Tình hình tiêu thụ tôm trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ AnĐề tài hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về tiêu thụ thủy sản nói chung và tôm nói riêng, Đề tài hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về tiêu thụ thủy sản nói chung và tôm nói riêng, Đề tài hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về tiêu thụ thủy sản nói chung và tôm nói riêng,
Trang 1.ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TÌNH HÌNH TIÊU THỤ TÔM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN
Sinh viên thực hiện: Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Hải Yến PGS TS Phùng Thị Hồng Hà Lớp: K42A KTNN
Khóa học: 2008 - 2012
Trang 2Quabốn năm học tập và rèn luyện tại trường Đại Học Kinh Tế Huế, Đại Học Huế, ngoài sự nỗ lực của bản thân, sự dạy dỗ tận tình của quý thầy cô, cơ quan thực tập, sự động viên giúp đỡ của bạn bè và người thân, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Cho phép tôi được bày tỏ lòng cám ơn sâu sắc tới:
PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà – người đã trực tiếp tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành đề tài tốt nghiệp này.
Toàn thể các thầy cô giáo của trường Đại Học Kinh Tế, Đại Học Huế.
Đảng ủy, UBND, Ủy ban mặt trận tổ quốc, các đoàn thể và bà con nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Gia đình bạn bè, người thân đã động viên, giúp đỡ tôi học tập, thực tập và hoàn thành khóa luận này.
Do thời gian và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự góp ý kiến của quý thầy cô và những ngươi quan tâm để đề tài được hoàn thiện hơn, cũng như giúp tôi nâng cao năng lực cho quá trình công tác sau này của bản thân.
Huế, tháng 5 năm 2012 Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hải Yến
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ vii
TÓM TẮT NỘI DUNG NGHIÊN CỨU viii
PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN II - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Những vấn đề về nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản nói chung và tôm nói riêng 4
1.1.1 Khái niệm về nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản 4
1.1.2 Đặc điểm trong sản xuất và kinh doanh thủy sản nói chung 4
1.1.3 Đặc điểm của sản xuất và tiêu thụ tôm 9
1.2 Lý thuyết cơ bản về phân tích chuỗi cung 11
1.2.1 Khái niệm chuỗi cung 11
1.2.2 Thành phần trong chuỗi cung 14
1.2.3 Quá trình tạo giá trị 16
1.2.4 Các chức năng của chuỗi 18
1.3 Tình hình nuôi trồng thủy sản của Việt Nam nói chung và của tỉnh Nghệ An nói riêng 19
1.3.2 Tình hình nuôi trồng thủy sản của tỉnh Nghệ An 22
1.4 Kinh nghiệm tiêu thụ thủy sản nuôi trồng trên thế giới và tình hình xuất khẩu thủy sản củaViệt Nam 24
1.4.1 Kinh nghiệm của thế giới 24
1.4.2 Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam 25
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH TIÊU THỤ TÔM Ở HUYỆN QUỲNH LƯU 28
2.1 Vài nét cơ bản về huyện Quỳnh Lưu 28
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 42.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 28
2.1.1.1 Vị trí địa lý 28
2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên 29
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 31
2.2 Tình hình nuôi trồng, tiêu thụ thủy sản và tôm ở huyện Quỳnh Lưu 32
2.2.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản 32
2.2.2 Tình hình nuôi tôm 35
2.3 Tình hình tiêu thụ tôm 37
2.3.1 Khái quát tình hình tiêu thụ tôm ở huyện Quỳnh Lưu 37
2.3.2 Phương thức tiêu thụ tôm của các thành phần trong chuỗi 38
2.3.3 Phân tích chuỗi cung sản phẩm thủy sản 49
2.3.3.1 Quá trình tạo giá trị 49
2.3.3.2 Chênh lệch giá 50
2.3.3.3 Quan hệ hợp tác trong chuỗi 51
2.3.3.4 Dòng thông tin trong chuỗi cung sản phẩm 52
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng 54
2.4.1 Nhân tố thuận lợi 54
2.4.1.1 Xu hướng tiêu thụ các mặt hàng thủy sản ngày càng tăng 54
2.4.1.2 Tác động của chính sách 55
2.4.1.3 Những thuận lợi về điều kiện tự nhiên 57
2.4.2 Nhân tố bất lợi 57
2.4.2.1 Về cơ sở hạ tầng 57
2.4.2.2 Về điều kiện tự nhiên 58
2.4.2.3 Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm 58
2.4.2.4 Hiểu biết của nông dân, các nhà buôn bán về công tác quản trị chất lượng sản phẩm còn nhiều hạn chế 58
2.4.2.5 Quy hoạch tổng quan phát triển nuôi trồng thủy sản còn chậm 59
2.4.2.6 Đầu tư cho khâu giống thủy sản 59
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 52.4.2.7 Thiếu vốn, giá cả các yếu tố đầu vào tăng cao 59
2.4.2.8 Các cơ sở chế biến thủy sản trên địa bàn còn thiếu và hoạt động chưa hiệu quả 60
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở HUYỆN QUỲNH LƯU 61
3.1 Nâng cao chất lượng thủy sản ở khâu nuôi trồng 61
3.2 Phục hồi lại sự hoạt động của các nhà máy chế biến và xuất khẩu thủy sản 64
3.3 Tăng cường mối quan hệ hợp tác trực tiếp giữa doanh nghiệp và hộ nuôi trồng 64
3.4 Kích thích tiêu dùng trong nước 65
3.5 Chú trọng công tác vệ sinh an toàn thực phẩm 66
3.6 Tăng cường công tác thông tin thị trường 67
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
I KẾT LUẬN 68
II KIẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 81
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
9 GO: Giá trị tổng sản xuất
10 IC: Chi phí trung gian
18 UBND: Ủy ban nhân dân
19 VA: Giá trị gia tăng
20 VSATTP: Vệ sinh an toàn thực phẩm
21 XK: Xuất khẩu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản 20
Bảng 1.2: Sản lượng thủy sản nuôi trồng phân theo loài thủy sản 21
Bảng 1.3: Giá trị sản xuất thuỷ sản theo giá thực tế phân theo ngành hoạt động 22
Bảng 2.1: Cơ cấu đất đai của huyện Quỳnh Lưu năm 2009 30
Bảng 2.2: Diện tích, sản lượng nuôi trồng thủy sản của huyện 33
Bảng 2.3: Giá trị sản xuất của ngành NTTS của huyện (giá so sánh năm 1994) 34
Bảng 2.4: Tổng hợp tình hình nuôi tôm của huyện Quỳnh Lưu phân theo xã năm 2011 36
Bảng 2.5: Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của hộ 39
Bảng 2.6: Nguồn cung cấp giống cho các hộ nông dân 40
Bảng 2.7: Chi phí nuôi tôm bình quân 1 vụ 42
Bảng 2.8: Kết quả và hiệu quả nuôi tôm bình quân 1 vụ 43
Bảng 2.9: Quá trình tạo giá trị của các thành phần chính 49
Bảng 2.10: Chênh lệch giá 50
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Chuỗi cung và chuỗi cạnh tranh 12
Sơ đồ 1.2: Quá trình và các luồng vận chuyển 13
Sơ đồ 1.3: Phân biệt luồng thông tin và vất chất 14
Sơ đồ 1.4: Quá trình tạo giá trị trong chuỗi cung 16
Sơ đồ 1.5: Mô hình tạo ra giá trị của mỗi doanh nghiệp 17
Sơ đồ 2.1: Chuỗi cung sản phẩm tôm thẻ trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu 37
Sơ đồ 2.2: Người bán buôn nhỏ và các quan hệ trực tiếp 47
Sơ đồ 2.3: Người bán buôn lớn và các quan hệ trực tiếp 48
Sơ đồ 2.4: Dòng thông tin trong chuỗi cung sản phẩm tôm ở Quỳnh Lưu 52
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9TÓM TẮT NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quỳnh Lưu là một huyện có tiền năng trong sản xuất tôm
Tuy nhiên quy mô nuôi trồng đang ở dạng quy mô nhỏ, phương pháp canh tác truyềnthống, nhỏ lẻ, manh mún và tự phát; việc phát triển nuôi tôm một cách ồ ạt, quản lýkhông phù hợp đã làm hiệu quả nghề nuôi tôm giảm sút do môi trường ô nhiễm; tiêuthụ tôm gặp nhiều khó khăn do bị ép giá, ép cấp; hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ choviệc chế biến và bảo quản tôm chưa tốt; người nông dân còn rất hạn chế trong việc tiếpcận thông tin thị trường; việc gắn kết giữa bốn khâu sản xuất- thu mua- chế biến- tiêuthụ tôm chưa thật chặt chẽ, đã làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường,nhất là sản phẩm tôm xuất khẩu
Từ những vấn đề trên, tôi đã chon đề tài“Tình hình tiêu thụ tôm trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, đây là phương phápchung sử dụng xuyên suốt đề tài
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp sơ đồ
3 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp khoa học của luận văn
Nghiên cứu đã mô tả các hoạt động chuỗi giá trị tôm như sản xuất, mua, bán và
xu hướng của từng chủ thể trong chuỗi ở huyện Quỳnh Lưu
Sơ đồ chuỗi giá trị đã được xác định và bao gồm các chức năng chuỗi, các chủthể tham gia chuỗi, kênh thị trường và nhà hỗ trợ/thúc đẩy chuỗi
Phân tích kinh tế chuỗi bao gồm chi phí sản xuất, chi phí tăng thêm, giá trị tăngthêm, tổng thu nhập và lợi nhuận của các tác nhân
Đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong tiêu thụ tôm
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Với đường bờ biển dài hơn 3.200 km, Việt Nam có vùng đặc quyền kinh tế trênbiển rộng hơn 1 triệu km2 Việt Nam cũng có vùng mặt nước nội địa lớn rộng hơn 1,4triệu ha nhờ hệ thống sông ngòi, đầm phá dày đặc Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiênthuận lợi giúp Việt Nam có nhiều thế mạnh nổi trội để phát triển ngành công nghiệpthủy sản Từ lâu Việt Nam đã trở thành quốc gia sản xuất và xuất khẩu thủy sản hàngđầu khu vực, cùng với Indonesia và Thái Lan Xuất khẩu thủy sản trở thành một trongnhững lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Không những thế đây còn là điều kiệnthuận lợi để nước ta phát triển lĩnh vực nuôi trồng thủy sản nói chung và lĩnh vực nuôitôm nước lợ nói riêng Năm 2011, mặt hàng tôm vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trongcác sản phẩm thủy sản XK chủ lực của Việt Nam, chiếm 39,8% Tổng giá trị XK tômcủa Việt Nam cả năm đạt 2,396 tỷ USD, vượt qua mốc 2 tỷ cả năm 2010, góp phầnđáng kể cho kỷ lục 6,1 tỷ USD kim ngạch XK của toàn ngành thủy sản Trong đó, XKtôm sú đạt trên 1,43 tỷ USD chiếm gần 60% tổng giá trị, XK tôm chân trắng đạt 704triệu USD chiếm 29,3% tỷ trọng, 12% còn lại là tôm các loại khác [8]
