1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam

241 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 241
Dung lượng 3,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phương pháp nghiên cứu luật so sánh: được nghiên cứu sinh chủ yếu sửdụng trong việc làm rõ nội dung pháp luật ở Việt Nam về hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK có so sánh, d

Trang 1

VIỆN HÀM LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Đỗ Thị Thu Hà, nghiên cứu sinh khóa (2015-2019) tại Học Viện Khoa

học xã hội Việt Nam, xin cam đoan luận án: “Pháp luật về công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam” là công trình nghiên

cứu khoa học độc lập của cá nhân tôi Kết quả nghiên cứu trong luận án là do tác giả thực hiện Các tài liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân khác được tham khảo, sử dụng, trích dẫn trong luận án đều đã ghi rõ nguồn gốc một cách trung thực

Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung đã cam đoan ở trên

Tác giả luận án

Đỗ Thị Thu Hà

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ

ĐẦU 1CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ

THUYẾT 9

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án 9

1.2. sở Cơ lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu 28 CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CBTT CỦA CÔNG TY ĐẠICHÚNG TRÊN TTCK VÀ PHÁP LUẬT CBTT CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TRÊN TTCK 36

2.1. Những vấn đề lý luận về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK 36

2.2. Những vấn đề lý luận về pháp luật CBTT của công ty đại chúng trên TTCK 60 CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CBTT CỦA CÔNG TY ĐẠICHÚNG TRÊN TTCK Ở VIỆT NAM 73

3 1 Đối tượng, thời hạn hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK73

3.2. Quyền và nghĩa vụ của công ty đại chúng trong hoạt động CBTT trên TTCK 87

3.3. Phương thức CBTT của công ty đại chúng trên TTCK 96

3.4. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong hoạt động CBTT của

công ty đại chúng trên TTCK 101

3.5. Xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK 110 CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VỀ

CBTT CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TRÊN TTCK Ở VIỆT NAM 124

4.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK 124

4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam 129

4.3. Nhóm giải pháp hỗ trợ khác 141 KẾT LUẬN 147 NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ

TÀI LUẬN ÁN 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

5 FIEA Financial Instruments and Exchange Act (Đạo luật các

công cụ tài chính và sàn giao dịch Nhật Bản)

7 IDS Information Disclosure System (Hệ thống phát hiện

xâm nhập)

8 IOSCO International Organization of Securities Commissions

(Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán)

11 TTLKCK Trung tâm Lưu ký chứng khoán

Trang 6

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Trong 10 năm qua, quy mô huy động vốn qua TTCK đã đáp ứng khoảng23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tỷ lệ đã tương đương gần 60% so với cungtín dụng qua thị trường tiền tệ - tín dụng Quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạthơn 3,9 triệu tỷ đồng, tăng 12,7% so với năm 2017, tương đương 79% GDP năm

2017 và 71,6% GDP năm 2018, vượt chỉ tiêu 70% GDP đề ra tại Chiến lược pháttriển TTCK Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 Giá trị giao dịch cổ phiếu bìnhquân đạt

6.500 tỷ đồng/phiên, tăng 29% so với năm 2017 Trên thị trường trái phiếu chínhphủ, giá trị niêm yết đạt 1.122 ngàn tỷ đồng, tăng so với năm 2017, đạt 22,4%GDP năm 2017 và tương đương 20,3% GDP năm 2018 Giao dịch trái phiếu về cơbản vẫn giữ được mức sôi động với giá trị giao dịch đạt 8.834 tỷ đồng/phiên.TTCK phái sinh mặc dù mới ra đời hơn một năm với một sản phẩm đầu tiên làhợp đồng tương lai trên chỉ số VN30 nhưng đã khẳng định được vai trò với khốilượng bình quân đạt 78.800 hợp đồng/phiên, tăng gần 7 lần so với năm 2017 và vịthế mở cuối năm đạt gần 21.653 hợp đồng, tăng 2,7 lần so với cuối năm 2017.Đặc biệt, vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài vẫn vào ròng đạt 2,8 tỷ USD, cơbản bằng mức kỷ lục 2,9 tỷ USD của năm 2017 Giá trị danh mục của nhà đầu tưnước ngoài ước đạt trên 32,8 tỷ USD [113] Điều này cho thấy, TTCK ngày càng

có vai trò quan trọng và góp phần định hình cấu trúc hệ thống tài chính hiện đạitheo thông lệ các thị trường phát triển, qua đó bảo đảm sự ổn định, bền vững của

hệ thống tài chính Cùng với đó, tính minh bạch của các công ty đại chúng đãđược cải thiện đáng kể, trong đó doanh nghiệp đã quan tâm nhiều đến quản trịcông ty, phát triển bền vững TTCK cũng đã thể hiện được vai trò rất tốt trong việcthúc đẩy quá trình cổ phần hóa hiệu quả hơn Bên cạnh các thành tựu đạt được,TTCK hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề nan giải liên quan đến thông tin và CBTT

6

Trang 7

của công ty đại chúng dẫn tới chủ thể

7

Trang 8

chịu ảnh hưởng nhiều nhất đó chính là các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tưkhông chuyên nghiệp – chủ thể quan trọng nhất tham gia giao dịch của thị trường,

sự bất ổn của thị trường bị chi phối rất lớn và nghiêm trọng do thông tin khôngminh bạch, kịp thời Chính vì vậy, pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trênTTCK được xác định là một bộ phận cấu thành quan trọng trong pháp luật chứngkhoán Mục tiêu cao nhất của hoạt động CBTT là tạo sự minh bạch của TTCK,tạo điều kiện cho các nhà đầu tư đưa ra các quyết định kịp thời, đúng đắn thựchiện các giao dịch trên thị trường Đây cũng là khuyến nghị được thể hiện trongcác văn kiện của Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán – InternationalOrganization of Securities Commissions (IOSCO) cũng như trong luật chứngkhoán của nhiều nước Tại Việt Nam, sự cần thiết phải điều chỉnh hoạt độngCBTT trên TTCK đã được các nhà làm luật chú trọng với các quy định tại LuậtChứng khoán năm 2006, Luật Chứng khoán đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010,năm 2018 Đặc biệt, Bộ Tài chính có riêng Thông tư 155/2015/TT – BTC ngày

06 tháng 10 năm 2015 về hướng dẫn CBTT trên TTCK (Thông tư 155/2015) làmột minh chứng Tuy nhiên, các quy định tại Luật Chứng khoán, Luật Chứngkhoán sửa đổi, cũng như Thông tư 155/2015 chưa chỉ rõ các loại thông tin phảicông bố, các chuẩn mực CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, các nguyên tắcCBTT đối với chứng khoán vốn, chứng khoán nợ, chứng khoán phái sinh Do đó,ngay sau khi ra đời và sau một thời gian áp dụng các quy định tại Luật Chứngkhoán, Thông tư 155/2015/TT-BTC đã thể hiện những bất cập nhất định đối vớihoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, dẫn tới tình trạng nhiều công

ty đại chúng sẵn sàng và thường xuyên chấp nhận vi phạm hoạt động CBTT Điều

đó, tác động rất lớn tới tính minh bạch của thị trường, ảnh hưởng tới sự phát triểnbền vững của thị trường và niềm tin của nhà đầu tư, nhất là khi Việt Nam đã vàđang trong quá trình hoàn thiện pháp luật về

Trang 9

CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, gắn liền với yêu cầu hội nhập quốc tế và

xu hướng quốc tế hóa TTCK hiện nay

Thực trạng trên cho thấy cần tiếp tục và đẩy mạnh hoàn thiện pháp luật và

cơ chế thực thi pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK để hướngtới một TTCK minh bạch thông tin để có thể thu hút vốn và duy trì lòng tin củacác nhà đầu tư trên thị trường Đặc biệt thông tin không đầy đủ, không kịp thời,thiếu minh bạch có thể cản trở khả năng hoạt động của thị trường, làm tăng chiphí vốn, phân bổ nguồn lực không hiệu quả, kéo theo một loạt các vấn đề nhưgiao dịch nội gián, thao túng giá chứng khoán, gây thiệt hại nghiêm trọng cho cácnhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư không chuyên nghiệp Để có được một thịtrường minh bạch hóa thông tin cần có cách tiếp cận mới về hoạt động CBTT củacông ty đại chúng trên TTCK Tuy nhiên, hiện nay liên quan đến hoạt động CBTTcủa công ty đại chúng trên TTCK là một nghiên cứu mới, khá đa chiều, vừa mangtính pháp lý vừa mang tính kinh tế, các nghiên cứu về vấn đề này mới chủ yếu tồntại ở dạng bài báo, bài viết các công trình nghiên cứu trên khía cạnh kinh tế nhiềuhơn là khía cạnh pháp lý Nhận thức được các vấn đề nêu trên, nghiên cứu sinh lựa

chọn đề tài: “Pháp luật về công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận án của mình.

