1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào giá trị xuất khẩu của việt nam

66 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 296,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi nghiên cứu Để đạt được mục tiêu trên, tác giả tiến hành nghiên cứu để trả lời chocâu hỏi sau đây:Giá trị xuất khẩu của Việt Nam tăng hay giảm hơn khi yếu tố đầu tư trực tiếp nước

Trang 1

-TRẦN THỊ HOA PHI

SỰ ĐÓNG GÓP CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

NƯỚC NGOÀI VÀO GIÁ TRỊ XUẤT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2013

Trang 2

-TRẦN THỊ HOA PHI

SỰ ĐÓNG GÓP CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

NƯỚC NGOÀI VÀO GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LÊ ĐẠT CHÍ

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2013

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ Người hướng dẫn khoa học là TS.Lê Đạt Chí Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo.

Luận văn có sử dụng một số nhận xét, đánh giá của một số bài nghiên cứu khoa học, bài báo,…Tất cả đều có chú thích nguồn gốc sau mỗi trích dẫn để người đọc dễ tra cứu, kiểm chứng.

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn mình.

TP.HCM, ngày tháng năm 2013

Tác giả

Trần Thị Hoa Phi

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG – DANH MỤC HÌNH

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 2

1.1 Giới thiệu 2

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Bố cục luận văn 4

CHƯƠNG 2.TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5 2.1 Nghiên cứu: “Sự đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc: Bằng chứng từ các lĩnh vực được phân tách (The Contribution of Foreign Direct Investment to China’s Export Performance: Evidence from Disaggregated Sectors) của Yan Yuan (2008) 5

Trang 5

experiences of VietNam”) – Nguyen Thanh Xuan and Yuqing Xing -2008 9

2.3 Mô hình OLI của John Dunning (1977)

CHƯƠNG 3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thiết kế và lựa chọn mô hình nghiên cứu

3.2 Biến và giả thuyết nghiên cứu

3.2.1 Biến phụ thuộc và biến độc lập trong mô hình nghiên cứu

3.2.2 Các kỳ vọng về kết quả nghiên cứu

3.3 Dữ liệu và xử lý dữ liệu

3.3.1 Nguồn dữ liệu

3.3.2 Xử lý dữ liệu

CHƯƠNG 4.NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Tổng quan về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam hiện nay và các tác động của FDI đến kim ngạch xuất khẩu

4.2 Phân tích đơn biến

4.3 Phân tích kết quả mô hình hồi quy

4.3.1 Phân tích tương quan biến

4.3.2 Phân tích hồi quy

4.3.3 Kết quả hồi quy

4.3.4 Nhận xét hồi quy

4.4 Kết luận nghiên cứu

Trang 6

5.2 Hạn chế của đề tài 52 5.3 Những gợi ý và hướng nghiên cứu tiếp theo 53 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 7

Bảng 3.1: Bảng tổng hợp các kỳ vọng 200

Bảng 4.1: Số liệu về hoạt động xuất khẩu của khu vực FDI tại Việt Nam (có bao gồm dầu thô) 32

Bảng 4.2: Đánh giá về sức ép cạnh tranh của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam 35

Bảng 4.3: Bảng thống kê mô tả các biến của mô hình hồi quy 38

Bảng 4.4: Bảng hệ số tương quan giữa các biến 39

Bảng 4.5: Mô hình hồi quy các biến dạng log-log 40

Bảng 4.6: Mô hình hồi quy điều chỉnh 42

DANH MỤC HÌNH Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu dự kiến 17

Trang 8

từ năm 2002-2012 trong việc phân tích và chủ yếu dựa vào mô hình hồi quytuyến tính.

Kết quả thực nghiệm cho thấy các yếu tố làm tăng giá trị xuất khẩuViệt Nam đó là giá trịđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); Tổng sản phẩmquốc nội (GDP); Quy mô doanh nghiệp(FS);Chi phí lao động (WAGE)hàngnăm của Việt Nam và Nhu cầu thế giới (WD) Trong đó, cần cần chú ý tớiyếu tố nhu cầu thế giới.Nếu nhu cầu thế giới tăng 10%, xuất khẩu của ViệtNam sẽ tăng khoảng 19% Nó chỉ ra giá trị xuất khẩu của Việt Nam phụthuộc rất nhiều vào nhu cầu thế giới và có thể bị ảnh hưởng rất nhiều bởi sựbiến động của nhu cầu thế giới

Trang 9

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU1.1 Giới thiệu

Việt Nam chính thức ban hành luật khuyến khích đầu tư nước ngoài

từ năm 1987, từ đó đến nay, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ViệtNam đã chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động đầu tư phát triển củanước ta Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã đóng góp đáng kể cho ngânsách nhà nước, giải quyết công ăn việc làm người lao động, cải tiến đáng kểtrình độ phát triển khoa học công nghệ của nền sản xuất trong nước nhờhoạt động chuyển giao công nghệ…Nguồn vốn FDI đã và đang tạo ra mộtđộng lực mạnh mẽ cho sự phát triển của nền kinh tế Với vị trí và vai tròhiện nay của Việt Nam trên thế giới, Việt Nam cần đẩy mạnh hơn nữa cả vềchiều rộng và chiều sâu hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài(FDI) để phát triển kinh tế

Là một nền kinh tế lớn và phát triển nhất khu vực Đông Dương, ViệtNam đã rất thành công trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài(FDI) và đạt được sự phát triển mạnh mẽ trong xuất khẩu, chính sự pháttriển mạnh mẽ này trong suốt hai thập kỉ qua đã cung cấp cho tác giả độnglực để nghiên cứu và phân tích mối quan hệ song phương giữa FDI và xuấtkhẩu

