ÌNH TRẠNG SÂU RĂNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA SỨC KHỎE RĂNG MIỆNG LÊN SINH HOẠT HÀNG NGÀY CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THCS ĐOÀN KẾT QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHÌNH TRẠNG SÂU RĂNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA SỨC KHỎE RĂNG MIỆNG LÊN SINH HOẠT HÀNG NGÀY CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THCS ĐOÀN KẾT QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
HUỲNH THỊ TỐ PHI
TÌNH TRẠNG SÂU RĂNG
VÀ TÁC ĐỘNG CỦA SỨC KHỎE RĂNG MIỆNG
LÊN SINH HOẠT HÀNG NGÀY CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THCS ĐOÀN KẾT QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
HUỲNH THỊ TỐ PHI
TÌNH TRẠNG SÂU RĂNG
VÀ TÁC ĐỘNG CỦA SỨC KHỎE RĂNG MIỆNG
LÊN SINH HOẠT HÀNG NGÀY CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THCS ĐOÀN KẾT QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Y tế công cộng
Mã số: 8720701 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS BS NGÔ ĐỒNG KHANH
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2020
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG i
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Bệnh sâu răng 5
1.2 Sức khỏe răng miệng và chất lượng cuộc sống 36
1.3 Tổng quan về địa điểm nghiên cứu 46
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48
2.1 Thiết kế nghiên cứu 48
2.2 Đối tượng nghiên cứu 48
2.3 Phương pháp nghiên cứu 50
2.4 Kiểm soát sai lệch 63
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu 64
KẾT QUẢ 66
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 66
3.2 Tình trạng sâu, mất, trám răng của đối tượng nghiên cứu 70
3.3 Tác động của sức khỏe răng miệng lên sinh hoạt hàng ngày 75
3.4 Mối liên quan giữa SMT răng và mức độ ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày 81
BÀN LUẬN 82
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 82
4.2 Tình hình sâu, mất, trám răng của đối tượng nghiên cứu 83
4.3 Tác động của sức khỏe răng miệng lên sinh hoạt hàng ngày 86
4.4 Mối liên quan giữa SMT răng và mức độ ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày 89
KẾT LUẬN 92
KIẾN NGHỊ 93
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các yếu tố liên quan đến sâu răng [8] 11
Bảng 1.2 Tiêu chuẩn phát hiện sâu thân răng nguyên phát theo ICDAS 15
Bảng 1.3 Phân loại “site and size” 15
Bảng 1.4 Sơ đồ phân loại mức độ sâu răng của Nigel Pitts 17
Bảng 1.5 Thang phân loại sâu răng của thiết bị DIAGNOdent 2190 23
Bảng 1.6 Các chỉ số cơ bản đo lường bệnh sâu răng 28
Bảng 1.7 Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn lứa tuổi 12-14 theo các vùng địa lý 2019 34
Bảng 1.8 Tình trạng sâu răng tại Việt Nam năm 1999 so với năm 2019 35
Bảng 1.9 Các chỉ số đo lường sức khỏe răng miệng 37
Bảng 1.10 Một số nghiên cứu ở Việt Nam về tình hình sức khỏe răng miệng của học sinh THCS 46
Bảng 2.1 Chọn mẫu nghiên cứu 49
Bảng 2.2 Đặc điểm của học sinh được chọn vào so với học sinh toàn trường 50
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n=425) 66
Bảng 3.2 Thực hành khám răng miệng 67
Bảng 3.3 Thực hành vệ sinh răng miệng 68
Bảng 3.4 Thói quen ăn uống (n=423) 69
Bảng 3.5 Tình trạng Sâu-Mất-Trám răng (n=425) 70
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa tuổi và giới với tình trạng Sâu-Mất-Trám răng 71
Bảng 3.7 Thực hành khám răng miệng liên quan đến Sâu-Mất-Trám răng 72
Bảng 3.8 Thực hành vệ sinh răng miệng liên quan đến tình trạng Sâu-Mất-Trám răng 73
Bảng 3.9 Thói quen ăn uống liên quan tình trạng Sâu-Mất-Trám răng 74
Bảng 3.10 Các khó chịu răng miệng tác động đến sức khỏe (n=425) 75
Bảng 3.11 Mức độ trầm trọng và tần suất tác động của sức khỏe răng miệng 76
Bảng 3.12 Mức độ tác động của sức khỏe răng miệng 77
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa tuổi và giới với tình trạng sâu, mất, trám răng 77
Bảng 3.14 Thực hành khám răng miệng liên quan đến tác động của sức khỏe răng miệng 78
Trang 5Bảng 3.15 Thực hành vệ sinh răng miệng liên quan đến tác động của sức khỏe răng miệng 79Bảng 3.16 Thói quen ăn uống liên quan đến tác động của sức khỏe răng miệng 80Bảng 3.17 Các đặc điểm đối tượng nghiên cứu liên quan đến tác động của sức khỏe răng miệng 81
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Biểu đồ thể hiện pH của khoang miệng sau khi ăn đường 10
Biểu đồ 1.2 Nguy cơ tương đối của bệnh sâu răng ở 6 khu vực của WHO tham chiếu theo số trung bình của thế giới [67] 32
Biểu đồ 1.3 Tỉ lệ sâu răng qua các năm học từ 2016 đến 2018 tại các trường THCS thuộc Quận 6 47
Hình 1.1 Giải phẫu hình ảnh răng 5
Hình 1.2 Các yếu tố tác động lên căn nguyên gây bệnh sâu răng [14] 12
Hình 1.3 Hình ảnh tiến triển sâu răng 13
Sơ đồ 1.1 Căn nguyên bệnh sâu răng [32] 6
Sơ đồ 1.2 Cơ chế tạo sâu răng 7
Sơ đồ 2.1 Quy trình khám sức khỏe học đường 52
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DALYs Số năm sống điều chỉnh theo bệnh tật
DMFT Decayed, Missing, Filled Teeth
Chỉ số sâu, mất, trám ICDAS International Caries Detection and Assessment System
Hệ thống đánh giá và phát hiện sâu răng quốc tế SMTR
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiên cứu về bệnh tật toàn cầu năm 2016 ước tính các bệnh về răng miệng ảnh hưởng đến một nửa dân số thế giới (khoảng 3,58 tỉ người), trong đó sâu răng vĩnh viễn được đánh giá là bệnh phổ biến nhất [22] Sức khỏe răng miệng quyết định đến chất lượng cuộc sống của mỗi người, bệnh làm hạn chế các hoạt động ở trường, ở nơi làm việc và ở nhà, là nguyên nhân làm cho hàng triệu giờ học và giờ làm việc bị mất mỗi năm trên thế giới [93]
Sâu răng là một bệnh phá hủy cấu trúc răng Nếu không được chữa trị sớm, một số hậu quả có thể gặp phải như nhiễm trùng tại chỗ, tử vong đối với những trường hợp nhiễm trùng toàn thân nặng [36] Sâu răng được CDC Hoa Kỳ đánh giá là một bệnh mạn tính phổ biến ở trẻ từ 6 đến 11 tuổi và thanh thiếu niên từ 12 đến 19 tuổi Sâu răng có mức độ phổ biến gấp 4 lần so với hen suyễn ở thanh thiếu niên từ 14 đến
