1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chứng minh trong vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

126 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số Vụ án điển hình về các tội phạm xâm hại hoạt động tín dụng ngân hàng tại Việt Nam từ sau khi áp dụng pháp luật từ 1997 trước khi Bộ luật hình sự 1999 áp dụng đến nay 2018 còn có n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ TUẤN HẢI

CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG THEO QUY ĐỊNH CỦA

BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội, 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ TUẤN HẢI

CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG THEO QUY ĐỊNH CỦA

BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 8380101.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC CHÍ

Hà Nội, 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả mới thuộc phần nghiên cứu của tôi đã nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ, nguồn thông tin được tham khảo và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo sử dụng từ nguồn thông tin đã được tổng kết, có độ tin cậy và tính trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất

cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này, đề nghị Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét và cho phép tôi được bảo vệ Luận văn theo quy định

Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo Khoa Luật - Đại học Quốc gia

Hà Nội./

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lê Tuấn Hải

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 7

1.1 Khái niệm chứng minh trong vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng 7

1.1.1 Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng 7

1.1.2 Chủ thể chứng minh, nghĩa vụ chứng minh trong vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng 16

1.1.3 Quá trình chứng minh trong vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng 19

1.2 Đặc điểm của quá trình chứng minh trong vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng 24

1.2.1.Thu thập chứng cứ 24

1.2.1.Kiểm tra chứng cứ 30

1.2.3 Đánh giá chứng cứ 33

1.3.Ý nghĩa của việc chứng minh trong vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng 35

1.3.1 Bảo đảm cho việc giải quyết vụ án một cách khách quan công bằng 35

1.3.2 Bảo đảm quyền con người 37

1.3.3 Đối với sự phát triển kinh tế xã hội 39

Trang 5

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ TỘI PHẠM VÀ CHỨNG MINH TỘI PHẠM THỰC TIỄN CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ XÂM PHẠM TRẬT

TỰ QUẢN LÝ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 41

2.1.Pháp luật về tội phạm xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng theo quy định của BLHS năm 2015 41

2.1.1.Đặc điểm của tội phạm xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng: 41

2.1.2.Cấu thành tội phạm của tội phạm xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng 422.2.Pháp luật về chứng minh trong vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng 59

2.2.1.Pháp luật tố tụng hình sự trước BLTTHS năm 2015 về chứng minh trong vụ án hình sự đối với các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng 59

2.2.2.Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về chứng minh trong vụ án hình

sự đối với các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng 642.3 Thực tiễn chứng minh trong vụ án hình sự đối với các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng 762.4 Một số Vụ án điển hình về các tội phạm xâm hại hoạt động tín dụng ngân hàng tại Việt Nam từ sau khi áp dụng pháp luật từ 1997 (trước khi Bộ luật hình sự 1999 áp dụng) đến nay (2018) còn có những quan điểm khác biệt giữa các Cơ quan tiến hành

tố tụng (Điều tra, Truy tố, Xét Xử) với Luật sư bào chữa, Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và chứng minh áp dụng pháp luật: 832.5 Một số quan điểm chưa thống nhất có liên quan đến chứng minh tội phạm khi các

cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật đối với một số vụ án điển hình về xâm hại trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng nêu trên 89

CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 97

Trang 6

3.1.Nhận định về tình hình tội phạm xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng hiện tại và trong những năm tiếp theo 973.2 Hoàn thiện chính sách và pháp luật của nhà nước 973.2.1 Hoàn thiện chính sách của Đảng, Nhà nước về pháp luật hình sự, tố tụng hình

sự 1003.2.2 Hoàn thiện pháp luật chứng minh trong vụ án hình sự để nâng cao hoạt động tranh tụng trong tố tụng hình sự 1013.2.3.Hoàn thiện quy định của pháp luật có liên quan đến hoạt động ngân hàng 1053.3.Các giải pháp nâng cao hiệu quả chứng minh tội phạm trong vụ án hình sự xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng 1083.3.1.Trang bị cơ sở vật chất và không ngừng nâng cao công tác đào tạo, năng lực trình độ chuyên môn của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng 1083.3.2.Nâng cao năng lực, trình độ của Luật sư và những người tham gia tố tụng 1123.3.3.Tăng cường và mở rộng các hoạt động hợp tác quốc tế 112

KẾT LUẬN 114 TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TT Cụm từ viết tắt Cụm từ dầy đủ

1 BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự

3 CQTHTT Cơ quan tiến hành tố tụng

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê xét xử hình sự sơ thẩm về các tội phạm trong lĩnh vực 80ngân hàng trong giai đoạn 10 năm (2009 - 2018) 80Bảng 2.2: Thống kê cơ cấu từng loại tội phạm trong nhóm các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trong giai đoạn 10 năm (2009 - 2018) 81

Trang 9

MỞ ĐẦU

1.Tính tất yếu của Đề tài

Chứng minh là chức năng và thẩm quyền của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự theo qui định của pháp luật (quy định của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và các văn bản pháp luật, văn bản khác có liên quan)

Đối với các vụ án hình sự nói chung, hoạt động chứng minh là việc thu thập chứng cứ, kiểm tra chứng cứ và đánh giá chứng cứ của các cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật hình sự Qua đó có các căn cứ theo quy định của pháp luật để các cơ quan có thẩm quyền ra các Quyết định tố tụng hình sự về việc có hay không có tội phạm xâm phạm đã xảy ra; Xác định được chủ thể nào đã thực hiện tội phạm và chủ thể đó phải gánh chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện; Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi nguy hiểm đã thực hiện; Hậu quả thiệt hại do tội phạm đã gây ra; Tính chất đồng phạm, tội phạm có tổ chức; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự; Miễn trách nhiệm hình sự; Áp dụng hình phạt, …vv

Tuy nhiên, các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý (được hiểu là các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế) trong lĩnh vực ngân hàng lại có những đặc điểm riêng biệt nên việc chứng minh của các chủ thể chứng minh đòi hỏi ngoài quy định chung của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và pháp luật có liên quan thì cần phải căn cứ vào đặc điểm cấu thành riêng của loại tội phạm này, từ đó để làm rõ các vi phạm đó là các vi phạm quy định pháp luật hình sự về Ngân hàng và vi phạm các quy định của pháp luật có liên quan đến hoạt động ngân hàng đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự như vi phạm các quy định của: Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam; Luật các tổ chức tín dụng; Các Nghị định về tín dụng ngân hàng, cho thuê tài chính; Nghị định về giao dịch bảo đảm; Các thông tư hướng dẫn, quy định trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng,…; Các Quy định, Quy chế, Quy trình nghiệp vụ ngân hàng như (Quy chế cho vay của

Trang 10

các Tổ chức tín dụng; Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử

lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng,…; Các quy định về bảo lãnh tín dụng, bảo lãnh thanh toán; bảo lãnh thực hiện hợp đồng; Các quy trình nghiệp vụ (ISO) riêng của từng Hệ thống tổ chức tín dụng ngân hàng đã quy định và ban hành, áp dụng có tính bắt buộc phải tuân thủ đúng và thực hiện đầy đủ quy trình nghiệp vụ trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam

Trong thực tiễn đấu tranh, phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng cho thấy từ sau khi nước ta đổi mới nền kinh tế từ kinh tế tập trung, chỉ có các thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể (Hợp tác xã) sang nền kinh tế kinh tế thị trường,

đa sở hữu, với việc đổi mới phát triển doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân, hoạt động

cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước một cách mạnh mẽ thì bên cạnh những thành tựu

đã đạt được của nền kinh tế thị trường là đã tạo ra các doanh nghiệp lớn mạnh về số

và chất lượng, thuộc nhiều thành phần sở hữu, nhiều thành phần kinh tế với quy mô nhỏ, vừa, lớn rất phong phú và phát triển rực rỡ, đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới

Việc nhà nước đã sớm xây dựng và ban hành các chế định pháp lý tạo môi trường pháp lý, kinh tế và định hướng phát triển doanh nghiệp như: Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật ngân hàng nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng, Luật chứng khoán và các văn bản pháp luật quy định về cho thuê tài chính tại Việt Nam ngay sau khi đổi mới kinh tế Theo đó, lần đầu tiên nhà nước đã cấp phép để cho thành lập nhiều định chế là các Tổ chức tín dụng ngân hàng, Tổ chức tín dụng phi ngân hàng, Công ty tài chính với nhiều hình thức và thành phần kinh tế ngoài kinh tế nhà nước ra đời và phát triển Đến nay tại Việt Nam có 02 Ngân hàng chính sách; 04 Ngân hàng

do nhà nước sở hữu 100% vốn (do nhà nước thành lập và mua lại); 31 Ngân hàng TMCP; 61 Ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoặc Chi nhánh, Văn phòng đại diện tại Việt Nam (trong đó có 09 Ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoạt động); 02 Ngân hàng Liên doanh tại Việt Nam; 16 Công ty tài chính; 10 Công ty cho thuê tài chính;

