TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU LÊN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN 2008 – 2012 Tóm tắt Bài nghiên cứu
Trang 1TÔ THỊ BÍCH LIỄU
TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU LÊN CHÍNH
SÁCH CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY PHI TÀI
CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG
KHOÁN TP.HCM TRONG GIAI ĐOẠN 2008 - 2012
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS TRẦN NGỌC THƠ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013
Trang 2Mục lục
Danh mục các bảng
Tóm tắt 1
1 Giới thiệu 1
1.1 Lý do chọn đề tài 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Phương pháp nghiên cứu 4
2 Cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu trước đây 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Khái niệm và tầm quan trọng của chính sách cổ tức 4
2.1.2 Một số chính sách chi trả cổ tức 5
2.1.2.1 Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động 5
2.1.2.2 Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định 6
2.1.2.3 Các chính sách chi trả cổ tức khác 6
2.1.3 Phương thức chi trả cổ tức 7
2.1.3.1 Phương thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt 7
2.1.3.2 Phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu 8
2.1.3.3 Phương thức chi trả cổ tức bằng tài sản khác 9
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định một chính sách cổ tức 9
2.1.4.1 Các hạn chế pháp lý 9
2.1.4.2 Các điều khoản hạn chế 10
2.1.4.3 Các ảnh hưởng của thuế 10
2.1.4.4 Các ảnh hưởng của khả năng thanh khoản 11
2.1.4.5 Khả năng vay nợ và tiếp cận các thị trường vốn 11
2.1.4.6 Ổn định thu nhập 11
2.1.4.7 Triển vọng tăng trưởng 12
Trang 32.1.5 Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp theo lý thuyết MM 13
2.1.5.1 Các giả định của lý thuyết MM 13
2.1.5.2 Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp theo lý thuyết MM 14
2.1.6 Lý thuyết chi phí đại diện 15
2.2 Tổng quan những nghiên cứu trước đây 16
3 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 24
3.1 Xây dựng giả thuyết 24
3.2 Dữ liệu nghiên cứu 25
3.3 Mô tả các biến nghiên cứu 26
3.3.1 Biến phụ thuộc 26
3.3.2 Biến độc lập 26
3.3.3 Biến kiểm soát 26
3.4 Thiết lập phương trình hồi quy xác định mối tương quan giữa cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức 30
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 30
4 Nội dung và các kết quả nghiên cứu 31
4.1 Thống kê mô tả biến 31
4.2 Kiểm tra độ tương quan giữa các biến 33
4.3 Kết quả hồi quy dữ liệu bảng của mô hình The Full Adjustment Model (FAM) 34
4.4 Kết quả hồi quy dữ liệu bảng của mô hình The Partial Adjustment Model (PAM) 39
5 Kết luận và hướng nghiên cứu tiếp theo 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 5TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU LÊN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN 2008 – 2012 Tóm tắt
Bài nghiên cứu này cố gắng kiểm tra tác động của cấu trúc quyền sở hữu lên chính sách cổ tức của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở chứng khoán TP
Hồ Chí Minh Nó đánh giá mức độ tác động của cấu trúc sở hữu đến chính sách chi trả cổ tức như thế nào Bài viết này sử dụng dữ liệu bảng trong giai đoạn từ năm
2008 đến năm 2012 Dựa trên những bài nghiên cứu về lĩnh vực này trước đây, bài nghiên cứu phân tích hồi quy thông qua kiểm định Pooled Regression, Fixed Effects Model (FEM), Random Effects Model (REM) trên 2 mô hình cổ tức của Lintner (1956), The Full Adjustment Model (FAM) và The Partial Adjustment Model (PAM) Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy có tồn tại mối quan hệ giữa cấu trúc quyền sở hữu đến chính sách cổ tức Cấu trúc sở hữu của nhà đầu tư tổ chức tương quan dương với chính sách chi trả cổ tức, cấu trúc sở hữu của nhà quản lý tương quan âm với chính sách chi trả cổ tức.
Từ khóa: Chính sách cổ tức, Quản trị Doanh nghiệp, cấu trúc sở hữu tổ chức, cấu trúc sở hữu quản lý, Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh.
1 Giới thiệu
Chính sách cổ tức là một phần quan trọng trong chính sách tài chính củaDoanh nghiệp vì nó vừa ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các cổ đông, vừa ảnhhưởng đến sự phát triển của công ty Đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những lýthuyết cũng như thực nghiệm về chính sách cổ tức Đầu tiên là cuộc tranh luận vềnhững giả định không thực tế của Miller và Modigliani (1961), hai ông cho rằng thịtrường vốn là hoàn hảo, không có những va chạm của thị trường như không có thuế,không có chi phí phát hành, không có chi phí giao dịch, không có thông tin bất cânxứng, chính sách cổ tức không ảnh hưởng đến tổng thu nhập của cổ đông, hay nóicách khác, mọi chính sách cổ tức đều như nhau
Trang 6Thực tế, thị trường vốn là không hoàn hảo và các bất hoàn hảo của thị trường
đã đem lại những suy luận và những quyết định về chính sách cổ tức cũng khácnhau giữa các doanh nghiệp vì thực chất nó ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị doanhnghiệp Hầu hết mọi người đều đồng ý rằng ban quản trị là những người nắm rõthông tin hơn những nhà đầu tư bên ngoài, kết quả là bất cứ hành động nào củadoanh nghiệp bao gồm cả cách thức huy động vốn hay phân chia lợi nhuận đều cóthể mang một hàm ý nào đó đối với nhà đầu tư bên ngoài, và chính sách cổ tức tạothành một phương tiện chuyển giao thông tin từ ban quản trị đến các cổ đông vềtriển vọng tương lai của công ty
Theo lý thuyết đại diện (Jensen và Meckling, 1976), các chủ sở hữu muốn tối
đa hóa giá trị doanh nghiệp, nghĩa là tối đa hóa giá trị thị trường của vốn cổ phầndoanh nghiệp Các nhà quản lý lại hướng đến các mục tiêu trong ngắn hạn: tăngdoanh số, tăng thị phần, tối đa hóa lợi nhuận, nhằm tăng mức lương, thưởng hay
uy tín của mình đối với doanh nghiệp Do vậy, lý thuyết về đại diện cho rằng, nếu
cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối
đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ khôngluôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ sở hữu, tức các cổ đông Sựtách biệt việc sở hữu và điều hành doanh nghiệp còn tạo ra hiện tượng thông tinkhông cân xứng, nhà quản lý có ưu thế hơn chủ sở hữu về thông tin, nên dễ dànghành động tư lợi, hơn nữa việc giám sát các hành động của người đại diện cũng rấttốn kém, khó khăn, phức tạp Với vị trí của mình, người quản lý công ty được cho làluôn có xu hướng tư lợi và không đủ siêng năng, mẫn cán, và có thể tìm kiếm cáclợi ích cá nhân cho mình chứ không phải cho công ty Tuy nhiên, cấu trúc sở hữuquản lý có thể ngăn ngừa xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và người chủ sở hữu,cân bằng lợi ích của nhà quản lý và cổ đông bên ngoài và làm tăng giá trị doanhnghiệp
Ngược lại với lập luận trên, Demsetz (1985) cho rằng nếu nhà quản lý cóquyền sở hữu cao thì họ sẽ chỉ vì lợi ích cá nhân của mình mà không quan tâm đếnlợi ích của cổ đông bên ngoài, do đó làm giảm giá trị doanh nghiệp
Trang 7Nói tóm lại, có rất nhiều nghiên cứu tranh luận xoay quanh vấn đề lợi ích giữanhà quản lý và cổ đông, một trong những lợi ích đó là chính sách cổ tức Và tầmquan trọng của nghiên cứu này cũng xuất phát từ vai trò của chính sách cổ tức đểbảo vệ lợi ích của cổ đông thiểu số và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Có nhiều bàinghiên cứu thực nghiệm kiểm tra tác động của cấu trúc quyền sở hữu đến chínhsách cổ tức được thực hiện ở các quốc gia phát triển như Anh, Mỹ, Nhật Bản Vìvậy bài nghiên cứu này sẽ cố gắng tìm ra mối quan hệ giữa cấu trúc quyền sở hữu
và chính sách cổ tức ở những quốc gia đang phát triển như Việt Nam
Bố cục của bài nghiên cứu được sắp xếp như sau : Phần 2 giới thiệu cơ sở lýluận và tổng quan các nghiên cứu trước đây, phần 3 mô tả dữ liệu và phương phápnghiên cứu, phần 4 trình bày nội dung và các kết quả nghiên cứu đạt được, phần 5trình bày thảo luận kết luận của bài nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
1.1 Lý do chọn đề tài
Chính sách cổ tức là một phần quan trọng trong chính sách tài chính củaDoanh nghiệp Lý thuyết của chính sách cổ tức trong việc xác định giá trị doanhnghiệp là một trong những chủ đề gây tranh cãi cho nhiều nhà nghiên cứu Chínhsách cổ tức là chính sách ấn định phân phối giữa lợi nhuận giữ lại tái đầu tư và chitrả cổ tức cho cổ đông Vai trò của chính sách cổ tức là thu hút thêm đầu tư nướcngoài và bảo vệ quyền lợi của các cổ đông thiểu số Còn cấu trúc sở hữu được xem
là một cơ chế trong quản trị doanh nghiệp, để tạo điều kiện tăng hiệu quả doanhnghiệp Tại Việt Nam, sự biến mất dần của các doanh nghiệp nhà nước và mở rộngdần của các công ty tư nhân, xuất hiện sự chuyển dịch cấu trúc sở hữu hay có nghĩa
là sự suy giảm của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước cùng với sự gia tăngcủa các doanh nghiệp tư nhân trong nước hoặc các doanh nghiệp thuộc sở hữu nướcngoài Đặc biệt việc gia nhập tổ chức Thương mại Quốc tế WTO đã dẫn đến sự cảicách thị trường vốn Việt Nam nhằm thu hút các nhà đầu tư trên thế giới Trong giaiđoạn này một câu hỏi quan trọng và thực sự cần thiết là cấu trúc quyền sở hữu vàchính sách cổ tức có mối quan hệ như thế nào Để từ đó chúng ta có thể xác địnhđược việc cải thiện cấu trúc quyền sở hữu cũng như chính sách cổ tức của các công
Trang 8ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh một cáchtốt nhất Do đó, tôi đã chọn bài nghiên cứu “Tác động của cấu trúc sở hữu lên chínhsách cổ tức của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP
Hồ Chí Minh” trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012 để xem xét vấn đề này
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu này, tôi xem xét tác động của cấu trúc quyền sở hữu lênchính sách cổ tức Đồng thời trả lời cho các câu hỏi sau :
Cấu trúc sở hữu của nhà đầu tư tổ chức và cấu trúc sở hữu của nhà quản lý tácđộng đến chính sách cổ tức của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở ChứngKhoán TP HCM như thế nào?