17 tuổi Sâu răng cũng ảnh hưởng đến người lớn, với 9/10 người trên 20 tuổi bị sâu răng ở các mức độ khác nhau [36] Sâu răng ở trẻ có thể làm tăng nguy cơ phát triển lệch lạc về cấu trúc xương hàm, sự định hình về khớp cắn, cũng như sự phát triển bộ răng vĩnh viễn sau này [17] Tại Việt Nam, bệnh về răng miệng đặc biệt là sâu răng khá phổ biến trong cộng đồng với 80% dân số gặp phải các vấn đề sức khỏe răng miệng Theo kết quả điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc lần thứ 2 năm 1999 tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn lứa tuổi 12 là 56,6%, lần thứ 3 năm 2019 là 44,8% trong đó cao nhất
ở vùng Đông Nam Bộ 48,8%, thấp nhất ở vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ 19,9% Sâu răng vĩnh viễn có chiều hướng tăng lên theo tuổi, thấp nhất ở nhóm 6-8 tuổi và cao nhất
ở nhóm 12-14 tuổi [19] Bệnh răng miệng nói chung và sâu răng nói riêng thực sự là vấn đề lớn của xã hội với những tác động của nó đối với cá nhân và cả cộng đồng Việc điều trị các bệnh răng miệng là vô cùng tốn kém Ở các nước thu nhập thấp, chỉ riêng chi phí cho sâu răng ở trẻ em đã vượt quá tổng ngân sách chăm sóc cho trẻ [92] Việc phòng bệnh răng miệng là quá trình không phức tạp, không đòi hỏi trang thiết
bị đắt tiền và đội ngũ cán bộ có chuyên môn kỹ thuật cao, vì thế chi phí thấp, dễ thực hiện ở cộng đồng, đặc biệt là ở các trường học Do đó việc đánh giá tác động của bệnh răng miệng đối với cuộc sống là rất cần thiết, nhất là đối với các nước có thu nhập thấp, góp phần vào bức tranh chung nhằm gợi ý đưa ra chính sách và kế hoạch
Trang 9can thiệp cộng đồng có hiệu quả trong khi nguồn ngân sách giới hạn Đặc biệt cần quan tâm đối với trẻ từ 12 – 15 tuổi, lứa tuổi học trung học cơ sở (THCS) [95] Lứa tuổi này với nhiều biến động, rối loạn cảm xúc của lứa tuổi dậy thì và có thói quen
ăn vặt, ăn nhiều chất ngọt được xem là các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng [1]
Quận 6, một quận thuộc TP.HCM - chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
“thương mại - dịch vụ - công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp” tập trung nhiều nhà máy
xí nghiệp, là nơi giao thương với các tỉnh miền Tây Nam Bộ thu hút lực lượng lao động tại quận lẫn các quận lân cận như Bình Tân và Tân Phú Đặc biệt, với chợ đầu mối Bình Tây, một trong những trung tâm buôn bán lớn của cả nước, thương mại có thể được xem là một thế mạnh nơi đây [14] Khi kinh tế gia tăng, cuộc sống của người dân thay đổi, trẻ em được cho nhiều tiền ăn quà, song song với sự phát triển của các ngành công nghệ thực phẩm, việc trẻ em sử dụng nhiều chất đường bột tinh chế trong lúc các biện pháp phòng chống bệnh sâu răng không theo kịp tiến trình sâu răng của trẻ Quận 6 có 10 trường THCS, trong đó theo số liệu báo cáo về kết quả khám sức khỏe học sinh THCS toàn quận của trung tâm y tế (TTYT) Quận 6 trong 3 năm gần nhất, tỷ lệ sâu răng tại trường THCS Đoàn Kết trong 3 năm liền rất cao Cụ thể năm học 2016-2017 tỷ lệ sâu răng cao nhất 42,96%, năm học 2017-2018, 2018-2019 tỷ lệ sâu răng lần lượt là 49,5% và 38,05%, cao thứ nhì toàn Quận 6
Xuất phát từ các vấn đề trên chúng tôi thực hiện đề tài “Tình trạng sâu răng
và tác động các vấn đề răng miệng lên sinh hoạt hàng ngày của học sinh THCS Đoàn Kết, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020”
Trang 10CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1) Tỷ lệ hiện mắc, số trung bình răng Sâu-Mất-Trám của học sinh THCS Đoàn Kết tại Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020 là bao nhiêu?
2) Mức độ tác động của các vấn đề sức khỏe răng miệng lên sinh hoạt hàng ngày của học sinh THCS Đoàn Kết tại Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020 là bao nhiêu?
3) Có hay không mối liên quan giữa tình trạng Sâu-Mất-Trám răng và mức độ ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày ở học sinh THCS Đoàn Kết tại Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát:
Xác định tỷ lệ hiện mắc, số trung bình răng Sâu-Mất-Trám (SMTR) và tác động của các vấn đề răng miệng lên sinh hoạt hàng ngày của học sinh THCS Đoàn
kết tại quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020
3 Xác định mối liên quan giữa mức độ trầm trọng bệnh qua chỉ số Trám răng với tác động của vấn đề răng miệng lên sinh hoạt hàng ngày ở học sinh THCS Đoàn Kết tại Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020
Trang 11TÁC ĐỘNG SKRM (Child-OIDP)
- Số lần, thời điểm, thời lượng chải răng
Trang 12TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Hình 1.1 Giải phẫu hình ảnh răng 1.1 Bệnh sâu răng
1.1.1 Định nghĩa
Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn được biểu hiện bởi sự hủy khoáng ở thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần hữu cơ ở mô cứng của răng Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng hóa lý liên quan đến sự di chuyển các ion bề mặt giữa răng và môi trường miệng đồng thời là quá trình sinh học giữa các vi khuẩn
có trong mảng bám với cơ chế bảo vệ của vật chủ Quá trình này diễn tiến liên tục,
có giai đoạn sớm có thể phục hồi và giai đoạn muộn là không thể phục hồi [8], [54], [84]
1.1.2 Cơ chế bệnh sinh
1.1.2.1 Căn nguyên
Nguyên nhân sâu răng thường bởi quá trình lên men của carbohydrate đơn giản như saccarose, bởi các vi sinh vật đường miệng đặc biệt là liên cầu khuẩn và Lactobacilli Nó bắt đầu với độ nhám bề mặt nhỏ do khử khoáng bề mặt và sau đó
Trang 13tiến tới xâm thực, tiếp theo là sự xâm lấn đến tủy gây sưng, áp xe gây ra dấu hiệu và triệu chứng toàn thân [66]
Sâu răng có thể do nhiều yếu tố tác động gây nên Năm 1960 bệnh căn sâu răng được giải thích bằng sơ đồ Keyes Vi khuẩn trong miệng (chủ yếu là Streptococcus Mutans) lên men chất bột đường còn dính lại răng tạo thành acid, acid này phá hủy tổ chức cứng của răng tạo thành lỗ sâu Theo đó, việc phòng bệnh sâu răng tập trung vào chế độ ăn hạn chế đường, vệ sinh răng miệng kỹ song kết quả phòng bệnh sâu răng vẫn bị hạn chế [88] Sau năm 1975 người ta làm sáng tỏ căn nguyên bệnh sâu răng và giải thích bằng sơ đồ White thay thế một vòng tròn của sơ đồ Keyes (chất đường) thành vòng tròn chất nền nhấn mạnh vai trò nước bọt và pH của dòng chảy môi trường quanh răng
