Bảng 1: Tóm tắt những công trình nghiên cứu thực nghiệm trước đây...18Bảng 2: Mô tả biến trong mô hình nghiên cứu...24 Bảng 3: Các nước trong mẫu nghiên cứu...30 Bảng 4: Tên biến và nguồ
Trang 1-
-NGUYỄN THỊ THANH TÂM
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI ĐẾN ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC Ở
NHỮNG NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh - Năm 2013
Trang 2-
-NGUYỄN THỊ THANH TÂM
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI ĐẾN ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC Ở
NHỮNG NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐỊNH
TP Hồ Chí Minh – Năm 2013
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng luận văn “Tác động của đầu tư trực tiếp ra nướcngoài đến đầu tư trong nước ở những nước đang phát triển” là công trìnhnghiên cứu của riêng tôi.
Các thông tin dữ liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và cáckết quả trình bày trong luận văn chưa được công bố tại bất kỳ công trìnhnghiên cứu nào trước đây Nếu phát hiện có bất kỳ gian lận nào, tôi xin chịutoàn bộ trách nhiệm trước Hội đồng
TP.HCM, tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Tâm
Trang 4ngoài đến đầu tư trong nước ở những nước đang phát triển” là công trìnhnghiên cứu của riêng tôi.
Các thông tin dữ liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và cáckết quả trình bày trong luận văn chưa được công bố tại bất kỳ công trìnhnghiên cứu nào trước đây Nếu phát hiện có bất kỳ gian lận nào, tôi xin chịutoàn bộ trách nhiệm trước Hội đồng
TP.HCM, tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Thanh Tâm
Trang 5Cụm viết tắt Tên đầy đủ tiếng Anh Tên đầy đủ tiếng Việt
Conference on Trade and tế về thương mại và phát
Trang 6Danh mục cụm từ viết tắt
Mục lục
Danh mục bảng biểu
Tóm tắt 1
1 Giới thiệu 2
2 Tổng quan những nghiên cứu trước đây 4
2.1 Những nghiên cứu về mặt lý thuyết 4
2.2 Những nghiên cứu về mặt thực nghiệm 6
3 Phương pháp nghiên cứu 21
3.1 Mô hình nghiên cứu 21
3.2 Phương pháp nghiên cứu 26
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 30
3.3.1 Mẫu nghiên cứu 30
3.3.2 Nguồn dữ liệu 32
4 Nội dung và các kết quả nghiên cứu 34
4.1 Thống kê mô tả 34
4.2 Kết quả nghiên cứu chính 36
4.3 Kết quả các kiểm định độ vững của mô hình 44
5 Kết luận 55 Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 7Bảng 1: Tóm tắt những công trình nghiên cứu thực nghiệm trước đây 18
Bảng 2: Mô tả biến trong mô hình nghiên cứu 24
Bảng 3: Các nước trong mẫu nghiên cứu 30
Bảng 4: Tên biến và nguồn dữ liệu 32
Bảng 5: Mô tả dữ liệu 34
Bảng 6: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu 35
Bảng 7: Tác động ngắn hạn của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đến đầu tư trong nước ở những nước đang phát triển, phương pháp system GMM 37
Bảng 8: Tác động ngắn hạn của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đến đầu tư trong nước ở những nước đang phát triển, phương pháp system GMM (nhân tố phát triển thị trường được đo lường bằng biến Credit thay vì biến M2) 42
Bảng 9: Tác động dài hạn của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đến đầu tư trong nước ở những nước đang phát triển 43
Bảng 10: Tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đến đầu tư trực tiếp ở trong nước ở những nước đang phát triển sau khi loại bỏ những nước có nguồn dự trữ ngoại hối lớn. 45
Bảng 11: Kiểm định quan hệ tuyến tính giữa đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và đầu tư trong nước 47
Bảng 12: Kiểm định tác động của mức độ phát triển tài chính đến mối quan hệ của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và đầu tư trong nước. 48
Trang 9TÓM TẮT:
Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của những nước đang pháttriển ngày càng gia tăng mạnh mẽ, điều này có thể ảnh hưởng đến hoạt độngđầu tư trong nước, từ đó tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Do vậy,nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đến đầu tư trong nước
ở những nước đang phát triển là điều rất cần thiết Mục tiêu của luận văn lànghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đến đầu tư trong nước
ở 40 nước đang phát triển trên thế giới bằng cách sử dụng dữ liệu bảng vàphương pháp system GMM Kết quả nghiên cứu cho thấy, đầu tư trực tiếp ra nướcngoài có tác động nghịch chiều đến đầu tư trong nước
Trang 101 GIỚI THIỆU
Trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay thì hoạt động đầu tư trực tiếp ranước ngoài ngày càng mạnh mẽ, nhất là đối với những nước đang phát triển.Theo số liệu thống kê của Hội nghị liên hiệp quốc tề về thương mại và pháttriển UNCTAD, năm 2005, tỷ trọng của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài củanhững nước đang phát triển so với toàn thế giới chiếm khoảng 15% Từ năm
2005 – 2012, tỷ trọng này liên tục tăng lên, đến năm 2012 đầu tư trực tiếp ranước ngoài của những nước đang phát triển chiếm 30% so với thế giới
Sự gia tăng trong dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho thấyrằng trong thời gian gần đây những nước đang phát triển ngày càng tham giamạnh mẽ vào nền kinh tế toàn cầu Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ tác động đến đầu tư trong nước Đầu tư trongnước lại là nhân tố quan trọng đối với tốc độ phát triển kinh tế Do vậy, tácđộng của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đến đầu tư trong nước là vấn đề cầnđược tìm hiểu, nghiên cứu Dựa trên những kết quả nghiên cứu thực nghiệmđạt được, các nhà làm chính sách có thể đưa ra những chính sách kinh tếnhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư trong nước, từ đó thúc đẩy nền kinh tế tăngtrưởng tốt
Xét về mặt lý thuyết, các nhà nghiên cứu cho rằng đầu tư trực tiếp ranước ngoài có thể tác động đến đầu tư trong nước thông qua hai kênh tácđộng: thị trường tài chính và thị trường sản xuất Tuy nhiên, tác động này vẫnchưa rõ ràng, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có thể làm tăng, giảm hoặc khôngthay đổi hoạt động đầu tư trong nước Vì thế, nghiên cứu thực nghiệm để xácđịnh tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đến đầu tư trong nước ởnhững nước đang phát triển là điều cần thiết
Trang 11Căn cứ vào những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Tác động của đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài đến đầu tư trong nước ở những nước đang phát triển” để nghiên cứu trong luận văn của mình.
