Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề “Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn huyện Sóc Sơn, thành phố
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN LẬP ĐỨC
B¶O §¶M QUYÒN CñA NG¦êI BÞ T¹M GI÷ THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM:
Tõ THùC TIÔN HUYÖN SãC S¥N, THµNH PHè Hµ NéI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN LẬP ĐỨC
B¶O §¶M QUYÒN CñA NG¦êI BÞ T¹M GI÷ THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM:
Tõ THùC TIÔN HUYÖN SãC S¥N, THµNH PHè Hµ NéI
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: 8380101.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS CHU HỒNG THANH
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Lập Đức
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Chu Hồng Thanh, người hướng dẫn khoa học giúp tôi thực hiện luận văn này Sự hướng dẫn, góp ý tận tình đã giúp tôi định hướng, quyết tâm và hoàn thành bản luận văn tốt hơn
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo lớp Cao học Luật về Quyền Con người khóa V đã giúp tôi lĩnh hội những kiến thức cơ bản
Cuối cùng, xin đặc biệt cảm ơn gia đình và những người bạn đã ủng hộ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 09/2019
Nguyễn Lập Đức
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 7
1.1 Một số khái niệm liên quan đến bảo đảm quyền của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 7
1.1.1 Khái niệm quyền con người và bảo đảm quyền con người 7
1.1.2 Khái niệm người bị tạm giữ 12
1.1.3 Khái niệm bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật Việt Nam 16
1.1.4 Các yếu tố đặc trưng của bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ 18
1.2 Nội dung bảo đảm quyền của người bị tạm giữ trong pháp luật Việt Nam 25
1.3 Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự 32
1.3.1 Các quyền của người bị tạm giữ theo tiêu chí quốc tế 32
1.3.2 Các bảo đảm về chính trị 36
1.3.3 Bảo đảm về pháp lí 37
Kết luận chương 1 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 42
2.1 Tổng quan tình hình huyện Sóc Sơn có liên quan đến đề tài nghiên cứu 42
Trang 62.2 Thực trạng pháp luật bảo đảm quyền con người của người bị
tạm giữ theo pháp luật Việt Nam, Từ thực tiễn huyện Sóc
Sơn, thành phố Hà Nội 46
2.2.1 Hệ thống văn bản và các quy định pháp luật Việt Nam có liên quan đến bảo đảm quyền của người bị tạm giữ 47
2.2.2 Những hạn chế, khó khăn, vướng mắc 50
2.3 Thực trạng bảo đảm quyền của người bị tạm giữ tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 57
2.3.1 Những tồn tại, hạn chế trong việc đảm bảo quyền con người của người bị tạm giữ, từ thực tiễn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 57
2.3.2 Nguyên nhân những tồn tại, hạn chế trong việc đảm bảo quyền con người của người bị tạm giữ, từ thực tiễn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 60
Kết luận chương 2 62
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM, TỪ THỰC TIỄN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 63
3.1 Phương hướng bảo đảm quyền của người bị tạm giữ theo pháp luật Việt Nam, từ thực tiễn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 63
3.1.1 Yêu cầu về cải cách tư pháp nhằm bảo vệ quyền con người 63
3.1.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật khả thi, công khai, minh bạch và có sự kiểm soát của nhà nước để bảo đảm quyền của người bị tạm giữ 65
3.2 Giải pháp bảo đảm quyền của người bị tạm giữ theo pháp luật Việt Nam, Từ thực tiễn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 67
Kết luận chương 3 79
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.2 Bảng thống kê tình hình bắt giữ và phân loại từ năm
Bảng 2.3 Bảng thống kê tình hình giải quyết người bị tạm giữ từ
Trang 8
1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăm lo đến con người, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện trong thực hiện các chính sách kinh tế xã hội, trong các hoạt động nhà nước là những quan điểm cơ bản được thực hiện trong các văn bản của Đảng
Để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp, Đảng có những quan điểm chỉ đạo
về cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, đặc biệt tại Nghị quyết
số 49-NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02-6-2005 “về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” khẳng định:
Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với cơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, trong việc đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Huyện Sóc Sơn là một địa bàn phức tạp với nhiều loại tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng Ước tính, hàng năm các cơ quan tố tụng huyện Sóc Sơn khởi tố gần 300 vụ án hình sự, gần 500 bị can, hàng trăm người cần phải
áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ hình sự Người bị tạm giữ là nhóm người yếu thế, dễ bị xâm hại quyền, mà chủ thể xâm hại lại là các cơ quan tiến hành tố tụng Bên cạnh nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm thì quyền con người của những người bị tạm giữ cần được bảo đảm Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ chính là bước đầu bảo vệ công lý,
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Bảo đảm quyền của
người bị tạm giữ theo pháp luật Việt Nam: Từ thực tiễn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội” làm luận văn cao học luật là vấn đề mang tính cấp bách,
Trang 92
thiết thực không những về mặt lý luận mà cả thực tiễn đối với địa phương trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học pháp lý nước ta vấn đề quyền con người và bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp nói chung và trong hoạt động tố tụng nói riêng đã được nhiều tác giả nghiên cứu từ các mức độ và góc độ khác nhau Đối với người bị buộc tội nói chung, người bị bắt trong tố tụng hình sự nói riêng cũng có nhiều công trình đã đề cập nghiên cứu
Ở phạm vi nghiên cứu về quyền con người và bảo đảm quyền con người nói chung trong tố tụng hình sự, cụ thể có nhiều công trình đã công bố như: Sách “Quyền con người và Luật quốc tế về quyền con người”, PGS TS
Chu Hồng Thanh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1997 Sách:“Bảo
đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam”, năm 2010, NXB Đại
học quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách: “Bảo vệ quyền con người trong luật hình
sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam”, của tác giả Trần Quang Tiệp (2004) [42],
“Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam” của GS.TS Trần Ngọc Đường [16]; sách chuyên khảo “Quyền lực Nhà
nước và quyền con người” của PGS.TS Đinh Văn Mậu;
Dưới góc độ chuyên ngành, cũng có nhiều công trình về bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hoặc tư pháp hình sự được công bố Trong số
các công trình này có: Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia “Bảo
vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” của GS.TSKH Lê Văn
Cảm [9]; báo cáo “Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự trong điều
kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” tại Hội thảo
về Quyền con người trong tố tụng hình sự (do viện kiểm sát ND tối cao và Uỷ ban nhân quyền Australia tổ chức tháng 3/2010) của PGS.TS Nguyễn Thái
Trang 103
Phúc; bài báo khoa học “Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ trong tố
tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của PGS.TS Trần Văn Độ;
Các công trình trên các tác giả đã nghiên cứu về vấn đề bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng Bước đầu đã đặt nền móng cho việc đặt quyền con người lên hàng đầu Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình khoa học nào tiếp cận một cách trọn vẹn, toàn diện, hệ thống, đồng bộ về vấn đề bảo đảm quyền con người của người
bị tạm giữ theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn một địa bàn nghiên cứu, cụ thể là tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề “Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội)” cần tiếp tục được nghiên cứu, để có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ không chỉ trên địa bàn huyện Sóc Sơn,
mà còn có thể tham khảo áp dụng trên toàn quốc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung về bảo đảm quyền con người nói chung và thực tiễn áp dụng đối với người bị tạm giữ trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội nói riêng Qua đó, phát hiện những khó khăn, vướng mắc, thiếu sót trong quá trình thực hiện của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, để đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Một là, phân tích tổng quát các vấn đề lý luận về quyền con người, quyền
