DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT AIDS Acquired Immune Deficiency Syndrome Hội chứng suy giam miễn dịch mắc phải ARV Antiritroviral Thuốc điều trị kháng virus ATS Amphetamine - type stimulants Cá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các cơ quan, đơn vị và cá nhân, đến nay bản luận văn của tôi đã được hoàn thành Nhân dịp này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế công cộng cùng các quý Thày/ Cô thuộc Trường Đại học Y Dược Thái Bình
đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học và luận văn tốt nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc cùng các đồng nghiệp Bệnh viện Bệnh nhiệt đới tỉnh Hải Dương đã cho phép, động viên và hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu
Tôi xin đặc biệt cảm ơn TS Đặng Bích Thủy và Nhà giáo nhân dân, PGS.TS Phạm Văn Trọng đã tận tình hướng dẫn và hỗ trợ để tôi hoàn thành
đề tài nghiên cứu cũng như luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn các bạn bè thuộc lớp Cao học YTCC Khóa 16 cùng người thân trong gia đình đã luôn chia sẻ, động viên, khích lệ để tôi hoàn thành việc học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn
Thái Bình, tháng 07 năm 2020
Tác giả luận văn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và cộng sự Các số liệu và kết quả trong luận văn này là trung thực, không sao chép bất kỳ một công trình nào khác, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Bình, tháng 07 năm 2020
Tác giả luận văn
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS Acquired Immune Deficiency Syndrome
(Hội chứng suy giam miễn dịch mắc phải)
ARV Antiritroviral
(Thuốc điều trị kháng virus)
ATS Amphetamine - type stimulants
(Các chất kích thích dạng Amphetamin) BCS Bao cao su
BKT Bơm kim tiêm
CDTP Chất dạng thuốc phiện
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
FHI Family Health International
(Tổ chức Sức khỏe Gia đình Quốc tế)
HIV Human Immunodeficiency Virus
(Virus gây suy giảm miễn dịch ở người) HSBA Hồ sơ bệnh án
PTTH Phổ thông trung học
SDMT Sử dụng ma túy
TB Trung bình
TCMT Tiêm chích ma túy
UNAIDS United Nations Program on HIV/AIDS
(Chương trình Phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS)
UNODC United Nations Office on Drug and Crime
(Cơ quan phòng chống Ma tuý và Tội phạm của Liên hợp quốc) WHO World Health Organization
(Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục chữ viết tắt
Mục lục
Danh mục bảng số liệu
Danh mục biểu đồ
Danh mục hộp
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Các khái niệm trong nghiên cứu 3
1.2 Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone cho người sử dụng ma túy 4
1.2.1 Tình hình nghiện chích ma túy và HIV/AIDS 4
1.2.2 Điều trị thay thê nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone 11
1.2.3 Thực trạng triển khai điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện Methadone 15
1.2.4 Một số nghiên cứu về điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone 18
1.3 Yếu tố liên quan đến đến tình trạng còn sử dụng chất gây nghiện của người bệnh điều trị Methadone 25
1.3.1 Tuổi, giới tính 25
1.3.2 Tình trạng hôn nhân, sống với bạn tình sử dụng ma túy 25
1.3.3 Trình độ học vấn, việc làm và thu nhập hàng tháng 25
1.3.4 Tiền sử sử dụng ma túy của người bệnh 26
Trang 61.3.5 Thời gian điều trị 26
1.3.6 Liều điều trị 26
1.3.7 Tuân thủ điều tri 27
1.4 Chương trình điều trị Methadone tại Hải Dương 27
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Địa bàn, đối tượng nghiên cứu 29
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 29
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 30
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 30
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 31
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin 32
2.3 Phương pháp xử lý số liệu 38
2.3.1 Xử lý và phân tích số liệu định lượng 38
2.3.2 Xử lý và phân tích số liệu định tính 39
2.4 Các biện pháp khống chế sai số 39
2.4.1 Hạn chế và sai số của nghiên cứu 39
2.4.2 Biện pháp khắc phục 39
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu 40
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
3.1 Kết quả điều trị Methadone 41
3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 41
3.1.2 Tiền sử sử dụng ma túy của đối tượng nghiên cứu trước khi tham gia điều trị Methadone 43
3.1.3 Kết quả điều trị Methadone 46
Trang 73.1.4 Sự hài lòng của đối tượng đối với cơ sở cung cấp dịch vụ
Methadone 57
3.2 Yếu tố liên quan đến tình trạng còn sử dụng chất gây nghiện của đối tượng nghiên cứu 58
Chương 4: BÀN LUẬN 67
4.1 Kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone cho người nghiện ma túy 67
4.1.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu trước khi điều trị Methadone 67
4.1.2 Kết quả điều trị Methadone 73
4.2 Một số yếu tố liên quan đến đến tình trạng còn sử dụng chất gây nghiện ở đối tượng nghiên cứu 79
4.3 Hạn chế của nghiên cứu 86
KẾT LUẬN 87
KHUYẾN NGHỊ 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Đặc điểm về giới tính, nhóm tuổi, học vấn, tình trạng hôn nhân,
địa chỉ sống hiện tại của đối tượng nghiên cứu 41Bảng 3.2 Tình trạng việc làm và thu nhập của đối tượng nghiên cứu 42Bảng 3.3 Một số đặc điểm gia đình của đối tượng nghiên cứu 43Bảng 3.4 Tuổi, thời gian sử dụng ma túy trước khi điều trị Methadone của
đối tượng nghiên cứu 43Bảng 3.5 Tiền sử sử dụng ma túy của đối tượng nghiên cứu 44Bảng 3.6 Tiền sử sốc thuốc và lý do sốc thuốc của đối tượng nghiên cứu 45Bảng 3.7 Liều khởi đầu và liều điều trị Methadone hiện tại của đối tượng
nghiên cứu 46Bảng 3.8 Cân nặng của đối tượng điều trị Methadone 47Bảng 3.9 Tình trạng bệnh kèm theo của đối tượng trước, sau khi điều trị
Methadone và chuyển tiếp điều trị bệnh đồng nhiễm 48Bảng 3.10 Tình trạng đối tượng sử dụng chất gây nghiện trong tháng qua 50Bảng 3.11 Tình trạng bỏ liều điều trị của đối tượng nghiên cứu 50Bảng 3.12 Tình trạng kinh tế, quan hệ xã hội và hành vi liên quan đến pháp
luật của đối tượng nghiên cứu 51Bảng 3.13 Sự hỗ trợ của gia đình trong quá trình điều trị của đối tượng
nghiên cứu 52Bảng 3.14 Sự hài lòng về cuộc sống hiện tại của đối tượng 53Bảng 3.15 Sự hài lòng của đối tượng đối với cơ sở cung cấp dịch vụ điều trị
Methadone 57Bảng 3.16 Mối liên quan giữa một số đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng
nghiên cứu với tình trạng còn sử dụng chất gây nghiện 58
Trang 9Bảng 3.17 Liên quan giữa một số đặc điểm gia đình, xã hội, công việc của đối
tượng nghiên cứu với tình trạng còn sử dụng chất gây nghiện 59Bảng 3.18 Mối liên quan giữa đặc điểm tiền sử sử dụng ma túy của đối tượng
với tình trạng còn sử dụng chất gây nghiện 60Bảng 3.19 Liên quan giữa điều trị Methadone đến tình trạng còn sử dụng chất
gây nghiện 61Bảng 3.20 Liên quan giữa tác dụng phụ khi điều trị Methadone đến tình trạng
còn sử dụng chất gây nghiện 62Bảng 3.21 Liên quan giữa tình trạng nhiễm HIV đến tình trạng sử dụng chất
gây nghiện 62Bảng 3.22 Liên quan giữa tinh trạng đối tượng bỏ liều đến tình trạng sử dụng
chất gây nghiện 63Bảng 3.23 Liên quan giữa tình trạng kinh tế, quan hệ xã hội và hành vi vi