Thị trường tiêu thụ sản phẩm tôm khá đa dạng, sôi động, qua nhiều “mắt xích” vàmang thuộc tính của thị trường hoàn hảo tương đối cao Tuy nhiên đến nay hoạt độngcủa nó vẫn chưa theo một hệ thống thống nhất, giá sản phẩm không ổn định, khâu thumua còn có nhiều vấn đề gây bức xúc trên thị trường mà nhà nông là người chịu thiệtthòi nhất
Quỳnh Lưu là địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển NTTS, với
34 km đường bờ biển, nhiều cửa sông lớn, có nhiều hồ đập, nguồn nước ngầm tự chảy,nguồn thức ăn đa dạng phong phú nên rất thuận lợi cho phát triển NTTS Thời gianqua, ngành thủy sản nói chung và lĩnh vực nuôi tôm nói riêng đã và đang đóng gópđáng kể cho nền kinh tế Huyện nhà, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao độngnông thôn, góp phần cải thiện đời sống nhân dân Nhờ đó, nó được xác định là ngànhkinh tế mũi nhọn của huyện Quỳnh Lưu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11Tuy nhiên quy mô nuôi trồng thủy sản phổ biến ở dạng quy mô nhỏ, phương thứccanh tác truyền thống, nhỏ lẻ, manh mún và tự phát; việc phát triển nuôi tôm một cách
ồ ạt, quản lý không phù hợp đã làm hiệu quả nghề nuôi tôm giảm sút do môi trường ônhiễm, dịch bệnh tràn lan; tiêu thụ tôm gặp khó khăn do bị ép giá, ép cấp; hệ thống cơ
sở hạ tầng phục vụ cho việc chế biến và bảo quản tôm chưa tốt; người nông dân cònrất hạn chế trong việc tiếp cận thông tin thị trường; việc gắn kết giữa bốn khâu sảnxuất – thu mua – chế biến – tiêu thụ tôm chưa thật chặt chẽ, đã làm giảm tính cạnhtranh của sản phẩm trên thi trường, nhất là sản phẩm tôm xuất khẩu
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã chọn đề tài “ Tình hình tiêu thụ tôm trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng tiêu thụ tôm của các hộ nông dân trên địa bàn huyện QuỳnhLưu Đề xuất giải pháp để nâng cao tình hình tiêu thụ tôm trên địa bàn
- Mục tiêu cụ thể
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về tiêu thụ thủy sản nói chung
và tôm nói riêng
+ Phân tích tình hình tiêu thụ tôm trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu
+ Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiêu thụ tôm trên địa bànhuyện Quỳnh Lưu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề kinh tế trong quá trình tiêu thụ tôm củacác hộ nông dân với chủ thể là các thành viên tham gia trong chuỗi tiêu thụ tôm trênđịa bàn huyện Quỳnh Lưu
Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu chuỗi cung sản phẩm tôm
từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng
- Về không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tình hình tiêu thụ tôm trên địabàn huyện Quỳnh Lưu
- Về thời gian nghiên cứu: - Các thông tin số liệu thứ cấp lấy từ năm 2005-2011
- Thông tin sơ cấp về tình hình nuôi tôm năm 2011
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, đây là phương pháp chung
sử dụng xuyên suốt đề tài
- Phương pháp thống kê: Phương pháp thống kê được sử dụng để phân tích các
số liệu liên quan đến đề tài
- Phương pháp sơ đồ: Sử dụng phương pháp này để mô tả các kênh tiêu thụ tôm
từ hộ nông dân đến người tiêu dùng cuối cùng
- Phương pháp thu thập số liệu:
+ Số liệu sơ cấp: Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, tôi sẽ tiến hành phóngvấn 60 hộ nông dân ở các xã: Xã Quỳnh Bảng, Xã Quỳnh Thanh, Công ty cổ phầnNTTS Trịnh Môn, Xã Mai Hùng Cơ cấu mẫu như sau: Xã Quỳnh Bảng 20 hộ, Công
ty cổ phần NTTS Trịnh Môn 20 hộ, Xã Quỳnh Thanh 10 hộ, Xã Mai Hùng 10 hộ
Bên cạnh đó tôi còn phỏng vấn 15 người bán buôn nhỏ và bán buôn lớn
+ Số liệu thứ cấp được thu thập từ Chi cục nuôi trồng thủy sản tỉnh Nghệ An,UBND huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An, Phòng NN&PTNT huyện Quỳnh Lưu,Internet, sách báo…
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13PHẦN II - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Những vấn đề về nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản nói chung và tôm nói riêng 1.1.1 Khái niệm về nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản
a Nuôi trồng thủy sản
Theo FAO “ Nuôi trồng thủy sản là canh tác thủy sinh vật bao gồm cá, nhuyễn thể,giáp xác và thủy sinh vật Canh tác có nghĩa là một dạng tác động và quá trình ương nuôi đểnâng cao năng suất như thả giống thường xuyên, cho ăn, ngăn chặn dịch hại…”
b Tiêu thụ thủy sản
Tiêu thụ là tất cả các hoạt động liên quan đến sự lưu chuyển của hàng hóa vàdịch vụ từ người cung cấp đến tay người tiêu dùng cuối cùng để thỏa mãn nhu cầungười tiêu dùng thông qua trao đổi hàng hóa và dịch vụ trên thị trường
Thực chất của tiêu thụ sản phẩm là quá trình người sản xuất sử dụng các trunggian hoặc trực tiếp giao quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng cuốicùng, đồng thời tạo doanh thu thông qua việc thu tiền hoặc nhận quyền thu hàng hóa,dịch vụ đã bán
Tiêu thụ sản phẩm thủy sản được thể hiện trên kênh lưu thông qua nhiều cấp vànhiều khâu khác nhau Tùy theo trình độ phát triển của mỗi nền sản xuất, lưu thônghàng hóa và tính chất của từng loại sản phẩm mà kênh tiêu thụ có thể ngắn hoặc dài,trực tiếp hoặc gián tiếp Nghĩa là sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuốicùng có thể trực tiếp thông qua khâu trung gian hoặc gián tiếp phải trải qua nhiều khâutrung gian Sản phẩm thủy sản trực tiếp đến tay người tiêu dùng dưới hình thức bán lẻ
ở ngay tại các ngư trại nuôi trồng thủy sản, hoặc có thể các làng cá trên bờ biển, hoặc
có thể bán lẻ tại các chợ nông thôn, thành phố Sản phẩm thủy sản lưu thông tới tayngười tiêu dùng có thể trải qua nhiều khâu trung gian như: thương mại thu gom sảnphẩm, chế biến, người bán buôn, người bán lẻ, người tiêu dùng…
1.1.2 Đặc điểm trong sản xuất và kinh doanh thủy sản nói chung
Nuôi trồng thủy sản là một bộ phận của ngành thủy sản có những đặc điểm cơbản của nông nghiệp nên sản xuất kinh doanh thủy sản nuôi trồng có những đặc điểmcủa sản xuất nông nghiệp nói chung Tuy nhiên, do đặc thù của đối tượng lao động nênbiểu hiện của những đặc điểm trong nuôi trồng thủy sản lại có những nét riêng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14Đối tượng sản xuất là các sinh vật sống trong nước
Các loại động thực vật sống trong môi trường nước mặt là đối tượng của ngànhthủy sản Môi trường nước mặt cho sản xuất thủy sản gồm có biển và các mặt nước nộiđịa Những sinh vật sống trong môi trường nước, với đặc tính là đối tượng lao độngcủa ngành thủy sản nên có một số đặc điểm đáng lưu ý sau:
- Về trữ lượng khó xác định một cách chính xác trữ lượng thủy sản có trong một
ao hồ hay ngư trường Đặc biệt ở các vùng mặt nước rộng lớn, các sinh vật có thể di chuyển
tự do trong ngư trường hoặc di chuyển từ vùng này đến vùng khác không phụ thuộc vàoranh giới hành chính Hướng di chuyển của các luồng tôm cá chịu tác động của nhiều yếu tốnhư thời tiết khí hậu, dòng chảy và đặc biệt là nguồn thức ăn tự nhiên
- Các loại sinh vật trong nước sinh trưởng và phát triển chịu sự tác động của điềukiện thời tiết, khí hậu, dòng chảy, địa hình, thủy văn… Trong nuôi trồng thủy sản, cầntạo điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển cao của các loài thủy sản như: tạodòng chảy bằng máy bơm, tạo oxi bằng quạt sục nước
- Các sản phẩm thủy sản đánh bắt đều rất dễ ươn thối, hư hỏng vì chúng đều lànhững sản phẩm sinh vật đã bị tách ra khỏi môi trường sống Để tránh tổn thất trongsản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ giữa các khâu từkhai thác, nuôi trồng đến chế biến và kinh doanh tiêu thụ sản phẩm, từ khai thác đếnđầu tư tái tạo nguồn lợi, đầu tư cơ sở hạ tầng dịch vụ một cách đồng bộ
- Cần có những nghiên cứu cơ bản để nắm vững quy luật sinh trưởng và pháttriển của từng giống, loài thủy sản như quy luật sinh sản, sinh trưởng, di cư, quy luậtcạnh tranh quân đoàn, các tập tính ăn và tự vệ… Trên cơ sở đó khai thác thực hiện cácbiện pháp nuôi trồng, khai thác phù hợp với yêu cầu nâng cao hiệu quả kinh tế, bảo vệ
và phát triển nguồn lợi, bảo đảm phát triển bền vững của ngành
Thủy vực là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thể được
Các loại mặt nước bao gồm: sông, hồ, ao, mặt nước ruộng, cửa sông, biển… gọichung là thủy vực được sử dụng vào nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Tương tự nhưruộng đất sử dụng vào nông nghiệp, thủy vực là tư liệu sản xuất đặc biệt, chủ yếukhông thể thay thế được của ngành thủy sản Không có thủy vực thì không có sản xuấtthủy sản Do vậy, để sử dụng có hiệu quả và bảo vệ thủy vực trong ngành thủy sản cầnchú ý những vấn đề sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15- Thực hiện quy hoạch các loại hình thủy vực và xác định hướng sử dụng thủyvực cho ngành thủy sản Trong quy hoạch cần chú ý những thủy vực có mục đích sửdụng chính vào nuôi trồng thủy sản cần kết hợp các hướng kinh doanh khác, cònnhững thủy vực được quy hoạch sử dụng cho mục đích phát triển giao thông, thủyđiện… là chính thì cần kết hợp hợp lý với việc phát triển thủy sản để nâng cao hiệuquả sử dụng thủy vực.