Mức độ tác động của từng khía cạnh đó lên chính sách cổ tức ra sao?
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm,đồng thời thực hiện phân tích hồi quy dữ liệu bảng thông qua kiểm định PooledRegression, Fixed Effects Model (FEM), Random Effects Model (REM) để kiểm tra
sự tác động của cấu trúc quyền sở hữu (bao gồm tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư tổ chức
và tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý) lên chính sách cổ tức của các công ty phi tài chínhtại thị trường TP Hồ Chì Minh Mẫu dữ liệu mà tôi thu thập được bao gồm 55 công
ty phi tài chính được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minhtrong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012
2 Cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu trước đây
2 1 Cơ sở lý luận
2 1.1 Khái niệm và tầm quan trọng của chính sách cổ tức
Chính sách tài trợ, chính sách đầu tư và chính sách cổ tức là ba chính sách tàichính quan trọng của doanh nghiệp Trong đó: Chính sách cổ tức là chính sách liênquan tới việc xác định lượng tiền mặt dùng để trả cổ tức cho các cổ đông thườngcủa công ty, quy định việc dùng bao nhiêu lượng tiền mặt để đầu tư vào sự pháttriển của công ty Mặc dù được xếp ưu tiên thấp hơn so với chính sách tài trợ và
Trang 9chính sách đầu tư nhưng các nhà quản lý tài chính thường tỏ ra thận trọng và cónhững xem xét đặc biệt khi lựa chọn chính sách cổ tức cho công ty họ, vì những lý
do chủ yếu sau :
Thứ nhất, chính sách phân chia cổ tức ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các
cổ đông Bởi lẽ, thông thường đại bộ phận cổ đông đầu tư vào công ty đều mong đợiđược trả cổ tức cao Vì thế việc tăng giảm hay cắt cổ tức của mỗi công ty sẽ ảnhhưởng trực tiếp đến giá cổ phiếu của công ty trên thị trường
Thứ hai, chính sách chia cổ tức ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của
công ty Vì chính sách cổ tức sẽ quyết định tỉ lệ tái đầu tư để phát triển công ty vàđây sẽ là nguồn vốn quan trọng hơn phát hành cổ phần mới
Vì những lý do trên những người lãnh đạo và quản lý công ty luôn cân nhắc,xem xét chính sách phân chia cổ tức sao cho hợp lý và phù hợp với tình hình và xuthế phát triển của công ty Đối với Việt Nam, việc xem xét chính sách phân chia cổtức của các công ty cổ phần ở các nước đã có quá trình phát triển lâu dài là điều cầnthiết để rút ra kinh nghiệm cho sự phát triển của công ty cổ phần ở nước ta
2.1.2 Một số chính sách chi trả cổ tức
2.1.2.1 Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động
Chính sách này xác nhận rằng một doanh nghiệp nên giữ lại lợi nhuận khidoanh nghiệp có các cơ hội đầu tư hứa hẹn các tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinhlợi mong đợi mà các cổ đông đòi hỏi Hay chính sách này ngụ ý rằng việc chi trả cổtức có thể thay đổi từ năm này qua năm khác và tùy thuộc vào các cơ hội đầu tư cósẵn
Tuy nhiên, có những chứng cứ mạnh mẽ cho thấy rằng hầu hết các doanhnghiệp cố gắng duy trì một tỷ lệ chi trả cổ tức tương đối ổn định theo thời gian Tấtnhiên điều này không có nghĩa là các doanh nghiệp đã bỏ qua những nguyên lý vềchính sách lợi nhuận giữ lại thụ động trong việc thực hành các quyết định phân phốibởi vì sự ổn định cổ tức có thể duy trì theo hai cách:
Trang 10Thứ nhất, doanh nghiệp có thể giữ lại lợi nhuận với tỷ lệ khá cao trong những
năm có nhu cầu vốn cao Nếu đơn vị tiếp tục tăng trưởng, các giám đốc có thể tiếptục thực hiện chiến lược này mà không nhất thiết phải giảm cổ tức
Thứ hai, doanh nghiệp có thể đi vay vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư và do đó
tăng tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần một cách tạm thời để tránh phải giảm cổ tức Nếudoanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư tốt trong suốt một năm nào đó thì chính sáchvay nợ sẽ thích hợp hơn so với cắt giảm cổ tức Sau đó, trong những năm tiếp theo,doanh nghiệp cần giữ lại lợi nhuận để đẩy tỷ số nợ trên vốn cổ phần về lại mứcthích hợp
Nguyên lý giữ lại lợi nhuận cũng đề xuất là công ty “tăng trưởng” thường có
tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hơn các doanh nghiệp đang trong giai đoạn sung mãn (bãohòa) Ngược lại, các doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng cao có khuynh hướng tỷ lệchi trả cổ tức hơi thấp
2.1.2.2 Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định
Hầu hết các doanh nghiệp và cổ đông đều thích chính sách cổ tức tương đối ổnđịnh Tính ổn định được đặc trưng bằng một sự miễn cưỡng trong việc giảm lượngtiền mặt chi trả cổ tức từ kỳ này sang kỳ khác Tương tự, những gia tăng trong tỷ lệ
cổ tức cũng thường bị trì hoãn cho đến khi các giám đốc tài chính công bố rằng cáckhoản lợi nhuận trong tương lai đủ cao đến mức độ thỏa mãn cổ tức lớn hơn Nhưvậy, tỷ lệ cổ tức có khuynh hướng đi theo sau một gia tăng trong lợi nhuận và đồngthời cũng thường trì hoãn lại trong một chừng mực nào đó
Có nhiều lý do tại sao các nhà đầu tư thích cổ tức ổn định Chẳng hạn, nhiềunhà đầu tư thấy các thay đổi cổ tức có nội dung hàm chứa thông tin Ngoài ra, nhiều
cổ đông cần và lệ thuộc vào một dòng cổ tức không đổi cho các nhu cầu tiền mặtcủa mình Dù họ có thể bán bớt một số cổ phần như một nguồn thu nhập hiện tạikhác nhưng do các chi phí giao dịch và các lần bán với lô lẻ cho nên phương án nàykhông thể thay thế một cách hoàn hảo cho lợi nhuận cổ tức đều đặn
2.1.2.3 Các chính sách chi trả cổ tức khác
Trang 11Ngoài chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động và cổ tức tiền mặt cố định, cácdoanh nghiệp còn có thể sử dụng một số các chính sách cổ tức khác như:
Chính sách cổ tức có tỷ lệ chi trả không đổi Nếu lợi nhuận của doanh nghiệp
thay đổi nhiều từ năm này sang năm khác thì cổ tức cũng có thể dao động theo
Chính sách chi trả một cổ tức nhỏ hàng quý cộng với cổ tức thưởng thêm vào cuối năm Chính sách này đặc biệt thích hợp cho những doanh nghiệp có lợi nhuận
hoặc nhu cầu tiền mặt biến động giữa năm này với năm khác, hoặc cả hai Ngay cảkhi doanh nghiệp có mức lợi nhuận thấp, các nhà đầu tư vẫn có thể trông cậy vàomột mức chi trả cổ tức đều đặn của họ; còn khi lợi nhuận cao và không có nhu cầu
sử dụng ngay nguồn tiền dôi ra này, các doanh nghiệp sẽ công bố một mức cổ tứcthưởng cuối năm Chính sách này giúp ban điều hành có thể linh hoạt giữ lại lợinhuận khi cần mà vẫn thỏa mãn được nhu cầu của các nhà đầu tư là muốn nhậnđược một mức cổ tức “bảo đảm”
Để có thể đưa ra một quyết định cho một chính sách cổ tức cụ thể, các banquản lý thường cân nhắc để lựa chọn cho doanh nghiệp mình một chính sách cổ tức
cụ thể, sau đó mới xét đến phương thức chi trả cổ tức như thế nào? Đây là một phầnquan trọng trong một chính sách cổ tức của một doanh nghiệp và cuối cùng là chia
tỷ lệ cổ tức một cách thích hợp
2.1.3 Phương thức chi trả cổ tức
Thông thường, có 3 phương thức chi trả cổ tức cơ bản là: cổ tức bằng tiền mặt,
cổ tức bằng cổ phiếu, và cổ tức bằng tài sản khác theo quy định tại doanh nghiệp.Trong đó, 2 phương thức đầu là phổ biến nhất
2.1.3.1 Phương thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt
Cổ tức tiền mặt là dạng cổ tức mà công ty lấy ra từ lợi nhuận ròng có đượcchia cho cổ đông dưới dạng tiền mặt (hoặc chuyển khoản)
Cổ tức tiền mặt được trả tính trên cơ sở mỗi cổ phiếu, được tính bằng phầntrăm mệnh giá
Ưu điểm:
Trang 12Cổ tức tiền mặt có tính thanh khoản rất cao, vì một số nhà đầu tư vào cổ phiếu sợrủi ro nên các cổ đông này thường muốn nhận một lượng tiền mặt ở hiện tại hơn là
kỳ vọng vào một lượng thu nhập không chắc chắn ở tương lai
Có thể phát tín hiệu tốt cho thị trường, vì các công ty chi trả cổ tức bằng tiền mặtthì chứng tỏ khả năng thanh toán của công ty là rất tốt, đặc biệt là tình hình hoạtđộng của công ty
Việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt có thể khẳng định khả năng quản lý tốt của banđiều hành doanh nghiệp, ngoài ra có thể đào thải những nhà quản lý kém cỏi
Nhược điểm:
Nguồn vốn của công ty bị giảm do dùng tiền mặt chi trả cổ tức, ngoài ra, dòngtiền đi ra càng nhiều đe dọa đến khả năng thanh toán của công ty
Giá cổ phần của công ty bị giảm đúng bằng lượng cổ tức được chia
Có khả năng công ty phải gia tăng thêm nợ, làm tăng chi phí kiệt quệ tài chính vàrủi ro trong các dự án đầu tư khi tỷ trọng tiền vay ở mức lớn
Sức ép từ việc chi trả bằng tiền mặt làm việc kinh doanh của một số doanhnghiệp kém hiệu quả, thua lỗ nhưng vẫn cố chi trả cổ tức cho cổ đông
2.1.3.2 Phương thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu
Đây là hình thức kết hợp của việc phân chia lợi nhuận với việc huy động vốncủa công ty Tuy công ty không nhận được cổ tức bằng tiền mặt nhưng lại nhậnđược cổ phiếu; do đó, nhà đầu tư sẽ thu được lãi vốn trong tương lai
Về bản chất, cổ đông sẽ nhận được nhiều cổ phiếu hơn nhưng giá thị trườngcủa cổ phiếu sẽ bị điều chỉnh giảm để đảm bảo nguyên tắc công bằng với các cổđông mua vào ngày hoặc sau ngày giao dịch không hưởng quyền trả cổ tức bằng cổphiếu
Ví dụ khi doanh nghiệp tuyên bố trả cổ tức bằng cổ phiếu là 10% một năm.Nghĩa là cổ đông hiện hành sở hữu 100 cổ phiếu sẽ có thêm được 10 cổ phiếu nữa.Mặc dù vậy, vốn điều lệ công ty sẽ tăng lên và số lượng cổ phiếu lưu hành sẽnhiều hơn Luồng tiền mặt không hề bị di chuyển ra khỏi doanh nghiệp Tuy nhiên,
Trang 13việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu được các chuyên gia khuyến nghị nên áp dụng chonhững doanh nghiệp đang làm ăn tốt và có thị giá cổ phiếu cao.