phạm pháp luật đến tình trạng còn sử dụng chất gây nghiện 63Bảng 3.24 Liên quan giữa sự hỗ trợ của gia đình trong quá trình điều trị của
đối tượng với tình trạng sử dụng chất gây nghiện 64Bảng 3.25 Liên quan giữa sự hài lòng về cuộc sống hiện tại với tình trạng
còn sử dụng chất gây nghiện 65
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1 Tiền sử cai nghiện nghiện của đối tượng nghiên cứu 44Biểu đồ 3.2 Tác dụng phụ khi điều trị Methadone của đối tượng nghiên cứu 47Biểu đồ 3.3 Lý do bỏ liều của đối tượng nghiên cứu 51
Trang 11DANH MỤC HỘP
Trang
Hộp 3.1 Đánh giá của người được phỏng vấn về sức khỏe thể chất của đối
tượng đang điều trị Methadone 49Hộp 3.2 Đánh giá của người được phỏng vấn về sức khỏe tinh thần của đối
tượng đang điều trị Methadone 53Hộp 3.3 Đánh giá của người được phỏng vấn về hiệu quả kinh tế, xã hội khi
đối tượng điều trị Methadone 54Hộp 3.4 Đánh giá của người được phỏng vấn hạn chế chương trình điều trị
Methadone 55Hộp 3.5 Các giải pháp nâng cao hoạt động điều trị Methadone 56Hộp 3.6 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng tái sử dụng heroin của đối
tượng nghiên cứu 66
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo ước tính của Tổ chức phòng chống ma tuý và tội phạm Liên hợp quốc (UNODC) trên thế giới cứ 20 người thì có 1 người từ 15 - 64 tuổi đã sử dụng ít nhất một loại chất gây nghiện trong năm 2014 [53], trong đó gần 12% tổng số những người sử dụng ma túy (SDMT) Tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Công an năm 2017 cho thấy có hơn 225.099 người nghiện ma túy có
hồ sơ quản lý, trong thực tế, con số này có thể nhiều hơn [10]
Sử dụng ma túy có ảnh hưởng nghiêm trọng không chỉ đến tình trạng sức khỏe của người sử dụng mà còn ảnh hưởng đến người thân, gia đình và toàn xã hội Tiêm chích ma túy (TCMT) là một trong những nguyên nhân hàng đầu lây nhiễm HIV, bệnh viêm gan B và bệnh viêm gan C Theo ước tính của Chương trình Liên hợp quốc về phòng chống HIV/AIDS (UNAIDS) năm 2013, trên thế giới hiện có khoảng 35,3 triệu người nhiễm HIV [50], ước tính 211.000 người tử vong do các nguyên nhân liên quan đến ma túy, hầu hết thuộc lứa tuổi trẻ trong nhóm người sử dụng ma túy Tại Việt Nam, đến cuối năm 2015, tổng số người nhiễm HIV toàn quốc đang còn sống là 227.154 người Dịch HIV tại Việt Nam chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm tiêm chích ma túy, với tỉ lệ lây nhiễm HIV là 9,3% và chiếm 36,1% số người nhiễm HIV [3]
Để giảm thiểu tác hại do sử dụng ma túy gây ra, chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện (CDTP) bằng Methadone là một giải pháp Thế giới đã triển khai chương trình này từ những năm 1960 và đã
có nhiều bằng chứng thống nhất về việc xem Methadone là liệu pháp có thể đạt được mục tiêu giảm người nghiện, giảm lây nhiễm HIV và tội phạm Ở Việt Nam chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone được triển khai thí điểm vào năm 2008 tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh, điều trị cho 965 người sử dụng ma túy [12] Chương
Trang 13trình điều trị Methadone đã chứng tỏ rất có hiệu lực giúp làm giảm mạnh việc
sử dụng ma túy bất hợp pháp, giảm tần suất tiêm chích, tỉ lệ sử dụng chung bơm kim tiêm và nguy cơ lây truyền HIV, giảm các hoạt động phạm pháp, xung đột với gia đình, xã hội và tái hòa nhập với cộng đồng, tăng cường chất lượng cuộc sống [16] Vì vậy chương trình điều trị Methadone đã được nhân rộng nhanh chóng trong những năm qua, tính đến cuối năm 2017 có 63 tỉnh thành trên cả nước đã triển khai chương trình này cung cấp dịch vụ cho cho 52.818 người bệnh [4]
Tỉnh Hải Dương bắt đầu triển khai điều trị Methadone từ tháng 10 năm
2010, hiện nay có 9 cơ sở điều trị Trong những năm gần đây chưa có nghiên cứu nào đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone ở người sử dụng ma túy tại thành phố Hải Dương Để tìm hiểu thực trạng, đánh giá kết quả của chương trình, yếu tố nào là yếu tố có liên quan đến chất lượng hoạt động điều trị Methadone nhằm đưa ra các bằng chứng khoa học, giải pháp cải thiện chất lượng điều trị cho người bệnh nghiện
chất dạng thuốc phiện chúng tôi tiến hành nghiên cứu: ―Kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone ở người sử dụng
ma túy tại thành phố Hải Dương năm 2019”
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone cho người sử dụng ma túy tại cơ sở điều trị Methadone Bệnh viện Bệnh nhiệt đới tỉnh Hải Dương năm 2019
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng còn sử dụng chất gây nghiện ở đối tượng nghiên cứu tại địa bàn điều tra
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Các khái niệm trong nghiên cứu
HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Human Immunodeficiency
Virus" là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh
AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Acquired Immune
Deficiency Syndrome" là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây
ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và
có thể dẫn đến tử vong [26]
Chất ma tuý là các chất gây nghiện được quy định trong các danh mục
do Chính phủ ban hành
Chất dạng thuốc phiện là tên gọi chung cho nhiều chất như thuốc
phiện, morphine, heroin, Methadone, buprenorphine, codein, pethidine, fentanyle, có biểu hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương tự ở não
Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma tuý và bị lệ thuộc vào
các chất này
Hội chứng cai là trạng thái phản ứng của cơ thể khi cắt hoặc giảm chất
ma tuý đang sử dụng ở những người nghiện ma tuý Biểu hiện lâm sàng của hội chứng cai khác nhau phụ thuộc vào loại ma tuý đang sử dụng
Cai nghiện là ngừng sử dụng hoặc giảm đáng kể chất ma túy mà người
nghiện thường sử dụng (nghiện) dẫn đến việc xuất hiện hội chứng cai và vì vậy người bệnh cần phải được điều trị
Nhiễm độc hệ thần kinh trung ương cấp là một tình trạng bệnh lý
liên quan tới việc sử dụng một chất gây nghiện với liều lượng vượt quá khả năng dung nạp của người bệnh, dẫn tới sự biến đổi bất thường về ý thức,
Trang 15hành vi, cũng như các hoạt động tâm thần khác của người sử dụng Tình trạng nhiễm độc này rất khác nhau ở mỗi người, phụ thuộc vào chất gây nghiện, liều lượng, đường dùng, tình huống và độ dung nạp với CDTP của người sử dụng
Quá liều là tình trạng sử dụng một lượng chất ma túy lớn hơn khả năng
dung nạp của cơ thể ở thời điểm đó, đe dọa tới tính mạng của người sử dụng nếu không được cấp cứu kịp thời
Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone gọi tắt là
điều trị Methadone
Cơ sở điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone gọi
tắt là cơ sở điều trị Methadone [5]
Người bệnh sử dụng lại heroin khi thực hiện xét nghiệm nước tiểu,
người bệnh dương tính với các CDTP
1.2 Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone cho người sử dụng ma túy
1.2.1 Tình hình nghiện chích ma túy và HIV/AIDS
Trên thế giới
Theo UNODC, tính đến hết năm 2011, toàn thế giới có khoảng 167 đến
315 triệu người trong độ tuổi từ 15 - 64 SDMT, chiếm khoảng 3,6% đến 6,9% dân số thế giới Trong các loại ma túy được sử dụng, đứng đầu là nghiện cần
