PHẠM THỊ QUÝ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ KIẾN THỨC THỰC HÀNH DINH DƯỠNG CỦA HỌC SINH MẮC BỆNH RĂNG MIỆNG TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN VŨ THƯ,... BRM Bệnh răng miệng CĐ Cộng đồng CI-S Chỉ số
Trang 1PHẠM THỊ QUÝ
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ KIẾN THỨC THỰC HÀNH DINH DƯỠNG CỦA HỌC SINH MẮC BỆNH RĂNG MIỆNG TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN VŨ THƯ,
Trang 3đã nhận được sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu, Phòng quản lý đào tạo Sau Đại học, Khoa Y tế Công cộng, các thầy giáo, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng quản lý Đào tạo Sau Đại học, Khoa Y tế Công cộng, các Phòng ban Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, các khoa/phòng Bệnh viện
Đa Khoa Vũ Thư, Thái Bình, Trường Tiểu học Thị Trấn Vũ Thư–Huyện Vũ Thư-Thành phố Thái Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới:
TS Lê Đức Cường, Trưởng phòng quản lý đào tạo sau đại học Trường Đại học Y Dược Thái Bình
TS Phan Ngọc Quang, Giảng viên chính trung tâm dịch vụ khoa học
kỹ thuật y dược Trường Đại học Y Dược Thái Bình
Những người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp, cùng gia đình đã giúp
đỡ, động viên cũng như chia sẻ những khó khăn, vướng mắc cùng tôi đồng hành trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này./
Thái Bình 05 tháng 7 năm 2020
Học viên
Phạm Thị Quý
Trang 4Tôi là: Phạm Thị Quý, học viên lớp Cao học Dinh dưỡng khóa 4
Chuyên ngành: Dinh dưỡng, Trường Đại học Y Dược Thái Bình
Xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của
TS Lê Đức Cường và TS Phan Ngọc Quang
2 Công trình này không trùng lặp với bất kì nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác trung thực
và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của nơi nghiên cứu
Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về những điều cam đoan trên
Thái Bình, ngày 05 tháng 7 năm 2020
Phạm Thị Quý
Trang 5BRM Bệnh răng miệng
CĐ Cộng đồng
CI-S Chỉ số cao răng
CPI Community periodental index
(Chỉ số bệnh quanh răng cộng đồng)
CSSKRM Chăm sóc sức khỏe răng miệng
CT Can thiệp
DI-S Deberis Index Simplified (Chỉ số cặn bám đơn giản)
ĐTV Điều tra viên
GI Gingival Index (Chỉ số lợi)
HSTH Học sinh trung học
LTTP Lương thực thực phẩm
NCKN Nhu cầu khuyến nghị
OHI-S Simplifies Oral Hygiene Index (Chỉ số vệ sinh răng miệng đơn
giản) RHM Răng hàm mặt
SKRM Sức khoẻ răng miệng
TCBP Thừa cân béo phì
TTDD Tình trạng dinh dưỡng
VCDD Vi chất dinh dưỡng
VSRM Vệ sinh răng miệng
VSRM Vệ sinh răng miệng
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 6CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Đặc điểm dinh dưỡng lứa tuổi học sinh tiểu học 3
1.1.1 Một số đặc điểm về hình thái của học sinh tiểu học 4
1.1.2 Các đặc điểm về dinh dưỡng 5
1.1.3 Nhu cầu dinh dưỡng cho học sinh tiểu học 6
1.1.4 Một số phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng 8
1.2 Thực trạng dinh dưỡng của học sinh trong độ tuổi học tiểu học tại Việt Nam và trên Thế giới 9
1.2.1 Thực trạng dinh dưỡng học sinh tiểu học trên thế giới 9
1.2.2 Thực trạng dinh dưỡng học sinh trong độ tuổi học tiểu học tại Việt Nam 11 1.3 Bệnh răng miệng và dịch tễ bệnh răng miệng ở trẻ em 13
1.3.1 Sinh bệnh học bệnh sâu răng 13
1.3.2 Dịch tễ học bệnh sâu răng trên thế giới và Việt Nam 14
1.4 Mối liên quan giữa bệnh răng miệng và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em trên thế giới và Việt Nam 17
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu 20
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 20
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 20
2.2 Thiết kế nghiên cứu 21
2.2.1 Cỡ mẫu 21
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu 21
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.2.4 Biến số và các chỉ số nghiên cứu 24
2.2.5 Cách tính các chỉ số sử dụng trong nghiên cứu 25
Trang 72.2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 28
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 29
3.2.Tình trạng dinh dưỡng, tần suất tiêu thụ thực phẩm của học sinh có vấn đề về răng miệng 34
3.3 Kiến thức về dinh dưỡng và bệnh răng miệng của học sinh 40
3.4 Thực hành về dinh dưỡng của học sinh 47
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 51
4.1 Tình trạng dinh dưỡng, tần suất tiêu thụ thực phẩm của học sinh có vấn đề về răng miệng 51
4.2 Kiến thức về dinh dưỡng của học sinh có VĐVRM 58
4.3 Thực hành về dinh dưỡng của học sinh có VĐVRM 60
KẾT LUẬN 66
KHUYẾN NGHỊ 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 3.1 Thông tin chung về giới tính và tình trạng kinh tế của học sinh 29
Bảng 3.2 Tỷ lệ tình trạng dinh dưỡng theo BMI của học sinh 31
Bảng 3.3 Tỷ lệ học sinh có chỉ số về lợi khỏe 31
Bảng 3.4 Tỷ lệ học sinh có chỉ số về mảng bám răng 32
Bảng 3.5 Tỷ lệ học sinh có chỉ số về cao răng 32
Bảng 3.6 Tỷ lệ học sinh có chỉ số vệ sinh răng miệng 33
Bảng 3.7 Phân loại cân nặng theo tuổi của học sinh có VĐVRM 34
Bảng 3.8 Phân bố chiều cao, cân nặng của học sinh có VĐVRM 34
Bảng 3.9 Phân loại chiều cao theo tuổi của học sinh có VĐVRM 35
Bảng 3.10 Phân loại BMI của học sinh có VĐVRM 35
Bảng 3.11 Tần suất tiêu thụ các loại tinh bột của học sinh có VĐVRM 36
Bảng 3.12 Tần suất tiêu thụ các loại rau củ quả của học sinh có VĐVRM 36
Bảng 3.13 Tỷ lệ tiêu thụ thịt của học sinh có VĐVRM) 38
Bảng 3.14 Tỷ lệ sử dụng các loại trứng, sữa và đồ ngọt của học sinh có VĐVRM 39
Bảng 3.15 Tỷ lề học sinh biết các loại thực phẩm có hại với răng miệng 40
Bảng 3.16 Tỷ lệ học sinh biết đồ uống có hại cho răng, miệng 41
Bảng 3.17 Tỷ lệ học sinh biết số lượng bữa ăn hàng ngày mà ảnh hưởng đến răng miệng 42
Bảng 3.18 Tỷ lệ học sinh biết thói quen ăn đồ ăn vặt ảnh hưởng đến bệnh răng miệng 42
Bảng 3.19 Tỷ lệ các kênh thông tin mà học sinh biết đến tác hại của bệnh răng miệng 43
Bảng 3.20 Tỷ lệ học sinh biết các nguyên nhân gây sâu răng 44
Bảng 3.21 Tỷ lệ học sinh biết khi sâu răng cần phải làm gì 44
Bảng 3.22 Tỷ lệ học sinh hiểu biết về các hành động có hại cho răng miệng 45
Trang 9Bảng 3.25 Tỷ lệ lý do học sinh hay bỏ bữa ăn 48
Bảng 3.26 Các loại thực phẩm mà trẻ hay ăn vào bữa sáng 49
Bảng 3.27 Tỷ lệ học sinh ăn các loại thực phẩm như bim bim, snack 49
Bảng 3.28 Thói quen ăn đồ ngọt của học sinh 50
Bảng 3.29 Thói quen uống nước có ga của học sinh 50