01 Hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân nay là Ngân hàng Hợp tác xã (Nguồn: Web của Ngân hàng nhà nước Việt Nam: sbv.gov.vn)

Trang 11

Tuy nhiên cùng với sự phát triển các Tổ chức tín dụng ngân hàng, Tổ chức tín dụng phi ngân hàng, Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính có thể nói rất lớn

cả về quy mô và số lượng tổ chức tín dụng như trên, thì ngay từ những năm 1998,1999 cũng đã bắt đầu xuất hiện một số vụ án hình sự lớn xâm phạm hoạt động ngân hàng và gây thiệt hại nhiều nghìn tỷ đồng và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của ngành ngân hàng như các vụ án Epco Minh Phụng, Ngân hàng Việt Hoa,…vv

Trong những năm trở lại đây, qua những diễn biến phức tạp của các Vụ án hình sự rất lớn về tội phạm xâm phạm quy định về hoạt động ngân hàng diễn ra như các Vụ án Huỳnh Thị Huyền Như (Vietinbank); Hà Văn Thắm (Oceanbank); Phạm Công Danh, Trầm Bê (VNCB),… hay gần đây nhất là việc Cơ quan Cảnh sát điều tra

Bộ Công an (C03) đang điều tra vụ án hình sự "Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng" xảy ra tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và một số Chi nhánh thuộc BIDV …vv với hậu quả ban đầu được xác định có thiệt hại rất lớn (thậm chí được xác định là gây thiệt hại đặc biệt lớn về tài sản cũng như con người của ngành ngân hàng) Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về ngân hàng từ những vụ

án nêu trên đã cho thấy việc xác định đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự trên thực tế rất phức tạp và gặp nhiều khó khăn, ranh giới giữa tội phạm với vi phạm khác khó xác định (như vi phạm hành chính, vi phạm kỷ luật, dân sự, kinh doanh thương mại) Đặc biệt việc thu thập chứng cứ đối với các tội phạm này thường rất phức tạp,

do liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân trong các hoạt động ngân hàng qua nhiều năm, nhiều thời kỳ Mặt khác tội phạm thường là những đối tượng được đào tạo, lại nắm vững các quy trình, nghiệp vụ ngân hàng, có trình độ công nghệ cao, thường cố ý làm trái, có tính cấu kết, có tính tổ chức cao, hành vi thường là cố ý làm trái rất tinh vi và do vậy hậu quả chiếm đoạt, làm thất thoát tài sản của các Tổ chức tín dụng có giá trị rất lớn

Quá trình chứng minh tội phạm, việc định giá tài sản nhằm xác định thiệt hại

do tội phạm gây ra cũng là một trong những trở ngại trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nhiều trường hợp do không định giá được hoặc định giá thiếu chính xác về

Trang 12

giá trị tài sản do người vi phạm gây ra đã làm cho việc giải quyết vụ án kéo dài, quá thời hạn tố tụng hoặc không chứng minh được tội phạm Như vây, có thể khẳng định

là quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong trong các vụ án hình sự về tội phạm xâm phạm hoạt động ngân hàng hiện nay gặp nhiều khó khăn, chưa đáp ứng được yêu cầu: “phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội” theo đúng quy định của pháp luật (Điều 2, Bộ luật tố tụng hình sự 2015)

Từ những lý do nêu trên, học viên đã quyết định lựa chọn Đề tài “Chứng minh trong vụ án hình sự dối với các tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015” làm Luận văn tốt

nghiệp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả chứng minh trong vụ án về các tội xâm hại trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng

2.Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Chứng minh trong vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng theo quy định của

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả chứng minh trong đấu tranh phòng chống tội phạm đối với các vụ án về tội phạm xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng

3.Nhiệm vụ

- Làm rõ những vấn đề lý luận: khái niệm chứng minh, chứng cứ, các thuộc tính của chứng cứ, mối liên hệ giữa chứng cứ với chứng minh trong vụ án hình sự Phân tích các quy định mới của pháp luật Việt Nam về chứng cứ, những vấn đề cần chứng minh trong tố tụng hình sự, có sự so sánh với pháp luật tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật

- Đánh giá thực tiễn áp dụng những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

về chứng cứ và những vấn đề cần phải chứng minh đối với các tội xâm phạm quy định

Trang 13

về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác có liên quan đến hoạt động ngân hàng Làm

rõ những điểm mới, hạn chế trong những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015 về chứng cứ so với Bộ luật tố tụng năm 2003 Qua đó, đề nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả của các quy định về những vấn đề cần chứng minh, chứng cứ đối với các tội xâm phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác có liên quan đến hoạt động ngân hàng trong tố tụng hình sự, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hình sự

- Đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật tố tụng hình sự về nguồn chứng cứ và một số giải pháp nâng cao hiệu quả của việc sử dụng chứng cứ trong thực tiễn áp dụng trong thời gian dài phù hợp với tình hình hội nhập Quốc tế và diễn biến đấu tranh phòng ngừa tội phạm ngân hàng ở Việt Nam

4.Đối tượng nghiên cứu

Luận văn có đối tượng nghiên cứu sau:

- Một số vấn đề lý luận về chứng minh trong TTHS đối với các tội xâm phạm hoạt động ngân hàng theo quy định của luật hình sự Việt Nam;

- Quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (sau đây gọi là Bộ luật hình sự năm 2015); Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chứng minh trong vụ án hình sự (Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015);

- Thực tiễn chứng minh đối với các tội xâm phạm quy định về các tội xâm phạm hoạt động ngân hàng theo quy định của luật hình sự Việt Nam

5.Phạm vi nghiên cứu

Từ đối tượng nghiên cứu nêu trên, Luận văn xác định phạm vi nghiên cứu như sau:

- Lý luận chung và pháp luật về chứng minh liên quan đến vụ án là các tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (trong phạm vi Quy định tại Điều 206 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017)

- Thực tiễn tổng kết khảo sát 10 năm trở lại đây có đề cập đến những vụ án đã xảy ra có liên quan đến các tội xâm phạm hoạt động ngân hàng

6 Phương pháp luận và Phương pháp nghiên cứu

Trang 14

- Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Văn bản, quy định của pháp luật, Nghị quyết của Đảng,…vv trong giai đoạn hiện nay

- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả Luận văn còn sử dụng và kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp: Thống kê, Hệ thống; Logic; Phân tích; Tổng hợp; So sánh; Khảo sát thực tế để chọn lựa tri thức khoa học, kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến chứng cứ, chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam để làm rõ trong các phần Chương, Mục của Luận văn về chứng minh đối với các tội xâm phạm quy định trong hoạt động ngân hàng

7 Kết cấu Luận văn

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn viết được trình bày trong 3 Chương:

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINH TRONG

VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN

LÝ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ TỘI PHẠM, CHỨNG MINH VÀ THỰC TIỄN CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ XÂM PHẠM TRẬT

TỰ QUẢN LÝ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ

QUẢN LÝ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG

1.1 Khái niệm chứng minh trong vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng

1.1.1 Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng

1.1.1.1.Khái quát về nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình

sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện Khái niệm tội phạm luôn là vấn đề trung tâm của pháp luật hình sự Trong lịch sử, có những quan niệm khác nhau về khái niệm tội phạm Việc đưa ra khái niệm này có ý nghĩa quan trọng trong việc phân biệt hành vi nào là tội phạm, hành vi nào không phải là tội phạm Khái niệm tội phạm có nhiều quan điểm:

- Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái PLHS, do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý)” [9, Tr 119]

- Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy định trong luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện và phải chịu hình phạt”) [30, Tr 57]

- Tội phạm gồm: 05 Đặc diểm (dấu hiệu) cơ bản: là hành vi hoặc bất tác vi (bằng hành động hoặc không hành động) nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong pháp luật hình sự hay còn gọi là do pháp luật hình sự quy định, do người (thể nhân)

có năng lực TNHS hoặc và pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, tức có lỗi và phải bị xử lý hình sự [10, Tr12]

- Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự năm 2015): Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong

Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương

Trang 16

mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải

bị xử lý hình sự

Trên cơ sở các định nghĩa và quy định của pháp luật về tội phạm đã phân tích

ở trên, có thể khái quát tội phạm nói chung và các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý (được hiểu là các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế) trong lĩnh vực ngân

hàng có những đặc điểm chung như sau:

Thứ nhất: theo quy định của luật hình sự, các tội phạm xâm phạm trật tự quản

lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng đều có đặc điểm của tội phạm nói chung, đó là: tính nguy hiểm cho xã hội; tính có lỗi (cố ý hoặc vô ý); tính trái pháp luật hình sự; tính có năng lực TNHS; tính phải chịu hình phạt

