp phòng ngừa và phát hiện mọi hành vi rửa tiền,
kể cả nhận dạng khách hàng, lưu giữ hồ sơ và báo cáo các giao dịch đáng ngờ
Trao quyền hợp tác và trao đổi thông tin giữa các cơ quan hành chính,quản lý, thi hành pháp luật và các cơ quan khác, cả ở trong nước và trênphạm vị quốc tế và xem xét việc thành lập một đơn vị tình báo tài chính đểthu thập, phân tích và phổ biến thông tin
Thúc đẩy hợp tác quốc tế
Chương trình toàn cầu về chống rửa tiền (GPML)
GPML của LHQ năm trong Văn phòng Ma túy và Tội phạm (ODC) của LHQ.GPML là một dự án nghiên cứu và hỗ trợ với mục tiêu là tăng cường hiệu quả củacác hành động quốc tế chống rửa tiền bằng cách cung cấp kiến thức giám địnhchuyên môn, đào tạo và tư vấn cho các thành viên theo yêu cầu chương trình tậptrung nổ lực vào những lĩnh vực sau:
Tăng cường nhận thức của những nhân vật chủ chốt trong các nước thành viên LHQ
Giúp tạo ra các khung pháp luật cho cả các nước theo luật án lệ và các nước theo luật Châu Âu lục địa với sự hỗ trợ của luật mẫu
Tăng cường năng lực thể chế, đặc biệt là việc thiết lập các đơn vị tình báo tài chính
Cung cấp đào tạo cho các nhà lập pháp, tư pháp, các cơ quan quản lý, thi hành pháp luật và khu vực tài chính tư nhân
Thúc đẩy cách tiếp cận vùng để giải quyết vấn đề, xây dựng và duy trì các mối quan hệ chiến lược với các tổ chức khác
Duy trì một cơ sở dữ liệu các thông tin và tiến hành phân tích những thông tin thích hợp
Công ước này có hiệu lực vào ngày 29/09/2003, được 147 nước ký và 82 nước phê chuẩn Công ước Palermo có vị trí quan trọng bởi vì các điều khoản AML
Trang 30của nó chấp nhận cùng một cách tiếp cận mà FATF đã thông qua trong Bốn
mươi khuyến nghị về rửa tiền.
- Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) là tổ chức chuyên
nghiên cứu, đưa ra những chuẩn mực quốc tế về chống rửa tiền và tài trợ khủng bố,được thành lập tại Hội nghị thượng đỉnh của nhóm G7, ở Paris, vào năm 1989, nhằmphát triển các hoạt động hợp tác quốc tế đối phó với việc rửa tiền Tháng 4/1990, FAFT
đã ban hành 40 khuyến nghị Hiện tại, FATF có 36 thành viên bao gồm 34 quốc gia và
2 tổ chức khu vực là thành viên liên kết 49 khuyến nghị về chống rửa tiền và tài trợkhủng bố do FATF ban hành, gồm 40 khuyến nghị về chống rửa tiền và 9 khuyến nghịđặc biệt về chống tài trợ khủng bố 40 khuyến nghị được ban hành lần đầu tiên vào năm
1990 nhằm tìm kiếm sự nhất trí giữa các nước trong việc ban hành luật và thống nhấthành động của các ngân hàng để hạn chế các dòng tiền thu được từ hoạt động buôn bán
ma túy chuyển qua hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng 40khuyến nghị ban đầu đã được sửa đổi vào năm 1996 và năm 2003 để theo kịp cácphương thức rửa tiền ngày càng tinh vi của bọn tội phạm Từ sau vụ khủng bố tháng9/2001 tại Mỹ, vào tháng 10/2001, FATF đã mở rộng trách nhiệm giải quyết các vấn đề
về tài trợ khủng bố và đã xây dựng 8 khuyến nghị đặc biệt chống tài trợ khủng bố Vàotháng 10/2004, FATF đã thông qua khuyến nghị đặc biệt IX liên quan đến người vậnchuyển tiền mặt qua biên giới