Trang 10Biểu đồ 3.1 Trình độ học vấn bố và mẹ của học sinh 29
Biểu đồ 3.2 Nghề nghiệp của bố và mẹ học sinh 30
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ học sinh có vấn đề về vệ sinh răng miệng 33
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ tiêu thụ các loại lipid của học sinh có VĐVRM 37
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ về thói quen chế biến món ăn ở gia đình của học sinh 39
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ học sinh biết số lượng bữa ăn hàng ngày ảnh hưởng đến răng miệng 41
Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ học sinh biết tác hại của ăn vặt ảnh hưởng đến bệnh răng miệng 43
Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ học sinh biết các loại thức ăn có hại cho răng 45
Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ học sinh biết khi bị bệnh răng miệng sẽ ảnh hưởng đến ăn uống 46
Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ học sinh ăn thường xuyên 3 bữa/ngày 47
Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ học sinh ăn sáng 48
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh răng miệng là các bệnh về tổ chức cứng ở răng, tổ chức quanh răng và niêm mạc miệng Bệnh răng miệng (BRM) là bệnh phổ biến, gặp ở xấp xỉ 90% dân số trên thế giới, ở mọi lứa tuổi và ở mọi tầng lớp xã hội Bệnh răng miệng nếu không điều trị sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm như viêm tủy, viêm quanh răng và chi phí cho việc chữa bệnh rất lớn[30] Đi kèm với các hậu quả về răng, miệng là những ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng của cơ thể như thiếu cân, thừa cân, béo phì hoặc một số bệnh chuyển hóa khác[41],[53]
Các nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa dinh dưỡng và tình trạng sức khỏe răng miệng cùng với nhiều yếu tố liên quan Suy dinh dưỡng có thể ảnh hưởng đến sự hấp thu các chất, vi chất làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển các thành phần của cơ thể, trong đó có các thành phần liên quan đến răng miệng, do đó có thể gây tổn thương ở các mô cứng răng, niêm mạc miệng và gây các bệnh về răng miệng Tương tự, bệnh răng miệng có thể ảnh hưởng đến chế độ ăn uống hàng ngày, do đó có thể gây tình trạng suy dinh dưỡng của cơ thể.Mất răng một phần hay toàn bộ gây ra tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhai, dẫn đến việc lựa chọn các thức ăn mềm, thức ăn chứa nhiều đường hoặc có hàm lượng chất béo cao Điều này có thể dẫn đến một số bệnh liên quan đến chuyển hóa hoặc thừa cân, béophì[69],[70] Tỷ lệ mắc sâu răng và mòn men răng đang có xu hướng gia tăng và liên quan đến việc tiêu thụ các thực phẩm có tính axít, điển hình là sử dụng nước ngọt có ga
Một mối quan hệ giữa sâu răng và thừa cân đã rõ ràng hơn trong các nghiên cứu được thực hiện ở Châu Âu và Hoa Kỳ[31] Đáng chú ý, các nghiên cứu này thường bao gồm các mẫu trong đó trẻ em thiếu cân chưa được đánh giá đúng mức Trong tất cả các khả năng, các cơ chế bên dưới mối quan
hệ này đi theo một con đường khác nhau; sâu răng và thừa cân rất có thể liên
Trang 12quan vì chúng có các yếu tố nguy cơ về chế độ ăn uống có cả hai yếu tố gây ung thư và béo phì, chẳng hạn như chế độ ăn giàu đường[69],[70]
Tại Việt Nam tỷ lệ mắc bệnh răng miệng còn khá cao, theo điều tra thực trạng bệnh răng miệng ở trẻ 4-8 tuổi tại 5 tỉnh thành năm 2010 thì tỷ lệ cặn bám răng là 90,6%; tỷ lệ cao răng là 81,1%, chảy máu lợi là 11,9%, cũng theo kết quả điều tra thực trạng bệnh răng miệng của học sinh 6 và 12 tuổi tại Tiền Hải, tỉnh Thái Bình năm 2010 thì tỷ lệ sâu răng sữa là 32,81%, sâu răng vĩnh viễn là 23,8%, tỷ lệ cao răng là 30,46%, tỷ lệ cặn bám răng 49,6%, chảy máu lợi 13,28%[23]
Ở nước ta, cùng với sự thay đổi và phát triển về điều kiện kinh tế xã hội trong những năm gần đây là sự gia tăng chế độ dinh dưỡng, việc sử dụng đường sữa, bánh kẹo nhiều hơn trong khi đó người dân đặc biệt là lứa tuổi học sinh chưa nhận thức đầy đủ về tác hại của bệnh sâu răng, viêm lợi Từ đó tình trạng sâu răng ở lứa tuổi học đường đang ngày càng gia tăng Vì những lý
do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:
“Tình trạng dinh dưỡng và kiến thức, thực hành dinh dưỡng ở học sinh mắc bệnh răng miệng tạitrường tiểu học thị trấn Vũ Thư, tỉnh Thái Bình năm 2019”
Mục tiêu nghiên cứu :
1 Mô tả tình trạng dinh dưỡng ở học sinh khối lớp 4, 5 mắc bệnh lý răng miệng tại trường tiểu học thị trấn huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình năm 2019
2 Đánh giá kiến thức, thực hành dinh dưỡng ở học sinh khối lớp 4, 5 mắc bệnh lý răng miệng tại trường tiểu học thị trấn huyện Vũ Thư
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Đặc điểm dinh dưỡng lứa tuổi học sinh tiểu học
Tiểu học là lứa tuổi mà cơ thể và tâm lý bắt đầu chuyển qua một giai đoạn mới rất quan trọng cho việc phát triển thể chất và tinh thần đó là chuẩn
bị bước sang tuổi tiền dậy thì với tốc độ tăng trưởng nhanh Bên cạnh đó, trẻ đang tuổi vận động, học tập nhiều và chưa tự biết chăm sóc bản thân Chính
vì vậy, sự chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ của gia đình và nhà trường góp phần rất quan trọng để giúp trẻ phát triển tối đa về tầm vóc và kết quả học tập tốt Hiện nay, sự phân cực về điều kiện kinh tế - xã hội, lối sống và thực hành ăn uống đã đưa đến hậu quả là bên cạnh tình trạng suy dinh dưỡng còn cần tiếp tục phải quan tâm, đã xuất hiện tình trạng thừa cân béo phì có nguy hại không kém Đây là hiện tượng “Gánh nặng kép” về dinh dưỡng ở nước ta Chính vì vậy, dinh dưỡng hợp lý là một yếu tố chủ chốt để duy trì và nâng cao sức khoẻ, kéo dài tuổi thọ và hạ thấp tỷ lệ tử vong Cùng với những nỗ lực nhằm đẩy lùi suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng, các bệnh do thiếu vitamin A, thiếu máu do thiếu sắt, thiếu i ốt và thiếu kẽm thì việc kiểm soát sự gia tăng các bệnh không lây nhiễm liên quanđến dinh dưỡng không hợp lý cũng đang là một thách thức lớn đối với ngành Dinh dưỡng [21],[28],[68],[74],[75]
Các bệnh mạn tính như: béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh tim mạch là mối quan tâm hàng đầu của các nước đã phát triển nhưng hiện nay những bệnh này đang ngày càng trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Nguyên nhân của bệnh mạn tính không lây nhiễm là do chế độ ăn, lối sống và yếu tố di truyền Yếu tố di truyền khó thay đổi nhưng chế độ ăn và lối sống có thể điều chỉnh được nên