của người bị tạm giữ, bảo đảm quyền con người đối với người bị tạm giữ
Trang 114
Hai là, phân tích, đánh giá về pháp luật về bảo đảm quyền con người
đối với người bị tạm giữ và từ thực tiễn áp dụng pháp luật tại đại bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội để rút ra các vướng mắc, hạn chế của pháp luật hiện hành và nguyên nhân của những bất cập trong thực thi pháp luật liên quan
Ba là, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm
quyền con người đối với người bị tạm giữ
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quyền con người, bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, những hạn chế, bất cập khó khăn trong quy định của pháp luật, những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng Ngoài ra, luận văn còn nghiên cứu, phân tích thực tiễn bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn huyện Sóc Sơn làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc những khía cạnh pháp lý của một số quy định của pháp luật về bảo đảm quyền con người đối với người bị tạm giữ
- Về địa bàn khảo sát: Luận văn chỉ khảo sát thực trạng bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
- Về thời gian khảo sát: luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ trong thời gian từ năm 2014 đến năm 2018
Trang 125
5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, cần sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê để tổng hợp các tri thức khoa học các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa làm rõ hơn về phương diện
lý luận về bảo đảm quyền con người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay Đề tài đã phân tích, đánh giá, tổng hợp thực tiễn việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ trên địa bàn huyện Sóc Sơn Qua đó, tìm ra những ưu điểm, hạn chế, thiếu sót, khó khăn, vướng mắc khi thực hiện Đồng thời kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự về việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân nhất là đối với người bị tạm giữ
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ sung lợi ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các cơ quan điều tra, viện kiểm sát, Tòa án và Cơ quan thi hành án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật
Trang 136
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở nhận thức về bảo đảm quyền con người của người bị
tạm giữ theo pháp luật Việt Nam
Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ
theo pháp luật Việt Nam trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm quyền con người của
người bị tạm giữ theo pháp luật Việt Nam, từ thực tiễn huyện Sóc Sơn
Trang 147
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1 Một số khái niệm liên quan đến bảo đảm quyền của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.1 Khái niệm quyền con người và bảo đảm quyền con người
o bình o đẳng o về o nhân o phẩm o và o các o quyền o Mọi o người o đều o được tạo o hóa o ban o cho
o lý o trí o và o lương o tâm, o và o cần o phải o đối o xử o với o nhau o bằng o tình anh o em”. oVăn
o toàn o cầu o có o tác o dụng o bảo o vệ o các o cá o nhân o và o các nhóm o chống o lại o những o hành
o động o ho c o sự o b o m c o mà o làm o t n o hại o đến o nhân phẩm, o những o sự o được o phép o và
o tự o do o cơ o bản o của o con o người”. oNhư ovậy, quyền ocon ongười ochỉ ochỉ ohiện ohữu otrên
Trang 158
Trang 169
Theo lĩnh vực của đời sống thì quyền con người được phân thành hai nhóm chính:
- Nhóm các quyền d n sự, chính trị: Bao gồm các quyền và tự do cá
nhân, tiêu biểu như quyền sống, quyền tự do đi lại, quyền hội họp, quyền tự
do tôn giáp tự do tôn giáo, quyền được xét xử công bằng
- Nhóm các quyền về kinh tế, ã hội và văn hóa: Nhóm các quyền
này hướng vào việc tạo lập các điều kiện và sự đối xử bình đẳng, công bằng cho mọi công dân trong xã hội Các quyền này bao gồm: quyền được hưởng an sinh xã hội, quyền được giáo dục, quyền lao động, quyền học tập, các quyền về văn hoá, sáng tạo và hưởng thụ các thành tựu của khoa học kỹ thuật …
Trang 1710
Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, để bảo đảm quyền con người, nhà nước có ba nghĩa vụ cụ thể đó là:
Trang 1811
Trang 1912
Như vậy, có thể hiểu bảo đảm quyền con người chính là việc nhà nước,
ghi nhận, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người thông qua pháp luật