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là có thực sự FDI trong nền kinh tế là nhân

tố chính trong việc đẩy mạnh xuất khẩu?Có phải nền kinh tế chuyển đổi trởthành một nền tảng xuất khẩu của những công ty đa quốc gia?Do vậy, tác

giả đã chọn đề tài “Sự đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào giá

Trang 10

trị xuất khẩu của Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ Với nghiên cứu này, tác

giả hy vọng thông qua việc phân tích kinh nghiệm trong quá trình chuyểnđổi ở Việt Nam sẽ nâng cao sự nhận thức về vai trò của FDI trong việc đẩymạnh xuất khẩu của những nền kinh tế chuyển đổi và tính hiệu quả của FDItrên con đường dẫn tới công nghiệp hóa tập trung xuất khẩu

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Tác giả thực hiện đề tài này với mục tiêu: Nghiên cứu sự đóng gópcủa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào giá trị xuất khẩu của Việt Nam

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, tác giả tiến hành nghiên cứu để trả lời chocâu hỏi sau đây:Giá trị xuất khẩu của Việt Nam tăng hay giảm hơn khi yếu

tố đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng hay còn do những nhân tố khác chiphối?

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: FDI và giá trị xuất khẩu của Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

 Phạm vi nội dung: Nghiên cứu vấn đề về sự đóng góp của đầu tư trựctiếp nước ngoài vào giá trị xuất khẩu của Việt Nam qua phương pháphồi quy

 Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2002-2012

Trang 11

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp so sánh đối chứng: Dựa trên số liệu thực tế thu thập được so sánh với mục tiêu

- Phương pháp mô hình hoá: Phương pháp này được sử dụng để làm rõnhững phân tích định tính bằng các hình vẽ cụ thể để vấn đề trở nên dễ hiểuhơn

- Sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính để xác định mức độ ảnh hưởng của FDI đến xuất khẩu

1.5 Bố cục luận văn

Nội dung của luận văn gồm 5 chương chính sau:

- Chương 1: Mở đầu

- Chương 2:Tổng quan các nghiên cứu trước đây

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

- Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu

- Chương 5: Đánh giá kết quả nghiên cứu và gợi ý

Trang 12

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU

2.1 Nghiên cứu: “Sự đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc: Bằng chứng từ các lĩnh vực được phân tách (The Contribution of Foreign Direct Investment to China’s Export Performance: Evidence from Disaggregated Sectors) của Yan Yuan (2008)

Nền tảng lý thuyết cho các nghiên cứu thực nghiệm là một trongnhững lý thuyết thương mại dựa trên lý thuyết của (HO) Heckscher-Ohlin,những lý thuyết thương mại mới và lý thuyết tăng trưởng nội sinh (Liu andShu, 2003).Theo lý thuyết HO, một đất nước nên xuất khẩu những sảnphẩm sử dụng nhiều yếu tố mà đất nước được trợ cấp, hoặc là xuất khẩunhững sản phẩm mà đất nước đó có lợi thế, trong đó có lợi thế so sánh trong

cả sản xuất và xuất khẩu Đối với các lý thuyết thương mại mới, họ bổ sungxem xét cạnh tranh không hoàn hảo, quy mô kinh tế và chi phí thương mại

mà sau đó trở thành những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động xuấtkhẩu Markusen và Venables (1998) đưa biến FDI vào các mô hình cânbằng thương mại quốc tế do sự toàn cầu hóa nhanh chóng Ngoài ra, lýthuyết tăng trưởng nội sinh đã nhấn mạnh vai trò của sự đổi mới và kết quả

là những tính chất công nghệ của một ngành công nghiệp được coi là mộtyếu tố quan trọng để tăng hiệu suất của xuất khẩu (Liu and Shu, 2003)

Trang 13

Mô hình nghiên cứu

ln(EXPi,t) = β0 + β1* ln(FDIi,t) + β2* ln(EXRi,t) + β3* ln(DIi,t)+ β4*ln(GSPi,t) + β5* ln(FSi,t) + β6* ln(RDi,t)+ β7* ln(WAGEi,t) + β8* ln(WDi,t)+ εi,t

- EXP: Tổng giá trị xuất khẩu của Trung Quốc

- FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

- EXR: Tỷ giá hối đoái được đo bằng tổng giá trị thu đổi ngoại tệ của Trung Quốc

- DI (domestic investment): Đầu tư trong nước được tổng hợp hàng năm dựa vào tỷ lệ chi phí vốn đầu tư

- GSP (gross sectoral product): Tổng sản phẩm ngành phổ cập (GSP) có thể

là một yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu Nó tương tự GDP ngoạitrừ việc nó cho thấy năng suất của một ngành công nghiệp cụ thể.Nó đã làm

rõ được hiệu quả kinh tế và năng suất của từng ngành được nghiên cứu.GSP dự kiến sẽ liên quan tích cực với kim ngạch xuất khẩu

- FS (firm size): Đại diện cho quy mô doanh nghiệp của nền kinh tế và được

đo bằng sản lượng thực tế trung bình cho mỗi công ty

- RD (research and development for innovation): Nghiên cứu và phát triển sản phẩm được đo bằng số bằng sáng chế của được cấp trong một năm

- WAGE: Đại lượng biểu diễn cho chi phí lao động,được định lượng bằng lương thực tế bình quân của nhân viên trong một năm

Trang 14

- WD (world demand): Viết tắt của nhu cầu thế giới, đó là tổng nhập khẩu trên thế giới (trừ Trung Quốc) cho từng mặt hàng /ngành công nghiệp.