Thứ hai: các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng cũng có những đặc điểm và có tính đặc trưng riêng của loại tội phạm này Đó là đặc điểm về hành vi vi phạm phải được xác định là đã vi phạm các quy định trong luật hình sự và vi phạm của quy định pháp luật có liên quan đến hoạt động của Ngân hàng, được luật hình sự bảo vệ như: Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam; Luật các tổ chức tín dụng; các Nghị định về tín dụng ngân hàng, cho thuê tài chính; Nghị định về giao dịch bảo đảm; các thông tư hướng dẫn, quy định trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng,…; các Quy định, quy chế nghiệp vụ ngân hàng như (Quy chế cho vay của các Tổ chức tín dụng; Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng,…; các quy định về bảo lãnh tín dụng, bảo lãnh thanh toán; bảo lãnh thực hiện hợp đồng; các quy trình nghiệp vụ (ISO) riêng của từng Hệ thống tổ chức tín dụng ngân hàng đã quy định và ban hành, áp dụng có tính bắt buộc phải tuân thủ đúng và đầy đủ trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam

Như vậy các tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng được hiểu theo những quan điểm khác nhau, nếu tiếp cận theo phạm vi rộng thì các tội phạm này bao gồm:

Trang 17

+ Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng được quy định trong Chương XVIII, Mục 1,2 BLHS 2015: Tội vận chuyển trái phép, hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 189 BLHS 2015), Tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác có liên quan đến hoạt động ngân hàng (Điều 206 BLHS 2015), Tội làm, tang trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả (Điều 207 BLHS 2015);

+ Những tội phạm lấy hoạt động ngân hàng làm công cụ, phương tiện phạm tội như: Tội rửa tiền (Điều 324 BLHS 2015);

+ Các tội phạm khác liên quan đến hoạt động ngân hàng như: các tội lấy hoạt động ngân hàng làm đối tượng phạm tội như: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều

174 BLHS 2015), Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS 2015)

Nếu theo phạm vi hẹp, khái niệm về tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng chỉ giới hạn trong phạm vi đối tượng chứng minh đối với các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng, sẽ chỉ bao gồm các tội phạm được quy định trong Chương XVIII, Mục 2 BLHS 2015 (Điều 206 BLHS 2015)

Theo quan điểm của tác giả, có thể khái quát tội phạm xâm phạm trật tự quản

lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng là: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng, hoặc hoạt động khác có liên quan đến lĩnh vực ngân hàng, gây hậu quả nghiêm trọng được quy định trong luật hình sự và các văn bản pháp luật ngân hàng, các văn bản khác có liên quan đến hoạt động ngân hàng, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, theo quy định của pháp luật là tội phạm và phải gánh chịu hình phạt

1.1.1.2.Chứng minh, đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng

Việc chứng minh tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng cũng có nhiều đặc thù Chứng minh trong tố tụng hình sự là quá trình nhận thức chân lý khách quan vụ án, là đòi hỏi của yêu cầu đấu tranh, xử lí tội phạm cũng như bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Khi tội phạm xảy ra, để giải quyết

vụ án đúng đắn, khách quan các cơ quan tiến hành tố tụng, hoặc các chủ thể tham gia

tố tụng khác theo quy định của pháp luật sẽ tiến hành hoạt động chứng minh làm sáng

Trang 18

tỏ về sự việc phạm tội cũng như hành vi phạm tội và những tình tiết khác có liên quan

đến vụ án

Để làm sáng tỏ khái niệm về Chứng minh trong tố tụng hình sự, một số tài liệu

đã đưa ra khái niệm chứng minh như sau:

Chứng minh trong tố tụng hình sự: là quá trình các chủ thể của tố tụng hình sự trên cơ sở quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành các hoạt động phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá tài liệu thu thập được làm phương tiện, căn cứ (chứng cứ) làm rõ về tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội cũng như tất cả những vấn đề liên quan đến vụ án [5]

Chứng minh: là việc sử dụng các chứng cứ để làm sáng tỏ bản chất và các tình tiết của vụ án [4, Tr 150]

Chứng minh trong tố tụng hình sự: là nhận thức về vụ án đã được thực hiện trong thực tế, Nó bao gồm cả hoạt động tư duy logic và hoạt động thực tiễn, được điều chỉnh bằng các quy luật nhận thức khách quan và các quy định về thủ tục của BLTTHS [30, Tr 523]

Các quan điểm chứng minh trên chưa cụ thể rõ ràng cần loại bỏ các biểu hiện

cụ thể của luật thực định về quá trình chứng minh thì khi xét khái niệm “chứng minh trong TTHS” cần có những nội hàm (đặc điểm) sau:

Thứ nhất: chứng minh trong TTHS là quá trình xác định, đi tìm sự thật khách quan của vụ án, nói cách khác đó là quá trình nhận thức chân lý khách quan tồn tại trong vụ án hình sự;

Thứ hai: chứng minh trong TTHS do các chủ thể TTHS tiến hành theo quy định của pháp luật mỗi quốc gia Tùy thuộc vào quan điểm, cách thức, phương pháp giải quyết vụ án hình sự, mỗi quốc gia sẽ quy định trách nhiệm chứng minh trong TTHS để giải quyết mục đích của TTHS đặt ra Ở những nước theo mô hình tố tụng tranh tụng thì trách nhiệm chứng minh thuộc về chủ thể buộc tội và chủ thể gỡ tội trên cơ sở công bằng trong việc thu thập chứng cứ và đưa ra lí lẽ, lập luận trong quá trình giải quyết vụ án Những nước theo mô hình tranh tụng thẩm vấn thì việc chứng minh thường được quy định là nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng,

họ không những thu thập chứng cứ buộc tội mà còn phải thu thập cả chứng cứ gỡ tội

Trang 19

trong quá trình giải quyết vụ án

Chứng minh trong TTHS phải giải quyết hàng loạt vấn đề đặt ra của vụ án hành sự như: Đối tượng, phạm vi chứng minh, chủ thể chứng minh, căn cứ, thủ tục chứng minh, các bước tiến hành trong quá trình chứng minh… Tất cả những vấn đề này đều phải được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự

Từ những đặc điểm nêu trên, có thể hiểu, chứng minh trong TTHS là quá trình các chủ thể của TTHS trên cơ sở quy định của pháp luật TTHS tiến hành các hoạt động phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá tài liệu thu thập được làm phương tiện, căn cứ (chứng cứ) làm rõ về tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội cũng như tất cả những vấn đề liên quan đến vụ án”

Như vậy, về bản chất Chứng minh trong vụ án hình sự: Là hoạt động nhận thức,

tư duy và thực tiễn của con người có mục đích nhất định, xác định sự tồn tại hay không tồn tại hoặc xác định đúng, sai của một sự vật, sự việc, hiện tượng trên cơ sở những chứng cứ, căn cứ cụ thể, đòi hỏi của yêu cầu đấu tranh, xử lí tội phạm cũng như bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Khi tội phạm xảy ra, để giải quyết vụ án đúng đắn, khách quan các cơ quan tiến hành tố tụng, hoặc các chủ thể tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật sẽ tiến hành hoạt động chứng minh làm sáng tỏ về

sự việc phạm tội cũng như hành vi phạm tội và những tình tiết khác có liên quan đến

vụ án

Ngân hàng tại Niệt Nam là hệ thống các cơ quan, bao gồm ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng, ngân hàng

là công cụ quan trọng giúp Chính phủ điều hành nền kinh tế, huy động vốn cho các

dự án, là trung tâm thanh toán và thực thi chính sách tiền tệ, là nơi tập trung khối lượng tiền nội tệ, ngoại tệ, các giấy tờ có giá và nơi dự trữ, giao dịch các tài sản kim loại quý, đá quý Đặc biệt hơn cả là việc thực hiện vai trò, chức năng của trung tâm tín dụng, cấp chủ yếu phần lớn lượng tín dụng cho các tổ chức, doanh nghiệp, kinh tế

hộ gia đình, cá nhân thuộc các thành phần của nền kinh tế quốc dân Do đó, tội phạm thường có xu hướng để thực hiện hành vi cấu kết, chiếm đoạt tài sản Hiện nay, chưa

có một khái niệm chính thống và cũng chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào

Trang 20

quy định về tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng Do đó, việc nhận diện đúng tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng cũng như các tình tiết liên quan có ý nghĩa rất quan trọng về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm

Hoạt động chứng minh trong TTHS được tiến hành thông qua các bước: Phát hiện, thu thập chứng cứ: kiểm tra; đánh giá và sử dụng chứng cứ nhằm làm rõ các vấn