2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu

Luận án có mục đích nghiên cứu là làm rõ những vấn đề lý luận về CBTTcủa công ty đại chúng trên TTCK và pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trênTTCK, qua đó hình thành cơ sở lý luận và phát triển các luận cứ khoa học đểđánh giá thực trạng pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, từ đótìm ra các giải pháp, phương hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động CBTT củacông ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam

Trang 10

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, luận án thu thập, hệ thống hóa một số công trình khoa học về CBTT

của công ty đại chúng trên TTCK tiêu biểu trong và ngoài nước;

Thứ hai, luận giải những vấn đề lý luận về CBTT của công ty đại chúng trên

TTCK và pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK

Thứ ba, luận án đưa ra những đánh giá về thực trạng pháp luật về CBTT của

công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam

Thứ tư, luận án đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT

của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về CBTT của công ty đạichúng trên TTCK và pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, thựctrạng pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định: là các quy định của phápluật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và thực tiễn áp dụng pháp luật vềvấn đề này ở Việt Nam hiện nay Luận án không đi sâu về pháp luật liên quan đếnviệc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động CBTT của công ty đại chúngtrên TTCK bởi lẽ pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực này không cócác quy định pháp lý đặc thù Trên thực tế, hoạt động CBTT của công ty đạichúng trên TTCK, kể cả TTCK chính thức và TTCK phi chính thức, TTCK tậptrung và TTCK phi tập trung Tuy nhiên, trong phạm vi luận án, tác giả chỉ đi sâunghiên cứu các quy định về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK tập trung

4.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp luận nghiên cứu

Trang 11

Luận án nghiên cứu hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK theocách tiếp cận liên ngành luật học kết hợp các tri thức lý luận kinh tế học.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống bao gồm:phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp luật học

so sánh, phương pháp thống kê

Phân tích hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK là một nghiêncứu có phạm vi nghiên cứu hẹp, tương đối phức tạp, vừa mang tính kinh tế, vừamang tính pháp lý, hơn vậy việc thu thập thông tin rất đa chiều và chủ yếu tồn tạidưới dạng các bài báo, bài viết khoa học, bình luận, nguồn tài liệu tham khảo hạnhẹp, riêng lẻ Nghiên cứu sinh đã sử dụng các phương pháp cụ thể như sau:

- Phương pháp tổng hợp, thống kê: được sử dụng chủ yếu để làm rõ kháiniệm, đặc điểm nguyên tắc, phân loại, nội dung, hình thức, phương tiện CBTT củacông ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam

- Phương pháp nghiên cứu luật so sánh: được nghiên cứu sinh chủ yếu sửdụng trong việc làm rõ nội dung pháp luật ở Việt Nam về hoạt động CBTT của công

ty đại chúng trên TTCK có so sánh, dẫn chiếu với pháp luật của một số nước trên thếgiới để tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, tiếp cận liên ngành luật học, kinh tế họcđược sử dụng nhằm phân tích các yếu tố chi phối đến hoạt động CBTT của công

ty đại chúng trên TTCK và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công

ty đại chúng trên TTCK

5.Đóng góp mới về khoa học của luận án

Là công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc của nghiên cứu sinh, luận

án có những đóng góp mới, cụ thể như sau:

Trang 12

Thứ nhất, các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung và phát triển

những vấn đề lý luận về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và pháp luật vềCBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam, làm rõ cơ sở khoa học giúpcân bằng lợi ích của công ty đại chúng với lợi ích của nhà đầu tư, đảm bảo tínhminh bạch của thị trường cũng như bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư,hướng tới thông tin của công ty đại chúng trên TTCK là minh bạch, rõ ràng và kịpthời, đạt tới các chuẩn mực chung và thông lệ của TTCK phát triển trong khu vực

và trên thế giới Luận án là công trình nghiên cứu có tính hệ thống liên quan đếnpháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam Đây là hoạtđộng đặc thù của TTCK, có tác động đến tất cả các chủ thể tham gia TTCK, ảnhhưởng trực tiếp tới kênh huy động vốn được coi là lớn nhất của nền kinh tế thịtrường

Thứ hai, tác giả đánh giá thực trạng pháp luật về CBTT của công ty đại

chúng trên TTCK ở Việt Nam Theo đó, cơ bản có thể nhận thấy nội dung quyđịnh của pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam đã giảiquyết cơ bản các vấn đề đặt ra liên quan đến đối tượng, thời hạn, nghĩa vụ, phươngthức, cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cũng như cơ chế xử lý viphạm trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK Các quy định này

đã có sự tương thích nhất định đối với các quy định của pháp luật liên quan cũngnhư những khuyến nghị chung của IOSCO và phù hợp với quy định chung của cácnước trong khu vực và trên thế giới Do đó, tạo điều kiện thuận lợi cho công ty đạichúng trong vấn đề tiếp cận việc huy động vốn trên TTCK đối với nhà đầu tư nướcngoài và tiến tới huy động vốn trên TTCK nước ngoài Tuy nhiên, bên cạnh đópháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK còn có những hạn chế cầnphải khắc phục và hoàn thiện trong thời gian tới Cụ thể:

Một là, pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam

mới chỉ dừng lại ở việc nỗ lực điều chỉnh và trật tự hóa hoạt động CBTT của công

Trang 13

ty đại

Trang 14

chúng trên TTCK nhưng chưa đảm bảo khung pháp lý ổn định, chưa có tính địnhhướng thị trường và chưa bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.

Hai là, pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam

mới chỉ tiếp cận hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK trên góc độnghĩa vụ hơn là quyền CBTT của công ty đại chúng trên TTCK

Ba là, pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam

thiếu nhiều chế tài với những biện pháp đủ mạnh, đặc biệt đối với cá nhân có nghĩa

vụ và được thực hiện quyền CBTT của công ty đại chúng trên TTCK

Bốn là, pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam

cần có các quy định hướng tới những chuẩn mực và thông lệ chung về CBTT củacông ty đại chúng trên TTCK phát triển nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích củanhà đầu tư, của bản thân công ty đại chúng, xử lý nghiêm minh các hành vi viphạm trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK tạo ra một TTCKphát triển lớn mạnh, bền vững, tạo niềm tin của nhà đầu tư đối với thị trường và làkênh huy động vốn lớn nhất của nền kinh tế

Thứ ba, Luận án xác định định hướng và các giải pháp hoàn thiện các quy

định của pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK cũng như nâng caohiệu quả áp dụng các quy phạm pháp luật trong thực tiễn Theo đó luận án đã tậptrung xác định, định hướng hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúngtrên TTCK và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đạichúng trên TTCK như: Hoàn thiện pháp luật liên quan đến đối tượng, thời hạnCBTT của công ty đại chúng trên TTCK; Quyền và nghĩa vụ của công ty đại chúngtrong hoạt động CBTT trên TTCK; Phương thức CBTT của công ty đại chúng trênTTCK; Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong hoạt động CBTTcủa công ty đại chúng trên TTCK; Xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt độngCBTT của công ty đại chúng trên TTCK;

