Hơn nữa, Trong khái niệm tác giả nêu khái quát những căn cứ theo luật định để ĐCGQVADS đó là: Sự kiện làm cho đối tượng của vụ án không còn có thể là các sự kiện như đương sự chết mà quy
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN HẢI AN
Hà Nội – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Linh
Trang 4MỤC LỤC
TRANG DANH MỤC CÁC TỰ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 7
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 7
1.1 Khái quát một số vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 7
1.1.1 Khái niệm về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 7
1.1.2 Đặc điểm của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 11
1.1.3 Ý nghĩa của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 13
1.2 Khái quát Lịch sử phát triển các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 14
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959 15
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989 16
1.2.3 Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004 17
1.2.4 Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015 18
1.2.5 Từ năm 2015 đến nay 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21
CHƯƠNG 2 22
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CHỈ 22
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 22
2.1 Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm 22
2.1.1 Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm 22
2.1.2 Thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm 37
2.1.3 Thủ tục ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm 38
2.1.4 Hậu quả của việc ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm 38
2.2 Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm 41
2.1.1 Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm 41
Trang 52.2.2 Thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo
thủ tục phúc thẩm 43
2.2.3 Hình thức của quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo tục phúc thẩm 44
2.2.4 Hậu quả pháp lý của việc ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm 44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 45
CHƯƠNG 3 47
THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 47
3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 47
3.1.1 Kết quả đạt được trong việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 47_Toc3127867 3.1.2 Những vướng mắc, bất cấp trong quá trình áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 48
3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 66
3.2.1 Hoàn thiện việc xây dựng pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án 66
3.2.2 Hoàn thiện việc áp dụng pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 73 KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 6hai “thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án
cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa
đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của BLTTDS
NQ 05/2012/NQ-HĐTP
5
Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong
phần thứ ba: “Thủ tục giải quyết vụ án tại
tòa cấp phúc thẩm của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS”
Trang 72
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hiện nay, tinh thần cải cách tư pháp đã được đề ra trong Nghị quyết
08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị với nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 được đưa vào trọng tâm nhằm tăng cường bảo vệ công lý và bảo vệ quyền con người, công dân Để cụ thể hóa các chính sách của Đảng đề ra, các quy định pháp luật về tố tụng dân sự của nước ta phải được hoàn thiện Đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của pháp luật tố tụng dân
sự nước ta là sự ra đời của BLTTDS năm 2015 với nhiều sửa đổi, bổ sung với ý nghĩa làm cho việc khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ án dân sự của người dân được thuận lợi, dễ dàng và việc giải quyết của Tòa án được rõ ràng, công khai, minh bạch, nhanh chóng, đúng pháp luật Dẫn đến việc nghiên cứu, phân tích những quy định mới, những sửa đổi, bổ sung của BLTTDS 2015 là cần thiết để góp phần nâng cao chất lượng giải quyết vụ án, bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức nói chung
Việc nghiên cứu toàn diện các vấn đề về ĐCGQVADS là rất cần thiết để tạo cơ sở cho việc áp dụng các quy định của pháp luật về ĐCGQVADS trong thực tiễn tại Tòa án bởi đây là vấn đề quan trọng ảnh hưởng nhiều và trực tiếp nhất đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việc đình chỉ giải quyết vụ án là cần thiết nếu những căn cứ phát sinh đó là hợp pháp và không trái luật định, đạo đức xã hội để tiết kiệm về mặt thời gian và chi phí tố tụng cho các đương sự và
cơ quan Nhà nước như Tòa án Tuy nhiên, nếu việc đình chỉ không đúng sẽ dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự và họ sẽ không được xem xét,
dễ dẫn đến quyền khởi kiện, quyền yêu cầu của họ bị mất Điều này đòi hỏi
những quy định về đình chỉ trong BLTTDS phải được quy định rõ ràng, dễ hiểu,
dễ áp dụng, phù hợp với thực tiễn để bảo vệ tốt nhất về quyền lợi ích hợp pháp của công dân
Ngoài ra, theo tổng kết 3 (ba) năm thi hành BLTTDS 2015, các quy định
về ĐCGQVADS đã bộc lộ nhiều bất cập, vướng mắc trong quá trình áp dụng tại thực tế các Tòa án Do đó, cần thiết phải có những kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định về ĐCGQVADS
Từ những lý do trên mà tác giả lựa chọn đề tài: “Đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự trong tố tụng dân sự Việt Nam”
Trang 83
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề ĐCGQVADS là vấn đề quan trọng được nhiều nhà Luật học, Luật gia quan tâm nghiên cứu theo chiều sâu nhằm giúp cho các quy định pháp luật được phù hợp với thực tế Các nghiên cứu này được thể hiện qua các công trình nghiên cứu khoa học nhưng với số lượng còn hạn chế Cụ thể:
- Các bài viết khoa học trên các tạp chí chuyên nghành:
Tác giả Nguyễn Bá Châu có bài viết “Vì sao những bản án kinh tế bị hủy,
bị sửa phải xét xử lại vụ án, phải đình chỉ việc giải quyết vụ án” đăng trên tạp
chí Tòa án nhân dân số 3/2000 Tiếp đến, tác giả Nguyễn Triều Dương có bài
viết:“Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự” được đăng trên Tạp chí Luật học số đặc san năm 2005 Tiếp đến bài viết “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự” của tác giả
Trần Anh Tuấn đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7 (tháng 7/2005) Bài
viết: “Quy định về đình chỉ trong BLTTDS” đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý
số 4 (41)/2007 của tác giả Tống Công Cường Bài viết“Đình chỉ xét xử phúc
thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án cấp phúc thẩm”của tác giả
Nguyễn Thị Thu Hà đăng trên Tạp chí Luật học số 7/2010
Gần đây, tác giả Nguyễn Xuân Bình có bài viết “ Bàn về một số quy địn tại
khoản 4 Điều 217 BLTTDS 2015”, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân năm 2018
và tác giả Nguyễn Văn Dũng với bài viết “Vướng mắc phát sinh từ thực tiễn áp
dụng khoản 2 Điều 217 BLTTDS 2015”, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân năm
2018
- Các bài luận văn, luận án có các công trình sau:
Luận văn thạc sĩ “Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ VDS theo quy định
của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004” của tác giả Phạm Hải Tâm được bảo vệ
tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2010 và Luận văn của tác giả Trần Thị
Ngọc Trang với đề tài: “Đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự theo pháp luật dân
sự Việt Nam hiện hành” được bảo vệ tại Khoa Luật trường Đại học quốc gia Hà
Nội năm 2015 Cả hai luận văn này đều phân tích, làm rõ lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về ĐCGQVADS nhưng được nghiên cứu theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ Tuy nhiên, các công trình trên được nghiên cứu chủ yếu theo quy định của BLTTDS năm 2004, sửa đổi năm 2011 đã hết hiệu lực pháp luật trong thời điểm hiện nay.
- Bài bình luận khoa học về BLTTDS:
Sự ra đời của BLTTDS 2015 cùng với những điểm mới đã tạo ra yêu cầu phải có đánh giá, phân tích để hiểu rõ hơn các điều luật mới thì các tác giả, những
nhà nghiên cứu đã có những bài bình luận khoa học của mình Cụ thể: “Bình luật
khoa học bộ luật tố tụng dân sự năm 2015” của Tiến sĩ Bùi Thị Huyền chủ biên,
nhà xuất bản Lao động năm 2016 hay ‘Bình luận khoa học bộ luật tố tụng dân
Trang 94
sự 2015” của Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Anh Tuấn chủ biên, nhà xuất bản Tư
pháp năm 2016 Ngoài ra còn nhiều tác giả khác nữa nhưng tổng quát đều phân tích, đánh giá rất cụ thể, chi tiết các điều luật quy định của BLTTDS nói chung
và ĐCGQVADS nói riêng
Tất cả các bài viết trên Tạp chí, những Luận văn, Luận án, các bộ Bình luận khoa học BLTTDS trên đều có những đóng góp nhất định vào tiến trình phát triển và hoàn thiện pháp luật tố tụng nói chung và về vấn đề ĐVGQVADS nói riêng Tuy nhiên, do BLTTDS năm 2015 mới được ban hành nên hầu hết các công trình nêu trên nghiên cứu với nội dung được xây dựng trên nền tảng các quy định của BLTTDS trước đó, vậy nên rất cần thiết phải bổ sung yếu tố cập nhật Do đó, có thể khẳng định rằng, luận văn này là một công trình khoa học đầu tiên, nghiên cứu chuyên sâu phát hiện những vướng mắc, bất cập về vấn đề ĐCGQVADS theo BLTTDS năm
2015, đây là một đề tài hoàn toàn độc lập, không có sự trùng lặp với bất kỳ một công trình nghiên cứu nào
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu đề tài:
Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận về ĐCGQVADS; Các quy định pháp luật về ĐCGQVADS 2015 và phân tích những bấp cập, phát sinh khi áp dụng những quy định về ĐCGQVADS hiện hành để từ đó đưa ra kiến nghị
- Phạm vi nghiên cứu đề tài:
+ Về giới hạn pháp luật, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu làm rõ một số vấn
đề lý luận về ĐCGQVADS; Các quy định của Bộ luật, văn bản hướng dẫn thi hành về ĐCGQVADS năm 2015 và không nghiên cứu về đình chỉ giải quyết việc dân sự
+ Về thẩm quyền, tác giả chỉ nghiên cứu ĐCGQVA theo thủ tục cấp sơ thẩm và thủ tục cấp phúc thẩm Còn nghiên cứu các quy định pháp luật về ĐCGQVADS theo thủ tục cấp giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ tiếp tục được nghiên cứu sau khi có điều kiện
+ Về lãnh thổ, tác giả chỉ nghiên cứu trong phạm vi về ĐCGQVADS theo pháp luật Việt Nam; việc đối chiếu, so sánh với những quy định về vấn đề ĐCGQVADS ở các nước trên thế giới sẽ tiếp tục được nghiên cứu sau khi có điều kiện
+ Về thời gian, tác giả chỉ nghiên cứu trong giới hạn của pháp luật Việt Nam từ giai đoạn BLTTDS năm 2015 có hiệu lực đến nay, mặc dù trong luận văn có đề cập đến một số văn bản quy phạm pháp luật trước đây nhưng chỉ nhằm mục đích so sánh, đối chiếu
Trang 105
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
- Mục đích nghiên cứu đề tài:
Dựa trên các vấn đề lý luận về ĐCGQVADS qua đó đánh giá các quy định ĐCGQVADS ở từng giai đoạn tố tụng và trong thực tiễn áp dụng pháp luật Đồng thời chỉ ra những tồn tại, sai sót, chưa thỏa đáng của luật thực định Qua đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về ĐCGQVADS trong bối cảnh Việt Nam hiện nay
- Để đạt được mục đích nêu trên, việc nghiên cứu đề tài có các nhiệm vụ
sau đây:
+ Nghiên cứu những cơ sở lý luận khoa học về ĐCGQVADS như khái niệm, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của việc ĐCGQVADS; Lịch sử phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về ĐCGQVADS qua các giai đoạn, thời kỳ + Phân tích, phân tích thực trạng của luật thực định, đánh giá sự phù hợp, không phù hợp của các quy định, bổ sung mới về ĐCGQVADS trong BLTTDS hiện hành
+ Khảo sát thực tế áp dụng các quy định của của pháp luật hiện hành về ĐCGQVADS tại các Toà án và phát hiện những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng;
+ Tìm được các giải pháp nhằm khắc phục những bất cập, vướng mắc về ĐCGQVADS
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở khoa học phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm, đường lối của Đảng
và Nhà nước về pháp luật
Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài cũng được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống: Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp Phương pháp phân tích được áp dụng cho toàn bộ nghiên cứu trong luận văn; phương pháp so sánh luật được thể hiện ở hai khía cạnh chính,
đó là so sánh các quy định của luật mới với quy định của luật cũ; phương pháp tổng hợp các vụ án trong thực tế, đánh giá bản chất trong phạm vi đề tài nghiên cứu để rút ra kết luận và đề xuất các kiến nghị
6 Ý nghĩa và đóng góp của Luận văn
Trang 116
Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống những vấn đề liên quan đến ĐCGQVADS có ý nghĩa như sau:
- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ phương diện lý luận trong
khoa học pháp lý về ĐCGQVADS như khái niệm, đặc điểm và mục đích và ý nghĩa; Lịch sử phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về ĐCGQVADS
từ năm 1945 đến nay Phân tích, so sánh những điểm mới của quy định pháp luật về ĐCGQVADS hiện hành Đồng thời, đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật về ĐCGQVADS năm 2015 áp dụng vào thực tiễn thực tại các Tòa án Việt Nam trong những năm gần đây và đưa ra giải pháp hoàn thiện Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm cơ sở lý luận cho các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS năm 2015 về ĐCGQVADS
- Về mặt thực tiễn: Luận văn phát hiện những vướng mắc, bất cập của các
quy định pháp luật về ĐCGQVADS hiện hành và đồng thời đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và giúp cho việc áp dụng pháp luật có hiệu quả Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn còn cung cấp thêm một nguồn tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy của các nhà luật học, luật gia, giảng viên, sinh viên về pháp luật tố tụng dân sự tại Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo Bên cạnh đó, luận văn cũng là tài liệu có giá trị đối với các cán bộ đang làm công tác hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật về lĩnh vực pháp luật tố tụng dân
sự nước ta
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu bởi 3 phần: Phần mở đầu, nội dung và kết luận Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Chương 2: Các quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự trong bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trang 12Từ “Đình chỉ” theo Từ điển Tiếng Việt nêu nghĩa đó là: “Đình chỉ là ngừng
từ đình chỉ là động từ được dùng cho một vật, một việc thể hiện việc ngừng lại hoặc làm cho phải ngừng lại không tiếp tục thực hiện nữa trong một khoảng thời gian nhất định, cụ thể hoặc vĩnh viễn
Trong tố tụng nói chung thì từ “đình chỉ” được hiểu là việc giải quyết vụ án
được ngừng lại trong thời gian vĩnh viễn khi có những căn cứ mà pháp luật quy
định Trong tố tụng dân sự nói riêng thì cụm từ “đình chỉ” được hiểu theo nghĩa
là việc giải quyết VADS được cơ quan tiến hành tố tụng ngừng lại và vụ án có Quyết định ĐCGQVADS nếu có căn cứ luật định Quyết định ĐCGQVADS là một trong bốn Quyết định mà khi rơi vào các trường hợp do pháp luật quy định, thì Thẩm phán - người tiến hành tố tụng được phân công để giải quyết VADS phải ban hành trong thời hạn chuẩn bị xét xử2
Khái niệm ĐCGQVADS được các nhà khoa học Việt Nam đề cập trong nhiều tài liệu với những khía cạnh khác nhau Cụ thể:
Có quan điểm cho rằng: “Đình chỉ là một phương thức giải quyết đặc biệt
của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự” và “Đình chỉ giải quyết vụ
án là chấm dứt tố tụng dân sự khi có những căn cứ nhất định mà không thông qua xét xử hay hòa giải” 3 Nhận thấy, tác giả Tống Công Cường đã nêu khái quát được
việc ĐCGQVADS thuộc thẩm quyền của Tòa án và đình chỉ là một trong những phương thức giải quyết của Tòa đối với vụ việc cần giải quyết bao gồm: Ra Bản án thông qua xét xử hay ra quyết định thỏa thuận thông qua phương thức hòa giải4 Tác giả đã giải thích được rằng việc đình chỉ sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý đó là làm chấm dứt các thủ tục tố tụng dân sự, nghĩa là Tòa án sẽ chấm dứt việc thực hiện
1 Từ điển tiếng Việt thông dụng, Phạm Lê Liên (chủ biên) năm 2016,NXB Hồng Đức, trang 282
2Nguyễn Duy Lãm (chủ biên) (1999), Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nhà xuất bản Công an
nhân dân, trang 134
3 Tống Công Cường, Tại chí khoa học pháp lý số 4 (41), năm 2007, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
Minh, năm 2007, trang290
Trang 138
công việc theo trình tự, thủ tục tố tụng quy định của mình để giải quyết vụ việc dân
sự Tuy nhiên, quan điểm của tác giả Tống Công Cương chưa nêu được đầy đủ về thời gian của việc ngừng lại, chấm dứt hoạt động tố tụng dễ gây khó hiểu và nhầm lẫn với khái niệm Tạm đình chỉ Đồng thời, cách hiểu về việc ĐCGQVADS là làm chấm dứt hoạt động tố tụng khi có căn cứ luật định mà không cần thông qua xét xử
và hòa giải là không đúng Bởi lẽ, việc đình chỉ giải quyết vụ án có thể được tiến hành ở giai đoạn phúc thẩm, sau khi đã có bản án tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hoặc
có thể Tòa án ra quyết định đình chỉ ngay tại phiên toà xét xử khi có căn cứ luật định; Ngoài ra, Tòa án ra quyết định đình chỉ trong trường hợp hòa giải thành mà một trong các bên yêu cầu dừng giải quyết vụ án (Ví dụ: Trong vụ án ly hôn, khi Tòa án hòa giải hành vợ chồng đã đoàn tụ thì Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án)
Quan điểm khác thì cho rằng: “Tòa án ngừng việc giải quyết VADS đã thụ
lý Việc đình chỉ giải quyết vụ án có thể được tiến hành ở Tòa án cấp sơ thẩm,
việc Tòa án quyết định ngừng việc giải quyết VADS khi có những căn cứ do pháp luật quy định” 6 Các quan điểm này của các tác giả đều nêu lên một khía cạnh
khác về bản chất đình chỉ VADS; Thể hiện quan niệm, cách hiểu khác nhau về ĐCGQVADS, tuy không được đầy đủ nhưng cơ bản đã nêu lên nội dung và bản chất về ĐCGQVADS
Bên cạnh đó, quan điểm khác nêu “ ĐCGQVADS là việc Tòa án quyết
định ngừng hẳn việc giải quyết VADS đã thụ lý và sau khi quyết định ĐCGQVADS có hiệu lực pháp luật thì về nguyên tắc đương sự không có quyền khởi kiện lại để Tòa án giải quyết vụ án đó nữa Việc ĐCGQVADS có thể dựa trên cơ sở phát sinh sự kiện làm cho đối tượng của vụ án cần giải quyết ở Tòa
án không còn hoặc được suy đoán là không còn tồn tại; VADS đã thụ lý sẽ được giải quyết cùng với các quan hệ pháp luật khác trong một vụ án khác; có sự sai lầm của Tòa án trong việc thụ lý vụ án”7 Như vậy, có thể thấy cái nhìn, đưa ra quan điểm khá toàn diện và khái quát về ĐCGQVADS Tác giả đã nêu được toàn
5 Nguyễn Công Bình (chủ biên) (2018), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trường Đại học luật Hà Nội,
Nhà xuất bản Công an nhân dân, trang 274
Nội, NXB Đại học quốc gia Hà Nội năm 2014, trang 256
7 PGS.TS.Trần Anh Tuấn (Chủ biên) (2017), Bình luận Khoa học bộ luật tố tụng dân sự 2015, NXB Tư pháp,
trang 681
Trang 149
bộ về thẩm quyền, nội dung, căn cứ và hậu quả pháp lý của việc đình chỉ giải quyết vụ án
Khác với những tác giả nêu trên, thì tác giả Trần Anh Tuấn chỉ ra cụ thể,
