1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng trẻ sơ sinh nhẹ cân và hoạt động chăm sóc dinh dưỡng tại bệnh viện đa khoa mộc châu năm 2019

88 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Liên quan giữa trẻ sơ sinh nhẹ cân với tiền sử nhiễm độc thai nghén, Sản giật và mắc các bệnh phụ khoa của bà mẹ .... Nghiên cứu của Bansal.P và cộng sự về các yếu tố nguy cơ trong công

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BèNH

PHAN THỊ THU HẰNG

thực trạng TRẻ sơ sinh nhẹ cân

và hoạt động chăm sóc DINH D-ỡng tại bệnh viện đa khoa mộc châu năm 2019

LUẬN VĂN THẠC SỸ DINH DƯỠNG

THÁI BèNH - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BèNH

PHAN THỊ THU HẰNG

thực trạng TRẻ sơ sinh nhẹ cân

và hoạt động chăm sóc DINH D-ỡng tại bệnh viện đa khoa mộc châu năm 2019

LUẬN VĂN THẠC SỸ DINH DƯỠNG

Trang 3

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Khoa Y tế Công cộng, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Bộ môn Dinh dưỡng và An toàn Thực phẩm - Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã luôn nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, công tác và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, phòng Tổ chức hành chính, cán bộ viên chức khoa Sản và khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa Mộc Châu đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian triển khai thu thập số liệu, hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô NGƯT.PGS.TS Ninh Thị Nhung và thầy TS Nguyễn Văn Công đã tận tình giúp đỡ, động viên, khích

lệ, dành nhiều thời gian trao đổi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Với tình cảm thân thương nhất, tôi xin dành cho những người thương yêu trong toàn thể gia đình, ngưởi thân và bạn bè nơi đã tạo điều kiện tốt nhất,

là điểm tựa, nguồn động viên tinh thần giúp tôi thêm niềm tin và nghị lực trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu này

Thái Bình, ngày … tháng… năm 2020

Tác giả

Phan Thị Thu Hằng

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Mộc Châu Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thái Bình, ngày … tháng… năm 2020

Tác giả

Phan Thị Thu Hằng

Trang 5

BMI: Body Mas index: Chỉ số khối cơ thể CBYT: Cán bộ Y tế

CTC: Cổ tử cung CSSS: Chăm sóc sơ sinh RTĐ: Rau tiền đạo SDD: Suy dinh dưỡng SSNC: Sơ sinh nhẹ cân TLSN: Tỷ lệ sinh non

TNLTD: Thiếu năng lượng trường diễn

TTDD: Tình trạng dinh dưỡng

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Đại cương về sơ sinh nhẹ cân 3

1.1.1 Sơ sinh nhẹ cân 3

1.1.2 Phân loại sơ sinh nhẹ cân 3

1.1.3 Một số yếu tố liên quan tới sơ sinh nhẹ cân 3

1.2 Thực trạng sơ sinh nhẹ cân trên thế giới và Việt Nam 9

1.2.1 Tình hình sơ sinh nhẹ cân trên thế giới 9

1.2.2 Tình hình sơ sinh nhẹ cân ở Việt Nam 12

1.3 Thực trạng hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh của cán bộ Y tế hiện nay 17

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 22

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 22

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 23

2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

2.2.1.Thiết kế nghiên cứu 23

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 23

2.2.3 Biến số trong nghiên cứu 24

2.2.4 Các bước tiến hành nghiên cứu 26

2.2.5 Một số kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 27

2.2.6.Các tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu 28

2.2.7 Các biện pháp hạn chế sai số 29

2.2.8 Phương pháp xử lý số liệu 29

2.2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 29

Trang 7

Sản bệnh viện đa khoa Mộc Châu năm 2019 31 3.2 Mô tả hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh nhẹ cân của cán

bộ Y tế tại khoa Sản, Nhi bệnh viện đa khoa Mộc Châu năm 2019 40 CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 48 4.1 Tỉ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân và một số yếu tố liên quan tại khoa Sản bệnh viện đa khoa Mộc Châu năm 2019 48 4.2 Hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh nhẹ cân của cán bộ Y

tế tại khoa Sản, Nhi bệnh viện đa khoa Mộc Châu năm 2019 61 KẾT LUẬN 69 KHUYẾN NGHỊ 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 3.1 Phân bố trẻ sơ sinh theo tuổi thai khi sinh 31

Bảng 3.2 Phân loại cân nặng sơ sinh của trẻ được điều tra 31

Bảng 3.3 Đặc điểm khi sinh của trẻ 32

Bảng 3.4 Phân bố trẻ sơ sinh nhẹ cân theo giới tính và cân nặng 33

Bảng 3.5 Phân bố trẻ sơ sinh nhẹ cân theo nhóm tuổi của bà mẹ 33

Bảng 3.6 Phân bố sơ sinh nhẹ cân theo nghề nghiệp của bà mẹ 34

Bảng 3.7 Mối liên quan giữa trẻ sơ sinh nhẹ cân với trình độ học vấn và dân tộc của bà mẹ 35

Bảng 3.8 Liên quan giữa trẻ sơ sinh nhẹ cân với tuổi khi sinh con và điều kiện kinh tế của bà mẹ 35

Bảng 3.9 Liên quan giữa trẻ sơ sinh nhẹ cân với BMI của bà mẹ trước mang thai và tăng cân khi mang thai 36

Bảng 3.10 Liên quan giữa trẻ sơ sinh nhẹ cân với tiền sử nhiễm độc thai nghén, Sản giật và mắc các bệnh phụ khoa của bà mẹ 37

Bảng 3.11 Liên quan giữa trẻ sơ sinh nhẹ cân với bà mẹ có thai ngoài ý muốn và tiền sử đẻ con dưới 2500 gr 38

Bảng 3.12 Liên quan giữa trẻ sơ sinh nhẹ cân với chăm sóc y tế cho bà mẹ trong thời kỳ mang thai 38

Bảng 3.13 Liên quan giữa trẻ sơ sinh nhẹ cân với chế độ dinh dưỡng và lao động trong thời kỳ mang thai của bà mẹ 39

Bảng 3.14 Đặc điểm về nhóm tuổi và trình độ học vấn của cán bộ Y tế 40

Bảng 3.15 Tỷ lệ CBYT biết những nguyên tắc chăm sóc trẻ sơ sinh nhẹ cân 41

Bảng 3.16 Tỷ lệ CBYT biết nguy cơ thường gặp ở trẻ sơ sinh nhẹ cân 41

Bảng 3.17 Kiến thức và thực hành của CBYT về các biện pháp phòng hạ đường huyết cho trẻ sơ sinh nhẹ cân 42

Trang 9

Bảng 3.19 Những hỗ trợ về dinh dưỡng của CBYT khi trẻ có dấu hiệu bỏ

bú/không chịu ăn 43 Bảng 3.20 Kiến thức và thực hành của CBYT về biện pháp đảm bảo thân

nhiệt cho trẻ sơ sinh nhẹ cân 44 Bảng 3.21 Tỷ lệ CBYT biết dấu hiệu trẻ bị nhiễm khuẩn 44 Bảng 3.22 Kiến thức và thực hành của CBYT về phòng chống nhiễm khuẩn

khi tiếp xúc với trẻ sơ sinh nhẹ cân 45 Bảng 3.23 Tỷ lệ CBYT theo dõi các dấu hiệu lâm sàng của trẻ 46 Bảng 3.24 Những nội dung CBYT thường thực hiện trong quá trình chăm

sóc trẻ 47

Trang 10

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân 32 Biểu đồ 3.2 Phân bố trẻ sơ sinh nhẹ cân theo dân tộc của bà mẹ 34 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ CBYT có kiến thức và thực hành phòng chống suy hô hấp

cho trẻ sơ sinh nhẹ cân 43 Biểu đồ 3.4 Những kỹ thuật CBYT thực hiện khi trẻ có dấu hiệu của suy

hô hấp 47

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mục tiêu của chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn

2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030 của chính phủ là: Giảm tỷ lệ trẻ có cân nặng

sơ sinh thấp (dưới 2500 gam) xuống dưới 10% vào năm 2015 và dưới 8% vào

năm 2020 Cân nặng sơ sinh phản ánh chế độ dinh dưỡng, lao động và bệnh tật của bà mẹ trong thời kỳ mang thai đồng thời tiên lượng sự phát triển của trẻ sau này [6]

