1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ trong các trường tiểu học

87 767 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 513,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận Văn _ Quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ trong các trường tiểu học.docLuận Văn _ Quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ trong các trường tiểu học.docLuận Văn _ Quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ trong các trường tiểu học.docLuận Văn _ Quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ trong các trường tiểu học.doc

Trang 1

Ngày thế giới nhận biết về Tự kỷ được Liên Hợp Quốc phát động năm

2007 nhằm nâng cao nhận thức về hội chứng này trên toàn cầu Những thống

kê mới nhất về tự kỷ của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ cho biết cứ

88 trẻ em Hoa Kỳ thì có một em mắc Tự kỷ Trong đó ở trẻ em tự kỷ thì cứ 54

em nam thì có 1 em nữ Theo bà Hoàng Ngọc Bích, Chủ tịch Mạng lưới Tự kỷViệt Nam (VAN) tại hội thảo “Tự kỷ tại Việt Nam: hiện trạng và thách thức”

tổ chức tại Hà Nội ngày 1/4/2016: trước đây, tỷ lệ người tự kỷ trên thế giới chỉ

là 1/1.000 thì nay ở Mỹ, tỷ lệ này đã dâng lên đến 1/88, châu Phi là 1/37 và ởViệt Nam hiện đang có hơn 200.000 người tự kỷ trong số gần 90 triệu dân số

và con số này vẫn đang tăng lên hàng ngày với tốc độ rất nhanh Rối loại tự kỷước tính đã tác động tới cuộc sống của khoảng 3 triệu người Mỹ và hàng chụctriệu người trên thế giới

Xu thế phát triển giáo dục của thế giới cũng như của Việt Nam là thựchiện công bằng trong giáo dục, tạo điều kiện cho mọi trẻ em có cơ hội đượctiếp cận một nền giáo dục có chất lượng, cũng như dạy học dựa trên khả năngnhu cầu của người học, tạo điều kiện cho trẻ em có cơ hội phát triển tối đa

Trang 2

năng lực cá nhân của trẻ và tạo sự bình đẳng trong giáo dục cho mọi trẻ emnói chung và trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt nói riêng.

“Tất cả trẻ em sinh ra đều có quyền được đi học” Điều này đã đượckhẳng định trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em Vì thế, giáo dục trẻkhuyết tật (TKT) không còn được xem là một việc làm từ thiện nữa Các emcũng có quyền học tập, vui chơi như bao trẻ em bình thường khác

Hiện cộng đồng người tự kỷ đang gặp rất nhiều khó khăn trong cuộcsống mà lớn nhất là làm sao để cho họ có thể được tôn trọng và hoà nhậptrong xã hội Vì vậy rất cần có những can thiệp và hỗ trợ càng sớm càng tốt.Việc chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật nói chung và trẻ tự kỷ nói riêng đang

là vấn đề quan tâm chung của toàn xã hội và là nỗi lo lắng lớn nhất của giađình và các cơ sở giáo dục

Môi trường gia đình đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sócgiáo dục trẻ Jacquie Mc Taggard trong cuốn sách “Từ chiếc bàn giáo viên”xuất bản năm 2003 đã nói: “Các bậc cha mẹ chính là người thầy đầu tiên vàtốt nhất của con cái họ Đó cũng là phần thưởng vô cùng to lớn” Tuy nhiênsau 36 tháng tuổi trẻ bắt đầu tham gia học tập tại các cơ sở mầm non và caohơn nữa, do đó việc quan lý giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ tại các cơ cơ sởgiáo dục cần phải được quan tâm đầy đủ cả về nội dung chương trình, đội ngũnhà cán bộ quản lí, đội ngũ nhà giáo, hệ thống cơ sở vật chất…

Ở Việt Nam, việc phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ còn nhiều khó khăn

vì ngành giáo dục chưa xây dựng được mô hình chuyên biệt hay chỉ đạochuyên môn trong lĩnh vực giáo dục đặc biệt cho trẻ tự kỷ Một số trung tâmgiáo dục dành cho các em thường thuộc nhiều cơ quan quản lý khác nhau nhưthuộc Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật (trung tâm Sao Mai, Phúc Tuệ, Hy Vọng ),Bệnh viện tâm thần, Sở Lao động- Thương binh và xã hội hoặc một số trường

Trang 3

dân lập chuyên biệt nên không thể có các biện pháp, chương trình giáo dụcthống nhất trên quan điểm giáo dục cũng như trị liệu.

Hiện nay nhiều trung tâm hỗ trợ và can thiệp cho trẻ tự kỷ đã được mởtrên nhiều tỉnh thành, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội,Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng song chất lượng của các trung tâm thìchưa có một khảo sát chính thức nào, cũng như chưa có một chương trình canthiệp, giáo dục chuẩn về vấn vấn đề này Thực tế ở nước ta việc áp dụng, kếthợp các phương pháp can thiệp trẻ tự kỷ, chưa đồng bộ, nhất quán và cònnhiều sai sót Mặt khác không phải phụ huynh nào có con em bị tự kỷ cũngđược tiếp cận tới các thông tin về giáo dục, chăm sóc trẻ tự kỷ đúng cách haycác trung tâm chuyên trách về tự kỷ Hơn nữa, tình trạng phụ huynh ngại côngkhai bệnh lý của con em mình do lo sợ xã hội kỳ thị, phân biệt Bên cạnh đócác thông tin về tự kỷ tràn lan trên các kênh thông tin không được kiểm soátlàm cho cho mẹ hoang mang, đâu là thông tin đúng và có cơ sở khoa học Đây

là một thiệt thòi lớn cho trẻ và gia đình của trẻ Nó làm giảm cơ hội cho trẻđược tiếp cận với chăm sóc, giáo dục tốt và hòa nhập

Xuất phát từ việc học tập, nghiên cứu lý luận về khoa học quản lý giáodục, từ thực tiễn công tác, hoạt động quản lý học sinh nói chung và trẻ tự kỷnói riêng người làm công tác quản lý cần phải thấu hiểu nhu cầu xã hội màtrong đó có học sinh và phụ huynh học sinh của mình Lựa chọn và nghiên

cứu đề tài: “Quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ trong các trường tiểu học ”, học viên có mong muốn đúc rút được những kinh nghiệm, đưa ra các

biện pháp quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ, có tính khả thi cao, chấtlượng, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và đáp ứng được mục tiêu pháttriển của các nhà trường

Trang 4

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất các biệnpháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục hòa nhập cho trẻ tự

kỷ trong các trường học trên địa bàn huyện , tỉnh hiện nay

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ trong các trường tiểu học

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ trong các trường tiểu

học trên địa bàn huyện , tỉnh hiện nay

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục hoà nhập trẻ tự

kỷ trong trường tiểu học

4.2. Thực trạng quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ trong các

trường tiểu học trên địa bàn huyện , tỉnh hiện nay.

4.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt giáo dục hòa nhập cho trẻ

tự kỷ trong các trường tiểu học ở huyện , tỉnh hiện nay.

5 Giới hạn của đề tài

- Địa bàn nghiên cứu: Đề tài này tiến hành khảo sát về quản lý GDHNtrẻ Tự kỷ tại 11 trường tiểu học huyện – Tỉnh

- Thời gian nghiên cứu: Đề tài sử dụng số liệu về GDHN trẻ Tự kỷ tạicác trường tiểu học huyện - tỉnh từ giai đoạn 2012 đến nay

- Chủ thể quản lý: tập trung vào vai trò quản lý của Phòng GD&ĐT

6 Giả thuyết nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ trong các trường tiểuhọc huyện - tỉnh hiện nay vẫn còn nhiều bất cập do chưa có chương trình đào

Trang 5

tạo, đội ngũ cán bộ quản lý chuyên sâu, đội ngũ giáo viên giáo dục đặc biệtchưa nhiều, cơ chế phối hợp, quản lý yếu kém, cũng như sự phát triển quánhanh số lượng trẻ mắc bệnh tự kỷ, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội nóichung và các bậc cha mẹ có con mắc bệnh tự kỷ nói riêng.

Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý GDHN trẻ Tự kỷ phù hợp vớiđặc điểm của trẻ tự kỷ, đặc điểm của các nhà trường, phù hợp với tình hìnhđịa phương và thực hiện phối hợp một các đồng bộ, hợp lý với các lực lượngtrong và ngoài nhà trường thì sẽ tạo môi trường thuận lợi nhất giúp TTK pháttriển bản thân và hòa nhập cộng đồng

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết để nghiên cứu một sốvấn đề lý luận về quản lý giáo dục, quản lý giáo dục hoà nhập, giáo dục hòanhập TTK trong trường tiểu học thông qua các tài liệu trong nước và nướcngoài về giáo dục TTK

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

Sử dụng phương pháp này để quan sát các hoạt động trong nhà trường,

dự giờ một số giáo viên để tìm hiểu thực trạng dạy và học giáo dục hoà nhậpcủa giáo viên, HSTK và việc quản lý giáo dục hoà nhập HSTK của cán bộquản lý trường tiểu học

7.2.2 Phương pháp điều tra viết

Sử dụng hệ thống bảng câu hỏi để trưng cầu ý kiến đối với lãnh đạo,chuyên viên Phòng Giáo dục - Đào tạo; cán bộ quản lý và giáo viên, cáctrường tiểu học của huyện nhằm thu thập số liệu để đánh giá thực trạng côngtác giáo dục hoà nhập và đề xuất các biện pháp

Trang 6

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với cán bộ quản lý, giáo viên và tham khảocác ý kiến chuyên gia với mục đích đưa các kết luận thoả đáng trong việcđánh giá thực trạng công tác quản lý giáo dục hoà nhập và đề xuất một số biệnpháp giúp cho việc quản lý giáo dục hoà nhập TTK tại các trường tiểu họchuyện có hiệu quả

7.2.4 Phương pháp tổng kết thực tiễn

Phương pháp tổng kết thực tiễn được sử dụng để xây dựng nội dung lýluận cũng như hệ thống câu hỏi khảo sát và lý giải nguyên nhân của thực trạngquản lý giáo dục hoà nhập TTK tại các trường tiểu học huyện

7.2.5 Phương pháp chuyên gia

Thông qua các hình thức hội thảo, hội nghị, trao đổi trực tiếp với cácnhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn để phân tích, đánh giá thực trạng và đềxuất các biện pháp

7.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Sau khi thu thập các phiếu thăm dò ý kiến, dựa vào kết quả điều tra, sửdụng thống kê mô tả, thống kê suy luận để xử lí số liệu khảo sát, đánh giá kếtquả thực nghiệm Trình bày kết quả nghiên cứu bằng đồ hoạ thống kê nhằmđánh giá thực trạng và định hướng, đề xuất biện pháp quản lý giáo dục hoànhập trẻ tự kỷ tại các trường tiểu học huyện - tỉnh

8 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài

Hệ thống hóa và vận dụng lý luận quản lý giáo dục để đề ra các biệnpháp quản lý hoạt động giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ trong các trường họchiện nay phù hợp với thực tế và có tính khả thi góp phần nâng cao chất lượng,đồng thời giúp các em có cơ hội hòa nhập tốt với cộng đồng xã hội