1.1.2 Khái niệm người bị tạm giữ
Trong Tố tụng hình sự Việt Nam, người bị tạm giữ là người tham gia tố tụng có quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến vụ án Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2015 đưa ra khái niệm về người bị tạm giữ như sau: “Người bị
tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã ho c người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã
có quyết định tạm giữ”
Trong khi đó, Luật thi hành tạm giữ tạm giam đã cụ thể hóa: “Người bị
tạm giữ là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự”
Như vậy để trở thành người bị tạm giữ cần có đủ hai điều kiện:
+ Điều kiện về nội dung: Khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn
bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người mà bị người khác có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy
và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm và thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn; người mà thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc nơi ở nên cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ; người bị phát hiện đang thực hiện tội phạm; người có lệnh truy nã hoặc người
tự thú, đầu thú sau khi thực hiện tội phạm
+ Điều kiện về hình thức:
Thứ nhất, đối với họ phải có quyết định tạm giữ do người có thẩm
quyền ban hành Theo quy định của Điều 117 và Điều 110 Bộ luật tố tụng
Trang 2013
hình sự năm 2015 thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp, người chỉ huy Quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới, người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng hoặc Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển là những người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ
Thứ hai, họ phải đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm
giữ, gia hạn tạm giữ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Từ những phân tích ở trên, theo quan điểm của tôi có thể đưa ra khái
niệm khoa học về người bị tạm giữ như sau: Người bị tạm giữ là người đối
với họ đã có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền tố tụng; và đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự, chúng ta sẽ thấy có những đối tượng sẽ bị áp dụng quyết định tạm giữ như sau:
Thứ nhất, là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp:
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã quy định những trường hợp giữ khẩn cấp như sau:
Trường hợp khẩn cấp thứ nhất: Có đủ căn cứ để xác định người đó
đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã có quá trình theo dõi hoặc kiểm tra xác minh các nguồn tin biết người đó (một người hoặc nhiều người) đang bí mật tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải bắt ngay trước khi tội phạm
được thực hiện Việc giữ người này cần phải đảm bảo hai điều kiện: Một là,
có đủ căn cứ xác định một người đang sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc
chuẩn bị các điều kiện phạm tội Hai là, loại tội phạm đang chuẩn bị được
Trang 21Trường hợp khẩn cấp thứ hai: Khi người cùng thực hiện tội phạm hoặc
bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn Việc giữ người trong trường hợp này cần phải đảm bảo
hai điều kiện: Một là, phải có người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt
trông thấy và trực tiếp xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm, đó có
thể là người cùng thực hiện tội phạm, nhân chứng hoặc bị hại Hai là, xét thấy
cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn
Trường hợp khẩn cấp thứ ba: Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người
hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ Việc
giữ người trong trường hợp này cần đảm bảo hai điều kiện sau: Một là, khi
thấy dấu vết tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc tại nơi làm việc của người
bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội Hai là, cần ngăn chặn ngay việc
người bị nghi thực hiện tội phạm trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ
Thứ hai, là người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang:
Bộ luật tố tụng hình sự quy định những trường hợp phạm tội quả tang như sau:
Trường hợp thứ nhất: Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện
Đây là trường hợp tội phạm diễn ra ở giai đoạn chưa đạt, tức là đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hành vi quy định trong mặt khách quan của tội phạm thì bị phát hiện