Trang 15

Nhóm giải pháp hỗ trợ khác (xây dựng bộ chỉ số minh bạch thông tin đối với công

ty đại chúng và hoàn thiện phương tiện CBTT)

6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về lý luận: Luận án đã nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lýluận về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và đánh giá thực tiễn thực thiquy định của pháp luật về vấn đề này Luận án khẳng định vai trò của hoạt độngCBTT của công ty đại chúng trên TTCK đối với sự phát triển của TTCK, luận áncũng chỉ ra các nhân tố tác động đến hoạt động CBTT của công ty đại chúng trênTTCK, qua đó đưa ra những nhận xét, đánh giá về thực trạng pháp luật về CBTTcủa công ty đại chúng trên TTCK, chỉ ra nguyên nhân của một số hạn chế còn gặpphải trong thực tiễn

Về thực tiễn: Luận án đưa ra những yêu cầu cần thiết, những định hướng cơbản để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trênTTCK ở Việt Nam, tiếp đến luận án đưa ra các nhóm giải pháp quan trọng hàng đầu

để hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK

Ngoài ra, luận án còn là nguồn tài liệu tham khảo trong nghiên cứu vàgiảng dạy khoa học pháp lý liên quan đến TTCK ở Việt Nam

7.Cơ cấu của luận án

Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kếtcấu 4 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu Chương 2: Những vấn đề lý luận về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và

pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK

Chương 3: Thực trạng pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt

Nam

Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại

chúng trên TTCK ở Việt Nam

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án

1.1.1. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về CBTT và pháp luật CBTT của công ty đại chúng trên TTCK

Tình hình nghiên cứu lý luận về khái niệm, đặc điểm của công ty đại chúng

và hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK

Trên thế giới, khái niệm công ty đại chúng (public limited company- plc)

được tiếp cận dưới hai khía cạnh chủ yếu là: vốn điều lệ và số lượng cổ đông Tại

Mỹ hay Úc, công ty đại chúng và công ty nội bộ được phân biệt chủ yếu trên số

lượng cổ đông:“Công ty đại chúng là những công ty thực hiện huy động vốn rộng rãi từ công chúng thông qua phát hành chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) niêm yết tại các trung tâm giao dịch chứng khoán hoặc chứng khoán không niêm yết nhưng được giao dịch thông qua các thể chế môi giới chứng khoán”[153, tr 25] Và “nét đặc trưng của các công ty đại chúng là có sự tham gia của nguồn vốn từ bên ngoài với nhiều nhà đầu tư” là nhận định của tác giả Hà Thị Thu Hằng trong luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về quản trị Công ty đại chúng, thực tiễn áp dụng tại Công ty cổ phần VINAFCO” [44, tr 14] Trong khi đó, tác giả Lương Đình Thi trong Luận văn Thạc sĩ luật học “Pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam” có nêu ra một số đặc điểm của công ty đại chúng bao gồm: Là công ty cổ

phần hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, là tổ chức kinh tế quản lý tập trung cao,

có số lượng cổ đông lớn, có mối liên hệ chặt chẽ với TTCK [87, tr11]

CBTT là khái niệm trên thực tế được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau.Trên TTCK, thông tin được coi là yếu tố quan trọng nhất đảm bảo thị trường côngkhai, minh bạch và hiệu quả Những chủ thể sở hữu thông tin chính xác và phântích được

Trang 17

các thông tin này sẽ đưa ra được quyết định đầu tư kịp thời, hiệu quả, ngược lạithông tin không chính xác, thiếu minh bạch cũng có thể mang lại rất nhiều rủi ro,thiệt hại, tác động tiêu cực không chỉ đối với doanh nghiệp, mất lòng tin đối với nhàđầu tư, khó khăn trong công tác quản lý của các nhà quản lý, ảnh hưởng trực tiếp tới

sự phát triển của nền kinh tế

Theo khuyến nghị thứ 16 của IOSCO ghi nhận việc CBTT của công ty đại

chúng:“Cần công bố đầy đủ, chính xác và kịp thời các kết quả tài chính, rủi ro và các thông tin quan trọng khác đối với quyết định của nhà đầu tư”[146, tr.38] Do

đó, mục đích cao nhất của hoạt động CBTT nói chung và CBTT của công ty đạichúng trên TTCK phải hướng tới sự đầy đủ, tính chính xác và kịp thời về kết quảhoạt động kinh doanh, các sự kiện pháp lý tốt hoặc không tốt cũng như các thôngtin khác của công ty đại chúng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của

cổ đông, nhà đầu tư Những cổ đông, dù là cổ đông nhỏ lẻ, không chuyên cũng cầnđược tiếp cận thông tin nhanh nhất để có quyết định phù hợp và chính xác Trong

công trình nghiên cứu “Hoàn thiện hệ thống CBTT của công ty đại chúng” của Tiến

sĩ Tạ Thanh Bình đã khẳng định công khai thông tin là một nguyên tắc cơ bản trong

hoạt động của TTCK Theo đó: “CBTT là việc thông báo đến công chúng đầu tư mọi thông tin liên quan đến tính hình hoạt động của các tổ chức phát hành chứng khoán, tổ chức niêm yết, công ty đại chúng các thông tin về thị trường” [5, tr.8] Tác giả cho rằng thông tin trên TTCK được ví như “mạch máu trong cơ thể người” hỗ trợ thị trường vận hành liên tục, thông suốt giúp cung cấp đầy đủ thông

tin cho nhà đầu tư, cơ quan quản lý điều hành, nhà nghiên cứu Trong TTCK thôngtin dù được tiếp cận ở các góc độ nào, nhằm phục vụ các mục đích như thế nào,nhưng đều hướng tới một mục tiêu cao nhất là công khai hóa các thông tin của thịtrường, đặc biệt là thông tin của công ty đại chúng nhằm đảm bảo thị trường đượcminh bạch, công khai, hiệu quả Vì thế, chúng ta có thể tiếp cận CBTT với cáccách tiếp cận dưới các khía cạnh khác nhau nhằm làm rõ hơn nữa sự

Trang 18

ảnh hưởng của hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK như: (i) góc độkinh tế, (ii) góc độ xã hội, (iii) góc độ pháp lý.

Dưới góc độ kinh tế, thông tin của TTCK phản ánh tình hình kinh doanh,

tài sản sở hữu, tài chính của công ty đại chúng ở các giai đoạn, thời kỳ nhất địnhthông qua các bảng kê chi tiết tài khoản, cân đối tài khoản, BCTC, báo cáo kết quảhoạt động kinh doanh của công ty đại chúng, các kế hoạch, chiến lược phát triểnkinh doanh của mỗi công ty đại chúng Qua các tài liệu và thông tin này chúng ta

nhận định, đánh giá được “sức khỏe tài chính” của mỗi doanh nghiệp nói chung và

công ty đại chúng nói riêng, từ đó phân tích được khả năng phát triển của doanhnghiệp đó tại thời điểm hiện tại và trong tương lai Thông tin trên TTCK của công

ty đại chúng phải được công bố bởi chủ thể có thẩm quyền của công ty thực hiện,tác giả đã nhìn nhận nghiêng về vấn đề thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp hơn làthực hiện quyền của doanh nghiệp Pháp luật các nước đều có quy định rất rõ về cácnguyên tắc CBTT trên TTCK nhằm đảm bảo việc CBTT không thuần túy là nghĩa

vụ của công ty đại chúng mà còn là quyền lợi thiết thực, trực tiếp của công ty đạichúng