đề cần phải chứng minh trong vụ án Hàng loạt vấn đề của quá trình chứng minh cần được giải quyết, như: Đối tượng chứng minh (những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự), Chủ thể chứng minh, Căn cứ chứng minh (chứng cứ), Trình tự thủ tục trong quá trình chứng minh… Tất cả những vấn đề này đều phải được pháp luật quy định và tuân thủ theo quy định của pháp luật Tuy nhiên trong lịch sử hoạt động tư pháp hình sự, ở những giai đoạn lịch sử nhất định, tùy thuộc vào trình tự tố tụng được tiến hành theo các mô hình tố tụng khác nhau thì pháp luật ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau của các nước khác nhau lại có những quy định khác nhau

Bộ luật TTHS năm 2003, Bộ luật TTHS năm 2015 và các văn bản pháp luật liên quan chưa có định nghĩa cụ thể về chứng minh, cũng như quá trình chứng minh trong vụ án hình sự với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng Khi giải quyết các vụ án án hình sự với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng, người tiến hành tố tụng cần phải chứng minh những sự việc

có liên quan đến hành vi phạm tội để khẳng định chính xác hành vi phạm tội, người phạm tội và mức độ phạm tội Để đạt được mục tiêu này, các cơ quan điều tra về tội phạm phải dựa vào các chứng cứ để chứng minh rõ tội phạm đã xảy ra, xác định lỗi của bị can, bị cáo, tức là chứng minh người thực hiện hành vi phạm tội và họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội đó

1.1.1.3 Đối tượng chứng minh trong vụ án xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng

Về bản chất, đối tượng của quá trình nhận thức mang tính lịch sử xã hội, không đồng nhất với toàn bộ hiện thực khách quan mà chỉ là một bộ phận của hiện thực khách quan mà thôi Hoạt động chứng minh trong giải quyết VAHS

Trang 21

cũng như vậy, đó là phải xác định được những sự vật, hiện tượng đã xảy ra để làm sáng tỏ được bản chất của VAHS hay nói cách khác là phải xác định được đối tượng chứng minh trong VAHS

Đối tượng chứng minh trong VAHS nói chung và vụ án xâm phạm trật tự quản

lý kinh tế lĩnh vực ngân hàng nói riêng bao gồm những sự kiện và tình tiết khác nhau,

mà mỗi sự kiện, tình tiết nói riêng và tổng thể của chúng nói chung, đều phải được nghiên cứu, làm sáng tỏ một cách khách quan, toàn diện và chính xác Nội dung chủ yếu của đối tượng chứng minh trong VAHS trước hết là cấu thành tội phạm Chính cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự xác định ranh giới những

sự kiện, tình tiết chủ yếu phải chứng minh của vụ án hình sự

Để chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự thì đối với bất cứ một tội phạm nào, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều phải chứng minh được những vấn đề sau:

i.Dấu hiệu hành vi thuộc yếu tố mặt khách quan của tội phạm

ii.Dấu hiệu lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội phạm

iii.Dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi thuộc yếu tố chủ thể của tội phạm

Theo quy định tại Điều 85 bộ luật TTHS năm 2015 – Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự: “Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh:

1 Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;

2 Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;

3 Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;

4 Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;

5 Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;

6 Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự,

Trang 22

miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.”

So với Điều 63 của BLTTHS năm 2003, những vấn đề cần phải chứng minh trong điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự theo quy định của Điều 85 BLTTHS năm 2015 có quy định thêm khoản 5 và 6, tuy đây là vấn đề không mới so với BLTTHS năm 2003 nhưng đã được các nhà làm luật đưa vào ở một điều luật cụ thể

và khoa học hơn

Trong VAHS, những vấn đề phải chứng minh có vị trí, vai trò khác nhau Vì vậy, phân loại những vấn đề phải chứng minh thành các nhóm khác nhau theo một trật tự nhất định là để nghiên cứu chúng từ các góc độ khác nhau Có thể hiểu phân loại những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự là việc chia các chứng cứ thành các nhóm khác nhau dựa trên cơ sở những căn cứ xác định, nhằm giải quyết những mục đích nhất định

Để đạt được mục đích chứng minh trong vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh

tế lĩnh vực ngân hàng đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác định được những vấn đề phải chứng minh trong vụ án đã được quy định cụ thể tại Điều 85 Bộ luật TTHS năm 2015 và gắn với những quy định về tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế lĩnh vực ngân hàng đã được quy định tại BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017

Cụ thể:

(1).Về mặt khách quan, phải chứng minh người đã có hành vi phạm tội đã vi phạm và gây hậu quả đến mức độ bị truy cứu trách nhiệm hình sự thoả mãn quy định tại Điều 206 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017;

(2).Hành vi của tội phạm đã vi phạm các quy định pháp luật về Ngân hàng, gồm các quy định cụ thể tại các văn bản pháp luật của nhà nước đang điều chỉnh hoạt động ngân hàng hiện nay như:

a Đối với kinh doanh tiền tệ ngân hàng:

- Luật ngân hàng nhà nước Luật số: 46/2010/QH12 ngày 16/6/2010;

- Luật các Tổ chức tín dụng Luật số: 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010;

- Thông tư 39 /2016/TT-NHNN, ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng (trước đây là các Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày

Trang 23

31/12/2001 về ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng; Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005; Quyết định số 738/2005/QĐ-NHNN ngày 31/05/2005 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN);

- Thông tư 02 /2013/TT-NHNN, ngày 21/01/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để

xử lý rủi ro trong hoạt động đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

b.Đối với việc thực hiện giao dịch bảo đảm có liên quan đến hoạt động ngân hàng:

- Bộ Luật dân sự 2015 và các Nghị định: Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm, ngày 19/12/2006; Nghị định 11/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 163/2006/NĐ-CP, ngày 22/02/2012; Nghị định 102/2017/NĐ-CP quy định về biện pháp đăng ký bảo đảm, ngày 01/09/2017 (trước đây là các Nghị định 83/2010/NĐ-CP, Nghị định 05/2012/NĐ-CP); Thông tư 08/2018/TT-BTP, ngày 20/6/2018 hướng dẫn về đăng ký giao dịch bảo đảm; Thông tư Liên tịch Số: 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT, ngày 23/06/2016 Hướng dẫn việc đắng ký thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất;

- Luật công chứng số: 53/2014/QH13 ngày 20/6/2014 và các văn bản quy định, hướng dẫn có liên quan;

- Luật đất đai số: 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 và các văn bản quy định, hướng dẫn có liên quan;

- Luật nhà ở số: 65/2014/QH13 ngày 25/11/2014 và các văn bản quy định, hướng dẫn có liên quan;

c.Đối với hoạt động bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu liên quan đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng:

-Thông tư 07/2015/TT-NHNN, ngày 25/6/2015 quy định về bảo lãnh ngân hàng; Thông tư 13/2017/TT-NHNN, ngày 29/9/2017 sửa đổi, bổ sung Thông tư 07/2015/TT-NHNN;

d.Đối với kinh doanh tiền tệ phi ngân hàng:

- Nghị định 39/2014/NĐ-CP về hoạt động của công ty tài chính, công ty cho thuê

Trang 24

tài chính, ngày 07/05/2014 2014 và các văn bản quy định, hướng dẫn có liên quan;

e Đối với kinh doanh vàng, ngoại hối:

- Căn cứ Nghị định số 24/2012/NĐ-CP, ngày 03 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng; Thông tư 02/VBHN-NHNN, ngày 15/06/2017 về việc hợp nhất các Thông tư hướng dẫn Nghị định số 24/2012/NĐ-CP

về quản lý hoạt động kinh doanh vàng;

- Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Văn bản hợp nhất Pháp lệnh Ngoại hối số 07/VBHN-VPQH ngày 11/07/2013 và các văn bản quy định, hướng dẫn có liên quan;

- Thông tư 32/2013/TT-NHNN, ngày 26/12/2013 hướng dẫn thực hiện các quy định về hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam; Thông tư 03/2019/TT-NHNN, ngày 29/03/2019 sửa đổi, bổ sung Thông tư 32/2013/TT-NHNN;

(3) Hành vi của tội phạm đã vi phạm các quy định nội bộ của Tổ chức tín dụng:

- Các quy trình nghiệp vụ (ISO) nội bộ trong từng Hệ thống tổ chức tín dụng (đặc biệt là các tổ chức tín dụng có vốn nhà nước) như: Quy trình tín dụng ngắn hạn; Quy trình tín dụng trung, dài hạn; Quy trình bảo lãnh; Quy trình thẩm định; Quy trình thanh toán trong nước; Quy trình thanh toán quốc tế; Quy chế cho thuê tài chính (kèm theo đó là các Quy trình ISO)

- Các quy định nội bộ khác (đặc biệt là các tổ chức tín dụng có vốn nhà nước) như: Giới hạn phân cấp ủy quyền tín dụng trong cho vay; Quyết định phân cấp ủy quyền trong hoạt động cho vay; Các quy định về bảo mật; Quản lý ấn chỉ quan trọng,

Trang 25

định tham gia vào hoạt động chứng minh đó tức là hoạt động chứng minh trong mỗi lĩnh vực khác nhau có chủ thể cụ thể khác nhau tiến hành hoạt động chứng minh đó