FATF có nhiệm vụ đánh giá, giám sát các biện pháp chống rửa tiền, theo dấu cáchoạt động rửa tiền ở các quốc gia thành viên và không phải là thành viên tổ chức này.Hiện nay có hơn 130 quốc gia và lãnh thổ - đại diện cho khoảng 85% dân số thế giới vàkhoảng 90% đến 95% sản lượng kinh tế toàn cầu - đã thực hiện những cam kết chínhtrị để thực hiện các khuyến nghị của FATF
FATF còn có một nhiệm vụ nữa là công bố danh sách những nước và vùng lãnhthổ không cam kết hoặc không hưởng ứng tích cực chống lại nạn rửa tiền Ngay khibản danh sách này được công bố lần đầu tiên vào tháng 6 năm 2000, 15 nước và lãnhthổ trong danh sách không hợp tác đã nhanh chóng hành động để thực hiện nhữngkhuyến nghị của FATF Đây là một trong những cảnh báo cho những quốc gia nàokhông có thiện chí trong các nỗ lực hợp tác quốc tế chống lại rửa tiền và khủng bố và
Trang 31tất nhiên con đường hội nhập vào nền kinh tế thế giới của các quốc gia không phải thành viên này cũng sẽ gặp phải những trở ngại tương xứng.
- Ủy ban Basle về giám sát ngân hàng (Ủy ban Basel) được thành lập năm
1974 bởi Thống đốc ngân hàng trung ương của các nước Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Italia,Nhật Bản, Lucxembua, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Vương quốc Anh
và Mỹ Ủy ban Basel đã đưa ra những văn bản hướng dẫn về đánh giá khách hàng, chia
sẻ thông tin và các nỗ lực trong việc PCRT và tài trợ khủng bố, rủi ro tuân thủ và chứcnăng kiểm soát tuân thủ, các nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng điệntử… trong đó, điển hình là: Các yêu cầu chú ý xác đáng khách hàng (CDD - CustomerDue Diligence for Banks - tháng 10/2001); rủi ro tuân thủ và chức năng kiểm soát tuânthủ trong hoạt động ngân hàng (Compliance and the compliance function in banks -tháng 4/2005) Ủy ban Basel ủng hộ mạnh mẽ việc “Chấp thuận và thực hiện cáckhuyến nghị của FATF, đặc biệt là các khuyến nghị liên quan đến ngân hàng” và chủtrương rằng các tiêu chuẩn Chú ý xác đáng khách hàng “phải nhất quán với các khuyếnnghị của FATF”
- Nhóm các đơn vị tình báo tài chính Egmont
Với tư cách là một phần trong nỗ lực chống rửa tiền, các chính phủ đã lập ra các cơquan để phân tích thông tin do các cơ quan, tổ chức và cá nhân có nhiệm vụ làm báocáo về rửa tiền trình lên Những cơ quan này có tên gọi chung là các đơn vị tình báo tàichính (FIUs) Những đơn vị này là đầu mối của các chương trình AML quốc gia vìchúng tạo ra việc trao đổi thông tin giữa các tổ chức tài chính và các cơ quan thi hànhpháp luật Vì hoạt động rửa tiền được thực hiện trên quy mô toàn cầu cho nên cũng cầnchia sẻ thông tin trên cơ sở xuyên biên giới Vào năm 1995, một số đơn vị FIU đã bắtđầu công tác với nhau và thành lập Nhóm các đơn vị tình báo tài chính Egmont Mụctiêu của nhóm là cung cấp diễn đàn cho các FIU để tăng cường hỗ trợ cho từng chươngtrình trong các chương trình AML quốc gia của họ và phối hợp các sáng kiến AML Sự
hỗ trợ này gồm mở rộng và hệ thống hóa việc trao đổi thông tin tình báo tài chính, tăngcường kỹ năng chuyên môn và năng lực cho đội ngũ cán bộ và thúc đẩy các mối liênlạc tốt hơn giữa các FIU thông qua công nghệ và giúp phát triển các FIU trên toàn thếgiới
Trang 32- Nhóm Châu Á – Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG): APG được