Mục tiêu của luận văn là đưa ra kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tácđộng của đầu trực tiếp ra nước ngoài đến đầu tư trong nước ở những nướcđang phát triển trên thế giới trong khoảng thời gian gần đây
Dựa vào một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây, đặc biệt làbài nghiên cứu của tác giả Ali Al-Sadig (2013), câu hỏi nghiên cứu đặt ra là:liệu rằng, đối với những nước đang phát triển, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
có làm giảm đầu tư trong nước hay không?
Luận văn sử dụng dữ liệu bảng của 40 nước đang phát triển trên thếgiới trong khoảng thời gian từ 2005 – 2012 và phương pháp System GMM để
có thể xử lý tốt vấn đề tính nội sinh của những biến nghiên cứu trong bài
Phần còn lại của luận văn gồm các phần sau:
Phần 2: Tổng quan những nghiên cứu trước đây, gồm những nghiêncứu về mặt lý thuyết và thực nghiệm tác động của đầu tư trực tiếp ra nướcngoài đến đầu tư trong nước
Phần 3: Phương pháp nghiên cứu, gồm có mô hình nghiên cứu, phươngpháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu
Phần 4: Kết quả nghiên cứu: gồm có kết quả nghiên cứu chính vànhững kết quả kiểm tra độ vững
Phần 5: Kết luận
Trang 122 TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY.
2.1 Những nghiên cứu về mặt lý thuyết.
Về mặt lý thuyết, các nhà nghiên cứu cho rằng đầu tư trực tiếp ra nướcngoài có thể ảnh hưởng đến đầu tư trong nước thông qua hai kênh: thị trườngtài chính và thị trường sản xuất
Đối với kênh thị trường tài chính, hai tác giả Steven và Lipsey (1992)cho rằng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ làm giảm đầu tư trong nước Tácgiả cho rằng trong thị trường vốn hoàn hảo, công ty có khả năng vay mượn đểtăng vốn đầu tư ở mức lãi suất nhất định Tức là quyết định đầu tư trực tiếp ranước ngoài của công ty không ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trong nước
Tuy nhiên, trên thực tế, thị trường vốn không hoàn hảo, nếu công tytăng tỷ số nợ quá cao, rủi ro sẽ gia tăng, dẫn đến chi phí sử dụng vốn của công
ty sẽ tăng theo Do đó, công ty bị giới hạn nguồn vốn tài trợ cho hoạt độngđầu tư ở một mức nào đó Khi công ty đầu tư ra nước ngoài sẽ làm giảm khảnăng thực hiện các dự án đầu tư trong nước
Đối với kênh thị trường sản xuất, các nhà nghiên cứu cho rằng tác độngcủa đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đến đầu tư trong nước phụ thuộc vào động
cơ đầu tư ra nước ngoài của công ty
Theo Dunning (1993), có bốn động cơ để công ty thực hiện đầu tư ranước ngoài: tìm kiếm tài nguyên thiên nhiên, tìm kiếm thị trường, tìm kiếmhiệu quả thị trường và tìm kiếm tài sản chiến lược
Đầu tiên, đầu tư ra nước ngoài nhằm tìm kiếm tài nguyên thiên nhiênxảy ra khi công ty muốn đầu tư vào những thị trường có nguồn tài nguyênthiên nhiên mà nước mình không có hoặc khan hiếm Hejazi và Pauly (2003)
Trang 13cho rằng nếu công ty đầu tư ra nước ngoài vì động cơ này sẽ không làm thayđổi đầu tư trong nước, thậm chí có thể thúc đẩy xuất khẩu hàng trung giantrong nước, từ đó gia tăng đầu tư trong nước.
Thứ hai, đầu tư ra nước ngoài nhằm tìm kiếm thị trường nghĩa là công
ty muốn gia nhập thị trường mới hoặc tránh những rào cản về thương mại nhưchi phí vận chuyển hoặc bảo hộ thương mại của nước chủ nhà Công ty đầu tư
ra nước ngoài vì động cơ này có thể làm tăng hoặc không tác động đến đầu tưtrong nước Cụ thể là, nếu công ty đầu tư vào những ngành dịch vụ (hoặcnhững ngành không có khả năng xuất khẩu) không dẫn đến việc thay thế xuấtkhẩu sản phẩm trong nước thì không những không làm giảm mà còn có tácđộng thúc đẩy hoạt động đầu tư trong nước thông qua thúc đẩy hoạt động sảnxuất hàng trung gian (Hejazi và Pauly, 2003) Nếu công ty đầu tư vào nhữnglĩnh vực có tác động thay thế xuất khẩu thì sẽ làm giảm đầu tư trong nước.Tuy nhiên trong trường hợp này, vẫn có khả năng đầu tư trực tiếp ra nướcngoài thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trung gian ở trongnước nên chưa chắc đầu tư trong nước sẽ giảm
Thứ ba, công ty có động cơ tìm kiếm hiệu quả thị trường do sự khácbiệt về giá của những nhân tố sản xuất (như chi phí tiền lương nhân công…).Mỗi giai đoạn khác nhau trong chu trình sản xuất của công ty sẽ được xâydựng ở nơi có chi phí thấp nhất Do vậy trong ngắn hạn, công ty đầu tư trựctiếp ra nước ngoài để tìm kiếm hiệu quả thị trường sẽ có tác động làm giảmđầu tư trong nước Tuy nhiên, trong dài hạn, công ty có thể nhập khẩu nhữngnguyên liệu đầu vào trung gian từ những cơ sở ở nước ngoài với giá thànhthấp hơn, cơ sở trong nước có thể sản xuất sản phẩm với giá thấp hơn, từ đóthúc đẩy hoạt động xuất khẩu, và hoạt động đầu tư sản xuất trong nước(Herze, 2008)
Trang 14Cuối cùng, công ty đầu tư ra nước ngoài nhằm tìm kiếm tài sản chiếnlược, là những tài sản không có sẵn trong nước nhưng lại đóng vai trò quantrọng trong chiến lược phát triển lâu dài của công ty Ví dụ, công ty đầu tư ranước ngoài để mở rộng thương hiệu công ty hay xây dựng mạng lưới phânphối rộng lớn nhằm mục đích tăng khả năng cạnh tranh; hoặc các cở sở ởnước ngoài của công ty sau khi tiếp thu khoa học công nghệ mới, trình độquản lý cao của các đối tác sẽ chuyển về cho công ty mẹ, nâng cao khả năngsản xuất của công ty mẹ…Tóm lại, động cơ đầu tư ra nước ngoài nhằm tìmkiếm tài sản chiến lược có ý nghĩa lớn đối với công ty, có tác động thúc đẩyhiệu quả hoạt động đầu tư trong nước của công ty.
