1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của làng nghề đúc đồng đến môi trường sống của người dân ở thành phố Huế

97 86 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của làng nghề đúc đồng đến môi trường sống của người dân ở thành phố HuếĐề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về môi trường, ô nhiễm môi trường, các vấn đề về Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về môi trường, ô nhiễm môi trường, các vấn đề về Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về môi trường, ô nhiễm môi trường, các vấn đề về

Trang 1

.Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự cố gắng, nổ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và động viên chia sẻ của rất nhiều cá nhân và tập thể Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn sự dìu dắt và dạy dỗ nhiệt tình của các giảng viên trong khoa Kinh tế và Phát triển, các giảng viên trong trường Đại học Kinh tế Huế và các giảng viên của Đại học Huế.

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo, PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà đã nhiệt tình hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.

Tôi xin chân thành cám ơn các chú, các anh, chị ở Phòng Kinh tế Thành phố Huế, Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Thừa Thiên Huế, Ủy ban nhân dân phường Phường Đúc và Thủy Xuân đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp các thông tin Các hộ dân sống xung quanh làng nghề đúc đồng, các công nhân làm việc trong các cơ sở đúc đồng đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc điều tra, thu thập dữ liệu để làm khóa luận.

Trang 2

viên, chia sẻ, hỗ trợ về vật chất và tinh thần giúp đỡ tôi yên tâm làm khóa luận này.

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng ngành Kinh tế Tài nguyên – Môi trường là một ngành mới của trường Đại học Kinh

tế Huế, tài liệu tham khảo còn hạn hẹp, kiến thức cũng như năng lực của bản thân còn hạn chế nên khóa luận khó tránh khỏi thiếu sót Kính mong quý thầy cô góp ý để khóa luận ngày càng hoàn thiện hơn!

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Huế, ngày 28 tháng 4 năm 2012

Sinh viên Nguyễn Thanh Yến Thanh

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Danh mục các chữ viết tắt và kí hiệu

Danh mục các sơ đồ, đồ thị

Danh mục các bảng biểu

Tóm tắt nghiên cứu

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.2 Đối tượng nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG 4

1.1 Lý luận về môi trường và ô nhiễm môi trường 4

1.1.1 Môi trường 4

1.1.2 Ô nhiễm môi trường 5

1.1.3 Tác động của ô nhiễm môi trường đến đời sống và sản xuất 8

1.2 Các vấn đề lý luận về làng nghề 9

1.2.1 Khái niệm và vai trò của làng nghề 9

1.2.2 Làng nghề Việt Nam và tác động của nó đối với vấn đề môi trường 11

1.2.3 Những tổn thất kinh tế và xung đột xã hội do ô nhiễm môi trường làng nghề 13

1.2.4 Những tồn tại và dự báo ô nhiễm môi trường làng nghề Việt Nam đến năm 2015 14

1.2.4.1 Những tồn tại trong quá trình phát triển làng nghề 14

1.2.4.2 Dự báo ô nhiễm môi trường làng nghề Việt Nam đến năm 2015 16

1.3 Quy trình đúc đồng và một số yếu tố độc hại của quy trình đúc đồng 18

1.3.1 Quy trình đúc đồng 18

1.3.2 Một số yếu tố độc hại trong nghề đúc đồng 19

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

1.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 22

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG Ở THÀNH PHỐ HUẾ 24

2.1 Một vài nét về tình hình cơ bản của địa bàn nghiên cứu 24

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 24

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 25

2.1.3 Cơ sở hạ tầng 27

2.2 Khái quát tình hình phát triển nghề đúc đồng ở thành phố Huế 28

2.2.1 Lịch sử của làng nghề đúc đồng Huế 28

2.2.2 Tình hình sản xuất kinh doanh nghề đúc đồng 29

2.3 Thực trạng môi trường ở địa bàn nghiên cứu 32

2.3.1 Hình thức tổ chức sản xuất và phương thức xả thải của các cơ sở nghiên cứu 32

2.3.1.1 Hình thức tổ chức sản xuất 32

2.3.1.2 Phương thức xử lý chất thải của các cơ sở đúc đồng 33

2.3.2 Hiện trạng môi trường của địa bàn nghiên cứu 36

2.3.2.1 Môi trường không khí 36

2.3.2.2 Môi trường nước 39

2.4 Đánh giá tác động của nghề đúc đồng đến môi trường sống của các đối tượng điều tra 43

2.4.1 Tác động của nghề đúc đồng đối với những người trực tiếp làm việc 43

2.4.2 Tác động đến sức khỏe của người dân sống trong khu vực làng nghề 47

2.4.3 Nghiên cứu sự khác biệt giữa các nhóm trả lời phỏng vấn về mức độ ô nhiễm môi trường tại làng nghề đúc đồng 48

CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG THÀNH PHỐ HUẾ 51

3.1 Định hướng bảo vệ môi trường của các làng nghề đúc đồng tại phường Phường Đúc, Thành phố Huế 51

3.2 Một số giải pháp để cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường tại các làng nghề đúc đồng 52

3.2.1 Các giải pháp đối với cơ quan quản lý 52

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

3.2.2 Các giải pháp đối với cơ sở đúc đồng 53

3.2.3 Các giải pháp để xử lý khói, bụi, nước thải của làng nghề đúc đồng 54

3.2.3.1 Về cải tiến công nghệ đúc 54

3.2.3.2 Xây dựng hệ thống xử lý nước thải 55

3.2.3.3 Xây dựng hệ thống xử lý khói, bụi 56

3.2.3.4 Di chuyển các hộ đúc đồng vào một khu quy hoạch làng nghề có tiến hành lắp đặt thiết bị máy móc xử lý môi trường 56

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58

1 Kết luận 58

2 Kiến nghị 59

2.1 Đối với các cơ quan có thẩm quyền 59

2.2 Đối với các cơ sở đúc đồng 59

2.3 Đối với người dân 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

TCMT : Tiêu chuẩn môi trườngTCVN : Tiêu chuẩn Việt NamTCVS : Tiểu chuẩn vệ sinh

BTNMT : Bộ Tài nguyên môi trườngTNMT : Tài nguyên môi trường

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Trang

Hình 1: Sơ đồ biểu diễn quy trình đúc đồng 19

Hình 2: Các cơ sở đúc chì, đúc nhôm, đúc gang, đúc đồng trong làng nghề 33

Hình 3: Tình trạng sức khỏe của công nhân đúc đồng sau một mẻ đúc 46

Hình 4: Những bệnh thường gặp do ảnh hưởng của ô nhiễm làng nghề đúc đồng 47

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 1: Đặc trưng ô nhiễm từ sản xuất của một số loại hình làng nghề 12

Bảng 2: Dự báo mức độ ÔNMT không khí và nước, chất thải rắn làng nghề Việt Nam năm 2015 theo các kịch bản 17

Bảng 3: Tình hình sản xuất kinh doanh nghề đúc đồng 29

Bảng 4: Hình thức tổ chức sản xuất của các cơ sở đúc đồng 32

Bảng 5: Phương thức xử lý chất thải của các cơ sở đúc đồng 34

Bảng 6: Tình trạng biện pháp vệ sinh cho các công nhân tại các cơ sở đúc đồng 35

Bảng 7: Một số thông số chất lượng không khí tại làng nghề đúc đồng 38

Bảng 8: Kết quả phân tích nước ngầm tại khu vực đúc đồng 39

Bảng 9: Kết quả phân tích mẫu nước thải 40

Bảng 10: Kết quả đo vi khí hậu tại một số cơ sở đúc đồng 43

Bảng 11: Cường độ tiếng ồn tại khu vực sản xuất lúc đang đúc đồng 44

Bảng 12: Tình trạng bảo hộ lao động của công nhân ở các cơ sở đúc 45

Bảng 13: Đánh giá mức độ ô nhiễm tại làng nghề đúc đồng theo các nhóm trả lời phỏng vấn 48

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Những năm qua nhiều làng nghề truyền thống ở tỉnh Thừa Thiên Huế được khôiphục và phát triển Sự phát triển của các làng nghề đã đem lại hiệu quả khá cao trênnhiều phương diện, đã tạo nên những chuyển biến tích cực trong sự phát triển kinh tế -

xã hội của các địa phương, giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động phổ thông, gópphần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng Thành phố Huế nổi tiếng với làngnghề đúc đồng, tập trung chủ yếu tại phường Thủy Xuân và phường Đúc thuộc thànhphố Huế Tuy nhiên, hầu hết các cơ sở tại hai địa phương này đều nằm xen lẫn trongkhu dân cư, hoạt động trong tình trạng công nghệ sản xuất thủ công, lạc hậu, không có

hệ thống xử lý khói bụi đạt tiêu chuẩn cho phép Vì vậy, tuy mức độ sản xuất nhỏnhưng môi trường không khí tại hai làng nghề này lại bị ô nhiễm nghiêm trọng, làmảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của công nhân đúc đồng và đời sống của ngườidân trong khu vực dân cư

Từ thực tế trên, tôi đã chọn đề tài: " Ảnh hưởng của làng nghề đúc đồng đến môi trường sống của người dân ở thành phố Huế" để làm khóa luận tốt nghiệp của

mình nhằm biết được mức độ ảnh hưởng của làng nghề đúc đồng đến môi trường sốngcủa người dân ở đây

Các phương pháp được sử dụng:

- Phương pháp điều tra thu thập số liệu

- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

- Phương pháp phân tích thống kê

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Làng nghề truyền thống là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn Người dântrong làng cùng làm một nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sản xuất ra một hoặcnhiều sản phẩm phục vụ tiêu dùng cũng như bán trên thị trường Phát triển làng nghềtruyền thống có ý nghĩa vô cùng to lớn Nó không chỉ là lưu giữ những giá trị truyềnthống của ông cha để lại mà còn tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội nhiều ngành nghềtruyền thống đã được khôi phục và phát triển Hiện sản phẩm của làng nghề không chỉđáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn vươn ra thị trường nước ngoài, thu về nguồnngoại tệ lớn, cải thiện đời sống cho dân cư nông thôn Tuy nhiên, bên cạnh những mặttích cực ở trên, phát triển làng nghề truyền thống cũng phát sinh nhiều vấn đề cầnđược khắc phục Trong đó, vấn đề môi trường và ô nhiễm môi trường đã và đang diễn

ra khá phổ biến ở Việt Nam hiện nay Vì vậy, khắc phục ô nhiễm môi trường làngnghề đang trở thành nhu cầu bức thiết của hầu hết các tỉnh, thành, trong đó có làngnghề đúc đồng ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

Thành phố Huế là thành phố du lịch và Festival của Việt Nam Sản xuất các mặthàng thủ công mỹ nghệ của các làng nghề ở thành phố là nét nổi trội và cần thiết đểphục vụ các du khách Các làng nghề còn góp phần tăng thu nhập và đời sống chongười dân

Làng nghề đúc đồng ở thành phố Huế có lịch sử hơn 400 năm, tập trung chủyếu tại phường Thủy Xuân và phường Đúc, cho đến nay vẫn còn lưu giữ nét đẹp vốn

có và trở thành điểm tham quan hấp dẫn của khách du lịch khi đến Huế Chính vì vậy,làng nghề đúc đồng góp phần quan trọng nâng cao uy tín của làng nghề xứ Huế Từnhững lò đúc của các anh em trong dòng họ Nguyễn, nghề đúc ở làng Dương Xuân(ngày trước hầu hết dân làng làm nghề đúc đồng, cho nên từ lâu quen gọi là phườngĐúc) vẫn được duy trì và phát triển cho đến ngày nay

So với các làng nghề khác hiện nay, làng nghề đúc đồng là một trong những nơi

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

sinh hoạt nghề nghiệp nhộn nhịp nhất Những hiện vật bằng đồng nổi tiếng còn lưu lạitại kinh đô Huế hiện nay như một minh chứng cho tài nghệ đúc đồng của những nghệnhân làng Dương Xuân thời đó, như: khánh, chuông chùa Thiên Mụ (1710) và Diệu

Đế (1864); vạc đồng, nghi môn bằng đồng trong Đại Nội; Cửu vị thần công 1804) đặt trước Ngọ Môn và nhất là Cửu Đỉnh (1835-1837) - bộ tác phẩm nghệ thuậtvới 162 hình khắc chạm nổi, thể hiện thành tựu rực rỡ của nghệ thuật đúc đồng ViệtNam hai thế kỷ trước

(1803-Tuy nhiên, do hầu hết các cơ sở tại hai địa phương này đều nằm xen lẫn trongkhu dân cư, hoạt động trong tình trạng công nghệ sản xuất thủ công, lạc hậu, không có

hệ thống xử lý khói bụi đạt tiêu chuẩn cho phép Vì vậy, tuy mức độ sản xuất nhỏnhưng môi trường không khí tại hai làng nghề này lại bị ô nhiễm trầm trọng Các cơ sởnày sử dụng cao su, lốp xe hỏng, dầu nhớt phế thải để đốt lò cho nên người dân quanhvùng phải chịu tình trạng ô nhiễm không khí, làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sốngngười dân khu vực dân cư, là một trong những cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêmtrọng buộc phải xử lý hoặc di dời theo Quyết định số 64/QĐ-TTg ngày 22 tháng 4 năm

2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sởgây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng”

Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, bằng kiến thức học tập qua bốn năm trên giảng

đường, tôi đã chọn đề tài: " Ảnh hưởng của làng nghề đúc đồng đến môi trường sống

c ủa người dân ở thành phố Huế" để làm khóa luận tốt nghiệp của mình.

2 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về môi trường, ô nhiễm môi trường,các vấn đề về làng nghề và tác động của ô nhiễm làng nghề đời sống của người dân

- Đánh giá tình hình phát triển và tác động của làng nghề đúc đồng đến môitrường sống của người dân và công nhân ở Phường Đúc và Thủy Xuân

- Đề xuất một số giải pháp khắc phục ô nhiễm tại làng nghề đúc đồng

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này tập trung vào việc đánh giá tác động của sựphát triển làng nghề đúc đồng đến môi trường sống của người dân ở khu vực xung quanh

3 Phương pháp nghiên cứu

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

- Phương pháp điều tra thu thập số liệu:

Để đánh giá tác động của nghề đúc đồng đến môi trường sống của người dânkhu vực xung quanh chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn các đối tượng sau:

+ 52 hộ gia đình sống trên địa bàn hai phường Trong đó Phường Đúc: 35 hộ,Thủy Xuân: 17 hộ

+ 16 chủ cơ sở đúc đồng

+ 36 công nhân – những người làm việc trực tiếp tại các cơ sở trên

+ 20 cán bộ phường Trong đó 15 cán bộ của Phường Đúc và 5 cán bộ củaphường Thủy Xuân

- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: Là phương pháp quan trọng và có tínhkhách quan cao

- Phương pháp phân tích thống kê: Dùng phần mềm Excel để:

+ Tổng hợp, thống kê các chỉ tiêu đánh giá tình hình phát triển của làng nghềđúc đồng

+ So sánh các thông số trong nước thải, không khí,… với TCMT để biết đượcmức độ ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân và công nhân đúc đồng

- Phương pháp ANOVA: Dùng phần mềm SPSS để nghiên cứu sự khác biệt giữacác nhóm trả lời phỏng vấn về mức độ ô nhiễm môi trường tại làng nghề đúc đồng

- Không gian: Do nghề đúc đồng chỉ tồn tại và phát triển ở phường Phường Đúc

và phường Thủy Xuân nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu dựa trên thông tin, số liệuđiều tra từ hai phường Phường Đúc và Thủy Xuân, thành phố Huế

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA

LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG

1.1 Lý luận về môi trường và ô nhiễm môi trường

1.1.1 M ôi trường

Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam (2005): “Môi trường bao gồm các yếu

tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sảnxuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”

Môi trường là tập hợp tất cả các điều kiện và hiện tượng bên ngoài có ảnhhưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồntại và diễn biến trong một môi trường Thực chất, khí quyển, thủy quyển và thạchquyển tồn tại trước khi sự sống xuất hiện trên hành tinh chúng ta Nhưng chỉ khi các

cơ thể sống xuất hiện trong mối tương tác với các nhân tố đó thì chúng mới trở thànhmôi trường Có nghĩa là chỉ có các cơ thể sống mới có môi trường Môi trường khôngchỉ bao gồm các điều kiện vật lý mà còn cả các sinh vật cùng sống Do đó, đối với các

cơ thể sống thì môi trường sống là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởngtới đời sống và sự phát triển của cơ thể

Môi trường sống của con người là tổng hợp những điều kiện vật lý, hóa học,sinh học, kinh tế, xã hội bao quanh và có ảnh hưởng tới sự sống, sự phát triển của từng

cá nhân và của từng cộng đồng con người Môi trường sống của con người có thể đượchiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng thì môi trường bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên và các nhân

tố về chất lượng của môi trường đối với sức khỏe và tiện nghi sinh sống của con người.Theo nghĩa hẹp thì môi trường gồm các nhân tố về chất lượng của môi trường đối vớisức khỏe và tiện nghi sinh sống của con người Các nhân tố đó thường là không khí,nước, âm thanh, ánh sáng, bức xạ, cảnh quan, thẩm mỹ, đạo đức, quan hệ chính trị - xãhội tại địa bàn sinh sống và làm việc của con người

Môi trường thiên nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên: vật lý, hóa học và sinh họctồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người hoặc ít chịu sự chi phối của con người

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

Đối với sinh vật nói chung và con người nói riêng thì môi trường sống gồm cónăm chức năng cơ bản sau:

1) Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật.Chức năng này đòi hỏi môi trường phải có một phạm vi không gian thích hợp chomỗi con người

2) Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống vàsản xuất của con người Chức năng này đòi hỏi môi trường phải có nguồn vật liệu,năng lượng, thông tin cần thiết cho hoạt động sống, sản xuất, quản lý của con người.Đòi hỏi này không ngừng tăng lên về số lượng, chất lượng

3) Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộcsống và sản xuất Chức năng này ngày càng quan trọng do sự gia tăng dân số và quátrình công nghiệp hóa

4) Giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật

5) Môi trường có chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người

1.1.2 Ô nhi ễm môi trường

Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi thành phần và tính chất của môi trường, cóhại cho các hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật Thông thường, sự

an toàn của môi trường được quy định bởi các ngưỡng hay giá trị giới hạn trong tiêuchuẩn môi trường nên có thể nói: “Ô nhiễm môi trường là sự giảm tính chất môitrường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường”

Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam (2005): “Ô nhiễm môi trường là sựbiến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gâyảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”

Ô nhiễm môi trường hoàn toàn không phải là một hiện tượng mới Từ thờithượng cổ, con người đã có những hoạt động làm ô nhiễm môi trường nhưng chưađáng kể vì dân số ít, khoa học kỹ thuật chưa phát triển Dần dần những tác động củacon người gây ô nhiễm môi trường ngày càng rõ rệt và tăng lên đáng kể (đặc biệt làtrong nữa cuối thế kỷ XX) do những nguyên nhân như: Sự gia tăng dân số và tốc độ đôthị hóa diễn ra ngày càng nhanh; sự gia tăng chất thải độc hại do con người sử dụngquá nhiều loại hóa chất mới trong ngành sản xuất công – nông nghiệp cũng như để đáp

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

ứng nhu cầu sinh hoạt của con người, trong khi chưa có biện pháp kiểm soát hữu hiệu,đặc biệt là các chất phân hủy ảnh hưởng đến khả năng tự thanh lọc của môi trường.