có thể giảm bớt gánh nặng và rủi ro của các bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng gây nên
Trang 141.1.1 Một số đặc điểm về hình thái của học sinh tiểu học
Các chỉ số hình thái là tiêu chí cơ bản để đánh giá thể lực của mỗi người Thể lực là năng lực vận động của con người Thể lực là điều kiện cơ bản đảm bảo cho các hoạt động học tập, lao động Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá thể lực ở người như chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu, vòng bụng, vòng đùi, vòng cánh tay, Pignet, BMI, v.v Chúng tôi chỉ đề cập một số chỉ tiêu cơ bản[71]
- Chiều cao: Chiều cao là một trong những chỉ tiêu quan trọng thường
được dùng trong các cuộc điều tra thể lực ở người Chiều cao chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như di truyền, dinh dưỡng, vận động thể lực Nếu được chăm sóc tốt, thế hệ sau bao giờ cũng cao hơn thế hệ trước Giai đoạn từ 3 đến
10 tuổi đóng vai trò quyết định đến 60% tiềm năng tăng trưởng chiều cao Sự tăng trưởng chiều cao của con người có thể chia làm ba giai đoạn là: tăng trưởng chậm, giai đoạn dậy thì và giai đoạn sau dậy thì[71]
- Cân nặng: Cân nặng là một trong những chỉ tiêu hình thái cơ bản sau
chiều cao Khối lượng cơ thể người có hai phần: Phần cố định chiếm 1/3 gồm xương, da, các tạng và thần kinh; phần thay đổi chiếm 2/3 bao gồm 3/4 khối lượng các cơ, 1/4 là mỡ và nước Hiện tượng tăng cân là do tăng phần thay đổi có liên quan nhiều đến chế độ dinh dưỡng[71]
- Vòng ngực: Đây cũng là một trong những chỉ tiêu đặc trưng của cơ
thể người Ở mỗi lứa tuổi có một tỷ lệ cân đối giữa chiều cao đứng và đường kính ngang ngực Sự tăng trưởng của vòng ngực có liên quan mật thiết với sự tăng trưởng khối lượng cơ thể Ngoài ra, mức độ tăng trưởng của lồng ngực
có liên quan đến hoạt động hô hấp và sức khỏe của mỗi người[71]
- Vòng đầu: Chu vi vòng đầu phản ánh sự tăng trưởng của dung lượng
não Khi mới sinh khối lượng não trẻ khoảng 350g và khi 1 tuổi đã 1.000g Ở trẻ 2 tuổi não đạt khoảng 1.200g Não người trưởng thành khoảng 1.250g ở
nữ và 1.400g ở nam Như vậy, sự phát triển não bộ chủ yếu diễn ra từ lúc sơ
Trang 15sinh đến tuổi chập chững biết đi Vì thế cần theo dõi sự phát triển não bộ của trẻ bằng số đo vòng đầu[71]
Thể lực là một thông số tổng hợp nên muốn đánh giá chính xác cần dựa vào mối tương quan giữa các chỉ số giải phẫu và sinh lý Loại chỉ số đơn giản gồm hai kích thước chiều cao, cân nặng như: BMI, Broca, Kaup; loại phức tạp gồm nhiều chỉ số hơn như chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đùi, đó là các chỉ số Pignet, Hitz, QVC… Mỗi chỉ số có giá trị và ý nghĩa sinh học khác nhau Trong đó, hai chỉ số cơ bản và thường dùng nhất là BMI và Pignet[71]
- BMI: BMI là chỉ số khối cơ thể được dùng để đánh giá mức độ gầy
hay béo của một người Chỉ số này do nhà bác học người Bỉ Adolphe Quetelet đưa ra năm 1832 Nhược điểm duy nhất của BMI là không thể tính được lượng chất béo trong cơ thể - yếu tố tiềm ẩn các nguy cơ liên quan đến sức khỏe tương lai Năm 1997, WHO đề nghị lấy điểm ngưỡng dưới 2 độ lệch chuẩn (-2SD) của các chỉ số cân nặng/tuổi (W/A), chiều cao/tuổi (H/A) và cân nặng/chiều cao (W/H) so với quần thể tham chiếu NCHS để coi là suy dinh
dưỡng hoặc béo phì[71]
- Chỉ số Pignet: Chỉ số Pignet đã được quốc tế thừa nhận từ lâu và là
một trong những chỉ số chuyên dụng được sử dụng rộng rãi trong những nghiên cứu thể lực ở người Pignet là chỉ số đánh giá mối tương quan giữa chiều cao với cân nặng và chu vi vòng ngực So sánh trong cùng một nhóm trẻ, nữ luôn có Pignet lớn hơn nam Điều này chứng tỏ học sinh nam có thể lực tốt hơn học sinh nữ[71]
1.1.2 Các đặc điểm về dinh dưỡng
- Suy dinh dưỡng (SDD) protein - năng lượng (Protein - Energy
Malnutrition: PEM): SDD protein - năng lượng là dạng thiếu dinh dưỡng trầm trọng Thuật ngữ SDD protein - năng lượng do Jelliffe nêu lần đầu tiên vào năm 1959 Theo ông, các thể bệnh SDD đều liên quan đến khẩu phần ăn thiếu protein và năng lượng ở các mức độ khác nhau và đặc biệt là thiếu các vi chất
Trang 16dinh dưỡng Thuật ngữ SDD để chỉ những người không đủ cân nặng hay không đủ sức khỏe, không đủ tiêu chuẩn cân nặng so với chiều cao
Đối với trẻ em, SDD ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng, làm giảm sức đề kháng và ảnh hưởng đến trí tuệ
- Thừa cân, béo phì (TC - BP): Có nhiều khái niệm về TC - BP nhưng
WHO đã đưa ra định nghĩa:
+ Thừa cân (TC) là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao
+ Béo phì (BP) là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khỏe BP ở trẻ
em là mối đe dọa lâu dài tới sức khỏe, tuổi thọ và làm gia tăng nguy cơ đối với các bệnh mãn tính như tim mạch, tiểu đường, viêm xương khớp…BP ở trẻ còn làm ngừng tăng trưởng sớm, dễ dẫn đến những ảnh hưởng nặng nề về tâm
lí và học tập Do đó, sự gia tăng TC - BP ở trẻ đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên toàn cầu
Bên cạnh các đặc điểm sinh học thể hiện sự tăng trưởng thể chất, các chỉ tiêu để đánh giá tinh thần của trẻ cũng được quan tâm từ rất sớm
1.1.3 Nhu cầu dinh dưỡng cho học sinh tiểu học
Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho học sinh tiểu học (6-11 tuổi)
- Từ 6 tuổi, trẻ bắt đầu đi học, các chất dinh dưỡng cung cấp hằng ngày không chỉ để trẻ phát triển về thể chất, mà còn cung cấp năng lượng cho trẻ học tập và vui chơi Vì vậy, hằng ngày cần cung cấp cho trẻ bữa ăn cân đối và hợp lý với đủ 4 nhóm chất Đối với trẻ 6 tuổi cần 1,470 Kcal/ngày và 44-55g protein/ngày Đối với trẻ từ 7-9 tuổi cần 1,825 Kcal/ngày và 55-64g protein/ngày Đối với trẻ từ 10-11 tuổi nhu cầu năng lượng và protein được phân chia rõ ràng ở 2 giới, trẻ trai: 2,110 Kcal/ngày và 63-74g protein/ngày; trẻ gái: 2,010 Kcal/ngày và 60-70g protein/ngày Nhu cầu phần trăm năng
Trang 17lượng trên tổng số ở trẻ từ 6-11 tuổi: 12-15% NL Protein/NL tổng số; 20-25%
NL Lipid/NL tổng số và 60-65% NL Glucid/NL tổng số
Bảng 1.1 Nhu cầu thực phẩm gợi ý trong 1 ngày cho trẻ 6-11 tuổi
Trang 181.1.4 Một số phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng là quá trình thu thập và phân tích thông tin, số liệu về tình trạng dinh dưỡng và nhận định tình hình trên cơ sở các thông tin số liệu đó Tình hình dinh dưỡng của một cộng đồng, một địa phương cũng như trên phạm vi cả nước là một trong các nguồn dẫn liệu rất quan trọng để xây dựng và đánh giá các dự án về sức khỏe và phát triển kinh