Theo các học giả Mỹ, ngoài việc phải chấp hành các nguyên tắc CBTT chungcác công ty đại chúng phải có sự kiểm soát của nhà đầu tư Đối với các công tychứng khoán cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư cũng rất cẩn trọng, họ không nhữngphải tuân theo quy định về Đạo luật tư vấn đầu tư, mà còn bị “tẩy chay” ngay nếu

có bất kỳ một sự vi phạm nào, ngay lập tức sẽ có ngay chủ thể khác thay thế họtrên thị trường Chính vì vậy, TTCK Mỹ được đánh giá là một TTCK đáng tin cậyvào bậc nhất của thế giới Nó cũng chính là kênh lớn nhất và chủ yếu huy độngvốn của các chủ thể kinh doanh Ngoài ra, Mỹ còn có các công ty bảo vệ nhà đầu

tư, do vậy các hoạt động CBTT không trung thực, sai sự thật, trái quy định ảnhhướng tới nhà đầu tư, tới thị trường cũng không thể tồn tại là vì thế Mặt khác, cũngtại Mỹ hoạt động của các công ty dịch vụ CBTT cũng rất hiệu quả vì thế nhà đầu

Trang 19

tư rất dễ dàng trong việc tiếp cận các thông

Trang 20

tin công bố của công ty đại chúng trên TTCK Đây cũng là đánh giá của Tiến sĩ Tạ

Thanh Bình trong đề tài nghiên cứu cấp Ủy ban Chứng khoán “Hoàn thiện hệ thống CBTT của công ty đại chúng” [5, tr.26].

Dưới góc độ xã hội, chúng ta đều nhận thấy tầm quan trọng của thông tin

trên TTCK bởi nó là bộ phận không thể thiếu của TTCK vì thiếu nó thì TTCK

không còn tồn tại Theo tác giả Phạm Thị Hằng Nga “CBTT của công ty đại chúng trên TTCK theo pháp luật Việt Nam” [58, tr.17] thì: Thông qua kênh tin, nhà đầu tư

có cái nhìn tổng thể, dễ dàng tiếp cận về TTCK cũng như đối với các công ty đạichúng Các thông tin tổng thể về tổ chức phát hành, diễn biến giao dịch thị trường,chỉ số chứng khoán, quy mô vốn hóa thị trường, một bức tranh toàn cảnh của thịtrường Mặt khác, từ thông tin trên TTCK giúp nhà quản lý đánh giá được mức độphát triển của TTCK, xác định được chính xác vai trò của TTCK đối với sự pháttriển chung của nền kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn, hoàn cảnh cụthể Thông tin trên TTCK có tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội,

nó không thuần túy ảnh hưởng trực tiếp đến từng cá thể nhà đầu tư hay một công tyđại chúng hoặc đến một số cơ quan quản lý chuyên ngành mà nó có tác động đếnquan hệ xã hội nói chung

Dưới góc độ pháp lý, CBTT của công ty đại chúng là việc công ty tuân thủ

các quy định pháp luật được áp dụng đối với các chủ thể tham gia thị trường, phảnảnh hàng loạt các quan hệ như quan hệ trong nội bộ công ty, việc tuân thủ chế độbáo cáo công khai thông tin công ty ra công chúng theo trình tự, thủ tục pháp luật

quy định Điều này được tác giả Đinh Văn Sơn nhận định “CBTT TTCK được hiểu là cách thức để truyền tải thông tin đến công chúng, đến các thành viên tham gia thị trường và những người có nhu cầu tiếp nhận thông tin” [67, tr.21] Như

vậy, dưới góc độ pháp lý với các thông tin của công ty đại chúng công khai liênquan đến doanh nghiệp là cơ sở để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xéthoạt động hợp pháp của công ty đại chúng trên TTCK Đảm bảo các công ty đại

Trang 21

chúng khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của

Trang 22

mình có thể được thực hiện các quyền tương ứng theo quy định của pháp luật hiện hành.

Tình hình nghiên cứu lý luận về vai trò của CBTT của công ty đại chúng trên TTCK

Tuân thủ pháp luật về CBTT trên TTCK là yêu cầu bắt buộc đối với cácchủ thể tham gia TTCK nói chung, với đặc trưng là một thị trường giao dịch có tổchức, yêu cầu sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể tham gia thị trường, đặc biệt làcác công ty đại chúng Vì thế, hoạt động CBTT của các chủ thể tham gia TTCK nóichung và của công ty đại chúng nói riêng, cần thiết phải có sự điều chỉnh đầy đủcủa pháp luật là khách quan

Trong bài báo của tác giả Phạm Thị Giang Thu: “Pháp luật CBTT của công

ty niêm yết trên TTCK Việt Nam thực tiễn pháp lý và phương hướng hoàn thiện” [88, tr 44] có đề cập: “Bằng các quy định của pháp luật Nhà nước thể hiện sự can thiệp cần thiết để bảo vệ các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ lẻ, cá thể, khả năng phân tích thông tin và tìm hiểu thị trường còn hạn chế Sự điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động CBTT của chủ thể niêm yết được quy định ngay ở những khâu đầu tiên như việc đặt ra những điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng với chế độ CBTT rất chặt chẽ, nhằm bảo đảm chứng khoán giao dịch tại thị trường phải là hàng hoá có chất lượng, tạo niềm tin cho công chúng đầu tư”

[88, tr 46] Quan điểm của tác giả đưa ra là hoạt động CBTT của công ty đại chúngtrên TTCK nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư Theo tác giả Đinh

Văn Sơn “Để phát triển TTCK – niềm tin vào thị trường là yếu tố tạo lửa và duy trì lòng nhiệt tình của các chủ thể tham gia thị trường, đặc biệt là nhà đầu tư Do

đó, thông tin về chứng khoán và giao dịch chứng khoán trở thành một yếu tố hết sức nhạy cảm và quan trọng” [67, tr 13] Quan điểm chung của các tác giả về sự

cần thiết của hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK liên quan chặt chẽtới quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư trên TTCK

Trang 23

Không thể phủ nhận vai trò của CBTT của công ty đại chúng trên TTCK làrất lớn, nó có tác động đến tất cả các chủ thể tham gia thị trường Nhìn nhận vấn đề

liên quan đến vai trò của CBTT tác giả Đinh Văn Sơn có ghi nhận: “Với vai trò của mình, thông tin là nhân tố tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của TTCK”

[67, tr.14] CBTT và thông tin của các chủ thể trên TTCK nói chung và CBTT củacông ty đại chúng nói riêng có vai trò và tác động cả về mặt tích cực và tiêu cực

đối với TTCK “Ở phần lớn các nước nghĩa vụ công khai thông tin được quy định trong luật chứng khoán và có xu hướng nhích lại luật chứng khoán của Mỹ.

Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán (IOSCO); Ủy ban quốc tế về tiêu chuẩn hóa hạch toán (LASS) cũng ban hành các biểu mẫu và danh mục thông tin đối với các công ty” [56, tr 290] Dưới góc độ nhìn nhận gián tiếp về vai trò CBTT của

công ty trên TTCK tác giả Lê Hoàng Nga cho thấy hoạt động CBTT được cácnước phát triển và các tổ chức quốc tế liên quan đến chứng khoán đánh giá rất cao.Vai trò của CBTT của công ty đại chúng trên TTCK được các nghiên cứu tiếp cậndưới góc độ đánh giá cao tầm quan trọng đối với các thông tin của công ty đạichúng giúp các chủ thể có liên quan trên thị trường dễ dàng đánh giá giá trị củacông ty và đầu tư vào TTCK theo đánh giá cũng như trách nhiệm của họ Do đó,hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK chính là công khai thông tin củacông ty đại chúng nhằm bảo vệ nhà đầu tư, những người ít tham gia vào quản lýdoanh nghiệp và có sự tiếp cận rất hạn chế tới các thông tin về công ty Bởi vậy, vaitrò của hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK là trách nhiệm củacông ty đối với các cổ đông công ty cũng như các nhà đầu tư trên TTCK Đồngthời đó cũng chính là cách công ty đại chúng tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợppháp của mình trên TTCK