Tùy phạm vi lãnh thổ mà có ô nhiễm môi trường toàn cầu, khu vực hay địaphương Ô nhiễm môi trường có ảnh hưởng xấu đến điều kiện tự nhiên, nhất là sinhvật và sức khỏe con người Để chống ô nhiễm môi trường phải áp dụng các công nghệkhông chất thải hoặc phải làm sạch các chất thải khí và nước trước khi thải ra môitrường, tiêu hủy các chất thải rắn

Ô nhiễm môi trường có các dạng phổ biến sau:

a) Ô nhiễm nước

Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước, có hại cho hoạtđộng sống bình thường của con người và sinh vật, do có sự có mặt của các tác nhânquá ngưỡng cho phép

Hiến chương Châu Âu định nghĩa: “Sự ô nhiễm nước là một sự biến đổi nóichung do con người gây ra đối với chất lượng nước, làm ô nhiễm nước và gây nguyhại đối với việc sử dụng của con người cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉngơi – giải trí cũng như đối với các động vật nuôi, các loài hoang dại”

Sự ô nhiễm nước có thể có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo:

- Sự ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên là do nhiễm mặn, nhiễm phèn, gió, bão, lũlụt Nước mưa rơi xuống mặt đất, mái nhà, đường phố, đô thị, khu công nghiệp kéotheo các chất bẩn xuống sông, hồ hoặc các hoạt động sống của sinh vật, vi sinh vật kể

cả xác chết của chúng Sự ô nhiễm này còn gọi là ô nhiễm không xác định được nguồn

- Sự ô nhiễm nhân tạo chủ yếu do xả nước thải từ các vùng dân cư, khu côngnghiệp, hoạt động giao thông vận tải, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và các phân bóntrong nông nghiệp, các phương tiện giao thông vận tải, đặc biệt là giao thông vận tảiđường biển

Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm môi trường người ta phân biệt ô nhiễm

vô cơ, ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm phóng xạ

Theo vị trí người ta phân biệt: ô nhiễm sông, ô nhiễm hồ, ô nhiễm biển, ô nhiễmmặt nước và ô nhiễm nước ngầm

Theo nguồn gây ô nhiễm người ta phân biệt:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

- Nguồn xác định: là các nguồn thải chúng ta có thể xác định được vị trí chínhxác như cổng thải nhà máy, khu công nghiệp, đô thị.

- Nguồn không xác định: là các chất gây ô nhiễm phát sinh từ những trận mưalớn kéo theo bụi bẩn, xói mòn đất đai,…

b) Ô nhiễm không khí

Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọngtrong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự tỏa mùi, cómùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi)

Có hai nguồn gây ra ô nhiễm cơ bản đối với môi trường không khí đó là nguồn

do thiên nhiên và nguồn do các hoạt động của con người

- Nguồn gây ô nhiễm do thiên nhiên: phun núi lửa, cháy rừng, bão bụi gây ra dogió mạnh và bão, các phản ứng hóa học giữa các khí tự nhiên,…

- Nguồn gây ô nhiễm do hoạt động con người:

+ Nguồn gây ô nhiễm do công nghiệp: các ống khói của nhà máy trong quátrình sản xuất do đốt nhiên liệu đã thải vào môi trường các chất khí như: SO2; CO2;CO; …, bụi và các khí độc hại khác Hoặc là các chất khí bị bốc hơi, rò rỉ thất thoáttrong dây chuyền sản xuất, đã thải vào không khí rất nhiều khí độc hại Đặc điểm củachất thải công nghiệp là có nồng độ chất độc hại cao và tập trung

+ Nguồn gây ô nhiễm do giao thông vận tải: Đặc điểm nổi bật của các nguồnnày là tuy nguồn gây ô nhiễm tính theo đơn vị phương tiện vận tải có quy mô nhỏnhưng lại tập trung suốt dọc tuyến giao thông nên tác hại lớn

+ Nguồn ô nhiễm do sinh hoạt con người gây ra chủ yếu là do các bếp đun vàcác lò sưởi sử dụng nhiên liệu là gỗ, củi, than, dầu mỏ hoặc khí đốt Cống rãnh và môitrường nước mặt như ao hồ, kênh rạch, sông ngoài bị ô nhiễm cũng bốc hơi, thoát khíđộc hại gây ô nhiễm môi trường không khí, ở các đô thị chưa thu gom và xử lý rác tốtthì sự thối rửa, phân hủy rác hữu cơ vất bừa bãi hoặc chôn không đúng kỹ thuật cũng

là một nguồn gây ô nhiễm không khí

c) Ô nhiễm đất

Đất thường là chỗ tiếp cận chủ yếu của tất cả các nguồn thải Sự thải các chấtthải rắn ở các đô thị đã sinh ra hàng loạt vấn đề bảo vệ sức khỏe, ô nhiễm đất và nước,phá hủy cảnh quan, chiếm dụng đất làm bãi thải

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

Ô nhiễm đất bởi các tác nhân sinh học: do dùng phân hữu cơ trong nông nghiệpchưa qua xử lý các mầm bệnh, ký sinh trùng, vi khuẩn, … đã gây ra các bệnh truyền từđất cho cây sau đó sang người và động vật.

Ô nhiễm bởi các tác nhân hóa học: Chất thải từ các nguồn thải công nghiệp baogồm các chất thải cặn bã, các sản phẩm phụ do hiệu suất của nhà máy không cao và donguồn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật như phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, …

Ô nhiễm do tác nhân vật lý: chủ yếu là từ các quá trình sản xuất công nghiệp vàthường mang tính cục bộ

- Nhiệt độ trong đất tăng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của vi sinh vật do làmgiảm hàm lượng oxy và sự phân hủy diễn ra theo kiểu kị khí với nhiều sản phẩm trunggian gây độc cho cây trồng như NH4; H2S; CH4; đồng thời là chai cứng và mất chấtdinh dưỡng

- Nguồn gây ô nhiễm do phóng xạ là các chất phế thải của các cơ sở khai thác,nghiên cứu và sử dụng chất phóng xạ

1.1.3 Tác động của ô nhiễm môi trường đến đời sống và sản xuất

Ô nhiễm môi trường tác động đến đời sống xã hội của con người, đến môitrường sống Có thể thấy các tác động phổ biến của môi trường là:

- Tác động đến cảnh quan

Vấn đề ô nhiễm môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến cảnh quan môi trườngxung quanh một địa bàn Việc rác thải vứt không đúng chỗ sẽ làm cho mỹ quan củamột địa bàn trở nên xấu xí, thảm hại, mất đi sự trong lành sạch đẹp vốn có

- Tác động đến sức khỏe của con người

Rác thải không được vứt đúng nơi quy định sẽ gây ra ô nhiễm rất lớn, ví dụ nhưrác thải được vứt trên đường đi, ao hồ… Khi nắng lên hay mưa xuống đều sẽ bốc mùinồng nặc rất khó chịu, rác thải, túi nilông gây ách tắc dòng chảy Mỗi khi mưa xuống,nước bẩn ở cống rãnh trào lên, len lõi vào khu dân cư, mang theo những mầm bệnh, ổdịch mà mắt thường không thể nhìn thấy được Những rác thải đó gây ô nhiễm nguồnnước sinh hoạt, không khí, trở thành nguy cơ tiềm ẩn, gây hại cho sức khỏe người dân

Không khí ô nhiễm có thể giết chết nhiều cơ thể sống trong đó có con người Ônhiễm ozone có thể gây bệnh đường hô hấp, bệnh tim mạch, viêm vùng họng, đau

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

ngực, tức thở Ô nhiễm nước gây nguy hiểm tới sức khỏe của con người, chủ yếu do

ăn uống bằng nước bẩn chưa được xử lý Các hóa chất và kim loại nặng nhiễm trongthức ăn nước uống có thể gây ung thư Dầu tràn có thể gây ngứa rộp da Ô nhiễm tiếng

ồn gây điếc, cao huyết áp, trầm cảm, bệnh mất ngủ, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng

- Tác động đến sản xuất kinh doanh

Vấn đề tồn đọng rác làm ách tắc dòng chảy, gây nên cản trở giao thông, làmmất mặt bằng sản xuất, gây ra các mầm bệnh làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe laođộng của người dân Từ đó gián tiếp ảnh hưởng tới hiệu quả lao động của họ và tácđộng đến hiệu quả kinh doanh của xí nghiệp của nhà máy Hơn nữa việc tồn đọng rác

sẽ dẫn tới vấn đề xử lý số rác thải tiếp theo của các doanh nghiệp tiếp theo gặp nhiềukhó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm…

1.2 Các vấn đề lý luận về làng nghề

1.2.1 Khái ni ệm và vai trò của làng nghề

Khái niệm "làng nghề" được cấu thành từ hai yếu tố: "làng" và "nghề", tồn tạitrong một không gian địa lý nhất định Xuất phát từ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng củanhân dân, nghề thủ công xuất hiện với tư cách là nghề phụ trong các gia đình một vùngnào đó và nhanh chóng lan tỏa ra các vùng miền khác của đất nước Xu hướng chung

là các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ngày càng trở thành ngành kinh tế độc lập,chuyên môn hóa cao, ngày càng gắn liền với quan hệ hàng hóa, quan hệ thị trường

Làng nghề một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, cụ thể hơn là những hộ dân

cư sinh sống trong một thôn, làng làm cùng một nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

sản xuất ra một hoặc nhiều sản phẩm phục vụ tiêu dùng cũng như bán ra thị trường đểtăng thu nhập cho người dân và giải quyết công ăn việc làm cho lao động dư thừa.