tế xã hội Một số phương pháp định lượng chính thường được sử dụng trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng như:
- Phương pháp nhân trắc học:
Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng Thu thập các kích thước nhân trắc là bộ phận quan trọng trong các cuộc điều tra dinh dưỡng Kích thước dùng trong cuộc điều tra dinh dưỡng tại cộng đồng cho trẻ từ 5-11 tuổi bao gồm: cân nặng, chiều cao, đo bề dày nếp gấp da, vòng cánh tay
- Điều tra tiêu thụ lương thực, thực phẩm:
Điều tra tiêu thụ lương thực thực phẩm (LTTP) là một bộ phận thiết yếu của các cuộc điều tra dinh dưỡng Đây là phương pháp được sử dụng để phát hiện bất hợp lý (thiếu hụt hoặc thừa) dinh dưỡng ở giai đoạn đầu tiên Thông qua việc thu thập, phân tích số liệu về tiêu thụ LTTP và tập quán ăn uống cho phép rút ra các kết luận về mối liên hệ giữa ăn uống và tình trạng sức khỏe Một số phương pháp thường được sử dụng trong các cuộc điều tra dinh dưỡng áp dụng cho cá thể và hộ gia đình: Phương pháp hỏi ghi 24 giờ, Phương pháp hỏi ghi nhiều lần 24 giờ, Phương pháp cân đong tại hộ gia đình, Phương pháp điều tra tần suất tiêu thụ thực phẩm
Ngoài ra còn 1 số phương pháp như: phương pháp hóa sinh, khám lâm sàng…
Trang 191.2 Thực trạng dinh dƣỡng của học sinh trong độ tuổi học tiểu học tại Việt Nam và trên Thế giới
1.2.1 Thực trạng dinh dưỡng học sinh tiểu học trên thế giới
Theo Tổ chứcY tế thế giới lứa tuổi vị thành niên là thời điểm phát triển tối đa các tiềm năng di truyền liên quan đến tầm vóc, thể lực và trí tuệ, đồng thời là giai đoạn chuyển tiếp rất quan trọng về cả thể chất và tâm lý, cũng là giai đoạn rất dễ bị tổn thương về dinh dưỡng[72] Nghiên cứu chỉ ra rằng, các vấn đề sức khỏe do tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em trong độ tuổi tiểu học
là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của việc nhập học muộn, vắng mặt không lý do cao, bỏ học sớm và kết quả học tập không đạt yêu cầu[64]
Suy dinh dưỡng ở trẻ tuổi học đường là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở các nước Đông Nam Á và Châu Phi Ước tính ở Châu Phi có 22% trẻ học đường thấp còi, và gần còm 36%; Đông Nam Á có 29% thấp còi
và 34% gầy còm Có 71 nghiên cứu báo cáo về tình trạng thiếu cân (trọng lượng thấp theo tuổi) ở trẻ em trong độ tuổi đi học Hầu hết các nghiên cứu đều có chất lượng cao hoặc trung bình, đánh giá thiếu cân theo định nghĩa của WHO/Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) Tỷ lệ thiếu cân trung bình trong số 27 nghiên cứu là 17% Tỷ lệ mắc trung bình cao nhất là ở Đông Nam Á (39%) và thấp nhất là ở Mỹ Latinh (8%) Có 9 nghiên cứu tại vùng Mỹ Latinh, bao gồm bốn nghiên cứu quốcgia từ Brazil, Colombia, Nicaragua và Cộng hòa Dominican, báo cáo tỷ lệ hiện mắc dưới 9% Ở Đông Nam Á, khu vực Tây Thái Bình Dương và Châu Phi, tỷ lệ thiếu cân thay đổi đáng kể từ dưới 10% ở một số quốc gia như Sri Lanka, Lào, Trung Quốc, Nam Phi, và Kenya đến 40% hoặc 50%, ở quốc gia từ Madagascar và ở trẻ
em từ các gia đình nông thôn nghèo trên khắp Ấn Độ Đối với khu vực Đông Địa Trung Hải, chỉ có hai nghiên cứu về chất lượng trung bình, báo cáo tỷ lệ thiếu cân 25% ở Pakistan và 49% ở Yemen[61] Nghiên cứu năm 2017 trẻ từ
6 - 17 tuổi vùng nông thôn của Ai Cập, tỷ lệ thấp còi, nhẹ cân và gầy còm
Trang 20chiếm lần lượt là 34,2%, 3,4% và 0,9%; đồng thời béo phì rất cao là 19%, trong đó béo phì ở nhóm 6-9 tuổi (28,3%), nhóm 10 - 13 tuổi (12,8%) và nhóm 14 -17 tuổi (4,9%)[30] Tại Ấn Độ, theo dữ liệu khảo sát sức khỏe gia đình quốc gia cho thấy 53% trẻ em ở khu vực nông thôn bị thiếu cân Tỷ lệ trẻ
em nhẹ cân trong cả nước là 53,4% vào năm 1992; giảm xuống 45,8% vào năm 1998 và tăng trở lại 47% vào năm 2006[64]
Ngoài việc đối mặt với tình trạng thiếu cân, gầy còm thì các quốc gia còn phải đối diện với sự gia tăng nhanh của thừa cân, béo phì tạo ra gánh nặng kép về dinh dưỡng
Trên thế giới, thừa cân và béo phì là yếu tố nguy co thứ 5 gây tử vong với gần 2,8 triẹ u ngu ời tru ởng thành tử vong hàng na m Bên cạnh đó, 44% bị béo phì, 23% thiếu máu cục bọ ở tim và từ 7% đến 41% mắc mọ t số bẹ nh ung thu có nguyên nhân từ thừa cân và béo phì Trong 3 thạ p kỷ qua (1980 – 2010) số ca béo phì đã ta ng gấp đôi trên toàn thế giới[44]
Điều đáng lo ngại là sự gia ta ng thừa cân, béo ở lứa tuổi trẻ em trên phạm vi toàn cầu với tỷ lẹ trung bình hàng na m là 10% Na m 2010, kết quả phân tích trên 450 cuọ c điều tra cắt ngang về thừa cân, béo phì của trẻ em ở
144 nu ớc trên thế giới cho thấy có khoảng 43 triẹ u trẻ em du ới 5 tuổi bị thừa cân, béo phì (35 triẹ u trẻ em từ các nu ớc đang phát triển, 8 triẹ u từ các nu ớc
đã phát triển), 92 triẹ u trẻ em có nguy co bị thừa cân Tỷ lẹ thừa cân, béo phì của trẻ em trên thế giới đã ta ng từ 4,2% (CI 95%: 3,2% - 5,2%) na m 1990 lên 6,7% (CI 95%: 5,6% - 7,7%) vào na m 2010 Với xu hu ớng này thì dự kiến đến na m 2020 sẽ có 9,1% (CI 95%: 7,3% - 10,9%), tu o ng đu o ng với khoảng
60 triẹ u trẻ em bị thừa cân, béo phì Tỷ lẹ thừa cân, béo phì của trẻ em Châu Phi là 8,5% na m 2010, u ớc tính na m 2020 sẽ là 12,7% Tỷ lẹ béo phì ở các
nu ớc phát triển cao gấp 2 lần các nu ớc đang phát triển[56]
Trang 21Hiện nay ở Mỹ, bệnh BP đang là mối quan tâm hàng đầu của ngành y tế
và toàn xã hội Theo nghiên cứu từ na m 1971 - 1974, tỷ lẹ béo ở trẻ nam 6-11 tuổi là 18,2%, trẻ em nữ là 13,9% Nhu ng đến năm 1988 - 1991 thì tỷ lệ này
đã là 22,3% và 22,7% Đáng chú ý là thừa cân ở trẻ em gái 4 - 5 tuổi tăng từ 5,8% na m 1974, lên 10,8% na m 1994 Cũng ở Mỹ, vào năm 2004, thừa cân, béo phì ở học sinh 6 -17 tuổi rất cao, tới 35,1% (nam) và 36% (nữ)[35],[45]
Tại Pháp, tỷ lệ trẻ em thừa cân đã tăng từ 3% na m 1965 lên 5% năm
1980, 16% năm 2000 và 17,8% na m 2006 Với tốc độ tăng này thì đến năm
2020 cứ 4 trẻ em thì có 1 em có nguy co bị thừa cân[50]
Tại châu Á, tỷ lệ thừa cân, béo phì lứa tuổi học sinh cũng gia tăng nhanh chóng Tại Trung Quốc, các cuộc điều tra theo 4 giai đoạn khác nhau trong khoảng từ năm 1989 và 1997 thấy tỷ lệ thừa cân ở trẻ em từ 2 đến 6 tuổi tăng rất nhanh từ 15% lên 29%, đặc biệt ở các vùng đô thị[43] Ở Thái Lan, trong những năm 1990, tỷ lệ BP ở trẻ từ 6 – 12 tuổi tăng từ 12% lên 16 % chỉ trong vòng 2 năm[36] Hiện nay, béo phì ở trẻ em đã trở thành vấn đề sức khoẻ u u tiên thứ hai trong phòng chống bệnh tật ở các nu ớc châu Á và đu ợc xem nhu là một trong những thách thức đối với ngành dinh du ỡng và y tế[49]