- Chú trong việc bảo vệ môi trường nước, kể cả nước biển Thực hiện những biệnpháp hữu hiệu để ngăn chặn mọi nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước Mặtkhác, phải thường xuyên cải tạo thủy vực, tăng nguồn dinh dưỡng cho các thủy sinhvật nhằm nâng cao năng suất sinh học của thủy vực
- Sử dụng thủy vực một cách tiết kiệm, đặc biệt cần hạn chế chuyển đổi mục đích
sử dụng thủy vực là các ao, hồ… sang đất sử dụng cơ bản hay mục đích khác
Ngành thủy sản là ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp và tính liên ngành cao
Cơ cấu sản xuất ngành thủy sản (hay còn gọi là cơ cấu ngành) là tập hợp các bộphận những hoạt động sản xuất thủy sản tương tự nhau và mối quan hệ tương tác giữacác bộ phận đó hợp thành hệ thống sản xuất kinh doanh thủy sản Cơ cấu ngành thủysản được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, phâncông lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất, hình thành nên hai bộ phận sảnxuất chủ yếu là nuôi trồng thủy sản và công nghiệp thủy sản với những chức năngkhác nhau:
- Nuôi trồng thủy sản: bộ phận sản xuất có tính chất nông nghiệp, thường đượcgọi là ngành nuôi trồng thủy sản, có chức năng duy trì, bổ sung tái tạo và phát triểnnguồn lợi thủy sản để cung cấp sản phẩm trực tiếp tiêu dùng, xuất khẩu và nguyên liệucho công nghiệp chế biến và các ngành khác
- Công nghiệp thủy sản: bộ phận sản xuất có tính chất công nghiệp bao gồm khaithác và chế biến thủy sản Những hoạt động này có nhiệm vụ khai thác nguồn lợi thủysản và chế biến chúng thành các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội vàxuất khẩu
- Ngoài ra để phục vụ sản xuất kinh doanh còn có các hoạt động sản xuất phụ trợ
và phục vụ khác nhau như: đóng mới sửa chữa tàu thuyền, sản xuất nước đá, sản xuất
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16ngư cụ… Tất cả các hoạt động sản xuất phụ trợ và phục vụ nói trên cùng với nuôitrồng và công nghiệp thủy sản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành cơ cấungành thủy sản.
Sản xuất kinh doanh thủy sản đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn, độ rủi ro cao
Hầu hết các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy sản đều đòi hỏi đầu tưban đầu tương đối lớn Trong hoạt động nuôi trồng, nếu không kể những hoạt độngnuôi cá trong hồ có sẵn, nuôi cá ruộng, nuôi lồng ở sông suối thì hầu hết các hoạt đôngnuôi thủy sản đều cần vốn lớn như: đầu tư cải tạo đầm nuôi thủy sản ở ven biển, cửasông… Trong hoạt động đánh bắt, nhất là đánh bắt xa bờ đòi hỏi vốn đầu tư đóng mớitàu thuyền lên tới hàng tỷ đồng Nhu cầu đầu tư vốn ban đầu tương đối lớn cho pháttriển các hoạt động kinh tế như trên là vượt qua khả năng tự tích lũy và đầu tư củatừng chủ thể kinh tế trong ngành thủy sản, đặc biệt là khả năng tích lũy của các hộ Dovậy, để phát triển thủy sản, nhà nước phải xây dựng và thực hiện chính sách cho vayvốn theo các chương trình phát triển riêng của ngành này như: Cho vay trong chươngtrình khai thác xa bờ, tín dụng đầu tư xây dựng các cơ sở hậu cần dịch vụ nghề cá theoquy hoạch…
Sản xuất nuôi trồng và đánh bắt thủy sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiênnhất là điều kiện thủy văn, bão lũ Đối với những nước như nước ta có bờ biển dài,diễn biến bão phức tạp, nhiều trận bão lũ lớn đã gây thiệt hại cho ngành nuôi trồng thủysản của cả một vùng hay một địa phương Trong nhiều trường hợp, thiên tai có thể gâythiệt hại đến tính mạng của ngư dân, nhất là ngư dân làm nghề đánh bắt ngoài khơi Đểhạn chế tối đa những hậu quả có thể xảy ra do thiên tai và khắc phục hậu quả do thiên tainhằm nhanh chóng phục hồi sản xuất, cần chú ý những vấn đề chủ yếu sau:
- Cần đầu tư các phương tiện thực hiện dự báo khí tượng thủy văn phát hiện vàcảnh báo sớm các thiên tai như bão biến, lũ lụt… cho ngư dân Xây dựng các vùngtránh bão cho tàu thuyền đánh cá, xây dựng lực lượng cứu hộ, cứu nạn chuyên nghiệp
để bảo vệ tài sản và tính mạng của ngư dân
- Ban hành và thực thi những chính sách ưu đãi cho các vùng, các hoạt động kinhdoanh nuôi trồng, khai thác hay chế biến của các chủ thể kinh doanh để khắc phục rủi
ro hay thiên tai nhằm nhanh chóng ổn định đời sống và phát triển sản xuất
- Cần từng bước nghiên cứu xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm đối vớicác hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành thủy sản
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17Ngoài những đặc điểm chung như trên, ngành thủy sản Việt Nam còn có nhữngđặc điểm đáng lưu ý sau đây:
- Thủy vực và nguồn lợi thủy sản Việt Nam đa dạng và khá phong phú Đối vớinước ta nếu không kể tiềm năng mặt nước và nguồn lợi thủy sản nội địa, ta còn có tiềmnăng về biển cho phát triển thủy sản Biển Đông của Việt Nam có diện tích 3447 nghìn
Km2, độ sâu trung bình 1140m, bờ biển dài trên 3260 Km, khá dồi dào về nguồn lợisinh vật biển Nguồn lợi sinh vật biển có khoảng 11000 loài động vật và thực vật biển,trong đó: động vật nổi có 468 loài, động vật đáy có 6377 loài, cá biển có hơn 2000 loàithuộc 717 giống, 178 họ, tôm biển có 225 loài…[7] Ngoài ra còn nhiều loại động thựcvật biển phong phú và có giá trị như: chim biển, thú biển, thực vật nổi và thực vật ngậpmặn… Với tiềm năng mặt nước lớn và nguồn lợi thủy sản phong phú, Việt Nam hoàntoàn có thể và cần thiết phải phát triển ngành thủy sản thành một ngành kinh tế mũinhọn của khu vực nông, lâm, thủy sản trên cơ sở những thuận lợi chủ yếu là:
Chủng loại thủy sản nuôi trồng khá phong phú với nhiều giống loài từ nhiệt đớiđến ôn đới như cá rô phi, cá trê phi, cá chim trắng, tôm thẻ chân trắng, bống tượng,trắm cỏ, chép lai…
Khả năng nuôi trồng và khai thác thủy sản diễn ra quanh năm, trong khi các nước
xứ lạnh chỉ có thể nuôi trồng, khai thác một vụ với quy mô lớn ngoài trời
Giống loài động thực vật trong nước đa dạng, đặc biệt có nhiều loài có giá trịkinh tế và xuất khẩu cao
Tuy nhiên do điều kiện địa hình và thủy văn phức tạp, lại nằm trong vùng cónhiều mưa, bão, lũ, rét và hay bị hạn hán vào mùa đông gây ra những khó khăn, thậmchí những tổn thất trong phát triển nuôi trồng và khai thác thủy sản
- Ngành thủy sản Việt Nam hiện nay đang ở trình độ thấp, có mặt còn lạc hậu, đangtrong quá trình đổi mới để phát triển và hội nhập Do vậy cần chú ý những vấn đề sau:
Xây dựng và thực hiện việc quy hoạch phát triển ngành thủy sản theo hướng tăngtrưởng ổn định và bền vững đối với tất cả các khâu từ nuôi trồng, khai thác, đến chếbiến và tiêu thụ, kể cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu
Từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho ngành thủy sản, tậptrung vào việc xây dựng các vùng nuôi đủ tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật, đầu tư cho chếbiến và các cơ sở hạ tầng phục vụ khác
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18Nhanh chóng áp dụng các thành tựu về khoa học và quản lý trong phát triểnngành Tăng cường năng lực hoạt động của mạng lưới khuyến ngư từ Trung Ương đếnđịa phương để hỗ trợ kỹ thuật và kiến thức cho người sản xuất.
Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ đồng bộ để đáp ứng yêu cầu phát triển ngànhthủy sản
1.1.3 Đặc điểm của sản xuất và tiêu thụ tôm
Cũng giống như các loài thủy sản khác, sản phẩm tôm cũng là một sản phẩmhàng hóa vì vậy tiêu thụ tôm cũng mang những đăc điểm của tiêu thụ thủy sản
Giá cả dễ biến động nhanh
Giá cả của sản phẩm thủy sản có thể thay đổi đáng kể và đột ngột trong vòng mộtngày hoặc một tuần Mức độ biến động giá do cung cầu điều phối kém hoặc do khôngthể bảo quản lâu mà phải bán ngay Do đó, giá của sản phẩm thủy sản có xu hướnggiảm vào cuối ngày hoặc khi có một lượng thủy sản lớn đột ngột xâm nhập làm cungvượt quá nhu cầu của thị trường
Tính thời vụ
Là sản phẩm của ngành sản xuất nông nghiệp đều có đặc điểm chung là tính thời
vụ Sản phẩm thủy sản cũng vậy, nguồn cung của sản phẩm thủy sản thường tập trungvào vụ thu hoạch Đối với tôm thẻ chân trắng vụ thu hoạch từ tháng 7 đến tháng 10 rộnhất là vào tháng 9 Giá tôm vào vụ thu hoạch thường thấp do thừa cung nhưng sau đólại tăng lên cho đến vụ thu hoạch sau
Giao động mạnh về giá giữa các năm
Giá sản phẩm thủy sản thường giao động mạnh giữa các năm bởi những lý dosau Điều kiện tự nhiên như thời tiết, dịch bệnh là nguyên nhân chủ yếu gây ra giaođộng giá do tác động của nó tới cung Ví dụ, nếu thời tiết bất lợi sẽ làm cho sản phẩmtôm bị bệnh chết hàng loạt dẫn đến giá tăng Ngược lại, nếu thời tiết thuận lợi tômkhông mắc bệnh như vậy sản lượng tăng dẫn đến lượng tôm trên thi trường nhiều, giá
có xu hướng giảm Sản phẩm tôm cũng tuân theo quy luật của sản phẩm nông nghiệpkhác là mất mùa giá tăng, được mùa giá giảm
Phản ứng của nông dân đối với những hiện tượng trên càng làm giá cả biến độngmạnh hơn Khi giá của sản phẩm tôm tăng lên nông dân lại đua nhau đi nuôi tôm bằngviệc mở rộng diên tích nuôi và thâm canh sản xuất trong những vụ tiếp theo làm cho
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19lượng cung vượt quá cầu và dẫn tới giá giảm trong vụ thu hoach sau Khi giá giảm họlại cùng nhau giảm sản xuất khi đó giá sản phẩm của vụ thu hoạch đó lại tăng lên.
về tài chính đối với nông dân và thương nhân
Chi phí giao dịch và chi phí tiếp thị cao
Chênh lệch giá giữa người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng thường rấtcao Nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch này là do:
- Quy mô nuôi trồng thủy sản của các hộ nông dân còn rất nhỏ, lại nằm ở cácvùng sâu, vùng xa Vì thế, làm chi phí thu gom, chi phí vận chuyển do các thươngnhân phải đi đến tận nơi để thu mua
- Sau khi thu gom về, các thương nhân phải phân loại, bảo quản, sơ chế hoặc tinhchế sản phẩm, đóng gói Công việc này cũng làm tăng chi phí
- Hao hụt hoặc giảm phẩm cấp sản phẩm do bị ươn, thối cũng là nguyên nhânlàm tăng chi phí
- Ngoài ra thương nhân còn phải trả thêm các khoản chi phí khác như: chi phíbảo quản cất giữ, chi phí lao động và lợi nhuận cho tất cả các hoạt động diễn ra trongkhâu trung gian này
Những khoản chi phí này sẽ làm cho giá trị sản phẩm tăng lên Trong phân tíchchuỗi cung, người ta gọi đó là quá trình tạo giá trị
Thiếu thông tin
Khả năng tiếp cận thông tin thị trường kém là một nguyên nhân quan trọng làmcho thi trường sản phẩm thủy sản không hiệu quả Nhìn chung, kiến thức và sự hiểubiết của nông dân về phương thức hoạt động của thị trường là hạn chế và thiếu thôngtin về cầu và giá cả Thiếu kiến thức làm hạn chế khả năng tiếp cận tới các thị trường
có cơ hội mang lại lợi nhuận cao hơn, hạn chế khả năng đáp ứng yêu cầu của người
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20mua và thương thuyết để đạt được một mức giá hợp lý Thương nhân và nhà chế biếncũng có thể không có khả năng tiếp cận các thông tin quan trọng về thị trường Vì vậy,không thể hoàn toàn điều chỉnh ngay được khi môi trường kinh doanh thay đổi Nóimột cách tổng quát, thiếu thông tin làm cho chi phí tiếp thị và rủi ro cao và dẫn tớiđiều phối cung cầu kém.
1.2 Lý thuyết cơ bản về phân tích chuỗi cung
1.2.1 Khái niệm chuỗi cung
Cạnh tranh là một cách thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào hiệnnay đòi hỏi các doanh nghiệp phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cungcấp cũng như khách hàng của nó
Có rất nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả cácdoanh nghiệp tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp trong việc đáp ứng nhu cầu củakhách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còncông ty vận tải, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng của nó
Chuỗi cung cấp là một mạng lưới gồm các tổ chức có liên quan, thông qua cácmối liên kết phía trên và phía dưới trong các quá trình và hoạt động khác nhau, sảnsinh ra giá trị dưới hình thức sản phẩm dịch vụ trong tay người tiêu dùng cuối cùng
Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở một hoặcnhiều nhà cung cấp, các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặc nhiều hơn, sau đóđược vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung gian và cuối cùng đến nhàbán lẻ và khách hàng Vì vậy, để giảm thiểu chi phí và cải tiến mức phục vụ, các chiếnlược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xét đến sự tương tác ở các cấp độ khác nhautrong chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng, cũng được xem như mạng lưới hậu cần, baogồm các nhà cung cấp, các trung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâm phân phối, cáccửa hàng bán lẻ, cũng như nguyên vật liệu, tồn kho trong quá trình sản xuất và sảnphẩm hoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở
Chuỗi cung tồn tại nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng về sản phẩm nào
đó Những nhu cầu này có thể bao gồm các thuộc tính khác nhau của sản phẩm nhưdạng sản phẩm, chất lượng, số lượng, tính liên tục và thời gian cung cấp cũng như giá
cả cho các điều kiện chi trả
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21Sơ đồ 1.1: Chuỗi cung và chuỗi cạnh tranh
Thời gian các chuỗi cung có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng baogồm thời gian cung đầu vào thông qua sản xuất, chế biến, phân phối tiếp thị và bán lẻ.Phía bên trái của biểu đồ giới thiệu 1 chuỗi cung mà thời gian từ khi cung cấp đầu vàocho đến khi các sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng, trong khi phía bên phải biểu
đồ thể hiện 1 chuỗi cung khác cũng đang cạnh tranh để giành được khách hàng cuốicùng Dấu chấm hỏi (?) nằm ở phía dưới người tiêu dùng cuối cùng thể hiện loại kháchhàng này sẵn lòng mua sản phẩm từ cả hai chuỗi trên và sẽ chọn lựa một chuỗi để muatrong khi các đường chấm (…) từ nhà sản xuất đến chuỗi cung cạnh tranh thể hiện nhàsản xuất này không chắc chắn sẽ cung cấp cho chuỗi nào hay chủ động tận dụng lợithế cạnh tranh của họ bằng cách cung cấp bất kỳ chuỗi nào mang lại lợi nhuận caonhất cho họ
Người tiêu dùng cuối cùng?