Ưu điểm:
Hạn chế được lượng tiền mặt ra khỏi doanh nghiệp, đẩy mạnh việc tái đầu tư mởrộng sản xuất, tạo cơ hội làm tăng tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận của công ty từ đó làmtăng tỷ lệ tăng trưởng cổ tức và làm giá cổ phiếu tăng lên
Không phải chịu áp lực tăng nợ vay, giảm thiểu rủi ro thanh toán
Nhược điểm:
Làm số lượng cổ phiếu đang lưu hành của công ty tăng lên; do đó, có thể làm giá
cổ phiếu bị giảm do các chỉ số tài chính
Tạo áp lực cho việc chi trả cổ tức trong tương lai
Việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu ở tỷ lệ cao sẽ dẫn tới chi phí cổ tức ở các nămsau tăng lên buộc công ty phải sử dụng vốn huy động một cách có hiệu quả
Phương thức chi trả này khó có thể duy trì một cách liên tục
2.1.3.3 Phương thức chi trả cổ tức bằng tài sản khác
Ngoài hai phương thức trên thì doanh nghiệp cũng có thể có cách chi trả cổ tứckhác ngoài tiền mặt và cổ phiếu Đó có thể là trái phiếu hoặc chứng khoán khác củacông ty hay thậm chí có thể là tài sản của chính công ty Thông thường các doanhnghiệp chỉ thực hiện phương thức này khi doanh nghiệp thật sự gặp khó khăn vềtiền mặt Tuy nhiên chỉ trong một thời gian ngắn chứ không phải là lâm vào tìnhtrạng kiệt quệ về tài chính Tóm lại trên thực tế phương thức này rất hiếm gặp
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định một chính sách cổ tức
Về mặt lý thuyết, khi các nhà quản trị cân nhắc lựa chọn một chính sách cổ tứccho công ty mình thì họ phải xem xét các yếu tố cơ bản sau:
2.1.4.1 Các hạn chế pháp lý
Khi ấn định chính sách cổ tức của mình thì các doanh nghiệp đều phải cânnhắc các hạn chế sau như các nguyên tắc về mặt pháp lý như:
Hạn chế suy yếu vốn
Trang 14Tức là doanh nghiệp không thể dùng vốn để chi trả cổ tức.Tùy theo định nghĩa
về vốn mà mức hạn chế của các doanh nghiệp khác nhau, vì vốn có thể chỉ bao gồmmệnh giá cổ phần thường hoặc có thể bao gồm mệnh giá cổ phần thường và thặng
dư vốn
Hạn chế lợi nhuận ròng
Tức là cổ tức phải được chi trả từ lợi nhuận ròng hiện nay và thời gian qua,nhằm ngăn cản các chủ sở hữu thường rút đầu tư ban đầu và làm suy yếu vị thế antoàn của các chủ nợ của doanh nghiệp
Hạn chế mất khả năng thanh toán:
Tức là không thể chi trả cổ tức khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán (nợnhiều hơn tài sản), nhằm đảm bảo quyền ưu tiên của chủ nợ đối với tài sản củadoanh nghiệp
2.1.4.2 Các điều khoản hạn chế
Các điều khoản hạn chế thường tác động nhiều đến chính sách cổ tức hơn cáchạn chế pháp lý như vừa trình bày Các điều khoản này nằm trong các giao kèo tráiphiếu, điều khoản vay, thỏa thuận vay ngắn hạn, hợp đồng thuê tài sản, và các thỏathuận cổ phần ưu đãi
Về cơ bản, các hạn chế này giới hạn tổng mức cổ tức của một doanh nghiệp cóthể chi trả Đôi khi, các điều khoản này có thể quy định không thể chi trả cổ tức chođến khi nào lợi nhuận của doanh nghiệp đạt được một mức ấn định nào đó
Ngoài ra, các yêu cầu về quỹ dự trữ (để thanh toán nợ), quy định rằng mộtphần nào đó của dòng tiền của doanh nghiệp phải được dành để tài trợ, đôi khi cũnghạn chế việc chi trả cổ tức Việc chi trả cổ tức cũng bị ngăn cấm nếu vốn luânchuyển hay tỷ lệ nợ hiện hành của doanh nghiệp không cao hơn một mức định sẵnnào đó
2.1.4.3 Các ảnh hưởng của thuế
Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong một thế giới không có thuế thì cácnhà đầu tư sẽ bàng quan với việc nhận cổ tức hay lãi vốn Nhưng trong thực tế, thunhập từ cổ tức bị đánh thuế cao hơn nhiều so với thu nhập từ lãi vốn Ngoài ra, thu
Trang 15nhập cổ tức bị đánh thuế ngay (trong năm hiện hành), còn thu nhập lãi vốn có thểhoãn đến các năm sau Vì thế sẽ rất logic khi rút ra kết luận là các nhà đầu tư có thểkhông thích nhận cổ tức Điều này sẽ được phản ánh trong giá cổ phiếu Những yếu
tố khác không đổi, giá cổ phiếu của các công ty trả cổ tức sẽ thấp hơn giá cổ phiếucủa các công ty giữ lại thu nhập để tái đầu tư Khi quyết định chi trả cổ tức, doanhnghiệp sẽ cân nhắc đến sự chênh lệch giữa thuế suất đánh trên thu nhập lãi vốn vàthu nhập cổ tức
Rõ ràng các yếu tố vừa trình bày có xu hướng như khuyến khích doanh nghiệpgiữ lại lợi nhuận nhiều Tuy nhiên nếu doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận nhiều vớimục đích bảo vệ các cổ đông khỏi phải chi trả thuế thu nhập cá nhân trên cổ tức sẽ
đi ngược lại mục tiêu tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp
2.1.4.4 Các ảnh hưởng của khả năng thanh khoản
Chi trả cổ tức là dòng tiền đi ra Vì vậy, khả năng thanh khoản của doanhnghiệp càng lớn, doanh nghiệp càng có nhiều khả năng chi trả cổ tức Ngay cả khimột doanh nghiệp có một thành tích quá khứ tái đầu tư lợi nhuận cao, đưa đến một
số dư lợi nhuận giữ lại lớn, có thể doanh nghiệp này không có khả năng chi trả cổtức nếu không có đủ tài sản có tính thanh khoản cao, nhất là tiền mặt Khả năngthanh khoản thường trở thành một vấn đề trong giai đoạn kinh tế suy yếu dài hạn,khi cả lợi nhuận và dòng tiền đều sụt giảm Các doanh nghiệp tăng trưởng nhanhchóng có nhiều các cơ hội đầu tư sinh lợi cũng thường thấy khó khi phải vừa duy trì
đủ thanh khoản vừa chi trả cổ tức cùng một lúc
2.1.4.5 Khả năng vay nợ và tiếp cận các thị trường vốn
Doanh nghiệp lớn, có uy tín, dễ dàng tiếp cận với thị trường tín dụng và cácnguồn vốn bên ngoài thì càng có nhiều khả năng chi trả cổ tức bởi khả năng thanhkhoản linh hoạt và tận dụng các cơ hội đầu tư Ngược lại, đối với các doanh nghiệpnhỏ, chỉ có vốn cổ phần, khó tiếp cận vốn bên ngoài thì khi có cơ hội đầu tư mớithuận lợi, thường việc chi trả cổ tức không nhất quán với mục tiêu tối đa hóa giá trịdoanh nghiệp
2.1.4.6 Ổn định thu nhập
Trang 16Hầu hết các doanh nghiệp lớn, có cổ phần được nắm giữ rộng rãi thường do dựđối với việc hạ thấp chi trả cổ tức, ngay cả những lúc gặp khó khăn nghiêm trọng vềtài chính Vì vậy, một doanh nghiệp có một lịch sử lợi nhuận ổn định thường sẵnlòng chi trả cổ tức cao hơn một doanh nghiệp có thu nhập không ổn định Mộtdoanh nghiệp có các dòng tiền tương đối ổn định qua nhiều năm có thể tự tin vềtương lai hơn, và thường phản ánh sự tin tưởng này trong việc cho trả cổ tức caohơn.