Tình hình nghiên cứu lý luận về nguyên tắc CBTT của công ty đại chúng trên TTCK

Theo đó, các thông tin của công ty đại chúng phải được công bố theo các

Trang 24

nguyên tắc: Thông tin phải đầy đủ và chính xác, thông tin phải được công bố kịp thời

Trang 25

và liên tục, thông tin công bố cần được lập và công bố phù hợp với chuẩn mực kếtoán, đảm bảo công bằng đối với các đối tượng nhận thông tin công bố, đối tượngCBTT phải có trách nhiệm với thông tin công bố Theo tác giả Bạch Đức Hiển có

ghi nhận “Để đảm bảo cho TTCK hoạt động hiệu quả và công bằng thì các tin tức có tác động đến sự thay đổi giá cả của chứng khoán cần phải công khai cung cấp cho các nhà đầu tư nhằm tạo cho họ có cơ hội đầu tư như nhau, đồng thời là biện pháp quan trọng để ngăn chặn các hành vi gian lận trong kinh doanh chứng khoán, lũng loạn thị trường” [45, tr 19] Cũng đồng quan điểm với tác giả Bạch

Đức Hiển, tác giả Bùi Kim Yến đã tiếp cận về nguyên tắc CBTT của công ty đại

chúng trên TTCK nói riêng và CBTT trên TTCK nói chung: “TTCK phải được xây dựng trên cơ sở hệ thống CBTT tốt Nguyên tắc công khai chính là nhằm đảo bảo lợi ích cho tất cả những người tham gia thị trường, thể hiện tính công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ những quy định chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những quy định đó Nguyên tắc này bảo vệ nhà đầu tư, đồng thời cũng hàm nghĩa rằng, một khi nhà đã được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác thì người đầu tư phải chịu trách nhiệm về các quyết định đầu

tư của mình” [108, tr.8] Nhằm phát triển một TTCK bền vững thực sự là một

kênh huy động vốn lớn nhất cho nền kinh tế, “thu gom” mọi nguồn vốn tiết kiệmlớn nhỏ của mỗi gia đình, mỗi người dân hay các nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời tạothành nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế mà các phương thức huy động vốnkhác không có được đòi hỏi nguyên tắc CBTT của công ty đại chúng phải hướng tớiđược tính công khai, minh bạch và kịp thời

Tình hình nghiên cứu lý luận về phân loại thông tin phải công bố của công ty đại chúng trên TTCK

Hầu hết các nghiên cứu đã đề cập đến các loại thông tin của công ty đại chúng phải công bố trên TTCK bao gồm các thông tin về tài chính, thông về tình hình hoạt

Trang 26

động kinh doanh, kết quả kinh doanh, thông tin về nhân sự Cụ thể, công bố cácthông tin tài chính của công ty đại chúng bao gồm: CBTT BCTC năm, CBTTBCTC bán niên, CBTT định kỳ BCTC quý, công bố bất thường các thông tin khácliên quan đến BCTC Tiếp đến là CBTT về tình hình hoạt động và kết quả sản xuất,kinh doanh của công ty đại chúng như: CBTT bất thường khi phát sinh các sự kiện

có ảnh hưởng lớn đến quá trình hoạt động, sản xuất kinh doanh của công ty đạichúng Một trong các thông tin của công ty đại chúng cần công bố là các thông tinliên quan đến nhân sự quản lý, bao gồm: công bố các thông tin liên quan đến hoạtđộng của HĐQT, công bố các thông tin liên quan đến hoạt động của Ban Kiểmsoát, CBTT về chính sách thù lao cho các nhân sự quản lý, CBTT về cổ đông lớn

và quyền biểu quyết của cổ đông công ty đại chúng Ngoài ra, một số thông tincủa công ty đại chúng cần công bố như: Thông tin về giao dịch giữa công ty đạichúng và người liên quan, thông tin về các rủi ro và hệ thống giám sát, quản lý rủi

ro của công ty đại chúng, công bố các thông tin khác của công ty đại chúng Trongnghiên cứu của tác giả Tạ Thanh Bình [5, tr.25] đã thể hiện rất rõ các quan điểmnày

Tình hình nghiên cứu lý luận về khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật công

ty đại chúng trên trên TTCK

TTCK duy trì, tồn tại và phát triển trên cơ sở niềm tin, do đó các quy địnhđảm bảo tính minh bạch thông tin của các bên tham gia được coi là yêu cầu quantrọng bậc nhất nhằm đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh, hấp dẫn của thị trường

Kể từ khi TTCK được đưa vào vận hành đến nay, các quy định pháp luật vềCBTT đã được điều chỉnh liên tục để phù hợp với thực tiễn phát triển của thịtrường Bởi lẽ pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT trên TTCK là một bộ phậncấu thành và thiết yếu của pháp luật về chứng khoán và TTCK, là tổng hợp cácquy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động CBTT củacông ty đại chúng trên TTCK Pháp luật CBTT trên TTCK quy định các nguyên

Trang 27

tắc, các loại thông tin, nội dung, hình thức, phương

Trang 28

tiện CBTT của tất cả các chủ thể tham gia thị trường Theo đó: “Pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK là một bộ phận cấu thành và quan trọng của pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông trên TTCK.

Đó là tổng hợp những nguyên tắc, định hướng cơ bản về hoạt động CBTT của công

ty đại chúng, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động công khai thông tin của các công ty đại chúng, bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật về CBTT định kỳ của công ty đại chúng, nhóm quy phạm pháp luật về CBTT bất thường của công ty đại chúng, nhóm quy phạm về CBTT theo yêu cầu của công ty đại chúng Các nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT của công ty đại chúng như trên tương ứng với các nghĩa vụ CBTT mà công ty đại chúng phải tuân thủ” Theo đó, công ty đại chúng phải công bố các thông tin mang tính chất tài

chính hoặc phi tài chính liên quan đến tình hình hoạt động của công ty như cácBCTC, các thông tin về quản trị công ty, thông tin về rủi ro và chính sách quản lýrủi ro… Việc CBTT của công ty đại chúng có thể diễn ra định kỳ, bất thường haytheo yêu cầu của UBCKNN (UBCKNN), SGDCK (SGDCK) Quan điểm này

được thể hiện trong công trình nghiên cứu “Minh bạch thông tin trên TTCK” của

có thể kể đến là của các tác giả Jonas and Blanchet [142, tr.153], trong nghiên cứucủa mình tác giả xây dựng các thuộc tính để tạo nên mười một đặc tính của chấtlượng thông tin BCTC theo Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ(Financial Accounting Standards Board

- FASB) Từ nghiên cứu của các tác giả Jonas and Blanchet, Ferdy van Beest, Geert

Trang 29

Braam [140, tr.103] phát triển nghiên cứu của mình để đo lường chất lượng BCTCcủa

Trang 30

Anh và Mỹ bằng phương pháp “hoạt động hóa” (operationalize) các đặc tính chấtlượng để đánh giá những thông tin tài chính và phi tài chính nhằm xác định tính hữuích của chúng Ngược lại, nghiên cứu của tiến sĩ Frank Heflin và cộng sự [136,tr.53] chủ yếu đánh giá thông qua hình thức và thời hạn CBTT của công ty đạichúng, trên cơ sở đó tác giả cho rằng chất lượng của thông tin kế toán phụ thuộc

cơ bản vào các thông tin mà doanh nghiệp sẽ công bố rộng rãi ra công chúng quahình thức BCTC năm hay quý, hơn là những phân tích chuyên sâu của chính cácnhà quản lý doanh nghiệp Tương tự như các tác giả Ferdy van Beest, Geert Braam,

tác giả Francis W K Sui [138, tr.17] nhận định rằng:“Hệ thống hạch toán và các nguyên tắc kế toán hiện hành sẽ tác động rất lớn đến các đặc tính của thông tin kế toán” Ngoài ra, tác giả còn cho rằng, vai trò của các doanh nghiệp kiểm toán đối với chất lượng CBTT thể hiện ở hai khía cạnh:“Thứ nhất, cần xác nhận tính trung thực và hợp lý của thông tin kế toán, đánh giá sự tuân thủ theo các chuẩn mực và quy định về kế toán hiện hành; Thứ hai, tác giả đã đưa ra các đánh giá nghề nghiệp về tính đầy đủ của thông tin của các báo cáo của công ty đại chúng”.