Trang 2215
Trường hợp hợp thứ hai: Người ngay sau khi thực hiện tội phạm thì
bị phát hiện Đây là trường hợp người phạm tội đã thực hiện đầy đủ hành vi quy định trong mặt khách quan của tội phạm thì bị người khác phát hiện Người bị phạm tội có thể bị bắt ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội chưa kịp chạy trốn Hoặc cũng có thể, ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội, người đó chạy trốn và bị bắt giữ, việc đuổi bắt phải liền ngay sau khi chạy trốn thì mới có cơ sở xác định đúng người phạm tội, tránh bắt nhầm người không thực hiện tội phạm Nếu việc đuổi bắt bị gián đoạn về mặt thời gian so với hành vi chạy trốn thì không được xem là bắt quả tang mà có thể bắt theo trường hợp khẩn cấp
Thứ ba, là người bị bắt theo quyết định bị truy nã
Những người phải ra lệnh (quyết định) truy nã gồm: Bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu và phạm nhân trốn trại Những đối tượng này đều có đặc điểm chung là là người đã thực hiện hành vi phạm tội và bất kỳ ai đều có quyền bắt
Thứ tư, là người phạm tội tự thú, đầu thú
Tự thú là việc một người sau khi đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng hành vi đó vẫn chưa bị phát hiện, hoặc người thực hiện hành vi đó vẫn chưa
bị phát hiện người đó đã tự ra trước cơ quan chức năng trình diện và khai nhận về hành vi phạm tội của mình Đầu thú là việc người phạm tội sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền
về hành vi phạm tội của mình Tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm, nhân thân của người phạm tội thì người phạm tội tự thú, đầu thú có thể bị tạm giữ nhưng cũng có thể không cần thiết phải tạm giữ
Ngoài những điều kiện cần là cơ sở, căn cứ ra quyết định tạm giữ như trên, một người sẽ bị coi là người bị tạm giữ còn cần điều kiện đủ về hình thức, đó là:
Trang 2316
Thứ nhất là, đối với họ phải có quyết định tạm giữ
Bên cạnh điều kiện cần là một người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp,
bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú thì điều kiện đủ để họ trở thành người bị tạm giữ là đối với họ phải có quyết định tạm giữ Nếu một người bị bắt, giữ trong các trường hợp nêu trên hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú mà không có quyết định tạm giữ thì cũng không phải là người bị tạm giữ Do đó điều kiện
đủ này điều kiện quan trọng và quyết định một người có phải là người bị tạm giữ hay không trong quá trình tham gia tố tụng hình sự Khi họ đã có quyết định tạm giữ và tham gia vào quá trình tố tụng hình sự thì người bị tạm giữ có quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật
Thứ hai là, họ phải bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Sau khi có quyết định tạm giữ, thì người bị tạm giữ cần phải được tạm giữ tại cơ sở tạm giữ trong thời hạn nhất định theo đúng quy định pháp luật Đây là điều kiện quan trọng để bảo đảm quyền của người bị tạm giữ được bảo vệ
Trên đây chúng ta đã xác định được khái niệm và đặc điểm của người
bị tạm giữ, sau đây chúng ta cần phải xác định khái niệm quyền con người của người bị tạm giữ Đây là nội dung quan trọng, từ đó có thể xác định được nội dung bảo đảm quyền của người bị tạm giữ trong pháp luật là như thế nào
1.1.3 Khái niệm bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật Việt Nam
Bảo đảm quyền con người xét cho cùng chính là việc ghi nhận và xây dựng cơ chế thực hiện quyền con người vào trong pháp luật mỗi quốc gia Quyền con người chỉ được bảo đảm khi được quy định bằng pháp luật
và có cơ chế bảo đảm, vận hành bởi pháp luật Do đó, bảo đảm quyền con người là sự pháp lý hóa địa vị của con người trong xã hội Bảo đảm quyền
Trang 2417
con người của người bị buộc tội là đảm bảo cho những người đó khi rơi vào tình trạng bị buộc tội có thể bảo vệ mình và thực hiện quyền của mình theo quy định
Tuy nhiên, Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ là không chỉ là việc ghi nhận các quyền con người của họ trong pháp luật mà còn là sự đảm bảo thực thi trong hoạt động tạm giữ trong tố tụng hình sự Thực hiện tốt việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động tạm giữ là đóng góp có hiệu quả cho việc bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự và bảo đảm quyền con người nói chung
Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tạm giữ là nhiệm vụ của Nhà nước Ngoài các quy phạm pháp luật về quyền con người, thì cần phải có những bảo đảm ràng buộc pháp lý của Nhà nước Nhà nước trong điều kiện kinh tế - xã hội, pháp lý của mình cần có cơ chế phù hợp để ghi nhận và bảo đảm thực thi quyền con người
Để bảo đảm quyền con người trong hoạt động tạm giữ bên cạnh việc củng cố và tăng cường các bảo đảm quyền con người nói chung, còn phải bảo đảm các yếu tố mang tính đặc trưng riêng như:
- Trên cơ sở các tiêu chí quốc tế cần xây dựng được hệ thống hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam;
- Song song với việc quy định trong pháp luật thì một điều quan trọng nữa là phải có hệ thống thực thi hiệu qủa các quyền con người được quy định trong hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động tạm giữ;
- Đảm bảo cơ chế giám sát bảo đảm quyền con người trong hoạt động tạm giữ
Tóm lại, khái niệm bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ có
thể được hiểu: “Là việc ghi nhận quyền con người của người bị tạm giữ đồng
thời xây dựng cơ chế, hệ thống thực thi và giám sát có hiệu quả để quyền con người của người bị tạm giữ được bảo đảm trên thực tế"
Trang 25vi hẹp, pháp luật bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự và thi hành tạm giữ bao gồm những quy định của luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật thi hành tạm giữ, tạm giam nhằm bảo đảm quyền con người, bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:
+ Quy định về tội phạm và biện pháp ngăn chặn với việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động tạm giữ
+ Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nhằm bảo đảm quyền con người trong hoạt động tạm giữ
+ Quyền của người bị tạm giữ
+ Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người có thẩm quyền tạm giữ, cơ sở tạm giữ
+ Quy định chi tiết điều kiện, tổ chức tạm giữ
Nếu như Luật hình sự quy định về tội phạm, hình phạt, Luật tố tụng hình sự quy định về trình tự xác định tội phạm, trình tự áp dụng hình phạt, mức hình phạt, thi hành hình phạt, thì Luật thi hành tạm giữ quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành tạm giữ, tạm giam Nghiên cứu những nội dung
cơ bản thể hiện rõ nét nhất việc bảo đảm quyền con người trong giai đoạn bị tạm giữ đòi hỏi phải tìm hiểu luật hình sự, luật tố tụng hình sự và Luật thi hành tạm giữ, tạm giam Theo quy định tại điều 1 Bộ luật hình sự năm 2015,
Trang 2619
luật hình sự có hai nhiệm vụ chính là bảo vệ và giáo dục Nhằm thực hiện các nhiệm vụ này, quy định của luật hình sự về tội phạm phải chính xác cụ thể, hệ thống hình phạt phải đa dạng, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi phạm tội
Mục đích của luật tố tụng hình sự về bản chất nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự, phòng ngừa ngăn chặn tội phạm và giáo dục ý thức pháp luật Để thực hiện được mục đích đó, nội dung các văn bản quy phạm pháp luật với tính chất là nguồn của luật tố tụng hình sự phải không được trái với các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự nhằm bảo đảm quyền con người Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật này quy định cụ thể rõ ràng về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự, xác định rõ quyền, nghĩa vụ của chủ thể tố tụng hình sự Thông qua luật tố tụng hình sự, mọi cá nhân đều
có thể sử dụng pháp luật bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Trong khi đó Luật thi hành tạm giữ, tạm giam chi tiết hóa nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành tạm giữ, tạm giam; tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam; quyền, nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành tạm giữ, tạm giam Tóm lại, hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự phải có các thuộc tính là toàn diện, đồng bộ, khả thi và minh bạch
Pháp luật bảo đảm quyền con người trong hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ phải thường xuyên cập nhật, sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan tới quyền con người trong hoạt động tạm giữ trong tố tụng hình sự
để đảm bảo quyền con người trong giai đoạn tạm giữ để quyền người tạm giữ luôn được bảo vệ, đảm bảo tính dân chủ, công khai, minh bạch cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế
Trang 27sư, tổ chức giám định Và việc thi hành việc tạm giữ người do cơ sở tạm giữ thực hiện:
Thứ nhất, đối với các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự
Cơ quan điều tra: Cơ quan điều tra có nhiệm vụ áp dụng mọi quy định biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự, bảo vệ quyền con người Các biện pháp do cơ quan điều tra thực hiện theo quy định pháp luật rất đa dạng nhưng có điểm chung
là đều ảnh hưởng trực tiếp tới các quyền con người trong đó có biện pháp bắt, tạm giữ Vì vậy, tổ chức hoạt động của cơ quan điều tra phải phù hợp với chức năng nhiệm vụ được quy định, đội ngũ điều tra viên, cán bộ điều tra phải có phẩm chất chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu được giao
Viện kiểm sát: viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố (quyền buộc tội) và kiểm sát hoạt động tư pháp Trong tố tụng hình sự, viện kiểm sát cũng đại diện cho Nhà nước thực hiện quyền buộc tội theo quy định của luật tố tụng hình sự trong đó bao gồm việc phê chuẩn, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn tạm giữ Đồng thời, kiểm sát cơ sở tạm giữ là một trong chức năng, nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát Do đó hoạt động của viện kiểm sát chính là việc đảm bảo thực hiện quyền con người
Đổi mới tổ chức, hoạt động của viện kiểm sát được thực hiện theo nguyên tắc tập trung thống nhất trong ngành, thực hiện tốt chế độ giám sát,
Trang 2821
báo cáo giữa viện kiểm sát cấp dưới với viện kiểm sát cấp trên Yêu cầu cụ thể là tổ chức, hoạt động của viện kiểm sát phải sát hợp với nhiệm vụ, chức năng của cơ quan này, các kiểm sát viên cũng phải đạt những tiêu chuẩn về chính trị, chuyên môn Ở Việt Nam hiện nay, đổi mới tổ chức, hoạt động của viện kiểm sát được thực hiện nhằm tạo điều kiện cho viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
Thứ hai, đối với các cơ quan, t chức khác tham gia vào tố tụng hình sự
Trong tố tụng hình sự, hoạt động của các tổ chức này có vai trò quan trọng tố tụng hình sự là một lĩnh vực rộng lớn, phức tạp gắn liền với đời sống vật chất, tinh thần của con người Để xác định đúng quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tố tụng hình sự thì phải có sự phối hợp của các tổ chức này Mặt khác,
tổ chức luật sư, tổ chức giám định bao gồm các cá nhân cụ thể nên hoạt động của loại tổ chức này cũng tác động tới nhận thức về quyền con người của họ, thông qua đó đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục về quyền con người
Từ những lý do trên, đổi mới tổ chức, hoạt động của các tổ chức trên là một yếu tố quan trọng của bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự Nội dung đổi mới phải gắn với việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ thẩm quyền của các tổ chức này, xác định cụ thể tiêu chuẩn chức danh, quyền và nghĩa vụ của các thành viên tổ chức khi thực hiện nhiệm vụ
Thứ ba, đối với cơ sở tạm giữ
Đây là cơ quan thực hiện việc tạm giữ trên thực tế Ở cấp quận huyện
sẽ là nhà tạm giữ, ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là các trại tạm giam Hoạt động giam giữ nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội bị các hành vi vi phạm pháp luật xâm hại, đảm bảo tính công minh của pháp luật; cách ly người phạm tội với môi trường xã hội, phòng ngừa, ngăn chặn không để họ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội và để có điều kiện thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ về tội phạm phục vụ công tác điều tra Vì vậy, tổ chức hoạt
Trang 2922
động của cơ sở tạm giữ phải phù hợp với chức năng nhiệm vụ được quy định, đội ngũ giám thị cán bộ cơ sở tạm giữ phải đáp ứng chuyên môn nghiệp vụ, tuân thủ đúng quy định pháp luật
- Yếu tố cơ chế phối hợp trong hoạt động tạm giữ trong tố tụng hình sự
là một quá trình liên tục bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau
Trang 3023
- Yếu tố giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tạm giữ
Trong hoạt động tạm giữ, quyền con người luôn có nguy cơ bị xâm hại rất cao vì các cơ quan Nhà nước tham gia vào hoạt động này trực tiếp ảnh hưởng tới các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân được pháp luật quy định Chính vì vậy, để có thể thực hiện tốt mục tiêu bảo vệ quyền con người của người của người bị tạm giữ thì việc bảo đảm cơ chế giám sát, giải quyết khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự, là một yêu cầu cấp bách Xây dựng cơ chế giám sát, giải quyết khiếu nại nhằm hạn chế sự lạm dụng quyền lực của các