Kết quả thực nghiệm:

Đối với tất cả các lĩnh vực, quy mô doanh nghiệp, chi phí lao động và

tỷ giá là không hoàn toàn khác không về mặt thống kê, thậm chí ở mức ýnghĩa 10%.Điều này cho thấyquy mô doanh nghiệp không phải là một yếu

tố quyết định trong việc thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc.Kết luận nàyphù hợp với những gì Katsikeas et al (1995) đã tìm ra.Tỷ giá cũng khôngphải là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy xuất khẩu của TrungQuốc.Điều này có thể là do một vài yếu tố Đầu tiên, do đặc điểm của dữliệu là theo năm, biến động tỷ giá trong ngắn hạn có thể không được quansát Thứ hai, mặc dù Trung Quốc đã áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt hơntrong thời gian gần đây nhưng nó vẫn còn tương đối cố định trong một thờigian dài Chi phí nhân công không giúp tăng cường hoạt động xuất khẩu.Điều này có thể là do chi phí lao động đã rất thấp của Trung Quốc

Đáng lưu ý rằng nhu cầu thế giới có ý nghĩa ở mức 1% Nếu nhu cầuthế giới tăng 10 phần trăm, xuất khẩu của Trung Quốc sẽ tăng 8,8 phần trămtrong các ngành công nghiệp sản xuất Nó chỉ ra các lĩnh vực này là rất phụthuộc vào nhu cầu thế giới và có thể bị ảnh hưởng rất nhiều bởi sự biếnđộng nhu cầu thế giới

Đầu tư trong nước có thể đẩy mạnh xuất khẩu của Trung Quốc, và điềunày là phù hợp với những nghiên cứu trước đây (Coughlin và Fabel, 1988;Erickson và Hayward, 1992; Zhang và Song, 2000).Đầu tư trong nước có

Trang 15

thể giúp củng cố cơ sơ hạ tầng và đẩy mạnh năng lực sản xuất, do đó có thểgiúp công ty đẩy mạnh xuất khẩu.

Nghiên cứu và phát triển không góp phần đẩy mạnh xuất khẩu ở mức ýnghĩa 5%, và điều này là phù hợp với nghiên cứu của Liu và Shu (2003).Điều này phản ánh rằng những sản phẩm xuất khẩu của Trung Quốc lànhững sản phẩm thâm dụng lao động nhưng không đòi hỏi nhiều vốn vànhững kỹ thuật tiên tiến

Liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, 4 ngành trong tổng số 14ngành nghiên cứu có sự ảnh hưởng mạnh cùng chiều ở mức ý nghĩa 1% và

4 ngành khác cũng có sự ảnh hưởng cùng chiều ở mức ý nghĩa 10% Xuấtkhẩu các thiết bị điện tử có sự ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp đó là các ngànhsản xuất giấy và các sản phẩm liên quan đến giấy.Kết quả này cho thấy đầu

tư trực tiếp nước ngoài đóng những vai trò chiến lược khác nhau trong từngngành khác nhau.Đầu tư trực tiếp nước ngoài có chiến lược hướng đến việcsản xuất những sản phẩm mà có thể tận dụng nguồn tài nguyên dồi dào vàlương nhân công thấp ở Trung Quốc, sau đó xuất khẩu chúng sang các thịtrường lân cận

Trang 16

2.2 Nghiên cứu: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và xuất khẩu- Những kinh nghiệm của Việt Nam” (“Foreign direct investment and exports – The experiences of VietNam”) – Nguyen Thanh Xuan and Yuqing Xing -2008.

Bài nghiên cứu đã tiến hành kiểm tra tình trạng thực thi của 5919 dự

án đầu tư trực tiếp nước ngoài được phê duyệt bởi Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư

từ năm 1988 và từ đó tạo ra một dữ liệu của những khoản đầu tư đã thực sựgiải ngân vốn vào Việt Nam Dữ liệu này bao gồm các khoản đầu tư trựctiếp nước ngoài từ 23 quốc gia trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004

Sử dụng dữ liệu này, tác giả đã tiến hành phân tích sự ảnh hưởng của đầu tưtrực tiếp nước ngoài vào giá trị xuất khẩu của Việt Nam thông qua mô hìnhlực hấp dẫn (“Gravity Model”)

Mô hình nghiên cứu:

ln(EXVjt) = β0 + β1* ln(YVt) + β2* ln(Yjt) + β3* ln(FDIjV(t-1))+ β4*REVjt +β5* dVj + β6*θ+ β7* FTAA + β8* FTAUS + εVjt

Trong đó:

- YVt : tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam

- Yjt: tổng sản phẩm quốc nội của nước i đầu tư vào Việt Nam

- EXVji : giá trị xuất khẩu của Việt Nam đến các nước j

- FDIjV: đầu tư trực tiếp nước ngoài của nước j vào Việt Nam

- REVjt: tỷ giá giữa Việt Nam đồng và tiền tệ của nước đối tác j

- dVj: khoảng cách giữa Việt Nam và các nước đối tác j (tính bằng khoảng cách giữa thủ đô của hai nước)

Trang 17

- θ : biến giả dùng để đo lường sự ảnh hưởng của yếu tố biên giới.Giá trị bằng 1 nếu nước đối tác và Việt Nam có cùng chung biêngiới, còn lại là bằng 0.