Tình hình nghiên cứu lý luận về các yếu tố tác động đến pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK

Tác giả Paul M Healy và cộng sự [134, tr.405] đã nghiên cứu các tác độngđến hoạt động CBTT của doanh nghiệp dựa trên mối quan hệ tương quan giữa việcgiám sát hoạt động CBTT của công ty, giữa sự tác động của các chủ thể trunggian và vấn đề quản trị của công ty trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng

và đưa ra kết luận: “Để nâng cao chất lượng CBTT, không thể trông chờ vào vai trò duy nhất của cơ quan quản lý mà còn phụ thuộc nhiều đối tượng khác tham gia hoạt động CBTT của doanh nghiệp như sự giám sát đánh giá chất lượng thông tin của kiểm toán, truyền thông hay sự chủ động của lãnh đạo doanh nghiệp”.

Trang 31

Trong khi đó, các tác giả Zhang Yuemei và Li Yanxi An [135, tr.18] cho rằnghoạt động CBTT bị ảnh hưởng tác động bởi chính trong hoạt động nội bộ củacông ty trong đó đặc biệt quan tâm đến yếu tố tác động của nhân sự quản lý trongdoanh nghiệp, trong mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và chất lượng thôngtin công bố của các công ty đại chúng Trên cơ sở đó, tác giả đánh giá mối quan hệchặt chẽ giữa chất lượng thông tin công bố song song với số lượng các nhà lãnhđạo độc lập trong bộ máy lãnh đạo của doanh nghiệp và được đặt trong mối quan

hệ tương quan, khách quan và chủ quan với hệ thống quản trị doanh nghiệp cùngvới chế độ đãi ngộ của doanh nghiệp dành cho các nhà lãnh đạo của doanh nghiệp

Ngoài ra, để đánh giá chất lượng thông tin BCTC, nghiên cứu của tác giảLyle.N [143, tr.28] đánh giá chất lượng thông tin BCTC thông qua chuỗi cung ứngBCTC Theo tác giả, chuỗi cung ứng BCTC bị chi phối bởi nhiều chủ thể, nhiềucông đoạn, quy trình thông qua quá trình lập, xác nhận, kiểm tra và sử dụng BCTC.Tất cả chuỗi quá trình đạt được chất lượng cao sẽ tạo ra BCTC có chất lượng cao

Nghiên cứu của tác giả xem xét 4 yếu tố: “Quản trị công ty, quy trình lập BCTC, Báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên độc lập và tính hữu ích của BCTC” Nghiên

cứu được thực hiện trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 7 năm 2007 Đối tượngnghiên cứu là 341 người có liên quan đến chuỗi cung ứng BCTC trên khắp thế giớinhư: người lập BCTC, kiểm toán viên độc lập, người sử dụng, các nhà lập pháp,xây dựng chuẩn mực Phương pháp chủ yếu của nghiên cứu dựa vào bảng câu hỏigồm 22 câu (cho 341 người) và phỏng vấn sâu 25 chuyên gia Kết quả các đặc tính

chất lượng BCTC cho thấy: “(a) Thông tin tài chính tốt hơn nhờ sự cải thiện của chuẩn mực kế toán, quy định luật pháp và giám sát; (b) BCTC công bố có khả năng so sánh tốt hơn; (c) Thông tin kế toán về khả năng đáng tin cậy được cải thiện; (d) Gia tăng tầm quan trọng của các báo cáo diễn giải và (e) tiếp cận thông tin BCTC dễ dàng hơn”.

Trang 32

1.1.2.Tình hình nghiên cứu về thực trạng pháp luật về CBTT của công

ty đại chúng trên TTCK

Thực trạng pháp luật CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Namđược bàn luận, phân tích trong các công trình nghiên cứu như sau: Trước tiên, phải

kể đến: Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Tiến sĩ Tạ Thanh Bình (2011) Hoàn thiện

hệ thống CBTT của công ty đại chúng [5, tr.15], Luận văn Thạc sĩ luật học (2014) CBTT của công ty đại chúng trên TTCK theo pháp luật Việt Nam của Phạm Thị Hằng Nga [58, tr.78]; Bài viết: Chế độ CBTT theo luật chứng khoán năm 2006 của Nguyễn Thị Ánh Vân trên Tạp chí Luật học số 08/2006 tr.60; Bài viết: Chất lượng CBTT của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam thực trạng và giải pháp của

Nguyễn Thị Hải Hà trên Tạp chí Khoa học Tập 30, số 3/2014 [42, tr.37] Với tác giả

Lê Hoàng Nga có đưa ra quan điểm “Để tránh tình trạng bảo mật quá đáng và bảo vệ nhà đầu tư, pháp luật đã can thiệp vào việc tiết lộ thông tin Ở phần lớn các nước nghĩa vụ công khai thông tin được quy định trong luật chứng khoán và có

xu hướng nhích lại luật chứng khoán của Mỹ Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán (IOSCO); Ủy ban quốc tế về tiêu chuẩn hóa hạch toán (LASS) cũng ban hành mẫu biểu và danh mục thông tin đối với các công ty”[59, tr.289] Theo tác giả

Phạm Thị Giang Thu tiếp cận về tính trung thực và đồng nhất của hoạt động CBTTcủa công ty đại chúng trên TTCK nói chung và công bố BCTC của các công ty đại

chúng trên TTCK: “Thực trạng, cho thấy đa số các công ty đại chúng khi công bố các BCTC trước và sau kiểm toán thường có sự không khớp với nhau, các thông tin trong các báo cáo còn sơ sài, đơn điệu, mang tính một chiều, hầu như chỉ phản ánh thông tin tốt của công ty đại chúng, các công ty đại chúng chưa có thói quen cung cấp và sử dụng thông tin đa chiều Rất nhiều công ty đại chúng đã công bố BCTC trước và sau kiểm toán có sự “vênh” nhau về con số” [88, tr.54] Theo tác giả Hoàng Thị Quỳnh Chi phân tích “Theo đánh giá của UBCKNN tại “Báo cáo hoạt động TTCK năm 2007, giải pháp phát triển TTCK năm 2008” thì trong thời gian

Trang 33

vừa qua, tính công khai, minh bạch của TTCK thông qua CBTT của các chủ thể đã từng bước được nâng lên, tuy nhiên nội dung, chất lượng và thời hạn CBTT chưa đáp ứng đƣợc yêu cầu cho công tác quản lý và thông tin cung cấp cho thị trường Thực trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là các TCNY chưa thấy hết được tầm quan trọng của việc CBTT đầy đủ, chỉ chú trọng việc công bố những thông tin tốt, có lợi cho mình, còn những thông tin gây bất lợi thì không muốn công bố ra thị trường Hơn nữa, do sợ bị rò rỉ thông tin, phải cạnh tranh với các đối thủ, nên các TCNY thường ngại công bố các thông tin về sản xuất, kinh doanh và các dự án đầu tư của mình Mặt khác, sự hiểu biết về quyền lợi của các NĐT còn hạn chế, NĐT thiếu sự chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi của chính mình Phần lớn các NĐT chỉ trông chờ vào việc chủ động CBTT của các công ty niêm yết hoặc yêu cầu sự giám sát của UBCKNN trong khi chưa chủ động yêu cầu TCNY giải đáp thắc mắc của mình về những thay đổi trong quá trình hoạt động của công ty (theo quy định của Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết thì cổ đông có quyền đựợc cung cấp thông tin và tham

dự ĐHĐCĐ” [31, tr.94].