2.1.4.7 Triển vọng tăng trưởng
Một doanh nghiệp tăng trưởng nhanh thường có nhu cầu vốn lớn để tài trợ các
cơ hội đầu tư hấp dẫn của mình Thay vì chi trả cổ tức nhiều và sau đó cố gắng bán
cổ phần mới để huy động vốn cổ phần cần thiết, doanh nghiệp thuộc loại nàythường giữ lại một phần lớn lợi nhuận và tránh bán cổ phần mới ra công chúng vừatốn kém vừa bất tiện
2.1.4.8 Lạm phát
Trong một môi trường lạm phát, vốn phát sinh từ khấu hao thường không đủ
để thay thế tài sản của một doanh nghiệp khi các tài sản này cũ kỹ, lạc hậu Trongtrường hợp này, một doanh nghiệp có thể buộc phải giữ lại một tỷ lệ lợi nhuận caohơn để duy trì năng lực hoạt động cho tài sản của mình
Lạm phát cũng có một tác động trên nhu cầu vốn luân chuyển của doanhnghiệp Trong một môi trường giá cả tăng, số tiền thực tế đầu tư vào kho hàng vàcác khoản phải thu có chiều hướng tăng để hỗ trợ cho cùng một khối lượng hiện vậtkinh doanh Như vậy, lạm phát có thể buộc một doanh nghiệp giữ lại lợi nhuậnnhiều hơn để duy trì vị thế vốn luân chuyển giống như trước khi có lạm phát
2.1.4.9 Các ưu tiên của cổ đông
Một doanh nghiệp được kiểm soát chặt chẽ với tương đối ít cổ đông thì banđiều hành có thể ấn định mức cổ tức theo ưu tiên của các cổ đông (tức là mục tiêu,
sở thích của cổ đông) Còn các doanh nghiệp có số lượng cổ đông lớn, rộng rãi thìkhông thể tính đến các ưu tiên của cổ đông khi quyết định chi trả cổ tức mà chỉ cóthể xem xét các yếu tố cơ hội đầu tư, nhu cầu dòng tiền, tiếp cận thị trường tài chính
Trang 17và các yếu tố liên quan khác “Hiệu ứng khách hàng” cho thấy các nhà đầu tư sẽ lựachọn các công ty có chính sách cổ tức phù hợp với mục tiêu của mình.
2.1.4.10 Bảo vệ chống loãng giá
Việc quyết định giữ lại lợi nhuận, chi trả cổ tức có thể còn phụ thuộc vào cácquyết định tài trợ, cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp Rủi ro loãng giá, tức quyềnlợi của chủ sở hữu theo phần trăm bị loãng, xuất hiện khi doanh nghiệp phát hành
cổ phần mới vì có thể có cổ đông không mua hoặc không thể mua theo tỷ lệ tươngứng Vì vậy, có vài doanh nghiệp lựa chọn chi trả cổ tức thấp để tránh rủi ro loãnggiá (vì tránh được phát hành cổ phần mới do cần vốn)
2.1.5 Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp theo lý thuyết MM
Tranh luận về chính sách cổ tức tác động như thế nào đến giá trị doanh nghiệp,
có 3 trường phái khác nhau: Trường phái hữu khuynh bảo thủ tin rằng một gia tăng trong tỷ lệ chi trả cổ tức sẽ làm tăng giá trị doanh nghiệp; Trường phái tả khuynh
cấp tiến tin rằng một gia tăng trong tỷ lệ chi trả cổ tức sẽ làm giảm giá trị doanh
nghiệp; Trường phái trung dung lại cho rằng chính sách cổ tức không tác động gì
đến giá trị doanh nghiệp Mỗi tranh luận của các trường phái đều có những giá trịkhoa học đáng trân trọng
2.1.5.1 Các giả định của lý thuyết MM
Theo lý thuyết đoạt giải Nobel kinh tế của Miller và Modigliani (1961) thìchính sách cổ tức hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp, màgiá trị doanh nghiệp lại tùy thuộc vào các quyết định đầu tư Nhưng kết luận nàycủa MM được gắn với các giả định của một thị trường vốn hiệu quả và hoàn hảo:
Không có thuế: Theo giả định này, các nhà đầu tư không bận tâm về việc họ sẽ
nhận được thu nhập cổ tức hay thu nhập lãi vốn
Không có chi phí giao dịch: Giả định này ngụ ý rằng các nhà đầu tư vào chứng
khoán của các doanh nghiệp chi trả ít hoặc không chi trả cổ tức có thể bán lại(không có phí tổn) bất cứ số cổ phần nào mà họ muốn bán để chuyển đổi lãi vốnthành thu nhập thường xuyên
Trang 18Không có chi phí phát hành: Nếu các doanh nghiệp không phải chi trả các chi
phí phát hành cho việc phát hành chứng khoán mới, họ có thể nhận được vốn cổphần cần thiết cùng với chi phí, không kể họ giữ lại lợi nhuận hay chi trả cổ tức Đôikhi việc chi trả cổ tức đưa đến nhu cầu bán cổ phần mới theo định kỳ
Chính sách đầu tư và tài trợ cố định: Nghĩa là cho dù doanh nghiệp có dư tiền
thì cũng không thể đem số tiền đó đi đầu tư thêm mà chỉ có thể mua lại cổ phầnhoặc chia cổ tức mà thôi Hoặc doanh nghiệp thiếu tiền thì doanh nghiệp cũngkhông thể đi vay thêm được mà chỉ có thể phát hành thêm cổ phần để tài trợ cho dự
án mới của mình
2.1.5.2 Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp theo lý thuyết MM
MM khẳng định rằng các thay đổi quan sát được trong giá trị doanh nghiệp làkết quả của các quyết định cổ tức thật ra là do nội dung hàm chứa thông tin hay các tácđộng phát tín hiệu của chính sách cổ tức Có nghĩa là các thay đổi trong chi trả
cổ tức tiêu biểu một tín hiệu cho các nhà đầu tư về đánh giá của ban điều hành vềlợi nhuận và dòng tiền tương lai của doanh nghiệp
Ví dụ, một cắt giảm cổ tức được xem như truyền đạt các thông tin bất lợi vềtriển vọng lợi nhuận của doanh nghiệp MM cũng còn dựa vào lập luận hiệu ứngkhách hàng để bảo vệ cho kết luận của mình Theo đó, doanh nghiệp thay đổi chínhsách cổ tức có thể mất một số cổ đông qua các doanh nghiệp khác có cổ tức hấp dẫnhơn Do đó, giá cổ phần sụt giảm tạm thời Nhưng các nhà đầu tư khác thích chínhsách cổ tức mới sẽ cho rằng cổ phần của doanh nghiệp bị bán dưới giá và sẽ muathêm cổ phần Trong thế giới MM, các giao dịch này diễn ra tức khắc và không cótổn phí, kết quả là giá trị cổ phần giữ nguyên không đổi
Lý thuyết về chính sách cổ tức cho ta thấy hai điều:
Một là, nếu không tồn tại nguồn tài trợ bên ngoài – tức công ty không thể huyđộng vốn bằng cách đi vay hay tăng vốn chủ sở hữu (một điều kiện rất vô lý, khôngtồn tại trong thực tế) – thì chính sách cổ tức sẽ phát huy tác dụng làm tăng giá trịcủa công ty chỉ khi công ty có cơ hội đầu tư mới có suất sinh lợi trên vốn đầu tư(ROI) lớn hơn suất sinh lợi hiện hành, tức lớn hơn tỷ suất sinh lợi mà cổ đông đòi
Trang 19hỏi Nói cách khác, chính quyết định đầu tư chứ không phải chính sách cổ tức có tácđộng đến giá trị của vốn chủ sở hữu.