- FTAA : biến giả đo lường sự ảnh hưởng của yếu tố ký kết HiệpĐịnh Thương Mai Tự Do (“Free Trade Aggreement”- FTA) giữaViệt Nam và các nước Asean Giá trị bằng 1 sau khi Việt Namtham gia FTA, còn lại là bằng 0

- FTAUS : biến giả đo lường sự ảnh hưởng của yếu tố ký kết HiệpĐịnh Thương Mai Tự Do (“Free Trade Aggreement”- FTA) giữaViệt Nam và Hoa Kỳ Giá trị bằng 1 sau khi Việt Nam tham giaFTA, còn lại là bằng 0

Kết quả nghiên cứu:

Nghiên cứu cho thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài có sự ảnh hưởngđáng kể đến giá trị xuất khẩu của Việt Nam đến các nước đầu tư Sự tăngtrưởng 1% của FDI có thể dẫn đến 0.13% tăng trưởng đối với giá trị xuấtkhẩu đến các nước cung cấp đầu tư

Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy sự mất giá của tiền Việt Nam đồngđối với tiền tệ của các nước đầu tư cũng là một yếu tố quan trọng quyết địnhđến giá trị xuất khẩu của Việt Nam

Đáng lưu ý hơn cả là độ co giãn (“elasticity”) của giá trị xuất khẩu vàtổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam là 3.21 Điều này cho thấy năng lựcxuất khẩu và tính cạnh tranh ngày càng tăng của hàng hóa Việt Nam đóngmột vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh xuất khẩu

Trang 18

Tác giả không đưa ra kết luận rõ ràng về việc ký kết Hiệp ĐịnhThương Mại Tự Do với các nước ASEAN có phải là yếu tố đẩy mạnh xuấtkhẩu của Việt Nam hay không; nhưng ngược lại nghiên cứu đã cho thấyviệc ký kết Hiệp Định Thương Mại Tự Do với Hoa Kỳ đã thực sự góp phầnvào sự tăng trưởng của giá trị xuất khẩu của Việt Nam qua các năm.

2.3 Mô hình OLI của John Dunning (1977)

Hầu hết các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài xoay quanh lí thuyết chiết trung về sản xuất quốc tế,

mô hình OLI của John Dunning (1977).Học thuyết này kế thừa rất nhiềunhững ưu điểm của các học thuyết khác về FDI

Dunning đã tổng hợp các yếu tố chính của nhiều công trình khác nhau

lý giải về FDI và đề xuất rằng có 3 điều kiện cần thiết để một doanh nghiệp

có động cơ tiến hành đầu tư trực tiếp: lợi thế về sở hữu, địa điểm và nội bộhóa.Cách tiếp cận này được biết đến dưới tên mô hình OLI.Lợi thế về sởhữu của một doanh nghiệp có thể là một sản phẩm hoặc một qui trình sảnxuất mà có ưu thế hơn hẳn các doanh nghiệp khác hoặc các doanh nghiệpkhác không thể tiếp cận Các lợi thế về địa điểm bao gồm không chỉ các yếu

tố nguồn lực, mà còn có cả các yếu tố kinh tế và xã hội, như dung lượng và

cơ cấu thị trường, khả năng tăng trưởng của thị trường và trình độ pháttriển, môi trường văn hóa, pháp luật chính trị và thể chế Tiếp đến là lợi thế

về nội bộ hóa sản xuất, được hiểu là việc một công ty thực hiện và kiểmsoát toàn bộ quá trình sản xuất một sản phẩm từ khâu nguyên liệu đầu vàocho đến việc bán sản phẩm.Từ nền tảng của lý thuyết Dunning, hàng loạtcác nghiên cứu đã tiến hành phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốnFDI đổ vào Việt Nam cả cấp quốc gia lẫn cấp tỉnh, vùng Các nghiên cứu

Trang 19

hầu như tập trung vào tiềm năng thị trường, lao động, cơ sở hạ tầng, chínhsách chính phủ và tác động tích lũy.

Về tiềm năng thị trường, các biến được sử dụng phổ biến là dân số, tốc

đô tăng dân số, GDP, GDP đầu người hay tốc độ tăng GDP Nguyen vàHans-Rimbert (2002) dựa trên 2 mô hình hồi quy cho 61 quan sát và nhậnthấy GDP và GDP đầu người tác động mạnh tới cả FDI đăng kí và FDI thựchiện cộng dồn tới 31/12/2000 của các tỉnh Tuy nhiên, tác động của GDPđầu người lại trái chiều nhau giữa mô hình của FDI thực hiện và FDI đăng

kí, trong khi GDP của tỉnh ảnh hưởng thuận chiều với dòng vốn FDI Gầnđây nhất là nghiên cứu của Bulent và Mehmet nghiên cứu FDI vào 62 tỉnhcủa Việt Nam giai đoạn 2006-2009 cho thấy tác động dương của GDP thực

tế đầu người theo giá cơ sở 2005 tới dòng vốn FDI Nguyen và Nguyen(2007) thấy tác động dương tới FDI của tốc độ tăng GDP (đồng thuận vớiMayer và Nguyen (2005), đối với FDI tích lũy đến 1999, nghiên cứu tácđộng của sự tạo cơ hội để tiếp cận nguồn lực khan hiếm của thể chế chínhtrị tỉnh và áp lực của doanh nghiệp nhà nước) trong khi GDP đầu người lạikhông có ý nghĩa thống kê đối với FDI mới và lũy kế từ 1988 tới 2006.Mayer và Nguyen (2005), nghiên cứu FDI tích lũy đến 1999, thấy dân sốtác động dương ở hầu hết các mô hình