Trang 7

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảoluận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷtrong các trường tiểu học hiện nay

Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ trong cáctrường tiểu học huyện - tỉnh hiện nay

Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ trong cáctrường tiểu học huyện - tỉnh hiện nay

Trang 8

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ

TỰ KỶ TRONG CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN Ở HUYỆN - TỈNH 1.1.Tổng quan các nghiên cứu về vấn đề

1.1.1.Những nghiên cứu ở nước ngoài

Trong hơn bốn thế kỷ qua, tùy thuộc vào sự phát triển của từng thời kỳlịch sử, giáo dục TKT đã trải qua ba mô hình giáo dục khác nhau Thế kỷXVI, mô hình giáo dục chuyên biệt ra đời, đánh dấu một bước phát triển mớicủa giáo dục TKT với tính tích cực, ưu việt và phù hợp với tính lịch sử của nó.Đến những năm 40 của thế kỷ XX một mô hình giáo dục TKT ra đời: mô hìnhgiáo dục hội nhập với đổi mới tích cực hơn Cũng trong những năm 70 của thế

kỷ XX, mô hình GDHN được ra đời

Từ sau năm 1994, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về GDHN, cáchthức tổ chức và quản lý GDHN

William G.Brohier (1994) đã đề nghị: Cần theo dõi và đánh giá thườngxuyên sự tiến triển của các chương trình GDHN nhằm đạt được các mục tiêu

đã đề ra Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã đề cập và nêu ra những mụctiêu chung nhất về GDHN, cách thức thực hiện, các điều kiện đảm bảo cho

thực hiện GDHN và những tiêu chí đánh giá công việc này.[ Lê Thị Thanh

Tâm (2010), Biện pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại các trường tiểu học thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn Thạc sỹ

QLGD]

Sudesh Mukhopadhyagy (1999) cũng đã kết luận: Việc nhận dạng và pháthiện TKT cần được phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong nước và các tổchức phi Chính phủ Việc làm này cần được đưa vào kế hoạch của mỗi nămhọc và được xem như một phần của kế hoạch giáo dục chung của nhà trường

Trang 9

Ý kiến trên được tác giả nêu ra dựa trên cơ sở nghiên cứu, mô tả và định ranhững tiêu chí phân loại khuyết tật, mức độ tật Với những khuyến nghị côngtác nhận dạng và phát hiện TKT cần được thực hiện một cách có kế hoạch,định kỳ và tham gia của các tổ chức, cơ quan chuyên môn Đồng thời cũngđịnh hướng chung cho việc thực hiện GDHN trong trường phổ thông trên cơ

sở xây dựng kế hoạch thực hiện năm học của mỗi nhà trường.[ Joan

M.Harwell (2012), Cẩm nang hoàn chỉnh về khuyết tật học tập, NXB giáo

dục Việt Nam]

Peter Mittler đã nhận định: Thay đổi môi trường giáo dục nhà trường và

hệ thống giáo dục là rất quan trọng đối với GDHN Việc thay đổi này bao gồmviệc sửa đổi chương trình và phương pháp dạy học, thúc đẩy mối quan hệ giữathầy và trò, tạo cơ hội để mọi trẻ được học tập cùng nhau và thúc đẩy sự thamgia của phụ huynh Nhận định trên được đưa ra sau khi tác giả đã dành sựquan tâm và chú ý của mình vào việc thay đổi, tạo môi trường giáo dục thíchhợp cho việc thực hiện GDHN Trong đó đặt ra các vấn đề hết sức cụ thể nhưchương trình cần được điều chỉnh và sắp xếp thế nào cho phù hợp; giáo viêncần lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học như thế nào, các phương phápdạy học đang được thực hiện trong trường phổ thông có đảm bảo cho TKThọc hoà nhập; sự tác động can thiệp, hỗ trợ từ phía giáo viên và vai trò, sự

tham gia của phụ huynh học sinh TKT cũng như trẻ bình thường.

[Khuđôminxki P.V (1982), Về công tác hiệu trưởng, Nghiên cứu giáo

dục.]

Prubudddha Bharata (2005) cho rằng: Để GDHN đạt hiệu quả, cần chú ývào ba lĩnh vực sau: Các chương trình giáo dục phổ thông và các chương trìnhgiáo dục đặc biệt, chuẩn bị và cung cấp các thiết bị, dụng cụ hỗ trợ giảng dạy,phát triển các kỹ năng bổ sung như: đọc, viết chữ nổi, định hướng di chuyển,

Trang 10

kỹ năng sinh hoạt hàng ngày Tác giả đã hướng nhiều đến thực hiện chươngtrình giáo dục trong GDHN, đặt ra các vấn đề như GDHN được thực hiệnchương trình giáo dục phổ thông có điều chỉnh hay có thêm chương trình giáodục đặc biệt bên cạnh chương trình giáo dục phổ thông; sự cần thiết của cácphương tiện, thiết bị đồ dùng dạy học và các kỹ năng đặc thù hỗ trợ choGDHN Ông cũng cho rằng kỹ năng xã hội, kỹ năng sống là mục tiêu hết sức

quan trọng mà GDHN cần đạt được.[ Lê Thị Thanh Tâm (2010), Biện pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại các trường tiểu học thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn Thạc sỹ QLGD]

Theo Sandra Lewis và Carol B Allman: Sau khi giáo dục chuyên biệt ổnđịnh cần hướng tới GDHN GDHN với chương trình, sự hỗ trợ, cách đánh giáđúng sẽ tạo được sự độc lập cho HSKT Quan điểm của tác giả được thể hiệnrất rõ coi GDHN là mô hình giáo dục tối ưu nhất dành cho TKT Từ việc đặt

ra và thực hiện tốt ba yếu tố: chương trình giáo dục; tác động hỗ trợ từ các lựclượng trong và ngoài nhà trường; đánh giá về kiến thức, kỹ năng Sẽ đảm bảo

được sự hoà nhập và độc lập của TKT trong và sau khi ra trường.[ Lê Thị

Thanh Tâm (2010), Biện pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại các trường tiểu học thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn Thạc sỹ

QLGD]

Nhìn chung các nghiên cứu mới chỉ tập trung ở việc nghiên cứu mô hìnhGDHN TKT và cách thức tổ chức, điều kiện thực hiện mà chưa có nhữngnghiên cứu chuyên sâu vào vấn đề quản lý việc thực hiện GDHN trong nhàtrường phổ thông nói chung, nhà trường tiểu học nói riêng

1.1.2.Những nghiên cứu ở Việt Nam

Trước năm 1990, việc giáo dục hòa nhập ở nước ta chủ yếu là quá trình

cố gắng đưa TKT vào nuôi dưỡng, chăm sóc và học tập trong các trường lớp

Trang 11

chuyên biệt Có một số lượng nhất định TKT tham gia học tập trong cáctrường phổ thông nhưng đều do nỗ lực của cá nhân và gia đình mà chưa cóđược sự trợ giúp từ hệ thống giáo dục quốc dân Cho nên việc quản lý giáodục hoà nhập chưa được tiến hành nghiên cứu.

Đến năm 1990, GDHN được Bộ GD&ĐT chuẩn bị và triển khai với sựgiúp đỡ của nhiều tổ chức Quốc tế, có thể chia làm 03 giai đoạn:

Giai đoạn 1990 - 1995: Nghiên cứu, tìm tòi

Giai đoạn 1996 - 2001: Thực hiện thí điểm ở 3 vùng miền trong cả nước Giai đoạn 2005 đến nay: Triển khai rộng khắp trong cả nước thông quacác chính sách quốc gia và của ngành giáo dục

Các tác giả và tác phẩm tiêu biểu về giáo dục TKT ở Việt Nam có thể

gì mà hiện nay chúng ta mô tả như chứng tự kỷ có thể đã mô tả trước đây vàđược gọi là những đứa trẻ hoang dã và Kanner là người đầu tiên mô tả chi tiết

về những gì mà ngày nay biểu hiện bằng thuật ngữ rối loạn tự kỷ ở trẻ em”

[Tự kỉ- những vấn đề lí luận và thực tiễn- tr30].

Các nhà nghiên cứu Australia cho biết, chứng tự kỷ đã tồn tại t lâu trướckhi được chính thức công nhận vào năm 1943 Các câu chuyện cổ tích và dân

Trang 12

gian có từ hàng trăm năm trước đã có những bằng chứng về bệnh tự kỷ ở trẻ

em Theo Tiến sỹ Julie Leask và các cộng sự (Trung tâm miễn dịch và giámsát vắc xin phòng bệnh ở Sydney - Australia): Các câu chuyện của Anh, Đức

và Scandinavia đã ủng hộ giả thuyết rằng chứng tự kỷ không phải là kết quảcủa môi trường hay sản phẩm hiện đại như vắc xin sởi, quai bị, Phản đối lạigiả thuyết cho rằng nguyên nhân của HCTK là do tiêm chủng vắc xin sởi, quaibị…, tác giả Julie Leask đưa ra dẫn chứng là TTK đã tồn tại trước đây tronglịch sử, vào thời điểm mà trẻ em chưa được tiêm chủng

Những năm 70 của thế kỷ XVIII, cuộc cách mạng trong ngành tâm thầnhọc thực sự nổ ra, người ta bắt đầu quan tâm nhiều đến bệnh tâm trí, tinh thần

Y khoa bắt đầu đi tìm căn nguyên của căn bệnh tâm thần Theo những tài liệu

mô tả lâm sàng, vào thời điểm đó, bác sỹ Jean Marc ITard (1774-1838) đã tiếpnhận một cậu bé “hoang dã” tên là Victor Theo mô tả, cậu bé không có khảnăng hiểu và biểu đạt ngôn ngữ, không có khả năng giao tiếp hoặc nhận thức,các ứng xử xa lạ với cuộc sống của xã hội loài người Nói chung, Victor bịmất khả năng giao tiếp về mặt xã hội và không có khả năng nhận thức như trẻbình thường Để khắc phục tình trạng này, ITard đã tìm đến phương pháp giáodục Ông tập trung vào các hoạt động như: tạo hứng thú cho Victor giao tiếp

xã hội, đánh thức sự nhạy cảm về thần kinh, tăng cường mở rộng nhận thứccho Victor, hướng dẫn Victor sử dụng ngôn ngữ, yêu cầu thực hiện thao tác trítuệ đơn giản ITard là người đầu tiên tiến hành giáo dục trị liệu đối với trẻ cókhiếm khuyết tinh thần, ông là người sáng tạo ra học thuyết về tri giác Khácvới những mô tả được sưu tầm từ các tác phẩm văn học cổ đại, những mô tảtheo xu hướng lâm sàng - y học của bác sỹ Jean Marc ITard cho thấy nhữngđặc điểm rõ ràng hơn về HCTK Mô tả này vẫn nhằm khẳng định sự tồn tại

Trang 13

của những đứa TTK trong lịch sử.[TS Ngô Xuân Điệp- viết trên trang Trường chuyên biệt bimbim.com].