Như vậy, xét về mặt lý thuyết, dựa trên hai kênh thị trường tài chính vàthị trường sản xuất, thì đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có thể làm tăng, giảm,hoặc không tác động đến đầu tư trong nước
2.2 Những nghiên cứu về mặt thực nghiệm.
Những nghiên cứu thực nghiệm về tác động của đầu tư trực tiếp ranước ngoài đến đầu tư trong nước được thực hiện dựa trên hai cấp độ dữ liệu:
dữ liệu vĩ mô và dữ liệu vi mô (dữ liệu ngành, dữ liệu công ty)
Các tác giả sử dụng dữ liệu vĩ mô gồm có: Feldstein (1995), Andersen
và Hainaut (1998), Desai và cộng sự (2005), Soo Khoon và cộng sự (2012),Sauramo (2008), Herzer và Schrooten (2007), Ali Al- Sadig (2013)
Feldstein (1995): Tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đến đầu tư trong nước.
Feldstein (1995) sử dụng dữ liệu của 18 nước OECD trong những năm
1980 và 15 nước OECD trong những năm 1990 để kiểm định mối quan hệ
Trang 15giữa đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và đầu tư trong nước Trong bài nghiêncứu, đầu tiên tác giả đã hồi quy biến đầu tư trong nước (GDI) theo ba biếnphục thuộc: tổng tiết kiệm quốc gia (Saving), đầu tư trực tiếp ra nước ngoài(OFDI), đầu tư trực tiếp nước ngoài (IFDI) Kết quả cho thấy rằng, đầu tư trựctiếp ra nước ngoài làm giảm đầu tư trong nước.
Tuy nhiên, tác giả lại cho rằng biến OFDI, IFDI là những biến nội sinh
bởi: “Biến đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có
tương quan với những biến có tác động thúc đẩy đầu tư trong nước Một quốc gia có điều kiện đầu tư trong nước tốt sẽ thu hút nhiều vốn FDI và giảm đầu
tư ra nước ngoài”.
Để xử lý vấn đề này, ban đầu tác giả dự định sử dụng biến công cụ, tuynhiên lại không thể tìm ra biến công cụ phù hợp cho biến OFDI và IFDI Dovậy, ông đã thêm vào mô hình những biến có quan hệ với cả đầu tư trongnước (GDI) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (IFDI), đầu tư trực tiếp ra nướcngoài (OFDI) để giảm độ chệch của kết quả ước lượng, gồm có: biến giả xemnước đó có thuộc châu Âu hay không (E), biến quy mô đo lường bằng dân sốtrung bình (SIZE), biến lạm phát (INF), tốc độ tăng trưởng GDP trung bình(GRO)
Kết quả cuối cùng của bài nghiên cứu là đầu tư trực tiếp ra nước ngoàităng 1 đô la sẽ làm giảm 1 đô la đầu tư trong nước
lao động ở những nước công nghiệp
Andersen và Hainaut (1998) kiểm định tác động của đầu tư trực tiếp ranước ngoài đến đầu tư trong nước dựa trên dữ liệu thời gian ở bốn quốc gia:
Trang 16Mỹ, Anh, Nhật Bản, Đức trong giai đoạn từ những năm 1960 đến những năm 1990.
Tác giả sử dụng các biến trong mô hình cũng tương tự như củaFeldstein, với ba biến độc lập chính là tiết kiệm (Saving), đầu tư trực tiếpnước ngoài (IFDI), đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (OFDI) và phương phápECM để nghiên cứu tác động trong ngắn, dài hạn
Kết quả cho thấy, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài làm giảm đầu tư trongnước Tuy nhiên, mức độ tác động ở mỗi quốc gia lại khác nhau, không phải
là tỷ lệ 1:1 như kết quả nghiên cứu của tác giả Feldstein (1995) Cụ thể, đầu
tư trong nước ở Mỹ giảm 1.08 đô la, Nhật giảm 1.32 đô la, Đức giảm 1.72 đô
la, Anh giảm 0.41 đô la khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tăng 1 đô la Tácđộng này của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Mỹ được bù trừ bởi tác độngcủa đầu tư trực tiếp vào trong nước; trong khi ở Đức tác động cùng chiều củađầu tư trực tiếp vào trong nước lớn hơn so với tác động nghịch chiều của đầutrực tiếp ra nước ngoài
Desai và cộng sự (2005): Đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu
tư trong nước.
Dựa trên bài nghiên cứu của Feldstein (1995), Desai và cộng sự (2005)cũng thực hiện nghiên cứu khác cho các nước OECD Tác giả đã mở rộngphạm vi nghiên cứu, gồm 20 nước trong khoảng những năm 1980 và 26 nướctrong khoảng những năm 1990
Kết quả nghiên cứu đạt được cũng khá tương đồng so với nghiên cứucủa Feldstein (1995), đầu tư trực tiếp ra nước ngoài làm giảm đầu tư trongnước (1: 1.33 trong những năm 1980 và 1: 1.07 trong những năm 1990); đầu
Trang 17tư trực tiếp nước ngoài làm tăng đầu tư trong nước (1: 1.18 trong những năm 1980).
ngoài và đầu tư trong nước.
Soo Khoon và cộng sự (2012) cũng dựa trên công trình nghiên cứu củaFeldstein để thực hiện bài nghiên cứu đối với Malaysia Các biến trong môhình gồm có: tổng đầu tư trong nước (GDI), tổng tiết kiệm (GNS), dòng vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài(OFDI) Trong bài nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp ARDL vì hai lýdo: dữ liệu quý nên dữ liệu thu thập được tương đối ít, gồm 47 quan sát từ quý
3 năm 1999 đến quý 1 năm 2010 và mục tiêu của tác giả là kiểm định tácđộng của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (OFDI) đến đầu tư trong nước (GDI)trong dài hạn
Kết quả cho thấy, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài OFDI làm giảm đầu tưtrong nước (tỷ lệ 1: 0.48), trong khi đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ gia tăngđầu tư trong nước (tỷ lệ 1: 1.83) Từ đó tác giả cho rằng, Malaysia có thể bùtrừ tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đến đầu tư trong nước bằngcách tăng cường thu hút vốn FDI
đầu tư trong nước hay không? Bằng chứng thực nghiệm ở Phần Lan.