Về lao động, nhân tố này được phân tích theo chất lượng lao động, đobằng phần trăm công nhân có bằng cấp trên tổng số lao động (Nguyen vàHans-Rimbert, (2002) tác động dương) hay số giảng viên đại học trên 1000dân ( Mayer và Nguyen (2005), tác động dương), sự sẵn sàng của lao động,

đo bằng dân số (Nguyen và Nguyen (2007), tác động dương với giá trị và sốlượng đề án FDI tích lũy, số lượng đề án mới), chi phí lao động, đo bằng

Trang 20

lương hàng tháng của lao động nhà nước do địa phương quản lý ( Le VietAnh, (2004), tác động âm, nghiên cứu thời kì 1991-2001, nghiên cứu cấpvùng, Nguyen Phi Lan(2006) ), nghiên cứu 61 tỉnh từ 1996-2003, tác độngâm), Mayer và Nguyen(2005), tác động không có ý nghĩa thống kê, nghiêncứu 61 tỉnh đến 1999).

Về cơ sở hạ tầng, biến số được sử dụng tương đối rộng rãi ở cácnghiên cứu về FDI ở Việt Nam là số điện thoại hay số điện thoại trên 1000dân, (Nguyen và Nguyen (2007), không thấy tác động, Le Viet Anh(2004),Nguyen Phi Lan(2006) tác động tích cực ở hầu hết các mô hình), nguồnđiện được cung cho các hoạt động sản xuất kinh doanh ở các tỉnh (Nguyen

và Hans-Rimbert (2002), tác động dương tới FDI thực hiện cộng dồn), độdài đường nhựa ở tỉnh (Nguyen và Hans-Rimbert(2002), không có tácđộng), khối lượng hành khách vận chuyển địa phương (Mayer vàNguyen(2005), tác động dương trừ trường hợp FDI mới Ngoài ra, khu cụmcông nghiệp cũng được sử dụng như một chỉ số cho cơ sở hạ tầng (Nguyen

và Nguyen(2007), Nguyen và Hans-Rimbert (2002) có tác động cùng chiều

ở tất cả các mô hình) Ngoài ra, khoảng cách đến các trung tâm lớn cũng có thấy tác động âm đối với số đề án FDI cấp mới năm 2006, Malesky (2007)

Về chính sách chính phủ, đây là nhân tố được đo lường bởi rất nhiềubiến khác nhau Chỉ số được sử dụng rộng rãi trong những năm gần đây làchỉ số PCI, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, được Phòng công nghiệp vàthương mại Việt Nam VCCI và Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kì nghiêncứu giới thiệu Tuy nhiên, các nghiên cứu sử dụng chỉ số này còn có nhiềukhác biết.Nguyen và Nguyen (2007) không thấy PCI 2006 tác động đáng kểđến giá trị FDI mới, FDI tích lũy Trong khi đó, nghiên cứu thời gian gần

Trang 21

đây hơn, 2006-2009, Bulent và Mehmet lại cho thấy ảnh hưởng dương đáng

kể của PCI thành phần về mức độ tham nhũng tới FDI vào các tỉnh Thốngnhất với nghiên cứu này, Malesky(2007) phân tích 10 chỉ số thành phần củaPCI và thấy ảnh hưởng mạnh của 1 số chỉ số thành phần như chính sáchphát triển với khu vực tư nhân, minh bạch và tiếp cận đất đai tới đề án FDIcấp mới, tỉ lệ thực hiện và vốn bổ sung năm 2006,chỉ số PCI tổng hợp cótrọng số cũng cho kết quả tương tự với cả tỉ lệ thực hiện cũng như vốn bổsung Trước đó, Mayer và Nguyen (2005) đã phân tích ảnh hưởng của thểchế chính trị thông qua ảnh hưởng của việc cho phép tiếp cận các nguồn lựckhan hiếm của chính quyền tỉnh đối với nhà đầu tư, đo bằng tổng diện tíchkhu công nghiệp trong tỉnh theo báo cáo 1999 và tác động của doanh nghiệpnhà nước, đại diện bằng tỉ lệ giá trị sản xuất của doanh nghiệp nhà nướctrên tổng giá trị sản xuất nội địa Kết quả cho thấy ảnh hưởng thuận chiềucủa sự cho phép tiếp cận nguồn lực tới nhà đầu tư đối với lựa chọn địa điểm

và hình thức gia nhập của hãng.Trong khi áp lực doanh nghiệp nhà nướckhông có tác động đến địa điểm đầu tư Số khu công nghiệp, khu chế xuấtcũng được sử dụng cho điều kiện chính trị Le Viet Anh(2004) sử dụng sốkhu công nghiệp khu chế xuất và cho thấy tác động dương ở hầu hết các môhình

Về tác động tích lũy, FDI cộng dồn tới trước năm nghiên cứu là biếnđược sử dụng rộng rãi Mayer và Nguyen(2005) sử dụng số đề án được cấpphép trước đó có tác động đáng kể đến FDI mới Malesky (2007) thấy điềutương tự xảy ra với tổng lượng vốn 2005 và vốn bổ sung năm 2006 của 64tỉnh thành