Như vậy, thuật ngữ “tự kỷ” tiếng Anh là “Autism”, dịch sang tiếng Việtđược sử dụng bằng các thuật ngữ như: Tự kỷ, tự tỏa hay tự bế nhưng thực chấtđây chỉ là cách dịch khác nhau của thuật ngữ “Autism” Có rất nhiều kháiniệm khác nhau về tự kỷ:

Theo từ điểm bách khoa Columbia (1996): Tự kỷ là một khuyết tật pháttriển có nguyên nhân từ những rối loạn thần kinh làm ảnh hưởng đến chứcnăng cơ bản của não bộ Tự kỷ được xác định bởi sự phát triển không bìnhthường về kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tương tác xã hội và suy luận trẻ namnhiều gấp 4 lần trẻ nữ Trẻ có thể phát triển bình thường cho đến tận 30 tháng

tuổi.[Tự kỷ những vấn đề lí luận và thực tiến- Nguyễn Thị Hoàng Yến, tr12].

Năm 1999, tại Hội nghị toàn quốc về tự kỷ ở Mĩ, các chuyên gia cho rằng,nên xếp tự kỷ vào nhóm các rối loạn lan tỏa và đã thống nhất đưa ra địnhnghĩa cuối cùng về tự kỷ như sau: Tự kỷ là một dạng bệnh trong nhóm rốiloạn phát triển lan tỏa, ảnh hưởng đế nhiều mặt của sự phát triển nhưng ảnh

hưởng nhiều nhất đến kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội [Tự kỷ những vấn

đề lí luận và thực tiến- Nguyễn Thị Hoàng Yến, tr12].

Hiện nay, khái niệm tương đối đầy đủ và được sử dụng phổ biến nhất làkhái niệm của tổ chức Liên hiệp quốc, đưa ra vào năm 2008, như sau: Tự kỉ làmột loại khuyết tật phát triển tồn tại suốt đời, thường được thể hiện ra ngoàitrong ba năm đầu đời Tự kỉ là do rối loạn thền kinh ảnh hưởng đến chức nănghoạt động của não bộ gây nên, chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ em và người lớn ởnhiều quốc gia, không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế- xãhội Đặc điểm của nó là sự khó khăn trong tương tác xã hội, các vấn đề về

Trang 14

giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ; có các hành vi, sở thích, hoạt động

lặp đi lặp lại và hạn hẹp [Tự kỷ những vấn đề lí luận và thực tiến- Nguyễn Thị Hoàng Yến, tr12]

Như vậy, mặc dù hiện nay còn có nhiều ý kiến chưa thống nhất về kháiniệm tự kỉ, nhưng hầu hết các khái niệm của các nhà nghiên cứu và nhà giáodục học đưa ra về vấn đề tự kỉ đều thống nhất rằng: Tự kỉ là một khuyết tấtphát triển kéo dài suốt cuộc đời, làm ảnh hưởng trầm trọng tới quan hệ và giaotiếp xã hội, khả năng tưởng tượng và hành vi của trẻ Tùy vào mức độ tự kỉ màảnh hưởng của khuyết tật tới các lĩnh vực là khác nhau và có nhiều biểu hiệnkhác nhau

1.2.2.Khái niệm về học sinh tự kỉ.

Năm 1934, Kanner đã đưa ra định nghĩa trẻ tự kỷ là những trẻ khôngtạo lập mối quan hệ với con người, thường có thái độ bàng quan, thờ ơ vớimọi người xung quanh, có biểu hiện chậm nói chủ yếu giao tiếp qua các cử chỉđôi khi có vẻ kỳ dị, cùng các hoạt động vui chơi đơn giản, mang tính lặp đi lặplại.[7]

Năm 1969, Rutter đã đưa ra 4 đặc trưng chủ yếu của trẻ tự kỷ:

- Thiếu quan tâm và đáp ứng trong quan hệ xã hội

- Rối loạn ngôn ngữ: Từ mức độ không có lời nói, lời nói lập dị

- Hành vi, hành động dị thường: Từ mức độ chơi hạn chế, cứng nhắccho đến khuân mẫu hành vi phức tạp mang tính nghi thức và thúc ép

- Khởi phát sớm trước 30 tháng

Định nghĩa theo DSM-IV-TR: tự kỷ nằm trong nhóm các rối loạn pháttriển lan toả (PDD: Pervasive Developmental Disorders): Là một nhóm hộichứng được đặc trưng bởi suy kém nặng nề và lan toả trong những lãnh vực

Trang 15

phát triển: tương tác xã hội, giao tiếp và sự hiện diện của những hành vi và cácham thích rập khuôn [8].

Như vậy có nhiều khái niệm về trẻ tự kỷ Tuy nhiên các khái niệm nàykhông đối lập nhau mà bổ sung cho nhau để đưa đến khái niệm hoàn chỉnh vềtrẻ tự kỷ

Theo chúng tôi, học sinh mắc rối loạn tự kỷ là những học sinh có những rối loạn phát triển lan tỏa phức tạp ở những lĩnh vực sau: Tương tác

xã hội, ngôn ngữ, hành vi định hình lặp đi lặp lại, rối loạn cảm giác Có 5 phân nhóm chuẩn đoán trong phổ tự kỷ: Tự kỷ điển hình, hội chứng Aperger, Rối loạn Rett, rối loạn phân rã ở trẻ thơ, rối loạn phát triển lan tỏa – không điển hình.

1.2.3 Nhận dạng- phân loại trẻ tự kỷ

1.2.3.1.Vai trò của nhận dạng và phân loại trẻ tự kỷ

Nhiều nghiên cứu và thực tiễn cho thấy rằng, hiệu quả can thiệp về mặt

y tế và giáo dục cho trẻ đạt được cao hơn khi trẻ được phát hiện sớm cáckhuyết tật Một trong những nhiệm vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho conngười nói chung và trẻ em nói riêng là thưc hiện được phương châm: Phòngbệnh hơn chữa bệnh Do vậy, công việc tìm tòi, khám sàng lọc để phát hiện racác dấu hiệu, các nguy cơ tiềm ẩn về bệnh tật cũng như khuyết tật để kịp thời

có những hướng can thiệp sau này đóng vai trò hết sức quan trọng

Dựa vào các dấu hiệu để sàng lọc phát hiện sớm tự kỉ đóng vai trò rấtquan trọng :

Là cơ sở để gửi trẻ đi khám chuyên khoa và chẩn đoán sớm tự kỉ

Giúp tư vấn cho gia đình cách can thiệp sớm tại nhà với những trẻ nghingờ rối loạn phổ tự kỉ

Tạo thuận lợi cho việc lập kế hoạch giáo dục sớm cho trẻ tự kỉ

Trang 16

Cung cấp cho gia đình các dịch vụ hỗ trợ và giáo dục sớm cho trẻ tự kỉ.Quản lí được các sang chấn về tâm lý cho gia đình.

Đưa ra các chương trình điều trị và chăm sóc thích hợp

Hơn thế nữa, phát hiện sớm còn giúp trẻ nhận được các dịch vụ canthiệp sớm ở 3 tuổi, rất có ye nghĩa trong hiệu quả điều trị

Khi thấy trẻ có những biểu hiện bất thường như chậm nói, hoặc biết nóirồi ngừng hẳn; chỉ thích chơi một mình; không cười, không tiếp xúc bằng mắtvới bố mẹ hay người đối diện; quá say mê một thứ đồ vật nào đó; có nhữnghành vi lặp đi lặp lại, rất thích sắp xếp đồ vật theo thứ tự, ngăn nắp một cách

kỳ lạ và có biểu hiện hung hăng khi thứ tự đó bị xáo trộn… thì phần lớn cácbậc cha mẹ có thể đã nghĩ đến khả năng con bị tự kỷ

Có nhiều nguyên nhân khác nhau đã gây ra những ảnh hưởng khôngnhỏ đến sức khỏe, học tập và sự phát triển toàn diện của trẻ Chính vì vậyviệc nhận biết trẻ tự kỷ sớm sẽ giúp bố mẹ nhanh chóng có được biện phápchữa trị, hướng thay đổi lối sống phù hợp giúp trẻ nhanh chóng thoát khỏichứng bệnh nguy hiểm này và hòa nhập tốt hơn vào cuộc sống

1.2.3.2.Dấu hiệu nhận biết trẻ tự kỷ:

Trẻ có nguy cơ tự kỷ sẽ kém trong các vấn đề xã hội như không quantâm đến các trẻ khác đang chơi, có vẻ hằn học với anh chị em, ngồi gào khócmột mình thay vì gọi mẹ, không để ý lúc cha mẹ đi hay lúc cha mẹ về nhà…

Trẻ không quan tâm chơi ú òa hay những trò chơi tương tác khác, phảnứng mạnh khi cha mẹ bồng, ôm hay hôn, không giơ tay đòi bế ra khỏi nôi khi

có người đến bế

Bên cạnh các vấn đề xã hội là vấn đề giao tiếp như không nhận biết môitrường xung quanh, tránh tiếp xúc mắt Khi trẻ cần gì, thường cầm tay dắt

Trang 17

người khác đến vật đó, tức là trẻ dùng cha mẹ, người lớn như một công cụ đểlấy cho trẻ vật trẻ thích.

Những hành vi lặp đi lặp lại bất thường như trẻ liên tục vẫy tay, nhìnliên tục vào quạt trần đang quay, tự xoay người vòng vòng

Trẻ thường không quan tâm đến đồ chơi mà chỉ gắn bó với một số vậtdụng, thích bắt các hạt bụi trong ánh nắng, không biết chơi cách phù hợp với

đồ chơi mà chỉ thích một phần của đồ chơi, chẳng hạn chỉ thích tập trung quaybánh xe của một số ôtô đồ chơi

Trẻ có thể ăn những đồ vật bất thường như quần áo, nệm hay màn cửa,thích búng ngón tay trước mắt, thích chui xuống dưới gầm giường, gầm tủ,thích tìm những động tác mạnh trên cơ thể, thích bôi trét phân…

Càng tiếp xúc nhiều với cảm giác, trẻ càng có hành vi phản ứng Trẻ rấtkhó chịu khi cắt tóc, không chịu buộc dây an toàn, không chịu được nhữngđiều mới lạ như nến sinh nhật hay bong bóng, không cho tắm rửa

Khi thấy trẻ có một hoặc một số dấu hiệu này nhận biết trẻ tự kỷ, cầnnhanh chóng phát hiện và có sự quan tâm phù hợp, có biện pháp xử lý đúngcách giúp trẻ nói nhiều hơn, giao tiếp nhiều hơn,… bằng kinh nghiệm và sựhướng dẫn của các nhà chuyên môn