Sauramo (2008) nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoàiđến đầu tư trong nước ở Phần Lan trong khoảng thời gian 1965 – 2006 Trongbài nghiên cứu, nhằm mục đích tập trung nghiên cứu tác động của OFDI đếnđầu tư trong nước, tác giả không đưa biến đầu tư trực tiếp nước ngoài (IFDI)vào mô hình nghiên cứu như những nghiên cứu trước đó mà chỉ sử dụng các
Trang 18biến: đầu tư trong nước (DI), tiết kiệm trong nước (S) và đầu tư trực tiếp ranước ngoài (OFDI).
Bên cạnh đó, để ước lượng tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài,tác giả sử dụng đồng thời hai phương pháp nghiên cứu: phương pháp ECM vàphương pháp VAR Dữ liệu cũng được phân thành hai mức độ, đầu tiên là dữliệu của toàn nền kinh tế, tiếp đó là dữ liệu của ngành (ngoại trừ ngành tàichính)
Đầu tiên, tác giả sử dụng dữ liệu hàng năm cho toàn nền kinh tế Kếtquả ước lượng bằng phương pháp ECM cho thấy, trong dài hạn, OFDI có tácđộng nghịch chiều đến đầu tư trong nước theo tỷ lệ gần bằng 1:1 Trong ngắnhạn, OFDI không có tác động đến đầu tư trong nước Khi sử dụng phươngpháp VAR, kết quả cũng tương tự
Tiếp đó, tác giả sử dụng dữ liệu ngành từ 1975-2006 để có thể phân tích
kỹ hơn mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và đầu tư trong nước
ở Phần Lan Kết quả nghiên cứu đạt được cũng tương tự như trên, OFDI làmgiảm đầu tư trong nước
Do tác giả đã loại bỏ những công ty thuộc lĩnh vực tài chính ra khỏimẫu nghiên cứu, phần lớn dữ liệu thu thập được từ lĩnh vực sản xuất nên tácgiả cho rằng tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đến hoạt động đầu tưtrong nước ở Phần Lan thực sự có ý nghĩa đối với lĩnh vực sản xuất
Herzer và Schrooten (2007): Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và đầu
tư trong nước.
Khác với những nhà nghiên cứu trên, Herzer và Schrooten (2007) chỉ
sử dụng biến dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài OFDI và biến đầu tư
Trang 19trong nước DI trong mô hình nghiên cứu và áp dụng phương pháp đồng liênkết và phân tích nhân quả dựa trên dữ liệu thời gian để nghiên cứu ở Mỹ(1970-2003) và Đức (1971- 2004).
Kết quả cho thấy, có sự khác biệt giữa hai quốc gia Ở Mỹ, trong dàihạn, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài làm tăng đầu tư trong nước Do nhữngcông ty đa quốc gia thường kết hợp sản xuất trong nước và nước ngoài nhằmmục đích giảm chi phí sản xuất, từ đó thúc đẩy sản lượng đầu ra và đầu tư ởtrong nước Trong khi đó, ở Đức, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài làm tăng đầu
tư trong nước trong ngắn hạn nhưng làm giảm đầu tư trong nước trong dàihạn Tác giả cho rằng sự khác biệt giữa hai quốc gia này là do khác biệt vềnhân tố pháp lý
Ali Al- Sadig (2013): Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và đầu
tư trong nước: trường hợp của những nước đang phát triển.
Trong khi những nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào những nướcphát triển thì Ali Al - Sadig (2013) thực hiện nghiên cứu dành cho nhữngnước đang phát triển Tác giả sử dụng dữ liệu bảng cho 121 nước trongkhoảng thời gian từ 1990 -2010, (trong đó phần lớn là những nước đang pháttriển)
Tác giả hồi quy biến đầu tư trong nước (DI) theo 8 biến giải thích gồmcó: dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (IFDI), dòng vốn đầu tư trực tiếp ranước ngoài (OFDI), biến trễ của đầu tư trong nước (DIt-1), tổng tiết kiệm quốcgia (Saving), lạm phát (INF), độ mở thương mại (Openess), tốc độ tăng
trường GDP thực (RGDP), phát triển tài chính (M2/Credit)
Đặc biệt, trong bài nghiên cứu tác giả đã xử lý vấn đề nội sinh của cácbiến giải thích trong mô hình bằng cách sử dụng dữ liệu bảng và phương pháp
Trang 20ước lượng system GMM Biến công cụ là các biến trễ, các biến trễ sai phâncủa những biến nội sinh được đưa vào để ước lượng, giảm độ chệch của kếtquả.
Kết quả ước lượng cho thấy, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài làm giảmđầu tư trong nước (tỷ lệ 1:0.29 trong ngắn hạn và 1: 0.73 trong dài hạn) Hơnnữa, kết quả ước lượng còn được khẳng định bằng nhiều phép kiểm tra độvững của mô hình: loại những nước có nguồn dự trữ ngoại hối lớn ra khỏimẫu, thêm các nhân tố đo lường rủi ro quốc gia vào mô hình ước lượng, kiểmđịnh tính tuyến tính của mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp ra nước ngoài vàđầu tư trong nước, kiểm định tác động của mức độ phát triển tài chính đếnmối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và đầu tư trong nước, thựchiện ước lượng bằng các phương pháp khác
Kết quả sau khi kiểm tra độ vững cho thấy, OFDI thực sự có tác độnglàm giảm đầu tư trong nước ở những nước đang phát triển
Ngoài những nghiên cứu thực nghiệm sử dụng dữ liệu vĩ mô trên,những nghiên cứu thực nghiệm dựa trên dữ liệu vi mô cũng có kết quả khácnhau
Lipsey và Steven (1992): Quan hệ giữa đầu tư trong nước và đầu
tư nước ngoài.
Lipsey và Steven (1992) sử dụng dữ liệu của 7 công ty đa quốc gia ở
Mỹ trong khoảng thời gian 16 – 20 năm để nghiên cứu tác động của đầu tưtrực tiếp ra nước ngoài đến đầu tư trong nước thông qua kênh tác động tàichính Trong bài nghiên cứu, tác giả chia hoạt động đầu tư của mỗi công tythành hai phần: đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; dựa theo đó tác giả
sẽ tiến hành thực hiện ước lượng cho từng công ty Tức là sẽ có 14 phương
Trang 21trình hồi quy cho 7 công ty, phân theo đầu tư trong nước và đầu tư nướcngoài Ngoài những biến cơ bản, tác giả sử dụng tỷ lệ nợ/ vốn cổ phần như làmột mối liên kết tài chính giữa hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư nướcngoài.
Kết quả cho thấy, đầu tư ra nước ngoài và đầu tư trong nước của nhữngcông ty đa quốc gia ở Mỹ thực sự có tương quan với nhau và là quan hệ cùngchiều
Desai (2005): Đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trong nước.