Trang 22

CHƯƠNG 3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thiết kế và lựa chọn mô hình nghiên cứu

Đối với mô hình hồiquy, tác giả lựa chọn xuất phát từnghiên cứu “Sự

đóng gópcủa đầu tư trực tiếp nước

Trung Quốc:Bằng chứng từ các

ngoài đến hoạt động xuất khẩu của lĩnh vực được phân tách” (The

Contribution of Foreign Direct Investment to China’s Export Performance:

Evidence from Disaggregated Sectors) của Yan Yuan (2008).Sự đóng góp

của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào giá trị xuất khẩu của Việt Namđược giả thiết chịu tác động của 8 nhân tố bao gồm: FDI, EXR, DI, GDP,

FS, RD, WAGE, WD

Bởi vì mô hình được thành lập để giải thích xuất khẩu, với FDI làmột trong các biến giải thích, bắt đầu với các lý thuyết cơ bản nghiên cứucác yếu tố quyết định hiệu suất xuất khẩu là phù hợp Nền tảng lý thuyếtcho các nghiên cứu thực nghiệm là một trong những lý thuyết thương mạidựa trên lý thuyết của (HO) Heckscher-Ohlin, những lý thuyết thương mạimới và lý thuyết tăng trưởng nội sinh (Liu and Shu, 2003).Theo lý thuyết

HO, một đất nước nên xuất khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố màđất nước được trợ cấp, hoặc là xuất khẩu những sản phẩm mà đất nước đó

có lợi thế, trong đó có lợi thế so sánh trong cả sản xuất và xuất khẩu Đốivới các lý thuyết thương mại mới, họ bổ sung xem xét cạnh tranh khônghoàn hảo, quy mô kinh tế và chi phí thương mại mà sau đó trở thành nhữngyếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu Markusen vàVenables (1998) đưa biến FDI vào các mô hình cân bằng thương mại quốc

tế do sự toàn cầu hóa nhanh chóng Ngoài ra, lý thuyết tăng trưởng nội sinh

Trang 23

đã nhấn mạnh vai trò của sự đổi mới và kết quả là những tính chất côngnghệ của một ngành công nghiệp được coi là một yếu tố quan trọng để tănghiệu suất của xuất khẩu (Liu and Shu, 2003).Cho rằng không có lý thuyếtduy nhất có thể tự giải thích cho hoạt động xuất khẩu cho các nước đangphát triển (Liu and Shu, 2003), tác giả xây dựng một mô hình thực nghiệmtrong đó xem xét đến một số các yếu tố có sự ảnh hưởng đặc biệt đến FDI.

Cụ thể mô hình dự kiến nghiên cứu như sau:

Trang 24

Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu dự kiến

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

(FDI )

Tỷ giá hối đoái

(EXR) Đầu tư trong nước

(DI) Tổng sản phẩm quốc nội

(GDP) Quy mô doanh nghiệp

(FS) Nghiên cứu và phát triển sản phẩm

(RD) Chi phí lao động (WAGE)

Nhu cầu thế giới

(WD)

Tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam (EXP)

Ng uồn :

Trang 25

thiết của tác giả

Trang 26

3.2 Biến và giả thuyết nghiên cứu

3.2.1 Biến phụ thuộc và biến độc lập trong mô hình nghiên cứu

* Biến phụ thuộc:

- EXP: Tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam

* Biến độc lập:

- FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

- EXR: Tỷ giá hối đoái song phương giữa USD và VND được đo lường qua giá trị danh nghĩa

- DI (domestic investment): Đầu tư trong nước được đo lường bằng tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội

- GDP (gross domestic product): Tổng sản phẩm quốc nội được đo lường theo giá thực tế

- FS (firm size): Đại diện cho quy mô doanh nghiệp của nền kinh tế và được

đo bằng sản lượng thực tế trung bình của mỗi công ty

- RD (research and development for innovation): Nghiên cứu và phát triểnsản phẩm được đo bằng số bằng sáng chế của Việt Nam được cấp trong mộtnăm

- WAGE: Đại lượng biểu diễn cho chi phí lao động được định lượng bằng lương thực tế bình quân của nhân viên trong một năm

- WD (world demand): Viết tắt của nhu cầu thế giới, đó là tổng nhập khẩu trên thế giới (ngoại trừ Việt Nam)

Trang 27

3.2.2 Các kỳ vọng về kết quả nghiên cứu

Sự đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào giá trị xuấtkhẩu của Việt Nam được giả thiết chịu tác động của 8 nhân tố bao gồm:FDI, EXR, DI, GDP, FS, RD, WAGE, WD và được biểu diễn bằng phươngtrình:

ln(EXP i,t ) = β0 + β1* ln(FDI i,t ) + β2* ln(EXR i,t ) + β3* ln(DI i,t )+ β4* trình trình hồi quy như sau:

ln(GDP i,t ) + β5* ln(FS i,t ) + β6* ln(RD i,t )+ β7* ln(WAGE i,t ) + β8* ln(WD i,t ) +