*Trẻ không biết chăm sóc bản thân là dấu hiệu nhận biết trẻ tự kỷ

Trẻ bị tự kỷ thường khó khăn trong việc tự chăm sóc chính mình như đitất, đội mũ, mặc áo, vệ sinh… Cử chỉ, thao tác luôn lóng ngóng, vụng về,chậm chạp và phải chờ đợi sự nhắc nhở của người khác bởi đa số trẻ tự

kỷ thường chậm phát triển trí thông minh hơn những trẻ bình thường khác và

sự nhanh nhẹn cũng giảm sút hơn rất nhiều

Nếu trẻ bị tự kỷ trong thời gian dài sẽ dẫn đến những hậu quả rấtnghiêm trọng như chậm phát triển, bị câm hẳn hoặc thậm chí có thể mắc các

Trang 18

bệnh về thần kinh, chính vì vậy việc tìm hiểu 5 dấu hiệu giúp nhận biết trẻ bị

tự kỷ đóng một vai trò hết sức quan trọng Các dấu hiệu nhận biết trẻ tự

kỷ này tương đối đơn giản và dễ nhận biết nếu để ý và có sự quan tâm đúngmức đối với trẻ, và khi thấy trẻ có dấu hiệu tự kỷ cần đưa trẻ đến ngay bác sỹchuyên khoa hoặc các chuyên gia tâm lí để có sự tư vấn chữa trị phù hợp,tuyệt đối không được chủ quan Thời gian và hiệu quả chữa trị phụ thuộc rấtlớn vào việc phát hiện nhận biết trẻ bị tự kỷ sớm hay muộn

*Không giỏi khả năng giao tiếp phi ngôn từ

Một trong những triệu chứng phổ biến nhất của chứng tự kỷ đó là khókhăn với giao tiếp phi ngôn từ (giao tiếp bằng cử chỉ, ánh mắt, điệu bộ ).Điều đó có nghĩa trẻ không thể giao tiếp bằng mắt, không có khả năng sửdụng và hiểu được biểu cảm nét mặt, cũng như có các ngôn ngữ cơ thể khôngphù hợp Nhiều cha mẹ cho biết dấu hiệu nhận biết trẻ tự kỷ ban đầu họ nhậnthấy là con không nhìn vào mắt họ khi nói chuyện Mỗi trẻ phát triển ở mức

độ khác nhau, nhưng nếu bạn quan tâm đến kỹ năng giao tiếp của con mình,hãy nhờ đến sự tư vấn của bác sĩ nhi khoa

Những dấu hiệu nhận biết trẻ tự kỷ khá đa dạng và có mức độ khácnhau, do vậy có những trẻ bị mắc bệnh thể nhẹ thường được phát hiện muộnkhi đang học tiểu học Ngược lại có những trẻ bị nặng, thể điển hình có thểđược cha mẹ phát hiện và đưa đi khám sớm từ lúc 12-18 tháng tuổi

1.2.3.3.Cách nhận biết trẻ tự kỷ theo từng giai đoạn:

*Nhận biết trẻ tự kỷ giai đoạn mới sinh đến 6 tháng tuổi

-Dễ nổi giận, dễ trầm cảm

-Không với lấy đồ vật khi đưa trước mặt trẻ

- Không có những âm thanh bi bô

- Thiếu nụ cười giao tiếp

Trang 19

- Thiếu giao tiếp bằng mắt.

- Không có phản ứng khi được kích thích

- Phát triển vận động có thể bình thường

*Nhận biết trẻ tự kỷ giai đoạn từ 6 – 24 tháng

- Không thích âu yếm, cơ thể có thể mềm yếu hay cứng nhắc khi đượcôm

- Không thân thiện với cha mẹ

- Gọi tên hầu như không phản ứng đáp lại

- Không chơi các trò chơi xã hội đơn giản (“Ú à”, “Bye-bye”)

- Chưa có dấu hiệu ngôn ngữ

- Dường như không quan tâm đến các đồ chơi của trẻ em

- Thích nhìn ngắm các bàn tay của mình

- Không nhai hoặc không chấp nhận những thức ăn cứng

- Thích đi kiễng chân – đi bằng 5 đầu ngón chân

- Thường phát ra các âm thanh vô nghĩa

*Nhận biết trẻ tự kỷ giai đoạn từ 2 đến 3 tuổi

- Thích chơi một mình, không kết bạn, tránh giao tiếp

- Không nói được từ có 2 tiếng trở lên khi đã 2 tuổi

- Thích xem sách, tạp chí, các nhãn mác và logo quảng cáo

- Coi người khác như một công cụ – kéo tay người khác khi muốn yêucầu

- Chưa biết dùng ngón trỏ để chỉ điều trẻ muốn

Trang 20

- Không biết gật đầu đồng ý và lắc đầu không đồng ý.

- Tránh giao tiếp bằng mắt, không nhìn thẳng vào người đối diện

- Không đoán biết được những nguy hiểm

- Thích ngửi hay liếm đồ vật

- Thích chạy vòng vòng, xoay vòng vòng và quay các loại bánh xe

- Ngưng nói ở bất cứ tuổi nào, dù trước đó đã biết nói

*Nhận biết trẻ tự kỷ giai đoạn từ 4 đến 5 tuổi

- Trẻ bị chậm nói, nếu có ngôn ngữ phát triển, có thể có chứng nhại lời(lặp lại theo kiểu -đọc vẹt những gì người khác nói)

- Có vẻ rất nhớ đường đi và địa điểm

- Thích các con số và thích đọc tiếng nước ngoài

- Rất tốt khi thao tác các sản phẩm điện tử

- Thích nhìn nghiêng hay liếc mắt khi ngắm nghía đồ vật

- Không biết chơi tưởng tượng, chơi giả vờ, chơi đóng vai

- Giọng nói kỳ cục (chẳng hạn như cách nói nhấn giọng hay đơn điệu)

- Rất khó chịu khi thay đổi thói quen hàng ngày

- Giao tiếp mắt vẫn còn hạn chế, dù có thể đã có một số cải thiện

- Tương tác với người khác gia tăng nhưng vẫn còn hạn chế

- Các cơn giận và sự gây hấn vẫn tồn tại nhưng có thể dần dần cải thiện

- Tự làm tổn thương mình

- Tự kích động

1.2.4 Nguyên nhân gây ra tự kỷ

Cho đến thời điểm hiện nay , các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra đượcnhững nguyên nhân chính xác gây tự kỉ Tuy nhiên , theo các nhà nghiên cứu

đã có quá trình làm việc với trẻ tự kỉ thì tự kỉ có thể liên quan đến hai nhómnguyên nhân chính sau đây:

Trang 21

1.2.4.1.Thứ nhất, nhóm nguyên nhân sinh học, bao gồm bốn nguyên nhân cơ

bản như sau:

Nguyên nhân có liên quan đến những bất thường về gen Nhiều nhà

nghiên cứu cho rằng , những bất thường trong việc kết hợp giữa gen của người

bố và người mẹ hoặc gen được truyền lại từ những thế hệ trước trong genngười bố hoặc người mẹ là nguyên nhân cơ bản dẫn đến rối loạn này ở trẻ.Một trong những minh chứng là cơ sở cho các nhà khoa học thiên nhiều vềnguyên nhân này là kết quả được thẻ hiện trên các cặp song sinh cùng trứng.Kết quả đã chỉ ra rằng, có đến 90 - 95% trường hợp những trẻ có những gengiống nhau (trẻ sinh đôi) sẽ cùng mắc tự kỉ Tuy nhiên , các nghiên cứu trêncác trẻ sinh đôi nhưng khác trứng thì tỉ lệ cả hai cùng mắc tự kỉ chỉ là 5 –10%

Nguyên nhân có liên quan đến sự phát triển bất thường của não Một số

nghiên cứu chỉ ra rằng : hành tủy trên não của trẻ tự kỉ bé hơn bình thường ,

do vậy họ nghi ngờ đây là nguyên nhân dẫn đến tự kỉ.Tuy nhiên , một sốnghiên cứu khác lại cho rằng: tiểu não bé hơn bình thường mới là nguyênnhân dẫn đến tự kỉ Như vậy , mặc dù có những nghi ngờ về sự phát triển bấtthường của não nhưng chưa có nghiên cứu nào đưa ra được các bằng chứngthuyết phục về việc phát triển bất thường của các bộ phận cụ thể trên não

Nguyên nhân có liên quan đến việc tiêm vắcxin Một số nhà nghiên cứu

nghi ngờ và đã có những nghiên cứu trên hai nhóm trẻ: nhóm trẻ không tiêmvắcxin và nhóm trẻ được tiêm vắcxin, sau đó so sánh tỉ lệ mắc tự kỉ trên haitrẻ này Tuy nhiên, một số nguyên nhân không mang tính thuyết phục cao,bởi

có một số nghiên cứu được tiến hành mới đây ở Anh và Mỹ đều chỉ rarằng :không có sự khác biệt về tỉ lệ mắc tự kỉ ở hai nhóm trẻ này

Trang 22

Nguyên nhân có liên quan đến tuổi của bố và mẹ Việc bà mẹ mang thai

khi ở độ tuổi trên 35 tuổi luôn được cảnh báo về nguy cơ cao sinh ra các trẻ cónhững rối loạn về thần kinh , trong đó , không loại trừ tự kỉ.Nguy cơ này sẽtăng dần trong khoảng 5 năm , tức là cứ 5 năm tiếp theo thì mức độ nguy cơcũng như tỉ lệ các bà mẹ này sinh ra những đứa con rối loạn về thần kinh càng

tăng và điều này sẽ được thể hiện rõ rệt nhất ở độ tuổi 40 – 45 tuổi [Nguyễn Thị Hoàng Yến- Những vấn đề lí luận và thực tiễn, trang 24].

1.2.4.2.Thứ hai, nhóm nguyên nhân có liên quan đến môi trường xã hội

Những nghiên cứu theo nhóm nguyên nhân này chú trọng nhiều đếnnhững tác động của các yếu tố trong môi trường giáo dục ở gia đình, nhàtrường và xã hội dẫn đến việc trẻ mắc tự kỉ Ngay trong các nghiên cứu mô tảcủa Leo Kanner về trường hợp trẻ tự kỉ lần đầu tiên vào năm 1943 hay của bác

sĩ Hans Asperger vào năm 1944, nguyên nhân có liên quan đến sự chăm sóc,giáo dục của cha mẹ cũng được nhắc tới trong việc gây ra rối loạn này ở trẻ.Hiện nay , theo chẩn đoán của nhiều bác sĩ và nhà tâm lí trong quá trình tiếpxúc với trẻ tự kỉ, việc cho trẻ xem tivi quá nhiều trong một ngày cũng là mộttrong những ảnh hưởng và nguyên nhân gây nên rối loạn tự kỉ ở trẻ

Mặc dù , đã tồn tại những quan điểm nêu trên về nguyên nhân gây tự

kỉ nhưng cần phải khẳng định rằng , đây là nhóm nguyên nhân gây tự kỉ ít có

cơ sở và bị bác bỏ bởi nhiều công trình nghiên cứu [Nguyễn Thị Hoàng Yến- Những vấn đề lí luận và thực tiễn, trang 24].