Tương tự, Desai (2005) cũng sử dụng dữ liệu thời gian của những công
ty đa quốc gia Mỹ trong giai đoạn những năm 1980, 1990 Đầu tiên, tác giảhồi quy chi tiêu đầu tư trong nước theo chi tiêu đầu tư ra nước ngoài của cáccông ty đa quốc gia Mỹ, sau đó tác giả thêm vào mô hình nghiên cứu hai biếnkiểm soát khác là tiết kiệm nội địa và chi tiêu đầu tư ở Mỹ của những công tynước ngoài
Kết quả cuối cùng cho thấy, khi các công ty đa quốc gia Mỹ tăng chitiêu đầu tư ở nước ngoài thì chi tiêu đầu tư ở trong nước cũng sẽ tăng Bêncạnh đó, chi tiêu đầu tư trong nước còn chịu tác động nghịch chiều của chitiêu đầu tư ở Mỹ của các công ty nước ngoài, tác động cùng chiều của tiếtkiệm nội địa Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng, kết quả của bài nghiên cứu cóthể bị chệch do bỏ sót những biến quan trọng
Desai (2005): Đầu tư trực tiếp nước ngoài và hoạt động đầu
tư trong nước.
Trong bài nghiên cứu sau đó, Desai và các cộng sự (2005) đã giới hạn
Trang 22mẫu dữ liệu, chỉ sử dụng mẫu nghiên cứu gồm các công ty thuộc lĩnh vực sảnxuất để hạn chế hiện tương phương sai thay đổi Nhằm mục đích xử lý vấn đề
bỏ sót biến của bài nghiên cứu trước, tác giả sử dụng biến công cụ trong môhình nghiên cứu
Theo tác giả biến công cụ phải thỏa điều kiện: có tương quan trực tiếpvới hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhưng chỉ có tương quan gián tiếp vớihoạt động đầu tư trong nước và không bị chi phối bởi những nhà đầu tư Mỹ.Dựa theo yêu cầu đó, tác giả lựa chọn biến tốc độ tăng trưởng kinh tế củaquốc gia mà các công ty đa quốc gia Mỹ đầu tư vào làm biến công cụ cho môhình nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu vẫn khẳng định rằng, hoạt động đầu tư ra nướcngoài của các công ty đa quốc gia Mỹ có tác dụng thúc đẩy hoạt động đầu tưtrong nước
trong nước ở ngành sản xuất công nghiệp Mỹ tác động loại bỏ và thay thế.
Sử dụng dữ liệu vi mô để nghiên cứu tác động đầu tư ra nước ngoài vàđầu tư trực tiếp vào trong nước đến đầu tư trong nước ở Mỹ còn có nhànghiên cứu John Mullen (2010) Ông sử dụng dữ liệu cấp độ ngành trongkhoảng thời gian 1997-2007
Ông hồi quy biến phụ thuộc là vốn đầu tư trong nước theo các biến giảithích: đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (FKO), đầu tư trực tiếp nước ngoài(FKI), lợi nhuận (π), lao động (L), sản lượng đầu ra (Q) bằng phương pháp), lao động (L), sản lượng đầu ra (Q) bằng phương phápOLS
Trang 23Tuy nhiên, khác với kết quả nghiên cứu của Desai (2005), kết quả hồiquy của bài nghiên cứu này cho thấy, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài làm giảmđầu tư trong nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào trong nước gia tăng đầu tưtrong nước Tác giả giải thích kết quả trên dựa vào những nguyên nhân sau.Thứ nhất là do tác động thay thế xuất khẩu khi đầu tư ra nước ngoài củanhững công ty đa quốc gia làm giảm hoạt động đầu tư trong nước Thứ hai là
do chi phí sản xuất thấp ở nước ngoài khiến cho các công ty Mỹ xây dựng các
cơ sở sản xuất ở nước ngoài, giảm nhu cầu đầu tư trong nước
Hejazi và Pauly (2003): Động lực cho đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trong nước.
Hejazi và Pauly (2003) sử dụng dữ liệu cấp độ ngành của Canada tronggiai đoạn 1984 -1995 để kiểm định tác động của đầu tư trực tiếp ra nướcngoài đến đầu tư trong nước Ông hồi quy biến đầu tư trong nước theo 10 biếngiải thích gồm có lợi nhuận, thuế thu nhập doanh nghiệp, giá cả đầu vào củahàng hóa trung gian, chi phí lao động, lãi suất, vốn cổ phần năm trước, khấuhao, chi phí R&D, FDI ngành, OFDI ngành
Tác giả cho rằng, dữ liệu theo ngành sẽ linh hoạt hơn so với dữ liệu vĩ
mô Hơn nữa, ông cũng liên kết tác động của OFDI đến đầu tư trong nước dựatheo động cơ đầu tư của nhà đầu tư
Kết quả bài nghiên cứu chỉ ra rằng, tác động của OFDI đến đầu tưtrong nước phụ thuộc vào đối tác đầu tư Đối với đối tác Mỹ và Anh, động cơcủa nhà đầu tư Canada chủ yếu là tìm kiếm thị trường mới, do vậy OFDI sẽkhông làm thay đổi hoặc làm tăng đầu tư trong nước Cụ thể hơn, khi nhà đầu
tư Canada đầu tư trực tiếp sang Mỹ thì sẽ làm tăng đầu tư trong nước; khi nhàđầu tư Canada đầu tư trực tiếp sang Anh thì sẽ không làm thay đổi đầu tư
Trang 24trong nước Đối với những đối tác đầu tư khác, do động cơ đầu tư chủ yếu củacác nhà đầu tư Canada là tìm kiếm hiệu quả thị trường (khác biệt về giá cả cácyếu tố sản xuất) và những công ty thương mại ít đầu tư vào những nước nàynên nhìn chung đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có tác động làm giảm đầu tưtrong nước.
ngoài đến đầu tư trong nước.