thành lập vào năm 1997, là một tổ chức mang tính tự nguyện và hợp tác trong lĩnh vựcchống rửa tiền Hiện nay, APG đã có 40 thành viên và 20 quan sát viên APG có 5 chứcnăng chính là:
Đánh giá việc thực hiện đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế về chống rửa tiền vàchống tài trợ khủng bố của các thành viên thông qua một chương trình đánh giáchéo lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên;
Phối hợp song phương với các tổ chức quốc tế trong việc đào tạo và hỗ trợ kỹthuật trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương để nâng cao việc chấp hành đầy
đủ các tiêu chuẩn quốc tế về chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố của cácthành viên;
Tích cực tham gia và mở rộng quan hệ hợp tác với hệ thống các tổ chức chống rửa tiền quốc tế, đặc biệt là với FATF và tổ chức vùng kiểu FATF khác;
Nghiên cứu, phân tích những thủ đoạn mới về rửa tiền và xu hướng chống tàitrợ khủng bố, trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp cho các tổ chức thành viênAPG;
Thực hiện tốt vai trò thành viên tích cực trong FATF để góp phần xây dựngchính sách và các tiêu chuẩn quốc tế về chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố
1.5 Hoạt động phòng chống rửa tiền trên thế giới
Theo IMF, số lượng tiền bẩn được “rửa” hàng năm của các tổ chức tội phạm trên thếgiới chiếm khoản 2-5% GDP của toàn thế giới, tương đương 500 đến 1.500 tỉ USD.Gafi - một tổ chức tài chính chống “rửa” tiền với 31 quốc gia thành viên, có trụ sở tạiParis, chuyên theo dõi hoạt động “rửa” tiền - cho biết, nhiều quan chức, chính trị gia đãtừng tham gia hoặc tiếp tay cho các hoạt động “rửa” tiền và đây là một dấu hiệu thamnhũng Từ trước tới nay, việc ''rửa'' tiền chủ yếu thông qua đầu tư vào lĩnh vực bất độngsản, mua bán nguyên vật liệu, giao dịch thương mại và tất cả đều phải bơm tiền vào hệthống tài chính ngân hàng để chuyển thành “tiền sạch”
1.5.1 Hoạt động phòng chống rửa tiền ở Mỹ
Trang 33Mỹ là nước có hệ thống pháp luật về PCRT toàn diện và nghiêm khắc nhất trên thế giới
mà tất cả các định chế tài chính và nhân viên của họ đều phải tuân theo Chính phủ Mỹ
đã ban hành nhiều văn bản đề cập về những hành vi được coi là rửa tiền Dưới đây làmột vài Luật tiêu biểu:
- Luật Bank Secrecy Act (1970) về cơ bản loại trừ mọi giao dịch nặc danh trong
phạm vi nước Mỹ Điều này giúp cho Bộ Tài chính có khả năng bắt buộc các ngânhàng phải giữ lại mọi hoá đơn chứng từ liên quan tới việc chuyển tiền, và từ đó sẽ dễdàng phát hiện ra quá trình rửa tiền Luật này cũng bao gồm điều khoản rằng các giaodịch có giá trị trên 10.000$ hoặc nhiều giao dịch đến hoặc đi từ một tài khoản nà đótrong một ngày mà tổng giá trị giao dịch hơn 10.000$ Sau đó Luật được sửa đổi chophép Chính phủ và các cơ quan chức năng có thể hạ thấp mức chuẩn 10.000 USD trongcác cuộc điều tra Ngân hàng nào vi phạm luật này thì người điều hành có thể bị phạttới 10 năm tù giam
- Luật Money Laundering Control Act (1986) đã biến việc rửa tiền là một tội danh thực sự chứ không phải là một thành phần trong các tội khác, và luật Money Laundering Suppression Act bắt buộc các ngân hàng phải tự thiết lập các hệ thống
phòng chống rửa tiền cho riêng mình giúp loại bỏ ngay các giao dịch đáng ngờ