1.2.5 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tự kỷ

Để có thể giáo dục được trẻ tự kỷ nhất thiết chúng ta phải bàn đến đặcđiểm tâm lý của những trẻ đó Những dấu hiệu tâm lý đặc trưng, chứ khôngphải các dấu hiệu bệnh lý từ góc độ tâm lý học lâm sàng, mới có thể là căn cứ

để xây dựng kế hoạch giáo dục cho trẻ khuyết tật, trong đó có trẻ tự kỷ

Trang 23

Nếu căn cứ vào các dấu hiệu: không chỉ tay, không giao tiếp mắt… thìkhông thể lập được kế hoạch giáo dục mang tính điều chỉnh các rối loạn tâm

lý thực có ở trẻ tự kỷ Vậy rối loạn tâm lý thực có ở trẻ tự kỷ là gì?

Các công trình nghiên cứu về tự kỷ đã thay đổi rất nhiều trong 20 nămgần đây Lúc đầu (khi người ta coi tự kỷ là một dạng của tâm thần phân liệt)người ta mô tả người tự kỷ là người có hành vi bất thường và rối loạn Họ lànhững người lo lắng khi cảm thấy mọi người không giống mình, không thểhiểu nổi Nhưng dần dần các nhà tâm lý cho rằng người tự kỷ có một số rốiloạn đặc trưng, nhưng phần lớn hành vi của họ vẫn nằm trong tuyến phát triểnbình thường Các nhà tâm lý xem tự kỷ là dạng tổn thương phát triển Hơn nữacác nhà tâm lý đều khẳng định trẻ chậm phát triển trí tuệ cũng gặp khó khăntrong việc hiểu ý nghĩa của bức tranh và các đối tượng khác nhau, nhưngchúng không được coi là tự kỷ Sự khác biệt rõ nét là trẻ tự kỷ không hiểu kýhiệu ở mức độ tương ứng với tuổi trí tuệ của mình

Người tự kỷ đặc trưng bởi sự phát triển phiến diện Giao tiếp, tương tác

xã hội, tưởng tượng là các bình diện tâm lý rối loạn nhiều nhất Đây là nhậnđịnh của K.Gilbert và T Piters (nhà tâm lý học Bỉ) và học đã đưa ra thuật ngữ

“Hội chứng quá thực”

1.2.5.1.Cảm giác, tri giác.

Phản ứng với các cảm giác gần kề: Đây là các cảm giác sờ mó, nếm,

ngửi, cảm giác về rung động, đau đớn, nóng lạnh Tất cả các cảm giác này đều

có sự tiếp xúc với thân thể, khác với các cảm nhận từ xa như nhìn và nghe.Trẻ tự kỷhoặc rất nhạy cảm hoặc kém nhạy cảm với mọi thứ xung quanh

Trẻ có thể liếm và ngửi người khác như một món đồ ăn Một số trẻkhác thì lại có phản ứng rõ rệt khi bị người khác đụng đến mình và có ai tỏ ýmuốn vuốt ve thì chúng lại lùi ra xa, có trẻ lại tỏ ra quá nhạy cảm với một sốmùi, có trẻ lại rất ghét khi đụng chạm đến quần áo của chính mình Cũng có

Trang 24

những trẻ không cảm thấy nóng hay lạnh và trong mùa nóng vẫn có thể mặc

áo len hoặc ăn mặc phong phanh khi trời lạnh Một trong những đặc điển đángngạc nhiên nhất là trẻ tỏ ra không biết đau, có nhiều trẻ bị gãy xương, xưngrăng, đau bụng hay bị các vết trầy xước cũng không hề kêu ca gì, khi chúng tựmình làm đau thì cũng không hề chạy đến người lớn để được chăm sóc.Ngược lại, cũng có trẻ lại quá nhạy cảm với các vết thương, chỉ hơi một chútxíu là cũng đủ để trẻ la toáng lên, điều này gây trở ngại rất lớn cho nhữngngười chăm sóc trẻ

1.2.5.2.Tư duy, tưởng tượng:

Trí tưởng tượng: Một đứa trẻ tự kỷ không sử dụng trí tưởng tượng của

nó khi chơi với đồ chơi và thay vì nhận thức những đồ vật trong tình trạngtoàn vẹn của chúng, thì trẻ có thể quá chú ý đến một chi tiết nhỏ của một món

đồ chơi, một con người hay một đồ vật nào đó Chẳng hạn khi chơi với một bộphận nhỏ, như cái bánh xe hay bộ phận giảm xóc hơn là dùng nó như mộtchiếc xe lửa để chơi

Một trẻ tự kỷ quả là có đêo đuổi những hoạt động thu hút trí tưởngtượng, như đọc sách chẳng hạn, song những sinh hoạt này có tính lặp đi lặp lại

và rập khuôn Thí dụ: trẻ có thể đọc đi đọc lại chỉ một cuốn sách duy nhất hay

cứ xem mãi một cuốn phim

Các trẻ mắc rối loạn tự kỷ hầu như không biết chơi các trò chơi giả vờ

và các hoạt động tưởng tượng một cách giống như các trẻ khác Chúng cầmcác đồ chơi hay các đồ vật khác lên chỉ là để có cảm giác về sự đụng chạm,hay số khá hơn có thể sử dụng các món đồ chơi công cụ thu nhỏ như bộ làmbếp, hay cho xe lửa chạy trên đường ray, nhưng cũng rất đơn giản ở một sốđộng tác

1.2.5.3.Tương tác xã hội

Trang 25

Do không quan tâm với mọi thứ xảy ra ở xung quanh nên kỹ năngtương tác xã hội của trẻ tự kỹ là rất kém Điều này làm giảm khả năng giaotiếp của trẻ rất nhiều vì môi trường xã hội là môi trường quan trọng để pháttriển các kỹ năng giao tiếp Khó hoà nhập với các bạn khi đến trường Trẻ ghétlàm theo ý người khác và thường chúng chống đối một cách quyết liệt Chúngluôn muốn mọi ý thích của mình được đáp ứng ngay lập tức Vì vậy sự tươngtác của trẻ chỉ mang tính yêu cầu chứ không phải là nhằm để bày tỏ cảm xúchay chia sẻ kinh nghiệm.

Thực ra, các chứng tật về tướng tác xã hội ở trẻ Tự kỷ rất đa dạng vàphức tạp, nhưng ta có thể xếp vào 4 loại hình chính, tuy rằng không có mộtphạm vi rõ rệt

Nhóm đối tượng xa lánh mọi người:

Những trẻ này thường có biểu hiện coi như mọi người không tồn tại.Khi có ai gọi, trẻ không phản ứng, có ai nói với mình trẻ cũng không trả lời,trên khuôn mặt hầu như không biểu lộ cảm xúc nào, trừ những lúc trẻ giận dữ,buồn hoặc vui cực độ Trẻ có thể nhìn bạn rất kỹ hoặc lờ đi, chỉ liếc qua mộtcái, nếu chạm tay vào người trẻ thì nó co lại Nếu trẻ muốn lấy một vật gì thìthường nắm lấy mu bàn tay hay cách tay của người lớn mà không đặt tay vàolòng bàn tay họ, sau đó kéo họ đến gần vật mà nó muốn lấy, khi đã được như

Trang 26

Tuy nhiên, nó chỉ thích hợp với những trò chơi mà chúng là người đượcchăm sóc như trò chơi mẹ con, bác sĩ và bệnh nhân, khi đổi qua các trò chơitích cực, trẻ dễ dàng bị loại ra vì không có vai trò nào thích hợp Nói chung,dạng trẻ này ít có vấn đề hơn các nhóm trẻ Tự kỷ khác, tuy nhiên khi lớn hơnchúng vẫn có thể bị rối nhiễu nặng hơn nếu không nhận ñược sự chăm sóctrong lúc còn bé.

Nhóm đối tượng hoạt động kỳ hoặc:

Đứa trẻ thuộc nhóm này thường tỏ ra tích cực trong việc tiếp cận ngườikhác, thường là đối với những người hay chăm sóc mình, luôn luôn đòi hỏitheo yêu cầu của mình mà không hề chú ý đến thái độ hay phản ứng của ngườikhác Khi tiếp xúc, trẻ thường nhìn chằm chằm vào người đối diện hay có khi

ôm thật chặt Khi không được chú ý như đòi hỏi, trẻ trở nên cáu gắt hay hunghãn Nhóm này hơi khó chuẩn đoán vì các kiểu tiếp cận tích cực của trẻ dễkhiến người ta lầm lẫn là trẻ không có vấn đề về tương tác xã hội

Nhóm đối tượng quá hình thức, khoa trương:

Kiểu hành vi này thường chỉ xuất hiện ở tuổi thanh niên, thường pháttriển ở những đối tượng có khả năng cao nhất và nói năng lưu loát Các đốitượng này có cách ứng xử lễ độ và mang tính hình thức Họ tỏ ra cố gắngtrong các cách ứng xử, và thường bám một cách cứng nhắc vào các nguyên tắcgiao tiếp Thực ra thì họ không hiểu rõ các nguyên tắc này, vì thế trong cáctình huống cần sự linh hoạt, biến đổi đi chút ít thì họ dễ dàng phạm phảinhững sai lầm, nhiều khi rất sơ ñẳng Trong các nhóm nhỏ hơn thì thường chothấy việc không nắm vững các ý nghĩa và cảm xúc của người khác, ngay cảkhi các trẻ này muốn tỏ ra mình là người tử tế và muốn giúp người khác

1.2.5.4.Đặc điểm hành vi.

(1)Hành vi định hình:

Trang 27

Theo Kanner, hành vi định hình là biểu hiện điển hình của trẻ tự kỷ.Qua quan sát lâm sàng cho thấy TTK có những hành vi rập khuôn, lặp đi lặplại: Trẻ thích đi đi lại lại trong phòng, búng ngón tay, xoay đồ vật, và đứngdậy nhảy tới nhảy lui từ chân sau lên chân trước; Thích bật tắt các nút điệnhay điện tử….Những trẻ khác nhau sở thích về các hành vi ñịnh hình khácnhau.

(2)Không thích sự thay đổi.

Hầu như TTK muốn tất cả mọi thứ phải quen thuộc, gần gũi, trẻ rất ghét

sự thay đổi, xáo trộn từ những đồ dùng cá nhân, đồ dùng học tập cho đến nơichốn sinh hoạt hàng ngày Đối với TTK, sự không quen thuộc đồng nghĩa với

sự thiếu an toàn, trẻ sẽ cảm thấy bất an khi có một người lạ, đồ vật lạ hay đếnmột nơi xa Do đó, việc báo trước cho trẻ chuẩn bị tư tưởng để đón nhận mộtđiều mới lạ là một việc hết sức quan trọng

(3) Thiếu nhạy cảm hoặc quá nhạy cảm.