Nhà phân phối, quầy bán lẻ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22Sơ đồ 1.2: Quá trình và các luồng vận chuyển
Lưu kho phụ liệu đóng gói
Sản xuất
Lịch trình sản xuấtLưu kho sản phẩm dở dangĐóng gói thành phẩm hoàn thiện
Phân phối
Vận chuyển từ nơi sản xuất đến khoQuản lý tồn kho thành phẩm
Lưu kho thành phẩmGiao hàng tới khách hàng cuối cùng
Các giai đoạn điển hình của một chuỗi cung cấp: khách hàng, người bán lẻ, nhàphân phối, nhà sản xuất, nhà cung ứng Tuy nhiên, không nhất thiết tất cả các chuỗicung cấp phải bao gồm đầy đủ các giai đoạn này
Trong mỗi doanh nghiệp, chuỗi cung cấp bao trùm tất cả các chức năng có liênquan đến việc đáp ứng yêu cầu của khách hàng (phát triển sản phẩm, marketing, vậnhành, phân phối, tài chính, dịch vụ khách hàng) Khách hàng là một phần không thểthiếu của chuỗi cung cấp
Thông tin trao đổi lên xuống trong chuỗi Nó liên kết các nhà cung cấp và cáckhách hàng trung gian với cầu thi trường như dạng sản phẩm, số lượng, chất lượng yêucầu liên kết thi trường với các cung (số lượng và chất lượng có sẵn)
Một chuỗi cung bao gồm luồng sản phẩm dịch vụ từ nhà cung cấp tới nhà sảnxuất rồi tới nhà phân phối, nhưng cũng bao gồm luồng thông tin, tài chính và sản phẩmtheo cả hai hướng thuận và nghịch
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23Sơ đồ 1.3: Phân biệt luồng thông tin và vất chất Luồng thông
Luồng vật chất
- Dự báo
- Xử lý đơn đặt hàng
- Vận chuyển thành phẩm từ kho tới khách hàng
- Quản lý tồn kho thành phẩm
- Lưu kho tại trung tâm phân phối
- Vận chuyển từ nơi sản xuất đến kho
- Đóng gói
- Lập lịch trình sản xuất
- Lưu kho tại nơi sản xuất
- Quản lý chất lượng nguyên vật liệu
- Lưu kho nguyên vật liệu
- Vận chuyển nguyên vật liệu
- Quản lý kho nguyên vật liệu
- Đơn đặt hàng
1.2.2 Thành phần trong chuỗi cung
Thành phần tham gia trong chuỗi cung là những người tham gia vào quá trình xử
lý một sản phẩm kể từ khi sản phẩm đó rời nông trại đến khi tới tay người tiêu dùng
Họ là những người nối kết người sản xuất với người tiêu dùng Họ bao gồm:
Người thu gom nhỏ
Người thu gom nhỏ là những thương nhân nhỏ và rất cơ động Họ thường đếncác thôn bản mua hàng trực tiếp của các hộ nông dân sau đó bán lại cho các người bánbuôn hoặc người bán lẻ ngay tại địa bàn hoặc các vùng lân cận Họ kinh doanh nhiềuloại sản phẩm cùng một lúc và luôn hướng tới cơ hội mang lại lợi nhuận tốt nhất cho
họ Nguồn vốn của những người thu gom nhỏ thường hạn chế, khối lượng hàng hóabán trong cùng một thời điểm không nhiều và thường sử dụng những phương tiệnchuyên chở thô sơ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24Thương nhân đầu mối ( thu gom lớn)
Đôi khi những người này được gọi là bán buôn sơ cấp Họ thường mua hàng từngười nông dân và người thu gom nhỏ rồi bán cho người bán buôn thứ cấp Chức năngchính của họ là gom hàng để bán cho bán buôn lớn- những người bán buôn không cóthời gian thu gom từng lượng hàng nhỏ từ người sản xuất và thu gom đơn lẻ Tuynhiên, trong một số trường hợp, họ cũng có thể cung cấp hàng cho những người bán lẻtại địa phương Họ có thể sở hữu hoặc thuê xe ô tô vận chuyển và các kho chứa nhỏ
Người bán buôn
Người bán buôn thường bán một lượng hàng lớn hơn người thu gom và thươngnhân đầu mối và quan trọng hơn cả là họ thường bảo quản và cất trữ nông sản đã mua.Những thương nhân này chủ yếu cung cấp hàng cho các thi trường tập trung nhiều đầumối bán lẻ và người tiêu dùng Đôi khi họ mua hàng từ người nông dân và người thumua nhưng chủ yếu vẫn là thu gom từ các thương nhân đầu mối và những người bánbuôn khác Những người bán buôn thường bán hàng cho những người bán buôn khác
và người bán lẻ
Người bán lẻ
Nhà bán lẻ là người chuyên bán một số chủng loại sản phẩm hoặc dịch vụ nhấtđịnh cho người tiêu dùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân Bán lẻ nói chung làhoạt động kinh doanh bằng cách mua với số lượng lớn từ nhà sản xuất, hoặc nhà bán sỉrồi chia nhỏ và bán cho người tiêu dùng nhằm mục đích phục vụ nhu cầu cá nhân haygia đình
Trong chuỗi giá trị, người bán lẻ là mắt xích cuối cùng nối nhà sản xuất vớingười tiêu dùng Vai trò của nhà bán lẻ là cực kỳ quan trong bởi vì chính ngay tại điểmbán lẻ người tiêu dùng có cơ hội chọn mua sản phẩm thương hiệu mà mình ưa chuộng.Người bán lẻ là người am hiểu nhất nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời người bán
lẻ là người nắm bắt được sát thực nhất những thay đổi trong xu hướng tiêu dùng củakhách hàng
Trang 25doanh nghiệp lớn, chính thống Họ có thể sử dụng phương pháp truyền thống, tậptrung nhiều lao động hoặc sử dụng các thiết bị cỡ lớn, hiện đại.
Những cơ sở sản xuất lớn thường có những kho lớn chứa nguyên liệu thô nhằmđảm bảo hoạt động chế biến liên tục và tận dụng tối đa công suất trang thiết bị trongnhững kỳ trái vụ
1.2.3 Quá trình tạo giá trị
Trong khi bị chi phối bởi người tiêu dùng cuối cùng, những chuỗi cung được tạo
ra bởi nhiều khách hàng trung gian mà mỗi người phải đáp ứng các nhu cầu của ngườitiêu dùng ở phía bên trong chuỗi Khi làm điều này họ sẽ tạo ra giá trị cho người tiêudùng của mình và đổi lại họ cũng muốn các nhà cung cấp đầu vào cũng phải tạo ra giátrị cho họ
Sơ đồ 1.4: Quá trình tạo giá trị trong chuỗi cung
Quá trình tạo giá trị diễn ra trong toàn chuỗi với mục đích đáp ứng nhu cầu củangười tiêu dùng cuối cùng Quá trình này được miêu tả như hình trên khi nhu cầu củangười tiêu dùng cuối cùng chuyển xuống chuỗi thông qua nhiều khách hàng trung giankhác nhau Mỗi khách hàng trung gian này với vai trò là người cung cấp đầu vào phải
Người tiêu dùngcuối cùng
Nhu cầu của ngườitiêu dùng
Khách hàng trunggian và các nhàcung cấp
Khách hàng trunggian và các nhàcung cấp
Trang 26đáp ứng các nhu cầu bằng cách tạo ra giá trị chuyển lên hướng phía trên được thể hiệnbằng các mũi tên đậm chĩa lên trên ở dạng các thuộc tính của sản phẩm được cải thiện.Trong chuỗi giá trị, các bên tham gia chính là các tác nhân hoạt động trên mọicấp độ của chuỗi, bao gồm những người cung cấp đầu vào cụ thể, người sản xuất,người thu gom, các công ty gia công chế biến, các đại lý vận tải, người phân phối, tiêuthụ, và đại diện của các đơn vị hỗ trợ, các trường, viện… những người đóng vai tròthúc đẩy chuỗi.
Cách thức mà giá trị được tạo ra cho mỗi doanh nghiệp trong chuỗi cung đượcthể hiện chi tiết hơn trong hình sau
Sơ đồ 1.5: Mô hình tạo ra giá trị của mỗi doanh nghiệp
Doanh nghiệp trong hình trên có thể hoạt động tại bất kỳ vị trí nào trong chuỗiđầu vào, sản xuất, chế biến, phân phối hay bán lẻ
Ở bất kỳ vị trí nào trong chuỗi, các nguyên tắc tạo giá trị vẫn tương tự nhau.Trước tiên doanh nghiệp phải có một hệ thống nguồn lực có thể sử dụng để tạo ra giátrị Các nguồn lực này có thể là vật chất hay tự nhiên, vốn và nhân lực Khả năng tậndụng tối đa các nguồn này của doanh nghiệp tùy thuộc vào khả năng cải tiến củadoanh nghiệp đó
Các nguồn lực của doanh nghiệp
Các hoạt động của nhà máy
Liên kết khách hàng
- Mua đầu vào
- Hậu cần đầuvào
- Bảo dưỡng sảnphẩm (đảm bảochất lượng)
- Chế biến sảnphẩm
- Củng cố sảnphẩm (lau chùi,phân loại)
- Các quầy bánsản phẩm
- Hậu cần đầura
- Bảo dưỡngsản phẩm
Lợi nhuận của doanh nghiệp
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27Doanh nghiệp sử dụng các nguồn tài nguyên và khả năng sáng tạo của mình đểtạo ra giá trị cho các khách hàng trung gian bằng cách làm như vậy sẽ tạo ra lợi nhuận.Giá trị được tạo ra chủ yếu thông qua các hoạt động của doanh nghiệp nhưng giá trị cóthể nâng cao bằng các liên kết với khách hàng và các nhà cung cấp đầu vào Doanhnghiệp tạo ra giá trị thông qua chế biến sản phẩm hay nâng cao hoàn thiện sản phẩm.Các mối liên kết với khách hàng cũng liên quan đến tiêu thụ sản phẩm và công tác hậucần đầu ra Việc bảo trì sản phẩm cuối cùng để đảm bảo chất lượng cũng liên hệ vớicông tác hậu cần đầu ra.