Có rất nhiều cách phân chia các nghề trong các làng nghề, có thể phân chia theotrình độ kỹ thuật, theo tính chất kinh tế hoặc theo các nhóm như: nghề sản xuất mặthàng thủ công mỹ nghệ; nghề sản xuất các mặt hàng tiêu dùng; nghề chế biến lươngthực thực phẩm; nghề sản xuất vật liệu xây dựng Theo số lượng nghề trong làng thì cóthể phân ra: làng một nghề, làng nhiều nghề, làng nghề truyền thống, làng nghề mới

Theo quy ước, các làng nghề hình thành sau năm 1954 đều được coi là làngnghề mới Nhìn chung các làng nghề mới có sự phát triển phù hợp với nền kinh tế thịtrường, sản xuất mang tính hiện đại trong đó đặc trưng bởi sự phát triển kinh doanh vàdịch vụ xây dựng, kinh doanh đa ngành nghề

Ngày nay, làng nghề được hiểu theo nghĩa rộng không bó hẹp trong phạm vihành chính của một làng mà gồm một hoặc một số làng cùng một tiểu vùng, cùng sảnxuất một chủng loại hàng hóa truyền thống hoặc cùng kinh doanh một lĩnh vực nào đóliên quan đến một nghề phi nông nghiệp và có quan hệ mật thiết với nhau về kinh tế -

xã hội

Sự phát triển của các làng nghề có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển kinh

tế - xã hội Cụ thể là:

Đối với kinh tế, làng nghề giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công

nghiệp hóa - hiện đại hóa, đưa nông thôn tiếp cận với công nghiệp Làng nghề đóngvai trò quan trọng đối với việc xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, trực tiếp giải quyếtviệc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, sử dụng lao động nông nghiệp năngsuất thấp góp phần tăng thu nhập Làng nghề còn giúp gia tăng các nguồn thu cho quốcgia từ hoạt động xuất khẩu và khai thác tiềm năng du lịch

Đối với xã hội, làng nghề giúp phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn góp phần đổi

mới, cải thiện và phát triển nhiều yếu tố hạ tầng kỹ thuật chung cho toàn thể cộng đồng.Làng nghề góp phần tăng doanh thu du lịch, do điểm chung của nhiều làng nghề khôngchỉ thường nằm trên trục giao thông đường bộ hay đường sông mà còn bảo tồn nhiều

kỹ nghệ tinh xảo là mối quan tâm của du khách Làng nghề góp phần giữ gìn bản sắcvăn hóa dân tộc, các sản phẩm của làng nghề sản xuất ra mang tính nghệ thuật cao,được coi là biểu tượng nghệ thuật đẹp đẽ của dân tộc Việt Nam

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

1.2.2 Làng ngh ề Việt Nam và tác động của nó đối với vấn đề môi trường

Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay nước ta có 2.790làng nghề, riêng ở Hà Nội có 1.160 làng nghề Theo tổng hợp của Tổng cục Môitrường, làng nghề nước ta phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếmkhoảng 60%), miền Trung (khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%) Sự phát triểncủa làng nghề đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương.Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60% - 80% vàngành nông nghiệp chỉ đạt 20% - 40%

Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn đang tănglên với tốc độ bình quân từ 8,8% - 9,8%/ năm, kim ngạch xuất khẩu từ các làng nghềcũng không ngừng tăng lên Trung bình mỗi cơ sở doanh nghiệp tư nhân chuyên làmnghề tạo việc làm ổn định cho khoảng 27 lao động thường xuyên và 8 - 10 lao độngthời vụ; các hộ cá thể chuyên nghề tạo 4 - 6 lao động thường xuyên và 2 - 5 lao độngthời vụ Ở những làng nghề thêu ren, dệt, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 -

250 lao động Làng nghề thực sự đóng vai trò quan trọng đối với việc xóa đói, giảmnghèo, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phầntăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động

Các làng nghề giờ đây đang chuyển mình trong thời kỳ hội nhập kinh tế Nhữngthay đổi này vừa mang lại những thuận lợi vừa tạo ra thách thức đối với các làng nghềtrong quá trình phát triển Mở cửa, hội nhập, các làng nghề có cơ hội giới thiệu sảnphẩm của mình với khách nước ngoài Đó là những mặt hàng xuất khẩu mạnh củanước ta trong nhiều năm qua, mà phần nhiều có xuất xứ từ các làng nghề truyền thốngtrong cả nước, như thủ công mỹ nghệ, thêu ren, gốm sứ Theo thống kê, hiện hànghóa của các làng nghề nước ta đã có mặt ở hơn 100 nước trên thế giới với kim ngạchxuất khẩu ngày càng tăng Nếu như năm 2004, kim ngạch xuất khẩu mới đạt 450 triệuUSD, thì năm 2008 đã tăng lên hơn 776 triệu USD

Cùng với những thay đổi tích cực, các làng nghề cũng phải đối mặt với nhiềuthách thức, trong đó có vấn đề phải bảo vệ môi trường làng nghề theo hướng phát triểnbền vững Hiện nay, các chất thải phát sinh từ nhiều làng nghề đang gây ô nhiễm môitrường, tác động trực tiếp tới sức khỏe người dân Các kết quả quan trắc trong thời giangần đây cho thấy mức độ ô nhiễm của làng nghề có xu hướng gia tăng, nhất là ô nhiễm

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

bụi tại các làng nghề gốm, sứ, vật liệu xây dựng, khai thác đá, đồ gỗ mỹ nghệ và cáclàng nghề tái chế Tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết

mổ, nước thải có độ ô nhiễm hữu cơ cao Công tác thu gom và xử lý chất thải rắn ở cáclàng nghề vẫn còn nhiều hạn chế, gây ảnh hưởng đến môi trường sống xung quanh

Các đặc điểm ô nhiễm môi trường tại làng nghề Việt Nam là:

1 Ô nhiễm môi trường tại làng nghề phân tán trong phạm vi một khu vực, đanxen với khu vực sinh hoạt nên là loại hình ô nhiễm khó quy hoạch và kiểm soát

2 Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề khá cao tại khu vực sản xuất, ảnh hưởngtrực tiếp tới sức khỏe của người lao động Các nguy cơ mà người lao động tiếp xúckhá cao: 95% người lao động có nguy cơ tiếp xúc với bụi; 85,9% tiếp xúc với nhiệt;59,6% tiếp xúc với hóa chất

3 Ô nhiễm môi trường tại làng nghề mang đặc thù của hoạt động sản xuất theongành nghề và loại hình sản phẩm và tác động trực tiếp tới môi trường trong khu vực

Bảng 1: Đặc trưng ô nhiễm từ sản xuất của một số loại hình làng nghề

Xỉ than, CTR từnguyên liệu

- Bụi, hơi xăng,dung môi, oxit

Fe, Zn, Cr, Pb

BOD5, COD,

SS, độ màu,dầu mỡ côngnghiệp

Xỉ than (gốm sứ),phế phẩm, cặn hóachất

Ô nhiễm nhiệt(gốm sứ)

Ô nhiễm nhiệt,tiếng ồn, độrung

(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam 2008-Môi trường làng nghề)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

1.2.3 Nh ững tổn thất kinh tế và xung đột xã hội do ô nhiễm môi trường làng nghề

a) Những tổn thất kinh tế do ô nhiễm môi trường làng nghề

Hiện nay, nước ta đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, các làng nghềcũng đang chuyển mình để thích nghi với nhịp sống mới và vượt qua những thách thứcmới Tuy nhiên, sự phát triển của làng nghề vẫn chưa nhận được sự quan tâm và chỉđạo sát sao của các cấp uỷ, chính quyền trong việc bảo vệ môi trường theo hướng pháttriển bền vững

Ô nhiễm môi trường làng nghề có đặc điểm là ô nhiễm phân tán trong phạm vimột khu vực (thôn, làng, xã…) Do quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, đan xen với khusinh hoạt nên đây là loại hình ô nhiễm khó quy hoạch và kiểm soát Ô nhiễm môitrường làng nghề còn mang đậm nét của hoạt động sản xuất theo ngành nghề và loạihình sản phẩm, tác động trực tiếp tới môi trường nước, không khí, đất trong khu vực

Tại khu vực sản xuất, ô nhiễm môi trường thường khá cao, ảnh hưởng trực tiếpđến sức khoẻ người lao động và cộng đồng dân cư làng xã, làm tăng chi phí khám,chữa bệnh, làm giảm năng suất lao động, mất ngày công lao động do nghỉ ốm đau vàchết non Chất lượng môi trường hầu hết khu vực sản xuất trong các làng nghề đềukhông đạt tiêu chuẩn Các nguy cơ mà người lao động tiếp xúc khá cao: 95% người laođộng tiếp xúc với bụi, 85% tiếp xúc với nhiệt, 59,6% tiếp xúc với hoá chất Kết quảkhoảng sát 52 làng nghề điển hình trong cả nước vừa qua cho thấy, trong số đó có 46%làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng (đối với không khí, nước, đất hoặc cả badạng), 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ

Các kết quả quan trắc trong thời gian gần đây cho thấy, mức độ ô nhiễm củalàng nghề không giảm mà còn có xu hướng gia tăng, nhất là ô nhiễm bụi tại các làngnghề gốm, sứ, vật liệu xây dựng, khai thác đá, đồ gỗ mỹ nghệ và các làng nghề tái chế.Đặc trưng nổi bật là phát sinh một lượng lớn bụi chứa kim loại nặng và bụi vật liệuđộc hại Ô nhiễm chất hữu cơ tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chănnuôi và giết mổ là loại hình sản xuất có nhu cầu nước lớn và nước thải có độ ô nhiễmhữu cơ cao Ô nhiễm chất vô cơ tại các làng nghề dệt nhuộm, tái chế giấy tạo ra nướcthải có hàm lượng cặn lớn; làng nghề tái chế kim loại có hàm lượng kim loại nặng độchại vượt tiêu chuẩn cho phép hàng chục lần Hầu hết chất thải rắn tại các làng nghề

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

vẫn chưa được thu gom xử lý mà xả thẳng vào môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọngkhông khí và các nguồn nước mặt, nước dưới đất tại các địa phương Chính điều này

đã làm giảm năng suất sản xuất nông nghiệp nhất là khí thải đúng vào thời kỳ cây trổbông, ra hoa kết quả Ô nhiễm môi trường nước làng nghề đã làm nhiều nơi trước đâynuôi trồng rau, nuôi cá nay phải bỏ hoang Ngoài ra, ô nhiễm môi trường làng nghềcòn làm giảm sức thu hút đối với du lịch, giảm lượng khách du lịch và dẫn đến thiệthại kinh tế

b) Xung đột xã hội do ô nhiễm môi trường làng nghề

Ô nhiễm môi trường trong làng nghề sẽ dẫn đến những xung đột như:

- Xung đột giữa các nhóm xã hội trong làng nghề Đây là loại xung đột phổ biến

nhất Các cơ sở sản xuất nghề nằm trong các khu dân cư, các loại chất thải phát sinh đãảnh hưởng trực tiếp đến các hộ xung quanh, gây ra những xung đột, dẫn đến khiếu kiện

- Xung đột môi trường giữa cộng đồng làm nghề và không làm nghề Đây là

xung đột lợi ích điển hình khi quyền lợi và lợi ích kinh tế của cộng đồng không làmnghề bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường phát sinh từ hoạt động làng nghề

- Xung đột giữa hoạt động sản xuất và mỹ quan, văn hóa Chất thải của làng

nghề được thải bỏ không đúng quy cách và tùy tiện dẫn đến mất mỹ quan, văn hóa

- Xung đột trong hoạt động quản lý môi trường Xung đột xuất hiện khi cơ quan

quản lý môi trường vận dụng các công cụ chính sách và pháp luật để điều chỉnh cáchành vi vi phạm tiêu chuẩn môi trường và xử lý các xung đột môi trường

1.2.4 Nh ững tồn tại và dự báo ô nhiễm môi trường làng nghề Việt Nam đến năm 2015

1.2.4.1 Những tồn tại trong quá trình phát triển làng nghề

Các làng nghề truyền thống của Việt Nam đang chuyển mình trong thời kỳ hộinhập kinh tế Những thay đổi này vừa mang lại những thuận lợi vừa tạo ra thách thứcđối với các làng nghề trong quá trình phát triển Mở cửa, hội nhập, các làng nghề có cơhội giới thiệu sản phẩm của mình với khách nước ngoài Đó là những mặt hàng xuấtkhẩu mạnh của nước ta trong nhiều năm qua, mà phần nhiều có xuất xứ từ các làngnghề truyền thống trong cả nước, như thủ công mỹ nghệ, thêu ren, gốm sứ Theothống kê, hiện hàng hóa của các làng nghề nước ta đã có mặt ở hơn 100 nước trên thếgiới với kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng Nếu như năm 2004, kim ngạch xuấtkhẩu mới đạt 450 triệu USD, thì năm 2008 đã tăng lên hơn 776 triệu USD

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

Cùng với những thay đổi tích cực, các làng nghề cũng phải đối mặt với nhiềuthách thức, trong đó có vấn đề phải bảo vệ môi trường làng nghề theo hướng phát triểnbền vững Trong quá trình phát triển làng nghề còn có những vấn đề tồn tại sau:

Quy mô sản xuất nhỏ, phần lớn ở quy mô gia đình (chiếm 72% tổng số cơ sởsản xuất) dẫn đến khó phát triển vì mặt bằng sản xuất chật hẹp xen kẽ với khu vực sinhhoạt Sản xuất càng phát triển thì nguy cơ lấn chiếm khu vực sinh hoạt, phát thải ônhiễm tới khu dân cư càng lớn, dẫn đến chất lượng môi trường khu vực càng xấu đi.Nếp sống tiểu nông của người chủ sản xuất nhỏ có nguồn gốc nông dân đã ảnh hưởngmạnh tới sản xuất tại làng nghề, làm tăng mức độ ô nhiễm môi trường Họ không nhậnthức được tác hại lâu dài của ô nhiễm, chỉ quan tâm tới lợi nhuận trước mắt, các cơ sởsản xuất làng nghề thường lựa chọn quy trình sản xuất rất thô sơ

Quan hệ sản xuất trong làng nghề còn mang đặc thù của quan hệ gia đình, dòngtộc, làng xã Không cải tiến áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, không khuyếnkhích sáng tạo mang hiệu quả BVMT cho người lao động Công nghệ sản xuất và thiết

bị phần lớn ở trình độ lạc hậu chắp vá, kiến thức tay nghề không toàn diện dẫn tới tiêuhao nhiều nhiên nguyên liệu, làm tăng phát thải gây ô nhiễm môi trường nước, đất, ảnhhưởng tới giá thành sản phẩm và chất lượng môi trường

Bên cạnh đó vốn đầu tư của các cơ sở sản xuất tại các làng nghề quá thấp, khó

có điều kiện phát triển hoặc đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường.Đây là một thực tế phổ biến và điển hình của các làng nghề Việt Nam Do sản xuấtkhông ổn định, giá thành sản phẩm thấp kết hợp với thiếu vốn nên các cơ sở sản xuấtkhông có tiền để quay vòng vốn và mở rộng đầu tư các thiết bị công nghệ mới Ngoài

ra trình độ lao động chủ yếu là lao động thủ công, học nghề, văn hóa thấp, nên hạn chếnhận thức đối với công tác BVMT Hoạt động sản xuất ở các làng nghề có hàm lượng

kĩ thuật rất thấp, phần lớn là gia công thủ công theo phương thức truyền nghề nênnhiều người không nắm được bản chất của quy trình sản xuất Do đó khi cải tiến sảnxuất theo hướng BVMT thì họ sẽ khó chấp nhận và lãng tránh Mặt khác, nhiều làngnghề chưa quan tâm tới xây dựng cơ sở hạ tầng kĩ thuật cho BVMT Điều này mộtphần là do làng quê Việt Nam còn rất nghèo và một phần là do nhận thức còn hạn chếcủa lực lượng quản lý thôn bản Tại nhiều nơi nước thải chảy tràn lan, rác thải chấtđống, mùi hôi thối tanh nồng lan tỏa khắp nơi

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

1.2.4.2 Dự báo ô nhiễm môi trường làng nghề Việt Nam đến năm 2015

Với chiến lược "Mỗi làng mỗi nghề" của Bộ NN&PTNT, thời gian tới sẽ có rấtnhiều làng nghề đẩy mạnh sản xuất và mở rộng thị trường để đáp ứng nhu cầu đa dạngcủa người tiêu dùng Ô nhiễm môi trường làng nghề sẽ gia tăng và có chuyển biến xấu

Các kết quả dự báo được thực hiện cho năm cơ sở 2006 và đến năm 2015 dựatrên 3 kịch bản: Kịch bản 1 (KB1 - kịch bản ô nhiễm cao): tình hình quản lý môitrường làng nghề vẫn tiếp diễn như hiện nay - ô nhiễm môi trường sẽ ở mức cao; Kịchbản 2 (KB2 - kịch bản ô nhiễm trung bình): các chính sách quản lý môi trường làngnghề của nhà nước đã ban hành được thực thi trong thực tế - ô nhiễm sẽ ở mức trungbình; Kịch bản 3 (KB3 - kịch bản ô nhiễm thấp): về tổng thể đã áp dụng các chínhsách như Kịch bản 2, nhưng bổ sung thêm các chính sách mới triệt để hơn - ô nhiễm sẽ

ở mức thấp

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

Bảng 2: Dự báo mức độ ÔNMT không khí và nước, chất thải rắn làng nghề

Việt Nam năm 2015 theo các kịch bản Môi

20lần 3 lần 2 lần

<2lần

<2lần

<2lần

Tăng

2 lầnsovới2006

Tăng

2 lầnsovới2006

Giảm25%

sovớiKB1

Giảm25%

sovớiKB1

Giảm25%

sovớiKB1

Giảm20%

sovớiKB1

Giảm20%

sovớiKB1

Giảm20%

sovớiKB1

Giảm khoảng 15% sovới kịch bản 1

Giảm khoảng 10% sovới kịch bản 1

(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam 2008-Môi trường làng

nghề)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

Kết quả cho thấy rằng, nếu tình hình quản lý môi trường làng nghề vẫn tiếp diễnnhư hiện nay thì mức độ ô nhiễm của bụi vào năm 2015 theo các chuyên gia dự báo sẽtăng gấp 20 lần, đối với môi trường nước sẽ tăng gấp 2 lần và chất thải rắn sẽ gấp đôinăm 2006 khoảng 1 triệu tấn Nếu Nhà nước áp dụng có hiệu quả các chính sách quản

lý môi trường được thực thi trong thực tế thì mức ô nhiễm sẽ giảm nhưng không đángkể: đối với môi trường không khí thì chỉ có nồng độ SO2 và NO2 là giảm, ô nhiễmnguồn nước cũng sẽ giảm 25% và chất thải rắn giảm 15% so với khi chưa áp dụng cácchính sách quản lý của kịch bản 1 Kịch bản 3 nói lên rằng, nếu áp dụng các chínhsách quản lý như kịch bản 2 nhưng bổ sung thêm các chính sách mới triệt để và đồng

bộ hơn thì ô nhiễm môi trường chỉ còn ở mức thấp

Như vậy, nếu các chính sách quản lý môi trường được đưa ra và áp dụng mộtcách có hiệu quả thì sẽ hạn chế tối đa mức độ ô nhiễm môi trường tại các làng nghề