Ngày nay, những chuyên gia dạy TTK rất quan tâm đến giác quan củatrẻ Theo quan sát của các chuyên gia, hầu hết TTK ít nhiều đều có vấn ñề vềgiác quan, biểu hiện các trẻ hay đưa các đồ vật lên ngửi, liếm Các rối loạnkhác như ăn muối không thấy mặn, ăn chanh không chua, quay tròn lâu khôngchóng mặt, thích leo trèo, thích lộn đầu xuống đất, bịt tai khi nghe thấy âmthanh thông thường

(4) Những gắn bó bất thường

TTK ở một giai đoạn nào đó có những gắn bó với đồ vật theo cáchkhông bình thường như: hàng ngày chỉ sưu tầm các tờ báo , vỏ chai, đồ hộp, tờlịch, sợi dây, cọng cỏ…TTK thích những đồ vật trong sinh hoạt gia ñình như:chén, bát, xoong…nhưng hoàn toàn không thích đồ chơi bình thường

(5) Hành vi gây phiền toái nơi cộng đồng.

Trang 28

TTK thường ít quan tâm đến chuẩn mực của xã hội, muốn làm theo sởthích cá nhân nên rất dễ có những hành vi trái ngược với sự mong đợi củangười khác như: la khóc khi người lớn không đáp ứng sở thích của trẻ, chụpnhanh những đồng tiền từ tay nhân viên bán hàng hay món đồ chơi từ tay đứatrẻ bên cạnh Mặc dù trẻ có những hành vi gây phiền toái nơi cộng đồngnhưng theo các chuyên gia nghiên cứu về TTK chúng ta vẫn nên cho trẻ đếnnơi cộng đồng Điều đó giúp trẻ hòa nhập với mọi người và lâu dài sẽ có lợicho sự phát triển của trẻ.

(6) La hét, giận dữ

TTK có những sở thích, thói quen kỳ lạ nên trẻ thường ứng xử khôngđúng với những chuẩn mực xã hội thông thường Khi người lớn thấy vậy vàngăn chăn hành vi bất thường đó sẽ làm trẻ khó chịu và có những hành vi nỗicáu gây hấn Đồng thời do TTK gặp khó khăn trong ngôn ngữ, không diễn đạtđược ý nghĩa của mình ra ngoài nên người lớn không hiểu trẻ Vì vậy, sự khóchịu của trẻ xuất hiện khá thường xuyên so với trẻ bình thường

(7) Những hành vi liên quan khác

Những cá nhân bị tự kỷ cũng có thể phát triển những triệu chứng đadạng khác nhau Những rối loạn tinh thần xuất hiện bao gồm những rối loạntăng động kém chú ý, loạn tâm thần, sự buồn chán, rối loạn ám ảnh cưởng bức

và những lối loạn lo âu khác Những cá nhân bị tự kỷ cũng có thể có nhữngbiểu hiện những hành vi phá phách Trẻ có thể tấn công lại bản thân haynhững người khác

1.2.5.5.Đặc điểm giao tiếp của học sinh mắc rối loạn tự kỷ.

(1)Trẻ tự kỷ mức độ nhẹ

- Khả năng nói mô phạm rất đều hoặc quá to

Trang 29

- Thường lặp đi lặp lại trong khi giao tiếp và không quan tân đến hứngthú của người khác,

- Rất hạn chế trong hiểu ngôn ngữ cơ thể hoặc biểu cảm bằng mặt

- Nói quá nhiều về những sở thích riêng, không quan tâm đến sở thíchcủa người khác

(2)Trẻ tự kỷ mức độ vừa

- Sự phát triển ngôn ngữ chậm hoặc hạn chế Khoảng 5- 20 giây saumới phản ứng lại

- Các kỹ năng hội thoại rất nghèo nàn

- Không hiểu cách chuyển lượt

- Hạn chế trong việc hiểu lộ qua mặt

- Tránh giao tiếp bằng mắt

- Hạn chế trong việc hiểu ngôn ngữ cơ thể

(3)Trẻ tự kỷ mức độ nặng

- Không dùng những giao tiếp có nghĩa

- Lặp đi lặp lại một số từ và tên Một số trẻ nhắc lại những gì chúngnghe thấy

- Rất ít biểu hiện tình cảm trên mặt và ít hoặc không giao tiếp bằng mắt

- Không hiểu ngôn ngữ cơ thể

1.2.5.6.Thể chất

Trẻ tự kỷ có sự phát triển thể chất theo đường lối rõ ràng như những trẻbình thường khác và phù hợp với lứa tuổi Thậm chí giữa trẻ bình thường vàtrẻ tự kỷ ta không thể phân biệt được sự khác nhau về thể chất giữa hai trẻnày Không giống như các trẻ mắc các tật khác như: khiếm thính, khiếmthị có những đặc điểm nổi bật về sự phát triển thể chất khác với trẻ bìnhthường Do nguyên nhân gây ra các khuyết tật này là do bẩm sinh hay di

Trang 30

truyền ảnh hưởng tới não bộ gây nên sự phát triển không bình thường về thểchất của trẻ.

Với trẻ tự kỷ ngoài sự phát triển không bình thường về ngôn ngữ, hành

vi và trí tuệ thì thể chất của các em phát triển hoàn toàn bình thường Đó lànhững đứa trẻ nhìn bề ngoài không ai nói các em mang trong mình loại tật nào

cả, và khi tiếp xúc với các em ta mới phát hiện ñược sự không bình thường ởcác em Vì vậy mà khi trưởng thành vẫn có khả năng lập gia đình và tìm kiếmviệc làm Nhưng vì nhìn bề ngoài của họ bình thường nên người ngoài khó

có thể chấp nhận và thông cảm với khuyết tật của họ

1.2.6 Những khó khăn trong học tập, giao tiếp của học sinh tự kỷ

1.2.6.1 Rối loạn cảm nhận giác quan:

Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, trẻ tự kỷ khác nhau bị những khiếmkhuyết về trí tuệ khác nhau và điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt độngnhận thức của trẻ Trước hết hoạt động trí tuệ chịu ảnh hưởng trực tiếp từ khảnăng giác quan của trẻ Theo TS Stephen M Edelson hầu hết trẻ tự kỷ bị suygiảm ở một hoặc nhiều giác quan: thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác, khứugiác, tiền đình và các giác quan nhận cảm Các cơ quan cảm giác này có thểquá nhạy cảm hoặc thiếu nhạy cảm Điều này gây ra cho người tự kỷ khó khăn

trong việc xử lý thông tin từ môi trường [Câu lạc bộ gia đình có trẻ tự kỷ, Trung tâm đào tạo và phát triển giáo dục đặc biệt, Viện Nhi Quốc Gia (2003), Vì tương lai trẻ tự kỷ, Hà Nội, tr.14] Khi sự cảm nhận bằng giác

quan của trẻ chính xác, trẻ có thể nhận thức tốt những gì mà chúng nhìn thấy,cảm thấy, hoặc nghe thấy Ngược lại, nếu như thông tin cảm giác được lĩnhhội sai lầm sẽ dẫn đến khó hiểu hoặc hiểu biết sai của trẻ về thế giới

Nhiều trẻ bị rối loạn tự kỷ có nhạy cảm cao đối với những âm thanhnhất định, cảm giác da, vị giác, và mùi vị Ví dụ, trẻ thấy cảm giác qua quần

Trang 31

áo khi chạm vào da của chúng gần như không thể chịu được Một số âm thanhcủa máy hút bụi, tiếng chuông điện thoại, thậm chí cả những âm thanh bìnhthường cũng có thể gây ra cho trẻ sự khó chịu Một số khác mất cảm giác đốivới lạnh hay đau tột bậc như có thể trẻ bị gãy một cánh tay mà không bao giờkhóc, có thể đầu đập mạnh vào tường mà trẻ không phản ứng gì, nhưng chỉmột sự đụng chạm nhẹ của người khác vào một chỗ nào đó trên cơ thể cũng cóthể làm trẻ hét lớn,… Những nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết là não của trẻdường như không thể tạo được sự cân bằng cho những cảm giác phù hợp

[www.nimh.nih.gov/publicat/autism]

Từ những mô tả trên chúng ta thấy, đây là một vấn đề có ảnh hưởng lớnđến quá trình học tập của trẻ Theo khoa học tâm lý, giác quan là đầu vào củamọi kiến thức và là nhân tố quan trọng của mọi hoạt động trí tuệ, nếu conngười có vấn đề về giác quan thì hoạt động trí tuệ khó có thể diễn ra hoặc diễn

ra theo chiều hướng không chính xác, như người bị khiếm thính không thểnghe và suy nghĩ khi có một câu hỏi, người bị khiếm thị không thể nhìn vàđưa ra nhận xét một bức tranh trẻ tự kỷ không bị khiếm thính hay khiếm thị,nhưng trẻ lại gặp một vấn đề rắc rối khác là giác quan của trẻ nhiều khi khôngphản ánh trung thực sự vật và hiện tượng

Rất nhiều trẻ tự kỷ không muốn nghe những âm thanh, tiếng nói thôngthường của những người xung quanh (mặc dù khả năng nghe âm thanh rất tốt),

do đó trẻ không thể lĩnh hội ngôn ngữ, hiểu ngôn ngữ và phát triển ngôn ngữcho bản thân Có những trẻ không bao giờ thích được ôm ấp, nên trẻ rất hạnchế trong cảm nhận giác quan (mạc giác) và phát triển xúc cảm- tình cảm

[Howlin P., Baron-Cohen S and Hadwin J (1999), Teaching Children with Autism to Mind-Read, John Wiley and Sons Publishing, U.S.A, tr.23] Một số trẻ khác thích quan sát những chuyển động quay tròn và những

Trang 32

phần nhỏ của đồ vật mà không quan tâm đến những sự kiện đang diễn ra xungquanh trẻ, điều này cũng dẫn đến những hạn chế về nhận thức thế giới,… Do

đó trong trị liệu trẻ tự kỷ người ta cũng quan tâm nhiều đến trị liệu giác quan(sensory therapy)

1.2.6.2.Khó khăn trong nhận biết các tương tác xã hội:

Liên quan đến nhận thức các tình huống giao tiếp, theo Les Roberts (2003) trẻ

tự kỷ gặp khó khăn trong việc hiểu biết các tình huống liên quan đến quan hệ

xã hội như: không giao tiếp bằng mắt, hình thức giao tiếp nghèo nàn, khó khăn

trong việc hiểu các trạng thái tâm lý của người khác [Câu lạc bộ gia đình có trẻ tự kỷ, Trung tâm đào tạo và phát triển giáo dục đặc biệt, Viện Nhi Quốc Gia (2003), Vì tương lai trẻ tự kỷ, Hà Nội.], khó khăn trong việc đoán

biết những nhu cầu, ý muốn và thái độ của người khác; không hiểu nhữngtrạng thái tình cảm phức tạp như hãnh diện, tự hào, ngượng ngập; không hiểunhững diễn biến logic trong quá trình giao tiếp xã hội nói chung và giao tiếp

với người khác nói riêng [Võ Nguyễn Tinh Vân (2002), Để hiểu chứng tự

kỷ, Nxb Bamboo, Australia]