Hai là, nếu tồn tại nguồn tài trợ bên ngoài thì chính sách cổ tức sẽ chẳng có tácđộng gì đến giá trị của công ty Nói cách khác, chính sách cổ tức khi đó sẽ chẳng có
ý nghĩa gì cả Kết luận chung là chính sách cổ tức, về mặt lý thuyết, là chẳng có ýnghĩa gì cả nhưng thực tế thì không như vậy
2.1.6 Lý thuyết chi phí đại diện
Lý thuyết đại diện chính thức ra đời vào đầu những năm 1970, nhưng nhữngkhái niệm liên quan đến nó đã có một lịch sử lâu dài và đa dạng Một vài nhà nghiêncứu đáng chú ý trong giai đoạn đầu phôi thai của lý thuyết đại diện những năm 1970là: Armen Alchian, Harold Demsetz, Michael Jensen, William Meckling vàS.A.Ross Lý thuyết đại diện đề cập đến mối quan hệ hợp đồng giữa một bên làngười chủ quyết định công việc và một bên khác là người đại diện thực hiện cáccông việc đó Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ này được côngbố; và được biết đến như một phần lý thuyết quan trọng trong toàn bộ lý thuyết vềdoanh nghiệp hiện đại
Lý thuyết đại diện nêu ra vấn đề chính là làm thế nào để người làm công(người đại diện) làm việc vì lợi ích cao nhất cho người tuyển dụng (người chủ) khi
họ có lợi thế về thông tin hơn người chủ và có những lợi ích khác với lợi ích củanhững ông chủ này Lý thuyết này kết luận rằng dưới những điều kiện thông tinkhông hoàn hảo (không đầy đủ và không rõ ràng), đặc điểm của hầu hết các thịtrường, hai vấn đề về đại diện sẽ xuất hiện là: lựa chọn bất lợi và mối nguy đạo đức.Lựa chọn bất lợi là trường hợp người chủ không thể biết chắc liệu người đại diệncho mình có đủ khả năng thực hiện công việc mà họ được trả tiền để làm haykhông, hay liệu khả năng làm việc của người đại diện có tương xứng với số tiền họtrả hay không Mối nguy đạo đức là trường hợp người chủ không chắc chắn liệungười đại diện có nỗ lực tối đa cho công việc được giao hay không, hay liệu họ cótrục lợi cá nhân khi họ là người biết rõ những thông tin mà không phải cổ đông -ông chủ nào cũng biết
Trang 20Chi phí đại diện là loại chi phí để duy trì một mối quan hệ đại diện hiệu quả
(ví dụ một khoản tiền thưởng vì những gì đã thể hiện của nhà quản trị để khuyếnkhích họ làm việc vì lợi ích của các cổ đông)
Lý thuyết đại diện định nghĩa chi phí đại diện là tổng của các loại chi phí: chiphí giám sát (monitoring cost) để giám sát hoạt động của người đại diện, như là chiphí kiểm toán; chi phí ràng buộc (bonding cost) để thiết lập một bộ máy có thể tốithiểu những hành vi quản trị không mong muốn, như là bổ nhiệm những thành viênbên ngoài vào ban điều hành hay tái thiết lập hệ thống tổ chức của công ty; và mấtmát phụ trội (residual loss) hay chi phí cơ hội khi các cổ đông thuê người đại diện
và buộc phải đưa ra các hạn chế, ví dụ những thiệt hại do người đại diện lạm dụngquyền được giao để tư lợi, những thiệt hại do việc đặt ra quy định đối với quyền bỏphiếu của cổ đông về những vấn đề cụ thể, thiệt hại từ những biện pháp kiểm soáthoạt động của người đại diện
2.2 Tổng quan những nghiên cứu trước đây
Bài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và cấu trúc sở hữu tổchức” (The Link between Dividend Policy and Institutional Ownership) của Short,Zhang và Keasey (2002) xem xét mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và cấu trúc sởhữu tổ chức của 211 công ty phi tài chính trên thị trường chứng khoán Luân Đôn.Nhóm tác giả sử dụng phân tích hồi quy OLS thông qua 4 mô hình: The FullAdjustment Model, The Partial Adjustment Model (Lintner, 1956), The WaudModel (1966), và The Earnings Trend Model (Fama and Babiak, 1968) với mẫu là
211 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Luân Đôn từ năm
1988 đến năm 1992, mẫu đã loại trừ các công ty tài chính, dầu khí, công ty tư nhân,công ty thiếu dữ liệu
Mô hình nghiên cứu như sau:
D ti – D (t-1)i = α + r(E ti – E (t-1)i ) + r I (E ti – E (t-1)i ) * Inst + r M (E ti – E (t-1)i )*MDum + μ ti
(The Full Adjustment Model)
D ti – D (t-1)i = α + crE ti + cr I E ti * Inst + cr M E ti * MDum - cD (t-1)i + μ ti
(The Partial Adjustment Model)
Trang 21D ti – D (t-1)i = ad + cdrE ti + cdr I E ti * Inst + cdr M E ti * MDum + (1– d – c)D (t-1)i
+ (1 – d)(1 – c) D (t-2)i – μ ti (The Waud Model)
D ti – D (t-1)i = α + rcE ti + rj(1 – c) E (t-1)i + rj I (1 – c) E (t-1)i * Inst +
rj M (1 – c) E (t-1)i * MDum - cD (t-1)i + μ ti
(The Earnings Trend Model)Trong đó :
Dit : Cổ tức của công ty i trong thời gian t
Eit : Thu nhập trên mỗi cổ phần của công ty i trong thời gian t
INST : Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư tổ chức nắm giữ 5% trở lên
MDum : Tỷ lệ sở hữu của Thành viên Hội Đồng Quản Trị
c : Tốc độ tăng của hệ số điều chỉnh
Kết quả cho thấy có mối tương quan dương giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và quyền
sở hữu tổ chức Hơn nữa, nó còn làm tăng thu nhập Còn giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và
quyền sở hữu quản lý có mối tương quan âm.
Kết quả của mô hình FAM cho thấy rằng hệ số r và rI dương và có ý nghĩathống kê Kết quả phù hợp với giải thuyết có mối quan hệ dương giữa tỷ lệ chi trả
cố tức và quyền sở hữu tổ chức Hệ số rM âm cho thấy tương quan âm giữa tỷ lệ chitrả cổ tức và quyền sở hữu tổ chức
Hệ số c của Dt-1 âm, còn hệ số cr và crI dương và có ý nghĩa thống kê trong
mô hình PAM Kết quả , một lần nữa cho thấy các công ty có tỷ lệ sở hữu tổ chứctrên 5% có tỷ lệ chi trả cổ tức cao hơn Mô hình PAM cho thấy mối quan hệ giữaquyền sở hữu quản lý và tỷ lệ chi trả cổ tức không đáng kể như mong đợi
Kết quả của mô hình WM cho thấy hệ số c và d của Dt-1 và Dt-2, hệ số cdr vàcdrI đều dương, hệ số cdrM âm Có nghĩa là tỷ lệ sở hữu tổ chức trên trung bình sẽlàm tăng tỷ lệ chi trả cổ tức Ngược lại, tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý trên trung bình
sẽ làm giảm tỷ lệ chi trả cổ tức
Trang 22Kết quả từ mô hình ETM cho thấy ngoài việc cấu trúc sở hữu tổ chức tươngquan dương với tỷ lệ chi trả cổ tức mà còn tương quan dương với thu nhập của côngty.
Tóm lại, cả 4 mô hình đều cho thấy tác động dương giữa tỷ lệ chi trả cổ tức vàcấu trúc sở hữu tổ chức, tác động âm giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và cấu trúc sở hữuquản lý Hơn nữa kết quả từ mô hình ETM cho thấy có sự ảnh hưởng của cấu trúc
sở hữu tổ chức lên thu nhập của công ty
Bài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa cấu trúc quyền sở hữu và chính sách cổ tứccủa doanh nghiệp : Bằng chứng từ thị trường Chứng khoán Athens” (“Therelationship between Ownership Structure and Corporate Dividend Policy –Evidence from the Athens Stocks Exchange”) của Karathanassis và
Chrysanthopoulou (2005) xem xét khả năng giải thích của 3 mô hình The Full
Adjustment Model và The Partial Adjustment Model và The Earnings Trend Modelđược sửa đổi để kết hợp với các yếu tố đại diện cấu trúc sở hữu bởi nhà đầu tư tổchức và Thành viên Hội đồng Quản trị
Tác giả cũng dựa trên 3 mô hình cổ tức như Short, Zhang và Keasey (2002) với mẫu là 55 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Athens từ năm 1996 đến năm 1998 , loại trừ các công ty trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, bảo hiểm, công ty cho thuê tài chính, công ty sở hữu công cộng, công ty thiếu dữ liệu Mô hình nghiên cứu :
D ti – D (t-1)i = α + r(E ti – E (t-1)i ) + r INST (E ti – E (t-1)i ) * INST + r MAN (E ti – E (t-1)i )*MAN
+ u ti
(The Full Adjustment Model)