Sơ đồ 1.1 Căn nguyên bệnh sâu răng [88]
Vi khuẩn đóng vai trò quan trọng trong tiến trình sâu răng Ngoài ra cần phải có các yếu tố thuận lợi như chế độ ăn uống nhiều đường, vệ sinh răng miệng (VSRM) không tốt, chất lượng men răng kém và môi trường tự nhiên, nhất là môi trường nước uống có hàm lượng fluor thấp tạo điều kiện cho sâu răng phát triển [11], [31], [34] Năm 1990, Fejerskov và Manji bổ sung các yếu tố tác động đến quá trình
Răng
Thứ c ăn Vi khuẩn
Dòng chảy pH quanh răng
Vi khuẩn Thức
ăn
Chất nền
Nước bọt
Sâu răng
Trang 14sâu răng nhấn mạnh vai trò của môi trường miệng cũng như các yếu tố môi trường
tự nhiên, hành vi, thái độ, kiến thức, kinh tế xã hội thúc đẩy hoặc hạn chế các căn nguyên sâu răng (sơ đồ 1.2) [45] Theo đó, sự hình thành mảng bám, vôi răng tạo ra môi trường thuận lợi để vi khuẩn phát triển tại chỗ Quá trình lên men carbohydrat diễn ra mạnh trong môi trường mảng bám tạo ra a-xít làm giảm mạnh
độ pH tại chỗ và thúc đẩy quá trình khử khoáng Carbodydrate tham gia trực tiếp vào quá trình lên men tạo a-xít, do đó việc tiêu thụ đường và thành phần của đường tiêu thụ có liên quan trực tiếp đến quá trình sâu răng Nước bọt đóng vai trò quan trọng trong điều hòa môi trường quanh răng, tham gia pha loãng a-xít giúp giảm khử khoáng và cung cấp các thành phần cần thiết để tái khoáng phục hồi các tổn thương sớm Thói quen sinh hoạt và hành vi, thực hành bảo vệ răng miệng cùng với các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội có ảnh hưởng tích cực đến tình trạng sâu răng
Sơ đồ 1.2 Cơ chế tạo sâu răng
Trang 151.1.2.2 Quá trình khử khoáng và tái khoáng
Sâu răng xảy ra do sự mất cân bằng của 2 quá trình khử khoáng và tái khoáng,
do vai trò chuyển hoá carbohydrate của vi khuẩn ở mảng bám trên bề mặt răng
- Sự khử khoáng: Các hydroxyapatite - Ca10(PO4)6(OH)2) và fluorapatite là thành phần chính của men và ngà răng bị hòa tan khi pH giảm dưới mức pH tới hạn,
pH tới hạn của hydroxyapatite là 5,5 và pH tới hạn của fluorapatite là 4,5
+ Ở pH< 5,5, các chất khoáng của răng hoạt động như một chất đệm, giải phóng các ion calci và phosphate vào trong mảng bám Khả năng đệm của răng duy trì pH tại chỗ ở mức 5,0 và là nguyên nhân hình thành các tổn thương mô bệnh học điển hình của sâu răng
+ Ở pH = 5,0 bề mặt men không bị tổn thương cho tới khi có hiện tượng mất khoáng dưới bề mặt Lỗ sâu chỉ được hình thành khi các tổn thương men xốp dưới bề mặt huỷ khoáng nhiều tới mức gãy sập lớp men bề mặt
- Sự tái khoáng: Quá trình tái khoáng ngược với quá trình hủy khoáng, xảy ra khi pH trung tính, có đủ ion Ca2+ và PO43- trong môi trường miệng Nước bọt có vai trò cung cấp các ion Ca 2+ và PO43- để khoáng hoá Hủy khoáng và tái khoáng là 2 hiện tượng sinh lý luôn diễn ra bình thường trong tổ chức cứng của răng, nếu khử khoáng > tái khoáng sẽ sinh ra bệnh sâu răng [10], [2], [40], [39]
1.1.2.3 Vi khuẩn (màng sinh học và mảng bám VK):
Liên cầu khuẩn Mutans là một nhóm vi khuẩn có liên quan đến sâu răng Họ
của nó bao gồm: S mutans, Streptococcus sobrinus, Streptococcus rattus, Liên cầu khuẩn cricetus, Streptococcus ferus, Streptococcus downeii và Streptococcus macaca S mutans cariogen với độc lực liên quan đến nhiều thuộc tính Chủng vi
khuẩn có khả năng gây sâu răng cao nhất trong nghiên cứu thực nghiệm là
Streptococus mutans Một số chủng vi khuẩn khác như Actinomyces, Lactobacillus
cũng được xác định có khả năng gây ra sâu răng [24], [80]
Vi khuẩn có sẵn trong miệng, chủ yếu là Lactobacillus và Streptococcus mutans, khi có thức ăn dính lên mặt răng đặc biệt là đường và tinh bột, các vi khuẩn
sẽ phân hủy thức ăn tạo nên acid ăn mòn men răng tạo thành lỗ sâu Vi khuẩn, acid,
Trang 16mùn thức ăn trên mặt răng sẽ tạo thành một màng dính vào răng gọi là màng bám răng, màng này rất dính và có ở tất cả các mặt răng đặc biệt là răng hàm [53] Có khoảng 200 – 300 loại vi khuẩn sống trong khoang miệng, một số trôi nổi tự do trong khoang miệng và thường bị dòng chảy của nước bọt nuốt xuống dạ dày Chỉ một số sinh vật đặc biệt nhất là streptococci mới có thể bám vào các bề mặt trong miệng như niêm mạc và cấu trúc răng Các vi khuẩn bám đó có những thụ thể (receptor) đặc biệt
để có thể bám vào mặt răng và nó cũng tạo một khung (matrix) dính để giúp cho chúng bám vào với nhau Mảng bám vi khuẩn là nguyên nhân chính của sự lên men carbohydrates thức ăn, đồ uống để trở thành ion acid trên bề mặt răng Hiệu quả của chất đệm nước bọt của lượng acid này thì tỷ lệ nghịch với chiều dày mảng bám [53]
Trang 17Biểu đồ 1.1 Biểu đồ thể hiện pH của khoang miệng sau khi ăn đường
Vị trí răng, răng lệch lạc làm tăng khả năng lưu giữ mảng bám vì thế dễ bị sâu răng hơn
1.1.2.6 Nước bọt
Nước bọt tham gia vào quá trình pha loãng và trung hòa các axit gây khử khoáng và là một phòng vệ tự nhiên quan trọng để chống lại sâu răng Dòng chảy và tốc độ chảy của nước bọt là yếu tố làm sạch tự nhiên để loại bỏ các mảnh vụn thức
ăn còn sót lại Tạo một lớp màng mỏng trên bề mặt của răng từ nước bọt có vai trò như một hàng rào bảo vệ men răng khỏi pH nguy cơ [67]
Ngoài việc trung hòa axit trong mảng bám và ngăn chặn sự khử khoáng của men răng, nước bọt còn cung cấp một nguồn khoáng chất cho men răng mà từ đó men răng có thể được tái khoáng và phục hồi các tổn thương sớm [41] Các fluoride ion (F-), calcium ion (Ca2+) và photphate ion trong môi trường nước bọt quanh răng đóng
Trang 18vai trò quan trọng trong tái khoáng Hàm lượng F- ở mức thấp (trung bình khoảng 0,03ppm hoặc 1,6mmol/l) có chức năng bảo vệ và phục hồi tổn thương sớm Fluor ion còn ngăn cản sự biến dưỡng của vi khuẩn giúp giảm quá trình sản sinh a-xít
Bảng 1.1 Các yếu tố liên quan đến sâu răng [10]