Nhằm mục đích nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoàiđến đầu tư trong nước ở nền kinh tế nhỏ, Goedegebuure (2006) thực hiện bàinghiên cứu ở Hà Lan Bởi vì quyết định đầu tư được thực hiện ở mỗi công ty,
do đó bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu vi mô, mẫu nghiên cứu gồm 23.807công ty ở Hà Lan, thời gian nghiên cứu từ 1996-2000
Điểm đặc biệt trong bài nghiên cứu này là, tác giả phân đầu tư trongnước thành hai loại, đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu và phát triển R&D và đầu
tư vào tài sản Dựa theo đó hình thành nên hai lĩnh vực: những ngành chuyênsâu về R&D và những ngành truyền thống Trong bài nghiên cứu tác giả sẽnghiên cứu kỹ tác động của OFDI đến hoạt động đầu tư trong nước thuộc hailĩnh vực này
Đối với những ngành thuộc lĩnh vực chuyên sâu về R&D, kết quả chothấy, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tương quan dương với đầu tư trong nướcvào R&D, nhưng không tác động đến hoạt động đầu tư vào tài sản Tác giảcho rằng, trong lĩnh vực chuyên sâu về R&D, đầu từ vào R&D đóng vai tròquan trọng trong việc duy trì lợi thế cạnh tranh Trong môi trường năng độngnhư hiện nay, đầu tư vào R&D chỉ có thể được đảm bảo nếu công ty mở rộngthị trường ra nước ngoài và đặc điểm của lĩnh vực này đòi hỏi các công ty
Trang 25phải trực tiếp kiểm soát hoạt động ở nước ngoài Vì thế, hoạt động đầu tư trựctiếp ra nước ngoài sẽ hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động đầu tư vào R&D ở cả trong
và ngoài nước
Trong khi đó, một mặt, đầu tư trong nước vào tài sản có thể tăng tươngứng với hoạt động đầu tư vào R&D Mặt khác những công ty thuộc lĩnh vựcR&D hoạt động trong môi trường rất năng động, đòi hỏi họ phải chuyển dâychuyền sản xuất sang những nước có chi phí (chi phí tiền lương) thấp hơn Dovậy, tổng hợp lại, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài không tác động đến đầu tưvào tài sản
Đối với những ngành truyền thống, kết quả của bài nghiên cứu cho thấytác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đến đầu tư trong nước vào R&D
và tài sản không rõ ràng
Tóm lại, đã có khá nhiều nghiên cứu thực hiện để tìm hiểu tác động củađầu tư trực tiếp ra nước ngoài đến đầu tư trong nước Các tác giả đã sử dụngnhiều loại dữ liệu khác nhau (dữ liệu thời gian, dữ liệu chéo, dữ liệu bảng), ởnhiều cấp độ khác nhau (dữ liệu vĩ mô, dữ liệu ngành, dữ liệu công ty) vànhiều phương pháp ước lượng khác nhau Kết quả đạt được cũng có sự khácbiệt theo từng quốc gia Tuy nhiên, nhìn chung phần lớn các kết quả đặc biệt
là kết quả nghiên cứu dành cho những nước đang phát triển của Ali Al –Sadig (2013) cho thấy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài làm giảm đầu tư trongnước Chính vì thế trong luận văn này, đối với những nước đang phát triển từ
2005 – 2012, tôi cũng kỳ vọng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài làm giảm đầu tưtrong nước
Trang 26Bảng 1: Tóm tắt những công trình nghiên cứu thực nghiệm trước đây.
Những bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu vĩ mô
Feldstein (1995) - 18 nước OECD trong OFDI có tác động nghịch
những năm 1980 và 15 nước chiều đối với đầu tư trongOECD trong những năm 1990 nước
- Dữ liệu chéo
Andersen và - Mỹ, Anh, Nhật Bản, OFDI có tác động nghịchHainaut (1998) Đức từ 1960 đến 1990 chiều đối với đầu tư trong
- Dữ liệu thời gian cho nước
từng quốc gia nghiên cứu
Desai và cộng - 20 nước OECD trong OFDI có tác động nghịch
sự (2005) khoảng những năm 1980 và chiều đối với đầu tư trong
26 nước OECD trong khoảng nướcnhững năm 1990
- Phương pháp OLS
cộng sự (2012)
Trang 27- Phương pháp VAR, nướcECM.
đồng liên kết và phân tích tư trong nước
tiếp ra nước ngoài làmtăng đầu tư trong nướctrong ngắn hạn nhưng làmgiảm đầu tư trong nướctrong dài hạn
Ali Al- Sadig - 121 nước trên thế giới OFDI có tác động nghịch
Những bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu vi mô
khoảng thời gian từ16-20 năm
quốc gia ở Mỹ trong nước
1990
Trang 28Desai (2005b) - Những công ty đa OFDI làm tăng đầu tư trong
- Phương pháp sửdụng biến công cụ
John Mullen - Những công ty đa OFDI làm giảm đầu tư trong
1997-2007
- Phương pháp OLS
Hejazi và Pauly - Canada từ 1984 - Tác động của OFDI đến đầu
- Phương pháp OLS đối tác đầu tư
- Từ 1996-2000 tương quan dương với đầu tư
trong nước vào R&D
- Đối với những ngànhtruyền thống, tác động củađầu tư trực tiếp ra nước ngoàiđến đầu tư trong nước vàoR&D và tài sản không rõràng
Trang 293 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Dựa theo nghiên cứu của Ali Al-Sadig (2013), để nghiên cứu tác độngcủa đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đến đầu tư trong nước trong ngắn và dàihạn, tôi sử dụng mô hình điều chỉnh từng phần “ partial adjustment”
Đầu tư kỳ vọng I* được thể hiện qua:
I* = x’i, tβ + u i, t (1)
với xi,t là điều kiện kinh tế của quốc gia đó
ui,t là sai số ngẫu nhiên
Bởi vì đầu tư kỳ vọng I* không quan sát được, nên mối quan hệ giữađầu tư kỳ vọng và đầu tư thực I được thể hiện bởi:
I i, t – I i, t-1 = θ (I*i, t - I i, t-1) (2)với I i, t-1 là độ trễ một năm của biến đầu tư thực I của quốc gia i
θ là tham số thuộc (0, 1] thể hiện tốc độ điều chỉnh của đầu tư kỳ vọng.Phương trình (2) có thể viết lại như sau:
Ii, t = (1- θ) I i, t-1 + θ I*i, t (3)
Kết hợp (1) và (3), ta có: I i, t = γ I i, t-1 + λ x’i, t + ε i, t (4)
với γ = (1-θ) và λ = θβ, εi, t = θ u i, t
Trang 30Như vậy, mô hình nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp ra nướcngoài đến đầu tư trong nước có dạng mô hình động Tác động trong ngắn hạncủa nhân tố xi đến Ii được thể hiện qua hệ số hồi quy của biến xi trong phươngtrình (4), tức là λ.