D ti – D (t-1)i = α + crE ti + cr INST E ti * INST + cr MAN E ti *MAN – cD (t-1)I + u ti
(The Partial Adjustment Model)
D ti – D (t-1)i = α + crE ti + rλ(1-c)E (t-1)I + rλ INST (1- c)E (t-1)i * INST + rλ MAN
Et(1-c) E (t-1)i *MAN – cD (t-1)I + u ti
(The Waud Model)
Trang 23Trong đó :
Dit : Cổ tức của công ty i trong thời gian t
Eit : Thu nhập trên mỗi cổ phần của công ty i trong thời gian t
INST : Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư tổ chức nắm giữ 3% trở lên
Man : Tỷ lệ sở hữu của Thành viên Hội Đồng Quản Trị
Bằng chứng thực nghiệm trong nghiên cứu này cho thấy tồn tại mối tươngquan dương giữa cấu trúc sở hữu tổ chức và chính sách cổ tức, đồng thời có mốitương quan âm giữa cấu trúc sở hữu quản lý Hay như trong bài nghiên cứu củaChen và cộng sự (2005) nghiên cứu xem có sự tác động của cấu trúc sở hữu tậptrung lên thành quả và giá trị công ty hay không? Và liệu nó có ảnh hưởng đếnchính sách cổ tức hay không? Kết quả cho thấy có mối tương quan âm giữa cấu trúc
sở hữu tập trung và chính sách cổ tức và sự tác động của cấu trúc sở hữu của Thànhviên Hội Đồng Quản Trị tương đối thấp
Bài nghiên cứu “Cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức, thực nghiệm từ thịtrường chứng khoán Tunisian” (Ownership Structure and Dividend Policy Edidencefrom the Tunisian Stock Market) của Kouki và Guizani (2009) nhằm xác định ảnhhưởng của các cổ đông trên mức cổ tức chi trả Để đạt được mục tiêu này, tác giả đã
sử dụng mẫu là 29 công ty trên thị trường chứng khoán Tunisian trong giai đoạn1995-2001
Dựa trên những dự đoán của lý thuyết tài chính và những nghiên cứu trước đó,tác giả sử dụng mô hình thực nghiệm dưới đây:
DIV it = c i + b 1i FCF it + + b 2i Lev it + b 3i Q it + b 4i Size it + + b 5i Inst it + b 6i Eta it +
b 7i Maj it + ε it
Trong đó :
DIV : Cổ tức trên mỗi cổ phiếu
FCF : Dòng tiền tự do
Lev : Hệ số đòn bẩy tài chính
Q (Tobin’s Q) : Tỷ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách
Size : Quy mô công ty
Trang 24Inst : Tỷ lệ phần trăm sở hữu của nhà đầu tư tổ chức (ngân hàng, bảo hiểm, quỹ đầutư…)
Eta : Tỷ lệ phần trăm sở hữu của nhà nước
Maj : Tỷ lệ phần trăm sở hữu của 5 cổ đông lớn nhất, biến giả bằng 1 nếu tỷ lệ sở hữu là 5 cổ đông lớn nhất và bằng 0 nếu ngược lại Nhóm tác giả thực hiện hồi quy trên 5 mô hình:
Mô hình 1 : DIV = f (FCF, Lev, Q, SIZE, INST, ETA, MAJ)
Mô hình 2 : DIV = f (FCF, Lev, Q, INST, ETA, MAJ)
Mô hình 3 : DIV = f (FCF, Q, INST, ETA, MAJ)
Mô hình 4 : DIV = f (FCF, Lev, Q, INST, MAJ)
Mô hình 5 : DIV = f (FCF, Q, SIZE, INST)
Kết quả cho thấy có một mối tương quan âm giữa quyền sở hữu tổ chức và cổtức trên mỗi cổ phiếu, và giữa sở hữu nhà nước và mức cổ tức chia cho cổ đông.Tác giả cũng tìm thấy rằng quyền sở hữu trong năm cổ đông lớn nhất càng cao thì
cổ tức được chi trả cao hơn Kết quả hồi quy được tiến hành vào năm mô hình chothấy một hiệu ứng mạnh mẽ của dòng tiền tự do trên chính sách cổ tức Tiền mặtcàng nhiều thì cổ tức trên mỗi cổ phiếu càng cao Bằng chứng thực nghiệm cũngcho thấy rằng, quy mô doanh nghiệp có tác động tiêu cực đến tỷ lệ chi trả cổ tức.Các doanh nghiệp lớn ít có khả năng chi trả cổ tức Hơn nữa, chúng ta thấy rằng cácdoanh nghiệp có cơ hội đầu tư tốt sẽ có nhiều khả năng để trả cổ tức Tóm lại,nghiên cứu của 2 tác giả đã cho thấy mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu tổ chức, nhànước, quản lý và chính sách cổ tức Nhóm tác giả chỉ ra rằng chính sách cổ tứckhông phải là không liên quan như lập luận của MM (1961)
Bài nghiên cứu “Cấu trúc quyền sở hữu và chính sách cổ tức: Bằng chứng thựcnghiệm từ Iran” (Ownership Structure and Dividend policy: Evidence from Iran”)của Mehrani, Moradi và Eskandar (2011) cũng xem xét mối quan hệ giữa cấu trúcquyền sở hữu và chính sách cổ tức, những bài nghiên cứu trước là ở các nước pháttriển, còn Iran là một quốc gia đang phát triển, do vậy thị trường chứng khoán cònkhá mới mẻ và có những đặc điểm khác với quốc gia phát triển Vì vậy, để đạt
Trang 25được mục tiêu nghiên cứu xem mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và cấu trúcquyền sở hữu ở Iran có gì khác so với các quốc gia phát triển, nhóm tác giả sử dụngmẫu là 427 công ty trên Thị trường Chứng khoán Tehran từ năm 2000 đến năm2007.
Nhóm tác giả dựa trên 4 mô hình, mô hình của Lintner (1956) (The FullAdjustment Model và The Partial Adjustment Model), Mô hình Waud (1966) và Môhình của Fama và Babiak (1968) (Earnings Trend Model)
Mô hình 1 : D ti – D (t-1)i = α + r (E ti – E (t-1)i ) + r i (E ti – E (t-1)i ) × INST+ r c (E ti – E (t-1)i )
× CONC + r M (E ti – E (t-1)i ) × M + r s SIZE+ r L LEV+ r M MTBV + r O FCF +ε Mô hình 2 : D ti – D (t-1)i = α + crE ti + cr I Eti × INST + cr C E ti × CONC+ cr M E ti ×M – c
Mô hình 3 : D ti – D (t-1)i = αd + cd r Eti+ cdr I Eti× INST+ cdr C Eti× CONC+ cdr M
Eti × M + (1– d – c) D (t-1)i – (1– d)(1– c) D (t-2)i + r S SIZE+ r L LEV+ r M MTBV + r O FCF + ε
Mô hình 4 : D ti – D (t-1)i = α + rc E ti + r j (1-c) E (t-1)i + rj I (1-c) E (t-1)i × INST+rj c (1-c)
E (t-1)i × CONC + rj M (1-c) E (t-1)i × M– c E (t-1)i + r s SIZE+ r L LEV+ r M
M : Tỷ lệ phần trăm cổ phiếu được nắm giữ bởi Ban Giám đốc vào đầu năm
SIZE : Quy mô công ty (SIZE = Ln(Tổng tài sản))
LEV : Đòn bẩy (LEV = Tổng nợ dài hạn/Tổng tài sản)
MTBV : Giá trị thị trường trên giá trị sổ sách
FCF : Dòng tiền tự do (FCF = Chi phí vốn – Dòng tiền hoạt động)
Trang 26Nhóm tác giả thực hiện hồi quy 4 mô hình trên, kết quả cho thấy có mối tươngquan âm giữa cấu trúc sở hữu tổ chức và chính sách cổ tức, sự hiện điện của nhà đầu
tư tổ chức làm giảm cổ tức Đây là tín hiệu tốt cho công ty trong việc giữ lại lợinhuận để tái đầu tư Giữa chính sách cổ tức và quyền sở hữu tập trung có mối tươngquan dương với nhau Còn cấu trúc sở hữu bởi Ban Giám đốc không ảnh hưởngđáng kể đến chính sách cổ tức vì Ban Giám đốc chỉ nắm giữ một tỷ lệ cổ phần rấtnhỏ Biến SIZE tương quan dương với chính sách cổ tức, các công ty lớn thì chi trả
cổ tức cao Biến MTBV và FCF cũng tương quan dương với chính sách cổ tức, vàLEV tương quan âm với chính sách cổ tức
Bài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức: Mộtnghiên cứu thực nghiệm” (“The Relationship between Ownership Structure andDividend Policy: An Empirical Investigation”) của Shubiri, Taleb và Zoued (2012).Mẫu được chọn là 56 công ty công nghiệp ở Jordan được niêm yết trên SànChứng khoán Amman trong giai đoạn 2005 – 2009 Nhóm tác giả phân tích hồi quyqua mô hình sau:
Div = c 0 + b 1 FCF + b 2 Lev + b 3 Q + b 4 Size + b 5 Inst + b 6 Maj +ε
Trong đó :
Div: Cổ tức trên mỗi cổ phiếu
FCF : Dòng tiền tự do (FCF = Lãi ròng + Khấu hao + Chi phí lãi vay)
Q : Cơ hội tăng trưởng trong tương lai (Q= MV/BV)
Size : Quy mô công ty (Size = Ln(Tổng tài sản)
Inst : Tỷ lệ phần trăm cổ phiếu được nắm giữ bởi nhà đầu tư tổ chức
Maj : Là biến giả, bằng 1 nếu cổ phiếu được nắm giữ bởi 5 cổ đông lớn nhất vàbằng 0 nếu ngược lại
Tác giả thực hiện hồi quy OLS từng năm và hồi quy cho dữ liệu bảng từ năm
2005 - 2009 Và kết quả cho thấy có mối tương quan âm giữa quyền sở hữu tổ chức
và cổ tức trên mỗi cổ phiếu và mối tương quan dương giữa tỷ lệ cổ phiếu được sởhữu bởi 5 cổ đông lớn nhất và cổ tức trên mỗi cổ phiếu, FCF có tác động mạnh đến
Trang 27chính sách cổ tức, SIZE tương quan âm cho thấy các Doanh nghiệp lớn chi trả cổtức thấp và các công ty có đòn bẩy cao cũng có xu hướng chi trả cổ tức thấp.