Các yếu tố mất ổn định gây sâu răng Các yếu tố bảo vệ chống lại sâu răng
- Mảng bám: Vi khuẩn
- Đường (lượng đường, thời gian và
thành phần)
- Thiếu nước bọt hay nước bọt axit
- Axit từ dạ dày tràn lên miệng pH <3
- Nước bọt
- Khả năng kháng acide của men
- Fluor có ổ bề mặt men răng
- Trám bít lỗ rãnh
- Độ Ca++ NPO4 quanh răng
- pH > 5,5
1.1.2.7 Các yếu tố hành vi, kinh tế - xã hội
Trong một số nghiên cứu tìm thấy các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh răng miệng là các yếu tố văn hóa xã hội như: điều kiện sống kém, trình độ học vấn thấp và thiếu truyền thống, tín ngưỡng, văn hóa để hỗ trợ sức khỏe răng miệng Ngoài ra, những vấn đề khác liên quan đến cộng đồng như sử dụng nguồn nước có fluoride thấp, khả năng tiếp cận với các cơ sở y tế chăm sóc răng miệng còn hạn chế đều là những yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến tình trạng sức khỏe răng miệng kém của người dân [46] [93]
Trang 19Hình 1.2 Các yếu tố tác động lên căn nguyên gây bệnh sâu răng [2] 1.1.3 Diễn tiến
Sâu răng là một quá trình động và kéo dài Thời gian để từ một tổn thương tiến triển đến lúc hình thành lỗ sâu trên lâm sàng có thể thay đổi từ một vài tháng đến 2 năm phụ thuộc vào sự cân bằng của quá trình khử khoáng và tái khoáng [95]
Trang 20Hình 1.3 Hình ảnh tiến triển sâu răng
Sâu răng gồm 4 giai đoạn tiến triển từ nhẹ đến nặng như sâu:
- Sâu men: Giai đoạn đầu của bệnh sâu răng là sự hủy khoáng và hòa tan cấu trúc răng do giảm pH khu trú của mảng bám và hủy khoáng men răng Gây ra các lỗ sâu nhỏ trên men, rất khó phát hiện Không gây đau nhức trên lâm sàng, thông thường bệnh nhân không tự phát hiện được
- Sâu ngà: Lỗ sâu tiến đến ngà răng, khi tổn thương sâu răng đang còn nằm trong lớp ngà nông, không gây tê buốt khi nhai Khi sang thương tiến triển đến lớp ngà sâu thì sẽ có triệu chứng ê buốt khi nhai thức ăn hay thức uống quá nóng hoặc quá lạnh
- Viêm tủy: Nếu sâu ngà không được điều trị, vi khuẩn sẽ xâm nhập vào tủy răng qua hệ thống ống ngà gây nên viêm tủy cấp tính hoặc mạn tính Trong viêm tủy cấp, bệnh nhân có triệu chứng đau nhức dữ dội, đau tự phát, và đau nhiều nhất vào ban đêm Nếu tuỷ viêm mạn tính, thường không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt và dần dần sẽ dẫn đến chết tủy
- Tủy chết: Răng bị viêm tủy nếu không được điều trị thì sẽ dẫn đến chết tủy, vi khuẩn sẽ theo đường ống tủy sẽ tạo mủ dưới chân răng, gây các biến chứng viêm xương ổ răng, áp xe xương ổ, nang quanh chóp răng… một số trường hợp khác gây biến chứng viêm mô tế bào, viêm xoang, viêm nội tâm mạc,…
Trang 211.1.4 Phân loại sâu răng
Có thể phân loại sâu răng theo chẩn đoán, điều trị, dựa vào mục tiêu nghiên cứu khoa học, điều tra dịch tễ, tiên lượng hoặc dự phòng, như:
1.1.4.1 Phân loại theo vị trí tổn thương sâu răng của GV Black 1908
Greene Vardiman Black đã phát triển một hệ thống phân loại sâu răng từ năm 1908
và ngày nay nó vẫn được sử dụng Hệ thống phân loại của Black xác định năm lớp khoang (lớp thứ sáu được thêm vào sau) [32]:
Lớp 1 Sâu ở hố rãnh, mặt nhai, mặt
láng ngoài và trong của răng
cối, mặt khẩu cái của răng
Trang 221.1.4.2 Phân loại theo hệ thống đánh giá ICDAS
ICDAS là một hệ thống mới đã được WHO đưa ra năm 2003 và được chỉnh sửa lần hai năm 2005, có ưu điểm giúp phát hiện, đánh giá và chẩn đoán được sâu răng ngay từ các giai đoạn sớm qua khám và quan sát bằng mắt thường
Các thành phần trong hệ thống ICDAS bao gồm: Hệ thống tiêu chí phát hiện sâu răng ICDAS, hệ thống tiêu chí đánh giá hoạt động của sâu răng ICDAS và hệ thống chẩn đoán sâu răng Các răng sau khám được đánh các mã số từ 0 – 6 để thể hiện tình trạng bệnh lý của răng [79]
Bảng 1.2 Tiêu chuẩn phát hiện sâu thân răng nguyên phát theo ICDAS
2 Sâu chưa hình thành
lỗ sâu
Thay đổi được nhìn rõ trên men răng ướt
5 Sâu đã hình thành lỗ
sâu
Có lỗ sâu lộ ngà răng
6 Có lỗ sâu lớn lộ ngà răng >1/2 mặt răng
1.1.4.3 Phân loại theo “site and size”
Bảng 1.3 Phân loại “site and size”
+ Vị trí 2: tổn thương kết hợp với mặt tiếp giáp
+ Vị trí 3: sâu cổ răng và chân răng
- Size: có 4 kích thước của tổn thương sâu răng:
Trang 23+ Loại 1: tổn thương nhỏ, vừa mới ở ngà răng, cần điều trị phục hồi, không thể tái khoáng
+ Loại 2: tổn thương mức độ trung bình, liên quan đến ngà răng, thành
lỗ sâu còn đủ, cần tạo lỗ hàn
+ Loại 3: tổn thương rộng, thành không đủ hoặc nguy cơ vỡ, cần phải
có các phương tiện lưu giữ cơ sinh học
+ Loại 4: tổn thương rộng làm mất cấu trúc của răng [5]
1.1.4.4 Phân loại theo ngưỡng chẩn đoán (theo Pitts)
Năm 1997, Nigel Pitts miêu tả bằng hình ảnh về lợi ích của việc phát hiện sâu răng sớm, sử dụng hình ảnh tảng băng để mô tả quá trình sâu răng [74]
- D0: Không phát hiện trên lâm sàng bằng phương pháp thông thường, tổn thương chỉ có thể phát hiện được bằng các phương tiện hiện đại (Laser, X-quang)
- D1: Tổn thương phát hiện trên lâm sàng, bề mặt men răng còn giữ nguyên cấu trúc
- D2: Tổn thương phát hiện trên lâm sàng không cần cận lâm sàng (tổn thương chỉ giới hạn ở men răng)
- D3: Tổn thương phát hiện trên lâm sàng khi đã tổn thương vào ngà răng
- D4: Tổn thương vào tủy răng
Trang 24Sơ đồ tảng băng Pitts
Tổn thương đến tủy
Tổn thương thấy ngà
Tổn thương men có lỗ giới hạn
trong men Tổn thương men có thể phát hiện được, có bề mặt ‘nguyên vẹn’
Tổn thương chỉ có thể phát hiện với sự hỗ trợ của các công cụ cổ điển (phim cắn cánh) Tổn thương tiền lâm sàng đang tiến triển/lành mạnh
D4
D 3
D 1
Ngưỡng chẩn đoán trong các điều tra dịch tễ cổ điển (WHO)
Ngưỡng áp dụng trên lâm sàng và nghiên cứu
Ngưỡng có thể xác định nhờ các công cụ
hỗ trợ mới hiện nay
và trong tương lai
Ngưỡng sử dụng công cụ hỗ trợ
D3
D2
D1
Biểu hiện không
sâu tại ngưỡng
chẩn đoán D 3
Cần thay đổi chiến lược phát hiện và điều trị
Bảng 1.4 Sơ đồ phân loại mức độ sâu răng của Nigel Pitts
1.1.5 Hậu quả
Sâu răng được TCYTTG xem là một trong ba mối nguy cho sức khỏe con người sau bệnh tim mạch và ung thư, hậu quả của sâu răng có mối liên quan chặt chẽ với các vấn đề về SKRM và kinh tế xã hội