1.2.4 Các chức năng của chuỗi
Tất cả các sản phẩm đến tay người tiêu dùng thông qua một vài hình thức củachuỗi cung ứng, có một số lớn hơn và một số thì phức tạp hơn rất nhiều Với ý tưởngchuỗi cung ứng này, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng chỉ có một số nguồn tạo ra lợinhuận duy nhất cho toàn chuỗi đó là khách hàng cuối cùng Khi các doanh nghiệpriêng rẽ trong chuỗi cung ứng ra các quyết định kinh doanh mà không quan tâm đếncác thành viên khác trong chuỗi, điều này dẫn đến giá bán cho khách hàng cuối cùng làrất cao, mức phục vụ chuỗi cung ứng thấp và điều này làm cho nhu cầu khách hàngtiêu dùng cuối cùng trở nên thấp
Có rất nhiều doanh nghiệp khác liên quan một cách gián tiếp đến hầu hết cácchuỗi cung ứng và họ đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối sản phẩm cuốicùng cho khách hàng Họ chính là nhà cung cấp dịch vụ, chẳng hạn như các công tyvận tải đường không và đường bộ, các nhà cung cấp hệ thống thông tin , các công tykinh doanh kho bãi, các hãng môi giới vận tải, các đại lý và các nhà tư vấn Các doanhnghiệp cung cấp dịch vụ đầu vào này đặc biệt hữu ích đối với các doanh nghiệp trong
đa số chuỗi cung ứng, vì họ có thể mua sản phẩm ở nơi họ cần, cho phép người mua vàngười bán giao tiếp một cách hiệu quả, cho phép doanh nghiệp phục vụ các thị trường
xa xôi, giúp các doanh nghiệp tiết kiệm tiền trong vận tải nội địa và quốc tế và nóichung cho phép doanh nghiệp phục vụ tốt khách hàng với chi phí thấp nhất có thể
Việc thiết kế và quản trị các luồng trong chuỗi cung cấp (luồng sản phẩm, thôngtin và tiền) có mối quan hệ chặt chẽ với thành công của chuỗi cung cấp
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28Các quyết định của chuỗi cung cấp đóng vai trò quan trọng trong thành công haythất bại của một doanh nghiệp.
Các chuỗi cung có một số chức năng hỗ trợ quá trình tạo giá trị Đó là:
- Công tác hậu cần và việc bảo quản sản phẩm
- Quản lý thông tin
- Thống nhất các tiến trình thông qua việc quản lý các mối quan hệ
Các chuỗi cung ứng có chức năng hậu cần trong đó sản phẩm được chuyển từmột điểm ở chuỗi này sang điểm kế tiếp có hiệu quả về thời gian và chi phí, trong khivẫn bảo đảm duy trì được chất lượng sản phẩm trong quá trình đóng gói, vận chuyển
và làm lạnh
Các chuỗi cung cũng có chức năng điều phối các quy trình hoạt động trongchuỗi Và việc này có thể được thực hiện theo 2 cách: Cách thứ nhất là khi người dẫnđầu chuỗi thực hiện nhiều quy trình, ví dụ: như sản xuất, chế biến và phân phối đồngthời cũng duy trì được quyền làm chủ sản phẩm Cách này là hợp nhất theo chiều dọc.Theo cách thứ 2 cách tiến trình dọc chuỗi được điều phối thông qua việc quản lý cácquan hệ của nhiều bộ phận khi sản phẩm được chuyển xuống dưới chuỗi
1.3 Tình hình nuôi trồng thủy sản của Việt Nam nói chung và của tỉnh Nghệ
An nói riêng.
1.3.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản của Việt Nam
Với đường bờ biển dài hơn 3.200 km, Việt Nam có vùng đặc quyền kinh tế trênbiển rộng hơn 1 triệu Km2 Việt Nam cũng có vùng mặt nước nội địa lớn rộng hơn 1,4triệu ha nhờ hệ thống sông ngòi, đầm phá dày đặc Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiênthuận lợi giúp Việt Nam có nhiều thế mạnh nổi trội để phát triển ngành công nghiệpthủy sản Từ lâu Việt Nam đã trở thành quốc gia sản xuất và xuất khẩu thủy sản hàngđầu khu vực, cùng với Indonesia và Thái Lan Chính những thuận lợi như vậy màtrong những năm qua Việt Nam đang từng bước đẩy mạnh phát triển ngành NTTS đểgóp phần tăng trưởng nền kinh tế và cải thiện đời sống của người dân
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29Bảng 1.1: Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản
Diện tích nước ngọt 291,6 293,5 307,4 338,8 340,2 337,5
Nuôi cá 281,7 283,8 294,6 326,0 327,6 324,5Nuôi tôm 4,9 4,6 5,4 6,9 6,6 7,0
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30Bảng 1.2: Sản lượng thủy sản nuôi trồng phân theo loài thủy sản
Năm 2011 là năm rất thuận lợi cho ngành nuôi trồng thủy sản, được mùa và đượcgiá, ước sản lượng nuôi trồng thuỷ sản cả năm đạt 2930 ngàn tấn, tăng 7,4% cùng kỳnăm 2010, trong đó tháng 12/2011 ước đạt 271 ngàn tấn Tính cả năm, cá tra ước đạtsản lượng 1136,3 nghìn tấn (diện tích: 5571,6 ha); Tôm nuôi nước lợ ước đạt 435nghìn tấn (diện tích: 658000 ha); Tôm càng xanh đạt 13nghìn tấn (diện tích: 8500 ha);nhuyễn thể đạt 180 nghìn tấn (diện tích: 30000 ha); cá nước ngọt ước đạt trên 800nghìn tấn (diện tích: 380000 ha) [9]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31Bảng 1.3: Giá trị sản xuất thuỷ sản theo giá thực tế phân theo ngành hoạt động
1.3.2 Tình hình nuôi trồng thủy sản của tỉnh Nghệ An
Kết quả sản xuất năm 2011
- Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản năm 2011 ước đạt 40500 tấn Trong đó: Sảnlượng nuôi ngọt ước đạt: 31000 tấn; Sản lượng nuôi mặn lợ ước đạt: 9500 tấn [2]
- Diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm 2011 ước đạt: 22500 ha Trong đó: Diện tíchnuôi cá nước ngọt ước đạt : 20500 ha; Diện tích nuôi mặn lợ ước đạt: 2000 ha [2]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32- Sản xuất giống: Sản xuất cá bột năm 2011 ước đạt 500 triệu con; Giống cá Rôphi ước đạt 20 triệu con; Sản xuất, kinh doanh tôm giống ước đạt 910 triệu con (sốlượng giống tôm sú 170 triệu con, tôm thẻ chân trắng 740 triệu con) [2].