- Một số luật quan trọng khác trong việc phòng, chống rửa tiền tại Mỹ gồm LuậtQuản lý toàn diện tội phạm năm 1984, Luật Quản lý rửa tiền năm 1986, Luật Chống sửdụng ma tuý năm 1988, Luật Chống rửa tiền Annunzio – Wylie năm 1992 Những luật
và quy định về phòng, chống rửa tiền tại Mỹ luôn được bổ sung, sửa chữa cho phù hợpvới những thay đổi của tội phạm rửa tiền
- Luật Chống rửa tiền quy định nghĩa vụ của tất cả các đối tượng, từ các cá nhânđến các tổ chức khi phát hiện có sự tham gia vào bất kỳ hoạt động rửa tiền nào và làcăn cứ để tịch thu, sung quỹ tiền và tài sản liên quan đến hoạt động rửa tiền Việckhông tuân thủ những quy tắc và luật lệ liên quan đến hoạt động phòng, chống rửa tiềncủa các nhân viên của các tổ chức tín dụng có thể dẫn tới bị phạt dân sự và hình sự Vềmặt dân sự, nhân viên ngân hàng có thể bị phạt tới 100.000 USD cho việc cố tình viphạm những quy định về báo cáo và lưu giữ chứng từ của BSA Về mặt hình sự, người
vi phạm có thể bị phạt tiền tới 250.000 USD, 5 năm tù hoặc cả hai
Trang 34Hiệu quả đạt được của Luật PCRT ở Mỹ: số trường hợp kết án về tội rửa tiền hàng năm
ở Mỹ lên đến hàng nghìn trường hợp, con số này thể hiện sự nỗ lực rất lớn của chính phủ trong công tác PCRT và hiệu quả của luật PCRT ở Mỹ
0
2007 2008 2009 2010 2011
Nguồn: FATF, APG (2012)
Biểu đồ 1.1: Số trường hợp bị kết án về tội rửa tiền từ năm 2006 –
2011 ở Mỹ Bảng 1.1: Những ngân hàng bị chính phủ Mỹ cáo buộc
liên quan đến rửa tiền với số tiền phạt lớn nhất
Ngân hàng
HSBCStandard Chartered
INGCredit Suisse
RBS (ABN AMRO)Lloyds BankingGroupBarclays
Nguồn: Tạp chí The Economist (2012)
Trang 351.5.2 Hoạt động phòng chống rửa tiền ở Anh
Tại Anh, các định chế tài chính cũng hoạt động theo những quy định về phòng, chốngrửa tiền tương tự như tại Mỹ Tháng 12/1990, nước Anh ban hành một loạt văn bảnhướng dẫn các ngân hàng trong việc phát hiện và chấm dứt các hoạt động rửa tiền,trong đó tập trung chủ yếu vào các nhiệm vụ của ngân hàng trong việc cảnh báo chocác cơ quan quyền lực những hoạt động và giao dịch đáng ngờ Các hướng dẫn nàyđược xây dựng bởi NHTW Anh và các NHTM với sự phối hợp, tham gia của cơ quantình báo quốc gia, hải quan, cảnh sát Theo đó, ngân hàng phải đích thân nhận dạng tất
cả các khách hàng bằng mọi cách có thể, kể cả bằng cách gặp mặt trực tiếp Hướng dẫncũng chỉ rõ các cách thức xác nhận thông tin cá nhân, trong đó hộ chiếu là hình thứcđược ưu tiên, ngoài ra các hình thức khác cũng được chấp nhận như thẻ nhân viên,bằng lái xe… Hơn nữa, các ngân hàng phải lưu giữ tất cả các chứng từ giao dịch trong
6 năm để phục vụ điều tra
Cũng giống như tại Mỹ, việc không tuân theo những hướng dẫn và các luật, quy định
sẽ dẫn tới những trách nhiệm pháp lý Những trách nhiệm pháp lý dân sự có thể nảysinh nếu vi phạm những quy định về sự bảo mật của khách hàng Hướng dẫn tại Anhchỉ ra rằng các nhân viên của các định chế tài chính phải hợp tác một cách toàn diệnvới các cơ quan pháp luật và phải thông báo trước cho các cơ quan này các giao dịchđáng ngờ Trong khi các ngân hàng là chủ thể chính, các tổ chức tài chính khác nhưcông ty bảo hiểm, tổ chức môi giới cũng phải thực hiện những hướng dẫn này