Cân nặng sơ sinh (CNSS) là chỉ số quan trọng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe bà mẹ cũng như sự phát triển về thể chất, tinh thần

và vận động của trẻ sau này Nhẹ cân khi sinh (dưới 2500g) là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến tỷ lệ bệnh tật và tử vong sơ sinh Sơ sinh nhẹ cân là nguyên nhân thứ 2 trong 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sơ sinh tại Hoa Kỳ và chiếm 53,6% trong tổng số tử vong sơ sinh sớm ở các nước thu nhập trung bình và thấp Tại Việt Nam, tỷ lệ trẻ đẻ non/nhẹ cân chiếm 19% trong mô hình bệnh tật và 25% tử vong sơ sinh Cân nặng sơ sinh thấp còn làm giảm miễn dịch, suy dinh dưỡng, giảm khả năng nhận thức và chỉ số thông minh của trẻ đồng thời làm tăng khả năng mắc các bệnh

lý về tim mạch, đái tháo đường khi trưởng thành Cân nặng sơ sinh của trẻ

có liên quan mật thiết với dinh dưỡng của mẹ trước và trong quá trình mang thai [4], [10], [29]

Theo quỹ nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF) năm 2013 trên thế giới có khoảng 22 triệu trẻ sơ sinh nhẹ cân chiếm 16% Phần lớn ở các nước đang phát triển, trong đó các quốc gia Nam Á chiếm tỷ lệ cao nhất tới 28% ở Việt Nam theo Tổng cục thống kê, tỷ lệ sơ sinh nhẹ cân còn ở mức cao và có xu hướng tăng 5,1% năm 2011, 5,7% năm 2014 Sơn La là một tỉnh miền núi, kinh tế còn nghèo, nhiều hủ tục lạc hậu như kết hôn sớm, tỷ lệ tảo hôn và kết hôn cận huyết thống cao, sinh đẻ không kế hoạch, sinh tại nhà, chế độ ăn chưa được quan

Trang 12

tâm, dinh dƣỡng còn thiếu hụt Tỷ lệ trẻ suy dinh dƣỡng tại Sơn La năm 2018 là 20,1% trẻ nhẹ cân, 33% trẻ thấp còi và 9,6% trẻ gầy còm [31]

Tại khoa Sản bệnh viện Đa khoa Mộc Châu hàng năm có khoảng gần

2000 trẻ sơ sinh ra đời trong đó có nhiều trẻ non tháng nhẹ cân, việc chăm sóc những em bé này cũng gặp nhiều khó khăn và tốn kém Việc khám và quản lý thai cũng nhƣ chế độ dinh dƣỡng, lao động nghỉ ngơi của bà mẹ còn nhiều bất cập Vì vậy, để có các dẫn liệu về tỷ lệ sơ sinh nhẹ cân, các yếu tố liên quan,

từ đó đề xuất các biện pháp can thiệp nhằm làm giảm sơ sinh nhẹ cân là việc làm cần thiết, góp phần thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khoẻ trẻ em phòng chống suy dinh dƣỡng tại Sơn La trong những năm tiếp theo Vì vậy,

chúng tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng trẻ sơ sinh nhẹ cân và hoạt động chăm sóc dinh dưỡng tại bệnh viện Đa khoa Mộc Châu năm 2019” Với

các mục tiêu sau:

1 Xác định tỉ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân và một số yếu tố liên quan tại khoa Sản bệnh viện đa khoa Mộc Châu năm 2019

2 Mô tả hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh nhẹ cân của cán

bộ Y tế tại khoa Sản, Nhi bệnh viện Đa khoa Mộc Châu năm 2019

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Đại cương về sơ sinh nhẹ cân

1.1.1 Sơ sinh nhẹ cân

- Một số đặc điểm của sơ sinh nhẹ cân sau:

+ Trẻ đẻ sống (Từ tuần thai thứ 22 và đẻ có dấu hiệu sống: nhịp thở, nhịp tim, cử động)

+ Cân nặng <2500 gam [26]

- Cách tính: Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân được tính theo công thức:

Tổng số sơ sinh nhẹ cân - x 100(%) Tổng số sơ sinh sống

1.1.2 Phân loại sơ sinh nhẹ cân: Theo WHO phân loại trọng lượng trẻ sơ sinh nhẹ cân lúc đẻ như sau:

+ Trẻ thấp cân: Trọng lượng lúc mới đẻ từ 2000 gram đến 2499 gram + Trẻ rất thấp cân: có trọng lượng lúc mới đẻ từ 1.500 gram - 1999 gram + Trẻ rất rất thấp cân: có trọng lượng lúc mới đẻ từ 1000 gram đến

1499 gram

+ Trẻ cực kỳ thấp cân: có trọng lượng lúc mới đẻ dưới 1000 gram

1.1.3 Một số yếu tố liên quan tới sơ sinh nhẹ cân

 Yếu tố dinh dưỡng bà mẹ

Yếu tố dinh dưỡng của bà mẹ sẽ quyết định đến sự phát triển sức khoẻ cho con Trong thời kỳ mang thai, dinh dưỡng của thai nhi phụ thuộc hoàn toàn vào người mẹ Người mẹ không được ăn uống đầy đủ sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của bào thai, trẻ sinh ra sẽ nhẹ cân Vì vậy khi mang thai

bà mẹ sẽ phải ăn nhiều hơn và có một khẩu phần ăn cân đối sẽ giúp bà mẹ

Trang 14

đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng cho sự phát triển của thai nhi và tạo sữa sau này

Tình trạng thiếu dinh dưỡng ở người mẹ được đặc trưng bởi thiếu cân

và chiều cao thấp Đó là hậu quả của quá trình từ khi sinh ra đến khi trưởng thành hay còn gọi là thiếu năng lượng trường diễn Bởi vậy các biện pháp can thiệp dinh dưỡng trực tiếp vào lứa tuổi vị thành niên, phụ nữ ở tuổi sinh đẻ, phụ nữ có thai để đảm bảo dinh dưỡng là rất có hiệu quả nhằm giảm tỷ lệ trẻ nhẹ cân [3], [52]

Tăng cân của người mẹ trong thời gian mang thai có tác dụng trong việc thúc đẩy sự phát triển của thai nhi, đặc biệt đối với bà mẹ có cân nặng thấp trước khi mang thai Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo rằng phụ nữ ở các nước đang phát triển tăng ít nhất 1 kg 1 tháng trong 6 tháng cuối thai kỳ, trong quá trình mang thai tăng ít nhất là 6kg Nếu bà mẹ không tăng đủ 6 kg thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi Theo khuyến cáo thì mức tăng cân lý tưởng nên đạt được trong thời gian mang thai là từ 10-12 kg Tăng cân tốt sẽ đảm bảo cho thai nhi phát triển và cơ thể mẹ sẽ tích luỹ mỡ để tạo sữa sau khi sinh [3], [58]

 Bệnh tật của bà mẹ trong thời kỳ mang thai

Sinh đẻ là một chức năng thiên bẩm của người phụ nữ và trong trường hợp bình thường thì không có ảnh hưởng gì xấu đến sức khoẻ của người phụ

nữ nói chung Tuy nhiên nếu người phụ nữ nằm trong nhóm nguy cơ cao cho thai hoặc cho bản thân mình thì đó có thể là điều cần phải cân nhắc khi mang thai

Tình trạng thai nghén có thể làm sức khoẻ người mẹ xấu đi hay ngược lại, tình trạng sức khoẻ và bệnh tật của người mẹ có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi Nếu người mẹ có thể trạng yếu, thai có thể bị ảnh

Trang 15

hưởng đến phát triển đồng thời người mẹ cũng khó chịu đựng được một cuộc chuyển dạ hao tổn nhiều sức lực

Hậu quả của những tình trạng bệnh lý và ngay cả những bệnh lý này cũng làm giảm năng lượng đưa vào, nếu kéo dài tình trạng giảm cung cấp dinh dưỡng cho người mẹ và thai nhi dẫn đến thai suy yếu Sự trao đổi chất của người mẹ phải duy trì hoặc tăng lên để bảo vệ cơ thể sẽ làm giảm năng lượng cung cấp cho thai Có thể do giảm dòng máu đến nuôi dưỡng cho tử cung, bánh rau, màng ối, làm giảm cung cấp oxy và chất dinh dưỡng dẫn đến trẻ nhẹ cân Các triệu chứng bệnh tật liên quan đến thai nghén như tiền sản giật, sản giật, thiếu máu… sẽ cản trở sự phát triển của thai gây đẻ non và chậm phát triển trong tử cung [15], [57]

Nghiên cứu của tác giả Trương Ngô Ngọc Lan cho thấy bà mẹ sinh con

từ lần thứ 3 trở đi khả năng sinh con nhẹ cân cao gấp 19 lần các bà mẹ sinh con lần đầu hoặc lần thứ 2 Giới tính của con lần này cùng giới với con lần trước làm tăng khả năng sinh con nhẹ cân gấp 5,01 lần so với giới tính của con lần này khác giới với con lần trước Bà mẹ nghén nhiều trong thai kỳ tăng khả năng sinh con nhẹ cân cao gấp 8,78 lần bà mẹ không nghén, nghén ít hoặc trung bình Bà mẹ mắc bệnh trong 6 tháng cuối của thai kỳ có khả năng sinh con nhẹ cân cao gấp 4,7 lần các bà mẹ không mắc bệnh trong 6 tháng cuối [12]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình thì bệnh tật của bà mẹ trong thời kỳ mang thai như một số yếu tố nguy cơ đẻ non từ phía mẹ là ối vỡ non 44,9%, mẹ sốt trước, trong hoặc sau sinh 3 ngày 23,6%, mẹ trên 35 tuổi 15,7%, mẹ bị tiền sản giật 12,4% [3]

Nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Quỳnh Lan phân tích hồi quy logistic

đa biến cho thấy viêm nha chu là yếu tố nguy cơ độc lập của sinh non – sinh nhẹ cân với tỉ số chênh OR đã hiệu chỉnh là 1,97 (KTC 95%: 1,01 – 3,84) Yếu tố nguy cơ khác là tăng trọng của mẹ trong thai kỳ với: tăng trọng < 6 kg

Trang 16

(OR = 22,42, KTC 95%: 7,4 – 67,92), tăng trọng 6 – 9 kg (OR = 4,1, KTC 95%: 2,05 – 8,21) [11]

 Tiền sử sản khoa

Việc tiên lượng sinh non dựa trên tiền sử sản khoa đã được thực hiện từ trước đến nay để có các biện pháp can thiệp kịp thời cho lần mang thai tiếp theo như khâu vòm cổ tử cung hoặc tiêm dự phòng progesterone cho những thai nghén nguy cơ cao [5] Tuy nhiên tỷ lệ sinh non vẫn không hề giảm trong vòng 30 năm cho tới thời điểm hiện tại chủ yếu do chưa tìm được phương pháp phát hiện sớm sinh non trong thăm khám sản khoa thường quy Các nhà khoa học đầu ngành sản khoa vẫn đang nỗ lực không ngừng tìm kiếm các biện pháp phát hiện sớm sinh non để có các biện pháp can thiệp sớm giảm nguy cơ cho mẹ và thai nhi Các yếu tố được sử dụng để tiên lượng như siêu âm đo chiều dài cổ tử cung, siêu âm hình thái thai nhi, sinh con so hay con rạ, kết hợp siêu âm đo chiều dài cổ tử cung và yếu tố tiền sử sản khoa, kết hợp đo chiều dài CTC với tiền sử sản khoa và đặc điểm cá nhân của mẹ như chiều cao, cân nặng ….[18], [19], [35]

 Khoảng cách giữa các lần sinh

Khi khoảng cách giữa 2 lần sinh quá gần nhau người phụ nữ không thể tránh khỏi được những nguy cơ xảy ra với bản thân cũng như thai nhi Đối với thai phụ sinh mổ, nguy cơ cho bà mẹ có thể tiên lượng ngay là chửa vết mổ, rau cài răng lược, vỡ tử cung… còn đối với thai nhi thì có nguy cơ cao sinh non, nhẹ cân, chậm phát triển trong tử cung [20], [39]

 Tuổi người mẹ

Tuổi mẹ càng cao, cơ thể mẹ càng suy thoái, các mạch máu lưu thông không tốt làm hạn chế lượng máu nuôi thai gây chậm phát triển trong tử cung Mặt khác các bà mẹ lớn tuổi thường chịu ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý, gánh nặng công việc hơn các bà mẹ trẻ tuổi Tuổi người mẹ có liên quan

Trang 17

nhiều đến cân nặng sơ sinh sau đẻ Sản phụ có thai lần đầu ở tuổi trên 35 cũng

có nguy cơ kèm theo khi sinh đẻ lần đầu, không tiên lượng được trước nguy

cơ khi sinh do những thay đổi về giải phẫu và sinh lý ảnh hưởng đến sức khoẻ Sau 35 tuổi mới sinh con thì đứa trẻ có nguy cơ cao dị tật bẩm sinh và chậm phát triển trí tuệ có thể hoặc không phát hiện ra ngay sau sinh mà đến một vài năm sau mới biểu hiện bệnh [21], [40]

 Lao động nặng trong thời gian mang thai

Điều kiện làm việc nặng nhọc, nhiều chấn động, tiếp xúc với môi trường độc hại, sẽ gây nhiều biến chứng cho thai như sẩy thai, đẻ non Môi trường sống, vệ sinh và lao động của người phụ nữ trong thời gian mang thai

có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và sức khoẻ của thai nhi Trong thời gian mang thai nếu người phụ nữ lao động nặng nhọc thì sẽ có nguy cơ sinh non và nhẹ cân [27], [42]

Nghiên cứu của Bansal.P và cộng sự về các yếu tố nguy cơ trong công việc hàng ngày với thời gian mang thai, tuổi thai lúc sinh và cân nặng lúc sinh cho thấy phụ nữ làm công việc nhẹ nhàng, mang vác, thao tác với những dụng

cụ dưới 5kg thì có khả năng thụ thai và sinh con tốt nhất Nếu tiếp xúc với thuốc trừ sâu thì giảm thời gian mang thai và sinh con nhẹ cân lần lượt là 2,16 lần và 2,42 lần so với những bà mẹ không tiếp xúc [34]

Trong một nghiên cứu khác của tác giả Chhea C thì những bà mẹ đứng nhiều có nguy cơ sinh non cao gấp 2,72 lần Khi phân tích hồi quy đa biến bao gồm các yếu tố như hút thuốc, dùng cafein, chủng tộc, trình độ học vấn, tuổi thai, tình trạng hôn nhân thì nhóm phụ nữ đứng nhiều có nguy cơ sinh con nhẹ cân cao (<2500g) [37], [57]

Trang 18

 Các yếu tố kinh tế-xã hội

Bệnh sinh của sinh non hiện tại vẫn chưa được tìm hiểu rõ về cơ chế tuy nhiên ngoài những yếu tố về phía thai nhi và thai phụ thì những yếu tố thuộc kinh tế-xã hội cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh non và sinh non nhẹ cân

Nghiên cứu trên thế giới cũng đã chỉ ra những ảnh hưởng nhất định của các yếu tố như học vấn, thu nhập, tội phạm… đến tỷ lệ sinh non của người phụ nữ Nhiều nghiên cứu cũng ghi nhận tỷ lệ sinh non và sinh non nhẹ cân cao hơn 50% ở nhóm mẹ làm công việc chân tay tiếp xúc với điện, sắt thép, thuộc da so với nhóm không tiếp xúc

 Các yếu tố về phía thai

- Bất thường nhiễm sắc thể đặc biệt là Trisomie 13,18,21

- Dị dạng bẩm sinh: Tim bẩm sinh, hẹp thực quản, teo tá tràng

- Đa thai: hay gặp tình trạng đẻ non, cân nặng của trẻ sơ sinh thấp Giới của trẻ: trẻ trai thường có cân nặng cao hơn trẻ gái do sự phát triển

tự nhiên của giới tính

 Các yếu tố về phía phần phụ của thai

Rau tiền đạo

Rau tiền đạo (RTĐ) là bệnh lý bánh rau bám ở đoạn dưới và gần cổ tử cung, nó chặn phía trước và cản trở đường ra của thai nhi khi chuyển dạ đẻ Bệnh lý này gây chảy máu trong 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén, trong chuyển dạ và sau đẻ RTĐ có nguy cơ gây tử vong cho người mẹ hoặc cho con do chảy máu và đẻ non [26], [46]

Trang 19

+ Thiếu ối: Thiếu ối cấp thường do vỡ ối gây ra, thiếu ối mãn thường

do bệnh lý của thai Thiếu ối hay gặp ở một số bệnh lý như tiền sản giật, dị dạng bẩm sinh ở thận hay thai chậm phát triển trong tử cung

1.2 Thực trạng sơ sinh nhẹ cân trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình sơ sinh nhẹ cân trên thế giới

Cân nặng khi sinh thấp được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa

là cân nặng khi sinh dưới 2500g Cân nặng khi sinh thấp tiếp tục là một vấn

đề sức khỏe cộng đồng đáng quan tâm trên toàn cầu và có liên quan đến một loạt các hậu quả ngắn hạn và dài hạn Ước tính 15% đến 20% tổng số ca sinh trên toàn thế giới là sơ sinh nhẹ cân, đại diện cho hơn 20 triệu ca sinh mỗi năm Mục tiêu của WHO là giảm 30% số trẻ sơ sinh được sinh ra với cân nặng thấp hơn 2500 g vào năm 2025 [58]

Theo Quỹ Nhi đồng liên hợp quốc gần 22 triệu trẻ sơ sinh tức khoảng 16% trẻ sơ sinh nhẹ cân trên toàn cầu Có sự khác nhau đáng kể trong tỷ lệ SSNC giữa các khu vực và trong mỗi nước Tuy nhiên, phần lớn trẻ SSNC ở các nước có thu nhập trung bình và thấp Theo ước tính năm 2013, tại khu vực Nam Á tỷ lệ SSNC là 28%, 13% ở châu Phi cận Sahara và 9% trong các nước

