1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiểm soát nội bộ tại ngân hàng phát triển việt nam

96 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 179,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song, trên thực tế, mặc dù kiểm soát nội bộ tại Ngân hàngphát triển Việt Nam luôn được tăng cường, nhưng việc phòng ngừa, phát hiện vàngăn chặn các loại rủi ro chưa đạt hiệu quả cao vì h

Trang 3

Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách và thủ tục được thiếtlập nhằm đạt được các mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậycủa các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quảcủa các hoạt động Hệ thống kiểm soát nội bộ có một vai trò quan trọng quyết định

sự thành bại của một ngân hàng Nó giúp cho ngân hàng có thể vận hành hiệu quảtrên mọi lĩnh vực hoạt động Cùng với sự phát triển của xã hội và kỹ thuật hiện đại,rủi ro ngày càng phát sinh với mức độ đa dạng hơn, phức tạp hơn Do vậy việckhông ngừng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ luôn là vấn đề bức thiết cho cácngân hàng cùng với việc mở rộng và phát triển các hoạt động kinh doanh ngânhàng

Đối với Ngân hàng phát triển Việt Nam vấn đề an toàn trong hoạt động luônđược đặt lên hàng đầu Song, trên thực tế, mặc dù kiểm soát nội bộ tại Ngân hàngphát triển Việt Nam luôn được tăng cường, nhưng việc phòng ngừa, phát hiện vàngăn chặn các loại rủi ro chưa đạt hiệu quả cao vì hai lý do: hệ thống kiểm soát nội

bộ của Ngân hàng phát triển Việt Nam chưa hoàn thiện và sự vận động của kinh tế

xã hội tạo ra những thay đổi ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng phát triển

Việt Nam Xuất phát từ những lý do đó mà tôi chọn đề tài “Kiểm soát nội bộ tại

Ngân hàng Phát triển Việt Nam”.

Từ những tổng quan cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ của ngân hàng, tácgiả thực hiện phân tích thực trạng kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Phát triển ViệtNam, qua đó nêu ra được những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân cần được nghiêncứu khắc phục trong hoạt động kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam,gồm những hạn chế chủ yếu sau:

KSNB để tạo môi trường pháp lý vững chắc đồng thời làm cơ sở để quy định chitiết việc tổ chức KSNB của mình;

Trang 4

thực sự độc lập, khách quan trong việc thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ củamình;

dựng khá chặt chẽ và nghiêm ngặt, song việc phân công thực hiện chưa theo hướngchuyên trách cho từng mảng nghiệp vụ dẫn đến sự chủ quan và giảm tính kiểm soátnghiệp vụ;

mang tính chuyên nghiệp;

phù hợp đối với cán bộ thực hiện công tác KSNB để kịp thời động viên, tạo độnglực tốt cho đội ngũ này thực sự toàn tâm, toàn ý trong công việc;

Nguyên nhân cơ bản của những tồn tại trên chủ yếu do điều kiện khách quan:

Ngân hàng Phát triển Việt Nam đi vào hoạt động chính thức chưa được 10năm, tuy kế thừa từ Quỹ HTPT nhưng dù sao Ngân hàng Phát triển Việt Nam cũngđang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện mô hình ngân hàng mới ở Việt Nam dovậy việc triển khai các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng trong đó có KSNB khôngtránh khỏi những khó khăn và hạn chế cần có những giải pháp để hoàn thiện trongnhững năm sắp tới Mặt khác, Ngân hàng Phát triển Việt Nam ra đời và hoạt độngtrong điều kiện chưa hoàn thiện về môi trường pháp lý, chưa có sự hỗ trợ kịp thời

về cơ chế, chính sách của Chính phủ cũng như NHNN về các cơ chế lãi suất, quyđịnh nghiệp vụ tín dụng, xử lý rủi ro

Trên cơ sở những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trên, tác giả đã

đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ phục vụ cho côngtác quản trị tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Trang 5

Tác giả luận văn có lời cam đoan danh dự về công trình khoa học này củamình, cụ thể:

Tôi tên là: Nguyễn Thành Thái

Sinh ngày 12 tháng 10 năm 1976 - Tại: Bến Tre

Quê quán: huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre

Chỗ ở hiện nay: huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre

Hiện công tác tại: Ngân hàng Phát triển Việt Nam- Chi nhánh NHPT Khuvực Bến Tre – Tiền Giang

Là học viên cao học khóa XV – chương trình Tây Nam Bộ của Trường Đạihọc Ngân hàng TP.HCM

từ công việc thực tế và nghiên cứu của bản thân cùng với sự hướng dẫn khoa họccủa TS Lê Thị Thanh Hà

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi./

TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thành Thái

Trang 6

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Quý thầy cô TrườngĐại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh, Phòng Đào tạo Sau Đại học, đặc biệt là TS.

Lê Thị Thanh Hà đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiêncứu và hoàn thành luận văn

Đồng thời, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ngân hàng Phát triển Việt Nam đótạo mọi điều kiện thuận lợi về thời gian, mọi trường nghiên cứu, giúp tác giả thuthập số liệu cũng như các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các bạn học viên lớp,nhóm, cùng các anh, chị đồng nghiệp và gia đình đó nhiệt tình hỗ trợ, giúp đỡ tácgiả trong quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành tốt đề tài của mình

Trân trọng cảm ơn!

TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thành Thái

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIẾM SOÁT NỘI BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 6

1.1 Lý luận chung về kiểm soát nội bộ 6

1.1.1 Khái quát về kiểm soát nội bộ 6

1.1.1.1 Khái niệm về kiểm soát nội bộ 6

1.1.1.2 Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý 7

1.1.2 Các yếu tố cấu thành kiểm soát nội bộ 8

1.1.2.1 Môi trường kiểm soát 9

1.1.2.2 Đánh giá rủi ro 10

1.1.2.3 Hoạt động kiểm soát 11

1.1.2.4 Thông tin và truyền thông. 12

1.1.2.5 Giám sát và sửa chữa những sai sót 12

1.2 Kiểm soát nội bộ trong các tổ chức ngân hàng 13

1.2.1 Rủi ro hoạt động của ngân hàng thương mại 13

1.2.2 Đặc điểm của hoạt động ngân hàng thương mại ảnh hưởng tổ chức kiểm soát nội bộ 14

1.2.3 Kiểm soát nội bộ trong hoạt động ngân hàng 15

1.2.4 Nhiệm vụ của hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng thương mại 17 1.2.5 Sự cần thiết hoàn thiện kiểm soát nội bộ trong hoạt động ngân hàng 18 1.2.6 Các tiêu chí đánh giá, nhân tố tác động đến hoạt động kiểm soát nội bộ của ngân hàng 19

Trang 8

1.3.1 Kinh nghiệm của Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế 21

1.3.2 Kinh nghiệm của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam 21

1.3.3 Bài học về tổ chức kiểm soát nội bộ cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 25

2.1 Tổng quan về Ngân hàng Phát triển Việt Nam. 25

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển. 25

2.1.2 Các hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam 29

2.1.2.1 Huy động vốn 29

2.1.2.2 Sử dụng vốn 30

2.1.3 Kết quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam 34

2.2 Hoạt động kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 37

2.2.1 Khái quát chung về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 37

2.2.2 Các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 39

2.2.2.1 Môi trường kiểm soát 39

2.2.2.2 Hệ thống thông tin 47

2.2.2.3 Thủ tục kiểm soát. 49

2.2.3 Kết quả hoạt động của Ban KTNB - Ngân hàng Phát triển Việt Nam 55

2.3 Đánh giá thực trạng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 61

Trang 9

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân trong hoạt động kiểm soát nội bộ

tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

3.1 Phương hướng hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

3.1.1 Định hướng hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam đến 2020

3.1.2 Phương hướng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

3.2 Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện môi trường kiểm soát

3.2.1.1 Về quan điểm điều hành của Ban Lãnh đạo Ngân hàng 73 3.2.1.2 Về yếu tố con người

3.2.1.3 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý

3.2.2 Hoàn thiện hệ thống thông tin

3.2.3 Hoàn thiện thủ tục kiểm soát

3.3 Một số kiến nghị thực hiện giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

Từ viết tắt

VietinBank

Trang 12

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Quản lý nói chung và quản lý tài chính nói riêng là một trong những hoạt độnggắn liền với sự ra đời và phát triển của một tổ chức Trong các hoạt động đó thì chứcnăng kiểm tra - kiểm soát luôn giữ vai trò quan trọng và được thực hiện chủ yếu bởikiểm soát nội bộ của từng tổ chức, cơ quan

Hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam được Chính phủ giao nhiệm vụ quản

lý cho vay vốn tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước Hoạt động củaNgân hàng Phát triển Việt Nam không vì mục tiêu lợi nhuận nhưng bảo đảm sử dụngvốn an toàn, hiệu quả và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước Đối tượng chovay vốn tín dụng đầu tư chủ yếu là các dự án thuộc ngành, vùng kinh tế khó khăn, cácchương trình kinh tế có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩytăng trưởng kinh tế bền vững Với mục đích khuyến khích đầu tư, nâng cao hiệu quả

xã hội nên các dự án vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước được hưởng nhiều ưu đãinhư: Thời gian vay vốn dài, tài sản thế chấp cầm cố về cơ bản chỉ là tài sản hình thành

từ vốn vay, Do đó, hoạt động cho vay đầu tư chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro Trongnhững năm tới, hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam từng bước xây dựng và pháttriển trở thành tổ chức tài chính có uy tín trong và ngoài nước với phương châm hoạtđộng là phát triển bền vững hiệu quả và hội nhập Với trách nhiệm là Ngân hàng Pháttriển Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam cần thực hiện tốt nhiệm vụ của mình

để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển trên cơ sở bảo toàn nguồn vốn

Đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam, vấn đề an toàn trong hoạt động củaNgân hàng luôn được đặt lên hàng đầu Song, trên thực tế, mặc dù kiểm soát nội bộ tạiNgân hàng Phát triển Việt Nam luôn được quan tâm, nhưng việc phòng ngừa, pháthiện và ngăn chặn các loại rủi ro chưa đạt hiệu quả cao vì hai lý do:

đựng những hạn chế nhất định

Trang 13

- Sự vận động của kinh tế xã hội tạo ra những thay đổi có ảnh hưởng đến hoạtđộng của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, Đề tài“Kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt

Nam” được lựa chọn nghiên cứu làm Luận văn thạc sĩ nhằm nghiên cứu một cách có

hệ thống về KSNB nói chung và KSNB tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam nói riêng,góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn, qua đó đề xuất giải pháphoàn thiện hệ thống KSNB phục vụ cho công tác quản trị của Ngân hàng

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Trong điều kiện nền kinh tế chưa ổn định như hiện nay thì kiểm soát nội bộ hoạtđộng ngân hàng trở nên hết sức cấp thiết và mang tính thời sự Được biết, có nhiều đềtài về kiểm soát nội bộ ngân hàng thương mại tập trung hai hướng là kiểm soát nội bộngân hàng và kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng như:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội” của tác giả Đoàn Văn Phú năm 2012

dụng trong các ngân hàng thương mại” của tác giả Nguyễn Hoài Nam năm 2011

hàng Công thương Việt Nam” của tác giả Lê Phương Hồng năm 2013

Nhưng, hiện nay, tác giả chưa thấy có công trình nghiên cứu về kiểm soát nội bộcủa Ngân hàng Phát triển Việt Nam Chức năng hoạt động của Ngân hàng Phát triển ViệtNam có những khác biệt nhất định so với kiểm soát nội bộ của NHTM Do đó, trong luận

văn này sẽ tập trung nghiên cứu về vấn đề “Kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam” Luận văn tìm hiểu về thực trạng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển

Việt Nam một cách cụ thể hơn để có thể rút ra những ưu điểm và hạn chế của kiểm soátnội bộ, xuất phát từ thực trạng để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm soátnội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế hiện nay

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu hệ thống về kiểm soát nội bộ trong hoạtđộng ngân hàng nói chung và kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam nóiriêng, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn

Trang 14

3.2 Mục tiêu cụ thể: Xuất phát từ nhu cầu bức thiết của việc hoàn thiện hệ thốngkiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Luận văn xác định các mục tiêucần thực hiện như sau:

và đánh giá thực tiễn công tác xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Pháttriển Việt Nam Qua đó, đánh giá được những thành tựu đã đạt được cũng như phântích những hạn chế còn tồn tại trong hệ thống

phương hướng và giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ phục vụ cho công tác quản trịtại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

mạnh gì? Và còn những hạn chế gì? Nguyên nhân của những hạn chế?

Ngân hàng Phát triển Việt Nam?

5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Việt Nam

+ Thời gian: 2010-2014

+ Nội dung: Hoạt động kiểm soát nội bộ tập trung vào 2 mảng hoạt động chức năng:

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

thứ cấp thu thập từ các báo cáo của Ngân hàng Phát triển Việt Nam

- Phân tích định tính, dựa trên dữ liệu thứ cấp để đánh giá xu hướng hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam và những thay đổi trong kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng

Trang 15

7 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Từ những tổng quan cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ của ngân hàng, tác giả đãtiến hành phân tích thực trạng kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam,qua đó tác giả đã nêu ra được những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân cần được nghiêncứu khắc phục trong hoạt động kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam,gồm những hạn chế chủ yếu sau:

để tạo môi trường pháp lý vững chắc đồng thời làm cơ sở để quy định chi tiết việc tổchức KSNB của mình;

độc lập, khách quan trong việc thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình;

khá chặt chẽ và nghiêm ngặt, song việc phân công thực hiện chưa theo hướng chuyêntrách cho từng mảng nghiệp vụ dẫn đến sự chủ quan và giảm tính kiểm soát nghiệp vụ;

tính chuyên nghiệp;

phù hợp đối với cán bộ thực hiện công tác KSNB để kịp thời động viên, tạo động lựctốt cho đội ngũ này thực sự toàn tâm, toàn ý trong công việc;

Nguyên nhân cơ bản của những tồn tại trên chủ yếu do điều kiện khách quan:

Ngân hàng Phát triển Việt Nam đi vào hoạt động chính thức chưa được 10 năm, tuy kếthừa từ Quỹ HTPT nhưng dù sao Ngân hàng Phát triển Việt Nam cũng đang trong giai đoạnxây dựng và hoàn thiện mô hình ngân hàng mới ở Việt Nam do vậy việc triển khai các hoạtđộng nghiệp vụ ngân hàng trong đó có KSNB không tránh khỏi những khó khăn và hạn chếcần có những giải pháp để hoàn thiện trong những năm sắp tới Mặt khác, Ngân hàng Pháttriển Việt Nam ra đời và hoạt động trong điều kiện chưa hoàn thiện về môi trường pháp lý,chưa có sự hỗ trợ kịp thời về cơ chế, chính sách của Chính phủ cũng như chưa có sự hỗ trợkịp thời từ NHNN về các cơ chế lãi suất, quy định nghiệp vụ tín dụng, xử lý rủi ro

Trên cơ sở những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trên, tác giả đã đềxuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ phục vụ cho công tácquản trị tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Trang 16

8 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung chính của Luận văn được chia thành 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan về kiểm soát nội bộ trong hoạt động ngân hàng

Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIẾM SOÁT NỘI BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 1.1 Lý luận chung về kiểm soát nội bộ

1.1.1 Khái quát về kiểm soát nội bộ

1.1.1.1 Khái niệm về kiểm soát nội bộ

Quá trình kiểm soát là hoạt động tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người bêntrong tổ chức cũng như toàn bộ xã hội Trong các đơn vị có quy mô lớn, chức năng kiểmsoát luôn chiếm một vị trí quan trọng trong mọi quá trình quản lý và được thực hiện bởiKSNB của đơn vị Thứ nhất, theo quan điểm thiên về chính sách thì khẳng định: KSNB làtoàn bộ các quy định có tính pháp lý như hệ thống về pháp luật, chuẩn mực, chế độ về nộiquy, quy trình do đơn vị xây dựng Tất cả các quy định đều được tập hợp theo một quy chế

cụ thể là quy chế KSNB; Thứ hai, quan điểm thiên về hành vi thì cho rằng “KSNB chỉ đơnthuần là một hệ thống kỹ thuật, nhằm xây dựng sự kiểm soát trên mọi người và chú trọngcác khía cạnh là quy trình, nhiệm vụ và công nghệ”

Định nghĩa được chấp nhận khá rộng rãi là của COSO (Committee of sorning), một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận về báocáo tài chính (National Commission on Financial Reporting) Năm 1992, trong Báocáo của COSO được công bố với tiêu đề: Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất (In-ternal control-Integrated framework), COSO đã định nghĩa hệ thống kiểm soát nội bộnhư sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồngquản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự bảo đảmhợp lý nhằm thực hiện mục tiêu: Báo cáo tài chính đáng tin cậy; Các luật lệ và quyđịnh được tuân thủ; Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả”

Spon-Theo Từ điển Kinh tế thị trường của Viện Nghiên cứu và Phổ biến tri thức báchkhoa, chế độ KSNB là một chế độ quản lý kinh doanh trong nội bộ xí nghiệp được xâydựng để bảo vệ tài sản xí nghiệp an toàn, hoàn chỉnh, tăng độ chính xác và tin cậy củatài liệu kế toán, nâng cao hiệu suất công tác, thúc đẩy các đơn vị trong nội bộ phối hợpcông tác nhịp nhàng, bảo đảm quán triệt phương châm kinh doanh của xí nghiệp

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 - Đánh giá rủi ro và KSNB: “Hệthống KSNB là các qui định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xâydựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho các đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để

Trang 18

kiểm tra - kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chínhtrung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị”.