Tác động trong dài hạn của nhân tố xi đến Ii được thể hiện qua hệ số hồiquy của biến xi trong phương trình (1), tức là β Mà β = λ/θ = λ /(1- γ)
Biến trễ của biến đầu tư trong nước DI t-1 được được xem như là dấuhiệu tốt của môi trường đầu tư Do vậy, biến này được đưa vào mô hìnhnghiên cứu và có kỳ vọng tương quan dương với đầu tư trong nước
Dựa vào những bài nghiên cứu thực nghiệm ở trên, tôi kỳ vọng hệ sốbiến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài OFDI sẽ có giá trị âm, tức biến OFDI cótương quan âm với đầu tư trong nước; hệ số của biến đầu tư trực tiếp nướcngoài IFDI có giá trị dương, tức IFDI có tương quan dương với đầu tư trongnước
Ngoài ra, những biến kiểm soát khác cũng được đưa vào mô hình.Agenor (2004) cho rằng tiết kiệm nội địa là nhân tố quan trọng đối với đầu tưtrong nước ở những nước mới nổi Nghiên cứu thực nghiệm của Feldstein vàHorioka (1980) cho thấy tiết kiệm và đầu tư có mối tương quan dương mạnh,tiết kiệm gia tăng làm tawng nguồn vốn phục vụ hoạt động đầu tư, từ đó thúcđẩy hoạt động đầu tư trong nước Kết quả nghiên cứu của những nhà nghiêncứu khác khi nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đến đầu
tư trong nước (trình bày ở phần 2.2) cũng khẳng định điều đó Dựa vào nhữngkết quả đó, tổng tiết kiệm quốc gia được đưa vào mô hình với kỳ vọng tươngquan dương với đầu tư trong nước
Trang 31Các tác giả Wai và Wong (1982), Blejer và Khan (1984), Greene vàVillanueva (1991) cho rằng tốc độ tăng trưởng GDP thực là động lực thúc đẩyhoạt động đầu tư trong nước và đưa ra kết quả nghiên cứu thực nghiệm chothấy tăng trưởng GDP thực có tác động cùng chiều đến đầu tư ở những nướcđang phát triển Do vậy, biến RGDP được đưa vào mô hình với kỳ vọngtương quan dương với đầu tư trong nước.
Sự ổn định vĩ mô có vai trò quan trọng đối với hoạt động đầu tư, nếunền kinh tế vĩ mô không ổn định sẽ có tác động nghịch chiều lên đầu tư trongnước Trong các nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến đầu tư
tư nhân ở những nước đang phát triển, Greene và Villanueva (1991) vàServen và Solimano (1993) sử dụng tỷ lệ lạm phát để đo lường độ bất ổn củanền kinh tế vĩ mô và nhận thấy rằng lạm phát tác động nghịch chiều đến đầu
tư tư nhân Do vậy, tôi cũng sử dụng biến lạm phát (INF) trong mô hình với
kỳ vọng tương quan âm với đầu tư trong nước
Nghiên cứu thực nghiệm về phát triển tài chính và đầu tư trong nướccủa Ndikumama (2003) cho thấy tác động tích cực của các nhân tố đo lườngphát triển tài chính đến đầu tư trong nước Dựa vào kết quả đó, tôi sử dụng hainhân tố để đo lường phát triển tài chính là cung tiền mở rộng (M2) và tín dụngnội địa dành cho khu vực tư nhân (Credit) làm biến kiểm soát cho mô hình
Cả hai biến này đều có kỳ vọng tương quan dương với đầu tư trong nước
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng độ mở thương mại lànhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư trong nước Tuy nhiên, tác động củanhân tố này lại không rõ ràng Nghiên cứu của Balasubramanyam (1996) chokết quả độ mở thương mại có tương quan dương với đầu tư trong nước Tuynhiên, trong nghiên cứu của Serven (2002), độ mở thương mại lại có tương
Trang 32quan âm với đầu tư trong nước Ndikumama (2000) cho rằng độ mở thươngmại có tác động tích cực đối với đầu tư trong nước thông qua truyền dẫn côngnghệ và tri thức, ngược lại tác động tiêu cực đối với đầu tư trong nước nếungười dân trong nước ưa chuộng hàng nhập khẩu Từ những kết quả nghiêncứu trên, tôi đưa biến độ mở thương mại vào mô hình, nhưng chưa thể xácđịnh dấu của hệ số biến Openess.
Tóm lại, mô hình nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp ra nướcngoài đến đầu tư trong nước có thể được viết như sau:
DI i, t = α 0 + α 1 DI i, t-1 + α 2 OFDI i, t +α 3 IFDI i, t + α 4 saving i, t
+ α 5 RGDP i, t + α 6 INF i, t + α 7 M2 i, t + α 8 openess i, t + ε i,t (5)
(i= 1,2,… N: quốc gia; t = 1, 2, … T: thời kỳ; εi,t = ηi + vi,t: sai số ngẫu nhiên)
Trong đó:
Bảng 2: Mô tả biến trong mô hình nghiên cứu
DIi, t Đầu tư trong nước của quốc
gia i tại thời gian t
DIi, t-1 Đầu tư trong nước của quốc Ali Al Sadig (2013)
gia i tại thời gian t -1
Trang 33OFDIi, t Dòng vốn đầu tư trực tiếp ra Feldstein (1995).
nước ngoài của quốc gia i tại
Andersen và Hainaut (1998)thời gian t
Desai (2005 a,b)Ali Al Sadig (2013)
IFDIi, t Dòng vốn đầu tư trực tiếp Feldstein (1995)
nước ngoài của quốc gia i tại
Andersen và Hainaut(1998)thời gian t
Desai (2005 a,b)Ali Al Sadig (2013)
Savingi, t Tổng tiết kiệm quốc gia i tại Agenor (2004)
thời gian t
Feldstein và Horioka (1980)Feldstein (1995)
Desai (2005 a,b)Ali Al Sadig (2013)
RGDPi, t Tốc độ tăng trưởng của GDP Wai và Wong (1982)
thực của quốc gia i tại thời
Blejer và Khan (1984)gian t
Greene và Villanueva (1991)
Trang 34INFi, t Tỷ lệ lạm phát hàng năm của Greene và Villanueva(1991)
quốc gia i tại thời gian t
Serven và Solimano (1993)
gia i tại thời gian t
Openess i,t Độ mở thương mại của quốc Balasubramanyam (1996)
gia i tại thời gian t
Serven (2002)Ndikumama (2000)
3.2 Phương pháp nghiên cứu.
Trong luận văn của mình, để nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài đến đầu tư trong nước ở những nước đang phát triển, tôi sửdụng dữ liệu bảng và phương pháp System GMM của Arellano và Bover(1995), Blundell và Bond (1998)
Trong mô hình nghiên cứu (phương trình 5) xuất hiện vài vấn đề nhưsau:
- Biến trễ của biến phụ thuộc đóng vai trò là biến độc lập (DI t-1) trong môhình, nó có thể tương quan với nhân tố tác động cố định ηi trong sai số
ngẫu nhiên εi,t Do vậy, biến DI t-1 được xem là biến độc lập nội sinh trong môhình nghiên cứu
- Các biến OFDI, IFDI có khả năng là biến nội sinh Trong bài nghiên cứucủa mình, Feldstein (1995) đã đưa ra quan điểm, nhận xét cho rằng các
Trang 35biến OFDI, IFDI và DI có mối quan hệ tương hỗ hai chiều Dòng vốn OFDI,IFDI tác động đến đầu tư trong nước và ngược lại, OFDI, IFDI chịu tác độngcủa đầu tư trong nước.