Hoạt động chứng minh trong TTHS là hoạt động có mục đích làm sáng tỏ nội dung của vụ án và những tình tiết này có liên quan đến vụ án nên những người tham gia vào hoạt động này là những chủ thể chứng minh trong TTHS Tuy nhiên tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ hoặc tùy thuộc vào quyền và lợi ích … của các chủ thế có sự khác nhau nên mức độ tham gia cũng như giai đoạn tham gia vào hoạt động chứng minh của từng chủ thể có sự khác nhau

Thông thường thì chủ thể chứng minh trong TTHS chủ yếu là các CQTHTT và người THTT Theo luật TTHS Việt Nam thì đó là các CQTHTT và người THTT như

cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh

án, Phó Chánh án tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,… nhóm chủ thể này giữ vai trò chính trong hoạt động chứng minh toàn bộ nội dung của vụ án và những tình tiết có liên quan đến nội dung của vụ án và kết quả chúng minh của họ mang tính pháp lý cao Tuy nhiên, do chức năng, nhiệm vụ của từng chủ thể có sự khác nhau nên giai đoạn tham gia chứng minh cũng như phạm vi, mức độ chứng minh của họ cũng có sự khác nhau nhất định

Theo quy định tại Điều 15 BLTTHS năm 2015 – Xác định sự thật của vụ án thì:

“Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội”

Theo quy định trên thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bao gồm Cơ quan điều tra, truy tố và xét xử Ngoài ra, một số cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định tại Điều

35 BLTTHS năm 2015 Quy định “… Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc

Trang 26

phải chứng minh là mình vô tội”, chính là một phần nội hàm của nguyên tắc suy đoán

vô tội theo quy định tại Điều 13 BLTTHS năm 2015, đó là: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ” Đây cũng là một

nguyên tắc mới trong tố tụng hình sự, nguyên tắc này đã thể chế hoá quy định về suy đoán vô tội và phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 (trở thành nguyên tắc Hiến định)

Do vậy, khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành

tố tụng phải kết luận, ra quyết định tố tụng về việc người bị buộc tội “không có tội”

Theo quy định tại Điều 15 BLTTHS năm 2015 thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân có nghĩa vụ chứng minh tội phạm, nhưng việc chứng minh tội phạm của các cơ quan này ở mỗi giai đoạn tố tụng có những đặc điểm khác nhau Ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, giai đoạn điều tra vụ án hình sự và truy tố,

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có nghĩa vụ chứng minh tội phạm, còn ở giai đoạn xét xử, nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về đại diện Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và Hội đồng xét xử Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, do vậy, kể cả trong trường hợp người phạm tội không đưa ra được những chứng cứ để chứng minh là họ vô tội thì cũng không thể vì thế mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng kết tội họ

Căn cứ chứng minh:

Căn cứ chứng minh đóng vai trò quan trong trong hoạt động tố tụng hình sự Muốn làm rõ những tình tiết, sự kiện của vụ việc hình sự thì các chủ thể chứng minh phải sử dụng công cụ nhất định do pháp luật quy định như lời khai đương sự, lời khai của người làm chứng, kết luận của người giám định…

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về phương tiện chứng minh nhưng hiểu theo nghĩa chung nhất, toàn diện nhất thì: Căn cứ chứng minh trong vụ án hình sự chính là các sự vật, hiện tượng thoả mãn các thuộc tính của chứng cứ: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp [5, Tr3]

Trang 27

Có khái niệm căn cứ chứng minh khác: là những công cụ do pháp luật quy định các chủ thể chứng minh được sử dụng để làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ án hình sự [10]

Mỗi vụ việc hình sự đều có những căn cứ chứng minh riêng Việc lựa chọn sử dụng căn cứ chứng minh bất kỳ trong vụ án hình sự tùy thuộc vào tình tiết, sự kiện thuộc đối tượng chứng minh của vụ án hình sự cần giải quyết Thông thường mỗi căn

cứ chỉ làm rõ một số tình tiết, sự kiện của vụ án hình sự nhất định nhưng các tình tiết,

sự kiện chứng minh trong mỗi vụ án hình sự rất đa dạng nên trong mỗi trường hợp cụ thể các chủ thể chứng minh phải sử dụng một hoặc nhiều căn cứ chứng minh để làm

rõ các tình tiết, sự kiện của vụ án hình sự

Căn cứ chứng minh có tình chất quyết định kết quả giải quyết vụ án hình sự

Để đảm bảo việc phải giải quyết vụ án hình sự đúng đắn pháp luật quy định căn cứ chứng minh cụ thể mà các chủ thể chứng minh được sử dụng Mỗi căn cứ cụ thể chỉ được sử dụng để chứng minh khi đáp ứng được những điều kiện nhất định do pháp luật quy định Cụ thể như các tài liệu đọc được phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp, các tài liệu nghe được, nhìn được phải có văn bản xác nhận xuất xứ của nó, các vật chứng phải là vật gốc có liên quan đến vụ án hình sự, lời khai của đương sự, người làm chứng của pháp luật… Với quy định cụ thể và chặt chẽ của Bộ luật tố tụng hình sự giúp cho hoạt động chứng minh đạt hiệu quả cao nhưng cũng không thể tránh khỏi thiếu sót khi chưa có quy định về các căn cứ chứng minh mà các chủ thể được

Trang 28

không có lỗi Việc nhận thức chân lý khách quan của VAHS là một quá trình hết sức phức tạp được tạo bởi các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá các chứng cứ do các chủ thể tiến hành tố tụng thực hiện phù hợp với các qui định của BLTTHS Việt Nam; quá trình này được thừa nhận là một quá trình nhận thức Vì vậy quá trình chứng minh tội phạm cũng phải tuân thủ những qui luật chung của quá trình nhận thức hiện thực khách quan mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chỉ ra: "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan" [37, Tr104]

Như vậy, xuất phát từ sự thừa nhận khả năng nhận thức của con người, 11 phép biện chứng duy vật đòi hỏi việc nhận thức, việc nghiên cứu các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan nói chung và các tình tiết của vụ án hình sự nói riêng phải đảm bảo một cách toàn diện Quá trình chứng minh VAHS phải tuân theo những quy tắc logic nhất định như việc nhận thức mọi hiện tượng của hiện thực Trước tiên cần thu thập tài liệu thực tế nhất định, tiếp đến tài liệu đó cần được phân tích, được phân ra từng phần, làm sáng tỏ từng chi tiết cụ thể, từng mặt của các sự kiện cần được nghiên cứu xem xét; sau đó đưa ra được những kết luận khái quát tổng hợp về các sự kiện đã được nghiên cứu Trên cơ sở các sự kiện đã được xem xét xây dựng nên những giả thiết chứng minh, rồi sau đó được kiểm tra, đánh giá thận trọng, tỉ mỉ, nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, từ những thông tin, sự kiện riêng lẻ đến những sự kiện chung nhất và cả bằng tư duy suy diễn, từ đó đi đến những kết luận cụ thể đối với các

sự kiện, tình tiết cụ thể Chính từ quá trình đó mà chất lượng, giá trị chứng minh của các thông tin được khẳng định và bức tranh về sự kiện phạm tội dần được tái hiện như nó vốn có, các cơ sở giải quyết vụ án được hình thành, củng cố Tổng hợp các hành vi đó tạo thành nội dung của quá trình chứng minh VAHS

Nhận thức về quá trình chứng minh trong VAHS là công việc tư duy của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đối với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, đồng thời chính là tổng thể các hoạt động được những người này tiến hành hưởngng tới việc thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ Như vậy, quá trình chứng

Trang 29

minh là quá trình nhận thức các sự kiện, các tình tiết của vụ án hình sự Quá trình nhận thức này phải đảm bảo sử dụng các biện pháp khoa học vì từ đó sẽ rút ra những kết luận, quyết định có liên quan tới những giá trị rất lớn như: quyền và lợi ích của Nhà nước, tự do, danh dự, nhân phẩm của con người Quá trình chứng minh trong VAHS phải đảm bảo tính khoa học chặt chẽ của phương pháp phán đoán, suy luận được ứng dụng 12 đặc biệt cần thiết và sâu sắc, đồng thời phải đảm bảo chặt chẽ hơn

so với hoạt động nghiên cứu, tư duy, suy luận trong công tác nghiên cứu khoa học

Như vậy, Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự là toàn bộ các hành vi

tố tụng hình sự do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện theo trình tự được Bộ luật tố tụng hình sự quy định để làm rõ đối tượng chính minh bằng các phương tiện chứng minh giúp cho việc giải quyết vụ án hình sự