- Tình hình nuôi tôm
Năm 2011 đối tượng nuôi có sự chuyển đổi từ tôm sú sang tôm thẻ chân trắngmột cách rõ rệt Trên địa bàn toàn tỉnh diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng chiếm đến92,4% còn tôm sú chiếm 7,6% Có nhiều vùng nuôi hiện nay chuyển sang nuôi 100%
là tôm thẻ chân trắng như: xã Nghi Thái, Diễn Trung, Công ty Trịnh Môn, Mai Hùng,Nghi Quang…
Năng suất tôm thẻ chân trắng nuôi TC&BTC bình quân toàn tỉnh đạt 6 tấn/ha.Tuy nhiên năng suất nuôi có sự khác nhau giữa các vùng, nhiều vùng nuôi đạt năngsuất cao 10-15 tấn/ha Sản lượng đạt:8.300 tấn
Tồn tại và nguyên nhân
+ Tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi vẫn thường xuyên xảy ra
+ Công tác cải tạo ao đầm trước, sau vụ nuôi và xử lý môi trường của người dânchưa thực hiện tốt nên mầm bệnh vẫn đang tồn dư trong và ngoài ao nuôi (các sinh vật
là ký chủ trung gian, sinh vật mang mầm bệnh ) từ năm này sang năm khác Theo kếtquả mẫu quan trắc môi trường hàng năm thì tần suất bắt gặp bị nhiễm virus đốm trắngtại các vùng nuôi này là khá lớn
+ Cơ sở hạ tầng: Nhiều vùng nuôi không sử dụng ao chứa lắng, xử lý nước trướckhi lấy vào ao nuôi; người dân tự ý hút chất thải trong ao nuôi tôm thải ra môi trườngbên ngoài làm nguy cơ lây lan dịch bệnh ngày càng cao
+ Ý thức người nuôi nhiều hộ nuôi chưa tuân thủ trong công tác dập dịch như khiphát hiện tôm bị bệnh chưa đạt kích cỡ thương phẩm vẫn tiến hành thu hoạch, mặtkhác thiết bị vận chuyển không đảm bảo gây rò rỉ nước rơi vãi ra ngoài môi trườngtrong quá trình vận chuyển Đồng thời việc khử trùng tiêu độc trước và sau khi ravùng dịch chưa thực hiện nghiêm túc Đây là một trong những nguyên nhân lây lanbệnh trên vùng nuôi
+ Thời tiết diễn biến bất thường, nắng nóng kéo dài, xuất hiện nhiều cơn mưa tráimùa làm môi trường ao nuôi biến động lớn, gây phát sinh bệnh
+ Tôm giống đạt chất lượng tốt chưa đáp ứng đủ nhu cầu người nuôi
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 331.4 Kinh nghiệm tiêu thụ thủy sản nuôi trồng trên thế giới và tình hình xuất khẩu thủy sản củaViệt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm của thế giới
Kinh nghiệm tiêu thụ thủy sản của các nước trên thế giới cho thấy, họ lấy mục tiêusản xuất thủy sản phục vụ nhu cầu trong nước là chủ yếu, thứ đến mới là xuất khẩu Nếusản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu thì phải nhập khẩu các sản phẩm thủy sản
Trung Quốc với 1,34 tỷ người năm 2011, mặc dù đang là nước xuất khẩu thủysản nhất nhì thế giới, nhưng họ luôn luôn đặt mục tiêu chính cho phát triển nghề cá làđáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu thụ cho nhân dân Họ luôn đặt trọng tâm vào pháttriển thị trường thủy sản trong nước là chính Glitnir dự báo nhu cầu thủy sản ở TrungQuốc sẽ tăng mạnh trong những năm tới Năm 2010, tiêu thụ thủy sản bình quân đầungười của Trung Quốc là 25 kg dự kiến sẽ đạt 36 kg vào năm 2020 Đây là thành tích
to lớn của Trung Quốc và được đánh giá là đóng góp quan trọng trong việc bảo đảm anninh lương thực không chỉ cho Trung Quốc mà còn cho Thế giới Về thương mại, năm
2011 giá trị xuất khẩu thủy sản của Trung Quốc dự kiến đạt 21,7 tỷ USD, so với mức17,2 tỷ USD trong năm 2010 Thặng dư thương mại đạt 10,2 tỷ USD.Theo Bộ Nôngnghiệp Mỹ, sản lượng thủy sản của Trung Quốc dự kiến đạt tổng 55,3 triệu tấn năm
2012, tăng 1% so với năm 2011 [5]
Malaixia, tuy là quốc gia đạo hồi nhưng nhu cầu của nhân dân về thủy sản lại rấtcao Nhu cầu tiêu thụ thủy hải sản ở Malaixia ngày một tăng nhanh và đạt mức 60kg/người/năm năm 2010 Đây là chỉ tiêu cao nhất trong khu vực Đông Nam Á Malaixiađặt mục tiêu nghề cá là phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước Với số dân là 24,82 triệungười năm 2007, tổng sản lượng thủy sản là 1,7 triệu tấn/năm nhưng họ vẫn phải nhậpkhẩu hàng năm từ 350-400 tấn thủy sản để phục vụ nhu cầu trong nước [5]
Thái Lan là nước xuất khẩu thủy sản số một thế giới, nhưng họ rất coi trọng pháttriển thị trường thủy sản trong nước để đáp ứng nhu cầu cao của nhân dân Trong năm
2000 thị trường nội địa Thái Lan tiêu thụ hơn 2 triệu tấn thủy sản và đạt chỉ tiêu32,4kg thủy sản/người năm 2000 [5]
Inđônêxia với dân số tới 200 triệu người, cũng đạt chỉ tiêu cao là 18kg thủy sản/người năm 2000 Riêng thị trường trong nước của Inđônêxia đã tiêu thụ 3,7 triệu tấnthủy sản năm 2000 [5]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34Xingapo chỉ với số dân 3,4 triệu người, nhưng lại có nền thương mại thủy sản rấtphát triển Mặc dù không tự sản xuất được thủy sản ( tổng sản lượng rất nhỏ bé- 13nghìn tấn/năm), đã phải nhập khẩu 270 nghìn tấn thủy sản và xuất khẩu 110 nghìn tấn,thị trường trong nước tiêu thụ 110 nghìn tấn thủy sản và có mức tiêu thụ bình quân là32,5 kg thủy sản/người năm 2000 [5].
Philippin cũng đặt mục tiêu chính của nghề cá là phục vụ nhu cầu trong nước.Với dân số gần 70 triệu người, thị trường trong nước tiêu thụ 2,2 triệu tấn thủy sản vàđạt chỉ tiêu 31 kg thủy sản/người năm 2000 [5]
Bên cạnh tiêu thụ ở thị trường trong nước, các nước đã có những chiến lược choviệc xuất khẩu thủy sản Các chiến lược chủ yếu mà các nước sử dụng là:
- Một là phải ổn định nguồn cung cấp để duy trì và phát triển khả năng đáp ứngnhu cầu thị trường
- Hai là, kiểm soát chặt chẽ chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, coi đây làyếu tố có tính sống còn để thâm nhập thị trường thế giới
- Ba là năng động trong phát triển thị trường
- Bốn là, hợp tác liên kết đầu tư với nước ngoài tại cơ sở để mở rộng khả năngxuất khẩu
- Năm là, chính phủ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đẩy mạnh xuất khẩusang các thị trường
- Sáu là, xây dựng hệ thống chợ thủy sản buôn bán giúp giảm được chi phí tìmkiếm thông tin hàng hóa, giảm chi phí vận tải hàng hóa bảo đảm lợi ích cho cả ngườimua và người bán
1.4.2 Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
Đây là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực, đóng góp khoảng 4% GDP củanền kinh tế Giai đoạn 2000-2008, ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh, bình quân đạt15%/năm Giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam bị chững lại trong năm 2009, tăngtrưởng âm 6% chủ yếu do sự sụt giảm ở mảng cá tra, ba sa [10]
Sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác của Việt Nam trong năm 2011 đạthơn 5,3 triệu tấn, tăng 4% so với năm 2010 Xuất khẩu dự kiến đạt trên 6 tỷ USD (tăngkhoảng 20% so với năm 2010), đây là một con số rất ấn tượng Hiên tại, Việt Nam làmột trong 10 nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới [10]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35Trong thời gian qua, tỷ trọng xuất khẩu tôm và cá tra, cá basa luôn chiếm 70% sản lượng và kim ngạch xuất khẩu toàn ngành Tùy theo tình hình kinh tế ở từnggiai đoạn khác nhau, 2 sản phẩm trên có thể lần lượt chiếm vị trí đầu ngành Khi nềnkinh tế rơi vào khủng hoảng, các mặt hàng có giá trị rẻ, trung bình như cá tra, basa,tôm cỡ nhỏ được tiêu thụ chủ yếu, vì vậy tỷ trọng xuất khẩu cá vượt trội hơn so vớixuất khẩu tôm như giai đoạn năm 2008 Ngược lại, từ năm 2009 đến nay khi kinh tế códấu hiệu phục hồi, các sản phẩm tôm cỡ lớn có giá trị cao bắt đầu được ưa chuộng kéotheo sự gia tăng kim ngạch ở mảng tôm Ngoài hai sản phẩm trên, nhóm nhuyễn thểcũng đóng góp không nhỏ vào kết quả ngành ~ 9-10% [10].
60-Tình hình xuất khẩu tôm của Việt Nam
Năm 2011, mặt hàng tôm vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các sản phẩm thủysản XK chủ lực của Việt Nam, chiếm 39,8% Mặc dù nguồn nguyên liệu tôm sú thiếuhụt nghiêm trọng do dịch bệnh ở khu vực ĐBSCL, nhưng lại được bù đắp bằng nguồncung cấp tôm chân trắng và một phần đáng kể nguồn tôm NK từ các nước, nên XKtôm vẫn duy trì tăng trưởng khả quan gần 14% so với năm trước XK tôm sú giảm0,6% trong khi XK tôm chân trắng tăng gần 70% về giá trị so với năm 2010 [8]
Tổng giá trị XK tôm của Việt Nam cả năm đạt 2,396 tỷ USD, vượt qua mốc 2 tỷ
cả năm 2010 Trong đó, XK tôm sú đạt trên 1,43 tỷ USD, chiếm gần 60% tổng giá trị,
XK tôm chân trắng đạt 704 triệu USD, chiếm 29,3% tỷ trọng, 12% còn lại là tôm cácloại khác [8]
Năm 2011, tôm Việt Nam đã thâm nhập sâu hơn vào các thị trường khác ngoài 3thị trường trọng điểm truyền thống là Mỹ, Nhật Bản và EU Năm 2010, giá trị XK tômsang 3 thị trường này chiếm trên 71% tổng giá trị XK tôm cả nước Sang năm 2011, tỷtrọng này giảm xuống còn 66% Trong khi đó, XK sang một số thị trường khác nhưHàn Quốc, ASEAN… và đặc biệt là sang Nga tăng mạnh XK tôm sang Nga tăng124% so với năm 2010, sang Hàn Quốc tăng 23%, sang ASEAN tăng 54,7% [8]
Giá trung bình tôm XK hàng tháng của Việt Nam năm nay đạt 9,2-9,9 USD/kg,cao hơn khoảng 12-18%, có thời điểm cao hơn 28% so với năm trước Hầu hết các loạitôm XK đều có giá tăng Mặt hàng tôm sú và tôm chân trắng có mức tăng chậm hơnnhững mặt hàng đã chế biến [8]
Tôm sú vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong cơ cấu XK tôm của Việt Nam trong năm
2011 Tuy nhiên, tỷ trọng về khối lượng và giá trị đang giảm dần, đặc biệt là mặt hàngtôm sú sống/tươi/đông lạnh Tỷ trọng của tôm chân trắng trong tổng XK tôm đã lên tới
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3629%, so với 26% năm 2010 Tỷ trọng nhóm hàng XK tôm đã qua chế biến đang có xuhướng tăng Năm 2010, giá trị XK tôm sống/tươi/đông lạnh chiếm gần 76% tổng giátrị XK nhưng sang đến năm 2011 chỉ còn chiếm 70% Trong khi đó, giá trị XK tômchế biến tăng từ 23% năm 2010 lên 28% năm 2011 [8].