1.3 Quy trình đúc đồng và một số yếu tố độc hại của quy trình đúc đồng

1.3.1 Quy trình đúc đồng

Hiện nay tại làng nghề kim loại tại phường Đúc Huế, người ta chủ yếu đúc đồng,một số ít đúc thêm gang, nhôm nhưng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ Quy trình đúc đồng tốnkém nhiều công sức hơn so với các quy trình đúc kim loại khác và bao gồm nhiều giaiđoạn Tuy nhiên đều phải trải qua 3 giai đoạn chủ yếu đó là: làm khuôn, nấu đồng, làmnguội, trong mỗi giai đoạn có nhiều công đoạn khác nhau

1 Làm khuôn Muốn làm ra một sản phẩm nào đó trước hết người ta phải có vật

mẫu rồi dựa vào vật mẫu đó để làm khuôn Nguyên liệu làm khuôn thường là đất sét,than, trấu Khuôn ngoài: Người ta thường dùng loại đất sét tốt , được đập nhỏ rồi trộnvới trấu và nước Lớp bên trong của khuôn ngoài được phủ bằng một lớp đất sét mịn

và nước Khuôn trong được làm bằng đất sét xấu hơn trộn với trấu và nước, lớp bênngoài của khuôn cũng được phủ bằng một lớp đất sét mịn, than và nước Khuôn trong

và khuôn ngoài được ghép với nhau sao cho khớp, có một khoảng cách giữa 2 khuôn

và phía khuôn ngoài có chừa một lỗ để rót đồng vào, người ta thường dùng nhữngthanh đồng nhỏ chèn giữa 2 khuôn để cách đều nhau Sau khi làm khuôn xong thìngười ta tiến hành nung khuôn, thời gian nung khuôn ngoài lâu hơn nung khuôn trong.Sau đó ghép 2 khuôn lại và nung một lần nữa

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

Nguyên liệu +

nhiên liệu

Nungchảy

Hỗn hợp kim loại nóng chảy

Đổkhuôn

Làm nguội

Sản phẩmthô

Mài dũađánh bóng

Thành phẩm

Nungkhuôn

Sấykhuôn

Làm

khuôn

(Nguồn: Nghiên cứu quy hoạch môi trường làng nghề đúc đồng)

Hình 1: Sơ đồ biểu diễn quy trình đúc đồng

2 Nấu đồng.

Việc nấu đồng phải phối hợp nhịp nhàng với thời gian nung khuôn Nồi nấuđồng thường gồm 2 tầng, có lỗ thông với môtơ quạt điện Tùy theo lượng đồng mà cóthời gian nấu khác nhau, khoảng từ 1 - 3 tiếng, khi nấu than sẽ được đổ vào phần trêncủa nồi, sau đó đổ đồng lên trên than, nhen lửa xong cho vào máy thổi gió, than cháyrực sẽ làm đồng chảy, trong quá trình này người ta liên tục cho than lên bên trên đồng,lượng than này sẽ cháy thành tro bay ra ngoài, phần nổi lên trên sẽ được vớt ra, cònnước đồng sẽ được chảy xuống dưới nồi lò Đồng được đốt cho đến khi chỉ thấy khóitrắng tỏa ra, nước đồng loáng sáng ánh chớp, lúc này khuôn đã được nung nóng vàngười ta sẽ rót đồng vào khuôn một cách đều đặn, sau đó để nguội, phá khuôn ra lấysản phẩm đúc

3 Làm nguội Công việc này đòi hỏi rất nhiều đến sự khéo léo của người thợ,

giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn hoàn thiện sản phẩm, bao gồm nhiều côngđoạn khác nhau: làm sạch, mơn, tiện, mài, đánh bóng sản phẩm Công đoạn này cũngchiếm rất nhiều thời gian và đòi hỏi rất công phu, tỉ mỉ

1.3.2 M ột số yếu tố độc hại trong nghề đúc đồng

Trang 29

Silic phổi do công việc đúc có tiếp xúc với bụi cát Đây là bệnh đặc biệt nguy hiểm, nólàm giảm nghiêm trọng sự trao đổi khí của các tế bào trong lá phổi nhiều khi hạt bụichứa các hóa chất độc như bụi chì, bụi đồng…

a) Bụi chì: Để nấu chảy kim loại người ta đun nóng đến khoảng 13000C, nhưvậy trong thời gian này thì người công nhân thường xuyên tiếp xúc với hơi và bụi chìthoát ra Ngoài ra công nhân đúc kim loại còn tiếp xúc với bụi chì ở giai đoạn làmnguội sản phẩm do quá trình mài, đánh bóng sản phẩm Bụi chì xâm nhập vào cơ thểbằng 3 con đường là tiêu hóa, đường hô hấp và qua da mà chủ yếu là qua đường hôhấp Chì có thể cố định trong xương và răng gây hiệu ứng độc đối với nhiều cơ quannhư thần kinh, tạo máu, thận, huyết áp máu Ngoài ra bụi chì còn gây tác hại cho quátrình tổng hợp hồng cầu, quá trình sản xuất năng lượng cho quá trình sống và gây độc

cả hệ thần kinh trung ương và thần kinh ngoại biên

b) Bụi đồng: Bụi đồng chiếm đa số do hầu hết các hộ đúc ở đây đều đúc đồng,bụi đồng thường vào cơ thể qua đường hô hấp nó xâm nhập vào phế quản và các tếbào đi vào máu Nếu người làm việc thường xuyên tiếp xúc với bụi đồng có thể bị mắcchứng ung thư phổi do bụi đồng gây ra Bụi đồng gây ra các bệnh nhiễm trùng da rấtkhó chữa, làm cho da bị khô, trứng cá, viêm da Hơn nữa bụi đồng có kích thước to,nhọn, có cạnh sắc dễ gây niêm mạc dạ dày, rối loạn tiêu hóa và nó có thể gây tích lũytrong gan

c) Bụi kẽm: Kẽm là một nguyên tố cần thiết cho cơ thể Tuy nhiên khi liềulượng kẽm trong cơ thể quá mức thì nó rất độc hại, nó có thể gây ra các triệu chứng ỉachảy, rối loạn dạ dày, đường mật Ngộ độc kẽm sẽ cảm thấy miệng có vị kim loại, đaubụng, mạch chậm, co giật

Đặc biệt đối với nghề đúc kim loại dễ sinh ra bệnh "sốt khói kim loại", đây làmột bệnh nghề nghiệp cấp tính do hít phải các hơi khói của nhiều oxit kim loại nặng

Nó được đặc trưng bởi nhiều triệu chứng khác nhau như: ho, sốt, rét run, khó thở, đaunhức cơ, nôn mửa và mệt mỏi Chứng bệnh này chỉ xuất hiện khoảng thời gian ngắnkhi tiếp xúc với các triệu chứng như ho, ớn lạnh, tình trạng khó chịu, chứng đau cơ,tùy thuộc vào loại nguyên liệu nấu cho quá trình đúc mà khả năng nguy hiểm cho cơquan hô hấp rất đa dạng

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

2 Nhiệt độ

Đây cũng là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe Đối với nghề đúc kimloại thì nhiệt độ nơi làm việc thường lớn hơn bên ngoài đặc biệt là ở giai đoạn nungkhuôn và nấu kim loại thì nhiệt độ rất cao, khi làm việc trong môi trường nhiệt độ caokết hợp với độ ẩm có thể bị "say nóng", người bị "say nóng" (mệt mỏi, chóng mặt,nhức đầu) Ngoài ra khi làm việc trong môi trường nhiệt độ cao có thể bị các bệnh vềmắt như tổn thương giác mạc, khô mắt và các bệnh về da như sạm da, nổi mẫn đỏ

3 Tiếng ồn

Đây là yếu tố mà công nhân đúc kim loại phải tiếp xúc hàng ngày Tiếng ồncũng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe công nhân, làm giảm năng suất lao động và dễgây ra tai nạn lao động Tiếng ồn thường xuất hiện khi sử dụng các máy móc cho côngđoạn làm nguội như mơn, tiện, mài, đánh bóng, đặc biệt ở giai đoạn nấu kim loại thìcường độ tiếng ồn rất lớn Khi tiếng ồn quá giới hạn cho phép có thể gây nhức đầu,chóng mặt, mệt mỏi, ức chế tiêu hóa, rối loạn chức năng hệ tim mạch và có thể tácđộng đến thần kinh gây ra trạng thái mệt mỏi mãn tính Nếu tiếp xúc với tiếng ồn lâungày với cường độ quá giới hạn cho phép thì sẽ gây ra bệnh "điếc nghề nghiệp"