dễ hiểu hơn về đình chỉ VADS đó là: Thứ nhất, việc ĐCGQVADS thuộc thẩm quyền của cơ quan quan tiến hành tố tụng trực tiếp là Tòa án - cơ quan duy nhất
có thẩm quyền này Bởi Hiến pháp và pháp luật đã quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của Tòa án đó là cơ quan tư pháp và có nhiệm vụ: “Tòa án nhân
dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện
quá trình giải quyết có đủ căn cứ thì Tòa án buộc ĐCGQVADS Và tác giả cũng
nêu rõ là ĐCGQVADS là “ngừng hẳn” việc giải quyết VADS sau khi đã “thụ
lý” Đồng thời, trong khái niệm đã nêu rõ được đặc điểm, bản chất của
ĐCGQVADS khác với việc tạm đình chỉ là ngừng giải quyết trong một thời gian, khi đủ điều kiện thì tiếp tục giải quyết Việc ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án chỉ được thực hiện kể từ sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án vào sổ thụ lý, để phân biệt với những trường hợp khác đó là Tòa án trả lại đơn khởi kiện như trường
hợp “Hết thời hạn được thông báo để nộp tiền tạm ứng án phí mà người khởi
kiện không nộp hoặc không đến Tòa án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp
có lý do chính đáng”9 thì Tòa án không đình chỉ được vì chưa thụ lý vụ án hoặc
Tòa án chuyển thẩm quyền cho Tòa án khi phát hiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mình
Hơn nữa, Trong khái niệm tác giả nêu khái quát những căn cứ theo luật định để ĐCGQVADS đó là: Sự kiện làm cho đối tượng của vụ án không còn có thể là các sự kiện như đương sự chết mà quyền và nghĩa vụ không được thừa kế
do tính chất của quan hệ pháp luật mà Tòa án cần giải quyết (quan hệ nhân thân, quan hệ cấp dưỡng); Sự việc đã được giải quyết bằng bản án , quyết định có hiệu lực pháp luật; người có nghĩa vụ chết nhưng không để lại di sản thừa kế; Đương
sự là cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, bị tuyên bố phá sản mà không có chủ thể kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng; Chủ thể khởi kiện đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện; Các đương sự tự hòa giải Sự kiện dẫn tới suy đoán đối tượng của vụ án không còn tồn tại là trường hợp nguyên đơn được coi như là từ bỏ yêu cầu khởi kiện của VADS do được triệu tập lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng Sự kiện dẫn tới quan hệ pháp luật là đối tượng của VADS đã được thụ lý
8 Xem tại Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013
9 Xem tại điểm d khoản 1 Điều 192, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 1510
sẽ được giải quyết cùng với quan hệ pháp luật khác trong một vụ án khác là trường hợp đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mà một bên đương sự trong VADS mà việc giải quyết vụ án này có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó Việc kiện yêu cầu thanh toán hay thực hiện nghĩa vụ tài sản mà Tòa án thụ lý sẽ được giải quyết trong vụ án về giải quyết yêu cầu phá sản cùng với các chủ nợ khác để đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ Có sự sai lầm của Tòa án trong việc thụ lý vụ án là trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ án mặc dù không thỏa mãn các điều kiện thụ lý
mà pháp luật quy định, nhưng vì một lý do nào đó mà Tòa án vẫn thụ lý để sửa chữa những sai sót này thì Tòa án ra quyết định ĐCGQVADS Và một điểm mới
đó là hậu quả của việc ĐCGQVADS ngoài việc chấm dứt việc xem xét, quyết định về toàn bộ các quan hệ pháp luật cần phải giải quyết trong vụ án theo thủ tục tố tụng thì còn hậu quả pháp lý nữa là các đương sự trong vụ án không có quyền khởi kiện lại yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đó nữa; Tuy nhiên, ngoại trừ những trường hợp khác mà pháp luật có quy định thì đều có quyền khởi kiện lại10
Trên là những quan điểm, cách hiểu trên nhiều phương diện, góc độ khác nhau của các nhà Luật gia trong quá trình nghiên cứu góp phần hoàn thiện pháp luật Các nhà luật gia đã nêu lên được đầy đủ về khái niệm ĐCGQVADS Tuy nhiên, vẫn có sự hạn chế là mỗi tác giả đều không nêu được đầy đủ, toàn diện về khái niệm chỉ giải quyết VADS Và trong BLTTDS cũng chưa có quy định cụ thể nêu về khái niệm như thế nào là ĐCGQVADS
Vì vậy qua tổng kết, nghiên cứu, tổng hợp các quan điểm của các nhà nghiên cứu, các luật gia nêu trên thì có thể đưa ra được kết luận khái quát về khái
niệm ĐCGQVADS đó là: “ ĐCGQVADS là việc của Tòa án quyết định chấm
dứt hoàn toàn hay ngừng hẳn việc giải quyết VADS đã thụ lý khi có những căn
cứ do pháp luật quy định như trên cơ sở phát sinh sự kiện làm cho đối tượng của
vụ án cần giải quyết ở Tòa án không còn hoặc được suy đoán là không còn tồn tại; VADS đã thụ lý sẽ được giải quyết cùng với các quan hệ pháp luật khác trong một vụ án khác; có sự sai lầm của Tòa án trong việc thụ lý vụ án; Được tiến hành ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và sau khi quyết định đình chỉ giải quyết VADS có hiệu lực pháp luật thì đương sự không
10 PGS.TS.Trần Anh Tuấn (Chủ biên) (2017), Bình luận Khoa học bộ luật tố tụng dân sự 2015, NXB Tư pháp,
Trang 526
Trang 1611
có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc đó nữa, trừ những trường hợp đặc biệt mà pháp luật có quy định khác”
1.1.2 Đặc điểm của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
ĐCGQVADS có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, ĐCGQVADS phải do Tòa án ban hành Trước khi mở phiên tòa
xét xử thì Thẩm phán được phân công tiến hành giải quyết vụ án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Tại phiên tòa xét xử vụ án thì Hội đồng xét xử có quyền quyết định việc đình chỉ vụ án và ra quyết định đình chỉ vụ án
Luật đã quy định cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án trong việc giải quyết VADS liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân Vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ án có những phát sinh làm căn cứ để ngừng và chấm dứt việc giải quyết thì Tòa án chính là cơ quan có trách nhiệm phải thực hiện việc đình chỉ vụ án, hay nói cách khác ĐCGQVADS là một trong những phương thức giải quyết vụ án của Tòa án các cấp Để cụ thể hóa và dễ áp dụng tránh việc lúng túng trong việc áp dụng thì Luật quy định thẩm quyền thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có quyền quyết định việc chấm dứt hay ngừng hẳn việc giải quyết vụ án và ra quyết định đình chỉ trong giai đoạn từ sau khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa xét xử Còn sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét
xử và tại phiên tòa xét xử thì một mình thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa không được quyết định việc có ngừng việc giải quyết vụ án và ra quyết định đình chỉ
mà đến giai đoạn này thì việc quyết định đình chỉ vụ án và ra quyết định phải có
sự đồng ý, nhất trí của Hội đồng xét xử khi phát hiện có căn cứ để cho đình chỉ
vụ án Đối với trường hợp ngay sau khi phiên tòa sơ thẩm tuyên án, chưa có kháng cáo, kháng nghị mà xuất hiện căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án thì thẩm quyền đình chỉ giải quyết vụ án thuộc về Tòa án cấp phúc thẩm
Việc đình chỉ giải quyết VADS có thể được tiến hành ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm hay ở thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Việc ĐCGQVADS ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm có thể thực hiện trước hoặc trong phiên tòa
Thứ hai, ĐCGQVADS phải dựa trên những căn cứ mà pháp luật đã quy
định trong Bộ luật chứ không được tiến hành tùy tiện theo ý chí chủ quan của Tòa án
Các đương sự có yêu cầu khởi kiện ra Tòa án là nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi ích của mình Vì vậy, khi Tòa án xác định căn cứ ĐCGQVADS không hợp lý có thể dẫn tới quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện, người yêu
Trang 1712
cầu bị xâm phạm nghiêm trọng, quyền tiếp cận công lý của công dân không được đảm bảo Do đó, để đảm bảo việc giải quyết vụ án được khách quan, công bằng và bảo đảm công lý cho người dân; tránh việc lạm dụng những điểm chưa
rõ của quy định pháp luật về ĐCGQVADS dẫn đến vụ án bị ngừng giải quyết thì Tòa án phải tuân thủ đúng các quy định pháp luật về ĐCGQVADS; bởi áp dụng sai sẽ là vi phạm pháp luật dẫn đến vụ án bị hủy và vụ án sẽ được tiếp tục giải quyết theo trình tự, thủ tục luật định gây tốn kém thời gian, chi phí
Thứ ba, ĐCGQVADS là ngừng hẳn các hoạt động tố tụng để giải quyết
một vụ án cụ thể Lúc này sẽ chấm dứt cả về mặt thủ tục tố tụng lẫn giải quyết nội dung VADS; không được khôi phục lại, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Đặc điểm này của ĐCGQVADS là đặc điểm quan trọng, thể hiện rõ nét nhất bản chất của đình chỉ vụ án Là nét đặc trưng nhất để phân biệt
ĐCGQVADS với “Tạm đình chỉ” giải quyết VADS Việc ĐCGQVADS là Tòa
án “ ngừng hẳn” hay chấm dứt hoàn toàn công việc của Tòa để giải quyết yêu
cầu khởi kiện, những tranh chấp của đương sự (hay còn gọi là vụ án) Nghĩa là
vụ án được thụ lý sẽ bị ngừng lại với thời gian vĩnh viễn, không hạn định và không được giải quyết về nội dung; Còn tạm đình chỉ VADS thì VADS sau khi
có quyết định tạm đình chỉ sẽ bị “tạm ngừng” một thời gian khi có căn cứ theo
luật định, việc tạm ngừng sẽ chấm dứt và khi lý do tạm đình chỉ không còn thì Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án đó theo quy định của pháp luật dẫn đến nội dung vụ án vẫn được tiếp tục giải quyết sau khi được phục hồi giải quyết vụ
án