sa, chiếm từ 2,82% đến 5,03% dân số thế giới trong độ tuổi từ 15 đến 64 (từ
129 - 230 triệu người); đứng thứ hai là nghiện các loại ma túy tổng hợp, ước tính có khoảng từ 24,4 đến 81,9 triệu người SDMT tổng hợp trong năm qua, chiếm 0,53% đến 1,79% dân số thế giới trong độ tuổi từ 15 - 64; đứng thứ ba
là nghiện CDTP, chiếm 0,88% đến 1,23% dân số thế giới trong độ tuổi từ 15 -
64 (40,6 - 56,4 triệu người) và cuối cùng là nghiện Cocain, chiếm 0,3% đến 0,45% dân số thế giới trong độ tuổi từ 15 - 64 (13,9 - 20,7 triệu người) [52]
Trang 16Tình trạng sử dụng heroin trên toàn cầu tiếp tục lan rộng và dường như
là một gánh nặng ngày càng tăng, chủ yếu ở các nước đang phát triển, đặc biệt
là ở các khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương Liên quan đến vấn
đề này là sự lây lan đồng thời của HIV thông qua TCMT và hành vi tình dục không an toàn [58] Việc sử dụng thuốc phiện, heroin bằng cách tiêm chích vẫn là nguyên nhân dẫn đến gia tăng lây nhiễm HIV ở các nước trong khu vực Đông Nam Á Việc lạm dụng và buôn bán chất kích thích thuộc nhóm Amphetamine (ATS) đang lan rộng một cách nhanh chóng ở khu vực Đông Nam Á Trong khu vực ―tam giác vàng‖, các phương tiện trước đây được sử dụng để điều chế Heroin cũng đang được sử dụng để sản xuất Methamphetamine Trung Quốc hiện nay vẫn đang là nơi sản xuất bí mật chất ATS Ở Thái Lan, ATS trở trành một loại ma túy được sử dụng rộng rãi trong sinh viên [52]
SDMT bất hợp pháp gây ra 4 nhóm ảnh hưởng chính đối với sức khỏe là: Các ảnh hưởng cấp tính, bao gồm cả sốc quá liều; Các hậu quả tức thì do SDMT như là chấn thương do tai nạn, hành vi bạo lực; Tình trạng lệ thuộc ma túy hay còn gọi là nghiện ma túy; Các ảnh hưởng mãn tính do SDMT thường xuyên như là các bệnh mãn tính (bệnh mạch vành, xơ gan,…), các bệnh lây truyền qua đường máu do vi rút (HIV, viêm gan B, viêm gan C ) và các rối loạn tâm thần [46],[57]
Theo UNODC, trong 14 triệu người TCMT trên thế giới, có khoảng 1,6 triệu người (từ 1,2 đến 3,9 triệu người) nhiễm HIV, chiếm khoảng 11,5% số người TCMT trên toàn cầu Ngoài tình trạng nhiễm HIV thì tình trạng nhiễm
vi rút viêm gan B và viêm gan C trong nhóm TCMT cũng rất cao: ước tính tỷ
lệ nhiễm viêm gan C trong nhóm TCMT trên toàn cầu là 51,0%, tương đương với 7,2 triệu người TCMT đang sống chung với viêm gan C vào cuối năm
2011, tỷ lệ nhiễm viêm gan B trong nhóm TCMT thấp hơn rất nhiều tỷ lệ
Trang 17nhiễm viêm gan C, tỷ lệ nhiễm viêm gan B là 8,4%, tương ứng với 1,2 triệu người (số liệu được tổng hợp từ báo cáo của 63 quốc gia) [54]
Theo ước tính của Chương trình Phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), đến cuối năm 2011, trên toàn cầu có khoảng 31,4 triệu đến 35,9 triệu trường hợp nhiễm HIV, khoảng 0,8% người trưởng thành trong
độ tuổi từ 15 - 49 trên toàn thế giới sống chung với HIV Mặc dù số trường hợp nhiễm HIV mới giảm nhưng do việc mở rộng chương trình điều trị bằng thuốc kháng virus (ARV) nên số tử vong do AIDS cũng giảm, vì vậy đã làm cho số trường hợp lũy tích hiện nhiễm HIV tăng 27% so với năm 1999 (24,6 triệu - 27,8 triệu) [51]
Hiện nay, sự gia tăng lây nhiễm HIV ở những người TCMT vẫn là nguyên nhân chủ yếu về lây nhiễm HIV/AIDS trên toàn cầu, vấn đề ma túy tiếp tục trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với các quốc gia và toàn cầu
Dự phòng là nền tảng của ứng phó toàn cầu với HIV/AIDS, chương trình dự phòng HIV đưa đến một ứng phó mạnh mẽ, có hiệu quả và toàn diện; dựa trên bằng chứng; các chiến lược dự phòng HIV cần tập trung vào các nhóm đích
có nguy cơ lây nhiễm HIV cao
Ngoài ra, nguồn kinh phí đầu tư cho các hoạt động phòng chống HIV/AIDS hiện nay giảm Các chi phí đầu tư cho chương trình phòng chống HIV/AIDS hiện nay là không bền vững; do đó cần phải đầu tư hiệu quả, chi phí tốt hơn, dựa trên bằng chứng của các nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS; nhằm triển khai và mở rộng các chương trình giảm nguy cơ và giảm tác hại, theo ―Hướng dẫn kỹ thuật của WHO/UNODC/UNAIDS cho các Quốc gia nhằm xây dựng các chỉ tiêu của tiếp cận phổ cập tới dự phòng lây nhiễm HIV, điều trị và chăm sóc cho những người TCMT‖ phù hợp với luật pháp của từng quốc gia; bao gồm việc cung cấp và hướng dẫn sử dụng BCS và BKT sạch và
Trang 18điều trị thay thế CDTP bằng thuốc thay thế
Tại Việt Nam
Tính đến năm 2012 cả nước có khoảng 170.000 người nghiện ma túy
So với cuối năm 1994, số người nghiện ma túy đã tăng khoảng 2,7 lần với mức tăng xấp xỉ 10.000 người nghiện mỗi năm Người nghiện ma túy đã có 63/63 tỉnh, thành phố, khoảng 90% quận, huyện, thị xã và gần 60% xã, phường, thị trấn trên cả nước [20] Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đến năm 2015 có 25.606 người đang được cai nghiện tại các Trung tâm và cộng đồng, 23.400 người đang được quản lý sau cai [6] Như vậy còn rất nhiều người nghiện không có trong danh sách quản lý tại cộng đồng
Cơ cấu người nghiện ma túy theo vùng miền cũng đã có những thay đổi đáng kể Nếu như giữa những năm 90 của thế kỷ trước, nghiện ma túy chủ yếu phổ biến ở người dân tại các tỉnh miền núi phía Bắc thì từ giữa những năm 2000 đã tăng mạnh xuống vùng đồng bằng sông Hồng và khu vực miền Đông Nam bộ Năm 1994 có tới hơn 61% người nghiện ma túy ở Việt Nam thuộc khu vực các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc thì tới năm 2009 tỷ lệ này là gần 30% Ngược lại, tỷ lệ người nghiện ma túy thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong tổng số người nghiện ma túy của cả nước đã tăng từ 18,2% lên 31% trong cùng kỳ Tương tự, tỷ lệ người nghiện ma túy thuộc các tỉnh miền Đông Nam bộ đã tăng từ 10,2% lên 23% [20]
Độ tuổi của người nghiện ma túy cũng có xu hướng trẻ hóa Cuối năm
2010, gần 70% người nghiện ma túy ở độ tuổi dưới 30 trong khi năm 1995 tỷ
lệ này chỉ khoảng 42% Hơn 95% người nghiện ma túy ở Việt Nam là nam giới Tuy nhiên, tỷ lệ người nghiện là nữ giới cũng đang có xu hướng tăng trong những năm qua [20]
Cách thức SDMT cũng có nhiều thay đổi Nếu như năm 1995 chỉ có chưa đến 8% số người nghiện TCMT và hơn 88% chủ yếu hút, hít thì tới cuối
Trang 19năm 2009 số người nghiện TCMT chiếm hơn 75% tổng số người nghiện ma túy của cả nước Hình thức SDMT chủ yếu là tiêm chích với việc dùng chung bơm kim tiêm đã dẫn tới tỷ lệ lây nhiễm HIV cao trong nhóm người nghiện chích ma túy (17,2%) Phân tích số liệu của 1.948 người nghiện chích ma túy tham gia giám sát trọng điểm lồng ghép hành vi giai đoạn 2014 - 2016 cho thấy tỷ lệ dùng chung BKT các năm 2014, 2015 và 2016 lần lượt là 25,7%, 21,2% và 23,2% [24] Theo số liệu từ Bộ Y tế, người nghiện chích ma túy cũng là nhóm đối tượng chiếm tỷ lệ cao nhất trong số những người nhiễm HIV ở Việt Nam (36,1% tính đến cuối năm 2015) [3],[20]
Bên cạnh những hậu quả liên quan tới HIV/AIDS, xấp xỉ 50% số người nghiện được khảo sát năm 2009 cho biết họ đã gặp những vấn đề về sức khỏe tâm thần như lo lắng, trầm cảm, mất ngủ, ảo giác, căng thẳng thần kinh trong
12 tháng trước khi tham gia cai nghiện, trong đó 11,4% thường xuyên hoặc luôn luôn gặp những vấn đề như vậy Một tỷ lệ tương tự người nghiện ma túy thường gặp các vấn đề về sức khỏe thể chất [20]