Trang 251.1.5.1 Về sức khỏe răng miệng
Sâu răng là một vấn đề sức khỏe răng miệng ở hầu hết các nước công nghiệp, ảnh hưởng đến hầu như tất cả mọi người 60% - 90% [41] Có 16,6% trẻ em bị sâu răng phàn nàn về đau răng Khi lỗ sâu mới hình thành hầu như không gây khó chịu cho người bệnh nên ít người phát hiện ra Khi xuất hiện những tổn thương có thể nhìn thấy bằng mắt thường thì đa phần các bệnh nhân thường than phiền về việc dắt thức
ăn và những cơn đau nhức khiến họ ăn ngủ không ngon Từ sâu ngà không điều trị, bệnh sâu răng sẽ tiến triển đến tủy gây viêm tủy cấp, sau đó tủy sẽ bị hoại tử dần đưa đến viêm tủy mãn rồi đến tủy chết, thối Những chất hoại tử của tủy có thể thoát qua
lỗ chóp chân răng gây nên những bệnh lý vùng quanh chóp, viêm tổ chức liên kết, viêm xương hàm , hoặc tụ lại ở chân răng tạo nên u hạt, nang chân răng Ngoài ra,
vi khuẩn có thể gây những biến chứng ở xa như viêm xoang hàm, viêm nội tâm mạc (Osler) [16], [82] Đặc biệt đối với trẻ nhỏ, bệnh sâu răng gây ra những tác động khó chịu không chỉ trong một thời gian ngắn mà còn kéo dài đến khi trẻ trưởng thành Chính những lỗ hổng ban đầu xuất hiện trên bề mặt răng sẽ khiến trẻ có cảm giác ê buốt mỗi khi ăn phải các đồ ăn nóng lạnh hay chua ngọt Sau khi trẻ không còn ăn nữa thì cảm giác này sẽ hết, vì thế trẻ dễ có suy nghĩ muốn bỏ bữa để tránh cơn đau Bên cạnh đó, nếu không được điều trị sớm, các lỗ sâu sẽ lớn dần và sâu vào tận buồng tủy Lúc này, cảm giác đau răng sẽ xuất hiện với mật độ dày hơn khiến trẻ sẽ chán ăn dẫn đến sụt cân Tình trạng này kéo dài sẽ làm trẻ suy nhược, rối loạn cảm xúc, lo âu
[9], [85]
1.1.5.2 Về kinh tế - xã hội
Kinh tế phát triển mọi nhu cầu cũng gia tăng, đặc biệt là gia tăng mức tiêu thụ đường sẽ ảnh hưởng đến tỉ lệ bệnh sâu răng Xã hội càng phát triển, các dịch vụ chăm sóc y tế, các chương trình phòng bệnh được quan tâm nhiều hơn Năm 1969, ngân hàng dữ kiện sức khỏe răng miệng thế giới của TCYTTG (WHO/OMS) được thành lập, cho thấy ảnh hưởng của bệnh sâu răng trên thế giới có hai khuynh hướng trái ngược nhau Tại các nước phát triển, sâu răng giảm rõ rệt từ mức cao xuống trung bình hay thấp nhờ các chương trình chăm sóc sức khỏe răng miệng cộng đồng, sự cải thiện về các dịch vụ nha khoa phòng ngừa, trong khi đó ở các nước đang phát triển
Trang 26sâu răng có khuynh hướng tăng từ thấp đến trung bình hay cao do kinh tế phát triển
mà giáo dục sức khỏe cộng đồng không theo kịp nền kinh tế Winter và cộng sự (1971) đã ghi nhận tương quan giữa tầng lớp xã hội và đa sâu răng ở trẻ em Phần lớn trẻ bị sâu răng nhiều xuất thân từ tầng lớp kinh tế - xã hội thấp, do cha mẹ thiếu những kiến thức phòng bệnh, cũng như không có khả năng sử dụng các biện pháp dự phòng [47] Ngân sách gia đình dành cho dịch vụ sức khỏe cũng rất hạn chế cho nhóm thu nhập thấp vì phải lo toan sinh kế nên ít có thời gian quan tâm đến sức khỏe
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố có điều kiện kinh tế phát triển, mức sống người dân tương đối cao so với một số địa phương khác Do đó có thể có sự chênh lệch về điều kiện sống, kiến thức sức khỏe cũng như điều kiện chăm sóc sức khỏe răng miệng giữa các vùng Khi kinh tế gia tăng, cuộc sống của người dân thay đổi, trẻ em được cho nhiều tiền ăn quà, song song với sự phát triển của các ngành công nghệ thực phẩm, việc trẻ em sử dụng nhiều chất đường bột tinh chế trong lúc các biện pháp phòng chống bệnh sâu răng không theo kịp thì tình trạng sâu răng của trẻ em dễ tăng lên người bệnh phải tốn một khoản chi phí khá lớn cho việc điều trị sâu răng, nhất là khi đã có biến chứng viêm tủy
1.1.6 Chẩn đoán
Để chẩn đoán sâu răng dựa vào 3 thành tố phát hiện, đánh giá và chẩn đoán,cụ thể như sau [67]:
- Phát hiện liên quan đến quyết định lâm sàng, phân loại vấn đề sâu răng
- Đánh giá vị trí của tổn thương, đánh giá hành vi
- Cuối cùng là chẩn đoán, bác sĩ lâm sàng căn cứ vào dấu hiệu lâm sàng, sử dụng các cận lâm sàng với các kết quả điều tra xã hội học để đưa ra chẩn đoán xác định
và phác đồ điều trị cho người bệnh
1.1.6.1 Các phương pháp chẩn đoán xác định
- Chẩn đoán các tổn thương sâu răng sớm:
+ Vùng tổn thương sâu răng sớm xuất hiện các vết trắng khi thổi khô bề mặt + Thay đổi màu sắc vùng tổn thương khi chiếu đèn sợi quang học Vùng tổn thương là một vùng tối trên nền ánh sáng trắng của men răng bình thường
Trang 27+ Có biểu hiện thay đổi chỉ số huỷ khoáng khi sử dụng đèn Laser huỳnh quang Vùng tổn thương biểu hiện mức độ mất khoáng tương ứng với giá trị từ 10 đến
20 khi đo bằng thiết bị Laser huỳnh quang
+ Không có dấu hiệu đặc trưng trên X quang
- Chẩn đoán sâu răng giai đoạn hình thành lỗ sâu:
+ Triệu chứng cơ năng Ê buốt ngà: ê buốt khi có các chất kích thích tác động vào vùng tổn thương như nóng, lạnh, chua, ngọt Khi hết kích thích thì hết ê buốt
+ Triệu chứng thực thể:
▪ Tổn thương mất mô cứng của răng
▪ Vị trí: có thể gặp ở tất cả các mặt của răng
▪ Độ sâu: < 4mm, chưa tổn thương đến tủy răng
▪ Đáy: có thể nhẵn bóng hay nhiều ngà mùn tuỷ vào giai đoạn tiến triển
▪ Màu sắc: thường sẫm màu, có màu nâu hoặc đen
▪ Kích thước: thường trong giới hạn một răng nhưng đôi khi lan sang răng bên cạnh với những lỗ sâu mặt bên
▪ Trường hợp tổn thương mất mô cứng rất nhỏ, không biểu hiện rõ thành lỗ sâu thì khi dùng thám trâm thăm khám có thể tìm thấy tổn thương với dấu hiệu mắc thám trâm
+ Nghiệm pháp thử tủy
▪ Thổi bằng hơi: bệnh nhân thấy ê buốt và hết ê buốt khi ngừng thổi
▪ Thử lạnh: bệnh nhân thấy ê buốt và hết ê buốt khi ngừng thử
▪ Thử nóng: bệnh nhân thấy ê buốt và hết ê buốt khi ngừng thử
+ X quang: Có hình ảnh thấu quang vùng tổn thương sâu răng
Chẩn đoán phân biệt:
- Các tổn thương sâu răng sớm:
+ Chẩn đoán phân biệt với thay đổi màu sắc răng không do sâu răng dựa vào các triệu chứng dưới đây:
Trang 28Triệu chứng Sâu răng sữa giai đoạn sớm Thay đổi màu sắc răng không do
sâu Màu sắc Màu trắng đục, nâu vàng trên
Toàn bộ mặt răng, có thể ở một răng