Những quy định, luật lệ khác liên quan đến phòng, chống rửa tiền tại Anh bao gồmLuật Chống buôn bán ma tuý năm 1986, Luật Phòng, chống khủng bố năm 1987, LuậtHình sự (Hợp tác quốc tế) năm 1990 và Luật Hình sự năm 1993 Bộ luật đầu tiên chophép cảnh sát có quyền điều tra những tài sản đáng ngờ có liên quan đến ma túy, phongtỏa chúng và khi có chứng cớ sẽ tịch thu những tài sản này Luật Phòng, chống khủng
bố năm 1987 quy định sẽ kết tội những người sử dụng hoặc sở hữu quỹ khủng bố LuậtHình sự năm 1990 cho phép kết tội những người che giấu, biển thủ, chuyển nhượnghoặc vận chuyển những tài sản hoặc giúp đỡ người khác làm việc đó khi biết hoặc nghi
Trang 36ngờ những tài sản do phạm tội buôn bán ma tuý mà có Luật Hình sự năm 1993 mởrộng quyền lực của tòa án trong việc kết tội rửa tiền như một tội phạm hình sự.
1.5.3 Hoạt động phòng chống rửa tiền ở một số nước khác
Nước Úc cũng thực hiện hệ thống báo cáo giao dịch tiền tệ tương tự như tại Mỹ Bất kỳmột giao dịch tiền tệ nào tương đương hoặc lớn hơn 10.000 USD đều phải báo cáo.Những dữ liệu này sau đó được truyền tự động tới Cơ quan Báo cáo giao dịch tiền tệ.Tại Nhật, các ngân hàng được yêu cầu phải báo cáo tất cả các giao dịch tiền tệ trongnước vượt quá 30 triệu Yên và các giao dịch tiền tệ quốc tế vượt quá 5 triệu Yên Hơnnữa, trong trường hợp liên quan đến ma tuý, toà án có thể kết án ngân hàng và các tổchức tín dụng về tội rửa tiền
Các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Myanma, Indonesia, Philippine đều
có các văn bản về chống rửa tiền với những phạm vi và mức độ khác nhau Các nướcnày cũng đã thành lập những cơ quan chuyên trách riêng xử lý vấn đề liên quan đếnphòng, chống rửa tiền như AMLO hay AMLC Các cơ quan này có chức năng chủ yếu
là thu thập và xử lý thông tin liên quan đến tài sản liên quan đến buôn bán ma tuý vàrửa tiền
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này, luận văn đã giới thiệu các khái niệm về rửa tiền, chu trình và cácphương thức rửa tiền tiêu biểu và những ảnh hưởng của hoạt động rửa tiền đối với nềnkinh tế Cùng với sự phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế thì hoạt động rửa tiền khôngcòn giới hạn trong phạm vi quốc gia mà có xu hướng mở rộng ra trên toàn thế giới vàphương thức tiến hành ngày càng tinh vi hơn Nhưng cho dù xu hướng biến đổi như thếnào thì ngân hàng vẫn là sự lựa chọn hàng đầu vì khả năng giao dịch với số tiền lớn vàkhả năng cung ứng dịch vụ thanh toán quốc tế Ngành ngân hàng Việt Nam cũng đangđứng trước nguy cơ bị lợi dụng cho mục đích rửa tiền Thực trạng hoạt động phòng,chống rửa tiền ở chương sau sẽ làm rõ hơn vấn đề này
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN QUA
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam
- Điều 250 và điều 251 Bộ Luật Hình sự của Việt Nam đã quy định tội danh hợppháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có, là cơ sở để xây dựng Nghị định số
116/2013/NĐ-CP về PCRT hiện nay Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998 và LuậtPhòng, chống ma túy năm 2000 cũng đã quy định về các tội phạm tham nhũng và buônbán ma tuý