Hậu quả do SDMT còn có những hệ lụy về tài chính và sức khỏe, hơn 1/3 số người nghiện ma túy tham gia cuộc khảo sát trên còn cho biết đã gặp những khó khăn, mâu thuẫn trong quan hệ với người thân trong gia đình
Ngoài ra, nghiện ma túy là nguồn gốc, nguyên nhân tiềm tàng phát sinh nhiều loại tội phạm xâm phạm trật tự xã hội như giết người, cướp của, trộm cắp, cố ý gây thương tích, bạo lực gia đình… Số liệu khảo sát của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy, có gần 38% số học viên được tiếp nhận và hỗ trợ cai nghiện tại các Trung tâm đã có tiền án hoặc tiền sự Theo
số liệu từ Bộ Công an, khoảng 11% trong tổng số 143.196 người nghiện có hồ
sơ quản lý của cả nước cuối năm 2010 đang được quản lý tại các Trại giam,
Cơ sở Giáo dưỡng, Trường giáo dưỡng do ngành Công an quản lý do có các hành vi vi phạm pháp luật hình sự [20]
Trang 20Như vậy, có thể thấy tình hình lạm dụng ma túy ở Việt Nam vẫn đang diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng cùng với việc xuất hiện nhiều loại
ma túy mới, hình thức SDMT không an toàn làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV
Theo báo cáo của Cục phòng chống HIV/AIDS, tính đến cuối năm
2015, toàn quốc có 227.154 người nhiễm HIV đang còn sống với HIV được báo cáo, 85.194 người nhiễm HIV đang giai đoạn AIDS và đã có trên 86.716 người nhiễm HIV đã tử vong Theo ước tính, cả nước hiện có khoảng 254.000 người nhiễm HIV trong cộng đồng, mỗi năm có khoảng 12.000-14.000 trường hợp mới nhiễm HIV Như vậy ước tính hiện nay có khoảng 80% người nhiễm HIV biết được tình trạng HIV của họ
Trong số những người được báo cáo xét nghiệm mới phát hiện nhiễm HIV trong năm 2015, nữ chiếm 34,1%, nam chiếm 65,9%, lây truyền qua đường tình dục chiếm 50,8%, lây truyền qua đường máu chiếm 36,1%, mẹ truyền sang con chiếm 2,8%, không r chiếm 10,4%
So sánh số liệu nhiễm HIV/AIDS, tử vong báo cáo năm 2014, số trường hợp nhiễm HIV phát hiện mới giảm 13%, số người bệnh AIDS giảm 1% và người nhiễm HIV tử vong giảm 1%
Trong 5 năm qua, tiếp tục ghi nhận số người nhiễm HIV/AIDS và tử vong hằng năm giảm, số trường hợp HIV dương tính phát hiện năm 2010 từ 17.800 xuống còn 10.195 ca năm 2015, tử vong giảm từ 3.300 ca năm 2010 xuống 2.130 ca năm 2015, số người bệnh AIDS từ 8.900 ca năm 2015 xuống còn khoảng 6.130 ca năm 2015
Kết quả giám sát trọng điểm năm 2015, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy là 9,3%, phụ nữ bán dâm 2,7% và MSM là 5,2%
Các yếu tố nguy cơ lây truyền HIV ở Việt Nam giai đoạn hiện nay vẫn là lây truyền HIV trong nhóm nghiện chích ma túy và từ nhóm nghiện chích ma túy nhiễm HIV sang vợ bạn tình của họ Ngoài ra, có yếu tố nguy cơ mới làm
Trang 21lây truyền HIV trong sử dụng ma túy tổng hợp ở giới trẻ và phụ nữ bán dâm, dẫn đến tăng nguy cơ quan hệ tình dục tập thể không được bảo vệ, và mại dâm
nam, gồm nam bán dâm cho nam đồng tính, người chuyển giới nữ [3]
Tại tỉnh Hải Dương
Hải Dương là tỉnh nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía bắc, tiếp giáp với Quảng Ninh, Hải Phòng vì vậy tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy trên địa bàn tỉnh những năm gần đây diễn biến rất phức tạp Số vụ phạm tội
và vi phạm pháp luật về ma túy phát hiện, bắt giữ tăng so với những năm về trước, số xã, phường, thị trấn có người nghiện ma túy có xu hướng tăng Đến tháng 6 năm 2019, trên địa bàn tỉnh có tổng số 2.632 người nghiện ma túy có
hồ sơ quản lý Phân loại ma túy thường sử dụng: heroin 1.485 người, cần sa
21 người, ma túy tổng hợp 1103 người, tân dược gây nghiện 5 người [33] Tuy nhiên số người nghiện ma túy ngoài xã hội chưa bị phát hiện còn nhiều, đặc biệt là số người SDMT tổng hợp có chiều hướng gia tăng Năm 2013 có 220/265 (83,1%) xã/phường/thị trấn có người nghiện ma túy, đến tháng 5/2018 số xã/phường có người nghiện ma túy 257/265 (97%) Những năm gần đây các đối tượng nghiện ma túy có xu hướng chuyển từ sử dụng Heroin sang dùng ma túy tổng hợp Năm 2013 số người SDMT tổng hợp 250/3112 người chiếm (8,1%) đến tháng 5/2018 là 1573/ 3415 chiếm (46%) Độ tuổi người nghiện ma túy ngày càng trẻ hóa, năm 2016 số người nghiện dưới 30 tuổi là 1264/3700 chiếm 34,24% tháng 5/2018 số đối tượng này 1455/3415 chiếm 42,6 % người SDMT tổng hợp đa phần là lứa tuổi thanh, thiếu niên [33]
Theo báo cáo của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương, tính đến cuối năm 2016, lũy tích số người nhiễm HIV trên địa bàn toàn tỉnh là 4.644 người, số người bệnh chuyển AIDS là 2.904 người và đã có 1.607 trường hợp tử vong do AIDS Số trường hợp nhiễm HIV còn sống hiện được quản lý tại Hải Dương là 1.827 người Tỷ lệ nhiễm HIV toàn tỉnh theo số báo cáo là
Trang 22167 người trên 100.000 dân Thành phố Hải Dương vẫn là địa phương có số người nhiễm HIV hiện còn sống cao nhất toàn tỉnh (472 người), tiếp đến là thị
xã Chí Linh (287 người), thứ 3 là huyện Kinh Môn (246 người) Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT tại Hải Dương có xu hướng giảm trong những năm gần đây nhưng TCMT vẫn là một trong những nguyên nhân chính của lây nhiễm HIV tại tỉnh Tỷ lệ người nhiễm HIV được phát hiện là người nghiện chích ma túy tại Hải Dương chiếm 43%
1.2.2 Điều trị thay thê nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone 1.2.2.1 Phân loại ma túy
Tại Việt Nam
Chất gây nghiện được sử dụng theo các mục đích khác nhau, tùy theo mỗi con người cụ thể sử dụng nó hoặc do văn hóa khác nhau, do hệ thống pháp luật ở mỗi quốc gia khác nhau cũng dẫn đến những khác biệt về cách nhìn nhận về chất gây nghiện và người sử dụng những loại chất này Mặt khác, mỗi chất gây nghiện khác nhau tác động lên hệ thần kinh trung ương làm thay đổi trạng thái thực thể và tâm lý của người sử dụng một cách khác
Trang 23nhau Vì vậy, tùy theo mục đích sử dụng thông tin, ta có thể phân loại chất gây nghiện theo nhóm tác động lên hệ thần kinh hoặc phân theo mục đích sử dụng trong điều trị, theo tính hợp pháp…
Dù có thể phân loại chất gây nghiện theo nhiều cách khác nhau, nhưng trong bối cảnh sử dụng chất gây nghiện luôn luôn thay đổi theo thời gian, một cách phân loại có thể đúng cho quá khứ, hiện tại, không chắc chắn đúng cho tương lai Vậy chất gây nghiện đặt trong mối tương tác phức tạp với xã hội, trong bối cảnh lịch sử và văn hóa khác nhau, không có một cách phân loại hoàn hảo cho mọi trường hợp
Nhiều cách phân loại chất gây nghiện khác nhau được đưa ra dựa trên mục đích của việc phân loại chất gây nghiện Theo giáo trình Chất gây nghiện
và xã hội của Trường đại học Lao động xã hội phân loại như sau [21]:
Mức độ hợp pháp: Theo cách phân loại này, chất gây nghiện được chia
làm 2 loại: là chất gây nghiện được sử dụng một cách hợp pháp và chất gây nghiện được sử dụng bất hợp pháp (hay còn gọi là ma túy)
Sử dụng trong y tế: Theo cách phân loại này, chất gây nghiện được
phân ra làm 2 loại là thuốc gây nghiện hoặc không phải là thuốc
Phân loại theo nguồn gốc: Theo cách phân loại này, chất gây nghiện
được phân thành 3 loại là chất gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên, bán tổng hợp và tổng hợp