4 Bức xạ nhiệt

Đây là bức xạ hồng ngoại phát ra khi nấu kim loại, lượng xạ này rất lớn và nguyhiểm do công nhân phải tiếp xúc trực tiếp với lượng bức xạ này trong suốt thời giannấu kim loại Khi tiếp xúc với bức xạ nhiệt có thể bị tổn thương trên da và giác mạc,tai lâu ngày có thể là đục nhân mắt

5 Khí độc

a) Khí SO2 (lưu huỳnh điôxit) là khí không màu, không cháy, có vị cay và cómùi hăng khét, ngột ngạt Đây là khí tương đối nặng nên thường ở gần mặt đất ngaytầm làm việc của người công nhân Khí SO2 vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc tiêuhóa do nó có thể hòa tan vào nước bọt, sau đó phân tán vào đường tuần hoàn máu

b) Khí NO (nitơ oxit) là khí không màu, không mùi, ít tan trong nước Ở nồng

độ thấp, khí NO gây tác hại chậm và khó nhận thấy Tác hại của nitơ oxit chủ yếu làgây bệnh mãn tính Ngoài ra nó liên kết với hemoglobin trong máu tạo thành chấtkhông vận chuyển oxi làm giảm hiệu suất vận chuyển oxi trong máu

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

c) Khí CO (cacbon oxit) là loại khí không màu, không mùi, không vị sinh ra khiđốt cháy nhiên liệu có chứa Cacbon ở điều kiện thiếu không khí Khí CO có phản ứngrất mạnh với hồng cầu trong máu tạo ra hợp chất COHb bền vững làm hạn chế sự vậnchuyển oxy của máu đi nuôi cơ thể Hàm lượng COHb trong máu chứng tỏ mức độ ônhiễm khí CO trong môi trường không khí xung quanh Nhiễm độc cấp CO thường bịđau đầu, ù tai, chóng mặt, buồn nôn, mệt mỏi, co giật và bị hôn mê Nếu bị nhiễm độc

CO nặng thì sẽ bị hôn mê ngay, chân tay mềm nhũn, mặt xanh tím và bị phù phổi cấp.Nhiễm độc CO mãn tính thường bị đau đầu dai dẳng, chóng mặt, mệt mỏi, sút cân

1.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu

 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình phát triển của làng nghề

- Để phản ánh tình hình phát triển của các làng nghề tôi đã sử dụng các chỉ tiêudoanh thu bình quân, số cơ sở, số lao động của các cơ sở đúc đồng từ năm 2008 đếnnăm 2011

 Các nhóm tiêu chuẩn phản ánh mức độ ô nhiễm môi trường

Để đánh giá và phân tích mức độ ô nhiễm không khí, tiếng ồn, nước ngầm vànước thải tại làng nghề đúc đồng, tôi đã sử dụng các nhóm TCVN và QCVN sau:

- Nhóm tiêu chuẩn về chất lượng không khí và tiêu chuẩn chất lượng không khíxung quanh TCVN 5937 – 2005

- Nhóm quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm QCVN08:2005/BTNMT

- Nhóm tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn khu vực công cộng và dân cưTCVN 5949:1998

- Nhóm quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp QCVN24:2009/BTNMT

- Nhóm tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về không khí vùng làm việc vi khí hậuTCVN 5508 – 1991

Trang 32

tự: điểm 1: không ô nhiễm; điểm 2: bình thường; điểm 3: ô nhiễm; điểm 4: rất ônhiễm; điểm 5: ô nhiễm nghiêm trọng.

- Để đánh giá tình trạng sức khỏe của công nhân, chúng tôi đánh giá theo thangđiểm: không ảnh hưởng , ảnh hưởng , ảnh hưởng nghiêm trọng

- Để đánh giá ý kiến của các mẫu điều tra về thời gian xuất hiện các loại ônhiễm, chúng tôi đánh giá theo thang điểm thời gian: điểm 1: sáng sớm, điểm 2: buổitrưa, điểm 3: buổi chiều, điểm 4: tối muộn

- Để đánh giá ý kiến của người dân về ảnh hưởng của làng nghề đúc đồng đếnsức khỏe của người dân, chúng tôi chọn các chỉ tiêu: điểm 1: đường hô hấp, điểm 2: daliễu, điểm 3: cả hai bệnh trên, điểm 4: bệnh khác

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ

ĐÚC ĐỒNG Ở THÀNH PHỐ HUẾ

2.1 Một vài nét về tình hình cơ bản của địa bàn nghiên cứu

Nghề đúc đồng ở thành phố Huế được bố trí ở hai phường: phường Đúc vàphường Thủy Xuân Để thấy rõ được thực trạng của nghề đúc đồng và mức độ ảnhhưởng của nó đến môi trường, chúng tôi xin giới thiệu một số nét về tình hình cơ bảncủa hai phường trên

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Phường Phường Đúc nằm ở phía Tây Nam của thành phố Huế, phía Bắc giápsông Hương, sông An Cựu, phía Đông giáp phường Trường An, phía Nam giápphường Thủy Xuân, phía Tây giáp phường Thủy Biều

Phường Thủy Xuân nằm ở phía Tây Nam của thành phố Huế, phía Bắc giápphường Phường Đúc, phía Đông giáp phường Trường An - xã Thủy An, phía Namgiáp xã Thủy Bằng - huyện Hương Thủy, phía Tây giáp phường Thủy Biều

Phường Phường Đúc và phường Thủy Xuân đều nằm ở phía Tây Nam củathành phố Huế Hai địa điểm này nằm sát nhau hợp thành một cụm làng nghề đúcđồng điển hình không chỉ của thành phố Huế mà còn cả tỉnh Thừa Thiên Huế

Địa hình khu vực nghiên cứu thuộc đồng bằng hạ lưu sông Hương và sông Bồ,vùng đồng bằng này tương đối bằng phẳng trong đó có xen kẽ một số đồi, núi thấp nhưnúi Ngự Bình cao 105m, đồi Vọng Cảnh Độ cao mặt đất có xu hướng giảm dần từTây Nam về Đông Bắc cũng như từ Tây Bắc xuống Đông Nam Về phương diện địamạo, nhìn chung độ cao tuyệt đối, hướng nghiêng của bề mặt có xu hướng giảm dần vànghiêng từ rìa Tây Nam về Đông Bắc hoặc rìa từ Tây Bắc xuống Đông Nam Khu vựcnghiên cứu có độ cao tuyệt đối 8-10m

Thành phố Huế nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chất khí hậuBắc Trung Bộ, có khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta Tổng sốgiờ nắng trung bình năm dao động từ 1.700 đến 2.000 giờ/năm Các tháng 5-7 thuộcthời kỳ nắng nhất, có giờ nắng 200 giờ/tháng

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

Ở Thừa Thiên Huế có hai mùa: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa diễn ra trong 4tháng (9-12), mùa khô kéo tới 8 tháng (1-8) Hằng năm có khoảng 150 - 170 ngày mưa

và chế độ mưa biến động mạnh đã có ảnh hưởng nhất định đến môi trường, sản xuất,đời sống

 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên của địa bàn nghiên cứu

- Với vị trí nằm về phía Tây Nam của thành phố Huế, làng nghề đúc đồng sẽ tạonên một triển vọng mới về phát triển du lịch làng nghề

- Do địa bàn làng nghề gần với khu trung tâm thành phố nên các cơ sở đúc cóđiều kiện phát triển kinh tế, mở các dịch vụ buôn bán, lưu thông trao đổi hàng hóathuận tiện, phát triển dịch vụ du lịch cũng như thuận tiện trong việc tiếp cận các tiến

bộ khoa học kỹ thuật

- Khí hậu khắc nghiệt ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đờisống của người dân Các cơ sở đúc đồng lại nằm trong các khu dân cư đông đúc nênvào những mùa khô trời nắng gay gắt sẽ làm cho bụi đồng bay khắp nơi gây ảnhhưởng đến sức khỏe của người dân Vào mùa mưa, các cơ sở đúc đồng rất khó sảnxuất, hoạt động sôi nổi của nghề đúc đều ngừng lại

2.1 2 Điều kiện kinh tế - xã hội

a) Tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở phường Đúc

Phường Phường Đúc nằm trên dải đất khá nhỏ hẹp bên dòng sông Hương, cáchtrung tâm thành phố Huế khoảng 3 km về phía Tây Nam, diện tích khoảng 160 ha, dân

số khoảng 11.000 người Phường được thành lập năm 1983 trên cơ sở sát nhập mộtphần diện tích của phường Vĩnh Ninh và một phần của xã Thủy Xuân Do đó, đây làđịa bàn vừa nông thôn, vừa thành thị, vì vậy nền kinh tế phát triển không đồng đềutrên nhiều lĩnh vực Trong năm 2011 do ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới và trongnước, tình hình đời sống của nhân dân phường Đúc gặp không ít khó khăn

Hiện nay, số doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh, các dịch vụ trênđịa bàn phường tăng lên đáng kể Tuyến du lịch tham quan nghề đúc đồng truyềnthống được đưa vào sử dụng, tạo động lực cho các dịch vụ phát triển, thương hiệu các

cơ sở đúc đồng trên địa bàn được khẳng định, các quầy hàng mua bán đồ mỹ nghệ tăng(từ 13 quầy nay tăng lên 26 quầy), những sản phẩm đúc đồng đã góp phần vào thành

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 35

công các kỳ Festival Huế Tổng đầu tư trên địa bàn phường trong bảy năm qua là 10 tỷ