cơ quan tư pháp trong thực thi pháp luật
Để thực hiện tốt bảo đảm này, cần xác định rõ các vấn đề cơ bản như
cơ chế về chủ thể, phương thức thực hiện, các biện pháp bảo đảm cho hoạt động này có hiệu lực trong thực tiễn cuộc sống
- Yếu tố xử lý vi phạm quyền con người trong hoạt động bắt, tạm giữ, tạm giam
Trang 3124
- Yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật trong tố tụng hình sự
Trang 3225
1.2 Nội dung bảo đảm quyền của người bị tạm giữ trong pháp luật Việt Nam
Trang 3326
nguyên tắc tố tụng hình sự được phân chia thành các nhóm khác nhau để nghiên cứu, bao gồm: 1/ Nhóm các nguyên tắc có nội dung liên quan đến yêu cầu về bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự:; 2/ Nhóm các nguyên tắc về tính chất của hoạt động tố tụng hình sự; 3/ Nhóm các nguyên tắc về sự tham gia của nhân dân và sự phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan nhà nước khác đối với hoạt động tố tụng hình sự và 4/ Các nguyên tắc bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng
Trong số các nguyên tắc tố tụng hình sự cơ bản được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, các nguyên tắc thuộc nhóm thứ tư thể hiện rõ nhất quan điểm của người làm luật liên quan đến bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị bắt trong tố tụng hình sự nói chung và đặc biệt là trong giai đoạn điều tra Đó là: nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân (điều 8), nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước
Trang 3427
pháp luật(điều 9), nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể (điều 10), nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân (điều 11), nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân (điều 12), nguyên tắc suy đoán vô tội (điều 13), nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (điều 16)
Ngoài ra, các nguyên tắc tố tụng khác ở mức độ này hay mức độ khác, góc độ này hay góc độ khác đều trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến việc bảo đảm quyền con người của người tham gia tố tụng nói chung, của người bị tạm giữ nói riêng trong giai đoạn điều tra
Trang 3528
* Như vậy, Quyền con người của người bị tạm giữ bao hàm cả quyền
tố tụng cá nhân của họ trong giai đoạn tạm giữ Người bị tạm giữ chỉ có thể thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng của mình nếu quyền con người của họ được tôn trọng và bảo đảm; và ngược lại, không thể nói đến quyền con người
Trang 3629
nếu các quyền tố tụng quan trọng của người bị tạm giữ không được bảo đảm thực hiện Vì vậy, việc nghiên cứu cũng như thực hiện việc bảo đảm quyền cá nhân, quyền tố tụng của người bị tạm giữ cần đồng thời được tiến hành Có như vậy, quyền con người của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự mới được bảo đảm một cách hiệu quả, góp phần không chỉ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, mà còn lợi ích Nhà nước, cộng đồng và nhiệm vụ tố tụng đặt ra Vì vậy, theo chúng tôi, khi nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự là cần tập trung phân tích các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam và thực hiện các quy định đó trên thực tế các nội dung cơ bản sau đây
- Nghiên cứu các nguyên tắc cơ bản tố tụng hình sự liên quan đến bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự như tôn trọng và bảo vệ các quyền
cơ bản của công dân (điều 4), nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân (điều 8), nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật(điều 9), nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể (điều 10), nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân (điều 11), nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân (điều 12), nguyên tắc suy đoán vô tội (điều 13), nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (điều 16), nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự (điều 31) và nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự (điều 32)…
Trang 3730
Trang 3831
Trang 3932
quốc o gia, o cũng o không o thể o bị o vi o phạm…” o[24, otr.148]. o oQuyền osống ocần ophải
Trang 4033
Quyền o được o bảo o vệ o không o bị o tra o tấn, o đối o xử o tàn o bạo
Quyền o được o bảo o vệ o không o bị o bắt o làm o nô o lệ o hay o hạ o nhục