Mỹ Latinh [48], [52], [56], [58] Bên cạnh đó một số quốc gia có thu nhập cao cũng đang phải đối mặt với một tỷ lệ đáng kể SSNC, ví dụ như Tây Ban Nha 8%, Hoa Kỳ là 8%, Vương quốc Anh 7%, Bắc Ireland 5% Trong cùng một quốc gia tỷ lệ SSNC cũng rất khác nhau theo từng vùng kinh tế Ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội cao nhất có khả năng được chăm sóc y tế đầy đủ với tiêu chuẩn chăm sóc tương tự như ở các nước có thu nhập cao nên có tỷ lệ SSNC thấp hơn so với khu vực có điều kiện kinh tế xã hội thấp Tại Ấn Độ, nơi có thu nhập cao tỷ lệ trẻ SSNC là 10% và nơi có thu nhập thấp nhất tỷ lệ này lên cao nhất đến 56% [35], [41], [52]

Trang 20

Nghiên cứu của tác giả Rajat Das Gupta về tình trạng cân nặng khi sinh thấp ở Afghanistan qua cuộc khảo sát sức khỏe và nhân khẩu học 2015 cho thấy trong số 2773 trẻ sơ sinh, 15,5% (n = 431) có cân nặng sơ sinh thấp Hầu hết những trẻ sơ sinh này là nữ (58,3%, n = 251), có mẹ không đi học chính thức (70,5%, n = 304), sống ở khu vực thành thị (63,4%, n = 274) hoặc sống ở khu vực miền Trung Afghanistan (59,7%, n = 257) [43]

Nghiên cứu của tác giả Mahumud RA khi khảo sát Sức khỏe và Nhân khẩu ở các nước đang phát triển dựa trên tính sẵn có của thông tin cần thiết cho các năm 2010 đến 2013 cho thấy tỷ lệ sơ sinh nhẹ cân ở các nước nghiên cứu là 15,9% Các yếu tố sau đây cho thấy có mối liên quan đáng kể với nguy

cơ sinh con nhẹ cân ở các nước đang phát triển: tuổi mẹ từ 35 đến 49 tuổi, chăm sóc tiền sản không đầy đủ, mù chữ, trì hoãn thụ thai, chỉ số khối cơ thể thấp và nằm trong tầng kinh tế xã hội kém nhất [53]

Nghiên cứu của tác giả Oladeinde HB khi xác định tỷ lệ và các yếu tố rủi ro liên quan đến việc sinh ra trẻ sơ sinh nhẹ cân trong nhà sinh truyền thống tại Thành phố Bénin, Nigeria cho thấy tỷ lệ sinh nhẹ cân là 6,3% và bị ảnh hưởng đáng kể bởi tuổi mẹ (p = 0,039), tuổi thai (p = 0,009), chiều cao của mẹ (p = 0,001), tình trạng hôn nhân (p = 0,015) Thiếu máu ở người mẹ được xác định là yếu tố nguy cơ trong việc sinh ra trẻ sơ sinh nhẹ cân [54]

Nghiên cứu của tác giả Eyasu Alem Lake về cân nặng sơ sinh thấp và các yếu tố liên quan của ở trẻ sơ sinh được sinh tại Bệnh viện Đại học Wolaita Sodo, Nam Ethiopia năm 2018 cho thấy trong nghiên cứu này, tổng cộng 304 cặp mẹ - con mới sinh được đưa vào nghiên cứu với độ tuổi trung bình (± SD) của các bà mẹ là 25 ± 5 tuổi, từ 12 đến 35 tuổi Trong tổng số 304 trẻ, 48 trẻ

có cân nặng sơ sinh thấp, với tỷ lệ là 15,8% Trọng lượng trung bình (± SD) của trẻ sơ sinh là 2971 ± 0,783gm, dao động từ 1600gm đến 4800gm [49]

Trang 21

Cân nặng khi sinh thấp ở trẻ sơ sinh tại Campuchia trong phân tích khảo sát Sức khỏe và Dân số 2010-2014 của tác giả Chhorvann Chemat cho thấy tỷ lệ sơ sinh nhẹ cân từ 2010 đến 2014, ở mức khoảng 7,0% Các yếu tố liên quan độc lập với cân nặng sơ sinh bao gồm mẹ không được giáo dục so với những người có mẹ có trình độ học vấn trung học trở lên, những đứa trẻ được sinh ra từ những bà mẹ có < 4 lần khám thai trong thời kỳ mang thai Ngoài ra, những đứa trẻ sinh ra đầu tiên có nguy cơ cân nặng sơ sinh thấp cao hơn so với những đứa trẻ được sinh ra lần thứ hai [37]

Nghiên cứu của tác giả Issara Siramaneerat về các yếu tố rủi ro bà mẹ liên quan đến cân nặng khi sinh thấp ở Indonesia cho thấy tỷ lệ sơ sinh nhẹ cân trong nghiên cứu hiện tại là 10,2%, phân tích logistic đa biến cho thấy tuổi của mẹ khi sinh, giáo dục của mẹ, thiếu chăm sóc trước sinh và biến chứng thai kỳ có liên quan đáng kể đến cân nặng khi sinh thấp [57]

Tỷ lệ sơ sinh nhẹ cân và các yếu tố liên quan ở trẻ sơ sinh tại các bệnh viện ở khu vực Kambata -Tembaro, miền nam Ethiopia năm 2018 của tác giả Abebe Alemu cho thấy tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân là 18% và có liên quan đáng

kể đến tình trạng không có việc làm của các bà mẹ, cư trú ở nông thôn, mang thai ngoài ý muốn, không đi khám thai, bà mẹ sinh nhiều hơn ba lần sinh, khoảng cách sinh nhỏ hơn hoặc bằng hai [33]

Ước tính quốc gia, khu vực và trên toàn thế giới về tỷ lệ sinh thấp trong năm 2015 của tác giả Hannah Blencowe khi đối chiếu 1447 dữ liệu về cân nặng khi sinh của quốc gia (281 triệu ca sinh) cho 148 quốc gia Tỷ lệ hiện mắc sơ sinh nhẹ cân trên toàn thế giới ước tính trong năm 2015 là 14,6% Trong năm 2015, ước tính khoảng 20,5 triệu là sơ sinh nhẹ cân, 91% từ các nước thu nhập thấp và trung bình, chủ yếu là miền nam châu Á (48%) và châu Phi cận Sahara (24%) [36]

Trang 22

Nghiên cứu của tác giả He Z và Bishwajit về tỷ lệ sơ sinh nhẹ cân và mối liên hệ với tình trạng trọng lượng cơ thể của người mẹ ở các quốc gia được lựa chọn ở Châu Phi cho thấy tỷ lệ mắc sơ sinh nhẹ cân ở Burkina Faso, Ghana, Ma-la-uy, Sê-nê-gan và U-crai-na lần lượt là 13,4%, 10,2%, 12,1%, 15,7% và 10% So với những phụ nữ có cân nặng bình thường, những bà mẹ thiếu cân có khả năng sinh con nhẹ cân cao hơn ở tất cả các quốc gia trừ Ghana [59]

Nghiên cứu của tác giả Prerna Bansal về tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân và mối liên hệ của nó với các yếu tố rủi ro về văn hóa xã hội và bà mẹ trong số các ca sinh tại Bharatpur, Nepal cho thấy trong số 220 trẻ nghiên cứu, tỷ lệ sơ sinh nhẹ cân là 23,6% (với 95% CI 21,88 đến 25,32%) [34] Nghiên cứu của tác giả Muhammad Waseem Khan về các yếu tố ảnh hưởng và gây ra cân nặng khi sinh thấp cho thấy tỷ lệ sơ sinh nhẹ cân tại một số quốc gia là Ấn Độ 28%, Bangladesh 22%, Ê-díp-tô 20%, Nigeria 27%, Mauritania 34%, Nepal 21% và Pakistan 32% [47]

1.2.2 Tình hình sơ sinh nhẹ cân ở Việt Nam

Tại Việt Nam, số liệu tỷ trẻ SSNC được thu thập qua hệ thống báo cáo thường quy và một số nghiên cứu, tỷ lệ này nhìn chung thay đổi tùy thuộc vào thời gian và cơ quan thông tin

Cân nặng lúc sinh là một chỉ tiêu tốt thể hiện sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng của người mẹ, đồng thời thể hiện cơ hội sống sót, trưởng thành, phát triển sức khỏe trong thời gian dài và tâm lý xã hội của trẻ em mới sinh Trẻ sơ sinh nhẹ cân (dưới 2.500 gam) gặp nhiều rủi ro về sức khỏe Trẻ em bị thiếu dinh dưỡng ngay trong bụng mẹ gặp nguy cơ tử vong cao trong những tháng năm đầu đời Những trẻ em còn sống thường có hệ thống miễn dịch yếu hơn và có nguy cơ bị nhiễm bệnh tật cao; những trẻ em này có khả năng tiếp tục bị suy dinh dưỡng và không có sức mạnh thể chất trong suốt cuộc đời, do