Nhìn chung, từ những khái niệm nêu trên về hệ thống kiểm soát nội bộ có thể khái quát được một số nét cơ bản về một hệ thống kiểm soát nội bộ:

lập nhằm đạt được các mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy củacác thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả của các hoạt động

nhất là các cơ chế kiểm soát nội bộ bao gồm toàn bộ các cơ chế nghiệp vụ; các quytrình; các quy chế nghiệp vụ công với một cơ cấu tổ chức (sắp xếp, phân công phânnhiệm phân cấp, ủy quyền,…) nhằm làm cho hoạt động của đơn vị được hiệu quả, antoàn Phần thứ hai của hệ thống kiểm soát nội bộ chính là cán bộ kiểm tra giám sátchuyên trách, trong đó có kiểm toán nội bộ nhằm đảm bảo cho việc vận hành các cơchế kiểm soát nội bộ nói trên được thực hiện nghiêm, có hiệu quả

- Đồng thời hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ gắn liền với mọi bộ phận, mọi quytrình nghiệp vụ và mọi nhân viên trong đơn vị ít nhiều sẽ tham gia vào việc kiểm soát nội

bộ và kiểm soát lẫn nhau (chứ không đơn thuần là chỉ có cấp trên kiểm soát cấp dưới)

1.1.1.2 Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý

Cần có nhận thức đúng đắn, KSNB không thể là hệ thống kỹ thuật đơn thuầncũng không thể cho rằng KSNB chỉ thuộc về các nhà quản lý mà là một hệ thốngnhằm huy động mọi thành viên trong đơn vị cùng tham gia kiểm soát các hoạt độngcủa tổ chức, vì chính họ là nhân tố quyết định mọi thành quả

Từ các quan điểm khác nhau về KSNB ta thấy KSNB là một hệ thống chứcnăng thường xuyên của đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ratrong từng phần việc và tìm các biện pháp ngăn chặn nó nhằm đạt được các mục tiêuđơn vị đã đề ra KSNB là một hệ thống chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm mụcđích thực hiện các mục tiêu lớn của đơn vị Cụ thể KSNB có 4 mục tiêu cơ bản sau:

Thứ nhất: Bảo vệ an toàn tài sản của đơn vị.

Bảo vệ tài sản là không để xảy ra các rủi ro trong quá trình sử dụng và quản lýtài sản Tài sản trong đơn vị bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình Tùy từngloại tài sản đơn vị phải thiết kế hệ thống quản lý phù hợp;

Trang 19

Thứ hai: Đảm bảo độ tin cậy của thông tin, đảm bảo thông tin tài chính và thông tin quản lý trung thực, hợp lý, đầy đủ và kịp thời:

Hoạt động của đơn vị là liên tục, do đó hàng ngày, hàng giờ có rất nhiều luồngthông tin vào và ra Nhà quản lý cần có những thông tin phục vụ cho việc ra quyếtđịnh Vì vậy, các thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời, tin cậy, đầy đủ và phảnánh khách quan thực trạng hoạt động của đơn vị

Thứ ba: Đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý, tuân thủ pháp luật và các quy trình quy định nội bộ:

Hệ thống KSNB cần được thiết kế sao cho các quyết định và chế độ pháp lýliên quan đến hoạt động của đơn vị phải được tuân thủ đúng mức Theo đó, hệ thốngKSNB phải đạt các yêu cầu sau:

sản xuất kinh doanh của đơn vị

động của đơn vị

quan

Thứ tư: Đảm bảo hiệu quả của hoạt động và hiệu năng quản lý: Hệ thống kiểm

soát thiết kế nhằm ngăn chặn sự trùng lặp, tránh gây lãng phí trong việc sử dụng cácnguồn lực của đơn vị

Mục tiêu mà hệ thống KSNB hướng đến là rất rộng, bao quát lên mọi mặt hoạtđộng và có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của đơn vị Do đó, khithiết kế hệ thống KSNB, nhà quản lý phải biết kết hợp hài hòa bốn mục tiêu trên để tạođược một hệ thống kiểm soát hữu hiệu nhất

1.1.2 Các yếu tố cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ

Mặc dù có sự khác biệt đáng kể về tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ giữa cácđơn vị vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô, tính chất hoạt động, mục tiêu… củatừng nơi, thế nhưng bất kỳ hệ thống KSNB nào cũng phải bao gồm những bộ phận cơbản Kiểm soát bao gồm các bộ phận sau:

Trang 20

- Giám sát và sửa chữa những sai sót.

1.1.2.1 Môi trường kiểm soát

Môi trường kiểm soát tạo ra phong thái của toàn doanh nghiệp và có ảnh hưởngđến ý thức về kiểm soát của các nhân viên Nó là nền móng cho các yếu tố còn lại của

hệ thống kiểm soát nội bộ các nhân tố chính về môi trường kiểm soát là:

trước tiên phụ thuộc vào tính chính trực và việc tôn trọng các giá trị đạo đức củanhững người liên quan đến các quá trình kiểm soát Để đáp ứng yêu cầu này, các nhàquản lý cao cấp phải xây dựng những chuẩn mực về đạo đức trong đơn vị và cư xửđúng đắn để có thể ngăn cản không cho các thành viên có các hành vi thiếu đạo đứchoặc phạm pháp Muốn vậy, nhà quản lý cần phải làm gương cho cấp dưới về việc tuânthủ các chuẩn mực và cần phải phổ biến những quy định đến mọi thành viên bằng cácthể chế thích hợp

Một cách khác để nâng cao tính chính trực và sự tôn trọng các giá trị đạo đức làphải loại trừ hoặc giảm thiểu những sức ép hay điều kiện có thể dẫn đến nhân viên cónhững hành vi thiếu trung thực

hiểu biết để thực hiện nhiệm vụ của mình, nếu không chắc chắn họ sẽ thực hiện nhiệm

vụ được giao không hiệu quả Do đó, nhà quản lý chỉ nên tuyển dụng các nhân viên cótrình độ đào tạo và kinh nghiệm phù hợp với nhiệm vụ được giao, đồng thời phải giámsát và huấn luyện họ đầy đủ và thường xuyên

- Hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm toán: Một sự lựa chọn của các ngân hàng trongnhiều quốc gia là thiết lập Ủy ban kiểm toán độc lập để giúp Hội đồng quản trị thực hiệnnhững nhiệm vụ của họ Đây là Ủy ban gồm một số thành viên trong và ngoài Hội đồngquản trị nhưng không tham vào việc điều hành đơn vị Ủy ban kiểm toán có thể có nhữngđóng góp quan trọng cho việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị, thông qua việc giám sát

sự tuân thủ pháp luật, giám sát việc lập báo cáo tài chính, giữ sự độc lập của kiểm toán nộibộ…Do đó, các chức năng quan trọng trên nên sự hữu hiệu của Ủy ban kiểm toán và Hộiđồng quản trị có ảnh hưởng đến môi trường kiểm soát

Các nhân tố được xem xét đế đánh giá sự hữu hiệu của Hội đồng quản trị hoặc

Ủy ban kiểm toán gồm mức độ độc lập, kinh nghiệm và uy tín của các thành viên trongHội đồng quản trị hoặc ủy ban kiểm toán, và mối quan hệ của họ với bộ phận

Trang 21

kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập.

- Triết lý và phong cách điều hành của nhà quản lý: Triết lý quản lý thể hiện quaquan điểm và nhận thức của người quản lý; phong cách điều hành lại thể hiện qua cá tính,

tư cách và thái độ của họ khi điều hành đơn vị Sự khác biệt về triết lý quản lý và phongcách điều hành có thể ảnh hưởng đến môi trường kiểm soát và tác động đến việc thực hiệncác mục tiêu của đơn vị Triết lý quản lý và phong cách điều hành cũng được phản ánhtrong cách thức mà nhà quản lý sử dụng các kênh thông tin và quan hệ với cấp dưới

quyền hạn giữa các bộ phận trong đơn vị, nó góp phần rất lớn trong việc đạt được cácmục tiêu Cơ cấu phù hợp sẽ là cơ sở cho việc lập kế hoạch, điều hành, kiểm soát vàgiám sát các hoạt động

nhiệm được xem là phần mở rộng của cơ cấu tổ chức Nó cụ thể hóa về quyền hạn vàtrách nhiệm của từng thanh viên trong các hoạt động của đơn vị, giúp cho mỗi thànhviên phải hiểu rằng họ có nhiệm vụ cụ thể gì và từng hoạt động của họ sẽ ảnh hưởngnhư thế nào đến người khác trong việc hoàn thành mục tiêu Do đó, khi mô tả côngviệc, đơn vị cần phải thể chế hóa bằng văn bản về những nhiệm vụ và quyền hạn cụthể của từng thành viên và quan hệ giữa họ với nhau

dụng, huấn luyện, đánh giá, sa thải, đề bạt, khen thưởng và kỷ luật nhân viên Chínhsách nhân sự có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của môi trường kiểm soát thôngqua tác động đến các nhân tố trong môi trường kiểm soát như đảm bảo về năng lực,tính chính trực và giá trị đạo đức…