Đặc biệt tại phiên tòa, hoạt động kiểm tra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, sử dụng chứng cứ, để chứng minh có hay không có hành vi phạm tội như cáo trạng của VKSND đã truy tố của HĐXX là hết sức quan trọng Hoạt động này là căn cứ để HĐXX khẳng định được rằng tội phạm đã xảy ra, xác định được con người cụ thể đã thực hiện tội phạm và họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện, từ đó tuyên một bản án kết tội với một con người cụ thể kèm theo là những hình phạt tương ứng hoặc tuyên một người không phạm tội và trả tự do cho họ Nếu việc kiểm tra chứng

cứ, đánh giá chứng cứ, sử dụng chứng cứ để chứng minh tội phạm của HĐXX không bảo đảm tính khách quan, chính xác sẽ là nguyên nhân dẫn đến oan sai trong hoạt động tố tụng Do vậy, việc kiểm tra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, sử dụng chứng cứ

để chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự của các Cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và của HĐXX nói riêng rất quan trọng Để đạt được điều này, CQTHTT phải thực hiện các biện pháp do pháp luật TTHS quy định, làm sáng tỏ tất cả mọi vấn đề

có trong vụ án Quá trình chứng minh vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng phải tuân theo những quy tắc logic nhất định như việc nhận thức mọi hiện tượng của hiện thực Trước tiên cần phải thu thập tài liệu thực tế nhất định, tiếp đến tài liệu đó phải được phân tích, làm sáng tỏ từng chi tiết cụ thể, từng mặt của các sự kiện cần được nghiên cứu xem xét, sau đó đưa ra những kết luận khái quát về

Trang 30

các sự kiện đã được nghiên cứu Chính từ quá trình đó mà chất lượng, giá trị chứng minh của các thông tin được khẳng định và bức tranh về sự kiện phạm tội dần được tái hiện như bản chất vốn có, các cơ sở giải quyết vụ án được hình thành, không ngừng được củng cố Tổng hợp các hành vi đó tạo thành nội dung của quá trình chứng minh trong vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng

Ngoài việc kiểm tra chứng cứ, đánh giá chứng cứ do Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thu thập, BLTTHS 2015 còn quy định tại Khoản 2, Điều 252 về việc Tòa án xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ “Tòa án có thể tiến hành xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ “ Quy định này về mục đích của nhà làm luật là giúp cho hoạt động kiểm tra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, sử dụng chứng cứ của HĐXX khi chứng minh tội phạm được khách quan và toàn diện hơn Tuy nhiên lại là một vấn đề cần xem xét

và có thể nói là chưa phù hợp của BLTTHS 2015, bởi lẽ Tòa án là cơ quan xét xử nhưng lại thực hiện chức năng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố là không phù hợp với chức năng xét tử của TAND (quy định của Hiến pháp 2013, Nguyên tắc của BLTTHS 2015, BLHS 2015)

Quá trình chứng minh trong một vụ án bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ

án bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các CQTHTT khác nhau như: Hoạt động điều tra, hoạt động truy tố và hoạt động xét xử Mỗi hoạt động đó đều hàm chứa các hành vi tố tụng khác nhau Trong TTHS, chứng minh là quá trình khôi phục lại sự thật khách quan của vụ án, là quá trình nhận thức sự thật khách quan Cơ sở lý luận nhận thức của hoạt động nhận thức này chính là lý luận nhận thức của triết học Mác – Lênin Lý luận nhận thức Mác – Lênin khẳng định rằng: Nhận thức là sự phản ánh biện chứng tích cực, sự phản ánh đó là một quá trình vận động và phát triển không ngừng tự không biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất, từ thấp đến cao để nắm được bản chất quy luật của sự vật và hiện tượng

Bộ luật TTHS năm 2003, bộ luật TTHS năm 2015 và các văn bản pháp luật liên quan chưa có định nghĩa cụ thể về chứng minh, cũng như quá trình chứng minh trong vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng Khi giải quyết các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế lĩnh vực ngân hàng, người tiến hành tố

Trang 31

tụng cần phải chứng minh những sự việc có liên quan đến hành vi phạm tội để khẳng định chính xác hành vi phạm tội, người phạm tội và mức độ phạm tội Để đạt được mục tiêu này, các cơ quan điều tra về tội phạm phải dựa vào các chứng cứ để chứng minh rõ tội phạm đã xảy ra, xác định lỗi của bị can, bị cáo, tức là chứng minh người thực hiện hành vi phạm tội và họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội đó Trên cơ sở những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và các văn bản pháp luật khác và thực tiễn có thể hiểu:

Chứng minh trong vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng là quá trình mà các CQTHTT, người tiến hành tố tụng thực hiện hoạt động nhận thức chân lý về vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng Để đạt được điều này, CQTHTT phải thực hiện các biện pháp do pháp luật TTHS quy định, làm sáng tỏ tất cả mọi vấn đề có trong vụ án Quá trình chứng minh vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng phải tuân theo những quy tắc logic nhất định như việc nhận thức mọi hiện tượng của hiện thực Trước tiên cần phải thu thập tài liệu thực tế nhất định, tiếp đến tài liệu đó phải được phân tích, làm sáng tỏ từng chi tiết cụ thể, từng mặt của các sự kiện cần được nghiên cứu xem xét, sau đó đưa ra những kết luận khái quát về các sự kiện đã được nghiên cứu Chính từ quá trình đó mà chất lượng, giá trị chứng minh của các thông tin được khẳng định và bức tranh về sự kiện phạm tội dần được tái hiện như nó vốn có, các cơ sở giải quyết vụ án được hình thành, củng cố Tổng hợp các hành vi đó tạo thành nội dung của quá trình chứng minh trong vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng

Trên cơ sở những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và các văn bản pháp luật khác và thực tiễn, theo tác giả có thể hiểu Chứng minh trong vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng như sau:

Chứng minh trong vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh

tế trong lĩnh vực ngân hàng là: Quá trình các Cơ quan có thẩm quyền, Cơ quan tiến hành tố tụng (Người tiến hành tố tụng) thực hiện thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng

cứ để làm rõ tội phạm và hành vi của người thực hiện tội phạm cũng như những vấn

đề khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự mà tội phạm xâm hại trật tự

Trang 32

quản lý kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật có liên quan đến hoạt động ngân hàng

1.2 Đặc điểm của quá trình chứng minh trong vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực ngân hàng

Quá trình chứng minh vụ án hình sự phải trải qua những giai đoạn khác nhau

và còn tồn tại những quan điểm khác nhau về các bước của quá trình chứng minh, mỗi quan điểm đều dựa trên một cơ sở lý luận, cách thức phân chia cụ thể Tuy nhiên,

về bản chất quá trình chứng minh bao gồm các bước sau: thu thập chứng cứ, kiểm tra chứng cứ và đánh giá chứng cứ Như vậy, thu thập chứng cứ là giai đoạn đầu của quá trình chứng minh vụ án hình sự Kết quả của hoạt động thu thập chứng cứ có ý nghĩa quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động tố tụng điều tra, truy tố, xét xử

Do vậy, hoạt động chứng minh phải được tiến hành một cách khách quan, thận trọng theo đúng quy định của BLTTHS và các văn bản pháp luật khác liên quan

1.2.1.Thu thập chứng cứ

Thu thập chứng cứ là một giai đoạn của quá trình chứng minh Nếu không có thu thập chứng cứ thì cũng không có kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ Theo quy định của BLTTHS năm 2015 Các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền thu thập chứng cứ Tuy nhiên BLTTHS năm 2015 còn quy định định những chủ thể khác cũng có quyền thu thập chứng cứ đó là: Người bào chữa (Luật sư), đây là một quy định hoàn toàn mới và có ý nghĩa quan trọng trong thẩm quyền thu thập chứng cứ để chứng minh mà BLTTHS năm 2003 cũng như các BLTTHS trước đây không có quy định này

Điều 88 BLTTHS năm 2015 quy định rất rõ về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể khi thu thập chứng cứ:

“1 Để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án

2 Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ

Trang 33

trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa

3 Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án

4 Khi tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ

án do những người quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này cung cấp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo quy định của Bộ luật này

5 Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát theo quy định của Bộ luật này thì cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển biên bản, tài liệu này cho VKSND để kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án Trường hợp do trở ngại khách quan thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày Trong thời hạn 03 ngày, VKSND

có thẩm quyền đóng dấu bút lục và sao lưu biên bản, tài liệu lưu hồ sơ kiểm sát và bàn giao nguyên trạng tài liệu, biên bản đó cho cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Việc giao, nhận tài liệu, biên bản được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này”

Theo điều 88 của Bộ luật TTHS 2015 quy định, để thu thập chứng cứ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án có quyền triệu tập những người biết về vụ án

để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo quy định; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án Mỗi chứng cứ phải được đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án Việc xác định các chứng cứ thu thập được phải bảo đảm

đủ để giải quyết vụ án hình sự Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm xác định và đánh giá mọi chứng cứ sau khi nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả tình tiết của vụ án Về thủ tục thu thập chứng cứ