Trang 23

vậy có nguy cơ bị đái đường và mắc bệnh tim mạch sau này Trẻ em sinh nhẹ cân cũng thường có chỉ số thông minh thấp và khả năng nhận thức kém, ảnh hưởng đến khả năng học tập và cơ hội làm việc khi trưởng thành

Ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam trẻ sơ sinh nhẹ cân chủ yếu do tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng kém của bà mẹ Ba yếu tố quan trọng nhất có ảnh hưởng là: tình trạng dinh dưỡng kém của bà mẹ trước khi mang thai, bà mẹ thấp bé (chủ yếu là do tình trạng dinh dưỡng kém và bệnh tật khi bà mẹ còn nhỏ) và chế độ dinh dưỡng kém khi mang thai Tăng cân chậm trong thời kỳ mang thai đặc biệt quan trọng vì đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự kém phát triển của bào thai Hơn nữa, các bệnh tật phổ biến ở các nước đang phát triển như tiêu chảy và sốt rét có thể làm giảm đáng kể sự phát triển của bào thai nếu người mẹ bị mắc những bệnh này trong quá trình mang thai [22], [30]

Theo tổng cục thống kê điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ năm 2011 trên cả nước, có 93,2% trẻ em được cân khi sinh ra và khoảng 5,1% trẻ em có cân nặng lúc sinh dưới 2.500 gam Có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng hoặc trình độ học vấn của người mẹ Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân không chênh lệch nhiều giữa thành thị và nông thôn

Dữ liệu từ tổng cục thống kê và UNICEF năm 2015 cho thấy chỉ có 5,7% trẻ em Việt Nam có cân nặng khi sinh dưới 2,5 kg Số liệu trên được tính toán dựa trên các báo cáo về 94% phụ nữ sinh con tại các cơ sở y tế, tuy nhiên cần lưu ý các trường hợp ngoại lệ vừa được đề cập [23]

Tỉ lệ trẻ nhẹ cân ở nhóm dân tộc thiểu số và dân cư sống ở khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên cao hơn mức trung bình toàn quốc và tỉ lệ trẻ nhẹ cân của dân tộc Kinh Tỉ lệ trẻ nhẹ cân ở các dân tộc thiểu số là 8,1%

số trẻ được cân khi sinh so với tỉ lệ ở dân tộc Kinh là 5,2% 14,6% các bà mẹ người dân tộc thiểu số không có điều kiện cân được em bé khi sinh cho biết

Trang 24

con của mình rất nhỏ hoặc nhỏ hơn mức trung bình Chỉ 8,7% các bà mẹ người Kinh đưa ra nhận định tương tự Tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc, 6,2% số trẻ được xác định là nhẹ cân khi sinh thông qua việc đo cân nặng và tỷ lệ này ở khu vực Tây Nguyên là 7,2% Nhìn chung, 85,6% trẻ sơ sinh ở Tây Nguyên và 79,2% trẻ sơ sinh ở vùng núi phía Bắc được cân sau khi sinh [23]

Nghiên cứu của tác giả Kiên Thị Sare trên phụ nữ Khmer có tuổi thai

≥ 37 tuần đến sinh tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Trà Vinh từ tháng 11/2015 đến 03/2016 cho thấy trong 386 trẻ sinh ra sống có 31 trẻ có cân nặng lúc sinh

< 2500g Tỷ lệ trẻ nhẹ cân lúc sinh là 8,03% Các yếu tố có liên quan đến trẻ nhẹ cân lúc sinh: gia đình có tình trạng kinh tế nghèo (OR = 8,45; CI95% = 3,09 - 23,03), tăng cân trong thai kỳ ≤ 9 kg (OR= 3,18, CI95% = 1,13- 8,89), khám thai dưới 3 lần trong thai kỳ (OR= 4,29; CI95% = 1,34 - 13,76), bà mẹ mắc bệnh trong thai kỳ [16]

Nghiên cứu của tác giả Lê Ngọc Ánh trên tất cả các trẻ sơ sinh non tháng, nhẹ cân đang nằm tại khoa hồi sức sơ sinh bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/6/2017 đến 01/11/2017 cho thấy trẻ có tuổi thai từ 28 đến dưới 32 tuần chiếm tỉ lệ cao nhất 54,2% Trẻ có cân nặng lúc sinh từ 1500 gr đến dưới

2500 gr chiếm tỉ lệ cao nhất 51%, trẻ cực nhẹ cân (dưới 1000 gr) chiếm 12,5% [1]

Nghiên cứu cắt ngang của tác giả Ngô Thị Kim Phụng được tiến hành tại bệnh viện đa khoa Bạc Liêu từ 10/1015 đến 02/2016 Các sản phụ sau sinh

ở thai kỳ từ 37 tuần trở lên tại bệnh viện đa khoa Bạc Liêu sẽ được phỏng vấn theo bộ câu hỏi soạn sẵn Có 550 thai phụ tham gia nghiên cứu trong đó có 42 trẻ sinh nhẹ cân, tỷ lệ trẻ sinh nhẹ cân là 7,6% Các yếu tố liên quan đến việc sinh nhẹ cân gồm: Khoảng cách giữa hai lần sinh < 24 tháng (OR= 0,01; [0,0- 0,1]); tiền sử sinh con nhẹ cân trước đó (OR= 8,9; [4,1 - 19,4]); cân nặng

Trang 25

trước mang thai < 40 kg (OR= 0,2; [0,1 – 0,5]); mức tăng cân trong cả thai kỳ

< 9kg (OR= 0,3; [0,2 – 0,8]); mẹ mắc bệnh trong thời gian mang thai (OR= 0,1; [0,2 – 1,0]); khám thai < 3 lần trong suốt thai kỳ (OR= 0,6; [0,5- 3]) [14]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tấn Thành khi xác định tỉ lệ sơ sinh nhẹ cân so với tuổi thai theo biểu đồ Intergrowth - 21 ở thai kì 34 - 40 tuần tại bệnh viện Hùng Vương với 2125 trường hợp sinh và mổ sinh tại bệnh viện Hùng Vương thảo tiêu chuẩn nhận mẫu, tỉ lệ sơ sinh nhẹ cân so với tuổi thai theo biểu đồ Intergrowth - 21 là 5,8% (CI95% 4,8 - 6,8) Tăng cân thiếu trong thai kì dẫn đến tăng nguy cơ trẻ sơ sinh nhẹ cân so với tuổi thai hơn 5 lần (OR 5,45, CI95% 3,03 - 9,79) Đường kính lưỡng đỉnh, chiều dài xương đùi và chu

vi bụng dưới bách phân vị 10 theo biểu đồ sinh trắc Intergrowth - 21 làm tăng nguy cơ sơ sinh nhẹ cân so với tuổi thai lên lần lượt OR 4,82 [CI95% 2,94 - 7,90], OR 3,13 [CI95% 1,93 - 5,03], OR 12,2 [CI95% 7,86 - 19,39] [20]

Nghiên cứu cắt ngang của tác giả Nguyễn Thị Diệu Trang được thực hiện trên phụ nữ Ê Đê có tuổi thai từ 37 tuần trở lên đến sinh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh ĐắkLắk từ tháng 11/2014 đến 03/2015 Trong 385 trẻ sinh ra sống

có 47 trẻ có cân nặng lúc sinh < 2500g Tỷ lệ trẻ nhẹ cân lúc sinh là 12,21% Các yếu tố có liên quan đến trẻ nhẹ cân lúc sinh: gia đình có tình trạng kinh tế nghèo (OR* = 3,80; KTC 95% = 1,66 - 8,68), chỉ số khối cơ thể của mẹ trước mang thai < 18.5 (OR*= 2,44; KTC 95% = 1,01 - 5,86), tăng cân trong thai kỳ

≤ 9 kg (OR*= 3,77; KTC 95% = 1,66 – 8,58), khám thai dưới 3 lần trong thai

kỳ (OR*= 2,54; KTC 95% = 1,08 - 5,94), bổ sung sắt không đầy đủ trong thai

kỳ (OR*= 2,69; KTC 95% = 1,10 - 6,57), bà mẹ mắc bệnh trong thai kỳ (OR*= 4,76; KTC 95% = 2,03 - 10,61) [24]

Nghiên cứu cắt ngang của tác giả Nguyễn Thu Trinh tại bệnh viện đa khoa khu vực Hóc Môn TP.HCM cho thấy 230 trẻ sơ sinh tại bệnh viện có cân nặng sơ sinh trung bình là 3117,4 ± 441,9 gam, với 6,5% trẻ nhẹ cân, và