Do đó, dẫn đến sự khác nhau về hậu quả pháp lý đó là: Vụ án sau khi có quyết định đình chỉ giải quyết sẽ bị chấm dứt hoàn toàn việc giải quyết về cả thủ tục và việc giải quyết về mặt nội dung Hơn nữa, đương sự trong vụ án không có quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án trừ trường hợp khác mà luật quy định Còn tạm đình chỉ chỉ làm tạm ngưng hoạt động tố tụng và vụ án về mặt nội dung vẫn đang được Tòa án giải quyết
Thứ tư, Quyết định ĐCGQVADS tuy làm chấm dứt việc giải quyết VADS
ở một giai đoạn tố tụng nào đó nhưng nó không phải là một quyết định đưa ra nhận định về nội dung VADS mà Tòa án đã thụ lý
Trang 1813
VADS được thụ lý tại Tòa án và được giải quyết bằng Bản án, quyết định công nhận thỏa thuận hoặc quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Trong đó, Bản
án và quyết định công nhận sự thỏa thuận của Tòa án là nhận định của Tòa án
về nội dung vụ án như xác định yêu cầu khởi kiện của đương sự, quan hệ tranh chấp và nêu quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật Theo đó, khi nội dung vụ án đã được giải quyết tại Bản án và quyết định công nhận thỏa thuận thì mặc nhiên vụ án được chấm dứt và đã được giải quyết xong Còn với quyết định ĐCGQVADS thì khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dẫn đến Tòa án phải
ra quyết định đình chỉ có nghĩa là Tòa án không tiến hành các thủ tục để giải quyết yêu cầu khởi kiện, xác định quan hệ tranh chấp, làm rõ sự thật của vụ án,
áp dụng các quy định của pháp luật để đưa ra hướng giải quyết vụ án (thuộc về giải quyết nội dung vụ án) nữa
Thứ năm, ĐCGQVADS có thể được tiến hành ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm,
giám đốc thẩm và tái thẩm
Trong tố tụng dân sự thì ĐCGQVADS có thể được tiến hành ở các cấp sơ thẩm, ở cấp phúc thẩm và cả cấp giám đốc thẩm, tái thẩm Do có những sự kiện phát sinh trong quá trình giải quyết mà VADS có thể bị ngừng lại và buộc Tòa
án phải ra quyết định đình chỉ và vụ án đó không bị giới hạn là ở giai đoạn tố tụng nào mới có thể được ban hành quyết định đình chỉ mà có thể ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình tố tụng
Điểm khác biệt cơ bản của đình chỉ và tạm đình chỉ đó là Tạm đình chỉ giải quyết VADS chỉ có thể được tiến hành ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm; Còn đình chỉ giải quyết VADS thì được tiến hành ở cả cấp sơ thẩm, phúc thẩm và Giám đốc thẩm, tái thẩm
1.1.3 Ý nghĩa của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Những quy định về ĐCGQVADS được các nhà làm luật đưa ra với mục đích nhằm dự liệu những trường hợp bắt buộc phải chấm dứt và ngừng giải quyết VADS như có thể là khắc phục được những sai lầm của Tòa án cho việc thụ lý
vụ án không đúng đem lại và đồng thời cũng góp phần làm cho giải quyết vụ án được khách quan, chính xác, đúng quy định của pháp luật Ngoài ra, đối với những trường hợp vụ án đã được Tòa án thụ lý theo đúng quy định của pháp luật nhưng trong quá trình tiến hành các trình tự, thủ tục để giải quyết vụ án thì phát sinh những căn cứ như đối tượng khởi kiện không còn hoặc suy đoán là không còn tồn tại thì Tòa án phải ra quyết định đình chỉ vụ án Mục đích là giúp cho Tòa án đưa ra phương hướng và quyết định nhanh chóng để kết thúc vụ án, kết
Trang 1914
thúc nghĩa vụ về tố tụng của đương sự và giải phóng cho các đương sự đặc biệt
là bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không phải tham gia tố tụng tại Tòa án các cấp11
ĐCGQVADS làm giảm bớt chi phí tố tụng cho đương sự khi việc tiến hành
tố tụng không còn cần thiết nữa khi mà đương sự có thể tự hòa giải với nhau hoặc được Tòa án hòa giải đã tự tìm được phương hướng giải quyết cho vụ việc
và không cần thiết phải có quyết định hay bản án của Tòa án Do đó có ý nghĩa
là tạo điều kiện cho các đương sự không tốn kém về mặt thời gian đi lại, làm việc; hơn nữa là tốn kém chi phí tố tụng, án phí, lệ phí phải nộp vào ngân sách nhà nước (đối với những tranh chấp về tài sản thì khoản tiền chi phí tố tụng và
án phí, lệ phí phải nộp cũng không hề nhỏ)
Bên cạnh đó, cũng còn ý nghĩa bảo đảm quyền tự định đoạt của các đương
sự, đảm bảo nguyên tắc tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Đối với
VADS thì về bản chất đó là sự thỏa thuận của các bên và như câu nói “việc dân
sự cốt ở đôi bên” Vì vậy trên tinh thần đó thì trong tố tụng dân sự các đương sự
có quyền tự định đoạt Theo “1 Ðương sự có quyền quyết định việc khởi kiện,
yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự….2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.” 12 Khi đương sự tự nguyên chấm các yêu cầu của mình và rút
yêu cầu khởi kiện của mình thì làm cho đối tượng khởi kiện tại Tòa án không còn nữa nên Tòa án ra quyết định ĐCGQVADS để đảm bảo nguyên tắc trên Việc ĐCGQVADS cũng có ý nghĩa thực tiễn giúp cho Nhà nước mà cụ thể
là Tòa án tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí Khi Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS một cách đúng đắn sẽ làm quá trình giải quyết vụ việc nhanh gọn, Tòa án không phải kéo dài thời giải giải quyết vụ việc, thậm chí không phải mở phiên tòa, phiên họp để giải quyết vụ việc Nhờ đó gánh nặng về
số VADS cần phải giải quyết được giảm tải, Tòa án có điều kiện tập trung giải quyết các vụ việc phức tạp khác để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xét
xử
1.2 Khái quát Lịch sử phát triển các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
11 Thạc sỹ Nguyễn Bích Thảo, Giáo trình bộ luật tố tụng dân sự việt Nam, Khoa Luật trường đại học quốc gia
Hà Nội năm 2014, NXB đại học quốc gia Hà Nội, Trang 256
12 Xem tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 2015
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959
Sau Cách mạng tháng 8/1945, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 cho giữ tạm thời các luật lệ hiện hành của chế độ cũ Tại Điều thứ 1
có quy định: “Cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi
nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này ” 13 Tiếp đó, ngày 24/01/1946 ban hành Sắc lệnh số 13 tổ
chức các toà án và các ngạch thẩm phán, ngày 17 tháng 04 năm 1946 ban hành Sắc lệnh số 51 phân công thẩm quyền giữ các Tòa án và nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán; Sắc lệnh số 130 ngày 19/7/1946 về ấn định thể thức thi hành án, Sắc lệnh số 185-SL ngày 26/5/1948 về ấn định thẩm quyền của các Tòa án sơ cấp và đệ nhị cấp; Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp
và luật tố tụng, Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/01/1950 quy định đề ly hôn v.v Ngoài các văn bản này hầu như Nhà nước không có ban hành văn bản nào quy định về thủ tục tố tụng dân sự và do vậy, cũng không có những quy định riêng về vấn đề đình chỉ giải quyết VVDS Có thể hiểu đây là giai đoạn trong tình hình khẩn trương của cuộc kháng chiến chống Pháp, các Tòa án chỉ tập trung xét xử các vụ án về hình sự mà không giải quyết các tranh chấp về dân sự Tuy nhiên, vấn đề đình chỉ giải quyết các việc hộ và thương mại trong tình thế đặc biệt đã được đề cập trong Thông lệnh số 12 – NV-CT ngày 29/12/1946 của Bộ
Tư pháp về tổ chức tư pháp, theo đó: “ Nếu vì một lẽ gì, Tòa án thường không
thể tiếp tục công việc xử án được, việc xét xử những phạm pháp sẽ do quyết định của Ủy ban bảo vệ khu và giao cho Tòa án quân sự Còn xử các việc hộ hoặc thương mại sẽ đình chỉ, trừ những việc cấp tốc thì sẽ do Hội thẩm chuyên môn
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam lúc đó là củng cố Nhà nước dân chủ nhân dân, khôi phục và cải tạo kinh tế ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước, Nhà nước ta đã cho xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật nhằm đáp ứng tình hình lúc đó Để chấm dứt việc áp dụng các luật lệ cũ ban hành trước năm 1945 còn được tạm giữ theo Sắc lệnh 47 ngày 10/10/1945, Bộ Tư pháp đã
ra Thông tư số 19-VHH ngày 30/6/1955 và Thông tư số 2140-VHH/HS ngày 6/12/1955; TANDTC đã ra Chỉ thị số 772-NC ngày 10/7/1959 đình chỉ việc áp
13 Điều 1, Sắc lệnh của chủ tịch Chính phủ lâm thời số 47 ngày 10/1/1945
Trang 2116
dụng luật pháp cũ của đế quốc, phong kiến Tuy nhiên, thời kỳ này có rất ít các văn bản quy định về thủ tục tố tụng dân sự và nếu có thì cũng chỉ là một số hướng dẫn thủ tục về giải quyết việc ly hôn, mà không có những quy định riêng về vấn
đề ĐCGQVADS15
Ở miền Nam chính quyền Sài Gòn vẫn cho áp dụng luật lệ cũ được ban hành từ thời Pháp thuộc Tuy nhiên, có ban hành một số văn bản để quy định, giải thích những chỗ vướng mắc
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989
Sau khi Hiến pháp năm 1959 được ban hành thì Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 1960 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân cũng được ban hành Trong thời kỳ này, các văn bản pháp luật tố tụng được coi là cơ sở pháp lý cho hoạt động giải quyết VADS tại Tòa án, chủ yếu dưới dạng các công văn, chỉ thị và đặc biệt là các thông tư do TANDTC ban hành Ví dụ như Thông tư số 1080-TC ngày 25/9/1961 của TANDTC hướng dẫn việc thực hiện thẩm quyền mới của Tòa án nhân dân thuộc tỉnh, thị xã, huyện, khu phố; Thông tư số 2421-TC ngày 29/12/1961 của TANDTC về việc thực hiện chế định Hội thẩm nhân dân Vấn
đề đình chỉ giải quyết VVDS đã được quy định tại Thông tư số 39-NCPL ngày 21/1/1972 của TANDTC hướng dẫn việc thụ lý, di lý, xếp và tạm xếp những vụ kiện về hôn nhân và gia đình, tranh chấp về dân sự (thời kỳ này VADS bao hàm
cả vụ kiện về hôn nhân gia đình, tranh chấp về dân sự và những việc không có tranh chấp; xếp việc kiện được hiểu như đình chỉ giải quyết vụ kiện) Trong Thông tư này quy định rất cụ thể những trường hợp phải xếp vụ kiện, thẩm quyền