- Luật các tổ chức tín dụng đã quy định trách nhiệm của các định chế tài chínhđối với các khoản tiền có nguồn gốc bất hợp pháp tại Điều 19 Ở đây, trách nhiệm củacác ngân hàng và các tổ chức tín dụng cũng tương tự như trách nhiệm của họ quy địnhtrong Nghị định số 116/2013/NĐ-CP về PCRT của Chính phủ hiện nay Theo đó, tổchức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng không được che giấu, thựchiện bất kỳ dịch vụ nào liên quan đến khoản tiền đã có bằng chứng về nguồn gốc bấthợp pháp Trong trường hợp phát hiện các khoản tiền có dấu hiệu bất hơp pháp, tổ chứctín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng phải thông báo ngay cho ciwquan nhà nước có thẩm quyền
- Quyết định số 226/2002/QĐ-NHNN ngày 26/03/2001 của Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam ban hành Qui chế hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụthanh toán cũng có qui định tại Khoản 2 Điều 26 – Nghĩa vụ của tổ chức cung ứng dịch
vụ thanh toán “Từ chối thực hiện giao dịch thanh toán đã có bằng chứng về nguồn gốcbất hợp pháp”
- Thông tư số 22/2009/TT-NHNN ngày 17/11/2009 về hướng dẫn các biện phápPCRT
- Thông tư số 42/2011/TT-NHNN về hướng dẫn nhận biết và cập nhật thông tinkhách hàng trên cơ sở rủi ro phục vụ công tác PCRT
Trang 38- Luật phòng, chống rửa tiền được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam khóa XVIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/06/2012 và chính thức có hiệu lực từ01/01/2013.
- Quyết định số 20/2013/QĐ-TTg, quy định mức giá trị của giao dịch có giá trịlớn phải báo cáo là từ 300 triệu đồng, bắt đầu áp dụng từ ngày 10/6/2013
- Nghi định số 116/2013/NĐ – CP ngày 04/10/2013 qui định chi tiết thi hành một
số điều của Luật phòng, chống rửa tiền, hiệu lực từ ngày 10/10/2013
- Cục PCRT và Ban Chỉ đạo PCRT: Trung tâm PCRT (nay là Cục PCRT), đượcthành lập vào tháng 3/2007, là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước,
có chức năng tiếp nhận, phân tích, xử lý thông tin PCRT; chuyển giao những thông tinliên quan đến hoạt động rửa tiền tới cơ quan điều tra có thẩm quyền; giúp Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Nghị định số 74 nêu trên
- Việt Nam trở thành thành viên thứ 33 của Nhóm Châu Á – Thái Bình Dương(Asia Pacific Group – APG) – tổ chức quốc tế mang tính tự quản và hợp tác về chốngrửa tiền vào tháng 5/2007 Là thành viên của APG, Chính phủ Việt Nam cam kết thihành theo đúng các điều khoản phòng chống rửa tiền, đặc biệt là phải thực thi 40khuyến nghị của FATF Điều này có nghĩa là Việt Nam vừa tuân thủ theo các quy địnhquốc tế vừa phải để cho FATF giám sát và theo dõi cơ chế chống rửa tiền một cách chặtchẽ và cũng như phải được các cơ quan độc lập khác đánh giá, xem xét
- Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 156 của tổ chức cảnh sát hình
sự quốc tế (Interpol) vào năm 1991 Việt Nam và Interpol đã có sự phối hợp hiệu quảtrong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Nhiều vụ án quốc tế có liên quan đếnbuôn lậu, ma tuý, khủng bố, rửa tiền… đã bị phát hiện và xử lý kịp thời Việt Nam cũnghợp tác chặt chẽ và có hiệu quả với các quốc gia thành viên khác của Interpol và Hiệphội cảnh sát các nước Đông Nam Á (Aseanapol) trong đấu tranh với các loại tội phạmkhác như rửa tiền, cướp biển, lừa đảo tài chính, buôn bán phụ nữ và trẻ em, tội phạmtrên mạng Internet