1.1.2.2 Đánh giá rủi ro

Đó là quy trình của doanh nghiệp để xác định và phân tích các rủi ro đối vớiviệc hoàn thành các mục tiêu của doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc xác định xem cácrủi ro đó được quản lý như thế nào Nó bao gồm việc xác định mục tiêu của đơn vị,nhận dạng rủi ro, phân tích và đánh giá rủi ro

Việc đánh giá rủi ro được coi là có chất lượng nếu:

giá và phân tích định lượng tác hại của các rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn

Trang 22

nhằm giảm thiểu tác hại rủi ro đến một giới hạn chấp nhận nào đó hoặc doanh nghiệp

đã có biện pháp để toàn thể nhân viên nhận thức rõ ràng về tác hại của rủi ro cũng nhưgiới hạn rủi ro tối thiểu mà tổ chức có thể chấp nhận

1.1.2.3 Hoạt động kiểm soát

Thủ tục kiểm soát là những cách thức xác định và trình tự cụ thể để duy trì hành

phải dựa trên ba nguyên tắc cơ bản sau:

- Nguyên tắc phân công, phân nhiệm:

Nguyên tắc này không cho phép một thành viên nào được giải quyết mọi mặt của

nghiệp vụ từ khi hình thành cho đến khi kết thúc Nguyên tắc này thể hiện công việc và

trách nhiệm cần được phân chia cụ thể cho nhiều người trong một bộ phận hay nhiều bộphận khác nhau trong một tổ chức Mục đích việc phân công, phân nhiệm rõ ràng là giúpcác nhân viên kiểm soát lẫn nhau, nếu có sai sót xảy ra sẽ được phát hiện nhanh chóng,đồng thời giảm đi cơ hội cho bất kỳ thành viên nào trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cóthể gây ra và giấu diếm sai phạm Nguyên tắc này còn có tác dụng tạo ra sự chuyên mônhoá và giúp cho việc kiểm tra, thúc đẩy lẫn nhau trong công việc;

- Nguyên tắc bất kiêm nhiệm:

Theo nguyên tắc này, người quyết định và người thực hiện không bao giờ làmột Nguyên tắc này đòi hỏi sự tách biệt về trách nhiệm đối với một số công việc nhưtrách nhiệm thực hiện nghiệp vụ với trách nhiệm ghi sổ kế toán, trách nhiệm xét duyệtvới trách nhiệm ghi chép sổ sách Nguyên tắc này đảm bảo về trách nhiệm và côngviệc cho các bộ phận trong công ty cụ thể và rõ ràng, đảm bảo sự tách biệt thích hợp vềtrách nhiệm ngăn ngừa sai phạm và hành vi lạm dụng quyền hạn, đảm bảo phạm vịquyền hạn giải quyết công việc trong phạm vi nhất định

- Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn:

Trong quá trình điều hành hoạt động của tổ chức, cấp trên phải uỷ quyền chocấp dưới một hoặc một số lĩnh vực nhất định để tạo nên sự phân chia trách nhiệm,quyền hạn, tránh sự tập trung quyền lực dễ dẫn đến “độc quyền” Bên cạnh việc uỷquyền, để tuân thủ tốt các quyết định và giải quyết một số công việc trong phạm viquyền hạn được giao cần có sự phê chuẩn đúng đắn Nguyên tắc uỷ quyền và phêchuẩn yêu cầu các nghiệp vụ phát sinh đều phải được uỷ quyền cho cán bộ thực hiện

phê chuẩn một cách thích hợp.

Trang 23

1.1.2.4 Thông tin và truyền thông

Hỗ trợ việc xác định, nắm bắt và trao đổi các thông tin theo một hình thức vàkhuôn khổ thời gian tạo điều kiện cho các thành viên thực hiện các nhiệm vụ củamình Hệ thống thông tin và báo cáo, bao gồm cả hệ thống công nghệ thông tin, các cơchế giao tiếp và các kênh thông tin giữa các cấp và các bộ phận trong đơn vị Hệ thốngnày có sự phân cấp và bao hàm cả hệ thống cảnh báo rủi ro, hệ thống bảo mật vàchống xâm phạm trái phép Sự tương tác giữa các yếu tố cấu thành hệ thống này sẽquyết định tính hữu hiệu, tính đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ

Chất lượng hệ thống là tốt khi các nội dung sau được đảm bảo:

đạo và những người có thẩm quyền

đều có thể hiểu và nắm rõ nội quy, chuẩn mực của tổ chức, đảm bảo thông tin đượccung cấp kịp thời, chính xác đến các cấp có thẩm quyền

hành vi, sự kiện bất thường có khả năng gây thiệt hại cho doanh nghiệp

hiểm họa và kế hoạch ứng cứu sự cố mất thông tin số liệu

1.1.2.5 Giám sát và sửa chữa những sai sót

Là quá trình đánh giá chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ, đảm bảo hệ thốngnày được triển khai, điều chỉnh và cải thiện liên tục Việc này được thực hiện thôngqua việc đánh giá thường xuyên, đánh giá riêng lẻ hay kết hợp hai hình thức

Việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ thường được thực hiện thông qua một bộphận độc lập, bộ phân kiểm toán nội bộ Kiểm toán nội bộ là nhân tố cơ bản trong hệthống kiểm soát nội bộ, nó cung cấp sự quan sát và đánh giá thường xuyên và chuyênnghiệp về toàn bộ hoạt động của đơn vị cũng như tính hiệu quả của việc thiết kế và vậnhành các chính sách, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát nội bộ đơn vị

Việc đánh giá quá trình giám sát và thẩm định hệ thống kiểm soát nội bộ cóhiệu quả hay không được thể hiện qua các tiêu chí:

tiêu, kế hoạch đã định

kiểm

Trang 24

toán nội bộ hoặc kiểm toán độc lập được báo cáo trực tiếp và kịp thời với cấp phụ trách cao hơn, kể cả ban lãnh đạo để điều chỉnh đúng lúc.

đạo về mọi trường hợp gian lận, nghi ngờ gian lận, về các vi phạm nội quy, quy địnhcủa doanh nghiệp cũng như quy định của luật pháp hiện hành có khả năng làm giảm

uy tín doanh nghiệp và gây thiệt hại về kinh tế

1.2 Kiểm soát nội bộ trong các tổ chức ngân hàng

1.2.1 Rủi ro hoạt động của ngân hàng thương mại:

Do tính phức tạp và khối lượng giao dịch lớn Cùng với tính dễ biến động củatiền tệ nên trong hoạt động của mình ngân hàng thương mại thường gặp nhiều rủi ro.Các rủi ro gắn liền với hoạt động ngân hàng bao gồm:

- Rủi ro tín dụng: Rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu đượcđầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúnghạn Đây là rủi ro của sản phẩm dịch vụ quan trọng nhất trong ngân hàng, có tồn tạitrong toàn bộ phần tài sản chứ không chỉ vốn vay

ảnh hưởng đến kết quả kin doanh của ngân hàng-bị lỗ do tăng chi phí … ví dụ lãi suấtthị trường thay đổi làm giảm giá trị tài sản Hoặc phát sinh sự không cân xứng về kỳhạn giữa tài sản Có và tài sản Nợ của Ngân hàng

thái hối đoái mở trong kinh doanh ngoại tệ

đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi đồng thời của khách hàng ngay lập tức do thiếu hụt tiền

dự trữ và việc chuyển đổi các tài sản Có khác sang tiền mặt gặp khó khăn, hoặc chịuảnh hưởng của các hợp đồng vay

phảnh ánh vào bảng cân đối kế toán nội bảng nhưng các hoạt động này tiềm ẩn nhiềurủi ro và có thể ảnh hưởng đến trạng thái tương lai của bảng cân đối kế toán khi các tàisản ngoại bảng chuyển thành bội bảng

hoặc kiểm soát nội bộ dẫn đến thất thoát, bao gồm rủi ro an toàn chung, rủi ro giaodịch, rủi ro lạm dụng thông tin, rủi ro kiểm soát, rủi do do các nhà quản lý không nhận

Trang 25

được đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin, rủi ro nhân sự, rủi ro hệ thống côngnghệ thông tin, rủi ro thay đổi quản lý…

Để kiểm soát và hạn chế rủi ro, Ban lãnh đạo các ngân hàng thương mại cầnquan tâm đến việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ

1.2.2 Đặc điểm của ngân hàng thương mại ảnh hưởng tổ chức kiểm soát nội bộ:

Xét dưới góc độ ảnh hưởng của nền kinh tế quốc gia, hoạt động kinh doanh củaNHTM có những điểm khác biệt so với các doanh nghiệp khác Trước hết, đó là lĩnhvực kinh doanh của ngân hàng thương mại bao gồm tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngânhàng, những lĩnh vực này liên quan đến tất cả các ngành và mọi mặt của đời sống kinhtế-xã hội Mặt khác, tiền tệ ngân hàng là lĩnh vực tất “nhạy cảm” nên nó đòi hỏi một

sự thận trọng trong hoạt động điều hành ngân hàng để tránh những thiệt hại cho nềnkinh tế xã hội Đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ mà tiền tê là một công

cụ được Nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế, nó quyết định đến sự pháttriển và suy thoái của cả một nền kinh tế, do đó nó được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ

Xét dưới góc độ hoạt động nghiệp vụ ngân hàng, những đặc điểm của hoạtđộng ngân hàng ảnh hưởng đến việc thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ như sau:

trực tiếp bằng tiền mặt, chứng từ có giá Điều này dẫn đến rủi ro về thất thoát tài sản

và gian lận cả trong công việc bảo quản tài sản và thực hiện giao dịch Do đó, các ngânhàng thương mại thường thiết lập những qui trình hoạt động và kế toán thống nhất, hạnchế quyền hạn cá nhân và duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu

cả về số lượng lẫn giá trị Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải thiết lập hệ thống kếtoán và kiểm soát nộ bộ phức tạp cùng với việc áp dụng công nghệ thông tin hiện đại trong xử lý nghiệp vụ

- Ngân hàng thương mại thường có mạng lưới hoạt động rộng lớn nhiều chinhánh và phòng giao dịch trải khắp quốc gia, phân tán về mặt địa lý Điều này đòi hỏi việcphân cấp trách nhiệm và quyền hạn trong chức năng kế toán và giám sát nhưng vẫn đảmbảo tuân thủ hệ thống kế toán và kiểm soát thống nhất Ngoài ra, đặc điểm này cũng ảnhhưởng đáng kể đến yếu tố thông tin và truyền thông trong toàn hệ thống của ngân hàng

Trang 26

- Các Ngân hàng thương mại thường phải tuân thủ chặt chẽ các qui định về pháp

lý trong hoạt động Các qui định này cũng thương xuyên được thay đổi và điều chỉnh

1.2.3 Kiểm soát nội bộ trong hoạt động ngân hàng

Trong hoạt động của ngân hàng, việc hạn chế các rủi ro để đảm bảo hoạt độngngân hàng an toàn và hiệu quả là vấn đề vô cùng quan trọng Hoạt động giúp cho lãnhđạo ngân hàng thực hiện được điều này là hệ thống KSNB của ngân hàng Nếu hệthống KSNB không được tổ chức tốt, công tác KSNB không được quan tâm xem trọngthì việc xảy ra rủi ro, tổn thất cho ngân hàng là điều tất yếu Do đó cần thiết phải tăngcường KSNB trong hoạt động ngân hàng

Để thực hiện KSNB trong hoạt động ngân hàng, hệ thống KSNB cần phát huyhiệu lực của các yếu tố cấu thành là môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin và cácthủ tục kiểm soát

Về môi trường kiểm soát: Việc thiết lập một môi trường KSNB tốt là nhân tố rất

quan trọng trong hoạt động kiểm soát của ngân hàng Môi trường kiểm soát ngân hàngcũng thể hiện được nhận thức, phong cách hành động của người quản lý ngân hàng đốivới tầm quan trọng của hoạt động kiểm soát Môi trường kiểm soát sẽ xác lập việc thiết

kế và điều hành hoạt động của chính sách, thủ tục kiểm soát của ngân hàng bao gồmquan điểm và phong cách điều hành của ban lãnh đạo, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý

và chính sách nhân sự, công tác kế hoạch, môi trường bên ngoài

Quan điểm và phong cách điều hành của ban lãnh đạo cấp cao trong ngân hàng sẽquyết định các chính sách, kế hoạch, quy chế hoạt động nội bộ của ngân hàng cũng nhưviệc phân công kiêm nhiệm, thẩm quyền trách nhiệm, quy trình nghiệp vụ Quan điểm vàphong cách của lãnh đạo cấp cao trong ngân hàng có ảnh hưởng trực tiếp và mang tínhquyết định đến sự hữu hiệu của hệ thống KSNB Cụ thể: Quan điểm của lãnh đạo cấp caotrong ngân hàng theo chiều hướng nào thì mục tiêu kiểm soát sẽ được triển khai theochiều hướng đó, xác định mục tiêu kiểm soát đúng đắn là nền tảng cho sự hoạt động hiệuquả của hệ thống KSNB trong mọi lĩnh vực hoạt động của ngân hàng nói chung

Về hệ thống thông tin: Hệ thống kế toán là một bộ phận quan trọng không thể

thiếu trong hệ thống KSNB Đây là một khâu rất quan trọng trong hệ thống thông tincủa ngân hàng, phản ánh toàn bộ các vấn đề phát sinh trong hoạt động của ngân hàng

Hệ thống kế toán cần được thiết kế phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt độngquản lý đồng thời ngăn ngừa, hạn chế rủi ro có thể xảy ra Sự kiểm soát chỉ có thể

Trang 27

thực hiện tốt nếu thông tin phản ánh trung thực, đáng tin cậy, kịp thời và chính xác Hệ

thống thông tin và truyền thông nội bộ của ngân hàng cần được tổ chức theoyêu cầu đảm bảo thông tin chính xác, kịp thời, đầy đủ, dễ nắm bắt và cung cấp (có thể)đúng với người có trách nhiệm

Thủ tục KSNB: Thủ tục kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng cũng phải được

thiết lập dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản là: nguyên tắc phân công phân nhiệm, nguyêntắc bất kiêm nhiệm và nguyên tắc ủy quyền phê chuẩn Với hoạt động nhiều rủi ro thìcác nguyên tắc này càng cần được quan tâm

Khi các thủ tục này được vận hành một cách hữu hiệu thông qua việc thực hiệnmột cách nghiêm ngặt các quy chế quản lý thì các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt độngcủa ngân hàng sẽ được ngăn chặn hoặc phát hiện một cách đầy đủ, kịp thời

Sử dụng cơ chế kiểm soát thích hợp; Xem xét tính hiệu quả của cơ chế sử dụnghoặc có thể sử dụng một cơ chế hay phối hợp một số cơ chế để kiểm soát một rủi ro.Vừa dùng cơ chế kiểm soát để ngăn ngừa vừa để phát hiện rủi ro

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý là tập hợp các bộ phận chức năng được phân côngnhiệm vụ cụ thể, có trách nhiệm và quyền hạn nhất định trong chuyên môn của mình Các

bộ phận này có mối liên hệ hữu cơ mật thiết với nhau nhằm thực hiện phối hợp đạt mụctiêu chung trong quản lý Xây dựng cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Phát triển Việt Namcần có sự phân công rõ ràng chuyên môn hóa từng bộ phận và có sự phối hợp chặt chẽ vớinhau Ngân hàng có cơ cấu tổ chức hợp lý không chồng chéo nhiệm vụ sẽ đảm bảo chocác thủ tục kiểm soát phát huy tác dụng một cách hiệu quả nhất

Tùy theo qui mô, mức độ phạm vi và đặc thù hoạt động của mình, ngân hàngthành lập hệ thống KSNB phù hợp với cơ cấu tổ chức chuyên môn của mình, thành lập

bộ phận kiểm tra KSNB chuyên trách, chịu sự điều hành trước Tổng giám đốc (Giámđốc) Trong trường hợp không có bộ phận kiểm tra KSNB chuyên trách cũng phải thiếtlập, duy trì và tổ chức thực hiện hệ thống KSNB

Chính sách nhân sự là vấn đề rất quan trọng trong môi trường kiểm soát Ngânhàng cần có một đội ngũ nhân lực đủ năng lực, có phẩm chất tốt thì quá trình kiểmsoát sẽ dễ dàng, thuận tiện hơn và tất yếu hoạt động của ngân hàng sẽ có hiệu quả caohơn Ngược lại nếu đội ngũ nhân viên của ngân hàng yếu năng lực, phẩm chất đạo đứcchưa tốt thì việc kiểm soát sẽ gặp nhiều khó khăn và hiệu quả mang lại sẽ không cao.Xác định được điều đó, Ngân hàng cần có chính sách đãi ngộ, ưu tiên phát triển nguồn

Trang 28

nhân lực để tạo điều kiện hoạt động có hiệu quả và phát triển bền vững.