do bị chấn thương gây chết tủy, hoặc trên nhiều răng do thiểu sản men răng sữa, có tính chất đối xứng
Ê buốt ngà Không ê buốt ngà khi có kích
thích
Không ê buốt ngà khi có kích thích
- Các tổn thương sâu răng đã hình thành lỗ sâu:
+ Chẩn đoán phân biệt với viêm tủy răng, tủy hoại tử dựa vào các triệu chứng dưới đây:
Đau, ê buốt tự
nhiên
Không có đau tự nhiên
Đau tự nhiên từng cơn, đau nhiều về đêm
Không có đau tự nhiên
Đau, ê buốt khi ăn
các chất kích thích
như nóng, lạnh,
chua, ngọt…
Ê buốt ngà khi có kích thích nóng, lạnh, chua, ngọt
Hết kích thích thì hết ê buốt
Đau tăng lên Khi hết các chất kích thích, đau vẫn tiếp tục kéo dài thêm
Không đau, không
ê buốt khi có kích thích
Tổn thương mô
cứng răng
Có lỗ sâu Lỗ sâu to, nhiều
ngà mủn, làm sạch có thể thấy ánh hồng hoặc tủy
hở
Có lỗ sâu, có tổn thương tổ chức cứng lộ ngà
Trang 29Thử tủy Có đau, sớm hết
đau khi hết kích thích
Đau nhiều và còn kéo dài thêm khi ngừng kích thích
lỗ sâu sát tủy
Có hình ảnh tổn thương mô cứng:
bề mặt và sự hình thành lỗ sâu, trừ khi tổn thương bị phá hủy rộng
ECM (Máy kiểm tra sâu răng điện tử):
Đang được phát triển, có độ nhạy và độ đặc hiệu đều cao
Laser huỳnh quang:
Vào những năm 1990, các nhà nghiên cứu quan sát dưới ánh sáng đỏ thấy có
sự truyền các hạt Photon huỳnh quang ở răng [84], [77] Thiết bị DIAGNOdent 2190 được phát triển để phát hiện sâu răng dựa trên cơ chế này
- DIAGNOdent 2190 được sử dụng để phát hiện sớm và xác định số lượng tổn thương sâu ở mặt nhai và mặt nhẵn của răng, đặc biệt là ở vị trí hố rãnh nghi ngờ và các tổn thương sâu răng dạng ẩn
- Thiết bị DIAGNOdent có thể phát hiện được mức độ hoạt động của tổn thương sâu răng với độ chính xác trên 90% nhưng không xác định được độ rộng, sâu của tổn thương Kết quả cũng có thể bị ảnh hưởng bởi một số yếu
tố như mức độ huỷ khoáng của tổn thương, mảng bám răng và các chất khác còn dính trên bề mặt hố rãnh
- Thang phân loại sâu răng của thiết bị DIAGNOdent 2190 [77]
Trang 30Bảng 1.5 Thang phân loại sâu răng của thiết bị DIAGNOdent 2190
0-13 Không có sâu răng hoặc khởi đầu tổn thương ở men
14-20 Sâu men, sâu ngà nông hoặc sâu răng ngừng tiến triển
21-30 Sâu ngà sâu
31-99 Tổn thương rộng và sâu, 60% trường hợp lỗ sâu đã được mở
X Mặt răng loại trừ
Ánh sáng xuyên sợi (DIFOTI)
Sử dụng chùm tia sáng trắng mạnh truyền qua sợi cáp quang tới đầu dò được đặt ở một mặt của răng, tia sáng sau khi chiếu qua răng được thu nhận ở mặt đối diện bởi một camera có khả năng chuyển các tín hiệu quang học sang tín hiệu điện, các tín hiệu này được truyền tới máy tính để xử lý và hiển thị hình ảnh tổn thương trên màn hình [68]
Phát hiện sớm sâu răng nhờ khả năng phát huỳnh quang của răng (QLF)
Phương pháp hỗ trợ thăm khám lâm sàng và có thể thay thế cho tia X, độ nhạy
là 73%, độ đặc hiệu là 99%
+ Phát hiện sớm tổn thương sâu răng ở mặt nhai, mặt ngoài, mặt trong của răng, xác định kích thước tổn thương (độ sâu, rộng)
+ Đánh giá được sự thay đổi mức độ mất khoáng tiến triển hay tái khoáng của
tổn thương, do đó được dùng để kiểm soát sự phục hồi của tổn thương trong điều trị
dự phòng
+ Phát hiện và định lượng được mảng bám răng, cao răng
+ Hạn chế trong việc phát hiện và đánh giá tổn thương mặt bên [17], [77] Thăm khám lâm sàng
Quá trình thăm khám lâm sàng giúp đánh giá tình trạng răng miệng cũng như phát hiện các tổn thương ở các giai đoạn thông qua quan sát và sử dụng các công cụ khảo sát trực tiếp Thăm khám lâm sàng là phương pháp thường quy giúp đánh giá nhiều thông tin về tình trạng răng, cũng như các cấu trúc khác của khoang miệng với chi phí thấp, dễ tiếp cận
Trang 31+ Gương dùng để phản chiếu ánh sáng đến răng giúp nhân viên y tế soi
rõ những nơi mắt khó nhìn thấy được Không những vậy, gương còn giúp định hình và giữ môi, má và lưỡi của bệnh nhân ra xa nơi điều trị
+ Gương thường được phân làm 2 loại phổ biến Cụ thể là gương phẳng
và gương cầu lõm Gương cầu lõm là loại gương có tính phóng đại và làm ảnh to hơn thực tế nhiều lần
+ Kẹp gắp là dụng cụ có hai đầu mũi khép chặt, trơn hoặc có khía dùng
để gắp bông Kẹp gắp giúp cô lập răng hoặc lau khô xoang trước khi thực hiện điều trị
+ Cây đục men: dùng để cắt men, có nhiều dạng khác nhau
+ Cây nạo ngà: dùng để nạo ngà mềm, có nhiều kích cỡ lớn nhỏ khác nhau
+ Đèn pin: kết hợp với ánh sáng tự nhiên khi thăm khám
- Tổn thương sâu răng sớm
- Tái khoáng hóa
+ Liệu pháp Flour: dùng Fluor có độ tập trung cao ở dạng gel, dung dịch hoặc véc ni áp lên bề mặt vùng tổn thương để tái khoáng
Trang 32+ Hướng dẫn bệnh nhân chải răng với kem răng có Fluor
- Tổn thương đã hình thành lỗ sâu
- Hàn kín lỗ sâu phục hồi mô cứng
+ Lấy ngà mủn
+ Sửa soạn thành lỗ sâu
+ Sửa soạn đáy lỗ sâu
+ Làm sạch lỗ sâu
+ Hàn lót che phủ bảo vệ tuỷ
+ Hàn kín phục hồi mô cứng: chọn vật liệu và màu sắc vật liệu
lý luận hỗ trợ nhu cầu thay thế phương pháp kiểm soát sâu răng [73]
Phòng bệnh sâu răng được chia làm 4 cấp:
- Cấp 0: khi bệnh chưa xảy ra
Cải tạo môi trường nước uống có Fluor (đối với vùng thiếu Fluor, hàm lượng Fluor trong nước sinh hoạt < 0,7 ppm), bằng cách:
+ Fluor hóa nước công cộng với nồng độ 1/ triệu
+ Fluor hóa nước trường học với nồng độ 4/ triệu
- Cấp 1: khi bệnh có khả năng xảy ra
+ Triển khai chương trình nha khoa cộng đồng, chủ yếu giáo dục phòng bệnh - Triển khai chương trình nha học đường trên toàn quốc với các
Trang 33nội dung giáo dục nha khoa, súc miệng với NaF 0,2 % 1 tuần / lần, tổ chức khám và chữa răng tại trường, trám bít các hố rãnh
+ Hướng dẫn các biện pháp vệ sinh răng miệng chủ yếu là chải răng sạch sau khi ăn và trước khi ngủ, chải đúng phương pháp
+ Kiểm soát thực phẩm (giảm lượng carbohydrate, tránh ăn vặt) + Tăng cường sử dụng Fluor dưới mọi hình thức:
▪ Chải răng với kem đánh răng có Fluor
▪ Súc miệng với NaF 0,2 % tuần / lần
▪ Gel Fluor để bôi
▪ Uống viên Fluor với liều lượng như sau: 0 - 6 tháng: 0,25 mg F / ngày 6 - 18 tháng : 0,25 - 0,5 mg F / ngày 18 - 2 năm : 0,25 - 0,75