và thủ tục xếp vụ kiện Theo Mục A của Thông tư này thì Tòa án được xếp vụ kiện trong trường hợp đương sự đi kiện về một việc mà trước đó Tòa án đã giải quyết rồi, có một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, vụ kiện sau không khác vụ kiện trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ tranh chấp; đương
sự tự nguyện rút đơn khởi kiện trong phiên tòa và việc rút đơn đó được Tòa án công nhận; một bên đương sự chết mà quan hệ pháp luật không được phép thừa
kế Hậu quả của việc xếp một vụ kiện về dân sự là Tòa án xóa sổ thụ lý vụ kiện
và sau đó đương sự không có quyền đi kiện lại về việc đó nữa, nếu việc kiện sau không khác gì việc kiện trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật tranh
15 Trần Thị Ngọc Trang, Luận Văn Đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự trong bộ luật tố tụng dân sự hiện hành, Khoa Luật trường Đại học quốc gia Hà Nội (2015), trang 29 và trang 30
Trang 2217
chấp Đây là những quy định mang tính tiền đề cho việc xây dựng các quy định
về đình chỉ giải quyết VADS của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam sau này16
Ở miền Nam, ngày 20 tháng 12 năm 1972, chính quyền Sài Gòn ban hành BLDS và Thương sự tố tụng Theo quy định tại Điều 54 BLDS và Thương sự tố
tụng năm 1972 của chính quyền Sài Gòn thì: “Nếu nguyên đơn từ trần sau khi
nạp đơn khởi tố, vụ kiện sẽ được bôi bỏ, ngoại trừ trường hợp có thừa kế của người quá cố tự ý dự sự để tiếp tục vụ kiện, hoặc có bị đơn phản tố đòi họ ra dự sự ” 17 Đây là trường hợp Tòa án chấm dứt việc giải quyết vụ kiện do nguyên
đơn chết mà không có người thừa kế tiếp tục tham gia tố tụng
1.2.3 Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004
Trong giai đoạn này với đường lối chỉ đạo của Đảng tại Đại hội Đảng khóa
IV nhằm đổi mục tiêu đổi mới toàn diện trong đó có đổi mới hệ thống pháp luật với sự ra đời của PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT và PLTTGQCTCLĐ nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp về dân sự, kinh tế, lao động Các Pháp lệnh này đã kế thừa và phát triển những quy định về thủ tục tố tụng dân sự trước đó
Vấn đề ĐCGQVADS được quy định tại Điều 46 của Pháp lệnh này Ngoài
ra, TANDTC cũng ban hành những văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định của PLTTGQCVADS trong đó có quy định ĐCGQVADS Cụ thể là Nghị quyết
số 03/NQ-HĐTP ngày 19/10/1990 của HĐTPTANDTC hướng dẫn áp dụng một
số quy định của PLTTGQCVADS, Công văn số 124/NCPL ngày 13/12/1991 của TANDTC giải thích một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự
Điều 46 PLTTGQCVADS đã khái quát được các trường hợp được coi là căn
cứ mà Toà án có thể ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS Các căn cứ này tương đối phù hợp với cơ sở khoa học lý luận về xây dựng các căn cứ đình chỉ giải quyết VADS đã trình bày ở phần trên Hậu quả của việc đình chỉ được hướng dẫn tại Mục IX Nghị quyết số 03/NQ- HĐTP nêu trên Cụ thể: Nếu Toà án đã đình chỉ giải quyết VADS đối với các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 46 của Pháp lệnh thì đương sự không có quyền khởi kiện lại nữa, nếu Toà án đã đình chỉ do đương sự đã tự hoà giải được, người khởi kiện rút đơn khởi kiện, Viện kiểm sát rút quyết định khởi tố vụ án trong trường hợp không có nguyên
Trang 23cứ về đình chỉ giải quyết VAKT, VALĐ đó là “Đã có quyết định của Toà án mở
thủ tục giải quyết đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp mà doanh nghiệp đó
là đương sự của vụ án” 19
1.2.4 Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015
Năm 2004 là năm đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật tố tụng Việt Nam và đặc biệt những quy định về ĐCGQVADS cũng có sự thay đổi một cách hoàn thiện với sự kiện ngày 15/6/2004 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại kỳ họp thứ 5 khoá XI đã thông qua BLTTDS Các quy định của BLTTDS về vấn đề đình chỉ giải quyết các VADS được xây dựng trên cơ sở kế thừa, phát triển các quy định của ba pháp lệnh về thủ tục tố tụng trước đó Vấn
đề ĐCGQVADS được quy định tương đối cụ thể tại các điều từ Điều 192 đến Điều 194 và Điều 311 BLTTDS Ngoài ra, vấn đề đình chỉ giải quyết các VADS cũng được hướng dẫn tại các Nghị quyết của HĐTPTANDTC như:
- Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của HĐTPTANDTC
hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung
của BLTTDS năm 2004.”
- Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của HĐTPTANDTC
hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án
tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS
19 Xem tại điểm g khoản 1 Điều 39 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế số 31-L/CTN của UBTVQH ngày 29/03/1994 và Điểm e khoản 1 Điều 41Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động số 48-L/CTN của UBTVQH ngày 11/4/1996
Trang 2419
- Nghị quyết số 05/2006/NQ- HĐTP ngày 04/8/2006 của HĐTPTANDTC
hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ ba “ thủ tục giải quyết vụ án tại
Tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS
Nhằm khắc phục những hạn chế trong quy định tại BLTTDS năm 2004, tại
Kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/3/2011, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung bộ luật tố tụng dân sự và Luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng
01 năm 2012 Những quy định về ĐCGQVADS được sửa đổi để bảo đảm tính khả thi và tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất với hệ thống pháp luật chung Cụ
thể như căn cứ trả lại đơn khởi kiện theo Khoản 1 Điều 168 BLTTDS: “Thời
hiệu khởi kiện đã hết” đã bị bãi bỏ thay bằng căn cứ: “Thời hiệu khởi kiện đã hết” và “Các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 168 của Bộ luật này mà Tòa
án đã thụ lý” là các căn cứ để Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án; sửa đổi, bổ sung
quy định về quyền khởi kiện lại khi Tòa án đã quyết định ĐCGQVADS để đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dân như trường hợp Tòa án đình chỉ vụ án
do chưa đủ điều kiện khởi kiện, người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì đương sự sẽ có quyền khởi kiện lại khi đã khắc phục được lý do
và tuy vẫn cùng nguyên đơn, bị đơn và quan hệ tranh chấp nhưng có tình tiết mới khác với lần khởi kiện ban đầu Luật sửa đổi bổ sung bộ luật tố tụng dân sự cũng quy định bổ sung trường hợp không có quyền khởi kiện lại Ngoài ra, các quy định về việc xử lý tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong Luật sửa đổi bổ sung bộ luật tố tụng dân sự thể hiện sự rõ ràng, khoa học hơn so với BLTTDS năm 2004; tùy thuộc từng trường hợp khác nhau mà việc xử lý tiền tạm ứng án phí đó cũng khác nhau Cùng với việc ban hành Luật sửa đổi bổ sung bộ luật tố tụng dân sự, HĐTPTANDTC đã ban hành các nghị quyết hướng dẫn thực hiện đối với Luật này:
- Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định
trong phần thứ hai:“Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa cấp sơ thẩmcủa BLTTDS đã
được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS”
(Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP)
- Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong
phần thứ ba:“Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa cấp phúc thẩm của BLTTDS đã
được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS ”
(Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP)
Trang 2520
Mặc dù đã có những sửa đổi quy định pháp luật về ĐCGQVADS đã có những kết quả tích cực nhưng trong quá trình áp dụng trong thực tiễn cho thấy Luật sửa đổi bổ sung bộ luật tố tụng dân sự vẫn bộc lộc những hạn chế nhất định khiến việc thực thi pháp luật không đồng nhất và gặp nhiều khó khăn; thiếu quy định để điều chỉnh những trường hợp mới phát sinh gây ra sự lúng túng cho công tác giải quyết vụ án
1.2.5 Từ năm 2015 đến nay
Hiện nay, sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành và có hiệu lực đã đặt
ra yêu cầu cần phải sửa đổi, bổ sung toàn diện BLTTDS nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối chính sách của Đảng về cải cách tư pháp, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp nhằm đảm bảo sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật, đặc biệt
là Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, khắc phục các hạn chế, tăng cường tranh tụng, bảo đảm tính công khai, dân chủ, công bằng, tạo thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong quá trình tham gia tố tụng, bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mình Do vậy, Nhà nước ta đã cho ban hành BLTTDS năm 2015 Trong BLTTDS quy định khá cụ thể và chi tiết tại các điều 214, 215, 217, 289 Theo đó, các quy định này đã kế thừa cơ bản các căn
cứ, thủ tục ĐCGQVADS tại Điều 192 BLTTDS 2004, sửa đổi năm 2011, quy định về việc gửi quyết định đình chỉ giải quyết vụ án tại khoản 2 Điều 194 BLTTDS 2004 cũng như kế thừa các quy định về đình chỉ đối với yêu cầu một phần, thay đổi địa vị tố tụng tại khoản 2 Điều 218, Điều 219 BLTTDS 2004, sửa đổi 2011 như: Căn cứ đình chỉ như trường hợp đương sự có yêu cầu tố tụng nhưng không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá và chi phí khác theo quy định;
Bổ sung tại khoản 3 về việc Tòa án phải sao chụp và lưu lại đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo khi đình chỉ giải quyết vụ án; Bổ sung quy định tại khoản 4 về việc Tòa án xét xử sơ thẩm lại vụ án (sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm) phải đồng giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án; Bổ sung quy định
về trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc được triệu tập đến lần thứ hai