Theo những nhà nghiên cứu thuộc Hiệp hội Sức khỏe Tâm thần Quốc

tế, đa số trẻ tự kỷ có khó khăn lớn về học cách tham gia vào các hoạt độngtương tác xã hội với con người hàng ngày Thậm chí trong vài tháng đầu tiêncủa cuộc sống, nhiều trẻ không tương tác và tránh sự tiếp xúc mắt, trẻ có vẻthờ ơ đối với những người khác Và mặc dù trẻ tự kỷ có thể được học một lọatcác nguyên tắc điều khiển tương tác xã hội, nhưng sự tương tác đó thườngthiếu chủ động, không tự nhiên, ảnh hưởng đến hầu hết các mối quan hệ của

người đó [Powers M.D (2000), Children with Autism , Woodbine House, U.S.A, tr 166] Đối với trẻ có mức độ tự kỷ nhẹ hơn có thể phát triển mối

quan tâm đến người khác, mặc dù vậy trẻ vẫn gặp những khó khăn trong tiếp

Trang 33

cận với người khác và tương tác theo cách bất thường khiến người khác khôngvừa ý, hiếm có người bị tự kỷ nào phát triển một tình bạn thân thiết

Trong sinh hoạt xã hội, những lời ám chỉ tế nhị của chúng ta có thểkhiến người khác bực mình hoặc ai đó hài lòng hay khó chịu với chúng ta,trong khi đó người bị tự kỷ không hề có phản ứng gì Trong cuộc sống người

bị tự kỷ nhẹ vẫn có thể có công việc với áp lực thường xuyên nhưng vẫn cầngiúp đỡ trong việc duy trì các mối quan hệ của họ với đồng nghiệp và các nhàquản lý Một số người bị tự kỷ nhẹ có thể nhận thức được phần nào giá trị củagiao tiếp xã hội, điều này có thể là một nguồn đau khổ khi họ bắt đầu nhận ra

khoảng cách giữa họ và những người khác [Powers M.D (2000), Children with Autism , Woodbine House, U.S.A, tr 169] Trẻ có một hạn chế lớn

trong việc hiểu những ứng xử của người khác cũng như không biết cách ứng

xử sao cho phù hợp với những người xung quanh Điều này làm cho trẻ luônluôn là những người có những hành vi bất thường và được xếp vào số nhữngngười kỳ lạ trong xã hội Thông thường, hầu hết trẻ tự kỷ không muốn giaotiếp, tiếp xúc với người khác, điều này làm cho trẻ gặp rất nhiều khó khăntrong hòa nhập xã hội, cũng như lĩnh hội những kiến thức thông qua giao tiếp,đồng thời trẻ có khó khăn trong việc học hỏi các kỹ năng sống trong xã hội,dẫn đến trẻ tự kỷ có khiếm khuyết nghiêm trọng trong việc hiểu biết conngười nói chung

1.2.6.3.Khó khăn về khả năng tưởng tượng:

Về nhận thức lý tính, trẻ tự kỷ cũng gặp những khó khăn nhất địnhtrong tưởng tượng Theo TS Võ Nguyễn Tinh Vân (2002), trẻ tự kỷ có một sốvấn đề về nhận thức như: trẻ không nhận biết được những tình huống vui đùa,

giả vờ, chơi tưởng tượng, chơi đóng vai [Võ Nguyễn Tinh Vân (2002), Để hiểu chứng tự kỷ, Nxb Bamboo, Australia, tr 10] Lorna Wing (1998) cho

Trang 34

rằng trẻ tự kỷ không phát triển trò chơi giả vờ và các hoạt động tưởng tượnggiống như trẻ bình thường Những trẻ khá hơn có thể có những hoạt độngtưởng tượng, nhưng khi quan sát kỹ thì những hoạt động này cũng lặp đi lặplại, ngay cả khi trẻ biết chơi cùng trẻ khác thì hoạt động tưởng tượng cũng dochúng tự nghĩ ra và bắt trẻ khác làm đi làm lại hoạt động đó chứ chúng hầu

như không làm theo sự tưởng tượng của người khác [Wing L (1998), The Autistic Spectrum, Constable and Company Limited, London, tr 39] Như

vậy, trẻ gặp những khiếm khuyết khá nghiêm trọng trong nhận thức lý tính,đặc biệt là chơi tưởng tượng, chơi đóng vai, giả vờ Trẻ hầu như gặp khó khăntrong liên kết giữa thực tại và tưởng tượng

1.2.6.4 Khó khăn trong nhận thức khái quát:

Nhận thức khái quát cũng là vấn đề đáng lưu ý của trẻ tự kỷ TheoLorna Wing (1998), người bị bệnh tự kỷ rất khó nhìn nhận được ý nghĩa củacác sự việc đã trải nghiệm hoặc ít có khả năng “rút kinh nghiệm”, do đó mànăng lực học tập và sử dụng thông tin trở nên yếu kém; phần lớn trẻ có trí nhớ

“vẹt” khá tốt và khả năng tri giác không gian vượt trội mà không cần nhờ vàokhả năng suy luận và biện giải

Có thể trẻ tự kỷ không có khả năng kết hợp các loại thông tin từ những

sự kiện nhớ lại và từ những sự kiện hiện tại, không có khả năng hiểu được ýnghĩa của những điều đã trải nghiệm để dự đoán những điều sẽ xảy ra và dự

đoán kế hoạch thực hiện [ [Wing L (1998), The Autistic Spectrum, Constable and Company Limited, London, tr 41] Theo sự đánh giá của

hầu hết những nhà nghiên cứu về tự kỷ, trí nhớ của trẻ tự kỷ rất tốt và sâu sắc,nhưng độ liên kết giữa các ký ức trong trí nhớ lại rất rời rạc, không có độ liênkết cao Do đó trẻ khó có thể hiểu trọn vẹn ý nghĩa những gì trong trí nhớ, khókhăn trong việc tổng kết, khái quát để đưa ra kết luận, rút kinh nghiệm

Trang 35

1.2.6.5 Khó khăn trong phát triển ý thức tự phục vụ:

Liên quan đến tự phục vụ cá nhân, Theo Powers M.D (2000), trẻ tự kỷkhông quan tâm đến việc học hỏi những kỹ năng sống Cùng với các vấn đềngôn ngữ và giao tiếp, trẻ tự kỷ thường khó khăn trong việc hiểu các kỹ năng

tự giúp bản thân

Một công việc đơn giản là học cách sử dụng nhà vệ sinh có lẽ cũng làtrở ngại lớn đối với nhiều trẻ tự kỷ “Trong khi đa số các trẻ phát triển bìnhthường được giáo dục về vệ sinh từ hai đến ba tuổi và làm khá tốt, thì gần mộtnửa số trẻ tự kỷ vẫn không làm được ở tuổi lên bốn Bên cạnh đó nhiều trẻ tự

kỷ gặp khó khăn khi nhận biết những thói quen ăn uống, như trẻ có thể từ chốinhai hoặc không ăn được những thức ăn cứng hoặc trẻ có thể ăn mãi một loại

thức ăn tại một thời điểm” [Powers M.D (2000), Children with Autism, Woodbine House, U.S.A, tr.170]

Kỹ năng sống là một yêu cầu quan trọng nhất đối với con người nóichung, vì trước khi là người có ích cho xã hội, giúp đỡ người khác thì cá nhânphải tự giúp bản thân mình, đặc biệt là những hoạt đông liên quan đến nhu cầu

cá nhân và vệ sinh cá nhân Trẻ bị tự kỷ tùy theo mức độ nặng nhẹ khác nhau

có khả năng tự phục vụ khác nhau Do đó, giáo dục trẻ tự kỷ, trước hết phảigiáo dục khả năng tự phục vụ và vệ sinh cá nhân, đây là nội dung cần được

quan tâm hàng đầu [Lovaas O I (1981), The Me Book, Pro.ed An International Publisher, U.S.A, tr.115].

1.2.6.6 Khác thường về khả năng ghi nhớ:

Theo các nhà nghiên cứu, tuy có những hạn chế về nhận thức một sốlĩnh vực, nhưng trẻ tự kỷ còn cho thấy một số nhận thức vượt trội trong nhữnglĩnh vực sở trường Nhiều nghiên cứu cho thấy trẻ có khả năng đặc biệt về trínhớ máy móc, nhớ âm thanh, chữ viết, tiết tấu, trí nhớ không gian, thời gian,

Trang 36

trí nhớ vận động,… Nhiều trẻ tự kỷ có khả năng Toán học, tin học, ngoại ngữ,hội họa, âm nhạc một cách kỳ diệu Theo Laurent Mottron: ” tự kỷ là mộtdạng thông minh khác” trẻ tự kỷ có những khả năng vượt trội đồng thời

những chức năng khác bị suy giảm nghiêm trọng [Laurent Mottron (2006), L'autisme: Une Autre Intelligence, Mardaga, Belgique, tr.8, 24] Theo các

nhà tâm thần học trên thế giới, trẻ tự kỷ là một dạng rối loạn phát triển, khôngđược xếp vào nhóm chậm phát triển, vì xét ở một phương diện nào đó trênkhía cạnh nhận thức, trẻ có khả năng nhớ rất tốt, đặc biệt là những sự vật hoặchiện tượng trẻ quan tâm

Nhiều trẻ bị rối loạn tự kỷ tiếp nhận những thông tin bằng cách nhớmáy móc, những trẻ này nhớ rất nhiều thông tin như số và chữ khi chúng chưađến tuổi đi học và chúng có thể kể lại những câu chuyện chính xác từng từ,hoặc có khả năng nhớ tổng thể hoàn chỉnh một cách chính xác về ngôn ngữ,như nhớ nguyên câu nói của người khác Không như những trẻ bình thườngkhi học nói là trẻ bắt đầu nói từng từ một rồi tiến đến hai từ và câu ngắn, một

số trẻ tự kỷ học nói bắt đầu là nhắc lại nguyên câu của người khác, đồng thờitrẻ có xu hướng nhớ mọi điều liên quan đến tình huống Có những trẻ tự kỷhọc tốt qua quan sát (visual), những trẻ này thích xem sách báo và tivi Theonhững nhà nghiên cứu về tự kỷ, hầu hết những trẻ có khó khăn về ngôn ngữ,học thông qua quan sát đồ vật tốt hơn học thông qua nghe, vì với trẻ này thịgiác là giác quan nhạy cảm nhất Ngoài ra, học thông qua thao tác cũng làđiểm mạnh của một số trẻ tự kỷ, đặc điểm nổi bật ở những trẻ này thích nhấncác nút bấm, đóng mở cửa, sắp xếp những đồ chơi thành hàng, nói chung, trẻ

học tốt hơn thông qua đụng chạm các đồ vật [Sussman F (1999), More Than Words, The Hanen Centre, Canada tr.15,16].