KSNB là yếu tố cơ bản trong môi trường kiểm soát, thiết lập Hệ thống KSNBchính là xác lập một cơ chế giám sát bằng những quy định rõ ràng nhằm giảm bớtnguy cơ tiềm ẩn trong hoạt động ngân hàng, đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy,quy chế của ngân hàng, quy định của luật pháp tạo điều kiện sử dụng tối ưu, phát huycác nguồn lực sẵn có, triển khai và đạt được mục tiêu đặt ra của ngân hàng

Với yêu cầu như trên, bộ phận KSNB được xem trọng trong hoạt động của ngânhàng Lãnh đạo của ngân hàng thấy rõ tầm quan trọng, sự cần thiết phải tổ chức hệthống KSNB, tạo điều kiện về con người, cơ sở vật chất, thông tin liên lạc và các yếu

tố cần thiết để hệ thống này hoạt động

1.2.4 Nhiệm vụ của hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng thương mại

- Ngăn ngừa thiếu sót trong hệ thống xử lý nghiệp vụ:

Các thủ tục kiểm soát phải được thiết kế sao cho có thể hướng các nghiệp vụ kinh tếxảy ra đúng nguyên tắc quy định, nhằm ngăn chặn kịp thời các sai sót, nhầm lẫn vô tình hay

cố ý có thể gây thất thoát tiền bạc hoặc tài sản của ngân hàng, gây ra thiệt hại trong kinh anh Thí dụ để ngăn chặn thất thoát tiền bạc, ngân hàng quy định mọi khoản thu chi trước khithủ quỹ thực hiện đều phải qua xét duyệt của kế toán, kiểm soát viên, kế toán trưởng…

do Bảo vệ đơn vị trước những thất thoát tài sản có thể tránh:

Đơn vị phải giữ một lượng tiền mặt lớn đủ loại bao gồm tiền mặt và các phươngtiện chuyển nhượng, chúng đòi hỏi phải được quản lý về mặt vật chất cả trong khâulưu trữ cũng như trong khâu vận chuyển Vì lý do này ngân hàng cần phải thiết lập cácquy trình hoạt động, xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân và lập ra một hệ thốngkiểm soát nội bộ chặc chẽ với tài sản

Ngoài đặc trưng trên, có một bộ phận tài sản rất lớn của ngân hàng không thểkiểm đếm được Những tài sản này phần lớn bao gồm một giá trị lớn các khoản phảithu (phải thu tiền vay, phải thu tiền lãi, khoản dự phòng nợ khó đòi), các tài sản ngoạibảng (cam kết bảo lãnh, cam kết cho vay…) đòi hỏi ngân hàng cần phải đặc biệt chútrọng đến việc thiết lập một quy trình chặt chẽ bảo đảm kiểm soát được đầy đủ các tàisản nợ và có của ngân hàng

- Đảm bảo việc chấp hành chính sách kinh doanh:

Cơ cấu kiểm soát nội bộ cần được thiết lập bao gồm những thủ tục để đảm bảochính sách kinh doanh của ngân hàng được tất cả các nhân viên ngân hàng chấp hành

Trang 29

Chẳng hạn cần phải thiết kế các biện pháp kiểm tra để đảm bảo các cán bộ tín dụng sẽthực hiện các khoản cho vay đúng theo quy định của ngân hàng; các kế toán giao dịchthực hiện đúng các quy trình ngân hàng đã quy định về mở tài khoản, chuyển tiền…

1.2.5 Sự cần thiết hoàn thiện kiểm soát nội bộ trong hoạt động ngân hàng

Xét dưới góc độ ảnh hưởng của nên kinh tế quốc gia, hoạt động kinh doanh củaNHTM có những điểm khác biệt so với các doanh nghiệp khác Trước hết, đó là lĩnhvực kinh doanh của NHTM bao gồm tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng, nhữnglĩnh vực này liên quan đến tất cả các ngành và mọi mặt của đồi sống kinh tế xã hội.Mặt khác, tiền tệ ngân hàng là lĩnh vực rất nhạy cảm nên nó đòi hỏi một sự thận trọngtrong hoạt động điều hành để tránh những thiệt hại cho nền kinh tế xã hội Đối tượngkinh doanh của ngân hàng là tiền tệ mà tiền tệ là một công cụ được Nhà nước sử dụng

để quản lý vĩ mô nền kinh tế, nó quyết định đến sự phát triển và suy thoái của cả mộtnền kinh tế, do đó nó được Nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ

Xét về góc độ hoạt động nghiệp vụ ngân hàng, những đặc điểm của hoạt độngngân hàng ảnh hưởng đến việc thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ như sau:

mặt, chứng từ có giá Điều này dẫn đến rủi ro về thất thoát tài sản và gian lận cả trongcông việc bảo quản tài sản và thực hiện giao dịch Do đó, các ngân hàng thường thiếtlập những qui trình hoạt động và kế toán thống nhất, hạn chế quyền hạn cá nhân vàduy trì hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu

giá trị Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải thiết lập hệ thống kế toán và kiểm soát nội

bộ phức tạp cùng với việc áp dụng công nghệ thông tin hiện đại trong xử lý nghiệp vụ

- NHTM thường có mạng lưới hoạt động rộng lớn nhiều chi nhánh và phòng giaodịch trải khắp quốc gia, phân tán về mặt địa lý Điều này đòi hỏi việc phân cấp tráchnhiệm và quyền hạn lớn trong chức năng kế toán và giám sát nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ

hệ thống kế toán và kiểm soát thống nhất Ngoài ra, đặc điểm này cũng ảnh hưởng đáng

kể đến yếu tố thông tin và truyền thông trong toán hệ thống của ngân hàng

động Các quy định này cũng thường xuyên được thay đổi và điều chỉnh

Trang 30

Vì vậy, đối với các ngân hàng nói chung cũng như các ngân hàng nói riêng,việc xây dựng và hoàn thiện một hệ thống nội bộ hiệu quả, đảm bảo an toàn hoạt độngcủa hệ thống đóng một vai trò vô cùng quan trọng.

1.2.6 Các nhân tố tác động đến hoạt động kiểm soát nội bộ của ngân hàng

Môi trường kiểm soát: là những yếu tố của tổ chức ảnh hưởng đến hoạt động

của hệ thống kiểm soát nội bộ và là các yếu tố tạo ra một môi trường trong đó toàn bộthành viên của tổ chức có nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội

bộ hay không Ví dụ, nhận thức của Ban giám đốc thế nào về tầm quan trọng của liênchính và đạo đức nghề nghiệp, về việc cần tổ chức bộ máy hợp lý, về việc phải phâncông, ủy nhiệm, giao việc rõ ràng, về việc phải ban hành bằng văn bản các nội quy,quy chề, quy trình kinh doanh Một môi trường kiểm soát tốt sẽ là nền tảng quan trọngcho sự hoạt động hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ

Đánh giá rủi ro: Không lệ thuộc vào quy mô, cấu trúc, loại hình hay vị trí địa

lý, bất kỳ tổ chức nào khi hoạt động đều bị các rủi ro xuất hiện từ các yếu tố bên tronghoặc bên ngoài tác động mặc khác, trong hệ thống ngân hàng thường có các loại rủi rosau:

tính thanh khoản giữa vốn huy động và việc sử dụng vốn huy động của ngân hàngtrong điều kiện lãi suất thị trường thay đổi ngoài dự kiến, đều này dẫn đến khả năng giảm thu nhập của ngân hàng so với dự tính

trường hợp khách hàng vay vốn không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộnhu74ngh cam kết nêu tại hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng

đáp ứng các nhu cầu rút tiền thường xuyên hoặc đột xuất của người gửi tiền cũng nhưkhông chi trả được kịp thời các nghĩa vụ tài chính khác Rủi ro thanh khoản bắt đầu từ

sự không phù hợp về quy mô và kỳ hạn giữa các tài sản nợ và tài sản có của ngân hàngtại thời điểm hiện tại hay trong tương lai Ngoài ra, yếu tố tâm lý, niềm tin của nhà đầu

tư cũng là một nhân tố quan trọng có thể gây nên rủi ro thanh khoản

chính, tiền tệ, một lĩnh vực nhạy cảm, chịu sự điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật,

có quan hệ và ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều đối tượng khách hàng, tầng lớp trong xã

Trang 31

hội Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới Dovậy hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước không ngừng được chỉnh sửa, bổsung/ban hành mới để hoàn thiện cho phù hợp với thông lệ quốc tế và cam kết của ViệtNam với các tổ chức quốc tế Việc không áp dụng kịp thời, không đúng các văn bảnpháp luật điều chỉnh sẽ dẫn đến rủi ro về mặt luật pháp đối với hoạt động ngân hàng.

khách quan không thể lường trước được hoặc không thể khắc phục được mặc dù đã ápdụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép là những rủi ro bất khả kháng, nếuxảy ra sẽ gây thiệt hại lớn về tài sản, con người và tình hình hoạt động chung của ngânhàng

Việc thường xuyên đánh giá, xem xét các loại rủi ro trên cũng là một trongnhững nhân tố tác động đển hiệu quả kiểm soát nội bộ ngân hàng

Các yếu tố bên trong: sự quản lý thiếu minh bạch, không coi trọng đạo đức

nghề nghiệp Chất lượng cán bộ thấp, sự cố hỏng hóc của hệ thống máy tính, của trangthiết bị hạ tầng cơ sở Tổ chức và cơ sở hạ tầng không thay đổi kịp với sự thay đổi, mởrộng của sản xuất Chi phí cho quản lý và trả lượng cao, thiếu sự kiểm tra, kiểm soátthích hợp hoặc do thiếu quan tâm, điều đó cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởngchất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ

Các yếu tố bên ngoài: thay đổi công nghệ làm thay đổi quy trình vận hành.