Trang 26

2,2% trẻ quá cân Các yếu tố có liên quan đến nhẹ cân sơ sinh bao gồm học vấn của mẹ (p=0,025), cân nặng mẹ trước mang thai (p=0,043) và tăng cân trong thai kỳ (p=0,037) với p<0,05 Tỉ lệ trẻ nhẹ cân trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Khoa là 11% với KTC 95%: 8,32 – 13,68 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ trẻ nhẹ cân ghi nhận: Điều kiện kinh tế ở mức nghèo nguy cơ gấp 2,87 lần (OR=2,87 với KTC95% [1,12-7,32]), sản phụ không khám thai hoặc chỉ khám 1 lần trong thai kỳ nguy cơ gấp 3,2 lần (OR=3,2 với KTC95% [1,65-6,23], sản phụ có chế độ dinh dưỡng kém khi mang thai nguy cơ gấp 7,41 lần (OR=7,41 với KTC95% [2,85-19,24]) [25]

Nghiên cứu của Phạm Thị Kim Thủy được tiến hành tại Bệnh viện Phụ sản Tiền Giang tổng cộng có 2327 trẻ sơ sinh ra sống trong đó có 135 trẻ có cân nặng nhỏ hơn 2500g, kết quả cho thấy tỉ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân là 5,8% Trong số trẻ sinh ra nhẹ cân chủ yếu có cân nặng từ 1500g đến 2499g chỉ có 5 trẻ có cân nặng từ 1000g đến 2499g và không có trẻ nào có cân nặng dưới 1000g Các yếu tố liên quan đến trẻ sơ sinh nhẹ cân gồm có: Những bà mẹ sống ở nông thôn (với p = 0,007, OR = 1,91), trình độ học vấn của những bà

mẹ học từ cấp 2 trở xuống (p =0,025, OR =2,06), những bà mẹ có kinh tế gia đình nghèo khó (p < 0,0001, OR = 13,76), các bà mẹ khám thai < 3 lần (p < 0,0001, OR = 4,7), bệnh của bà mẹ lúc mang thai (p < 0,0001, OR = 9,7), những bà mẹ trong thời gian mang thai buồn phiền, lo lắng (p < 0,0001,

OR = 6) Ngoài ra còn các yếu tố khác: chiều cao mẹ, cân nặng của bà mẹ trước khi mang thai, mức tăng cân trong thai kỳ, người cha hút thuốc lá Các yếu tố trên khi phân tích đa biến thì còn lại 4 yếu tố liên quan độc lập: Cân nặng của bà mẹ trước mang thai < 45kg, tăng cân trong thai kỳ < 8kg, mẹ có kinh tế gia đình nghèo khó, mẹ bị bệnh lúc mang thai [21]

Nghiên cứu của Trần Thanh Nhàn khi xác định tỉ lệ trẻ nhẹ cân lúc sinh trên tổng số trẻ sinh sống và các yếu tố liên quan ở huyện Củ Chi cho thấy có

Trang 27

tất cả 590 cặp bà mẹ - trẻ sinh sống được đưa vào phân tích Tỉ lệ sơ sinh nhẹ cân là 6,6% (39/590) Khi phân tích đơn biến và đa biến, các yếu tố: gia đình thuộc hộ xóa đói giảm nghèo [OR=7,9 (2,6-24,2)], chiều cao thai phụ ≤ 145cm [OR=5,3 (1,7-17,0)], tăng cân trong thai kỳ ≤ 9kg [OR=3,5 (1,5-8,0)] và sinh con lần đầu [OR=2,5 (1,1-5,8)] có nguy cơ gây sinh nhẹ cân [13]

Nghiên cứu của tác giả Ngô Toàn Anh tại huyện Đông Anh, Hà Nội cho thấy tỷ lệ trẻ được sinh ra non (trước 37 tuần mang thai) vẫn chiếm tỷ lệ khá cao (6,2%) Tỷ lệ trẻ được sinh ra nhẹ cân (dưới 2.500g) chiếm tỷ lệ 4,9% Đối với nhẹ cân khi sinh, các yếu tố nguy cơ bao gồm: ra máu âm đạo trong khi mang thai, bị bạo lực thể xác và bị trầm cảm khi mang thai Những

bà mẹ có dấu hiệu ra máu âm đạo có nguy cơ sinh con nhẹ cân cao gấp 2,8 lần những bà mẹ không có dấu hiệu ra máu âm đạo Những bà mẹ bị bạo lực thể xác có nguy cơ sinh con nhẹ cân trong lần mang thai này cao hơn 5,4 lần những bà mẹ không bị bạo lực thể xác Những bà mẹ bị trầm cảm trước sinh

có nguy cơ sinh con nhẹ cân cao gấp 2,5 lần những bà mẹ không bị trầm cảm trước sinh [2]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Khoa trên các thai phụ sống tại Bình Phước từ ba năm trở lên, có tuổi thai từ 37 tuần đến hết tuần thứ 41, chuyển dạ sinh cho thấy cân nặng trung bình của 518 trẻ là: 2.983,71 ± 392,63 gram Tỷ lệ sơ sinh nhẹ cân chiếm 11% Các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ trẻ nhẹ cân trong nghiên cứu này là: điều kiện kinh tế của sản phụ ở mức nghèo Sản phụ không đi khám tiền thai hoặc chỉ đi khám có 1 lần trong thai kỳ Sản phụ có chế độ dinh dưỡng kém trong quá trình mang thai [9]

1.3 Thực trạng hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh của cán

bộ Y tế hiện nay

Nguồn nhân lực Y tế cùng với cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và thuốc thiết yếu có tầm quan trọng đặc biệt trong chăm sóc sơ sinh Nguồn nhân lực

Trang 28

trong CSSS bao gồm cả số lượng CBYT, phân bố CBYT cũng như kiến thức

và thực hành của CBYT, đặc biệt là của các cán bộ trực tiếp CSSS là những người đóng góp phần rất quan trọng vào số lượng và chất lượng dịch vụ CSSS Theo quy định của Bộ Y tế, nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch

vụ CSSS, bệnh viện huyện phải có bác sĩ chuyên ngành sản/phụ khoa, nhi khoa, nữ hộ sinh trung cấp hay y sĩ chuyên ngành nhi và sản, và các nhân viên chuyên sâu

Tuy nhiên, theo kết quả báo cáo hộ sinh Việt Nam năm 2016 và một số nghiên cứu chỉ ra rằng các bệnh viện huyện thiếu bác sĩ, đặc biệt người có chuyên môn sâu về sơ sinh Thiếu CBYT cũng được coi là những khó khăn và rào cản trong việc thực hiện dịch vụ chăm sóc trẻ sơ sinh có chất lượng cả ở trong nước và ngoài nước Một số vấn đề khác cũng đáng quan tâm như chất lượng làm việc thấp, hoặc việc thuyên chuyển quá nhiều do nhân viên không được đào tạo, phụ cấp thấp hoặc công việc tạm thời Các nghiên cứu đều cho kết quả chung là kiến thức và kỹ năng của nhân viên y tế về CSSS còn hạn chế Nhiều nhân viên y tế không hề được đào tạo lại sau khi đã tốt nghiệp đại học hoặc trung học y tế trong nhiều năm Mặc dù nhiều tỉnh/thành phố nhận được các dự án can thiệp để tăng cường năng lực cho các nhân viên y tế qua các chương trình đào tạo, các tài liệu đào tạo lại không có một chuẩn chung

và ít mang tính thực tiễn cho công việc [4] Kinh nghiệm trên thế giới và Việt Nam cho thấy chương trình đào tạo cần phải tiến hành đồng thời với việc nâng cấp cơ sở vật chất như dụng cụ và thuốc men thì mới có thể mang lại hiệu quả cao trong CSSS [45], [56]

Các nghiên cứu trên thế giới về kiến thức, thực hành chăm sóc sơ sinh

đã được thực hiện nhiều cho thấy ở các nước phát triển các nội dung CSSS cũng như kiến thức và kỹ năng của CBYT rất chuẩn mực, do vậy tỷ suất tử vong cũng như mắc bệnh của trẻ sơ sinh giảm rất thấp [55], [38], [44] Tỷ lệ

Trang 29

cán bộ trực tiếp làm công tác CSSS có kiến thức và kỹ năng tốt trong CSSS rất cao, chiếm từ 90-100% Tại các quốc gia trên tỷ suất tử vong của trẻ sơ sinh giảm xuống chỉ từ 2-3 trẻ/1000 trẻ đẻ sống [50] Ngược lại, tại các nước đang phát triển ở Châu Á, châu Phi các nghiên cứu cho thấy các hướng dẫn chuẩn về CSSS cũng như kiến thức và kỹ năng CSSS là khá thấp Tỷ lệ cán

bộ trực tiếp làm công tác CSSS có kỹ năng tốt trong CSSS ở các tuyến dao động trong khoảng từ 10-50% Tỷ lệ CBYT trực tiếp làm công tác CSSS thấp nhất là ở tuyến xã phường và tương đương, dao động trong khoảng 5-20% và