Phân loại theo tác dụng chủ yếu với hệ thần kinh trung ương
Theo cách phân loại này, chất gây nghiện được phân thành 3 loại chính:
- Nhóm an thần, ức chế hệ thần kinh trung ương
- Nhóm kích thích, kích thích hệ thần kinh trung ương
- Nhóm gây ảo giác
1.2.2.2 Thông tin cơ bản về Methadone
Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dược lý tương tự như các
Trang 24CDTP khác (đồng vận) nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương
và không gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán huỷ dài (trung bình là
24 giờ) nên chỉ cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ để không xuất hiện hội chứng cai Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài [5]
1.2.2.3 Điều trị thay thế bằng Methadone
Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone là một điều trị lâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng theo đường uống, dưới dạng siro nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, C, đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động và tái hoà nhập cộng đồng [5]
- Giảm sử dụng các CDTP bất hợp pháp, giảm tỷ lệ tiêm chích CDTP
- Cải thiện sức khoẻ và giúp người nghiện duy trì việc làm, ổn định cuộc sống lâu dài, tăng sức sản xuất của xã hội
* Lợi ích của điều trị Methadone
- Dừng sử dụng hoặc giảm đáng kể lượng heroin sử dụng, do đó giảm các hành vi phạm tội và tử vong do quá liều
- Dừng tiêm chích heroin hoặc giảm đáng kể tần suất tiêm chích và giảm nguy cơ lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường máu
- Cải thiện tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng
- Dừng các hành vi phạm pháp liên quan đến việc kiếm tiền mua heroin
Trang 25- Cải thiện và ổn định quan hệ với gia đình
- Có công việc ổn định hơn và học tập tốt hơn
Ngoài ra khi tham gia chương trình Methadone, đối tượng có cơ hội tiếp cận với nhiều dịch vụ y tế và xã hội khác Do đó sẽ ít phải chịu áp lực trong cuộc sống, giảm nguy cơ sử dụng và cuối cùng không dùng heroin nữa
Methadone là chất đồng vận toàn phần và mặc dù triệu chứng cai khi ngừng sử dụng Methadone kéo dài hơn so với cai heroin nhưng những triệu chứng này ở mức độ nhẹ hơn [13]
* Hạn chế trong điều trị Methadone
- Người bệnh phải cam kết đến cơ sở điều trị hàng ngày để uống thuốc, uống thuốc tại cơ sở điều trị dưới sự giám sát của cán bộ cơ sở điều trị
- Khó thực hiện các chuyến đi, các kỳ nghỉ xa khỏi nơi cư trú và nếu cần thiết phải đi thì bạn cần được chuẩn bị kỹ càng trước đó
- Có thể gặp các tác dụng phụ ảnh hưởng đến sức khỏe
- Vẫn bị lệ thuộc vào thuốc cho đến khi kết thúc chương trình điều trị Methadone là một thuốc có tác dụng mạnh và có thể nguy hiểm nếu dùng không đúng cách Nó cũng có thể gây tình trạng quá liều khi sử dụng quá nhiều Methadone [13]
* Các giai đoạn điều trị Methadone
Giai đoạn dò liều
- Khởi liều: Liều khởi đầu từ 15 – 30mg tùy thuộc vào kết quả đánh giá
độ dung nạp CDTP của người bệnh (liều trung bình là 20mg) Thận trọng khi khởi liều từ 25 mg đến 30mg
- Điều chỉnh liều Methadone trong giai đoạn dò liều: thường là 02 tuần
đầu điều trị Giai đoạn điều chỉnh liều
- Từ tuần thứ 3 của quá trình điều trị và có thể kéo dài từ 1 đến 3 tháng
- Liều điều trị sẽ được tiếp tục điều chỉnh đến khi người bệnh đạt được
Trang 26liều có hiệu quả (là liều làm hết hội chứng cai, giảm thèm nhớ, ngăn tác dụng của việc sử dụng heroin và không gây ngộ độc)
- Sau mỗi 3- 5 ngày điều trị, liều Methadone có thể tăng từ 5 - 15mg/lần Tổng liều tăng trong 01 tuần không vượt quá 30mg
Giai đoạn điều trị duy trì
- Là liều có hiệu quả và phong tỏa được tác dụng gây khoái cảm của heroin (hết thèm nhớ heroin) Liều hiệu quả tối ưu khác nhau ở từng người bệnh, một số bệnh lý đồng diễn, tình trạng đặc biệt (có thai, đa nghiện) và sử
dụng các thuốc có tương tác với Methadone
- Liều duy trì thông thường: 60 - 120mg/ngày Liều duy trì thấp nhất 15 mg/ngày;Liều cao nhất có thể lên tới 200-300 mg/ngày Cá biệt có những
người bệnh liều cao hơn300mg/ngày
Giảm liều, ngừng điều trị Methadone
- Giảm liều: sau một thời gian điều trị Methadone (ít nhất là 1 năm), nếu người bệnh đã ổn định và mong muốn ngừng điều trị, cơ sở điều trị có thể tiến
Trang 27mục đích ban đầu là làm thuốc giảm đau trong Chiến tranh thế giới thứ hai
Nó là một chất đồng vận với CDTP, nghĩa là có tác dụng tương tự các CDTP như morphine, heroin nhưng có thời gian tác dụng kéo dài hơn Năm 1964, tại New York, bác sỹ Marie Nyswander và Vincent Dole tìm thuốc điều trị cho những người nghiện heroin, họ phát hiện ra Methadone giúp người bệnh của
họ ngừng sử dụng heroin và hầu như không bị tăng liều khi dùng trong thời gian dài, do đó liệu pháp điều trị duy trì bằng thuốc Methadone ra đời [13]
Tại Hồng Kông, cuối năm 1974, Chính phủ Hồng Kông bắt đầu mở 2
cơ sở điều trị thay thế bằng Methadone đầu tiên trong khu vực châu Á, đến năm 1976 một mạng lưới rộng lớn các phòng khám Methadone đã được mở
ra Năm 2004, có 21 cơ sở điều trị Methadoneđược triển khai, phân bố đều khắp các địa bàn của Hồng Kông, điều trị cho 7.056 người, bao phủ khoảng 95% người SDMT tại đây [41]
Trên thế giới đã có nhiều bằng chứng khoa học chỉ ra rằng chương trình điều trị thay thế nghiện CDTP bằng thuốc Methadone có nhiều hiệu quả cao vê chi phí, không tốn kém, giảm tiêm chích và hành vi nguy cơ liên quan đến tiêm chích và tác hại của ma túy [36],[42] Hiện nay, chương trình điều trị thay thế nghiện CDTP bằng thuốc Methadone được triển khai nhiều quốc gia trên thế giới và tại các nước này chương trình Methadone đã góp phần đáng kể vào việc giảm tội phạm, giảm sự lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy
Tại Việt Nam
Điều 199 của Bộ Luật hình sự 1999 Việt Nam về tội sử dụng trái phép chất ma túy đã bị bãi bỏ theo Luật số 37/2009/QH12 ngày 19/6/2009 đã mang lại sự khởi đầu cho chương trình điều trị duy trì Methadone thí điểm cấp quốc gia cho những người TCMT, được khởi động từ tháng 5/2008
Chương trình Methadone thí điểm bắt đầu triển khai từ tháng 5/2008 với 6 trung tâm điều trị tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh, điều trị cho
Trang 28965 người nghiện chích ma túy [12] Trong giai đoạn 2 năm 2010 và 2011, chương trình đã được mở rộng đến 11 tỉnh thành (Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thái Nguyên, Điện Biên, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương, Quảng Ninh, Thanh Hóa và Cần Thơ) và áp dụng hướng dẫn điều trị Methadone Quốc gia đã được cải tiến tốt hơn
Thực tế tại Việt Nam có nhiều giải pháp hỗ trợ người SDMT từ bỏ ma túy nhưng phổ biến và được đầu tư nhiều nhất là cai nghiện bắt buộc tại các Trung tâm cai nghiện Tuy nhiên sau khi điều trị Methadone thí điểm triển khai thành công đã có nghiên cứu chỉ ra rằng điều trị Methadone có liên quan đến việc giảm sử dụng heroin nhiều hơn, giảm hành vi nguy cơ truyền bệnh đường máu, giảm hành vi bất hợp pháp liên quan đến ma túy và giảm chi phí hàng tháng so với điều trị cai nghiện bắt buộc tại trung tâm [55]