mà vẫn vắng mặt không có lý do thì phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Về cơ bản, những quy định này đã khắc phục được những thiếu sót, hạn chế trong quy định về ĐCGQVADS so với những quy định
cũ
Trang 2621
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
ĐCGQVADS là một trong những chế định quan trọng trong BLTTDS giúp những người tiến hành tố tụng có căn cứ để giải quyết đúng đắn những tình huống xảy ra trong thực tế giải quyết vụ án, khắc phục được những sai lầm của Tòa án trong việc thụ lý giải quyết vụ án, là cách giải quyết đúng đắn nhằm giúp cho các đương sự không phải tiếp tục theo đuổi vụ kiện để tốn thời gian và sức lực của họ nên tiết kiệm được thời gian, tiền bạc cho cả Nhà nước, đồng thời đảm bảo được quyền tự định đoạt của họ cũng là bảo vệ công lý và bảo vệ quyền lợi chính đáng của con người mà cụ thể là người công dân Với vai trò hết sức quan trọng như vậy dẫn đến việc quy định của pháp luật về ĐCGQVADS phải
cụ thể, đầy đủ, chặt chẽ Vì vậy, Nhà nước ta ngay từ khi ban hành pháp luật đã chú trọng tới việc ban hành các quy định liên quan đến ĐCGQVADS mặc dù còn sơ sài Trải qua quá trính phát triển của đất nước, với sự thay đổi về tình hình xã hội, kinh tế qua từng thời kỳ thì những quy định của pháp luật về ĐCGQVADS được Nhà nước ta ban hành cũng phát triển và ngày càng hoàn thiện hơn để phù hợp với tình hình thực tế của đời sống xã hội Đánh dấu sự phát triển cao nhất và vượt bậc của pháp luật tố tụng dân sự nước ta là sự ra đời của BLTTDS năm 2015 với những quy pháp luật về ĐCGQVADS cũng được hoàn thiện góp phần to lớn trên con đường cải cải tư pháp của nước ta trong giai đoạn hiện nay và cũng góp phần vào công cuộc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người dân nói chung và đảm bảo pháp chế Xã hội chủ nghĩa nói chung
Trang 2722
CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CHỈ
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
2.1 Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm
2.1.1 Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm
BLTTDS 2015 đã kế thừa chọn lọc các quy định tại Điều 192 BLTTDS
2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 và đồng thời bổ sung những quy định mới để phù hợp với thực tế giải quyết vụ án Trước tiên là quy định về căn cứ để ĐCGQVADS:
- Căn cứ thứ nhất, nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế (điểm a, khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015)
Căn cứ này được hiểu là: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn hoặc
bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ tố tụng do tính chất đặc biệt của quan hệ pháp luật tranh chấp (quan hệ nhân thân, quan hệ cấp dưỡng) nên không được chuyển giao cho chủ thể khác Sự kiện đương sự chết làm đối tượng cần phải giải quyết không còn tồn tại dẫn đến Tòa án sẽ ĐCGQVADS
Ví dụ: Một số loại tranh chấp dân sự mà quyền và nghĩa vụ của đương
sự gắn liền với quyền nhân thân như: Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ;
Quy định trên xuất phát từ cơ sở lý luận là quyền, nghĩa vụ của đương sự chết là quyền, nghĩa vụ gắn liền với tính nhân thân Theo Điều 25 BLDS năm
2015 thì quyền nhân thân là quyền dân sự gắn với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật liên quan có quy định khác Do
đó, trong quá trình Toà án đang tiến hành giải quyết vụ án nếu nguyên đơn hoặc
bị đơn là cá nhân chết sẽ làm cho đối tượng giải quyết vụ án của Toà án không còn nên Toà án phải ra quyết định ĐCGQVADS Vì thế, trường hợp theo điểm
a Điều 217 BLTTDS phù hợp với các vụ việc có một hay nhiều quan hệ nhân thân cần giải quyết như ly hôn, giải quyết vấn đề nuôi con và cấp dưỡng,…
Tuy nhiên,quy định tại điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS chỉ được áp dụng khi giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự gắn liền với quyền nhân thân; còn đối với vụ án có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp như vừa có quan hệ nhân thân, vừa có quan hệ tài sản (ly hôn, chia tài sản của hai vợ chồng đồng
Trang 2823
thời giải quyết yêu cầu của chủ nợ với vợ chồng,… ) thì một trong các đương sự chết thì Tòa án không được áp dụng điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS để đình chỉ giải quyết vụ án mà vẫn phải tiếp tục giải quyết vụ án, chỉ đình chỉ giải quyết yêu cầu về quan hệ về nhân thân20
Ví dụ: Một số loại tranh chấp dân sự mà quyền và nghĩa vụ của đương
sự gắn liền với quyền tài sản như: Kiện đòi tài sản, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng vay tài sản,…
Đối với trường hợp tranh chấp về quyền tài sản mà nguyên đơn hoặc bị đơn
là cá nhân chết và họ không có người thừa kế hoặc có những người thừa kế nhưng những người thừa kế thuộc trường hợp người không được quyền hưởng
di sản thừa kế (bị tước quyền thừa kế) theo quy định tại Điều 621 BLDS 2015 hoặc người thừa kế từ chối nhận di sản thừa kế theo Điều 620 BLDS 2015 thì Tòa án không được ra quyết định ĐCGQVADS theo điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS với lý do không có, không xác định được ai là người kế thừa quyền và nghĩa vụ cho nguyên đơn (hoặc bị đơn) đã chết theo quy định tại Điều 74 BLTTDS Trong trường hợp này Tòa án vẫn phải tiếp tục giải quyết vụ án bởi căn cứ theo Điều 644 BLDS 2015 thì di sản thừa kế thuộc về Nhà nước Cụ thể Tòa án phải đưa Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng Tùy từng loại di sản thừa kế cụ thể mà Nhà nước ở đây chính là các cơ quan nhà nước trung ương, địa phương có liên quan sẽ cử đại diện trực tiếp tham gia quá trình tố tụng tại Tòa án với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn (hoặc bị đơn) đã chết
Ví dụ: A (nguyên đơn) khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc B (bị đơn) phải trả
lại cho mình quyền sử dụng đất đối với thửa đất mà B đang sử dụng trái phép Quá trình giải quyết vụ án, A chết Tòa án tiến hành xác minh và xác định A không có người thừa kế (không có người thừa kế ở các hàng thừa kế) Theo quy định tại Điều 622 BLDS 2015 thì di sản thừa kế thuộc về Nhà nước Trong trường hợp này, Tòa án có thể đưa Ủy ban nhân dân huyện nơi có thửa đất đang tranh chấp vào tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng cho nguyên đơn trong vụ án
Trang 29- Căn cứ thứ hai, đối với căn cứ cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản
mà không có cơ quan tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó (điểm b, khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015)
Trong quá trình giải quyết vụ án mà một trong các bên đương sự là cơ quan,
tổ chức đã bị giải thể hoặc phá sản thì sẽ làm chấm dứt tư cách pháp lý, chấm dứt mọi hoạt động trên thực tế và chấm dứt quyền, nghĩa vụ của của cơ quan, tổ chức đó Tùy từng cơ quan, tổ chức mà trình tự thủ tục giải thể, phá sản được quy định riêng biệt trong pháp luật chuyên ngành (VD: Luật doanh nghiệp quy định trình tự giải thể đối với các doanh nghiệp bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân; Nghị định
số 55/2012/NĐ-CP nghị định Chính phủ ngày 28/6/2012 quy định về thành lập,
tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập; Luật phá sản năm 2014 quy định
về trình tự, thủ tục nộp đơn, thụ lý và mở thủ tục phá sản; Xác định nghĩa vụ về tài sản và biện pháp bảo toàn tài sản trong quá trình giải quyết phá sản; thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; tuyên bố phá sản và thi hành quyết định tuyên
bố phá sản áp dụng đối với doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã…) Khi cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản, nếu không có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của các cơ quan, tổ chức này để tiếp tục quá trình tố tụng thì Tòa án sẽ ra quyết định ĐCGQVADS
Căn cứ trên khác với căn cứ “tạm đình chỉ” giải quyết vụ án được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015: “….Đương sự là…cơ quan, tổ chức
đã hợp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể mà chưa có cơ quan tổ chức, cá nhân
kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó” Điểm khác biệt cơ
bản nằm ở hai thuật ngữ là “chưa có” cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền
và nghĩa vụ tố tụng và “không có” cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng Sự khác biệt giữa “có” và “không có” sẽ là căn cứ để quyết
định việc Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ hay quyết định ĐCGQVADS:
Trường hợp “không có” cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền và nghĩa
21 Trần Thị Ngọc Trang, Luận Văn thạc sỹ luật học “Đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự trong bộ luật tố tụng
dân sự hiện hành”, Khoa luật trường đại học quốc gia Hà Nội (2015), trang 52
Trang 3025
vụ tố tụng thì việc giải quyết vụ án bị chấm dứt và Tòa án phải ra quyết định tạm
ĐCGQVADS và trường hợp “chưa có” cơ quan, tổ chức, cá nhân nào thừa kế
quyền và nghĩa vụ tố tụng thì cần tạm đình chỉ giải quyết vụ án để có thời gian xác định chủ thể kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng22
Tại điểm a Khoản 2 Điều 74 BLTTDS 2015: “Trường hợp tổ chức phải chấm
dứt hoạt động, bị giải thể là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty hợp danh thì cá nhân, tổ chức là thành viên của tổ chức đó hoặc đại diện của
họ tham gia tố tụng” Vậy công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
hợp danh “chấm dứt hoạt động” có đồng nghĩa với việc các công ty này bị tuyên
bố phá sản? Đối với các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh bị tuyên bố phá sản có thể áp dụng điểm a khoản 2 Điều 74 về kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng? Tòa án có thể đình chỉ giải quyết vụ án không?