ở tuyến huyện, tỷ lệ CBYT trực tiếp làm công tác CSSS dao động trong khoảng từ 20-60% [51]

Nghiên cứu của tác giả Tạ Như Đính tại hai bệnh viện huyện tỉnh Đắk Lắk, chỉ có 18/29 nội dung chăm sóc sơ sinh được cung cấp theo Hướng dẫn Quốc gia Tỷ lệ các cán bộ y tế tại bệnh viện huyện có kiến thức về thực hành chăm sóc sơ sinh còn nhiều hạn chế Tỷ lệ cán bộ y tế huyện được đánh giá có kiến thức ở mức trung bình về chăm sóc sức khỏe trẻ sơ sinh (63,8%), khá (23,7%) và kém (12,5%) Tỷ lệ cán bộ y tế huyện có kiến thức về thực hành CSSS ở mức khá chiếm 23,2%, trung bình chiếm 54,7% và dưới trung bình chiếm 22,1% Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế cho CSSS tại 2 bệnh viện huyện là khá tốt, đảm bảo cho chăm sóc và cấp cứu sơ sinh Tình trạng thiếu thuốc thiết yếu cho CSSS khá phổ biến, tại cả 2 bệnh viện huyện chỉ có 7/12 loại thuốc là đủ [7]

Nghiên cứu của tác giả Lương Ngọc Trương, ở 3 bệnh viện huyện, 60 cán bộ y tế ở 32 xã cho thấy chỉ có 50% cán bộ y tế kể được những nội dung

về chăm sóc sơ sinh Đặc biệt, chỉ có 20% cán bộ y tế tuyến huyện kể được các nội dung CSSS như chăm sóc mắt, cân trẻ, tiêm Vitamin K1, tiêm phòng lao và viêm gan [28]

Trang 30

Nghiên cứu của tác giả Phạm Thúy Quỳnh về việc thực hiện quy trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau sinh Số điểm trung bình một quy trình của các nhân viên y tế đạt được khá cao 94,03±5,42 điểm,

có 54 trường hợp đạt 100 điểm, thấp nhất là 71 điểm; 84,8% nhân viên thực hiện đạt trên 90 điểm quy trình chăm sóc thiết yếu Trong số các quy trình được quan sát, có 2,4% quy trình đạt dưới 80 điểm Nhân viên Y tế thực hiện quy trình chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh tốt tuy nhiên vẫn cần phải đẩy mạnh việc tư vấn, hỗ trợ cho con bú [15]

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà trên 236 cán bộ y tế tại các trạm y tế xã thuộc 3 khu vực của tỉnh Hòa Bình cho thấy: tuổi trung bình của cán bộ Y tế được khảo sát là 41 tuổi, tỷ lệ nam nhân viên Y tế thấp chiếm 23,3% Cán bộ y tế là dân tộc Mường chiếm tỷ lệ cao nhất 42,8%, dân tộc Thái chiếm 20,8%, dân tộc Kinh chiếm 31,8% Chỉ có 37/58 (63,8%) trạm Y

tế có bác sĩ đang làm việc Trình độ chuyên môn khác gồm: Điều dưỡng và

nữ hộ sinh chiếm tỷ lệ cao (31,8%) Tỷ lệ cán bộ chuyên trách chiếm 32,5% (74/236), cán bộ chuyên trách gồm nữ Hộ sinh, Y sĩ Sản Nhi và các cán bộ khác được giao nhiệm vụ phụ trách chăm sóc sức khỏe bà mẹ Kết quả cho thấy trung bình số cán bộ được đào tạo trong các nội dung chăm sóc sức khỏe

bà mẹ trước sinh đạt 77,4% Trong đó, nội dung về tư vấn về chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ có thai và theo dõi bà mẹ và thai nhi bằng biểu đồ chuyển dạ được đào tạo nhiều nhất (đều đạt 82,8%), nội dung về phát hiện và xử trí sản giật được đào tạo ít nhất (62,6%) [8]

Ngành Y tế đã xác định trong những năm tới, công tác tập trung nhiều nhất là CSSS, nhằm nâng cao sức khoẻ, giảm bệnh tật, tử vong ở trẻ sơ sinh tại Việt Nam Để thực hiện được mục tiêu trên cần kiện toàn, nâng cao năng lực thực hành, cũng như khắc phục những hạn chế đối với nhân viên cung cấp dịch vụ CSSS Kết hợp và tăng cường chặt chẽ giữa việc đào tạo nâng cao

Trang 31

năng lực cho cán bộ chuyên môn và cung cấp các thiết bị, thuốc thiết yếu, cũng như cải tạo một cách đồng bộ chất lượng dịch vụ CSSS; tăng cường giám sát hỗ trợ, nhất là giám sát hỗ trợ sau đào tạo nhằm nâng cao kiến thức

và kỹ năng thực hành cho đội ngũ người cung cấp dịch vụ ở các tuyến, đặc biệt cho vùng miền núi khó khăn Xây dựng mô hình can thiệp cung cấp dịch

vụ chăm sóc sơ sinh thiết yếu cơ bản và toàn diện, trên cơ sở những kết quả thu được sẽ nhân rộng ra các địa phương trong cả nước Tùy theo nhu cầu thực tế của từng vùng, từng địa phương, tăng cường tính tiếp cận văn hóa trong cung cấp dịch vụ chăm sóc sơ sinh

Trang 32

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Sản, khoa Nhi thuộc Bệnh viện Đa khoa Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La

Khoa Sản của bệnh viện đa khoa Mộc Châu là một khoa hoạt động độc lập, được đầu tư trang thiết bị phù hợp với công tác Sản khoa Hàng năm khoa Sản tiếp nhận và điều trị gần 1300 bệnh nhân và gần 2000 lượt sản phụ đến sinh đẻ tại đây Đội ngũ cán bộ Y Bác sĩ được đào tạo đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn huyện Do vị trí địa lý, và còn nhiều xã nằm trong khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, nhiều dân tộc cùng sinh sống nên điều kiện kinh tế giữa các xã chưa đồng đều, mặt bằng dân trí còn thấp, hạn chế trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Khoa Nhi mới được thành lập tách riêng được đầu tư nguồn nhân lực cũng như thiết bị đầy đủ Trong năm khoa Nhi triển khai được nhiều kỹ thuật mới, cấp cứu nhiều trường hợp bệnh nhi nặng Giảm áp lực về tình trạng bệnh nhân về tuyến trên Khoa Nhi với số lượng nhân lực gồm 10 cán bộ Y tế trẻ, nhiệt huyết, năng động, với điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế chưa

có khoa sơ sinh hoạt động độc lập Tuy nhiên khoa Nhi vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao cũng như việc chăm sóc sức khỏe cho nhiều bệnh nhi điều trị tại bệnh viện

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

+ Trẻ sơ sinh

+ Các bà mẹ của trẻ sơ sinh được chọn vào nghiên cứu

Trang 33

+ Cán bộ Y tế: bao gồm Bác sỹ, Điều dưỡng và Nữ hộ sinh đang công tác tại khoa Sản và khoa Nhi

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Những trẻ sơ sinh bị dị tật bẩm sinh phát hiện ngay sau sinh

- Những Sản phụ không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Những Sản phụ mắc các bệnh tâm thần

- Các cán bộ Y tế vắng mặt trong thời gian trên 3 tháng

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1 đến 31 tháng 12 năm 2019

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1.Thiết kế nghiên cứu

Là một nghiên cứu dịch tễ học mô tả qua một cuộc điều tra cắt ngang

n: Cỡ mẫu nghiên cứu

Với độ tin cậy 95%, ta có Z(1 – α / 2) = 1,96

ε: Sai số cho phép, ε = 0,2

p: Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân 8,5% theo nghiên cứu trước[16]

q= 1-p

Trang 34

Tính đƣợc n= 1034 cặp mẹ con Thực tế nghiên cứu 1064 cặp mẹ con

- Cỡ mẫu để phỏng vấn cán bộ Y tế về hoạt động chăm sóc dinh dƣỡng cho trẻ sơ sinh nhẹ cân: là toàn bộ 30 Bác sỹ, Nữ hộ sinh, Điều dƣỡng của khoa Sản và khoa Nhi bệnh viện đa khoa Mộc Châu

- Chọn đối tƣợng phỏng vấn 1 số yếu tố liên quan tới trẻ sơ sinh nhẹ cân: Chọn toàn bộ những Sản phụ có con đƣợc chọn vào nghiên cứu

- Chọn toàn bộ cán bộ Y tế của khoa Sản và khoa Nhi bệnh viện đa khoa Mộc Châu để phỏng vấn các hoạt động chăm sóc dinh dƣỡng cho trẻ sơ sinh nhẹ cân