Tính đến tháng 3/2017, chương trình điều trị Methadone được triển khai tại 63 tỉnh, thành phố với 280 cơ sở điều trị Methadone và điều trị cho 51.318 người bệnh trong đó 41.286 người bệnh duy trì điều trị và 10.032 người bệnh đang dò liều [7] Số lượng người bệnh điều trị đạt 63% chỉ tiêu so với chỉ tiêu đề ra năm 2015 theo quyết định số 1008/QĐ – TTg ngày 20 tháng
6 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao chỉ tiêu người bệnh được điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone năm
- Quyết định số 5076/QĐ-BYT ngày 12/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế
Trang 29về việc ban hành Hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone và Hướng dẫn tổ chức thực hiện
- Quyết định số 3140/QĐ-BYT ngày 30/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế
về Hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone
- Nghị định 96/2012 ngày 15/11/2012 của Chính Phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế
- Thông tư số 12/2015/TT-BYT ngày 28/5/2015 của Bộ Y tế hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 96/NĐ-CP ngày 15/11/2012 của Chính Phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế
- Chỉ thị số 32/CT-TTG ngày 31/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc thay thế
- Quyết định số 1008/QĐ-TTg ngày 20/6/2014 của Thủ tướng Chính
phủ về việc giao chỉ tiêu người bệnh được điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone năm 2014 và 2015
1.2.4 Một số nghiên cứu về điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone
1.2.4.1 Nguy cơ lây nhiễm HIV, bệnh lây qua đường máu
Người nghiện CDTP mà phổ biến là tiêm chích Heroin được uống Methadone hằng ngày với liều thích hợp, nhu cầu SDMT dừng hoặc giảm, TCMT giảm, dẫn đến giảm lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường máu khác, được thể hiện qua các nghiên cứu sau:
Theo nghiên cứu của Howard M Rhoades và cộng sự tại Mỹ năm 1998 cho thấy người nghiện chích ma túy không được điều trị bằng Methadone có
tỷ lệ huyết thanh dương tính với HIV tăng từ 21% tới trên 51% sau 5 năm theo dõi Với nhóm người nghiện chích ma túy được điều trị bằng Methadone,
Trang 30tỷ lệ này chỉ tăng từ 13% đến 21% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê [38]
Kết quả nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy điều trị Methadone tác động giảm các trường hợp nhiễm HIV trong nhóm TCMT Trong năm 2015,
tỷ lệ nhiễm HIV trong số nhóm TCMT là 1,2%, và tỷ lệ đã giảm được 0,3%
so với khi không có chương trình điều trị Methadone Điều trị Methadone có tác động lớn nhất đến tỷ lệ mắc viêm gan C trong nhóm người SDMT sống với HIV Tỷ lệ mắc viêm gan C ước tính trong số tất cả các SDMT và TCMT sống chung với HIV năm 2015 là 46,2% và 54,6%, thấp hơn 6,3 và 8,8% so với khi không có chương trình điều trị Methadone [42]
Kết quả nghiên cứu tại 2 điểm điều trị nghiện ma túy bằng Methadone tại Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh và nghiên cứu tương tự tại Long An cho thấy cho thấy sau 9 tháng và 12 tháng điều trị không có trường hợp nhiễm mới HIV [12],[27]
1.2.4.2 Liều điều trị Methadone
Kết quả về liều điều trị trong nghiên cứu tại hai điểm điều trị thành phố Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh sau 9 tháng điều trị liều trung bình là 109mg/ngày Kết quả nghiên cứu tại Kinh Môn, Hải Dương liều trung bình 73mg/ngày, liều điều trị trung bình của những bệnh nhân điều trị ARV 115mg/ngày và liều điều trị trung bình của những bệnh nhân không điều trị ARV 65mg/ngày [2],[12]
Trong nghiên cứu thực trạng và giải pháp can thiệp bỏ điều trị Methadone ở người bệnh nghiện các CDTP tại Hải Phòng, tỷ lệ người bệnh điều trị với liều Methadone dưới 120mg/ngày khác nhau ở hai nhóm (85,1% người bệnh nhóm bỏ trị và 65,2% người bệnh nhóm chứng) Liều điều trị trung bình ở nhóm bỏ trị và nhóm chứng lần lượt là 64,3 ± 44,5mg và 111,7 ± 78,8mg Sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) Liều điều trị Methadone thấp nhất là 5mg và cao nhất là 380mg [29]
Trang 31Trong nghiên cứu của Trần Quang Đạo năm 2016 tại Hòa Bình cho thấy tỉ lệ người bệnh có liều dưới 60 mg chiếm tỉ lệ cao nhất (42,0%) tiếp đến
là liều trên 80 mg (32,2%) và thấp nhất 60 - 80 mg (25,8%) [11]
Nghiên cứu của Trương Kỳ Phong năm 2014 tại Điện Biên cho thấy người bệnh bắt đầu tham gia điều trị thay thế bằng Methadone, khởi liều từ 15-25mg chiếm tỷ lệ chủ yếu (89,1%), người bệnh dùng liều khởi đầu từ trên 25mg trở lên chiếm tỷ lệ thấp 2,1% Trong quá trình điều trị, có 94% người bệnh phải điều trị tăng liều trong quá trình điều trị, 3,3% người bệnh giảm liều và 2,7% người bệnh không phải thay đổi liều [25]
Nghiên cứu được thực hiện tại 5 cơ sở điều trị Methadone tại TP Hồ Chí Minh cho thấy điều trị ARV và lao là 2 yếu tố chính tác động đến liều Methadone, người bệnh uống thuốc ARV hay lao có liều Methadone trên 300mg/ngày cao gấp 6,9 lần và 3,8 lần so với người bệnh không điều trị ARV hay lao Người bệnh tiêm chích heroin có liều Methadone trên 120mg/ngày cao gấp 1,9 so với người bệnh hút/hít Tương tác thuốc là yếu tố chính dẫn đến liều Methadone cao trên người bệnh tại nghiên cứu này [28]
1.2.4.3.Tuân thủ điều trị
Theo nghiên cứu của Tổ chức Sức khỏe Gia đình Quốc tế (FHI) tại thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng (2009 - 2011) cho kết quả tỷ lệ người bệnh tuân thủ sau 12 tháng điều trị là 11,7% và sau 24 tháng điều trị là 22,2% [12]
Phạm Văn Hán và cộng sự tiến hành nghiên cứu về thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh điều trị Methadone trên 394 người bệnh tại cơ sở điều trị Methadone quận Lê Chân - Hải Phòng năm 2011 cho kết quả tỷ lệ người bệnh bỏ điều trị là 22,1% [14]
1.2.4.4.Tình trạng sử dụng chất gây nghiện
Đánh giá kết quả điều trị nghiện các CDTP bằng Methadone qua chỉ số hiệu quả trên mẫu nghiên cứu là 852 người bệnh trong nghiên cứu của Nguyễn
Trang 32Thanh Long và cộng sự tại thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng (2009 - 2011) cho thấy: Tỷ lệ người bệnh dương tính với ma túy khi xét nghiệm nước tiểu giảm từ 98,2% trước khi điều trị xuống 15,5% sau 12 tháng và 12,4% sau
24 tháng, chỉ số hiệu quả là 84,2% và 87,4% (p < 0,001) [12]
Kết quả trong nghiên cứu thực trạng cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế chương trình dùng thuốc thay thế Methadone can thiệp trong nhóm nghiện chích ma túy tại thành phố Hà Nội năm 2012 trên 370 đối tượng cho thấy: Tần suất sử dụng heroin hàng ngày của người bệnh giảm đi r rệt: Trước điều trị 1,24 lần/ngày; giai đoan dò liều 1,07 lần/ngày sau 7 ngày là 0,33 lần/ngày, sau 30 ngày và sau 3 tháng điều trị là 0,08 lần/ngày [23]
Trong nghiên cứu Thực trạng sức khỏe và tái hòa nhập cộng đồng của người bệnh đang điều trị Methadone tại huyện Tiền Hải và thành phố Thái Bình tỉnh Thái Bình năm 2016 của Đỗ Đình Huy cho thấy tình trạng giảm sử dụng heroin của người bệnh đang điều trị Methadone sau khi điều trị Methadone là 14,0% (thành phố 20,0%, huyện Tiền Hải 8,0%), sự khác biệt giữa thành phố và huyện Tiền Hải có ý nghĩa thống kê với p<0,05 [19] Trong một nghiên cứu khác tại Hải Phòng năm 2013 đối với 320 người bệnh điều trị Methadone trên 24 tháng, tỷ lệ SDMT là 10,6% [31]