Trang 28

H8

Trang 29

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Có nhiều giả thuyết trái ngược nhau liên quan đến mối quan hệ giữaFDI và thương mại Nói chung, FDI có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu củanước chủ nhà thông qua hai kênh Một là những tác động trực tiếp phụthuộc vào việc các doanh nghiệp vốn nước ngoài (FFEs) muốn hướngđếncác nguồn lực ở nước sở tại và tìm kiếm cho xuất khẩu sang các nướckhác, hoặc chỉ tập trung phát triển ở thị trường của nước chủ nhà Loại đầu

tư đầu tiên được gọi là đầu tư trực tiếp nước ngoàitheo chiều dọc Nó đượcdựa trên nguồn lực tương đối, thu hút bởi sự khác biệt về chi phí yếu tố vàđẩy lùi bởi chi phí thương mại (Demekas et al, 2007) Loại thứ hai được gọi

là đầu tư trực tiếp nước ngoàitheo chiều ngang Nó chủ yếu là tìm kiếm thịtrường đầu tư và nhằm thâm nhập thị trường trong nước (Demekas et al,2007) Các tác dụng khác gián tiếp được thể hiện qua các công ty địaphương của nước nhận vốn FDI, những công ty mà kim ngạch xuất khẩucủa nó có thể bị ảnh hưởng bởi FFEs

Tác động trực tiếp của FDI vào xuất khẩu xảy ra khi FDI theo chiềudọc là mục đích chính của FFEs Họ trực tiếp tìm kiếm các địa điểm sảnxuất chi phí thấp hơn trên toàn cầu và đi đến một nước có lợi thế cạnh tranh

về sản phẩm Trong trường hợp này, mục tiêu FFEs là giảm chi phí của họ

và họ sẵn sàng xuất khẩu các sản phẩm ra nước ngoài từ nước nhận vốn

Tuy nhiên, nếu FFEs đi đến một nước có thị trường tiềm năng khổng

lồ, ít khả năng là họ sẽ xuất khẩu sản phẩm.Họ có thể muốn bán chúng ngaytrên thị trường triển vọng của nước nhận vốn.Trong bối cảnh này, vốn FDI

có thể ít có ảnh hưởng trực tiếp vào xuất khẩu của nước nhận vốn Đối với

Trang 30

Việt Nam, cả hai trường hợp có thể là đúng, do chi phí nhân công giá rẻ vàtài nguyên thiên nhiên khá phong phú (nguyên liệu) và cũng là thị trườngtiềm năng rất lớn cho các công ty nước ngoài.

Tác động gián tiếp của FDI vào xuất khẩu liên quan đến ảnh hưởngcủa FDI vào giá trị xuất khẩu các công ty bản địa Nói chung, FFEs thường

có lợi thế cao hơn trong công nghệ sản xuất, quản lý, năng lực tiếp thị, vv…các công ty trong nước có thể làm tăng xuất khẩu của mình bằng cách quansát và học hỏi những kinh nghiệm xuất khẩu của FFEs (Haddad và Harrison, 1993) Nó cũng có thể cải thiện khả năng cạnh tranh các công ty địaphương thông qua việc chuyển giao và phổ biến công nghệ, bí quyết quản

lý, kỹ năng kinh doanh và đào tạo lao động từ FFEs (Sun, 2001; Zhang andSong, 2000)

Tuy nhiên, FDI cũng có thể làm giảm giá trị xuất khẩu của các doanhnghiệp trong nướcbằng cách FFEstăng mua nguyên liệu đầu vào trong nộiđịa Một số sản phẩm ban đầu được xuất khẩu bởi các công ty trong nướcthay vào đó có thể chuyển sang bán cho các FFEs, trong đó các sản phẩmnày được sử dụng như những yếu tố đầu vào, sản xuất ra những mặt hàng

để xuất khẩu hoặc có thể cạnh tranh và thâm nhập trực tiếp vào thị trườngnước sở tại Hơn nữa, xuất khẩu FFEs cũng có thể làm giảm xuất khẩu từcác công ty bản địa sản xuất sản phẩm đồng nhất, vì FDI có thể tiếp tụcgiảm chi phí bằng cách chuyển sản xuất sang các nước chủ nhà Việc làmnày có thể tạo ra một sự ảnh hưởng gián tiếp tổng thể đến xuất khẩu củanước sở tại Vì vậy, việc ảnh hưởng của FDI thông qua hình thức FFEs lênxuất khẩu là không rõ ràng Như vậy, giả thuyết của tác giả về sử ảnh hưởngcủa FDI vào xuất khẩu của Việt Nam cũng là không thực sự rõ ràng

Trang 31

Các yếu tố khác (đầu tư trong nước, quy mô doanh nghiệp, chi phí lao động, R&D, Tỷ giá hối đoái, Tổng sản phẩm quốc nội và nhu cầu thế giới)

Ngoài FDI, đầu tư tài sản cố định trong nước cũng có thể là một yếu

tố quan trọng ảnh hưởng đến xuất khẩu bởi vì nó là một trong những yếu tốquyết định chính của năng suất, yếu tố có thể ảnh hưởng đến nguồn cungcho xuất khẩu Sự gia tăng năng lực sản xuất từ việc đầu tư nội địa của mộtcông ty rõ ràng là có khả năng thúc đẩy xuất khẩu Theo Coughlin andFable, 1988; Erickson and Hayward, 1992; Leichenko and Erickson, 1997;Zhang and Song, 2000 thì đầu tư trong nước là một yếu tố quan trọng đốivới hoạt động xuất khẩu của các nước Do đó, tác giả dự kiến đầu tư nội địa