2.2.3 Biến số trong nghiên cứu

+ Thực trạng trẻ sơ sinh

- Phân loại mức độ nhẹ cân

- Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân nhẹ cân theo giới

- Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân theo số con của bà mẹ

- Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân theo tuổi bà mẹ

- Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân theo nghề nghiệp, dân tộc bà mẹ

Trang 35

- Liên quan giữa trẻ sơ sinh nhẹ cân với BMI của bà mẹ trước mang thai và tăng cân khi mang thai

- Liên quan giữa trẻ sơ sinh nhẹ cân với tiền sử nhiễm độc thai nghén, Sản giật và mắc các bệnh phụ khoa của bà mẹ

- Liên quan giữa trẻ sơ sinh nhẹ cân với bà mẹ có thai ngoài ý muốn và tiền sử đẻ con dưới 2500 gr

- Liên quan giữa trẻ sơ sinh nhẹ cân với chăm sóc y tế cho bà mẹ trong thời kỳ mang thai

- Liên quan giữa trẻ sơ sinh nhẹ cân với chế độ dinh dưỡng và lao động trong thời kỳ mang thai của bà mẹ

+ Hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh nhẹ cân của cán bộ Y tế

- Đặc điểm về nhóm tuổi và trình độ học vấn của cán bộ Y tế

- Tỷ lệ CBYT biết những nguyên tắc chăm sóc trẻ sơ sinh nhẹ cân

- Tỷ lệ CBYT biết nguy cơ thường gặp ở trẻ sơ sinh nhẹ cân

- Kiến thức và thực hành của CBYT về các biện pháp phòng hạ đường huyết cho trẻ sơ sinh nhẹ cân

- Kiến thức và thực hành của CBYT về vệ sinh bình đựng sữa cho trẻ

sơ sinh nhẹ cân

- Những hỗ trợ về dinh dưỡng của CBYT khi trẻ có dấu hiệu bỏ bú/không chịu ăn

- Kiến thức và thực hành của CBYT về biện pháp đảm bảo thân nhiệt cho trẻ sơ sinh nhẹ cân

- Tỷ lệ CBYT biết dấu hiệu trẻ bị nhiễm khuẩn

- Kiến thức và thực hành của CBYT về phòng chống nhiễm khuẩn khi tiếp xúc với trẻ sơ sinh nhẹ cân

Trang 36

- Tỷ lệ CBYT theo dõi các dấu hiệu lâm sàng của trẻ

- Những nội dung CBYT thường thực hiện trong quá trình chăm sóc trẻ

2.2.4 Các bước tiến hành nghiên cứu

2.2.4.1 Xây dựng phiếu phỏng vấn

- Phiếu phỏng vấn bà mẹ (phụ lục 1): Bộ câu hỏi này được xây dựng dựa vào mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định một số yếu tố liên quan tới trẻ sơ sinh nhẹ cân như tiền sử bệnh tật của bà mẹ, tiền sử sản phụ khoa, chế độ dinh dưỡng, lao động trong thời kỳ mang thai… Quá trình xây dựng phiếu có tham khảo các nghiên cứu trước cũng như của các chuyên gia chuyên ngành Dinh dưỡng, Sản khoa và Dịch tễ học góp ý chỉnh sửa nhiều lần để hoàn chỉnh trước khi cho điều tra chính thức

- Phiếu phỏng vấn cán bộ Y tế (Phụ lục 2): Bộ câu hỏi này được xây dựng dựa vào mục tiêu nghiên cứu tìm hiểu các hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh nhẹ cân của cán bộ Y tế Bộ câu hỏi được góp ý chỉnh sửa nhiều lần để hoàn chỉnh trước khi cho điều tra chính thức

2.2.4.2.Chuẩn bị địa bàn nghiên cứu

Khi được đồng ý của Ban giám đốc bệnh viện đa khoa Mộc Châu, học viên trực tiếp triển khai kế hoạch thực hiện nghiên cứu với trưởng khoa, Bác

sỹ, Nữ Hộ sinh, Điều dưỡng của khoa Sản và khoa Nhi để thống nhất phối hợp thực hiện

2.2.4.3 Tập huấn cho cán bộ điều tra

Nội dung tập huấn gồm các vấn đề: Thông báo về mục đích nghiên cứu, đối tượng, các tiêu chí lựa chọn, tiêu chí loại trừ Tập huấn phương pháp thu thập, ghi chép, các phương pháp phỏng vấn, kỹ thuật cân trẻ Đồng thời hướng dẫn điều tra viên cách thức xử trí tình huống gặp phải trong quá trình điều tra và cách thu thập thông tin một cách chính xác và khách quan nhất

Trang 37

2.2.5 Một số kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

2.2.5.1 Kỹ thuật cân trẻ sơ sinh

Cân trẻ được thực hiện ngay sau sinh trong vòng 24 giờ đầu Nữ hộ sinh là người trực tiếp thực hiện Sử dụng cân SECA lòng máng với độ chính xác 0,05 kg được ghi theo đơn vị gam Kiểm tra và chỉnh vị trí đặt cân trước khi tiến hành đo:

- Phỏng vấn trực tiếp bà mẹ để tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới trẻ

sơ sinh nhẹ cân bằng bộ phiếu điều tra thiết kế sẵn (phụ lục 1) Các điều tra viên là học viên và Nữ hộ sinh của khoa Sản được tập huấn kỹ và các phiếu điều tra đã được thử nghiệm trước khi tiến hành triển khai nghiên cứu Các điều tra viên phỏng vấn từng câu hỏi để bà mẹ tự trả lời theo ý hiểu không gợi

ý cho bà mẹ, đối với những bà mẹ không nói được tiếng Kinh thì trong quá trình phỏng vấn chúng tôi sử dụng ngay chồng của đối tượng làm phiên dịch, trong trường hợp không có phiên dịch thì chúng tôi loại khỏi nghiên cứu kết thúc phỏng vấn

- Phỏng vấn trực tiếp cán bộ Y tế về các họat động chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ kết hợp với quan sát tại cơ sở làm việc bằng bộ phiếu điều tra thiết kế sẵn (phụ lục 2)

- Cán bộ Y tế được giải thích rõ về mục đích ích lợi của việc tham gia nghiên cứu, yêu cầu và cách tiến hành nghiên cứu và có quyền tự lựa chọn tham gia không có sự ép buộc điều kiện liên quan đến điều trị tại bệnh viện Các điều tra viên không gợi ý cho người được phỏng vấn

Trang 38

2.2.6.Các tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu

- Đánh giá mức độ trẻ sơ sinh nhẹ cân theo qui định của Tổ chức Y tế thế giới

Trẻ sinh nhẹ cân 1500 - 2499 gram

Trẻ rất nhẹ cân 1000 - 1499 gram

Trẻ quá nhẹ cân 750 - 999 gram

Trẻ nhẹ cân quá mức < 750 gram

- Đánh giá hộ gia đình nghèo: Theo Quyết định số: 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020, theo đó:

1 Hộ nghèo

a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 trở xuống;

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

b) Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch

vụ xã hội cơ bản trở lên

2 Hộ cận nghèo

a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đến 1000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Trang 39

b) Khu vực thành thị: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

2.2.7 Các biện pháp hạn chế sai số

- Thiết kế bộ câu hỏi phỏng vấn rõ ràng dễ hiểu Có tham khảo ý kiến của các chuyên gia Với những Sản phụ tiếng kinh chưa sõi thì sử dụng chồng của chính Sản phụ đó làm phiên dịch

- Trước khi phỏng vấn trình bày rõ mục đích nghiên cứu với đối tượng

- Tập huấn kỹ cho điều tra viên

- Tiến hành điều tra thử

- Giám sát quá trình điều tra nghiên cứu

- Phân tích số liệu theo phần mềm thông dụng trong Y học

2.2.9 Đạo đức trong nghiên cứu

Việc cân trẻ ngay sau sinh là việc làm thường xuyên và bắt buộc tại các

cơ sở Y tế có thực hiện đỡ đẻ và cũng là mong muốn của các bà mẹ và gia đình

họ Mặt khác, các đối tượng tham gia được giải thích rõ về mục đích và nội dung của nghiên cứu

Nội dung phỏng vấn có một số thông tin liên quan đến cá nhân như: điều kiện kinh tế, số con hiện có, trình độ học vấn, tôn giáo… Nhưng hoàn toàn được giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không làm ảnh

Trang 40

hưởng gì tới phong tục tập quán, truyền thống văn hóa của các đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm đề ra những biện pháp cải thiện tình trạng sức khỏe

và dinh dưỡng cho Sản phụ trong thời kỳ mang thai và giảm thiểu tỉ lệ suy dinh dưỡng bào thai

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp một số thông tin thực tế về tình trạng chăm sóc cũng như dinh dưỡng của Sản phụ trên địa bàn từ đó giúp đưa ra những giải pháp phù hợp cho vấn đề sức khỏe các Sản phụ trong quá trình mang thai trên địa bàn

Ngày đăng: 09/10/2020, 16:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w