Một nghiên cứu tại Long An cho thấy sau 6 tháng điều trị, tỷ lệ người bệnh sử dụng Heroin giảm xuống còn 32% Tuy nhiên có 10,4% người bệnh
sử dụng Methamphetamine Nghiên cứu khác tại Thanh Hóa cho kết quả người bệnh giảm SDMT bất hợp pháp từ 100% trước điều trị xuống 14,5% sau 12 tháng điều trị (p < 0,05) [27],[35]
1.2.4.5.Tác dụng phụ và các bệnh kèm theo
Một cuộc khảo sát 6 tháng theo dõi người bệnh điều trị Methadone năm 2006 tại Litva cho thấy sau khi theo d i 3 tháng và 6 tháng, người tham gia nghiên cứu thông báo về tỷ lệ mắc bệnh liên quan đến TCMT,
Trang 33tim mạch, sinh dục, phụ khoa, cơ xương khớp, thần kinh, tiêu hóa và sức khỏe nói chung thấp Nghiên cứu tại Malaysia cũng thấy tỷ lệ mắc tác dụng phụ rối loạn chức năng tình dục ở người bệnh điều trị Methadone là 67% [47],[48]
Nghiên cứu của Cao Kim Vân và cộng sự (2010): Kết quả điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng Methadone tại phòng khám ngoại trú quận 4, thành phố Hồ Chí Minh, trong tổng số 275 người bệnh đang điều trị, số người bệnh viêm gan B là 16,7%, viêm gan C là 42,5% Kết quả này trong nghiên cứu của Vũ Văn Công, tỷ lệ tương ứng viêm gan B là 12,6%, viêm gan C là 40,3% Kết quả nghiên cứu của Đỗ Đình Huy tại Thái Bình tỷ lệ tương ứng viêm gan B là 3,7%, viêm gan C là 39,0% [8],[19],[34]
Tác dụng phụ của điều trị Methadone, ví dụ táo bón hoặc khô miệng, được lưu ý trong chương trình điều trị Nhìn chung, khoảng 75,2% người bệnh đã trải qua ít nhất một tác dụng phụ trong vòng 3 tháng đầu, sau đó báo cáo có tác dụng phụ đã giảm xuống khoảng 60,6% vào cuối tháng thứ 12 và tiếp tục giảm xuống còn 46,3% sau 24 tháng Táo bón, tăng tiết mồ hôi và khô miệng là ba triệu chứng phổ biến nhất của tác dụng phụ được báo cáo Mối quan ngại chính của người bệnh là rối loạn tình dục không phổ biến trong năm thứ hai điều trị, tỷ lệ người bệnh báo cáo có các vấn đề liên quan đến hoạt động tình dục là dưới 10% [12]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thắm năm 2018 tại Hải Phòng, trong 242 người bệnh nhóm bệnh và nhóm chứng, người bệnh có tác dụng phụ như táo bón (26,0%), ra mồ hôi nhiều (18,2%), giảm khả năng tình dục (17,8%), rối loạn giấc ngủ (14,0%) [29]
Nghiên cứu của Cao Kim Vân và cộng sự (2010): Trong số các tác dụng phụ thì táo bón chiếm tỷ lệ cao nhất 86%, những tác dụng phụ khác như buồn nôn sau khi uống thuốc, giảm trí nhớ chiếm một tỷ lệ thấp 14% [34]
Trang 341.2.4.6.Tình trạng thay đổi sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần của người bệnh điều trị Methadone
Nghiên cứu của Đỗ Đình Huy tại Thái Bình năm 2016 cho thấy cân nặng của người bệnh đang điều trị Methadone từ 50 - 60 kg chiếm tỷ lệ cao nhất 70,0%, < 50 kg chiếm tỷ lệ 18,3%, > 60 kg chiếm tỷ lệ 11,7% Trung bình cân nặng 56 ± 5,6kg Đối với chỉ số BMI, 91,7% người bệnh đang điều trị Methadone có chỉ số BMI <18,5 (người gầy), chỉ có 8,3% người bệnh đang điều trị Methadone có chỉ số BMI bình thường so với tiêu chuẩn của Tổ chức
Y tế thế giới Một nghiên cứu tại Long An năm 2015 cũng cho người bệnh tăng cân trung bình 3,4 kg sau 12 tháng điều trị [19],[27]
Trong nghiên cứu của Trương Kỳ Phong, các biểu hiện liên quan tới sức khỏe tâm thần sau khi người bệnh tham gia điều trị Methadone đều giảm
rõ rệt so với trước khi điều trị: tỷ lệ người bệnh lo lắng thái quá, căng thẳng một cách nghiêm trọng từ 28,1% xuống còn 1,6%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (với p <0,05); người bệnh có dấu hiệu trầm cảm giảm từ 31,6% xuống còn 1,0%; khó kiểm soát hành vi bạo lực giảm từ 8,1% xuống còn 0,4%; có hành vi tự tử giảm từ 2,4% xuống 0,1% [25]
Nghiên cứu năm 2017 tại Hà Nội về chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan trên nhóm bệnh nhân điều trị methadone cho thấy kết quả cho thấy, điểm chất lượng cuộc sống cao nhất mặt thể chất (70,2 ± 9,63), thấp nhất mặt xã hội (62,9 ± 1,07) Chất lượng cuộc sống mặt tinh thần cao hơn ở bệnh nhân sống cùng người thân/ bạn tình (p < 0,01) và có việc làm (p < 0,05) Thời gian điều trị methadone dài hơn giúp bệnh nhân cải thiện chất lượng cuộc sống mặt tinh thần, xã hội, môi trường (p < 0,05) Ngược lại, bệnh nhân nhiễm HIV có chất lượng cuộc sống mặt xã hội thấp hơn (p < 0,05) [32]
Trong nghiên cứu kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại thành phố Tân An, tỉnh Long An năm 2015 cho thấy tỷ lệ BN không còn nguy cơ trầm cảm là 67,9% [27]
Trang 351.2.4.7.Hành vi sống lành mạnh, hòa nhập cộng đồng
Nghiên cứu của Pang và cộng sự tại Trung Quốc năm 2007 về Đánh giá hiệu quả giai đoạn đầu của 8 cơ sở điều trị Methadone ở Trung Quốc Nghiên cứu tiến hành điều tra cắt ngang tại 3 thời điểm trước điều trị, 6 tháng
và 12 tháng sau điều trị, so sánh hành vi liên quan đến SDMT, mối quan hệ với gia đình, xét nghiệm HIV lại sau 12 tháng điều trị Kết quả cho thấy điều trị Methadone góp phần làm giảm SDMT, hành vi TCMT, nhiễm HIV và các mối quan hệ gia đình xã hội được cải thiện [44]
Đối với người bệnh điều trị Methadone thì việc hòa nhập cộng đồng rất quan trọng Nó thể hiện ở công việc, mối quan hệ với gia đình sau khi điều trị Methadone Nghiên cứu của Đỗ Đình Huy cho thấy 58,3% người bệnh đang điều trị Methadone đã tìm được công việc ổn định, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Kết quả việc cải thiện mối quan hệ với gia đình sau khi điều trị Methadone của người bệnh đang điều trị Methadone, 87,3% có cải thiện, chỉ có 12,7% không cải thiện [19]
Trong nghiên cứu khác tại Điện Biên, trước điều trị có 93% người bệnh có mâu thuẫn với gia đình, sau thời gian điều trị tỷ lệ này giảm còn 24,3% người bệnh có mâu thuẫn xã hội từ 78% trước điều trị giảm xuống còn 35,7%; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Những ảnh hưởng xấu của người bệnh đã giảm rõ sau quá trình điều trị thay thế bằng Methadone Cụ thể có 12,2% người bệnh có hành vi ăn cắp, ăn trộm trước điều trị giảm xuống còn 0,3% sau điều trị Người bệnh bán đồ của cá nhân
và của gia đình trước điều trị chiếm tỷ lệ rất cao (40,4% và 39,9%) giảm xuống còn 2,2% và 3,4% sau điều trị [25]
Trong nghiên cứu triển khai mô hình thí điểm điều trị nghiện các CDTP bằng Methadone cho 965 người bệnh tại 2 thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng với thời gian là 2 năm (11/2009 – 11/2011) Hành vi phạm pháp giảm từ
Trang 3640,8% xuống 2,2% sau 12 tháng và 1,6% sau 24 tháng Hành vi bạo lực gia đình giảm mạnh từ 90,4% xuống 2,5% sau 12 tháng và 2,3% sau 24 tháng Có việc làm tăng lên thêm 9,0% - 11,9% Có vấn đề sức khoẻ tâm thần giảm 36,9% và 34,8% Chất lượng cuộc sống từ tốt trở lên tăng thêm 34,7% - 39,2% [12]
1.3 Yếu tố liên quan đến đến tình trạng còn sử dụng chất gây nghiện của người bệnh điều trị Methadone
1.3.1 Tuổi, giới tính
Người bệnh lớn tuổi có tỷ lệ sử dụng Heroin cao hơn ở nhóm tuổi trẻ, người bệnh trên 50 tuổi có tỷ lệ sử dụng Heroin (15,3%) cao hơn nhóm tuổi còn lại Ngược lại, người bệnh trẻ tuổi có tỷ lệ sử dụng METH cao hơn nhóm tuổi lớn hơn, Người bệnh dưới 40 tuổi có tỷ lệ sử dụng METH (15,8%) cao
hơn nhóm tuổi lớn hơn [56]