Và bài nghiên cứu “The Effect of Ownership Structure on Dividends Policy inJordanian Companies” của Al-Gharaibeh, Zurigat, Al-Harahsheh (2013) cũng xemxét tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức Nhóm tác giả phân tích hồiquy dữ liệu bảng cho 35 công ty Jordan trong giai đoạn 2005 – 2010 Mô hình hồiquy như sau :
D ti – D (t-1)i = α 0 + α 1 (E ti – E (t-1)i ) + α 2 (E ti – E (t-1)i ) * D inst + α 3 (E ti – E (t-1)i )* D man +
α 4 SIZE + α 5 LEV+ α 6 MTBV +α 7 FCF + μ ti
(Mô hình The Full Adjustment Model – FAM)
D ti – D (t-1)i = α 0 + cα 1 E ti + cα 2 E ti * D inst + α 3 E ti * D man - c D (t-1)i + α 4 SIZE + α 5 LEV+
α 6 MTBV +α 7 FCF + μ ti
(Mô hình The Partial Adjustment Model – PAM)Theo kết quả của mô hình nghiên cứu thực nghiệm được phân tích bởi nhóm tác giảthì tỷ lệ cổ phiếu được nắm giữ bởi nhà đầu tư tổ chức tương quan dương với chínhsách cổ tức và tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của nhà quản lý tương quan âm với chính sách
cổ tức Cùng một phương pháp nghiên cứu với bài nghiên cứu trên, tôi cũng nghiêncứu thực nghiệm với các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch Chứngkhoán TP HCM để tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu được đưa ra ở phầnmột
Bảng 2.1 : Tổng hợp kết quả nghiên cứu trước đây
Mối tương
Mối tương quan
sách cổ tứcsách cổ tức
Trang 292009 Kouki và Guizani Tương quan Tương quan Có ý nghĩa thống
Tương quan
Al-Gharaibeh,
Harahsheh
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
3 1 Xây dựng giả thuyết
Đã có nhiều bài nghiên cứu trước đây tìm hiểu về tác động của cấu trúc quyền
sở hữu đến chính sách cổ tức Tuy nhiên các kết quả đạt được là không giống nhaugiữa các bài nghiên cứu Có những mức độ tác động khác nhau trong những bàinghiên cứu khác nhau Xoay quanh vấn đề này là sự xuất hiện hai luồng quan điểm:Thứ nhất quyền sở hữu tổ chức tương quan dương và quyền sở hữu quản lý tươngquan âm với chính sách cổ tức theo như nghiên cứu của Short, Zhang và Keasey(2002) và Karathanassis G.A và Chrysanthopoulou E.Ch (2005) , thứ hai quyền sởhữu tổ chức tương quan âm và quyền sở hữu của nhà quản lý tương quan dương vớichính sách cổ tức theo như nghiên cứu thực nghiệm của Mehrani, Moradi vàEskandar (2011) và cũng cùng kết quả với nghiên cứu của Shubiri, Taleb và Zoued(2012)
Nhà đầu tư tổ chức thường khôn khéo hơn nhà đầu tư cá nhân, có khả nănggiám sát chi phí thấp hơn Do đó quyền sở hữu tổ chức cao hơn sẽ giám sát quản lýhiệu quả hơn làm giảm chi phí đại diện, tăng giá trị công ty, mà theo Rozeff (1982)
và Easterbrook (1984) cho rằng chính sách cổ tức có thể là công cụ làm giảm chiphí đại diện và cho rằng đây là biện pháp mang tính thiết thực nhất Do đó, tôi đưa
Trang 31H-1: Quyền sở hữu tổ chức tương quan dương với chính sách cổ tức
Theo Morck, Shleifer và Vishny (1988), McConnell và Servaes (1995) thấyrằng có tồn tại mối quan hệ phi tuyến giữa quyền sở hữu của Thành viên Hội ĐồngQuản Trị và chính sách cổ tức Mà hiện nay nhiều cổ đông nhỏ chưa quan tâm đếnviệc sử dụng phiếu bầu của mình để cử ra người đại diện cho quyền lợi của mìnhvào Hội Đồng Quản Trị và Ban Kiểm Soát Bên cạnh đó, trên thị trường Việt Namvới tỷ lệ sở hữu cổ phần vẫn còn nằm trong tay các gia đình, tức là cổ đông , bêncạnh sở hữu của mình còn có bố mẹ, vợ chồng, con, anh, chị, em ruột và sở hữuchéo thông qua các công ty khác, họ chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân và gia đình
mà không quan tâm đến lợi ích của các cổ đông Do đó luật về quản trị doanhnghiệp của các quốc gia cũng như quy định của các thị trường niêm yết thường yêucầu trong cơ cấu Hội Đồng Quản Trị của công ty phải có sự tham gia của các Thànhviên Hội Đồng Quản Trị độc lập Các thành viên này có vai trò quan trọng trongviệc giám sát, giảm nguy cơ lạm dụng quyền hạn của những người quản lý công ty,góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của các cổ đông, nhất là các cổ đông nhỏ Dovậy, tôi giả định giả thuyết H-2 Giả thuyết này cũng dựa trên giả thuyết trong bàinghiên cứu của Al-Gharaibeh, Zurigat, Al-Harahsheh (2013)
H-2: Quyền sở hữu của Thành Viên Hội đồng Quản Trị tương quan âm với chính sách cổ tức
3.2 Dữ liệu nghiên cứu
Để thực hiện phân tích hồi quy dữ liệu bảng ở Việt Nam, tôi chọn mẫu dữ liệucác năm tài chính từ năm 2008 đến năm 2012 Mẫu nghiên cứu ban đầu của tôi baogồm 315 công ty được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh.Trong đó loại trừ các ngân hàng, công ty tài chính, bảo hiểm, công ty không chi trả
cổ tức bằng tiền mặt tối thiểu 3 năm trong giai đoạn nghiên cứu, công ty thiếu dữliệu Cuối cùng mẫu bao gồm 55 công ty, chiếm 17% tồng số công ty được niêm yếttrên Sở giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 2008 đếnnăm 2012 tương ứng với 275 quan sát được sử dụng Dữ liệu tài chính cần thiết cho
đề tài này (bao gồm tổng tài sản, tài sản ngắn hạn, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, nợ
Trang 32ngắn hạn, khấu hao tài sản cố định, lợi nhuận ròng, chi phí lãi vay, số cổ phần đanglưu hành) được lấy từ báo cáo tài chính hàng năm đã được kiểm toán của các công
ty trong giai đoạn nghiên cứu
Tôi sử dụng dữ liệu về cấu trúc sở hữu (tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư tổ chức, tỷ
lệ sở hữu của nhà quản lý) chủ yếu được lấy từ bảng cáo bạch, báo cáo thường niênđược đăng tải trên internet mà cụ thể là các website chứng khoán nổi tiếng vàwebsite của chính công ty đó
3.3 Mô tả các biến nghiên cứu
3.3.1 Biến phụ thuộc
Theo như Mehrani và cộng sự (2011), Harada và Nguyễn (2009),Karathanassis và Chrysanthopoulou (2005), Short và cộng sự (2002), cổ tức là mộtkhoản lời được công bố trên mỗi cổ phần phổ thông phát hành
Cổ tức trên mỗi cổ phần (DPS) được tính bằng tỷ số giữa tổng số tiền chi trả
cổ tức (thường là 1 năm) và tổng số lượng cổ phiếu đang lưu hành
DPS = D/STrong đó :
Tỷ lệ sở hữu tổ chức
Là tỷ lệ phần trăm sở hữu của nhà đầu tư tổ chức Theo Short và cộng sự(2002), Karathanassis và Chrysanthopoulou (2005), tỷ lệ sỡ hữu của nhà đầu tư tổchức được định nghĩa là tỷ lệ phần trăm cổ phiếu được nắm giữ bởi các nhà đầu tư
tổ chức trong và ngoài nước, cổ phiếu quỹ, tổ chức ủy thác sở hữu 5% cổ phần trởlên trong giai đoạn 2008 – 2012 Phân tích thực nghiệm sử dụng biến giả (INST),
Trang 33biến giả bằng 1 nếu tỷ lệ phần trăm sở hữu tổ chức cao hơn giá trị phần trăm trungbình mẫu và bằng 0 nếu ngược lại.
Tỷ lệ sở hữu quản lý
Theo Short và cộng sự (2002), Karathanassis và Chrysanthopoulou (2005)Harada và Nguyễn (2009), tỷ lệ sở hữu quản lý là tỷ lệ phần trăm cổ phiếu đượcnắm giữ bởi những cổ đông tham gia quản lý doanh nghiệp hoặc Thành viên HộiĐồng Quản Trị hoặc kết hợp cả hai Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa chức năng,nhiệm vụ và quyền hạn của Hội Đồng Quản Trị và Ban Giám đốc, cơ chế ra quyếtđịnh của Hội Đồng Quản Trị và Ban Giám đốc là khác nhau (Hội Đồng Quản Trị raquyết định theo biểu quyết còn Ban Giám đốc ra quyết định theo cơ chế thủ trưởng),hơn nữa Thành viên Hội Đồng Quản Trị thường kiêm Ban Giám đốc, tỷ lệ sở hữucủa Ban Giám đốc không nằm trong Hội Đồng Quản Trị chiếm tỷ lệ nhỏ, mức độtác động không cao Do vậy, trong bài nghiên cứu này, tôi chọn tỷ lệ sở hữu quản lý
là tỷ lệ sở hữu của Thành viên Hội Đồng Quản Trị để đánh giá tác động của cấu trúc
sở hữu quản lý lên chính sách cổ tức Phân tích thực nghiệm sử dụng biến giả(MAN), biến giả bằng 1 nếu tỷ lệ phần trăm sở hữu quản lý cao hơn giá trị phầntrăm trung bình mẫu và bằng 0 nếu ngược lại
3.3.3 Biến kiểm soát
Quy mô công ty, dòng tiền tự do, cơ hội tăng trưởng trong tương lai, đòn bẩytài chính là 4 biến kiểm soát của mô hình
Quy mô công ty (SIZE) trong bài nghiên cứu này được tính bằng Ln(Tổng tài
sản) theo Beiner và cộng sự (2006) và Chaing (2005)
Dòng tiền tự do (FCF), nhiều bằng chứng thực nghiệm trong những nghiên
cứu trước đây như nghiên cứu của Rozeff (1982), Jensen và cộng sự (1992) vàMollah và cộng sự (2000) cho thấy mối tương quan dương giữa dòng tiền tự do và
tỷ lệ chi trả cổ tức Theo Alli và cộng sự (1993) lập luận rằng việc chi trả cổ tức phụthuộc vào dòng tiền mà phản ánh khả năng chi trả của công ty Dòng tiền tự dođược tính bằng tổng của lợi nhuận ròng, khấu hao và chi phí lãi vay