Trang 37

Hội chứng tự kỷ là một dạng rối loạn phát triển, mức độ, đặc điểm vàtính chất nhận thức của trẻ rất khác nhau Trong khi hầu hết các trẻ bị chậmphát triển trí tuệ có các kỹ năng ngôn ngữ và giao tiếp xã hội phù hợp với khảnăng trí tuệ của trẻ, thì trẻ bị tự kỷ lại có những kỹ năng giao tiếp xã hội vàngôn ngữ ở dưới mức những khả năng khác trong phát triển Theo Roberts,những khiếm khuyết này làm cho trẻ tự kỷ không hiểu được đời sống xúccảm, tình cảm của người khác Tuy nhiên một số trẻ tự kỷ lại có khả năng nhớ

kỳ diệu một số lĩnh vực trẻ yêu thích Do đó mà bản chất nhận thức của trẻ tự

kỷ có tính chất khác biệt Vì vậy, điều quan trọng là phải nhận thức sự khácbiệt của mỗi cá nhân trẻ trong quá trình học tập, tiếp thu Theo tác giả BrynaSiegel, mỗi trường hợp tự kỷ thể hiện một khía cạnh khác nhau về khả nănghọc tập và những bất lực trong học tập Mỗi khả năng học và mỗi bất lực họctập có thể ảnh hưởng đến trẻ tự kỷ theo cách đặc biệt Vấn đề đặt ra là hộichứng tự kỷ ảnh hưởng đến những trẻ khác nhau theo những cách thức khácnhau như thế nào: Một số trẻ có khả năng thông minh trung bình hoặc trêntrung bình, trong khi những trẻ khác lại có những mức độ khác nhau về chậmphát triển trí tuệ Có những trẻ tự kỷ tự rút lui và tránh giao tiếp, trong khinhững trẻ khác học thông qua giao tiếp xã hội nhiều hơn, Điều này giải thíchcho tất cả những yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của trẻ Mộtnhận xét khác là trẻ tự kỷ như là sự mất khả năng học tập, với mỗi triệu chứngkhác nhau sẽ bao gồm một nhóm sự yếu kém học tập có liên quan xuất hiệnhay "mất khả năng học tập chuyên biệt của chứng tự kỷ" Để thực hiện mộtchương trình giáo dục: Bước đầu cần kiểm tra cụ thể sự mất khả năng học tậpcủa một đứa trẻ tự kỷ Bước (thứ) hai cần khảo sát những chiến lược điều trị

và những chương trình điều trị hiện tại, và những gì có thể đưa ra cách thứcdạy chi tiết cho sự mất khả năng học tập đặc trưng ở cá nhân trẻ tự kỷ xác

Trang 38

định [Siegel B (2003), Helping Children With Autism Learn, Oxford University Press, U.S.A, tr.4].

Qua những kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi thấy hầu hết trẻ tự kỷ đều

ít nhiều gặp khó khăn trong học tập và tiếp thu kiến thức, trong khi đó khảnăng nhận thức của trẻ tự kỷ là một trong những yếu tố quyết định đến sự cảithiện của chứng tự kỷ, đồng thời nó cũng ảnh hưởng đến tiến trình trị liệu vàchất lượng trị liệu mà những nhà chuyên môn và các bậc phụ huynh thực hiện

1.3.Giáo dục hòa nhập

1.2.2.1.Giáo dục hòa nhập

Thuật ngữ giáo dục hoà nhập được xuất phát từ Canada và được hiểu lànhững trẻ ngoại lệ được hoà nhập, qui thuộc vào trường hoà nhập GDHN làphương thức giáo dục mọi trẻ em, trong đó có TKT, trong lớp học bìnhthường của trường phổ thông

Trong pham vi nghiên cứu này, luận văn chấp nhận Quy định GDHN cho người khuyết tật, tàn tật ban hành theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BGD&ĐT

ngày 25/05/2006 của Bộ GD&ĐT: “GDHN được quan niệm là hỗ trợ mọi học sinh, trong đó có TKT, cơ hội bình đẳng tiếp nhận dịch vụ giáo dục với những hỗ trợ cần thiết trong lớp học phù hợp tại trường phổ thông nơi trẻ sinh sống nhằm chuẩn bị trở thành những thành viên đầy đủ của xã hội, TKT được giáo dục trong môi trường giáo dục phổ thông theo chương trình chung được điều chỉnh, bảo đảm điều kiện cần thiết để phát triển đến mức cao nhất khả năng của trẻ” [ Bộ GD&ĐT (2006), Quy định GDHN cho người tàn tật, khuyết tật ban hành theo Quyết định số 23/QĐ-BGDĐT

ngày 22/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT]

Như vậy, hoà nhập không có nghĩa là "xếp chỗ" cho TKT trong trườnglớp phổ thông và không phải tất cả mọi trẻ đều đạt trình độ hoàn toàn như

Trang 39

nhau trong mục tiêu giáo dục Giáo dục hoà nhập đòi hỏi sự hỗ trợ cần thiết đểmọi học sinh phát triển hết khả năng của mình Sự hỗ trợ cần thiết đó được thểhiên trong việc điều chỉnh chương trình, các đồ dùng dạy học, dụng cụ hỗ trợđặc biệt, các kỹ năng giảng dạy đặc thù,… Các giáo viên và nhân viên nhàtrường cần thấm nhuần tư tưởng hoà nhập để TKT được phụ thuộc lẫn nhau,được chấp nhận, được có giá trị, được hỗ trợ của bạn bè…

Khái niệm trường hoà nhập là mô hình trường học được tổ chức để giải quyết vấn đề đa dạng nhằm chú trọng đến việc học của mọi trẻ Mọi giáo viên, cán bộ và nhân viên nhà trường cam kết làm việc cùng nhau tạo ra và duy trì môi trường đầm ấm có hiệu quả cho việc học tập Trách nhiệm cho mọi trẻ

được chia sẻ [Bộ GD&ĐT (2010), Quản lý Giáo dục hòa nhập, NXB Phụ

nữ, tr.57].

Giáo dục hoà nhập dựa trên quan điểm xã hội trong việc nhìn nhận đánhgiá đúng TKT TKT sẽ được học cùng một chương trình, cùng lớp, cùngtrường với các bạn học sinh bình thường Cũng như mọi học sinh khác, họcsinh khuyết tật là trung tâm của quá trình giáo dục Các em được tham gia đầy

đủ, và bình đẳng mọi công việc trong nhà trường và cộng đồng để thực hiện lýtưởng "trường học cho mọi trẻ em, trong một xã hội cho mọi người" Chính lýtưởng đó tạo cho TKT niềm tin, lòng tự trọng, ý chí vươn lên để đạt đến mứccao nhất mà năng lực của mình cho phép

Nguyên nhân gây ra tự kỉ không phải chỉ do khiếm khuyết của bản thân

cá thể mà còn là do môi trường xã hội Môi trường xã hội đóng vai trò quantrọng trong sự phát triển của trẻ tự kỉ Trẻ tự kỉ về chậm phát triển ngôn ngữthì cần phải tham gia vào các hoạt động, trẻ sẽ được bình đẳng và phát triểnnhư mọi trẻ khác

1.2.2.2.Quản lí giáo dục hòa nhập:

Trang 40

Quản lí giáo dục hòa nhập là sự tác động có kế hoạch, có tổ chức, cóđịnh hướng của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí dựa theo những yêu cầu

có tính chất khách quan về lí luận và thực tiễn giáo dục hòa nhập nhằm đạtđược các mục tiêu quản lí đề ra

Khái niệm quản lí giáo dục hòa nhập trên đề cập đến các yếu tố cơ bảnsau:

-Chủ thể quản lí: Là tổ chức, cá nhân hay bộ máy quản lí giáo dục cáccấp từ trung ương đến đơn vị trường học ở các cấp học, bậc học khác nhau

-Đối tượng quản lí: là hệ thống quản lí giáo dục hòa nhập của ngành từtrung ương cho đến đơn vị trường học ở các cấp học, bậc học khác nhau

-Quan hệ quản lí: Thể hiện thông qua mối quan hệ giữa các chủ thểquản lí và đối tượng quản lí theo các phân hệ quản lí và nguyên tác quản lígiáo dục hòa nhập

-Mục tiêu quản lí: Là hiệ quả cần đạt được trong quản lí giáo dục hòanhập Hiệu quả này được đánh giá ở hiệu quả trong và hiệu quả ngoài theo góc

độ cá nhân (kết quả giáo dục người học) và góc độ xã hội (quy mô, chấtlượng, uy tín trong cộng đồng nhà trường)

Như vậy, quản lí giáo dục hòa nhập được coi là một nhiệm vụ đượclồng ghép phối hợp chung trong hoạt động quản lí giáo dục nói chung và quản

lí nhà trường nói riêng, mang tính tổng thể quản lí giáo dục [Giáo trình quản

lí giáo dục hòa nhập- Nguyễn Xuân Hải, trang 45].

1.2.3 Giáo dục hòa nhập tại trường tiểu học

1.2.3.1.Mục tiêu giáo dục hòa nhập tại các trường tiểu học

*Mục tiêu chung:

Ngày đăng: 07/10/2020, 10:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13.Hà Nhật Thăng (1998), Giáo dục hệ thống giá trị nhân văn, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hệ thống giá trị nhân văn
Tác giả: Hà Nhật Thăng
Nhà XB: NXB Giáodục
Năm: 1998
14.Trần Thị Lệ Thu (2003), Đại cuơng giáo dục đặc biệt cho trẻ CPTTT, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cuơng giáo dục đặc biệt cho trẻ CPTTT
Tác giả: Trần Thị Lệ Thu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
15.Trần Thị Lệ Thu (2006), Nghiên cứu hành vi thích ứng của trẻ CPTTT trong các lớp giáo dục đặc biệt ở Hà Nội, Luận án tiến sĩ tâm lí học, mã số 62.31.80.05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hành vi thích ứng của trẻ CPTTTtrong các lớp giáo dục đặc biệt ở Hà Nộ
Tác giả: Trần Thị Lệ Thu
Năm: 2006
16.Đỗ Hoàng Toàn (1998), Lý thuyết quản lý, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết quản lý
Tác giả: Đỗ Hoàng Toàn
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
17.Trung tâm Nghiên cứu giáo dục đặc biệt, Viện Khoa học Giáo dục (2006) “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh em có hoàn cảnh khó khăn” , NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh em có hoàn cảnh khó khăn”
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
18.TS Phạm Toàn- BS Lâm Hiểu Minh “Thấu hiểu và hỗ trợ trẻ tự kỷ” do First New và NXB Trẻ phát hành – góp thêm tiếng nói yêu thương dành cho trẻ tự kỷ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thấu hiểu và hỗ trợ trẻ tự kỷ
Nhà XB: NXB Trẻ phát hành – góp thêm tiếng nói yêu thương dànhcho trẻ tự kỷ
20.Jean-Noel Christine-Thân Thị Mận (dịch) “Giải thích chứng tự kỷ cho cha mẹ” -Nhà xuất bản Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải thích chứng tự kỷ chocha mẹ
Nhà XB: Nhà xuất bản Tri thức
1.Trung Ương, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Khác
3.Vũ Cao Đàm (2010), Phương pháp nghiên cứu khoa học, Tập bài giảng cho cao học chuyên ngành quản lý giáo dục, Hà Nội.bog25 Khác
19.Khoa Tâm bệnh- Bệnh vện Nhi TƯ- Tài liệu dành cho phụ huynh tìm hiểu về can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w