Thay đổi thói quen của người tiêu dung làm các sản phẩm và dịch vụ hiện hành bị lỗithời Xuất hiện yếu tố cạnh tranh không mong muốn tác động đến giá cả và thị phần

Sự ban hành của một đạo luật hay chính sách mới, ảnh hưởng đến hoạt động của tổchức… Để tránh bị thiệt hại do các tác động nêu trên, tổ chức cần thường xuyên: xácđịnh rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn Phân tích ảnh hưởng của chúng kể cả tần suất xuấthiện và xác định các biện pháp để quản lý và giảm thiểu tác hại của chúng

Hệ thống thông tin và truyền thông cần được tổ chức để bảo đảm chính xác, kịpthời, đầy đủ, tin cậy, dễ nắm bắt và đúng người có thẩm quyền Điều đó cũng góp phầnnâng cao chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ

Hệ thống giám sát và thẩm định: là quá trình theo dõi và đánh giá chất lượng

thực hiện việc kiểm soát nội bộ để đảm bảo nó được triển khai, được điều chỉnh khimôi trường thay đổi, được cải thiện khi có khiếm khuyết Ví dụ thường xuyên rà soát,kiểm tra và báo cáo về chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ,

Trang 32

đánh giá và theo dõi việc ban lãnh đạo cũng như tất cả nhân viên có tuân thủ các chuậnmực ứng xử của tổ chức sau khi ký cam kết hay không.

1.3 Kinh nghiệm về tổ chức KSNB của một số ngân hàng thương mại Việt Nam và bài học cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

1.3.1 Kinh nghiệm của Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế:

Tại Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế, cơ cấu quản trị được xác định rõràng giữa Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban điều hành, trong đó HĐQT xác địnhchiến lược và Ban điều hành là người thực thi chiến lược Bên cạnh đó, những Ủy banđộc lập như Ủy ban tín dụng độc lập, được Chủ tịch HĐQT trao quyền và có thànhviên HĐQT tham gia, không chỉ giúp HĐQT nắm vững được tình hình thực tế về tìnhhình tín dụng mà còn đảm bảo tính minh bạch, chất lượng hoạt động tại Ngân hàngthương mại cổ phần quốc tế

Trên thực tế, quản lý rủi ro tại Việt Nam thường phải đối mặt với vấn đề có quá

ít hoặc quá nhiều dữ liệu nhưng không phù hợp cho quá trình phạn tích đánh giá cơ hộihoặc dự phòng rủi ro Để khắc phục vấn đề này, tại Ngân hàng thương mại cổ phầnquốc tế đã có những phòng ban chuyên trách, mô hình đồng nhất, nhất quán từ các đơn

vị kinh doanh đến bộ phận hỗ trợ Mô hình 3 tầng lớp bảo vệ (Đơn vị kinh doanh –Đơn vị quản lý – Kiểm toán nội bộ) giúp Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế tăngcường vai trò quản lý và kiểm tra hoạt động của các đơn vị kinh doanh nói riêng vàcủa toàn hệ thống nói chung, đồng thời phòng ngừa lỗ hổng do các hình thức rủi ro gây

ra như: chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố Song song đó, Ngân hàng thương mại

cổ phần quốc tế còn nâng cao quy trình quản trị rủi ro và áp dụng công nghệ quản trịrủi ro được chuyển giao từ phía cổ đông chiến lược CBA – top ngân hàng an toàn trênthế giới

1.3.2 Kinh nghiệm của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam

VietinBank là một trong những ngân hàng khá mạnh tay đầu tư đồng bộ hệthống công nghệ hiện đại trong quản trị rủi ro Ngân hàng này đã xây dựng hệ thốngphần mềm quản lý tài sản nợ-có Qua đó nâng hiệu quả công tác điều hành vốn, quản

lý rủi ro thanh khoản, lãi suất theo đúng thông lệ quốc tế Hệ thống định giá điềuchuyển vốn nội bộ của VietinBank tiếp tục được nâng cấp, vận hành phù hợp, linh hoạtvới diễn biến thị trường đồng thời đảm bảo hoạt động an toàn, ổn định cũng như

Trang 33

là công cụ hữu hiệu định hướng và tạo động lực kinh doanh cho cả hệ thống Đặc biệt,VietinBank đã triển khai xây dựng thành công bộ khung quy chế, quy định, quy trìnhQLRR thanh khoản, lãi suất và thị trường cho Chi nhánh tại CHLB Đức theo tiêuchuẩn Marisk của Đức và áp dụng vào hệ thống VietinBank.

Về mô hình tổ chức: Cũng giống như ở Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế,

và tác nghiệp, bộ phận QLRR và bộ phận KTNB, giúp cho VietinBank quản lý tốt hoạtđộng của toàn hệ thống và phòng ngừa hiệu quả các rủi ro có thể xảy ra

1.3.3 Bài học về tổ chức kiểm soát nội bộ cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Tổng kết kinh nghiệm trên đây cho thấy, để hoàn thiện tổ chức KSNB tại Ngânhàng Phát triển Việt Nam, cần chú ý một số vấn đề sau đây:

chức tài chính để đảm bảo vị thế, tính độc lập khách quan của KSNB KSNB cần đượctrực thuộc ban lãnh đạo cao nhất trong đơn vị, ví dụ Ủy ban kiểm tra hoặc Hội đồngquản trị Mô hình tổ chức của KSNB cần được xây dựng phù hợp với cơ cấu tổ chứcchung của đơn vị Với các tổ chức tài chính Việt Nam, đặc điểm thường gặp là có cả

bộ phận KSNB và kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách, cần xem xét sự phù hợp,hiệu quả của các hoạt động kiểm soát để có cách thức tổ chức bộ máy KSNB phù hợp

nội dung, KSNB hiện đại cần chú trọng tới kiểm toán hoạt động đánh giá hiệu quả cácqui trình kiểm soát, quản trị rủi ro, đánh giá hiệu quả hiệu năng các hoạt động của đơnvị

cận kiểm tra trên cơ sở rủi ro Đặc biệt đối với các Công ty tài chính là các doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính - tín dụng, phương pháp tiếp cận này giúpkiểm soát viên nội bộ định hướng các lĩnh vực nhiều rủi ro cần chú trọng Đây làphương pháp tiếp cận còn khá mới và chưa được thực hiện một cách chuyên nghiệp ởViệt Nam, do vậy cần được quan tâm nghiên cứu để áp dụng vào thực tế hoạt độngkiểm toán

Tóm lại, KSNB được coi là một công cụ quan trọng của quản lý, một sự đánhgiá độc lập trong một tổ chức nhằm làm gia tăng giá trị trong hoạt động của tổ chức

Trang 34

Các đánh giá này có thể ở phạm vi rất rộng, bao gồm cả hiệu quả hoạt động sản xuấtkinh doanh, hiệu năng của hoạt động quản lý, và hiệu lực của các hoạt động kiểm soát.

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

soát nội bộ, giúp cho người đọc thấy được sự cần thiết khách quan về hệ thống kiểmsoát nội bộ và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng Tác giả cũng đãgiới thiệu hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ ngân hàng theo báo cáo của Ủy banBasle, về các nguyên tắc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng.Đồng thời, chương 1 cũng giới thiệu cho người đọc những kinh nghiệm trong việc xâydựng hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng

Việc nghiên cứu các cơ sở lý thuyết về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toánnội bộ ở Chương 1 sẽ là nền tảng để tác giả phân tích thực trạng xây dựng mô hìnhkiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam ở chương tiếp theo

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 2.1 Tổng quan về Ngân hàng Phát triển Việt Nam

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới chính sách tín dụng đầu tư phát triển và tín dụngxuất khẩu của Nhà nước phù hợp với lộ trình cam kết khi Việt Nam gia nhập Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO).Ngày 19/5/2006, Chính phủ đã ban hành Quyết định số108/2006/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng Phát triển Việt Nam (tên giao dịchquốc tế: The Vietnam Development Bank - VDB) trên cơ sở tổ chức lại Quỹ hỗ trợphát triển để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nướcvới thời gian hoạt động là 99 năm kể từ ngày Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg có hiệulực thi hành Cùng thời điểm đó, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định số110/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 về việc phê duyệt điều lệ tổ chức và hoạt động củaNgân hàng Phát triển