Trong 2 thập kỷ qua, tỷ lệ TC, BP du ờng nhu đã không tăng ở Châu
Mỹ La tinh (u ớc tính khoảng 4 triệu trẻ bị mắc TC, BP vào năm 1990, 2000
và 2010) Trong khi đó tỷ lệ này tăng rất cao ở Châu Phi (từ 4% na m 1990, lên 5,7% năm 2000 và 8,5% năm 2010), số lu ợng trẻ em bị mắc TC, BP tăng
từ 4 triẹ u trẻ lên 13 triẹ u trẻ vào năm 2010 Ở Châu Á, tuy tỷ lẹ TC, BP không cao nhu Châu Phi, nhu ng số lu ợng trẻ bị TC, BP thì rất cao (tăng từ 13 triệu trẻ em năm 1990 lên 18 triệu năm 2010), cao nhất trong 3 Châu lục[56]
1.2.2 Thực trạng dinh dưỡng học sinh trong độ tuổi học tiểu học tại Việt Nam
Độ tuổi 10-14 tuổi ở trẻ học đường ở Việt Nam thuộc giai đoạn tiền dậy thì và dậy thì, trong số những yếu tố môi trường có ảnh hưởng trên sự
Trang 22tăng trưởng, tầm vóc và sức khỏe trong độ tuổi dậy thì, yếu tố dinh dưỡng luôn là yếu tố được đánh giá hàng đầu[3] Các nghiên cứu cho thấy, cả thiếu dinh dưỡng và thừa dinh dưỡng đều ảnh hưởng lên tuổi dạy thì theo nhiều cách khác nhau Tình trạng thừa cân, béo phì trong những năm gần đây tăng lên nhanh chóng ở các thành phố và tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ
ở vùng nông thôn vẫn còn tồn tại, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng núi và các vùng dân tộc
Tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em cũng ngày càng ta ng, đặc biệt ở các thành phố lớn Năm 2000, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh từ 6 -11 tuổi tại quạ n Hồng Bàng, TP Hải Phòng là 10,4%[7] Năm 2001, tỷ lẹ thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học TP Nha Trang là 5,8%[24] Tại TP Hồ Chí Minh, điều tra ở học sinh tiểu học na m học 2002 – 2003 thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì
là 9,4%, nhu ng tới năm học 2008 – 2009 thì tỷ lệ này đã lên tới 20,8% và 7,7% ở 2 tru ờng thuộc quận 10[4] Nghiên cứu tại TP Buôn Ma Thuật, tỉnh Đắc Lắc năm 2004 thấy tỷ lệ thừa cân, béophìở trẻ em tiểu học từ 6 – 11 tuổi
là 10,4%, trong đó tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ trai là 11,1% và trẻ gái là 9,5% Nghiên cứu tại TP Huế năm 2007 ở trẻ từ 6 – 10 tuổi thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì là 7,98%, trong đó béo phì là 1,51%[6] Một nghiên cứu tại TP Huế năm 2008 thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ từ 11 – 15 tuổi là 8,3% Nghiên cứu tại Đà N ng ở học sinh tiểu học năm 2006 – 2007 thấy tỷ lệ thừa cân là 4,9% và nguy co thừa cân là 8,7% Nghiên cứu của Trần Thị Phúc Nguyệt tại nội thành TP Hà Nội ở trẻ em từ 4 – 6 tuổi thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì là 4,9%, ở trẻ trai là 6,1% và trẻ gái là 3,8% Nghiên cứu cắt ngang năm
2007 tại TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh ở học sinh từ 9 – 11 tuổi thấy tỷ lệ béo phì tại các tru ờng ở trung tâm thành phố cao ho n các tru ờng ở ngoại thành Cụ thể tại TP Hà Nội thì tỷ lệ béo phì của tru ờng ở quận Đống Đa là 7,1%, ở huyẹ n Đông Anh là 1,1% Tại TP Hồ Chí Minh, tru ờng học ở quận 1
Trang 23có tỷ lệ béo phì là 41,1% và tru ờng ở quận 7 có tỷ lệ là 10,8%
Song song với sự gia tăng về tình trạng thừa cân, béo phí thì tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ em cũng được các nhà khoa học, lâm sàng và
hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe đặc biệt quan tâm Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện thực trạng dinh dưỡng của trẻ em tuổi học đường, kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng thấp còi vẫn còn cao trong cộng đồng Năm 2007, một nghiên cứu tiến hành điều tra trên 2671 trẻ tại Huyện Bình Lục, Hà Nam cho thấy, tỷ lệ SDD thể thấp còi theo từng nhóm tuổi
11, 12, 13 và 14 tuổi tương ứng theo giới tính với trẻ trai à 28,6%; 32,4%; 24,8%; 26,8% và trẻ gái là 32,3%; 31,3%; 37,6%; 27,5% Một nghiên cứu khác tại Phổ Yên, Thái Nguyên năm 2008, trên 2790 trẻ cho thấy tỷ lệ SDD thấp còi tương ứng lớp tuổi với trẻ trai là 31,9%; 39,5%; 43,0%; 34,9% và trẻ gái là 37,8%; 45,4%; 48,4%; 38,8% [18] Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Song Tú năm 2018 tại 5 trường phổ thông dân tộc bán trú tại huyện Văn Chấn, Yên Bái cho kết quả với tỷ lệ SDD thấp còi là 43,6% (tỷ lệ thấp còi ở mức độ nặng là 13,8%; mức độ vừa là 29,8%); Tỷ lệ SDD thấp còi dao động theo lứa tuổi từ 43,6% đến 46,4% (nam) và 39,2% - 46,6% (nữ) Tỷ lệ SDD thấp còi cao nhất ở trẻ dân tộc H’ mông (71,2%) và tiếp theo là Dao (40,5%) [27]
1.3 Bệnh răng miệng và dịch tễ bệnh răng miệng ở trẻ em
1.3.1 Sinh bệnh học bệnh sâu răng
a Định ngh a và chẩn đoán bệnh sâu răng
Định nghĩa: Bệnh sâu răng là mọ t bẹ nh nhiễm khuẩn của tổ chức canxi hóa đu ợc đặc tru ng bởi sự hủy khoáng của thành phần vô co và sự phá hủy thành phần hữu co của mô cứng [8]
- Chẩn đoán sâu rặng trong cộng đồng:
+ Khái niệm quá trình sâu răng theo hình ảnh minh họa “tảng băng trôi” của Pitts [67]: đó là tảng băng chia làm 4 mức độtiến triển sâu răng (hình 1.1)
Trang 24 D1: Tổn thương men răng với bề mặt còn nguyên vẹn, có thể phát hiện trên lâm sàng
D2: Tổn thương men răng có tạo xoang, có thể phát hiẹ n trên lâm sàng
D3: Tổn thương ở ngà răng, có thể phát hiện trên lâm sàng
D4: Tổn thương vào tủy răng
Hình 1.1 Khái niệm về quá trình răng sâu của Pitts NB[66]
1.3.2 Dịch t học ệnh sâu răng trên thế giới và Việt Nam
a Trên thế giới
Ở một số nước trong khu vực: theo thông báo của TCYTTG năm 1994
và năm 1997, hầu hết các nước trong khu vực có trên 90% dân số bị sâu răng
và chỉ số SMTr tuổi 12 nhiều nước còn ở mức cao, từ 0,7 (Trung quốc) đến 4,9 (Campuchia)[65] Cho đến gần đây, Datta P, Datta PP (2013), nghiên cứu tần suất sâu răng ở học sinh bang Sundarban, Ấn Độ là 71%, cao ở trẻ thuộc gia đình có thu nhập thấp[63]
G Davies và cs (2013) ghi nhận tại Anh, có giảm tỷ lệ trẻ em bị sâu răng
từ 30,9% năm 2008 còn 27,9% vào năm 2012, tương đương với phần trăm thay đổi là 9,7% Chỉ số SMTr giảm từ 1,11 năm 2008 còn 0,94 năm 2012, giảm 15,3%[34]
Trang 25Theo TCYTTG (2005), 90% thanh thiếu niên có vấn đề về SKRM Ở
Mỹ, nơi sâu răng là thấp hơn so với các nơi khác, thời gian đi khám vì các vấn