Cơ hội và thách thức
Năm 2011 ngành tôm gặp không ít khó khăn, thách thức về nguồn nguyên liệu,thị trường và các chính sách và năm 2012 có thể sẽ vẫn phải đối mặt với những khókhăn này, nếu không có các giải pháp hợp lý, XK tôm chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng
- Về nguồn nguyên liệu: Tôm chân trắng đang phát huy lợi thế tối đa trong sản
xuất, chế biến và XK tôm Việt Nam Năm 2011 vừa qua, hơn 81000 ha tôm sú bị thiệthại do dịch bệnh và nguyên nhân chính là do việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cóhoạt chất Cypermethrin, Deltamethrin rất độc đối với các loài cá tôm và thủy sinhkhác Tôm chân trắng chính là nguồn nguyên liệu bù đắp quan trọng với sản lượng thuđược tính đến hết tháng 11 là 118087 tấn Năm 2012 tôm chân trắng sẽ tiếp tục pháthuy thế mạnh và chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu XK tôm của Việt Nam
Nguồn tôm nguyên liệu trong nước sẽ tiếp tục “bấp bênh” nếu người nuôi khôngtuân thủ đúng các qui định trong nuôi trồng thủy sản để hạn chế tối đa dịch bệnh NK tômnguyên liệu sẽ vẫn là nhu cầu tất yếu nhưng thuế NK chưa thực sự hỗ trợ với mức 10%
- Về thị trường: Năm 2011, mặc dù kinh tế thế giới có nhiều biến động Nền
kinh tế Mỹ, Nhật Bản và EU đều chịu nhiều tác động nhưng nhu cầu NK và tiêu thụtôm vẫn gia tăng
Năm 2011, XK tôm sang Nhật Bản tiếp tục bị tăng cường kiểm soát kháng sinhEnrofloxacin tiếp sau hoạt chất Trifluralin Số lượng các lô hàng bị nhiễm các chấtcấm nằm trong hệ thống cảnh báo của Nhật Bản không có dấu hiệu giảm Nguy cơNhật Bản ngày càng tăng cường hơn nữa kiểm soát tôm NK từ Việt Nam là rất lớn
Tôm Việt Nam phải cạnh tranh về giá XK vớ các nước đối thủ như Inđônêxia,
Ấn Độ và Thái Lan Giá tôm XK của Việt Nam cao hơn 15-20% so với giá của Ấn Độ
và Inđônêxia
- Về chính sách, quy định và sự quản lý nhà nước: Năm 2011, nhiều DN xuất
khẩu tôm gặp nhiều vướng mắc, khó khăn và tốn nhiều chi phí do các quy định chồngchéo của các cơ quan nhà nước trong quản lý, kiểm tra và kiểm soát chất lượng thủysản XK Chính sách tài chính, đặc biệt là lãi suất cho vay tín dụng cao gây bất lợi chonhiều DN XK thủy sản
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH TIÊU THỤ TÔM Ở HUYỆN QUỲNH LƯU
2.1 Vài nét cơ bản về huyện Quỳnh Lưu
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
km, 34 km đường bờ biển
Bản đồ huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An
Khoảng cách từ huyện lỵ là thị trấn Cầu Giát đến tỉnh lỵ là thành phố Vinhkhoảng 60Km Phía bắc huyện Quỳnh Lưu giáp huyện Tĩnh Gia (Thanh Hoá), có
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 38chung địa giới khoảng 24km với ranh giới tự nhiên là khe Nước Lạnh Phía Nam vàTây Nam Quỳnh Lưu giáp với Diễn Châu và huyện Yên Thành với ranh giới khoảng31km Vùng phía nam của huyện Quỳnh Lưu có chung khu vực đồng bằng với haihuyện Diễn Châu và Yên Thành (thường gọi là đồng bằng Diễn-Yên-Quỳnh) Phía tây,huyện Quỳnh Lưu giáp huyện Nghĩa Đàn với ranh giới khoảng 33 km được hình thànhmột cách tự nhiên bằng các dãy núi kéo dài liên tục mà giữa chúng có nhiều đèo thấptạo ra những con đường nối liền hai huyện với nhau Phía Đông, huyện Quỳnh Lưugiáp biển Đông.
Quỳnh Lưu có 41 xã và 2 thị trấn là thị trấn Hoàng Mai và thị trấn Cầu Giát, dân
số tính đến tháng 10/2008 là 37 vạn người [1]
Địa hình
Về cơ bản Quỳnh Lưu là một huyện đồng bằng ven biển Quỳnh Lưu nằm trênmột dải đất rộng với chiều dài theo đường quốc lộ 1A là 20 Km, chiều rộng tính theotrục đường quốc lộ 48,48B đi từ Tây sang Đông dài 35 Km với đầy đủ các dạng địahình có đồi núi, gò đồi, thung lũng, đồng bằng, song trong đó đồi chiếm 10,5% diệntích đất tự nhiên, địa hình thấp từ Tây sang Đông [1]
2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Khí hậu
Quỳnh Lưu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khíhậu chuyển tiếp của miền Bắc và miền Nam, đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình củamiền Nam và có mùa đông lạnh giá của miền Bắc Do vậy, Quỳnh Lưu có hai mùa khíhậu rõ rệt Mùa hè nhiệt độ có lúc lên tới 30-400c, mùa đông nhiệt độ có lúc hạ xuống
100c, độ ẩm trung bình hằng năm đạt 84,2% mức giao động năm sau so với năm trướcthấp Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng cho quá trình sinh trưởng và phát triển của sinhvật nói chung và các loại nuôi trồng thủy sản nói riêng Mỗi loài có khoảng nhiệt độthích ứng riêng và khả năng chống chịu của chúng cũng nằm trong khoảng giới hạnnhất định Như vậy có thể thấy khí hậu ở Quỳnh Lưu khá thuận lợi cho NTTS nóichung và nuôi tôm nói riêng
Mùa mưa thường có mang theo bão lụt kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11, lượngmưa bình quân hằng năm từ 150ml - 144ml (2008-2009) do vậy lũ lụt thường xảy ra
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39trung tuần từ tháng 8 đến tháng 10 Mùa khô từ tháng 12 đến hạ tuần tháng 8 năm sau,
từ tháng 6 đến hạ tuần tháng 8 là mùa nắng gay gắt, có gió Tây Nam thổi từ Lào sang,khô nóng lượng nước bốc hơi, thường gây hạn hán nghiêm trọng [1]
Tài nguyên thiên nhiên
- Đất đai
Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá nhất cho phát triển kinh tế- xã hội Toànhuyện hiện nay có tổng diện tích đất tự nhiên là 60764,75 ha được phân chia theo cácmục đích sử dụng như sau:
Bảng 2.1: Cơ cấu đất đai của huyện Quỳnh Lưu năm 2009
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Quỳnh Lưu, 2009)
Qua bảng cơ cấu sử dụng đất đai của huyện ta thấy rằng: diện tích đất nôngnghiệp chiếm tỷ trọng nhiều nhất là 42750 ha tương ứng chiếm 70,35% trong đó đấtsản xuất nông nghiệp là 19790 ha chiếm 46,29 %, đất lâm nghiệp là 21067,18 hachiếm 49,28%, đất làm muối là 665,19 ha chiếm 1,56%, đất nông nghiệp khác là 20,97
ha chiếm 0,05 % Ngoài ra, còn có 1206,66 ha đất NTTS chiếm 2,82% đất nôngnghiệp, chủ yếu là ao hồ và một số diện tích nước lợ ven sông lớn
Như vậy, có thể thấy diện tích NTTS ở Quỳnh Lưu khá lớn, đây là điều kiệnthuận lợi để Quỳnh Lưu phát triển thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 40Bên cạnh đó, Quỳnh Lưu còn có diện tích đất chưa sử dụng khá lớn là 7352,21
ha chiếm 12,10% Quỳnh Lưu có thể phát huy và tận dụng quỹ đất này để phát triểnngành NTTS của địa phương trong thời gian sắp tới
- Tài nguyên nước
Trên địa bàn huyện có 2 con sông Mai Giang, sông Thái, kênh Vực Mấu (lấynước từ hồ Vực Mấu), 86 hồ đập với trữ lượng nước đạt 76 triệu m3 Ngoài ra còn có
hệ thống thủy lợi Bắc Nghệ An lấy nước từ con sông huyện Đô Lương nên lượng nước
đủ cung cấp tưới quanh năm, đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân,mạch nước ngầm hầu như nơi nào cũng có
Nguồn nước là một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công cho pháttriển NTTS ở huyện Quỳnh Lưu Với hệ thống sông ngòi dày đặc như vậy thì việcNTTS ở Quỳnh Lưu sẽ rất thuận lợi
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
- Về Chăn nuôi
Tổng đàn bò tăng 9,3% (2008) trong đó đàn trâu 18.100 con tăng 26,2% Đàn bò
25400 con tăng 15,5%, đàn lợn 160100 con tăng 6,8% so với năm 2000 Các động vật
có giá trị kinh tế cao được đưa vào chăn nuôi như lợn sữa, bõ sữa Trong huyện cóhàng chục mô hình chăn nuôi theo hướng công nghiệp Một số xóm có thu nhập từchăn nuôi trên 60% trong giá trị sản xuất nông nghiệp [4]