Ngân hàng Phát triển có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng, hoạtđộng không vì mục đích lợi nhuận.Ngân hàng Phát triển được Chính phủ đảm bảo khảnăng thanh toán, không phải thực hiện dự trữ bắt buộc và tham gia bảo hiểm tiền gửi,được miễn nộp thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước

Với phương châm hoạt động “An toàn-Hiệu quả- Hội nhập quốc tế-Phát triển bềnvững”, qua 10 năm xây dựng và trưởng thành, Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã đượcmột số thành công nhất định, góp phần vào quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đấtnước

Với nhiệm vụ được Chính phủ giao, Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiệnhuy động, tiếp nhận và quản lý vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiệnchính sách tín dụng ĐTPT và TDXK của Nhà nước Ngân hàng Phát triển Việt Namthực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình thông qua một số hoạt động chính như:

thực hiện tín dụng ĐTPT và TDXK Nhà nước theo quy định của Chính phủ

-Thực hiện chính sách tín dụng ĐTPT: cho vay ĐTPT; hỗ trợ lãi suất sau đầu tư; bảo lãnh tín dụng đầu tư

TDXK;

Trang 37

bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu.

thác, cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách hàng từ các tổ chức trong vàngoài nước thông qua hợp đồng nhận ủy thác

toán trong nước và quốc tế phục vụ hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam theoquy định của pháp luật

Bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, Ngân hàng Phát triển cụng thực hiện cácnhiệm vụ khác được Thủ tướng Chính phủ giao trong từng thời kỳ, ví dụ như: quản lýcấp phát, thanh toán các dự án thành phần thuộc dự án Thủy Điện Sơn La, bao gồm: didân tái định cư, xây dựng nhà máy, làm đường giao thông tránh ngập Từ năm 2008,Thủ tướng Chính phủ cũng đã giao cho Ngân hàng Phát triển thực hiện cho vay và đầu

tư xây dựng Đường ô tô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng

Sốlượng cán bộ công nhân viên của Ngân hàng Phát triển Việt Nam trên toàn hệthống hiện naytrên 3.500 người, trong đó phần lớn là các cán bộ, nhân viên có trình độđại học và trên đại học (chiếm gần 90% tổng nhân sự), có kinh nghiệm trong hoạt độngngân hàng Với đội ngũ cán bộ, nhân viên năng động, nhiệt tình và có trình độ nghiệp

vụ, nguồn nhân lực của Ngân hàng Phát triển Việt Nam luôn được đánh giá cao và làmột trong những tiền đề cho sự phát triển của ngân hàng trong tương lai

Hệ thống cơ sở vật chất của Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã bước đầu đi vào

ổn định, đội ngũ cán bộ được đào tạo cơ bản, trình độ chuyên môn cao và có kinhnghiệm trong hoạt động tín dụng Mô hình tổ chức của Ngân hàng Phát triển Việt Namrộng khắp trong cả nước, quy mô vốn lớn, so với các ngân hàng thương mại nhà nướcthì Ngân hàng Phát triển Việt Nam có vốn điều lệ ở mức cao, quy mô tín dụng trungdài hạn lớn hơn các NHTM khác

Về cơ cấu tổ chức: Ngân hàng Phát triển Việt Nam là một tổ chức tài chính của

Chính phủ, hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàngnên cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Phát triển Việt Nam có những nét tương đồng vớicác ngân hàng khác

Cơ quan quyền lực cao nhất của Ngân hàng Phát triển Việt Nam là Hội đồngQuản lý do Thủ tướng Chính phủ thành lập và bổ nhiệm các thành viên Hội đồng

Trang 38

Quản lý bao gồm các thành viên đại diện của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch & Đầu tư,NHNN và của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

Dưới Hội đồng Quản lý là Ban Điều hành và Ban Kiểm soát; giúp việc cho BanĐiều hành là các ban chức năng như: Ban Kế hoạch Tổng hợp; Ban Nguồn vốn, Ban Tíndụng Trung ương; Ban Tín dụng Địa phương; Ban Hỗ trợ sau đầu tư và quản lý vốn uỷthác; Ban Tín dụng xuất khẩu; Ban Quản lý vốn nước ngoài; Ban Thẩm định; Ban Tàichính Kế toán; Ban Tổ chức Cán bộ; Ban Pháp chế; Ban Kiểm tra nội bộ, Ban Quản lý tàisản và Xây dựng cơ bản nội ngành,Văn phòng đại diện; Sở Giao dịch I; Sở Giao dịch II;Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, Ngân hàng Phát triển ViệtNam còn có Trung tâm Đào tạo và nghiên cứu khoa học; Trung tâm Công nghệ thông tin;Trung tâm Xử lý nợ, Trung tâm khách hàng và Tạp chí Hỗ trợ phát triển

Hội sở chính của Ngân hàng Phát triển Việt Nam đặt tại Thủ đô Hà Nội; Các Sởgiao dịch, các Chi nhánh, Văn phòng ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước Nhiệm vụ,quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Hội đồng Quản lý, Ban Kiểm soát và Bộ máy Điềuhành Ngân hàng Phát triển Việt Nam được thực hiện theo quy định tại Điều lệ Tổ chức

và Hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Tuy mới được hình thành nhưng được tổ chức lại trên cơ sở Quỹ Hỗ trợ Pháttriển Việt Nam hoạt động trước đây nên cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Phát triển ViệtNam được sắp xếp lại Cơ cấu tổ chức này đảm bảo tầm quản lý rộng lớn, tạo điều kiệncho Ngân hàng Phát triển Việt Nam hoạt động và thực hiện chức năng, nhiệm vụ củamình một cách hiệu quả, rộng khắp trên cả nước (xem hình 2.1)

Trang 39

Hình 2.1: Sơ đồ Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Phát triển Việt Nam

HỘI ĐỒNG QUẢN LÝ

BAN ĐIỀU HÀNH

HỘI SỞ CHÍNH

hòng cánbộ

Trang 40

Qua Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, có thể thấy Ngânhàng Phát triển Việt Nam là một tổ chức được xây dựng theo mô hình một Ngân hàngvới nhiều Chi nhánh Điều này chỉ rõ lợi thế của Ngân hàng Phát triển Việt Nam trongviệc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao từ Chính phủ và thực hiện các hoạtđộng nghiệp vụ mang tính truyền thống và cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác.

Về mạng lưới Chi nhánh: Khác với các tổ chức tín dụng khác, việc mở rộng

quy mô, tăng cường mạng lưới chi nhánh thường tập trung ở các thành phố lớn, phânchia thành Chi nhánh cấp 1, 2 và thực hiện xuyên suốt trong cả quá trình phát triển

Với quy mô phân bố các chi nhánh của Ngân hàng Phát triển Việt Nam rộngkhắp tại các trung tâm hành chính - kinh tế các tỉnh, thành phố là một trong những yếu

tố quan trọng giúp cho hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam thêm phong phú,tạo khả năng đáp ứng nhanh chóng, kịp thời mọi yêu cầu giao dịch của người dân vàcác tổ chức kinh tế của đất nước; thuận lợi cho việc hỗ trợ phát triển kinh tế vùng miền

và các lĩnh vực, chương trình, dự án, sản phẩm trọng điểm của nền kinh tế Đồng thờigóp phần hoàn thành nhiệm vụ của Chính phủ giao, gia tăng thêm thị phần của ngânhàng, tạo nên một môi trường cạnh tranh khá sôi nổi, đặc biệt về mặt đầu tư và cácchính sách thu hút khách hàng cùng với các tổ chức tín dụng khác

2.1.2 Các hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam

2.1.2.1 Huy động vốn

Hoạt động huy động vốn là hoạt động chủ yếu của mọi ngân hàng Tuy nhiên,đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam, vấn đề đặt ra trong hoạt động này là huy độngđược nguồn vốn trung và dài hạn với lãi suất bình quân thấp trong các điều kiện cạnhtranh của các tổ chức tín dụng gia tăng, ổn định vĩ mô kém bền vững và khả năng tíchlũy của nền kinh tế là không cao

Ngoài ra, với hoạt động chủ yếu là tài trợ cho các dự án trung và dài hạn có khảnăng sinh lời thấp hoặc rủi ro cao, yêu cầu đặt ra cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam làphải có nguồn vốn hỗn hợp với lãi suất bình quân tương đối thấp, thời gian sử dụng vốndài và chấp nhận rủi ro Trong điều kiện thị trường vốn trung, dài hạn kém ổn định, khảnăng tích luỹ của nền kinh tế thấp, để thực hiện yêu cầu trên đòi hỏi phải kết hợp nỗ lựccủa Ngân hàng Phát triển Việt Nam cùng các điều kiện kinh tế, pháp luật phù hợp

Trong tình hình đó, để thực hiện gia tăng nguồn vốn, Ngân hàng Phát triển ViệtNamđã sử dụng những hình thức huy động vốn như: Huy động vốn từ Chính phủ; huy

Ngày đăng: 07/10/2020, 10:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w