đề RM khiến 117.000 giờ học bị mất trên 100.000 trẻ em Vấn đề về RM khiến cho đau khi nhai ảnh hưởng đến tiêu thụ các chất xơ và một số thực phẩm giàu chất dinh dưỡng; do đó, nồng độ beta carotene, folate và vitamin C thấp hơn đáng kể ở những người có tình trạng RM kém hơnchất lượng cuộc sống giảm liên quan đến SKRM không tốt[54] Tần suất sâu răng cao còn liên quan đến hoàn cảnh kinh tế-xã hội như trẻ thuộc dân tộc ít người, gia đình nghèo, nhập cư[62]
G Davies và cs (2013) ghi nhận tại Anh, có giảm tỷ lệ trẻ em bị sâu răng
từ 30,9% năm 2008 còn 27,9% vào năm 2012, tương đương với phần trăm thay đổi là 9,7% Chỉ số SMTr giảm từ 1,11 năm 2008 còn 0,94 năm 2012, giảm 15,3%[34]
Các nghiên cứu dịch tễ học gần đây đều ghi nhận thực trạng báo động của SKRM toàn cầu, ảnh hưởng đến trẻ em cũng như người lớn, răng sữa cũng như răng vĩnhviễn Điều này đòi hỏi sự cấp bách của chiến lược y tế công cộng mà đã rất thành công trong quá khứ, một chiến dịch mới cho fluor dưới mọi hình thức, chương trình giáo dục SKRM ở trường học, dùng chỉ nha khoa, chế độ ăn uống thích hợp và khám răng định kỳ[60]
b Ở Việt Nam
Viện Răng – Hàm – Mặt Hà Nội phối hợp với Viện nghiên cứu và thống
kê SKRM Australia tiến hành điều tra bệnh RM ở Việt Nam trong 3 năm 1999-2001 thu được các kết quả: 6-8 tuổi có 84,9% sâu răng sữa, 25,4% sâu răng vĩnh viễn (smtr: 5,4; SMTr: 0,48), 9-11 tuổi là 56,3% và 54,6% (smtr: 1,96; SMTr: 1,19)[9]
Theo Nguyễn Cẩn và cs (2000), tỷ lệ bệnh sâu răng và chỉ số trung bình sâu mặt trám (SMTr) gia tăng theo tuổi SMTr ở trẻ 12 tuổi và lứa tuổi 35 –
44 là 1,2 và 1,3 ở các tỉnh thành phía Bắc và 2,9 và 8,2 ở các tỉnh thành phía
Trang 26Nam Mức độ trầm trọng sâu răng ở miền Nam cao gấp 2 lần miền Bắc ở các nhóm tuổi[14]
Nguyễn Ngọc Nghĩa (2009), nghiên cứu trên 400 học sinh tiểu học tại 2 trường Nghĩa Lộ và Nậm Búng của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái năm 2009 ghi nhận, tỷ lệ sâu răng là 62,75%, chỉ số SMTr trung bình trên một học sinh đối với răng sữa là 2,68, đối với răng vĩnh viễn là 0,37[5]
Vũ Mạnh Tuấn, Trần Văn Trường (2011), cho thấy tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn của học sinh Trường Tiểu học Đông Ngạc A, Hà Nội là 57,1%[12]
Nghiện cứu của Đỗ Văn Ước (2011) tại thị trấn Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận cho thấy tỷ lệ sâu răng ở học sinh tiểu học là 65,23%, trong đó vùng ven có tỷ lệ sâu răng là 80,48% Trương Mạnh Dũng và cs (2011) nghiên cứu cắt ngang 7.775 trẻ 4-8 tuổi tại 5 tỉnh thành Việt Nam ghi nhận 81,4 % sâu răng sữa (smtr là 4,7), 16,3% sâu răng vĩnh viễn (SMTr là 0,3), 90,6% có cặn bám, 81,1% có cao răng, 11,9% chảy máu lợi[10]
Nghiên cứu của Vũ Thị Định (2012) cho thấy tỷ lệ bệnh răng miệng của học sinh tiểu học Hà Nội là 59,78%, smtr và SMTr là 1,77 và 0,127; Tỷ lệ răng sâu có biến chứng là 35,4%, tỷ lệ học sinh được khám và điều trị thấp[17]
Tại tỉnh Long An, tỷ lệ sâu răng ở học sinh tiểu học trong nghiên cứu của Trần Ngọc Điệp là 78,7%[16]
Theo Võ Văn Thanh (2013), tỷ lệ sâu răng chung ở học sinh tiểu học Huyện Tây Sơn, Tỉnh Bình Định năm 2011 là 78,8%, trong đó sâu răng sữa 93,7% và sâu răng vĩnh viễn chiếm 28,3%[22]
Khảo sát của Đại học Y Hà Nội trên hơn 2.000 học sinh 6-8 tuổi ở Hà Nội và Lạng Sơn, đại diện cho hai khu vực miền núi và đô thị ở ViệtNam, được công bố tại Hội nghị khoa học và đào tạo Răng Hàm Mặt lần thứ 4 tổ chức ở Hà Nội từ ngày 26 đến 28-11-2013 Theo kết quả khảo sát, tỷ lệ sâu răng chung của học sinh là trên 91%, trong đó học sinh tại Lạng Sơn có tỷ lệ
Trang 27sâu răng sữa 93%, sâu răng vĩnh viễn là 10,1%, học sinh cùng độ tuổi tại Hà Nội tỷ lệ sâu răng sữa trên 87%, sâu răng vĩnh viễn lên đến 19,3%
Tại tỉnh Thừa Thiên Huế, một số công trình nghiên cứu về SKRM cho thấy tỷ lệ sâu răng vẫn còn cao Trần Tấn Tài (2007), nghiên cứu lứa tuổi học sinh phổ thông trung học cho thấy tỷ lệ sâu răng là 70,7%
Hoàng Anh Đào, Nguyễn Toại (2008), nghiên cứu ở học sinh trung học
cơ sở ở đồng bằng và miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế ghi nhận, tỷ lệ sâu răng ở đồng bằng ở lứa tuổi 12: 40,38% và SMTr 1,07 và lứa tuổi 15: 70,93% và SMTr 1,89[15]
Nguyễn Toại và cs (2011), nghiên cứu tình hình bệnh răng miệng của nhân dân thành phố Huế, ghi nhận, tỷ lệ sâu răng theo lứa tuổi 12, 15, 35- 44
là 54,3%; 60,0%; 65,2% và chỉ số SMTr theo thứ tự là 1,33; 1,98; 3,41[25]
1.4 Mối liên quan giữa bệnh răng miệng và tình trạng dinh dƣỡng ở trẻ
em trên thế giới và Việt Nam
Theo các tác giả Hooley cùng cộng sựvà Li cùng cộng sựcho rằng sâu răng và BMI có mối liên quan theo kiểu hình chữ U không tuyến tính, với mức độ sâu răng cao hơn ở cả trẻ em có BMI thấp và cao Chưa có nhiều các nghiên cứu thực nghiệm giả thuyết này, vì có rất ít phân tích bao gồm đầy đủ các phép đo nhân trắc học bao gồm thiếu cân, cân nặng bình thường và thừa cân (tình trạng cân nặng), cũng như thấp còi Đông Nam Á là khu vực có bệnhsâu răng chiếm tỷ lệ cao trên toàn thế giới, phổ biến trong khoảng từ 79% đến 98% ở trẻ em sáu tuổi Suy dinh dưỡng vẫn là mối quan tâm lớn đối với sức khỏe cộng đồng ở hầu hết các quốc gia trong khu vực, tuy nhiên tình trạng béo phì cũng gia tăng do sự phát triển kinh tế xã hội, toàn cầu hóa và những thay đổi liên quan đến chế độ ăn uống và hoạt động thể chất thông qua quá trình chuyển đổi dinh dưỡng Sự cùng tồn tại của cả trẻ em thiếu cân và thừa cân, còn được gọi là gánh nặng gấp đôi của suy dinh dưỡng, cho phép
Trang 28phân tích các mối liên quan phi tuyến tính có thể có giữa sức khỏe răng miệng
và tình trạng dinh dưỡng[38]
Dinh dưỡng là một thành phần thiết yếu trong sự tăng trưởng, phát triển
và duy trì cuộc sống lành mạnh của con người Suy dinh dưỡng ở trẻ em được định nghĩa là sự mất cân bằng giữa nhu cầu dinh dưỡng và lượng ăn vào dẫn đến thiếu hụt năng lượng, protein hoặc vi chất dinh dưỡng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng, phát triển và các kết quả liên quan khác[57] Suy dinh dưỡng bao gồm cả thiếu dinh dưỡng và dinh dưỡng quá mức Thiếu dinh dưỡng là kết quả của việc ăn không đủ, hấp thu kém hoặc sử dụng thức ăn nghèo các chất dinh dưỡng Điều này có thể dẫn đến các chức năng cơ thể bị suy yếu, tăng trưởng bị suy giảm và thiếu cân Dinh dưỡng quá mức là kết quả của việc bổ sung chất dinh dưỡng dư thừa hoặc mất cân bằng, có thể dẫn đến suy giảm chức năng cơ thể, cũng như thừa cân hoặc thậm chí béo phì[52]