+ Khám răng định kỳ mỗi năm một lần để phát hiện sớm các tổn thương
- Cấp 3: khi đã tiến triển đến tủy
+ Điều trị tủy ngay, không để các biến chứng nặng xảy ra
+ Nhổ những răng không thể điều trị bảo tồn để tránh tồn tại một ỗ nhiễm trùng
Liên đoàn nha khoa thế giới FDI đã đưa ra một số gợi ý để phòng ngừa bệnh răng như sau:
❖ Thực hành tốt thói quen vệ sinh răng miệng:
- Đánh răng hai lần mỗi ngày, mỗi lần đánh hai phút, sử dụng bàn chải đánh răng bằng tay hoặc bằng điện và kem đánh răng có fluoride
- Thay bàn chải đánh răng ba tháng một lần
- Súc miệng với nước súc miệng có fluoride hoặc nhai kẹo cao su không đường với xylitol sau bữa ăn và đồ ăn nhẹ
Trang 34- Nếu không thể đánh răng, làm sạch kẽ giữa các răng bằng chỉ nha khoa hoặc chất tẩy rửa kẽ răng khác để thêm hiệu quả
- Đeo miếng bảo vệ miệng khi tham gia các môn thể thao tiếp xúc
- Kiểm tra răng miệng thường xuyên để phát hiện và điều trị sớm các dấu hiệu của bệnh răng miệng
Ngoài ra, giảm tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ như rượu, thuốc lá đồng thời giảm lượng đường tiêu thụ Nên thường xuyên đến gặp nha sĩ để kiểm tra, phát hiện
và điều trị sớm khi có các dấu hiệu của sâu răng, viêm nướu và các bệnh răng miệng khác
FDI cũng đặc biệt đưa ra khuyến cáo đối với phụ nữ mang thai, những người
có đã có quãng thời gian khó khăn trong khoảng 9 tháng, tuy nhiên bảo vệ răng miệng vẫn là một vấn đề quan trọng và luôn cần chú ý Khi mang thai, phụ nữ trải qua những thay đổi nội tiết tố có thể ảnh hưởng đến nướu của họ (gây sưng hoặc đau), khiến họ
dễ bị viêm nướu Nếu không được điều trị, viêm nướu có thể phát triển thành bệnh nướu răng nghiêm trọng hơn có thể liên quan đến việc tăng nguy cơ sinh non và nhẹ cân Do đó, cần dành thời gian để vệ sinh răng miệng tốt, giữ cho tình trạng răng miệng luôn khỏe mạnh trong suốt thời gian thai kỳ
Đối với trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi: Việc chăm sóc răng miệng cần được lưu
ý từ khi trẻ còn nhỏ Sâu răng có thể bắt đầu ngay khi chiếc răng đầu tiên mọc, do đó nên đưa trẻ đến nha sĩ ngay khi mọc răng đầu tiên và không muộn hơn sinh nhật đầu tiên của trẻ
Đối với những người già, họ có nguy cơ mắc một số vấn đề răng miệng như mất răng, bệnh nướu, ung thư miệng, cũng như khó khăn với răng giả và dinh dưỡng kém Khô miệng cũng là một vấn đề cần quan tâm ở người già Nguyên nhân có thể bao gồm sử dụng thuốc lá và rượu cũng như một số loại thuốc Khô miệng có thể có tác động đáng kể đến chất lượng cuộc sống và có thể ảnh hưởng đến các hoạt động
ăn, nói, nuốt, nhai và cười Để giảm triệu chứng khô miệng, cần:
- Nhai kẹo cao su không đường hoặc ngậm kẹo cứng không đường để kích thích nước bọt
- Uống nước với bữa ăn để giúp nhai và nuốt thức ăn
Trang 35- Sử dụng nước súc miệng không cồn
- Tránh đồ uống có ga (như soda), caffeine, thuốc lá và rượu
- Sử dụng son dưỡng để làm dịu đôi môi nứt nẻ hoặc khô [43]
❖ Các biện pháp khác như:
- Trám bít hố rãnh
- Chất trám bít hố rãnh có tác dụng ngăn ngừa sâu răng ở mặt nhai trong thời gian lưu giữ trên răng
- Chế độ ăn uống hợp lý phòng sâu răng
- Kiểm soát thức ăn và đồ uống có đường bao gồm các biện pháp sau: kiểm soát các thực phẩm có đường tại trường học, giảm số lần ăn các thực phẩm
có đường, giảm mức tiêu thụ đường ở tầm quốc gia
- Sử dụng chất kháng khuẩn để phòng ngừa sâu răng
- Mục đích của liệu pháp kháng khuẩn là đạt được sự thay đổi từ màng sinh học không thuận lợi về mặt sinh thái sang màng sinh học ổn định về sinh thái bằng cách giảm tỷ lệ vi khuẩn sinh acid và sống trong môi trường acid [17]
1.1.9 Nghiên cứu sâu răng cộng đồng
- Chỉ số răng Sâu-Mất-Trám để nói lên nguy cơ sâu răng trong cộng đồng [79]
Bảng 1.6 Các chỉ số cơ bản đo lường bệnh sâu răng Chỉ số thường được sử dụng Chỉ số ít được sử dụng
Chỉ số SMTMR 1938 Chỉ số sâu răng của Czechoslovakian
1954
Trang 36Chỉ số thường được sử dụng Chỉ số ít được sử dụng
Chỉ số smtr ở hệ thống răng sữa Chỉ số trầm trọng sâu răng CSi 1960 Thang phân loại sâu răng của Who 1979 Chỉ số nhạy cảm sâu răng 1961
Chỉ số SMTR biến đổi 1984 Chỉ số FMI 1987
Chỉ số THI 1987 Chỉ số DHI 1988
Nguồn: Hoàng Trọng Hùng [7]
Tuy nhiên các chỉ số này mang tính chất quá phức tạp để sử dụng trong các nghiên cứu điều tra dịch tể [7] Ngày nay, đã có nhiều sự thay đổi trong các chỉ số đánh giá bệnh sâu răng:
Các chỉ số và hệ thống đánh giá sâu răng mới gần đây bao gồm: Chỉ số sâu răng đáng kể (SiC), Hệ thống đánh giá và phát hiện sâu răng quốc tế (ICDAS) I và
II, chỉ số sâu răng đặc hiệu (Sci), chỉ số Tủy-Loét-Lỗ dò-Áp xe (PUFA), chỉ số phổ đánh giá và điều trị sâu răng (CAST)
Chỉ số sâu răng đáng kể (SiC)
Năm 1981, Hội đồng Y tế Thế giới của WHO tuyên bố rằng mục tiêu toàn cầu
về vấn đề miệng Sức khỏe vào năm 2000 nên SMTR cho trẻ 12 tuổi không được vượt quá 3, ở tất cả các nước Trong khoảng thời gian hai mươi năm, gần 70% các quốc gia trong thế giới đã thành công trong việc đạt được mục tiêu này, hoặc chưa bao giờ vượt quá đường biên giới này giá trị Tuy nhiên, chỉ số SMTMR cho kết quả sai lệch không chính xác Năm 2000, Brathall và cộng sự đã giới thiệu chỉ số SiC, nhằm mục đích đo lường sâu răng ở những cá thể có sâu răng cao nhất trong mỗi dân số điều tra
Chỉ số này cố gắng khắc phục các mặt hạn chế của giá trị trung bình SMTR trong việc đánh giá chính xác sự phân bố lệch của sâu răng trong dân số, đặc biệt là
ở các nước đã phát triển, nơi có chương trình dự phòng sâu răng hiệu quả nhưng có những kết luận không đúng là tình trạng sâu răng của toàn bộ dân số đã được kiểm soát, trong khi thực tế vẫn tồn tại một nhóm cá thể có sâu răng cao
Trang 37SiC được tính toán bằng các xếp giá trị SMTR của các cá thể trong điều tra theo thứ tự từ thấp nhất đến cao nhất, trung bình SMTR của 1/3 số cá thể có SMTR cao nhất chính là giá trị của SiC
Thực chất chỉ số SiC là chỉ số SMTR mở rộng, do đó nó tuân theo cùng tiêu chí để đánh giá sâu răng, cũng như sẽ có cùng những hạn chế để đánh giá sâu răng trong dân số như chỉ số SMTR [62]