Đánh giá về thực trạng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động CBTT tác giả

Đinh Văn Sơn có ghi nhận “Mặc dù khung pháp lý về chứng khoán và TTCK đã từng bước được hoàn thiện hơn, nhưng về cơ bản chất lượng các văn bản pháp lí

về CBTT vẫn còn được đánh giá là thiếu ổn định, không rõ ràng, hệ thống quy định pháp lý còn thiếu nhiều chế tài xử lý, hiệu lực pháp lý của các văn bản điều chỉnh hoạt động CBTT trên thị trường chưa cao” [67, tr.152] Nhìn nhận ở góc độ áp

dụng chuẩn mực BCTC quốc tế đối với công ty niêm yết, tác giả Nguyễn Tuấn Anh

có ghi nhận theo hướng tích cực hơn: “Đánh giá về thực trạng minh bạch thông tin của DNNY trên TTCK Việt nam những năm gần đây cho thấy, chất lượng CBTT trên TTCK được cải thiện rõ rệt so với trước kia Các DN khi phát hành cổ phiếu, muốn thu hút quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước đều phải nỗ lực

Trang 34

đạt được các điều kiện chào bán Khi các

Trang 35

DN thực hiện việc niêm yết chứng khoán hoặc đăng ký giao dịch cổ phiếu, cơ quan quản lý cũng như thị trường có điều kiện để kiểm soát tính công khai, minh bạch, hoạt động kinh doanh cũng như chất lượng quản trị công ty của DN” [1, tr.98].

Với tác giả Nguyễn Thị Hải Hà về tăng cường tính minh bạch thông tin của doanh

nghiệp nhà nước, trong đó có các doanh nghiệp nhà nước niêm yết như sau: “Mặt khác, các chi phí liên quan đến việc xử phạt các trường hợp vi phạm pháp luật về minh bạch thông tin lại không lớn hơn chi phí liên quan đến việc tuân thủ quy định

về CBTT nên nhiều DN chấp nhận nộp phạt để không phải thực hiện minh bạch hóa thông tin theo quy định” [42, tr.44] Các công trình nghiên cứu trên đều phân

tích các quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động CBTT của công ty đạichúng trên TTCK và chỉ ra các tồn tại, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung xoayquanh các nghĩa vụ của công ty đại chúng theo quy định của pháp luật Chứngkhoán và pháp luật về CBTT của công ty đại chúng Ngoài ra, tác giả Phạm ThịGiang Thu còn chỉ ra vấn đề quyền tiếp cận thông tin của nhà đầu tư mới chỉ được

đề cập dưới góc độ những quy định chung trong luật Doanh nghiệp mà chưa được

cụ thể hoá trong pháp luật chứng khoán và CBTT của công ty đại chúng trênTTCK Vì thế, khi nhà đầu tư muốn tiếp cận, tìm hiểu thông tin của công ty đạichúng sẽ không có cơ sở pháp lý yêu cầu công ty đại chúng cung cấp các thông tinliên quan nên hiện tượng bất cân xứng thông tin ngày càng trở lên phổ biến, điềunày ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của nhà đầu tư Do vậy, nhà đầu tư luôn trongtrạng thái là người được tiếp cận thông tin của công ty đại chúng trên TTCK ở giaiđoạn sau so với các cổ đông nội bộ khác

Các nghiên cứu chỉ ra các quy định của pháp luật CBTT chưa đáp ứng đượcnhu cầu phát triển của TTCK và hội nhập quốc tế cũng như chưa tạo ra cơ chếthực thi hiệu quả để đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư trên thị trường Từ đóchỉ ra các nguyên nhân dẫn tới bất cập trong hoạt động CBTT của công ty đạichúng trên TTCK

Trang 36

vẫn là xoay quanh khung pháp lý, trách nhiệm cơ quan quản lý, nguyên nhân từ nội tại phía công ty đại chúng.

1.1.3. Tình hình nghiên cứu về định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK

Tình hình nghiên cứu về định hướng hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK

Trong bài viết: “Chất lượng CBTT của các công ty niêm yết trên TTCK ViệtNam thực trạng và giải pháp” [42, tr.43] trên Tạp chí Khoa học, tác giả Nguyễn ThịHải Hà đưa ra hướng cần sớm ban hành Luật Chứng khoán mới thay cho Luật

Chứng khoán hiện hành: “Với phạm vi điều chỉnh rộng hơn, tiếp cận gần hơn với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, điều chỉnh đồng bộ hoạt động chứng khoán trong mối liên kết với các khu vực dịch vụ của thị trường tài chính Bổ sung điều khoản bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư trước những thiệt hại do vi phạm CBTT của công ty đại chúng Nhà đầu tư có quyền khởi kiện lên các cơ quan chức năng theo đúng quy trình và thủ tục được hướng dẫn” Nghiên cứu về định hướng, giải pháp

hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK theo hướng nớirộng quyền khiếu nại và khởi kiện của chủ thể bị tác động lớn nhất bởi hoạt độngCBTT của công ty đại chúng như nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước về chứng

khoán Đồng thời đưa ra giải pháp: “Chỉnh sửa, bổ sung một số nội dung thuộc chuẩn mực kế toán Việt Nam và chế độ kế toán hiện hành và các quy định của chế

độ kế toán Việt Nam hiện nay đang bộc lộ một số tồn tại” Các giải pháp về hoàn

thiện chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với các vi phạm về CBTT định kỳ về BCTCcủa công ty đại chúng Theo quan điểm tác giả của Nguyễn Thị Hải Hà ghi nhận

trong bài viết “Chất lượng CBTT của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam thực trạng và giải pháp” [42, tr.43] để đảm bảo kỷ luật thị trường, đòi hỏi sự nỗ

lực lớn trong việc tuân thủ của phía cơ quan quản lý cũng như các

Trang 37

công ty đại chúng trên thị trường Trong các nghiên cứu nêu trên đã chỉ ra địnhhướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trênTTCK.

Các nghiên cứu nêu trên thực sự có tính gợi mở rất cao cho Nghiên cứu sinhtrong việc xây dựng khái niệm CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở ViệtNam

Tình hình nghiên cứu về giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK

Đối với tác giả Nguyễn Thị Hải Hà [42, tr.43] tại bài viết “Chất lượng CBTT của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam thực trạng và giải pháp”đề cập đến việc “xác lập cơ chế tương tác hợp lý giữa nhà đầu tư, cơ quan quản lý và doanh nghiệp” Ngoài ra, tác giả còn đề xuất áp dụng công nghệ thông tin hiện đại trong

quản lý và giám sát TTCK trong đó liên quan đến hoạt động CBTT của công tyđại chúng Quan điểm này cũng tương đồng với tác giả Phạm Thanh Thủy trongchuyên đề nghiên cứu khoa học “Thực trạng minh bạch hóa thông tin trên TTCK

Việt Nam [93, tr.41], hay quan điểm trong bài viết “Đẩy mạnh hoạt động CBTT trên TTCK” của tác giả Tạ Thanh Bình và Phạm Thị Hằng Nga [6, tr.11] đã nêu:“Cơ quan quản lý và công ty đại chúng phải đồng thời phát triển một hệ thống CBTT số hóa dựa trên nền Web Hiện nay, UBCKNN đã có hệ thống IDS (Information Disclosure System) và SGDCK Hà Nội đã có hệ thống CBTT CIMS, song SGDCK thành phố Hồ Chí Minh chưa triển khai CBTT điện tử Ngoài ra, hệ thống công nghệ giữa các SGDCK và UBCKNN chưa liên thông để có thể chiết xuất được số liệu” Bên cạnh đó, đa số các tác giả đều chung quan điểm về việc xây dựng các chỉ

số minh bạch thông tin đối với công ty đại chúng như tác giả Trịnh Hồng Hà khẳng

định trong đề tài nghiên cứu khoa học “Hoàn thiện hệ thống CBTT trên TTCK Việt Nam” [43, tr.102], và cũng là quan điểm của tác giả Trần Văn Long đưa ra trong Luận văn Thạc sĩ luật học “Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động CBTT trên

Trang 38

TTCK Việt Nam: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” [53, tr.95].