Sâu răng là một trong những bệnh phổ biến nhất ở trẻ em trên thế giới Theo nghiên cứu Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu (GBD) năm 2010 cho thấy, sâu răng không được điều trị ở răng vĩnh viễn là tình trạng răng miệng phổ biến nhất trên toàn cầu với khoảng 35% dân số bị ảnh hưởng[55] Ở nhiều nước phát triển, sâu răng đã được cải thiện ở trẻ lớn trong thập kỷ gần đây, nhưng vẫn là một vấn đề đáng kể ở trẻ nhỏ[76] Tại Hoa Kỳ, hơn 50% trẻ em
từ 5 đến 9 tuổi có ít nhất một khoang hoặc phục hồi Một nghiên cứu khảo sát
về sức khỏe răng miệng tại Malaysia năm 2005, khoảng 76,2% trẻ em 5 tuổi
bị sâu răng với chỉ số răng sâu bị mất, thiếu, trung bình (dmft) là 5,57 Trong khi đó, trẻ em mẫu giáo 5 tuổi và 6 tuổi ở Malaysia cho thấy tỷ lệ mắc sâu răng khoảng 74,5% trong năm 2007[40]
Mối quan hệ giữa trẻ em sức khỏe răng miệng và sức khỏe nói chung
đã trở thành một chủ đề nghiên cứu ngày càng được quan tâm Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sâu răng ảnh hưởng tiêu cực đến tình trạng dinh dưỡng
và tăng trưởng của trẻ[48] Theo các đánh giá hệ thống gần đây, một số
Trang 29nghiên cứu đã báo cáo mối liên quan giữa sâu răng và thiếu cân (Chỉ số khối
cơ thể thấp (BMI) - đối với tuổi), thấp còi (chiều cao thấp so với tuổi) và kém phát triển, trong khi một số nghiên cứu khác phát hiện ra rằng sâu răng có liên quan đến thừa cân; hoặc không có mối quan hệ nào[38],[58]
Các bằng chứng ủng hộ mối quan hệ giữa sâu răng và thiếu cân chủ yếu đến từ các nghiên cứu được thực hiện ở các nước thu nhập thấp và trung bình, trong đó mức độ nghiêm trọng của sâu răng cao[31] Trẻ em có mức độ sâu răng cao ở cả răng sữa và răng vĩnh viễn có chỉ số BMI theo tuổi thấp hơn đáng kể và việc điều trị sâu răng có liên quan đến việc tăng tỷ lệ tăng cân[48] Một số cơ chế đã được đưa ra để giải thích mối quan hệ này, bao gồm ảnh hưởng trực tiếp của sâu răng đến trẻ em khả năng ăn uống và hấp thụ dinh dưỡng[59], cũng như tác động gián tiếp của viêm răng mạn tính đối với tăng trưởng của trẻ thông qua quá trình trao đổi chất và miễn dịch[51] Một giả thuyết khác là tình trạng thiếu dinh dưỡng (thể thiếu cân và thấp còi) có thể khiến một người bị sâu răng Suy dinh dưỡng mạn tính có liên quan đến sự phát triển răng bị xáo trộn, bao gồm khiếm khuyết men răng (giảm âm) và sự mọc chậm của răng nguyên thủy[46] Tuy nhiên, bằng chứng về ảnh hưởng của suy dinh dưỡng đối với sự hình thành và mọc răng vĩnh viễn là ít đáng kể
Trang 30CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
- Trường tiểu học thị trấn Vũ Thư – Thành phố Thái Bình:Năm học
2019-2020,trường có tổng số 986 học sinh chia làm 5 khối,mỗi khối có khoảng 196 học sinh.Khối lớp 4 có tổng số 162 em chia làm 4 lớp mỗi lớp khoảng 40 em,khối lớp 5 có tổng số 186 em chia làm 4 lớp mỗi lớp 46 em Tổng học sinh khối 4 khối 5 là 348 học sinh Cả 2 khối chỉ có 324 em tham gia nghiên cứu
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh khối lớp 4 và lớp 5 có đủ các tiêu chuẩn lựa chọn dưới đây:
+ Tiêu chuẩn lựa chọn:
Học sinh lớp 4 và 5 đang học tại trường
Học sinh có mặt tại thời điểm nghiên cứu
Học sinh được sự đồng ý của gia đình/người giám hộ cho tham gia nghiên cứu
Học sinh tự nguyện tham gia phỏng vấn
+ Tiêu chuẩn loại trừ
Học sinh không có mặt tại thời gian nghiên cứu
Học sinh không được sự đồng ý của gia đình để tham gia nghiên cứu
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
- Từ tháng 6/2019 đến tháng 3/2020
- Điều tra chính thức vào tháng 10 năm 2019: Thực hiện khám, phỏng vấn đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Trang 312.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu dịch tễ học mô tả, dựa trên cuộc điều tra cắt ngang với hai mục tiêu: Mô tả tình trạng dinh dưỡng ở học sinh khối lớp 4, 5 mắc bệnh lý răng miệng tại trường tiểu học thị trấn huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình năm
2019 và đánh giá kiến thức, thực hành dinh dưỡng ở học sinh khối lớp 4,lớp 5 mắc bệnh lý răng miệng
2.2.1 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu cho điều tra được tính theo công thức sau:
2
2 ) 2 / 1 (
)1.(
d
p p
- d: Sai số mong muốn: d = 0,05
Thay số ta có n= 348 học sinh tham gia vào nghiên cứu Thực tế nghiên cứu trên 324 học sinh
Lý do chọn học sinh khối lớp 4 và lớp 5: lứa tuổi này các em đã có hiểu biết nhất định về vấn đề dinh dưỡng chứ không như các em học sinh khối lớp
1, lớp 2 Bên cạnh đó các em đã nhận thức rõ được các thức ăn có lợi , các thức ăn có hại và đặc biệt ít có tâm lý sợ hãi khi khám răng hay khi được phỏng vấn.Răng của đối tượng này đã ổn định
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu
- Chọn toàn bộ học sinh khối lớp 4 và lớp 5 khám để phát hiện các trường hợp có mắc bệnh răng miệng Trừ những học sinh không có mặt trong thời gian nghiên cứu còn lại có 324 học sinh tham gia vào nghiên cứu
Trang 32- Khám phát hiện 115 học sinh có vấn đề về răng miệng
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và phỏng vấn kiến thức thực hành về dinh dưỡng của học sinh mắc bệnh răng miệng
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.3.1 Khám sâu răng
Khám phát hiện học sinh mắc các bệnh răng miệng theo quy trình của Viện Răng Hàm Mặt Trung ương, được thực hiện bởi các bác sỹ chuyên khoa răng hàm mặt của Bệnh viện Vũ Thư tỉnh Thái Bình và chẩn đoán xác định theo tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh răng miệng của WHO năm 1997
+ Tổ chức khám:
- Đoàn khám là các bác sỹ chuyên khoa răng hàm mặt hiện đang công tác tại Khoa Khám bệnh, khoa Răng Hàm Mặt của bệnh viện Vũ Thư tỉnh Thái Bình, căn cứ vào dấu hiệu lâm sàng, tiền sử bệnh tật, tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh răng miệng của WHO năm 1997 để chẩn đoán xác định bệnh răng miệng
- Các bác sỹ đã được tập huấn và thống nhất phương pháp
- Các điều tra viên đã được tập huấn cách ghi nhận tình trạng răng
- Khám răng tất cả các học sinh trong khối lớp 4 và lớp 5 tại trường
được chọn trong mẫu nghiên cứu (phụ lục đính kèm), ghi mã số về tình trạng
răng theo mẫu phiếu điều tra sức khỏe răng miệng Tiến hành khám cho học sinh được thực hiện bởi các bác sỹ răng hàm mặt và các kỹ thuật viên, kết hợp với sự hỗ trợ của các cô giáo chủ nhiệm các lớp