1.3.2 Tình trạng hôn nhân, sống với bạn tình sử dụng ma túy
Kết quả các nghiên cứu cho thấy tình trạng hôn nhân có mối liên quan
có ý nghĩa thống kê với SDMT trong điều trị Methadone Những người bệnh
đã kết hôn tuân thủ điều trị Methadone hơn những người còn độc thân Việc tuân thủ điều trị tốt hơn cũng dẫn đến thay đổi hành vi SDMT tốt hơn
Sống với bạn tình có SDMT cũng là một trong những nguyên nhân có ý nghĩa thống kê với hành vi SDMT của người bệnh Những người có bạn tình SDMT có nguy cơ SDMT cao hơn nhóm người bệnh không có bạn tình SDMT [16],[17],[56]
1.3.3 Trình độ học vấn, việc làm và thu nhập hàng tháng
Trình độ học vấn cũng có thể ảnh hưởng đến việc tiếp tục SDMT của người bệnh Tỷ lệ tiếp tục SDMT ở những người bệnh có trình độ học vấn thấp cao hơn ở những người bệnh còn lại Người bệnh có việc làm ổn định là một trong những yếu tố có ảnh hưởng chặt chẽ đến sự thành công của chương trình điều trị Tỷ lệ SDMT trong nhóm người bệnh có thu nhập cao cao hơn tỷ
Trang 37lệ SDMT trong nhóm người bệnh có thu nhập thấp [40]
1.3.4 Tiền sử sử dụng ma túy của người bệnh
Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tiền sử SDMT của người bệnh có mối liên quan với hành vi tiếp tục SDMT trong quá trình điều trị Methadone Những người có tiền sử thời gian SDMT nhiều năm hơn thì có nguy cơ sử dụng heroin cao hơn, người bệnh có thời gian SDMT trước điều trị trên 10 năm có tỷ lệ sử dụng Heroin (33%) cao hơn những người bệnh có thời gian sử dụng Heroin trước điều trị dưới 10 năm [17],[56]
Nghiên cứu của Tran BX, Ohinmaa A và cộng sự năm 2012 cho thấy tần suất sử dụng các CDTP trước khi tham gia liệu pháp Methadone có mối tương quan với heroin trong nước tiểu của các đối tượng đang tham gia chương trình điều trị [49]
1.3.5 Thời gian điều trị
Các nghiên cứu cũng cho thấy thời gian điều trị Methadone có ảnh hưởng đến hành vi SDMT trong quá trình điều trị Người bệnh điều trị trên một năm thì khả năng sử dụng heroin (dưới 10%) thấp hơn so với những người bệnh điều trị dưới một năm 21,2% và càng điều trị lâu thì tỷ lệ sử dụng heroin càng giảm, đặc biệt với những người bệnh điều trị được trên năm năm,
tỷ lệ sử dụng Heroin rất thấp (dưới 5%) Và trái ngược với sử dụng heroin, sử dụng METH được gặp phổ biến trong những người bệnh đã được điều trị trong khoảng thời gian dài, đặc biệt đối với người bệnh điều trị trên năm năm,
tỷ lệ này là 18,0% Điều này có thể là bằng chứng cho ta thấy điều trị điều trị Methadone trong thời gian dài với liều cao sẽ làm mất tác dụng của sử dụng heroin, nhưng không làm giảm độ ―phê‖ khi sử dụng METH [56]
1.3.6 Liều điều trị
Liều điều trị Methadone cũng có liên quan đến hành vi SDMT, người bệnh điều trị với liều Methadone thấp hơn thì có hành vi sử dụng heroin cao
Trang 38hơn, đặc biệt với những người bệnh điều trị với liều dưới 30ml/ngày tỷ lệ sử dụng Heroin (16,7%) cao hơn những người bệnh điều trị với liều cao hơn, tỷ
lệ này dưới 10% [12],[56]
1.3.7 Tuân thủ điều tri
Người bệnh khi điều trị Methadone đầy đủ và tuân thủ đúng quy trình điều trị thì người bệnh sẽ không nghĩ đến và SDMT còn những người bệnh bỏ liều, điều trị không đầy đủ theo quy trình điều trị sẽ có nguy cơ SDMT cao hơn trên 75% đối những người bệnh không tuân thủ điều trị [2],[17]
Nghiên cứu thực hiện trên cơ sở điều trị methadone trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế về tuân thủ điều trị cho thấy việc sử dụng chất gây nghiện trong 3 tháng qua có liên quan tới tuân thủ điều trị với OR=10,03, 95%CI (5,4
- 18,5) Có mối liên quan giữa liều điều trị hiện tại với việc tuân thủ điều trị OR=13,5, 95%CI (7,02- 26,1) Việc xuất hiện hội chứng cai cũng có liên quan với OR = 10,4 95%CI (5,4 - 20,1) [18]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thắm tại Hải Phòng năm 2016 cho thấy có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về sử dụng heroin trong tháng qua giữa nhóm người bệnh bỏ trị và nhóm người bệnh không bỏ trị [29]
1.4 Chương trình điều trị Methadone tại Hải Dương
Thành phố Hải Dương nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Hải Dương, cách Thủ
đô Hà Nội 57 km về phía đông, cách thành phố Hải Phòng 45 km về phía tây Thành phố Hải Dương là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội của tỉnh Hải Dương Diện tích tự nhiên là 71 km² dân số là 213.639 người, mật độ dân số là 5.226 người/ km2 Đơn vị hành chính gồm 21 xã/ phường [9]
Thành phố Hải Dương là nơi kinh tế xã hội phát triển nhất tỉnh Hải Dương và cũng là nơi có tình hình tệ nạn xã hội phức tạp, tập trung số người nghiện ma tuý cao nhất toàn tỉnh
Trang 39Hoạt động điều trị nghiện CCDTP bằng Methadone được triển khai tại Hải Dương từ tháng 11/2010 và cở sở điều trị Methadone tại thành phố Hải Dương là cơ sở đầu tiên được triển khai trên toàn tỉnh
Hiện nay tại thành phố Hải Dương có một cơ sở điều trị Methadone được triển khai tại bệnh viện Bệnh nhiệt đới tỉnh Hải Dương trên cơ sở là Trung tâm phòng chống HIV/ AIDS cũ Đến cuối năm 2018 cở sở điều trị Methadone đang điều trị cho 233 người bệnh là người SDMT [1] Hoạt động điều trị Methadone đã mang lại kết quả tốt cho nhiều người tham gia điều trị như giảm hành vi, cải thiện sức khỏe thể chất, tinh thần có công ăn việc làm
ổn định hơn Mặt khác, trong bối cảnh kinh phí dành cho công tác phòng, chống HIV/AIDS bị giảm mạnh trong những năm gần đây, nguồn nhân lực, vật lực dành cho chương trình điều trị Methadone hạn chế có thể gây ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của chương trình
Trang 40Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa bàn, đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu
Thành phố Hải Dương hiện nay có 25 xã/phường và tất các các xã phường đều có người SDMT Tuy nhiên người SDMT tập trung nhiều ở các phường thuộc trung tâm thành phố như phường Pham Ngũ Lão, Nguyễn trãi
và 1 số phường vùng ven thành phố như phường Ngọc Châu, Nhị Châu Tại các địa bàn này có các điểm nóng về ma túy
Cơ sở điều trị Methadone tại thành phố Hải Dương là cơ sở điều trị đầu tiên trên địa bàn tỉnh được thành lập tháng 11 năm 2010 tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hải Dương dưới sự tài trợ của Dự án LIFE-GAP Ban đầu khi thành lập, các trang thiết bị tại cơ sở điều trị, kinh phí chi trả lương cho nhân viên cũng như kinh phí điều trị của người bệnh được sự tài trợ hoàn toàn của Dự án LIFE-GAP Đến năm 2014 đo sự tài trợ của dự án hạn chế, tỉnh Hải Dương thực hiện xã hội hóa điều trị Methadone, người bệnh tham gia điều trị phải đóng phí điều trị là 300.000 đồng/tháng Cũng trong năm 2014
Sở Y tế Hải Dương có quyết định thành lập khoa Điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc thay thế trực thuộc Trung tâm phòng chống HIV/AIDS thay cho
cơ sở điều trị điều trị Methadone Đến tháng 10 năm 2018, tỉnh Hải Dương thành lập Bệnh viện Bệnh nhiệt đới tỉnh Hải Dương trên cơ sở Trung tâm phòng chống HIV/AIDS đo đó cơ sở điều trị Methadone tại thành phố Hải Dương là bộ phận thuộc khoa Khám bệnh của bệnh viện
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
2.1.2.1 Nghiên cứu định lượng
Người bệnh đang điều trị Methadone