- Đối với trường hợp doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh bị tuyên bố
phá sản thì theo quy định tại Khoản 1 Điều 110 Luật Phá sản năm 2014: “Quyết
định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản quy định tại các điều 105, 106 và
107 của Luật này không miễn trừ nghĩa vụ về tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh đối với chủ nợ chưa được thanh toán nợ, trừ trường hợp người tham gia thủ tục phá sản có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” Do vậy, trong trường hợp này, vẫn đặt ra vấn đề kế
thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của chủ doanh nghiệp hoặc thành viên hợp danh Các chủ nợ chưa được thanh toán nợ thông qua thủ tục phá sản vẫn có thể khởi kiện để đòi nợ và Toà án không áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 192 BLTTDS để đình chỉ giải quyết vụ án
- Đối với trường hợp công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần bị tuyên
bố phá sản thì các thành viên, cổ đông của các công ty này vẫn có nghĩa vụ về tài sản đối với các chủ nợ chưa được thanh toán nợ tương ứng với phần tài sản mà mình đã nhận Theo quan điểm này, trong trường hợp công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần bị tuyên bố phá sản mà các chủ nợ vẫn khởi kiện đòi nợ thì Toà án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án mà không ra quyết định ĐCGQVA.Tuy nhiên,
về phương diện lý luận, việc Toà án ra quyết định tuyên bố phá sản đối với các
22 Phạm Hải Tâm, Trường đại học Luật Hà Nội ( 2010), Luận văn thạc sĩ luật học “Tạm đình chỉ, đình chỉ giải
quyết vụ việc dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2004”, trang 43-53
Trang 3126
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn đã làm chấm dứt tư cách pháp lý
của các công ty này Theo Khoản 1 Điều 51 Luật Phá sản thì “Trong thời hạn 30
ngày kể từ ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản, chủ nợ phải gửi giấy đòi nợ cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản” Như
vậy, theo quy định này, trong trường hợp Toà án ra quyết định tuyên bố phá sản đối với các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thì các chủ nợ chưa tham gia vào việc đòi nợ theo thủ tục phá sản bị coi là từ bỏ quyền đòi nợ, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan
Mặt khác, Điều 110 Luật Phá sản hiện nay cũng chỉ quy định nghĩa vụ về tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh đối với chủ nợ chưa được thanh toán nợ mà không đặt ra nghĩa vụ về tài sản của các thành viên của công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản
nợ này khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản Do vậy, khi công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần bị tuyên bố phá sản thì tư cách chủ thể sẽ chấm dứt, các thành viên của các công ty này cũng không có nghĩa vụ về tài sản đối với các chủ
nợ chưa được thanh toán nợ Trong trường hợp các chủ nợ chưa tham gia đòi nợ thông qua thủ tục phá sản khởi kiện công ty để đòi nợ mà Toà án đã thụ lý thì có thể coi đây là trường hợp công ty bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án 23
- Căn cứ thứ ba, người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc
nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan (điểm c, khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015)
+ Trường hợp người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện:
Sự kiện người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện dẫn tới đối tượng cần giải quyết trong vụ án không còn tồn tại, việc giải quyết vụ án của Tòa án vì thế chấm dứt BLTTDS 2015 đã thay đổi rất hợp lý và khắc phục được hạn chế của
Bộ luật cũ khi quy định “người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện” thay vì chỉ cần điều kiện “người khởi kiện rút đơn khởi kiện” như trước đây Như vậy,
ngôn từ trong điều luật đã được rõ ràng dẫn đến dễ dàng trong áp dụng pháp luật cho Tòa án Về lý luận và trên thực tế Tòa án chỉ ra quyết định đình chỉ giải
23 Trần Thị Ngọc Trang, Luận Văn thạc sỹ luật học “Đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự trong bộ luật tố tụng
dân sự hiện hành”, Khoa luật trường đại học quốc gia Hà Nội (2015) , trang 35
Trang 3227
quyết vụ án khi người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên điều kiện
“được Tòa án chấp nhận” trong luật cũ là thừa.24
Tuy nhiên, quy định này chỉ áp dụng với những yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà không có yêu cầu phản tố của bị đơn, người yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trong thực tế, đối với những VADS mà chỉ có người khởi kiện rút yêu cầu nhưng đương sự khác vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình thì Tòa án không ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án mà chỉ có thể quyết định đình chỉ giải quyết với yêu cầu của đương sự đã rút Có nghĩa là: Tòa
án chỉ đình chỉ giải quyết một phần vụ án chứ không phải là đình chỉ giải quyết toàn bộ vụ án Việc đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp có nhiều yêu cầu
tố tụng chỉ thực hiện nếu tất cả các đương sự đều rút yêu cầu của mình làm cho đối tượng của VADS không còn tồn tại.25
Trong thực tiễn giải quyết các VADS tại Tòa án thì điều kiện “Người khởi
kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện…” tại điểm c khoản 1 Điều 217 được áp dụng
nhiều nhất Quá trình áp dụng quy định này tại Tòa án diễn ra thuận lợi đối với
vụ án không có yêu cầu phản tố của bị đơn hay yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trường hợp vụ án có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc
lập thì hướng xử lý tình huống “Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện
hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt…” được
quy định tại khoản 2 Điều 217 BLTTDS 2015 Giải thích rõ hơn về quy định này thì TANDTC đã ban hành hướng dẫn tại mục 7 phần VI Giải đáp số 01/2017/GĐ – TANDTC ngày 7 tháng 4 năm 201726
+ Trường hợp nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ tới lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ được xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan
Trường hợp nguyên đơn đã được triệu tập lần thứ hai được hiểu là Tòa án
đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập lần thứ hai cho nguyên đơn cũng như thông báo
rõ việc thay đổi địa vị tố tụng: Bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn Trường hợp nguyên đơn rút một phần yêu cầu thì Tòa án không ra quyết định đình chỉ riêng mà phải nhận xét trong phần Nhận định của Tòa án trong bản án và quyết định đình chỉ một phần yêu cầu trong phần Quyết định của bản án”
Trang 3328
các văn bản tố tụng yêu cầu nguyên đơn tham gia tố tụng theo đúng các thủ tục
do BLTTDS quy định nhưng nguyên đơn vẫn vắng mặt Theo đó, căn cứ để đình chỉ là Tòa án phải gửi giấy triệu tập hợp lệ và nguyên đơn phải vắng mặt hai lần thì mới được phép đình chỉ vụ án Việc vắng mặt của nguyên đơn trong trường hợp bị đình chỉ đó là việc vắng mặt không lý do chính đáng (không có Đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng hoặc đơn đề nghị xét xử vắng mặt; không thuộc trường hợp vắng mặt do có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan) Việc Nguyên đơn được Tòa án triệu tập lần hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng dẫn tới sự suy đoán là họ đã từ bỏ việc khởi kiện của mình, đối tượng cần phải giải quyết tại Tòa án không còn tồn tại Do vậy, việc giải quyết vụ án ở Tòa án cần được chấm dứt
Đối với trường hợp nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt hoặc có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án
Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động như:
thiên tai, địch họa, nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu…, làm cho Toà án không thể giải quyết được vụ án trong thời hạn quy định (Điểm b Khoản 3 Điều
14 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP) Bất khả khánglà sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã
áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép Ví dụ: Do ốm đau, tại nạn phải nằm điều trị tại bệnh viện…những sự kiện này nằm ngoài tầm kiểm soát của người khởi kiện 27 Do vậy, BLTTDS 2015 bổ sung thêm trường hợp nguyên đơn vắng mặt lần thứ hai do sự kiện bất khả kháng là hợp lý
Căn cứ này có ý nghĩa đó là bảo đảm tối đa quyền lợi ích hợp pháp cho công dân bởi khi nguyên đơn có đơn xin được xét xử vắng mặt có nghĩa là họ vẫn có ý chí, mong muốn được Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật Quy định này là phù hợp với quy định tại điều 227 và 228 BLTTDS năm 2015
- Căn cứ thứ tư, đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết
vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó (điểm d khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015)
Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại điểm d khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 đã kế thừa nguyên bản các quy định tại điểm g khoản 1 Điều 192
27 Trần Thị Ngọc Trang, Luận Văn thạc sỹ luật học “Đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự trong bộ luật tố tụng
dân sự hiện hành”, Khoa luật trường đại học quốc gia Hà Nội (2015), Trang 51
Trang 34ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án Trường hợp Tòa án giải quyết yêu cầu về mở thủ tục phá sản đã có quyết định mở thủ tục phá sản với doanh nghiệp, hợp tác xã thì đây là trường hợp cần ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.28
Quy định này là phù hợp với Điều 71 của Luật phá sản 2014 Việc nghiên cứu cho thấy, nếu có quyết định mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong VADS, kinh doanh, thương mại, lao động mà Tòa án đang giải quyết vụ án đó sẽ đình chỉ giải quyết vụ án kể từ ngày có quyết định ở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã của Tòa án có thẩm quyền đồng thời Tòa án này phải chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án đang tiến hành thủ tục phá sản để giải quyết (khoản 2 Điều 71 luật phá sản 2014) Ngay khi nhận hồ sơ được do Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án chuyển đến, Tòa án đang tiến hành thủ tục phá sản phải xem xét, quyết định nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phải thực hiện hoặc nghĩa vụ tài sản mà đương sự khác phải thực hiện với doanh nghiệp, hợp tác xã (khoản 2 Điều 72 Luật phá sản 2014) Ngay sau khi nhận được hồ sơ của Tòa án
đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án chuyển đến, Tòa án đang tiến hành thủ tục phá sản phải xem xét, quyết định nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phải thực hiện hoặc nghĩa vụ tài sản mà đương
sự khác phải thực hiện đối với doanh nghiệp, hợp tác xã (khoản 2 Điều 72 Luật phá sản 2014) 29
- Căn cứ thứ năm, nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định tại Bộ luật này thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản
Trang 35theo quy định của pháp luật” Tránh trường hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức
lạm dụng quyền khởi kiện, quyền yêu cầu và để nâng cao tinh thần trách nhiệm của đương sự với yêu cầu của mình thì pháp luật tố tụng dân sự đã quy định khi đưa ra yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn phải nộp một khoản tạm ứng án phí dân
sự, biên lai nộp tiền tạm ứng án phí là căn cứ để Tòa án tiến hành thụ lý một VADS Còn trong quá trình giải quyết vụ án, trong những trường hợp luật định
cụ thể tại Điều 164 BLTTDS 201530 thì người yêu cầu định giá tài sản phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản nên nếu người yêu cầu định giá tài sản không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá thì vụ án không thể giải quyết được nên quy định này là phù hợp
Quy định đã được bổ sung nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn xét xử tại Tòa án do đương sự không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá, giám định mặc dù chính đương sự có yêu cầu Tòa án thành lập Hội đồng định giá tài sản hoặc trưng cầu giám định để có cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn vụ
án Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 thì Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nếu nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định.Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Về lý luận, quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 đã không
đề cập tới cách xử lý trong trường hợp vụ án có nhiều yêu cầu tố tụng, trong đó nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá và chi phí định giá khác nhưng bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vẫn thực hiện nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng của mình Xét về thực chất
30 Điều 164 BLTTDS 2015: “1 Người yêu cầu định giá tài sản phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản;
2 Trường hợp các bên đương sự k hông thống nhất được về giá và cùng yêu cầu Tòa án định giá tài sản thì mỗi bên đương sự phải nộp một nửa tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản Trường hợp có nhiều đương sự, thì các bên đương sự cùng phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản theo mức mà Tòa án quyết định; 3 Đối với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 104 của Bộ luật này thì nguyên đơn, người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản”
Trang 3631
thì việc thành lập hội đồng định giá tài sản hoặc trưng cầu giám định chỉ là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án Do vậy, về phương diện lý luận nếu Tòa án vẫn có thể giải quyết vụ án từ các nguồn chứng cứ, tài liệu khác thì không nhất thiết phải đình chỉ vụ án.31
- Căn cứ thứ sáu, đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa
án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện
đã hết (điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015)
Căn cứ này được quy định trên cơ sở kế thừa quy định tại điểm h khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2004, sửa đổi 2011 về đình chỉ giải quyết vụ án và có sự điều chỉnh cần thiết cho phù hợp với quy định với khoản 2 Điều 149 BLTTDS năm
2015, Điều 184 BLTTDS năm 2015 và cũng như các quy định của BLTTDS
2015 về thời hiệu dân sự32 Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định Theo quy định tại Điều 150 BLDS 2015 thì có 04 (bốn) loại thời
hiệu: Thời hiệu hưởng quyền dân sự; Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự; Thời
hiệu khởi kiện; Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự Một trong những điểm
mới quan trọng của BLDS 2015 và BLTTDS 2015 là Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án Như vậy, khi một bên hoặc các bên (đương sự) tham gia tố tụng yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu để giải quyết vụ án đang tranh chấp thì Tòa án mới áp dụng quy định về thời hiệu Kể từ ngày 01/01/2017, một quan
hệ pháp luật dân sự đã hết thời hiệu theo luật định, khi xảy ra tranh chấp và khởi kiện ra Tòa án, nhưng các bên đương sự không ai có yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu thì Tòa án vẫn sẽ tiến hành thụ lý giải quyết vụ án bình thường Trước thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án sơ thẩm, hoặc quyết định giải quyết vụ
án mà có đương sự có yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện thì Tòa án sẽ căn cứ theo điểm e khoản 1 Điều 217 ra quyết định ĐCGQVADS Để áp dụng đúng, chính xác theo đúng tinh thần nội dung của điều luật, khi áp dụng điểm e
khoản 1 Điều 217 Tòa án cần nắm rõ các điểm sau:
Trường hợp áp dụng: Đối với vụ án đã hết thời hiệu khởi kiện
Trang 3732
Loại thời hiệu yêu cầu áp dụng: Khi đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu
khởi kiện
Thời điểm đưa ra yêu cầu: Tại cấp sơ thẩm, trước khi Tòa án cấp sơ thẩm
ra bản án, quyết định giải quyết vụ án (VD: Quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án, quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự)
Ví dụ: Vụ án tranh chấp về thừa kế đã hết thời hiệu khởi kiện, khi nhận
được đơn khởi kiện, Tòa án có thẩm quyền tiến hành thụ lý và thực hiện các công việc giải quyết vụ án bình thường Trong quá trình giải quyết vụ án, trước thời điểm Tòa án ra bản án, quyết định giải quyết vụ án thì nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền yêu cầu Tòa án
áp dụng thời hiệu khởi kiện Khi có yêu cầu áp dụng thời hiệu, Tòa án sẽ xem xét thời hiệu và nếu như thời hiệu khởi kiện đã hết theo quy định của pháp luật thì Tòa án sẽ ĐCGQVADS
Mặt khác, Đây là căn cứ phát sinh trước khi Tòa án thụ lý vụ án nhưng vì thời hiệu khởi kiện có thể bắt đầu lại nên Tòa án vẫn thụ lý vụ án Sau khi đương
sự đã cung cấp đầy đủ chứng cứ nhưng mà không chứng minh được là còn thời hiệu khởi kiện thì Tòa án sẽ ra quyết định ĐCGQVADS là hợp lý Cách quy định này cũng sẽ đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dân được tốt hơn
- Căn cứ thứ bảy, các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý (điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015)
Đây là căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 Theo đó, Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án nếu thuộc các trường hợp phải trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 Đây là trường hợp Tòa án có sự sai lầm trong việc thụ lý vụ án,
cụ thể là Tòa án đã thụ lý vụ án, trong khi lẽ ra cần trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện do việc khởi kiện của họ không thỏa mãn các điều kiện mà pháp luật quy định Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án mới phát hiện việc của mình là không đúng theo quy định pháp luật Do vậy, Tòa án cần khắc phục sai lầm này thông qua việc đình chỉ giải quyết vụ án Theo quy định tại khoản 1 Điều 192 BLTTDS
2015 thì Tòa án nhận đơn cần trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau:
+ Trường hợp người khởi kiện không có quyền khởi kiện:
“Người khởi kiện không có quyền khởi kiện” có thể hiểu là người khởi kiện
đã không có tư cách để thực hiện việc khởi kiện Có nghĩa là chủ thể khởi kiện không có tư cách của nguyên đơn do không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật cần giải quyết, không có tư cách của người đại diện hợp pháp của đương sự
Trang 38Nếu người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì tùy trường hợp mà Tòa án xác định theo quy định của pháp luật cơ quan, tổ chức đó không có quyền khởi kiện Ví dụ: Các bộ phận, đơn vị, văn phòng đại diện của cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ của cơ quan nhà nước phụ thuộc vào cơ quan nhà nước, không phải là pháp nhân, không có quyền khởi kiện VADS Hoặc các tổ chức không phải là pháp nhân và là một bộ phận của tổ chức khác như phòng kế hoạch, phòng tổ chức thuộc Doanh nghiệp hay Tổng công ty, tổ, đội trong Hợp tác xã… thì không được tự mình khởi kiện
Ngoài ra, trong một số trường hợp thì chủ thể có thể không có quyền khởi kiện do bị pháp luật hạn chế (Ví dụ: Đối với trường hợp người vợ đang mang thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn)
Nếu sau khi thụ lý VADS, Tòa án mới phát hiện “Người khởi kiện không
có quyền khởi kiện” thì Tòa án phải ra quyết định đình chỉ vụ án
- Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự:
Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự được hiểu là người không có khả năng tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự Theo quy định tại Khoản 3 Điều 69 BLTTDS 2015 thì một cá nhân chỉ được coi là có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ khi đã từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Chẳng hạn, người khởi kiện là người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong việc làm chủ hành vi, người dưới 15 tuổi Người không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự không thể tự mình tham gia
33 PGS.TS.Trần Anh Tuấn (Chủ biên) (2017), Bình luận Khoa học bộ luật tố tụng dân sự 2015, NXB Tư pháp,
trang 534
Trang 3934
tố tụng mà việc khởi kiện phải do người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện34
Do vậy, trong những hợp khi người không đủ năng lực hành vi tố tụng dân
sự khởi kiện, Tòa án không được thụ lý vụ án mà phải trả lại đơn khởi kiện do họ không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Tuy nhiên, nếu sau khi thụ lý
vụ án, Tòa án mới phát hiện được người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi
tố tụng dân sự thì Tòa án đã thụ lý vụ án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án
- Chưa có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật:
Đây là trường hợp đương sự khởi kiện khi chưa có đủ các điều kiện do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định Ví dụ: Việc chưa thông báo trước việc đòi nhà cho bên thuê theo thỏa thuận của Hợp đồng; Chưa yêu cầu Ủy ban nhân dân xã hòa giải đối với tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất35 Khi Tòa án thụ lý vụ án mới phát hiện được những trường hợp không đủ điều kiện thì Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS
- Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
của tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác:
Về nguyên tắc, đối với mỗi sự việc thì đương sự chỉ được khởi kiện một lần tại Tòa án, trừ một số trường hợp cần bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân Khi sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì quan hệ pháp luật nội dung cần giải quyết được xem xét, quyết định nên các bên không có quyền khởi kiện ra Tòa án một lần nữa Tuy nhiên, trong một số trường hợp đương sự có quyền khởi kiện lại: Trường hợp mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ, hoặc vụ
án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất, cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu.36
36 Phạm Hải Tâm, Trường đại học Luật Hà Nội (2010), Luận văn thạc sĩ luật học “Tạm đình chỉ, đình chỉ giải
quyết vụ việc dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2004”, trang 43-53
Trang 4035
Như vậy, khi sự việc đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì về nguyên tắc Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện nếu không thuộc trường hợp ngoại lệ được pháp luật cho phép khởi kiện lại Nếu sau khi thụ lý vụ án, Tòa án mới phát hiện ra sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực của pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì cần đình chỉ giải quyết vụ án
- Hết thời hạn quy định mà người khởi kiện không nộp Biên lai thu tiền tạm
ứng án phí cho Tòa án:
Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án này được quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 thì trong thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ ngày nhận được giấy Thông báo của Tòa án về việc nộp tạm ứng án phí Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện nếu hết thời hạn trên mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án Trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng thì người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí
Tuy nhiên, để dự trù những trường hợp do Tòa án sơ suất đã không phát hiện được những sai sót mà vẫn thụ lý vụ án khi người khởi kiện chưa nộp biên lai tạm ứng án phí thì trong trường hợp này để khắc phục sai lầm Tòa án phải ra quyết định đình chỉ VADS đó37 Trên thực tế, tại Tòa án nhân dân thì hiếm có trường hợp nào Tòa án thụ lý vụ án khi người khởi kiện chưa nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí Do vậy căn cứ đình chỉ này ít được thực hiện trên thực tế
- Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Xét về mặt lý luận thì đây là trường hợp tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà thuộc thẩm quyền của Trọng tài hoặc một cơ quan Nhà nước khác Do vậy, Tòa án cần trả lại đơn khởi kiện nếu không thuộc thẩm quyền giải quyết Nếu sau khi thụ lý vụ án, Tòa án mới phát hiện ra căn cứ này cần ra