Hệ thống phát hiện và đánh giá sâu răng quốc tế (ICDAS) I và II:
ICDAS I được phát triển vào năm 2002 và sau đó được sửa đổi thành ICDAS
II vào năm 2005 Tiêu chí của ICDAS I và II kết hợp các khái niệm từ nghiên cứu được thực hiện bởi Ekstrand và cộng sự (1995, 1997) Hệ thống phát hiện và đánh giá sâu răng quốc tế (ICDAS) được phát triển để cung cấp cho các bác sĩ lâm sàng, nhà dịch tễ học và nhà nghiên cứu một hệ thống dựa trên bằng chứng, cho phép phát hiện và chẩn đoán sâu răng chuẩn trong các môi trường và tình huống khác nhau Yêu cầu chính để áp dụng hệ thống ICDAS là kiểm tra răng sạch và khô Các mã phát hiện ICDAS cho sâu răng vành nằm trong khoảng từ 0 đến 6 tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tổn thương Có một số thay đổi nhỏ giữa các dấu hiệu thị giác liên quan đến từng mã tùy thuộc vào một số yếu tố, bao gồm các đặc điểm bề mặt (hố và khe nứt
so với bề mặt nhẵn tự do), cho dù có răng liền kề (bề mặt trung bình và xa) hay không sâu răng được liên kết với một phục hồi hoặc chất bịt kín [49]
Chỉ số sâu răng đặc hiệu (SCi):
Chỉ số này được Acharya và cộng sự đề nghị vào năm 2006, với mục tiêu xây dựng một chỉ số sâu răng cụ thể cho mặt răng để cung cấp thông tin định tính và định lượng về sâu răng không được điều trị của một cá thể dựa trên khám lâm sàng và cung cấp 1 cơ sở dữ liệu hữu ích trong việc lập kế hoạch chăm sóc răng miệng cho dân số đích, nếu kết hợp với chỉ số SMTMR [20]
Chỉ số sâu mất trám (SMT)
Theo hướng dẫn của tổ chức y tế thế giới về khảo sát sức khỏe răng miệng, chỉ
số SMT được sử dụng để đo lường tình trạng sâu răng của cộng đồng Chỉ số SMT chỉ áp dụng cho răng vĩnh viễn, trong đó S là số răng sâu, M là số răng mất do sâu,
và T là số răng trám Chỉ số SMT được tính bằng tổng số răng sâu, mất và trám trên
Trang 38mỗi người (SMT=S+M+T) Giới hạn giá trị của chỉ số SMT ở từng đối tượng là từ 0 đến 32 Trong trường hợp răng sữa sẽ được ghi nhận với kí hiệu chữ thường (smt= s+m+t)
Đối với đánh giá sâu răng cộng đồng, chỉ số SMT của động đồng được tính bằng trung bình cộng SMT của từng cá thể Chỉ số SMT ở độ tuổi 12 được sử dụng
để so sánh quốc tế về giám sát xu hướng sâu răng [95] Các phân loại tình trạng sâu răng dựa trên SMT ở tuổi 12 được quy định như sau:
- Một răng tồn tại trong miệng khi nhìn thấy bất kỳ thành phần nào của nó
- Nếu răng vĩnh viễn và răng sữa chiếm cùng một không gian răng, chỉ nên ghi nhận tình trạng của răng vĩnh viễn
Một biểu mẫu gồm các ô ghi nhận thông tin cho từng răng và không gian răng được sử dụng Tình trạng răng được mã hóa ở dạng số và được yêu cầu điền vào các
ô tương ứng với từng răng
Các tình trạng răng được ghi nhận dựa theo hướng dẫn của WHO [95] và được
Trang 39- Mất răng do nguyên nhân khác (5)
- Sealant bít hố rãnh (6)
- Trụ cầu, mão, veneer, implant (7)
- Thân răng chưa mọc (8)
- Không ghi nhận được (9)
1.1.10 Các nghiên cứu về sâu răng trên thế giới và Việt Nam
1.1.10.1 Trên thế giới
Phân tích dữ liệu của 190 quốc gia trên thế giới, chỉ số SMT bình quân trên thế giới là 2,11 (± 1,32), tương đương trung bình một người có 2,11 số răng bị sâu, mất hoặc trám Một nửa trong 190 quốc gia này có ít nhất 1,8 răng bị sâu, mất hoặc trám với khoảng tứ phân vị từ 0,2 đến 7,8 [69]
Nguy cơ mắc bệnh sâu răng là khác biệt đáng kể giữa các vùng trên thế giới, trong đó khu vực có nguy cơ mắc bệnh cao nhất là châu Mỹ và châu Âu, lần lượt gấp 1,14 và 1,10 lần so với trung bình chung của thế giới Trong khi đó châu Phi là khu vực ít bị ảnh hưởng bởi bệnh nhất (Hình 1.1) [69]
Biểu đồ 1.2 Nguy cơ tương đối của bệnh sâu răng ở 6 khu vực của WHO tham
chiếu theo số trung bình của thế giới [69]
Trang 40Khi xét chỉ số SMT ở độ tuổi 12, các quốc gia Nam Mỹ, Bắc Âu và Nam Á là những nơi có chỉ số SMT cao nhất Châu Phi có chỉ số SMT thấp ở hầu hết các nước trong khu vực [69] Mặc dù các báo cáo chỉ ra các nước châu Phi dường như ít bị ảnh hưởng bởi bệnh tuy nhiên với điều kiện sống thay đổi, sâu răng dự kiến sẽ tăng ở nhiều nước đang phát triển trong khu vực này do lượng đường tiêu thụ ngày càng tăng cộng với việc ít tiếp xúc với fluor [94]
Một đánh giá hệ thống về tỷ lệ sâu răng ở trẻ từ 5 - 15 tuổi tại khu vực Đông Nam Á của WHO từ năm 2005 - 2015 Với kết luận sâu răng tiếp tục là vấn đề sức khỏe răng miệng nổi bật ở trẻ em tại khu vực Đông Nam Á và có sự thay đổi lớn về
tỷ lệ phổ biến theo từng lứa tuổi và quốc gia Sâu răng được coi là gánh nặng sức khỏe răng miệng quan trọng nhất trên toàn thế giới Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã báo cáo rằng khoảng 60% - 90% trẻ em học đường trên thế giới và 100% người lớn
bị sâu răng Tỷ lệ sâu răng cao không chỉ ở các khu vực và quốc gia kém phát triển
mà còn ở các nước công nghiệp và thu nhập cao Tỷ lệ mắc sâu răng 55% đối với trẻ
5 tuổi là hơi cao so với mục tiêu mà WHO đặt ra cho năm 2000 (Trẻ em không có sâu răng khi 5 tuổi nên không dưới 50%) Ở nhóm 12 tuổi, tỷ lệ lưu hành là 45%, và đối với trẻ em 15 tuổi, tỷ lệ này là 51% Nhóm 6 tuổi 15 tuổi có tỷ lệ mắc là 47% Có
sự khác biệt lớn về tỷ lệ nhiễm sâu răng Có lẽ lý do cho sự thay đổi có thể là sự không đồng nhất của chính dân số nghiên cứu Các tác giả của các nghiên cứu giải thích lý do có thể xảy ra đối với sự phổ biến sâu răng của những người tham gia nghiên cứu [57]
1.1.10.2 Tại Việt Nam
Sâu răng là một bệnh phổ biến ở nước ta cũng như các nước trên thế giới, bệnh mắc rất sớm và gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi dân tộc, mọi vùng địa lý khác nhau, mọi tầng lớp xã hội, trình độ văn hóa Sâu răng là một bệnh mang tính chất xã hội và
có xu hướng tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế Năm 1969, ngân hàng dữ kiện sức khỏe răng miệng thế giới của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO/OMS) được thành lập, cho thấy ảnh hưởng của bệnh sâu răng trên thế giới có hai khuynh hướng trái ngược nhau Tại các nước phát triển, sâu răng giảm rõ rệt từ mức cao xuống trung