sẽ làm tăng xuất khẩu

Quy mô doanh nghiệp có thể là một trong các biến nghiên cứu nhiềunhất trong các nghiên cứu xuất khẩu ở cấp độ doanh nghiệp trong nghiêncứu thực nghiệm, tuy nhiên, ảnh hưởng của nó trên hoạt động xuất khẩu vẫnchưa rõ ràng Việc xuất khẩu thường liên quan đến những bất ổn trong thịtrường quốc tế, ngoài những yếu tố như chi phí vận chuyển và thông tin liênlạc phát sinh, thu thập thông tin thị trường, thiết lập các kênh bán hàng ởnước ngoài và nội địa hóa sản phẩm Hơn nữa, người ta tin rằng các công tylớn có lợi thế về quy mô và nhiều nguồn lực ở nước ngoài, do đó các công

ty này có thể giảm chi phí và rủi ro trong việc mở rộng thị phần trên toàncầu (Liu and Shu, 2003) Vì vậy, những công ty có được các lợi thế trongviệc giảm các chi phí và rủi ro có thể có xu hướng xuất khẩu nhiềuhơn.Cavusgil and Naor 1987, Christensen và cộng sự 1987 , Perkett 1963,

và Tookey 1964 cũng hoàn toàn ủng hộ việc các tập đoàn càng lớn thì càng

Trang 32

có khả năng xuất khẩu nhiều hơn Tuy nhiên, Glejser và cộng sự (1980) đãchỉ ra rằng nếu các công ty lớn đã ở vị trí dẫn đầu hoặc độc quyền tại thịtrường trong nước, họ có thể không sẵn sàng để đẩy mạnh hoạt động sangthị trường nước ngoài, trong khi các công ty nhỏ có xu hướng và động lựcmạnh mẽ hơn để tìm kiếm thị trường lớn hơn bên ngoài đất nước của họ.Cooper và Kleinschmidt (1985, Gripsrud (1990) cũng kết luận một mốiquan hệ ngược chiều giữa quy mô doanh nghiệp và xuất khẩu trong khiKatsikeas và cộng sự (1995) cho thấy không có mối quan hệ trực tiếp.Trongđiều kiện của Việt Nam, các công ty lớn có lợi thế trong việc sở hữu nhiềukênh để có được những hạn ngạch xuất khẩu của chính phủ và có thể đã tiếpcận nhiều hơn và có lợi thế hơn các doanh nghiệp nhỏ trong việc phát triểnthị trường nước ngoài Với sự tương tác giữa hai hiệu ứng và các kết quảthực nghiệm hỗn hợp (Bilkey, 1978), tác giả đưa ra giả thuyết rằng tác độngcủa quy mô doanh nghiệp xuất khẩu là không chắc chắn

Một yếu tố khác được nhắc đến đó là chi phí lao động Theo lý thuyết

tỷ lệ các yếu tố củaHeckscher – Ohlin, một ngành công nghiệp nên xuấtkhẩu hàng hóa được sản xuất bằng các nguồn lực dồi dào của đất nước Vớiđiều kiện là Việt Nam được ưu đãi tốt hơn với lao động và mức lương thấphơn so với lao động ở các nước đang phát triển và có thể có lợi thế so sánhtrong các ngành công nghiệp thâm dụng lao động của mình, do đó sẽ có sảnphẩm cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới và đóng góp vào khối lượngxuất khẩu Vì thế, giả thuyết của tác giả là giảm chi phí lao động sẽ làmtăng giá trị xuất khẩu trong nước, đặc biệt là trong các lĩnh vực thâm dụnglao động

Trang 33

Vai trò của đổi mới trong việc phát triển sản phẩm và nâng cao chấtlượng sản phẩm hiện có đã được thừa nhận rộng rãi Nếu phù hợp, sảnphẩm sẽ cạnh tranh hơn trên thị trường do chất lượng cao hơn, do đó nó cóthể cải thiện hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp hay ngành công nghiệp.Tuy nhiên, những bằng chứng thực nghiệm về sự ảnh hưởng của R&D lênxuất khẩu vẫn chưa thực sự rõ ràng Do đó, tác giả đưa ra giả thuyết R&D

có thể ảnh hưởng cùng chiều hoặc trái chiều đối với giá trị xuất khẩu

Bên cạnh đó, tỷ giá hối đoái là một yếu tố khác có thể có ảnh hưởngđến xuất khẩu Nói chung, sự mất giá của tiền tệ của một quốc gia có xuhướng khuyến khích xuất khẩu Sự mất giá của tiền tệ làm cho hàng hóa của

nó rẻ hơn trên thị trường quốc tế do đó cạnh tranh hơn Sun (2001) và Yao(2006 ) được tìm thấy sự tương hỗ cho giả thuyết này trong Trung Quốc khi

họ nghiên cứu những tác động của FDI vào xuất khẩu ở mức độ cấp tỉnh, sửdụng dữ liệu 1984-1997 và 1978-2000 Wang (2002) cũng cho thấy, tỷ giá

là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến xuất khẩu củaTrung Quốc với các dữ liệu tổng hợp cho 1983-1999.Để phù hợp với cácvới các lý thuyết trước đó,tác giả đưa ra giả thuyết rằng sự mất giá của đồngtiền Việt Nam sẽ làm tăng nhu cầu đối với sản phẩm của mình và thúc đẩyxuất khẩu

Tổng sản phẩm quốc nội(GDP) có thể là một yếu tố khác có thể ảnhhưởng đến xuất khẩu GDP dự kiến sẽ được liên quan cùng chiều với kimngạch xuất khẩu

Nhu cầu thế giới (WD) cũng có thể đóng một vai trò quan trọng ảnhhưởng đến hoạt động xuất khẩu.Đây là biến giải thích quan trọng cho xuất

Ngày đăng: 10/10/2020, 11:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w