- Khi vào khám răng, học sinh mang theo phiếu điều tra trong đó bao gồm phiếu phỏng vấn đã điền đầy đủ thông tin và phiếu khám răng
Trang 33- Khám tình trạng vệ sinh răng miệng đơn giản: chỉ số CI-S và DI-S + Chọn răng và mặt răng: Khám 6 răng đại diện: Khám mặt ngoài các răng: 16, 11, 26, 31 và mặt trong các răng 46, 36
+ Cách khám: Khám ½ chu vi răng đại diện bao gồm cả mặt bên tới vùng tiếp giáp; Tối thiểu phải khám 2 trong số 6 mặt răng cần khám; Ghi 6
mã số cặn bám cho 6 răng đại diện
2.2.3.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Điều tra viên đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ bằng chỉ số BMI
Từ chiều cao, cân nặng của trẻ ta sẽ đánh giá được BMI của trẻ
- Cách đo chiều cao:
Bước 1: Cố định thước đo chiều cao của trẻ vào tường hoặc dùng thước dời Đặt thước vuông góc với sàn nhà đồng thời vạch số 0 của thước cũng
phải sát với sàn nhà
Bước 2: Để trẻ đi chân không, tư thế đứng thẳng, quay lưng vào tường Đầu, vai, mông, bắp chân, gót chân áp sát vào tường, mắt nhìn theo hướng phía trước và hai tay xuôi theo thân
Bước 3: Lấy một chiếc bảng gỗ, áp sát đỉnh đầu trẻ và vuông góc với thước đo Quan sát vị trí mà thước gỗ chỉ trên thước đo để biết chính xác chiều cao của trẻ
Điều tra viên (ĐTV) thu thập thông tin từ học sinh thông qua bộ câu hỏi
tự điền được phát cho các học sinh dưới sự hướng dẫn của cán bộ điều tra
(Phụ lục 1)
Trang 34- Đầu tiên, ĐTV có 15 phút để trình bày rõ mục đích của nghiên cứu và hướng dẫn cách thức điền phiếu ĐTV đề nghị giáo viên chủ nhiệm lớp hỗ trợ giữ gìn trật tự và hạn chế tối đa các học sinh trao đổi với nhau khi điền phiếu
- ĐTV đọc từng câu hỏi trong phiếu điều tra để học sinh hiểu và tự điền vào phiếu Sau khi học sinh điền xong câu thứ nhất thì chuyển sang câu thứ hai và tiếp tục cho đến câu hỏi cuối cùng
- Sau khi các học sinh đã điền hết các câu trong phiếu điều tra, ĐTV nhận lại phiếu từ các em học sinh và kiểm tra lại các thông tin trong phiếu Nếu phiếu điều tra còn thiếu thông tin hoặc trả lời không hợp lệ, ĐTV giải thích thêm để học sinh hoàn tất các câu hỏi trong phiếu điều tra
2.2.4 Biến số và các chỉ số nghiên cứu
a Thông tin chung
- Thông tin chung về tuổi, giới, tình trạng kinh tế
- Thông tin chung về nghề nghiệp và trình độ học vấn của bố mẹ
- Tình trạng dinh dưỡng theo BMI của học sinh
- Các chỉ số về lợi, mảng bám, cao răng của học sinh
b Tình trạng dinh dƣỡng, tần suất tiêu thụ thực phẩm của học sinh
có vấn đề về răng miệng
- Phân loại tình trạng dinh dưỡng của học sinh có vấn đề về răng miệng
- Phân loại cân nặng theo tuổi của học sinh có VĐVRM
- Phân loại chiều cao theo tuổi của học sinh có VĐVRM
- Phân loại BMI theo tuổi của học sinh có VĐVRM
- Tần suất tiêu thụ các loại thực phẩm của học sinh
c Kiến thức, thực hành của học sinh về thói quen ăn uống và bệnh sâu răng
- Tỷ lệ học sinh biết về thực phẩm/đồ uống có thể gây sâu răng
- Tỷ lệ học sinh biết về vệ sinh răng và sâu răng
- Tỷ lệ học sinh bỏ bữa và lý do
Trang 35- Tỷ lệ học sinh ăn các đồ ăn nhanh
- Thực hành của học sinh về sử dụng thực phẩm/đồ uống gây sâu răng
- Thực hành của học sinh về vệ sinh răng sau khi sử dụng thực phẩm có thể gây sâu răng
2.2.5 Cách tính các chỉ số sử dụng trong nghiên cứu
- Chỉ số lợi GI: kết hợp quan sát và thăm dò mật độ của lợi
+ Ghi chép:GI cho một vùng; GI cho một răng: Cộng 4 mặt chia 4; GI cho cá thể: Cộng mã số tất cả chia cho số răng khám GI thay đổi từ 0-3
+ Tổng điểm số trên một răng chia cho 3 sẽ cho điểm số của 1 răng + Tổng số điểm số các răng chia cho số răng khám sẽ có chỉ số GI của mỗi người
- Chỉ số vệ sinh răng miệng đơn giản (OHI- S):
Trang 36+ Chỉ số OHI-S = DI-S + CI-S
2.2.5.1 Các tiêu chuẩn đánh giá sử dụng trong nghiên cứu
b/ Chỉ số vệ sinh răng miệng đơn giản (OHI- S)
- Mức độ đánh giá chỉ số cặn bám răng: DI-S
- Mức độ đánh giá chỉ số vệ sinh răng miệng: OHI-S
+ Vệ sinh răng miệng tốt: tỷ lệ từ 0,0 – 1,2
+ Vệ sinh răng miệng trung bình: tỷ lệ từ 1,3 – 3,0
+ Vệ sinh răng miệng kém: tỷ lệ từ 3,1 – 6,0
- Tính chỉ số BMI
Trang 372.2.6 Phương pháp phân tích số liệu
Toàn bộ số phiếu sau khi thu thập xong được xử lý thô trước khi nhập
số liệu vào máy tính
- Thông tin thu thập được nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.01;xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 21.0
- Số liệu được phân tíchvà lập thành các bảng số liệu thôngqua sử dụng chương trình phần mềm SPSS 21.0 Các kết quả được trình bày dưới dạng các bảng và biểu đồ So sánh các tỷ lệ bằng test χ2 Mức xác suất được lựa chọn là 0,05
Trang 382.2.7 Phương pháp kiểm soát sai số
Để khống chế sai số trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành các biện pháp sau:
- Các phương án trả lời trong phiếu hỏi đều được mã hoá trước
- Bộ công cụ đã được thử nghiệm, hoàn chỉnh trước khi tiến hành nghiên cứu
- Điều tra viên, giám sát viên được tập huấn kỹ trước khi nghiên cứu 2.2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu được thông qua Hội đồng Đạo đức của trường Đại học Y Thái Bình trước khi tiến hành nghiên cứu
Đối tượng tham gia nghiên cứu được điều tra viên giải thích cụ thể về mục đích, nội dung và quy trình tiến hành trước khi tiến hành nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu tự nguyện tham gia nghiên cứu Nghiên cứu sẽ không làm tổn hại đến người tham gia cũng như những người từ chối tham gia
Những thông tin mà đối tượng cung cấp chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác
Trang 39CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin chung về giới tính và tình trạng kinh tế của học
Biểu đồ 3.1 Trình độ học vấn bố và mẹ của học sinh(n=234)
Trang 40Nhận xét:
Kết quả biểu đồ 3.1 cho thấy, đa số bố mẹ của học sinh có trình độ học vấn cao Trong đó trình độ trung cấp cao đẳng (bố: 21,3%; mẹ: 15,4%); trình
độ đại học/sau đại học (bố: 25,3%; mẹ: 32,4%)
Biểu đồ 3.2 Nghề nghiệp của bố và mẹ học sinh(n=324)
Nhận xét:
Qua biểu đồ 3.2 cho thấy tỷ lệ học sinh có bố, mẹ có việc làm ổn định chiếm tỷ lệ cao Trong đó học sinh có bố mẹ là công nhân chiếm tủ lệ cao nhất 42% (bố), 39,2% (mẹ) Tiếp theo bố mẹ là cán bộ, viên chức chiếm tỷ lệ 28,1% (bố), 29,9% (mẹ) Số học sinh có bố mẹ đã nghỉ hưu chiếm tỷ lệ thấp nhất 1,2% (bố), 2,5% (mẹ) Tuy nhiên, số học sinh có mẹ không có việc làm lại chiếm tỷ lệ cao (22,2%)
Công nhân
Nhân viên văn phòng
Lao động
%