Trang 34

trong những trường hợp này phải tuân thủ những quy định như:

- Thủ tục giải thích quyền và nghĩa vụ cho đối tượng bị áp dụng: Thủ tục này được áp dụng trong các biện pháp hỏi cung; lấy lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ, người làm chứng, người bị hại; khi tiến hành đối chất, nhận dạng, khám người, khám nơi làm việc, khám chỗ ở, địa điểm

- Quy định về việc phải có người chứng kiến trong các trường hợp:

Đối với biện pháp khám người, thì người chứng kiến là bất kỳ ai và chỉ cần một người (riêng biện pháp khám người thì phải là người cùng giới)

Biện pháp khám chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm của người phạm tội đòi hỏi phải

có người hàng xóm, đại diện chính quyền địa phương (nơi làm việc thì đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc) chứng kiến Trường hợp vắng chủ nhà thì phải

có hai người chứng kiến

Biện pháp thu giữ:

+ Máy tính, Máy chủ (nếu có thể), Thiết bị tin học khác thì phải có sự chứng kiến của đại diện cơ quan

+ Chứng từ, Hồ sơ tín dụng, cho vay, Hồ sơ thế chấp, Hồ sơ bảo lãnh, Hồ sơ thanh toán thì phải có sự chứng kiến của đại diện cơ quan và phải niêm phong

+ Thư tín, điện tín, bưu phẩm tại bưu điện thì phải có sự chứng kiến của đại diện cơ quan bưu điện

Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa,

bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày

về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa Chứng cứ của Luật sư thu thập và đưa ra nhằm chứng minh, có giá trị “gỡ tội”, mang tính phản biện cao (một phần hoặc toàn bộ) đối với chứng cứ buộc tội và luận điểm của cơ quan tiến hành tố tụng Để bào chữa có hiệu quả, Luật sư sẽ có những hoạt động thu thập chứng cứ và đưa ra những kiến nghị điều tra bổ sung, điều tra lại, đình chỉ điều tra, rút quyết định truy tố, thay đổi tội danh Và những kiến nghị này của Luật sư cũng cần phải được các cơ quan xem xét một cách đầy đủ, toàn diện

Trang 35

Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề

Thứ nhất: Đối với dấu vết:

-Khi thu thập thì các cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải ghi rõ trong biên bản: Dấu vết thu thập được là dấu vết gì, vị trí, đặc điểm ra sao?

-Về tên của dấu vết cần ghi rõ đó là dấu vết gì: Là vân tay, vết máu, vết cày, vết cạy phá, dấu chân, dấu tay, vv Trường hợp khó đặt tên ngắn gọn thì mô tả cụ thể nhưng phải phản ánh được nội dung chủ yếu, cơ bản

-Về đặc điểm của dấu vết: Cần mô tả các nội dung hình dáng, kích thước, màu sắc và các đặc điểm khác của dấu vết để phục vụ tốt cho công tác giám định làm rõ nguyên nhân

Thứ hai: Đối với vật chứng:

-Khi thu thập vật chứng trong mọi trường hợp đều phải ghi cụ thể trong biên bản thu giữ các nội dung: tên và đặc điểm, địa điểm tìm thấy vật Tên của vật là gì (công cụ phương tiện: Máy tính, Máy chủ (nếu có), Thiết bị tin học) nếu là mô tô xe máy, thì phải ghi rõ biển số, số khung, số máy; Thẻ thanh toán, số thẻ, loại thẻ,…; Séc (số séc, loại séc,…); Chứng từ (các Lệnh chuyển tiện, Lệnh thanh toán, UNC, Giấy lĩnh tiền, Rút tiền), Chứng từ, Hồ sơ tín dụng, cho vay, Hồ sơ thế chấp, Hồ sơ

Trang 36

bảo lãnh, Hồ sơ thanh toán …

-Trường hợp vật chứng có giá trị lớn, đặc thù như: vàng bạc, kim khí đá quý, tiền mặt, ngoại tệ thì phải niêm phong hoặc mở TK lưu giữ tại ngân hàng theo đúng quy định

-Trường hợp vật chứng không phải là vật thông dụng, khó đặt tên, thì có thể đặt tên dạng mô tả hình dạng, kích thước, màu sắc Đặc điểm của vật, tùy từng loại vật mà có cách mô tả cụ thể, nhưng nhìn chung phải thể hiện được các nội dung: Số lượng, chất lượng, trọng lượng, khối lượng, hình dạng kích thước, màu sắc, mùi vị, tính nguyên vẹn và trạng thái mới, cũ của vật Những dấu vết của tội phạm để lại trên vật chứng

-Trường hợp trên vật chứng có dấu vết thì phải mô tả dấu vết theo nội dung củng cố dấu vết đã nêu trên Phải mô tả từng dấu vết, kích thước của dấu vết, màu sắc của dấu vết, chiều hướng của dấu vết Địa điểm tìm thấy vật: Địa điểm tìm thấy vật và cách thức giấu vật liên quan chặt chẽ tới giá trị chứng minh của chứng cứ, giá trị pháp lý của chứng cứ, làm nảy sinh căn cứ pháp lý để tiến hành các hoạt động tố tụng khác

Thứ ba: Biên bản tố tụng:

Đối với sự việc, khi cần ghi lại trong biên bản một sự việc cụ thể nào đó, cần phải ghi đầy đủ các nội dung như: tên sự việc, thời gian xảy ra, hậu quả thiệt hại, nguyên nhân xảy ra sự việc, người biết việc

Khi thu thập chứng cứ đối với các nguồn chứng cứ mới cần phải lưu ý:

- Phương tiện điện tử phải được thu giữ kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng và niêm phong ngay sau khi thu giữ Việc niêm phong, mở niêm phong được tiến hành theo quy định của pháp luật Trường hợp không thể thu giữ phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sao lưu dữ liệu điện tử

đó vào phương tiện điện tử và bảo quản như đối với vật chứng, đồng thời yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan lưu trữ, bảo toàn nguyên vẹn dữ liệu điện tử mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã sao lưu và họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi bảo toàn dữ liệu của mình

- Khi tiến hành thu thập, chặn thu, sao lưu dữ liệu điện tử từ các phương tiện

Trang 37

điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, hoặc ngay trên đường truyền, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tiến hành lập biên bản về sự việc thu thập dữ liệu

và đưa vào hồ sơ vụ án

- Khi nhận được quyết định trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì mọi cá nhân, tổ chức có trách nhiệm thực hiện phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử phải có trách nhiệm chuyển dữ liệu điện tử đó sang dạng có thể đọc, nghe hoặc nhìn được

- Phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử được bảo quản như vật chứng theo quy định của BLTTHS năm 2015 Khi xuất trình chứng cứ là dữ liệu điện tử thì phải kèm theo phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử hoặc bản sao dữ liệu điện tử

Khắc phục bất cập về thẩm quyền thu thập, bổ sung chứng cứ của Tòa án trong BLTTHS năm 2003, Điều 252 BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể Tòa án xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ

Trong đó quy định: Xem xét tại chỗ vật chứng không thể đưa đến phiên tòa, xem xét tại chỗ nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, định giá tài sản, trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại, yêu cầu định giá lại tài sản là những hoạt động thuộc thẩm quyền của Tòa án từ khi thụ lý

hồ sơ vụ án mà BLTTHS năm 2015 đã quy định

Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 cũng quy định, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có quyền xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ Điều 252 quy định lại các quyền này và có bổ sung việc Tòa án tiếp nhận hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án Xét về bản chất thì đó cũng là các hoạt động điều tra của Tòa án trước khi xét xử vụ án Tòa án sẽ thực hiện việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ khi Viện kiểm sát không bổ sung được theo yêu cầu của Tòa án, nghĩa là vụ án đã được trả để điều tra bổ sung nhưng không thực hiện được Tòa án tự mình tiến hành một số hoạt động điều tra và khi đó trách nhiệm hoàn toàn thuộc về Tòa án Qua nghiên cứu, đây là quy định mới tiến bộ bảo đảm quyền độc lập của Tòa án nói chung và Hội đồng xét xử nói riêng, Tòa án hoàn toàn có thẩm quyền xác minh, thu thập hoặc bổ sung chứng cứ nếu thấy cần thiết không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Cơ quan điều tra hay Viện kiểm sát Nếu

Trang 38

như quy định trước đây thì Tòa án chỉ được yêu cầu mà không có quyền quyết định, nên không phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và chủ trương của Đảng về kiểm soát quyền lực, không bảo đảm cho Tòa án thực hiện đầy đủ quyền tư pháp

đề cần thiết trong vụ án cụ thể

Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự bao gồm những sự kiện và tình tiết khác nhau, mà mỗi sự kiện, mỗi tình tiết nói riêng cũng như toàn bộ vụ án, đều phải được nghiên cứu, làm sáng tỏ một cách khách quan, đầy đủ, toàn diện và chính xác