Trang 39

Tình hình nghiên cứu về nhóm giải pháp hỗ trợ khác

Để nâng cao hiệu quả hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK,bên cạnh các giải pháp như đã phân tích, các nghiên cứu đã có còn chỉ ra một sốgiải pháp như sau:

- Đa dạng cơ cấu sở hữu, đặc biệt việc góp mặt của các nhà đầu tư nướcngoài và việc tăng quy mô doanh nghiệp gián tiếp tăng hiệu quả minh bạch hóathông tin theo tác giả Phạm Thanh Thủy trong chuyên đề nghiên cứu khoa học

“Thực trạng minh bạch hóa thông tin trên TTCK Việt Nam” [93, tr.42].

- Bổ sung các chế tài xử lý vi phạm nghĩa vụ CBTT của công ty đại chúng

trên TTCK quan điểm của tác giả Nguyễn Thị Hải Hà trong bài viết “Chất lượng CBTT của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam thực trạng và giải pháp” [42,

tr.42]

- Nâng cao vai trò của các Hiệp hội kinh doanh chứng khoán trong việc đảm

bảo tính minh bạch của thị trường theo Luận văn Thạc sỹ: “Pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam” của tác giả Viên Thế Giang [39, tr.68]

Qua khảo cứu các tài liệu về định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK chúng ta thấy đặc điểmchung của các quan điểm, định hướng hoàn thiện pháp luật về CBTT của công tyđại chúng trên TTCK bao gồm xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực của thông tincông bố, quy định về tính định lượng của thông tin được công bố, ứng dụng côngnghệ trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK gắn liền với việchoàn thiện các quy định pháp luật về quản trị công ty đại chúng Các giải pháp đưa

ra tương đối đầy đủ, đa dạng, đa chiều nhưng các giải pháp này có mang lại hiệuquả trên thực tế cho hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK hay không

và thực hiện như thế nào là vấn đề luận án nghiên cứu sinh cần làm rõ

1.1.4.Đánh giá chung tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Những kết quả nghiên cứu đã đạt được

Trang 40

Về khía cạnh lý luận pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK:

Các nghiên cứu đã chỉ ra khá rõ các nguyên tắc, phân loại, nội dung, hìnhthức, phương tiện CBTT của công ty đại chúng trên TTCK Nghiên cứu sinh sẽ kếthừa những kết quả nghiên cứu này trong luận án của mình cụ thể như:

- Những nghiên cứu lý luận về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK như:khái niệm, đặc điểm, công ty đại chúng và hoạt động CBTT của công ty đại chúngtrên TTCK; Sự cần thiết của hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK; Vaitrò của hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK; Phân loại thông tin phảicông bố trên TTCK; Nguyên tắc CBTT của công ty đại chúng trên TTCK;

- Những nghiên cứu lý luận về pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT củacông ty đại chúng trên TTCK Cụ thể là: Khái niệm, đặc điểm pháp luật về CBTTcủa công ty đại chúng trên TTCK, cấu trúc pháp luật về CBTT của công ty đạichúng trên TTCK và các yếu tố tác động đến pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTTcủa công ty đại chúng trên TTCK

Về khía cạnh thực trạng pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK:

Các công trình nghiên cứu đã công bố cho thấy các tác giả đã phân tích, đánhgiá, nhận định hiện trạng các quy định về pháp luật CBTT của công ty đại chúngtrên TTCK, chủ yếu tập trung nghĩa cụ CBTT của công ty đại chung theo quy địnhcủa Luật chứng khoán và pháp luật CBTT Đại đa số các công trình nghiên cứu có

đề cập đến kinh nghiệm của các nước có TTCK phát triển về một số khía cạnhnhư: hệ thống CBTT, quản trị dữ liệu, quản trị công ty đại chúng, và gợi mở cáckinh nghiệm cho Việt Nam

Có nhiều bài viết, đề tài đưa ra các số liệu cụ thể trên thực tế về sự vi phạmchế độ CBTT của công ty đại chúng theo hướng chỉ mang tính đối phó, hệ thốngthông tin hình thức chưa phản ánh được bản chất nội tại của hoạt động thực tế của

Ngày đăng: 07/10/2020, 21:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tuấn Anh (2017), “Minh bạch thông tin trên TTCK và một số vấn đề đặt ra”, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, số tháng 9, tr.98-101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Minh bạch thông tin trên TTCK và một số vấn đềđặt ra”, "Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh
Năm: 2017
2. Ban pháp chế - UBCKNN (2007), Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho TTCK Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho TTCKViệt Nam
Tác giả: Ban pháp chế - UBCKNN
Năm: 2007
4. Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2009), Công ty: vốn, quản lý và tranh chấp luật doanh nghiệp 2005, NXB Trí thức Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty: vốn, quản lý và tranhchấp luật doanh nghiệp 2005
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung
Nhà XB: NXB Trí thức Hà Nội
Năm: 2009
5. Tạ Thanh Bình (2010), “Hoàn thiện hệ thống CBTT của công ty đại chúng”, Đề tài nghiên cứu khoa học, UBCKNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống CBTT của công ty đại chúng
Tác giả: Tạ Thanh Bình
Năm: 2010
6. Tạ Thanh Bình, Phạm Thị Hằng Nga (2013), “Đẩy mạnh hoạt động CBTT trên TTCK”, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, Số 180, tr.7-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh hoạt động CBTT trênTTCK”, "Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Tạ Thanh Bình, Phạm Thị Hằng Nga
Năm: 2013
7. Bộ giáo dục và đào tạo (1999), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa –Thông tin
Năm: 1999
31. Hoàng Thị Quỳnh Chi (2008), Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trườngng chứng khoán tập trung ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhàđầu tư trên thị trườngng chứng khoán tập trung ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thị Quỳnh Chi
Năm: 2008
32. Nguyễn Trọng Chuẩn (2013), “Lợi ích và đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, Tạp trí Triết học, số 04,tr. 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi ích và đạo đức trong điều kiện kinh tế thịtrường ở Việt Nam hiện nay”, "Tạp trí Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2013
33. Trần Đình Cung (2007), “Công khai hóa và minh bạch thông tin – cơ sở để thị trường và bên ngoài công ty thực hiện giám sát công ty”, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam Số 107, tr.15-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công khai hóa và minh bạch thông tin – cơ sở để thịtrường và bên ngoài công ty thực hiện giám sát công ty
Tác giả: Trần Đình Cung
Năm: 2007
34. Đảng cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1987
35. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1996
36. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứIX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2001
37. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2006
38. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2011
39. Viên Thế Giang (2008), Pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về CBTT trên TTCK Việt Nam
Tác giả: Viên Thế Giang
Năm: 2008
40. Viên Thế Giang (2008), “Hoạt động CBTT trên TTCK Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, Số 1,2, tr.16-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động CBTT trên TTCK Việt Nam”, "Tạp chíKhoa học và Đào tạo Ngân hàng
Tác giả: Viên Thế Giang
Năm: 2008
41. Lê Việt Giang (2014), Nguyên tắc công khai, minh bạch trên TTCK theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc công khai, minh bạch trên TTCK theo phápluật Việt Nam
Tác giả: Lê Việt Giang
Năm: 2014
110. Vietstock (2017), https://vietstock.vn/2017/09/chi-co-114-dnny-dat-chuan-cong-bo-thong-tin-nam-2017-830-557222.htm, truy vập ngày 20/02/2018 Link
111. Báo Tài chính và Cuộc sống điện tử (2017), http://www.FiLi.vn, truy vập ngày 10/02/2018 Link
120. Nguyễn Hữu (2018), https://tinnhanhchungkhoan.vn/chung-khoan/tiep-tuc-no-luc-nang-chat-doanh-nghiep-minh-bach-thong-tin-247379.html, truy cập ngày 17/08/2018 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w