Trang 39- Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) hiện là
tổ chức đi đầu toàn cầu trong công tác chống tội phạm ma tuý và các tội phạm quốc tế,xuyên quốc gia: buôn người, rửa tiền, tham nhũng, khủng bố, buôn bán vũ khí…
UNODC và Việt Nam cũng đã có sự hợp tác rất lâu trong lĩnh vực phòng, chống cácloại tội phạm này UNODC hiện đang hỗ trợ Việt Nam trong nâng cao năng lực phòngchống tội phạm và ma túy, bao gồm việc tăng cường cường hệ thống lập pháp, tư pháp
và hành chính Trong thời gian tới, các dự án của UNODC tại Việt Nam sẽ tập trungvào 3 lĩnh vực là công tác thi hành án về ma tuý, hoạt động cai nghiện ma túy ở cáctỉnh phía Bắc và tăng cường năng lực trong phòng chống tội phạm rửa tiền
2.2 Tổ chức thực hiện phòng chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam
- Về công tác tổ chức: Hiện thời, mỗi ngân hàng đều bố trí một thành viên ban
điều hành chịu trách nhiệm về tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc tuân thủ các quy định củapháp luật về PCRT tại đơn vị Tùy theo quy mô, mức độ, phạm vi và đặc thù hoạt độngcủa mình, từng ngân hàng có thể thành lập bộ phận chuyên trách hoặc chỉ định một bộphận tại trụ sở chính chịu trách nhiệm về PCRT; quy định rõ trách nhiệm của người phụtrách PCRT và của từng cá nhân, bộ phận trong quá trình tác nghiệp đảm bảo việc thựchiện quy chế nội bộ về PCRT của ngân hàng
-Về quy định nội bộ của các NHTM
Sau khi Luật phòng, chống rửa tiền được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam khóa XVIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/06/2012 và chính thức có hiệulực từ 01/01/2013 Một số ngân hàng đã tiến hành xây dựng và ban hành quy chế nội
bộ về PCRT làm căn cứ thực hiện công tác PCRT tại đơn vị mình Quy định nội bộ baogồm các chính sách, quy định, quy trình và thủ tục cơ bản
- Về ứng dụng công nghệ thông tin: Hiện nay, một số NHTM Việt Nam đã hoàn
thiện Module CIF quản lý hồ sơ khách hàng là những tiền đề để bất kỳ lúc nào truy cậpvào hệ thống sẽ có bức tranh toàn diện về khách hàng với những thông tin đầy đủ, chitiết và thường xuyên được cập nhật
Trang 40- Hành lang pháp lý: Dù Điều 251 Bộ luật Hình sự đã quy định xử lý hành vi rửa
tiền với tội danh hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có, Việt Nam chưa có quyđịnh về hình sự hóa hành vi rửa tiền, pháp luật hiện hành vẫn thiếu các điều khoản cụthể cho phép các cơ quan điều tra có thẩm quyền thực hiện phong tỏa và tạm giữ, cũngnhư không có luật cụ thể cho phép các quyền để nhận dạng, lần theo dấu vết và dò tìmnguồn thu của tội phạm
- Công tác phòng chống rửa tiền tại một số ngân hàng thương mại Việt Nam
Phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Nguồn: Phòng thông tin tín dụng và chống rửa tiền Vietcombank
Hình 2.1: Quy trình phòng chống rửa tiền tại Vietcombank
Nhờ việc ban hành quy trình, quy định nội bộ về PCRT thì việc phát hiện ra các giaodịch đáng ngờ ngày càng tăng, thông qua báo cáo chuyển về cục PCRT từ 1 giao dịchnăm 2006 tăng lên 42 giao dịch năm 2012
Biểu đồ 2.1: Số lượng báo cáo giao dịch đáng ngờ được Vietcombank chuyển về
cục PCRT qua các năm 2006 – 2012