Nói tóm lại, mô hình nghiên cứu đưa ra vi phạm một trong những giảđịnh quan trọng của phương pháp OLS: không có mối quan hệ tương quangiữa biến giải thích và sai số ngẫu nhiên Nếu sử dụng phương pháp ướclượng OLS thông thường thì kết quả ước lượng sẽ bị chệch Chính vì thế,trong luận văn này tôi lựa chọn phương pháp GMM để nghiên cứu tác độngcủa OFDI đến đầu tư trong nước ở những nước đang phát triển
Theo phương pháp này, bộ biến công cụ thỏa mãn hai điều kiện: (1)biến công cụ là những biến có tương quan với biến độc lập nội sinh, (2) biếncông cụ không có tương quan với sai số ngẫu nhiên sẽ được sử dụng để khắcphục hiện tượng nội sinh
Ngoài ra, mô hình sử dụng trong luận văn có sự tham gia của biến độclập DI t-1 là biến trễ của biến phụ thuộc nên còn được gọi là mô hình động.Phương pháp GMM đối với mô hình động gồm có Difference GMM(Arellano và Bond, 1991) và System GMM (Arellano và Bover, 1995);(Blundell và Bond, 1998) Cả hai phương pháp này đều sử dụng biến trễ củabiến độc lập nội sinh là biến công cụ để đưa ra kết quả ước lượng tốt
Đối với Difference GMM, phương trình (5) được lấy sai phân bậc nhất
để loại bỏ những nhân tố không đổi theo thời gian ra khỏi mô hình:
DI i, t = α 0 + α 1 DI i,t-1 + α 2 OFDI i, t +α 3 IFDI i, t + α 4 saving i, t + α 5
RGDP i, t + α 6 INF i, t + α 7 M2 i, t + α 8 openess i, t + ε i,t
Trang 36DI i, t-1= α0 + α1 DI t-2 + α2 OFDI i, t-1 +α3 IFDIi, t-1 + α4 savingi, t-1
+ α5 RGDPi, t-1+ α6 INFi, t-1 + α7 M2i, t-1 + α8 openessi,t-1 + εi,t-1
ΔDI DI i, t = α 1 DI i, t-1 + α 2 ΔDI OFDI i, t +α 3 ΔDI IFDI i, t + α 4 ΔDI saving i, t
+ΔDI α 5 RGDP i, t + α 6 ΔDI INF i, t + α 7 ΔDI M2 i, t + α 8 ΔDI openess i, t + ΔDI v i, t (6)
Do Δεi, t = εi ,t - εi, t-1 = (ηi- ηi) + (vi, t - vi, t-1) = Δvi, t.
Biến công cụ được sử dụng là biến trễ của các biến độc lập nội sinh, ví
dụ DIi, t-2 là biến công cụ cho ΔDI i, t-1
Tuy nhiên, theo Blundell và Bond (1998), nếu chỉ sử dụng các biến trễcủa các biến độc lập nội sinh làm biến công cụ thì kết quả vẫn có thể bị chệch,mức độ tin cậy không cao
Dựa trên nền tảng của phương pháp Difference GMM các nhà nghiêncứu đã xây dựng phương pháp System GMM Phương pháp này khắc phụchạn chế của Difference GMM bằng cách kết hợp cả phương trình (5) và (6)với giả định rằng không có tương quan giữa sai phân của các biến độc lập vớicác nhân tố không đổi theo thời gian của mỗi quốc gia (ηi)
Khi đó, biến công cụ cho các biến nội sinh trong phương trình (5) là saiphân biến trễ của các biến nội sinh (ví dụ ΔDI i, t-2 là biến trễ cho biến DI i, t-
1); biến công cụ cho các biến trong phương trình (6) là các biến trễ của cácbiến nội sinh (ví dụ DI i, t-2 là biến công cụ cho ΔDI i, t-1)
Tóm lại, để xử lý tốt vấn đề tính nội sinh của các biến độc lập trong môhình tôi lựa chọn phương pháp System GMM
Trang 37Phương pháp System GMM gồm có ba kiểm định quan trọng:
Kiểm định tự tương quan bậc 1: kiểm tra giả định có hiện tượng tựtương quan bậc 1 trong phương trình sai phân (phương trình 6)
Giả thuyết Ho1: không có tự tương quan bậc 1 trong phương trình saiphân
Nếu p-value < mức ý nghĩa (thường là 5%): bác bỏ giả thuyết Ho1, cótương quan bậc 1 trong phương trình sai phân; phù hợp giả định, yêu cầu củaSystem GMM
- Kiểm định tự tương quan bậc 2: kiểm tra giả định không có hiện tượng
tự tương quan bậc 2 trong phương trình sai phân
Giả thuyết Ho2: không có tự tương quan bậc 2 trong phương trình saiphân
Nếu p-value > mức ý nghĩa (thường là 5%): chấp nhận giả thuyết Ho2,không có tự tương quan bậc 2 trong phương trình sai phân; phù hợp với giảđịnh, yêu cầu của System GMM
- Kiểm định Hansen J: kiểm tra độ tin cậy của biến công cụ được sửdụng trong mô hình
Giả thuyết Ho3: biến công cụ là phù hợp (biến công cụ không có tương quan với sai số ngẫu nhiên)
Nếu p-value > mức ý nghĩa đã chọn (thường là 5%): chấp nhận giả thuyết Ho3, biến công cụ không có tương quan với sai số ngẫu nhiên
Trang 383.3 Dữ liệu nghiên cứu.
3.3.1 Mẫu nghiên cứu.
Luận văn sử dụng dữ liệu bảng của 40 nước đang phát triển trên thếgiới trong khoảng thời gian từ 2005 – 2012
Cơ sở để tôi lựa chọn những nước trong mẫu nghiên cứu là: nhữngnước đang phát triển và có hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trongnhững năm gần đây
Danh sách các nước trong mẫu nghiên cứu được thể hiện ở bảng dưới:
Bảng 3: Các nước trong mẫu nghiên cứu.
Trang 397 Chile 27 Namibia