Để chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự, thì vấn đề quan tâm hàng đầu chính là các yếu tố cấu thành tội phạm Song để chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự thì bất cứ một tội phạm nào, các cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tố tụng đều phải chứng minh được những vấn đề như: dấu hiệu hành vi thuộc yếu tố mặt khách quan, lỗi chủ quan, năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi chủ thể tội phạm

Cùng với đó, lời khai của bị can, bị cáo đề cập đến những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự, cũng như các tình tiết khác của vụ án Thực tế cho thấy, có những vụ án các bị can, bị cáo có sự thông đồng khai ra những thông tin sai sự thật, đánh lạc hướng điều tra của Cơ quan tiến hành tố tụng Do vậy, việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ là lời khai của bị can, bị cáo cần hết sức thận trọng và khách quan, cho

dù bị can, bị cáo có lời khai nhận tội mà lời khai đó không phù hợp với thực tế khách quan thì cũng không được coi là chứng cứ để chứng minh trong vụ án hình sự bởi lẽ Điều 98 đã quy định: “Không được dùng lời khai nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội họ”

Điều 108 BLTTHS năm 2015 có quy định:

“1 Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác

Trang 39

thực và liên quan đến vụ án Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự

2 Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án”

Kiểm tra chứng cứ trong vụ án hình sự, là hoạt động tư duy của chủ thể tiến hành tố tụng theo quy định của BLTTHS và các chủ thể khác có liên quan tiến hành xem xét, kiểm tra các chứng cứ đã thu thập được; từ đó đưa ra kết luận về tính xác thực hoặc không xác thực của chứng cứ, tính hợp pháp hoặc không hợp pháp, tính liên quan hoặc không liên quan đến vụ án của chứng cứ

Thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ là việc cần phải làm của các CQTHTT,

là quá trình chứng minh những vấn đề cần phải chứng minh trong VAHS trên cở sở

đó các chủ thể tố tụng mới đưa ra các quyết định tố tụng phù hợp với từng giai đoạn

tố tụng khi thực hiện nhiệm vụ của mình Đối với giai đoạn điều tra VAHS khi đã thu thập, kiểm tra, đánh giá đầy đủ các chứng cứ có liên quan đến VAHS, khi đó có đủ căn cứ để CQĐT, VKSND ra một trong các quyết định tố tụng như tạm đình chỉ điều tra; Bản kết luận điều tra; Đề nghị truy tố; Đình chỉ điều tra

VKSND sau khi nhận được bản kết luận điều tra cùng hồ sơ vụ án mà CQĐT chuyển sang thì có trách nhiệm xem xét, nghiên cứu hồ sơ Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án mà có những vấn đề chưa rõ thì VKSND yêu cầu CQĐT báo cáo thêm VKSND có trách nhiệm kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng mà CQĐT có thẩm quyền đã áp dụng để bảo đảm cho các quyết định của VKSND được chính xác và khách quan góp phần truy cứu trách nhiệm hình sự đúng tội, đúng người và đúng pháp luật Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi VKSND nhận được các tài liệu của VAHS (bao gồm cả kết luận điều tra và đề nghị truy tố) do CQĐT chuyển đến và kết thúc bằng việc VKSND ra một trong ba loại quyết định sau: Truy tố bị can trước TA (Điều 243); Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung (Điều 245); Đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án (Điều 247, 248) Trong giai đoạn này VKSND có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận các quyết định của CQĐT như trả hồ sơ điều tra bổ sung, đình chỉ vụ án…vv

Trang 40

Như vậy, chứng minh trong giai đoạn truy tố, VKSND có trách nhiệm kiểm sát hoạt động TTHS, căn cứ vào hồ sơ của CQĐT chuyển đến, VKSND ra một trong các quyết định có khởi tố vụ án hay không khởi tố, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ, trả

hồ sơ điều tra bổ sung… Quyết định truy tố của VKSND thông qua bản Cáo trạng thể hiện hoạt động chứng minh trên cơ sở các tài liệu của hồ sơ của vụ án (nhất là kết luận điều tra) tính chất lỗi của hành vi phạm tội, lỗi của bị can, bị cáo trong việc thực hiện tội phạm để góp phần có hiệu quả trong việc chuẩn bị cho giai đoạn xét xử của

TA, loại trừ những thiếu sót hoặc hậu quả tiêu cực tiếp theo có thể xảy ra do việc xét

xử thiếu công minh, không có căn cứ và không đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm

và làm oan những người vô tội vv

Thực hành quyền công tố vừa là quyền vừa là trách nhiệm công tố của VKSND trong TTHS là xác định đúng người phạm tội, đúng tội để có thể đưa vụ án

ra trước tòa và tại đó bảo vệ quan điểm của mình trước TA Đó chính là quyền nhưng cũng là nhiệm vụ mà VKSND phải thực hiện và phải thực hiện theo quy định của pháp luật

Trong quá trình chứng minh, việc kiểm tra chứng cứ trong các giai đoạn khởi

tố, điều tra chỉ mang tính sơ bộ, còn việc kiểm tra để phục vụ cho việc đánh giá chứng cứ trong giai đoạn truy tố là một bước khẳng định để từ đó TA ra quyết định đánh giá chính thức Bởi lẽ, ở giai đoạn điều tra mục đích đánh giá đó chưa có tính quyết định, chủ yếu hoạt động kiểm tra, đánh giá chứng cứ nhằm sử dụng làm căn cứ

để ra bản kết luận điều tra đề nghị VKSND truy tố, VKSND cũng kiểm tra, đánh giá chứng cứ chủ yếu phục vụ cho việc quyết định truy tố bị can ra trước TA để xét xử và

có thể bị thay đổi ở các giai đoạn tiếp theo Dựa trên cơ sở các chứng cứ đã thu thập được, Hội đồng xét xử mới đánh giá tổng hợp để đưa ra kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo

Một loại chứng cứ nữa được đề cập đến là dữ liệu điện tử Đây là nguồn chứng

cứ mới được quy định trong BLTTHS 2015, nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm nhất là đối với các tội phạm sử dụng công nghệ cao Việc công nhận

dữ liệu điện tử có giá trị chứng minh tội phạm, là vấn đề hoàn toàn mới do vậy chỉ

Ngày đăng: 07/10/2020, 19:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02-01-2002 về: “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
2. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24-5-2005 về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02-6-2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
10. Lê Văn Cảm – Khoa luật-Đại học Quốc gia Hà Nội “Về nhận thức khoa học phần chung pháp luật hình sự Việt Nam sau pháp điển hóa lần thứ ba”, Tr12–Sách chuyên khảo – (2018) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nhận thức khoa học phần chung pháp luật hình sự Việt Nam sau pháp điển hóa lần thứ ba
13. Trịnh Tiến Việt (2006), “Về chứng cứ và nguồn chứng cứ quy định tại Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003”, Tạp chí Nghề luật, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chứng cứ và nguồn chứng cứ quy định tại Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Tác giả: Trịnh Tiến Việt
Năm: 2006
17. Lê Trung Mão (1995), “Trao đổi về chứng cứ pháp lý trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Công an nhân dân, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trao đổi về chứng cứ pháp lý trong tố tụng hình sự
Tác giả: Lê Trung Mão
Năm: 1995
18. Nguyễn Nông (1995), “Công tác giám định trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác giám định trong tố tụng hình sự
Tác giả: Nguyễn Nông
Năm: 1995
24. Nguyễn Văn Thắng (1996), “Nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Công an nhân dân, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự
Tác giả: Nguyễn Văn Thắng
Năm: 1996
31. Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), “Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học”, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 1999
35. Lê Minh Ngọc (2014) “Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự”, Tr 87, Luận văn Thạc sỹ Luật học, ĐHQG Hà Nội, Khoa luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự
36. Phạm Thế Lực (2000) “Chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Tr 27, Khóa luận tốt nghiệp luật học Khoa Luật - Đại học QGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam
4. Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) (2001), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Khác
5. Nguyễn Ngọc Chí, Chứng minh trong tố tụng hình sự - Lý luận và thực tiễn Khác
6. Nguyễn Ngọc Chí, Những vấn đề lý luận cơ bản của luật tố tụng hình sự Khác
7. Nguyễn Ngọc Chí, Các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự Khác
8. Nguyễn Ngọc Chí, Một số vấn đề lý luận về thời hạn tố tụng hình sự Khác
9. Lê Văn Cảm (chủ biên) (2015), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tr 119. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Khác
12. Trịnh Quốc Toản (2015), Lý luận và thực tiễn về định tội danh và quyết định hình phạt Khác
14. Trịnh Tiến Việt –Phó CN Khoa luật –Đại học Quốc gia Hà Nội “Tội phạm và Trách nhiệm hình sự “ -– Sách chuyên khảo (2013) Khác
15. Đinh Văn Quế (2017), Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015 (Phần thứ nhất- Những quy định chung) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w