Trang 34Cơ hội tăng trưởng trong tương lai: Theo Rozeff (1982), Amidu và Abor
(2006) lập luận rằng giữa tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ chi trả cổ tức có mối tươngquan dương vì các công ty luôn muốn tránh các chi phí giao dịch tài chính bênngoài, vì vậy nếu họ có cơ hội tăng trưởng họ sẽ giữ lại một lượng lớn tiền mặt.Theo Lang và Litzinberger (1989), Ghahoum (2000) và Farinha (2002) cơ hội tăngtrưởng trong tương lai được xác định bằng tỷ số của giá thị trường trên giá sổ sách(MTBV)
Đòn bẩy tài chính (LEV) là tỷ số nợ phải trả trên tổng tài sản (Kouki và
Guizani, 2009) Một công ty có tỷ lệ nợ cao có thể làm tăng giá trị công ty thôngqua việc tăng đòn bẩy tài chính và giảm thuế trong quản trị doanh nghiệp Tuynhiên nếu tỷ lệ nợ quá cao sẽ gây khó khăn cho việc bổ sung vốn và gây trở ngạitrong việc linh động các hoạt động quản trị do áp lực chi phí lãi vay cao Do vậyđòn bẩy tài chính ảnh hưởng đến tỷ lệ chi trả cổ tức của công ty Trong bài nghiêncứu này đòn bẩy tài chính và chính sách cổ tức có tương quan dương
Bảng 3.1 cho ta thấy một cái nhìn tổng quan nhất về các biến được sử dụng trong
INST Tỷ lệ phần trăm cổ phiếu được sở hữu
bởi nhà đầu tư tổ chức sở hữu 5% cổphần trở lên
Biến độc lập
MAN Tỷ lệ phần trăm cổ phiếu được sở hữu
bởi nhà quản lý bao gồm Thành viênHội Đồng Quản trị
Trang 35SIZE Quy mô công ty = ln(Tổng tài sản)
FCF Dòng tiền tự do = Lợi nhuận ròng +
MT/BV Giá trị thị trường/giá trị sổ sách
LEV Đòn bẩy = Tổng nợ/Vốn chủ sở hữu
3.4 Thiết lập phương trình hồi quy xác định mối tương quan giữa cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức
Phương pháp nghiên cứu được xây dựng dựa trên bài nghiên cứu “The effect
of Ownership structure on Dividends policy in Jordanian Companies” (“Sự tác độngcủa cấu trúc quyền sở hữu lên chính sách cổ tức của các doanh nghiệp Jordan”) củaAl-Gharaibeh, Zurigat, Al-Harahsheh (2013)
Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, đồngthời thực hiện phân tích hồi quy dữ liệu bảng thông qua 2 mô hình của chính sách cổtức của Lintner (1956) : Dti – D(t-1)i = α + r(Eti – E(t-1)i) + μti và Dti – D(t-1)i =
α + c(Dti – D(t-1)i) + μti
Để nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu đến chính sách cổ tức, bài nghiêncứu sử dụng thêm biến giả tương tác vào 2 mô hình của Lintner, cụ thể 2 mô hìnhnhư sau:
D ti – D (t-1)i = α 0 + α 1 (E ti – E (t-1)i ) + α 2 (E ti – E (t-1)i ) * D inst + α 3 (E ti – E (t-1)i )* D man +
α 4 SIZE + α 5 LEV+ α 6 MTBV +α 7 FCF + μ ti
(Mô hình The Full Adjustment Model – FAM)
D ti – D (t-1)i = α 0 + cα 1 E ti + cα 2 E ti * D inst + α 3 E ti * D man - c D (t-1)i + α 4 SIZE + α 5 LEV+
Trang 36D(t-1)i : Cổ tức bằng tiền mặt trên mỗi cổ phiếu của công ty i trong thời gian (t – 1)
Dti – D(t-1)i : Thay đổi cổ tức bằng tiền mặt trên mỗi cổ phiếu
Eti : Thu nhập trên mỗi cổ phiếu của công ty i trong thời gian t
E(t-1)i : Thu nhập trên mỗi cổ phiếu của công ty i trong thời gian (t – 1)
Eti – E(t-1)i : Thay đổi thu nhập trên mỗi cổ phiếu
INST : Tỷ lệ sở hữu bởi nhà đầu tư tổ chức sở hữu từ 5% trở lên
Dinst : Biến giả, bằng 1 nếu tỷ lệ phần trăm cổ phiếu được sở hữu bởi nhà đầu tư tổchức cao hơn tỷ lệ phần trăm trung bình mẫu và bằng 0 nếu ngược lại
MAN: Tỷ lệ sở hữu bởi nhà quản lý bao gồm Thành viên Hội Đồng Quản Trị hoặcThành viên Hội Đồng Quản Trị kiêm Ban Giám đốc
Dman : Biến giả, bằng 1 nếu tỷ lệ phần trăm cổ phiếu được nắm giữ bởi nhà quản lýcao hơn tỷ lệ phần trăm trung bình mẫu và bằng 0 nếu ngược lại
(Eti – E(t-1)i)* Dinst : Biến giả tương tác
Eti – E(t-1)i)* Dman : Biến giả tương tác
SIZE : Quy mô công ty được tính bằng Ln(Tổng tài sản)
LEV : Đòn bẩy tài chính được tính bằng tổng nợ/Tổng vốn chủ sở hữu
MTBV : Cơ hội tăng trưởng trong tương lai được tính bằng giá trị thị trường/giá trị
để ước lượng dữ liệu bảng theo Zeitun (2009) để đo lường mối tương quan giữa cấutrúc sở hữu và chính sách cổ tức của công ty
Trước khi tiến hành phân tích hồi quy theo phương pháp kiểm định PooledRegression, Fixed Effects Model (FEM), Random Effects Model (REM) trên các
mô hình đã trình bày trong mục 3.4, tôi sẽ thực hiện mô tả các dữ liệu thống kê và
Trang 37xây dựng ma trận hệ số tương quan giữa các biến chính có trong mô hình thông quaphần mềm Stata.
Thống kê mô tả là việc mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được
từ nghiên cứu thực nghiệm bằng các phép tính và chỉ số thống kê thông thường, cụthể là giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất
Để kiểm định và so sánh kiểm định nào trong 3 phương pháp kiểm định trên làphù hợp với mẫu nghiên cứu hơn, tôi sử dụng kiểm định Hausman Test với giảthuyết H0: chọn Random effects, nếu kết quả hồi quy cho giá trị p-value < α thì bác
bỏ giả thuyết H0 và ngược lại nếu giá trị p-value ≥ α thì chấp nhận giả thuyết H0.Kiểm định Lagrange Multiplier (LM) để so sánh giữa Pooled và Random effect,kiểm định nào phù hợp hơn, giả thuyết H0: chọn Pooled, nếu kết quả hồi quy chogiá trị p-value < α thì bác bỏ giả thuyết H0 và ngược lại nếu giá trị p-value ≥ α thìchấp nhận giả thuyết H0 Kiểm định Likelihood để so sánh giữa kiểm định Pooled
và Fixed effect, giả thuyết H0: chọn Pooled, nếu kết quả hồi quy cho giá trị p-value
< α thì bác bỏ giả thuyết H0 và ngược lại nếu giá trị p-value ≥ α thì chấp nhận giảthuyết H0
Để kiểm định phương sai thay đổi cho Pooled và Random Effect, tôi sử dụngphương pháp kiểm định Breusch-Pagan (1980), kiểm định phương sai thay đổi choFixed Effects dùng phương pháp Modified Wald Test. Kiểm định hiện tượng đacộng tuyến bằng cách dùng nhân tử phóng đại phương sai VIF và dùng kiểm địnhnhân tử Lagrange (Xtserial) để kiểm định tự tương quan
Để lựa chọn các biến giải thích từ phương trình hồi quy theo tiêu chí mức có ýnghĩa thống kê, tác giả sử dụng mức có ý nghĩa 1% và 5% Tuy nhiên, trong trườnghợp Việt Nam, với giả định là dữ liệu thu thập chưa đầy đủ, có thể chấp nhận thêmmức có ý nghĩa 10%
4 Nội dung và các kết quả nghiên cứu
4 1 Thống kê mô tả biến
Bảng 4.1 thống kê số liệu về trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, giá trịnhỏ nhất của tất cả các biến được sử dụng trong bài nghiên cứu trong suốt giai đoạn
Trang 38từ năm 2008 đến năm 2012 Giá trị trung bình của DPS, EPS lần lượt là 1818 và
4188 Giá trị trung bình của tỷ lệ sở hữu tổ chức là 37.81%, con số này tương đối phù hợp với sự phát triển của thị trường vốn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Những cổ đông nắm giữ lượng cổ phần lớn thường là những cổ đông nhà nước, và thường là Tổng Công Ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà Nước (SCIC) Giá trị
trung bình của tỷ lệ sở hữu bởi nhà quản lý là 9.92% Bảng 4.1: Mô tả dữ liệu thống kê
Trang 394.2 Kiểm tra độ tương quan giữa các biến
Bảng 4.2 thể hiện mối tương quan từng cặp biến độc lập trong bài nghiên cứu.Theo đó biến sở hữu tổ chức INST có tương quan dương với MTBV, FCF và cótương quan âm với biến MAN, SIZE, LEV Tỷ lệ sở hữu quản lý có tương quandương với SIZE, LEV, FCF và tương quan âm với MTBV, quy mô công ty cótương quan dương với LEV, FCF và MTBV, đòn bẩy tài chính LEV có tương quan
Trang 404.3 Kết quả hồi quy dữ liệu bảng của mô hình The Full Adjustment Model (FAM)
Trong bảng 4.3, tôi sử dụng biến phụ thuộc là sự thay đổi cổ tức tiền mặt (Dti
– D (t-1)i ), các biến độc lập là sự thay đổi thu nhập trên mỗi cổ phiếu (E ti – E (t-1)i ), 2
biến tương tác (Eti – E(t-1)i )*Dinst và (Eti – E(t-1)i )*Dman , các biến kiểm soát SIZE,LEV, MTBV, FCF
Bảng 4.3 : Kết quả hồi quy của kiểm định Pooled Regression
Nguồn số liệu: Số liệu thu thập từ các bảng cáo bạch và báo cáo tài chính năm (Phụlục 1) và tính toán của tác giả từ phần mềm Stata
Theo kết quả từ bảng 4.3 cho thấy, mô hình có ý nghĩa thống kê với p-value cógiá trị 0.0000, R2 hiệu chỉnh của mô hình tương đối thấp 0.0886 Chỉ có duy nhấtbiến quyền sở hữu tổ chức có tương quan dương với chính sách cổ tức với mức ýnghĩa 5%, quyền sở hữu của nhà quản lý tương quan âm với chính sách cổ tứcnhưng mối tương quan này không có ý nghĩa thống kê Các biến còn lại SIZE, LEV,FCF, MTBV đều không có ý nghĩa thống kê