500 triệu Hoạt động của HTX đúc được giữ vững, doanh thu hàng năm đều tăng (năm

2004 đạt 2,2 tỷ đồng; năm 2010 đạt trên 4 tỷ đồng); tổng doanh thu tại các cơ sở đúctrên địa bàn tăng từ 20 – 25% (từ 4,2 tỷ đồng đến 14,5 tỷ đồng/năm), kinh doanh trongsản xuất vật liệu xây dựng thu hút được nhiều lao động

b) Tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở phường Thủy Xuân

Phường Thủy Xuân là một phường có địa bàn rộng, đời sống đại đa số dân cònnghèo chủ yếu làm nghề trồng trọt, kinh tế vườn và buôn bán nhỏ, thu nhập thấp

Năm 2011, về kinh tế, các cơ sở sản xuất kinh doanh vẫn duy trì và phát triển ổnđịnh, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và giải quyết việc làm cho người dân trên địabàn, các lĩnh vực vốn là thế mạnh của địa phương như: dịch vụ phục vụ du lịch tại cáckhu vực di tích, các nghề truyền thống như làm hương, đúc đồng, nghề mộc mỹ nghệ,…được duy trì ổn định, một số nghề nữ như may mặc, nghề giác trầm phát triển giải quyếtviệc nông nhàn của người dân, góp phần ổn định cuộc sống nhiều hộ dân

Về nông nghiệp:

- Trồng trọt: Mặc dù gặp nhiều khó khăn về thời tiết, nhưng vẫn được mùa cao,tổng diện tích gieo trồng: 75,46 ha, năng suất bình quân đạt: 56,97 tạ/ha, sản lượngđạt: 429 tấn Trong đó: sản xuất nông nghiệp vụ Đông Xuân 2010 – 2011 với diệntích: 37,84 ha, năng suất bình quân ước đạt 58,95 tạ/ha Vụ Hè Thu: tổng diện tíchgieo xạ 37,6 ha, do ảnh hưởng cơn bão số 04 nên diện tích 2,2 ha trong thời kỳ thuhoạch bị thiệt hại, nhưng năng suất bình quân đạt 55 tạ/ha

Rau màu vẫn là những cây đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng diện tích chỉchiếm 12,3 ha với tổng giá trị trồng trọt ước đạt: 4,217 tỷ đồng; giá trị sản xuất nôngnghiệp bình quân đạt 70 triệu/ha Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp năm 2011 đượcmùa, bên cạnh sản xuất lúa, thì kinh tế vườn tiếp tục được các hộ dân đầu tư với chủlực là rau, đậu, gừng, sẽ là những cây chủ lực

- Chăn nuôi: dù gặp khó khăn do chi chi phí đầu vào cao, nguy cơ dịch bệnhnhưng vẫn duy trì ổn định, có nhiều hộ chăn nuôi với tổng đàn từ 20 -30 con lợn, cóthu nhập cao Tổng số đàn lợn trên địa bàn khoảng 1.800 con trong đó lợn nái 52 con;đàn trâu, bò 118 con, vẫn duy trì phát triển tốt Đang thực hiện dự án nạc hóa đàn lợn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 36

với số hộ tham gia hưởng lợi là 37 hộ và có 10 hộ có sản phẩm đạt tiêu chuẩn Đã triểnkhai xây 5/9 hầm bioga cho 5 hộ có chăn nuôi (trong đó mỗi hộ được hỗ trợ là 7 triệuđồng và cho mượn không lãi 1,5 triệu đồng) từ tổ chức BAJ tài trợ và 08 hầm bioga từchương trình khuyến nông với mỗi hộ được hỗ trợ 1,2 triệu đồng

Công tác tổ chức tốt tiêm phòng cho gia súc đạt kết quả cao, bên cạnh đó hướngdẫn cho các hộ chăn nuôi vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng trại, nên không có dịchbệnh nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn

2.1.3 Cơ sở hạ tầng

a) Hệ thống cấp thoát nước

Người dân ở làng nghề đúc đồng sử dụng nước máy cho mục đích sinh hoạt, chỉ

có một số ít hộ sử dụng nước sông hoặc nước ngầm phục vụ sinh hoạt và sản xuất Hệthống thoát nước công cộng và của người dân ở phường Đúc được bê tông hóa hoặc sửdụng các ống nhựa nước lớn Ở Thủy Xuân, hệ thống cấp thoát nước không được đầu

tư, nhiều nơi nước thải không được thu gom Nước thải từ sinh hoạt của người dânđược chảy tràn hoặc thông qua các mương rãnh, ống nhựa dẫn vào hệ thống thoát nướcchung của khu vực và cuối cùng thải trực tiếp xuống sông Hương Tuy nhiên cũng cầnnhìn nhận rằng lượng nước thải hàng ngày do sản xuất có số lượng rất ít chủ yếu lànước thải sinh hoạt

b) Giao thông

- Hệ thống đường giao thông trên địa bàn thuận lợi Hai tuyến đường Lê NgôCát và Minh Mạng sau khi được nâng cấp đã trở thành những tuyến đường đẹp của

“phố núi” Thủy Xuân

- Với xu hướng phát triển nhanh về phía tây nam như hiện nay, đặc biệt là cáckhu du lịch, các trung tâm giải trí đang xuất hiện ngày càng nhiều, cần thiết phảinghiên cứu để cải tạo về hạ tầng giao thông nhằm bảo đảm an toàn giao thông cũngnhư ưu tiên bố trí kinh phí để sớm đầu tư nâng cấp, xây dựng hạ tầng giao thông củakhu vực này

c) Thương mại, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp

- Trên địa bàn phường Phường Đúc có nhà ga; chợ Phường Đúc; trung tâm giớithiệu, trưng bày sản phẩm nghề đúc đồng; tuyến du lịch Kinh Nhơn - Bổn Bộ; có 1024

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 37

cơ sở kinh tế, sự nghiệp, tôn giáo, cơ sở kinh doanh cá thể; cơ sở sản xuất kinh doanhvật liệu xây dựng (cát, sạn); hợp tác xã Thắng Lợi; công ty thoát nước… Trên địa bànphường Thủy Xuân có hợp tác xã đúc Thủy Xuân, có một chợ nhỏ tuy quy mô khônglớn nhưng cũng đáp ứng được nhu cầu buôn bán nhỏ lẽ của người dân ở đây.

- Nhìn chung, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn hai phường có chiềuhướng phát triển tốt, đã đem lại thu nhập cho một số bộ phận lao động và người dân ở đây

 Nhận xét chung về điều kiện kinh tế - xã hội

Tình hình vệ sinh môi trường tuy được quan tâm, cải thiện như tình trạng ônhiễm, đặc biệt là ô nhiễm trong sản xuất, chăn nuôi, rác thải vẫn còn phổ biến

2.2 Khái quát tình hình phát triển nghề đúc đồng ở thành phố Huế

2.2.1 L ịch sử của làng nghề đúc đồng Huế

Làng nghề đúc đồng Huế được hình thành gắn liền với việc Chúa Nguyễnchọn đất làng Kim Long làm thủ phủ Nghề đúc đồng đã để lại cho hậu thế nhiềusản phẩm mang nhiều dấu ấn văn hóa như Cửu Đỉnh, Cửu vị thần công… qua nhiềuthăng trầm nhưng vẫn duy trì và phát triển cho đến ngày nay Đây còn là một trongnhững nghề thủ công truyền thống lâu đời của tỉnh Thừa Thiên Huế và khá nổitiếng ở Việt Nam Nhiều sản phẩm từ làng nghề đúc này đạt trình độ cao về kỹthuật lẫn mỹ thuật, còn lưu lại đến nay trên khắp đất nước đã nói lên bàn tay tài hoa

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 38

và khối óc thông minh của những người thợ thủ công ở phường Phường Đúc vàphường Thủy Xuân – Thành phố Huế.

Hầu hết các hộ làm nghề đúc ở Thuỷ Xuân và Phường Đúc hiện nay là con,cháu của những gia đình thuộc hai dòng họ Nguyễn; một họ có nguồn gốc ở Bắc Ninhvào, một họ có nguồn gốc ở Quảng Nam ra theo lệnh trưng tập của các vua chúa nhàNguyễn trước đây

Sản phẩm của “làng nghề” truyền thống khá đa dạng và phong phú được sảnxuất từ đồng, gang, nhôm phục vụ trên nhiều lĩnh vực như công nghiệp, hàng tiêudùng, mỹ nghệ, nghi lễ, tín ngưỡng, phong tục, công trình văn hoá lịch sử,… Đặc thùcủa nghề đúc ở Huế đến nay là các yếu tố kỹ thuật hiện đại vẫn được ứng dụng rất ítvào quy trình sản xuất hiện có của các hộ sản xuất trong làng nghề nên tiêu tốn nhiềunguyên liệu và giá thành cao Người thợ đúc Huế vẫn sử dụng đôi tay khéo léo kết hợpvới kinh nghiệm và những công cụ đơn giản nhất để tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị

đã được trong và ngoài nước thừa nhận

2.2.2 Tình hình s ản xuất kinh doanh nghề đúc đồng

Với tình cảnh hiện tại của nghề đúc đồng Huế, bên ngoài nhìn vào có thể thấy làlàng nghề đang phát triển với việc hoàn thành và cho ra đời những sản phẩm tốt, tinhxảo, to lớn nhưng ở bên trong là sự thụ động, phụ thuộc vào đơn đặt hàng cũng nhưkhông có được nguồn vốn, nguyên liệu dồi dào để chủ động sản xuất Trước mắt, làngnghề đúc đồng đang gặp nhiều khó khăn về vốn liếng, giá cả, về mặt bằng tiêu thụ,mẫu mã sản phẩm và vấn đề ô nhiễm môi trường

Bảng 3: Tình hình sản xuất kinh doanh nghề đúc đồng

- Doanh thu bình quân Tỷ 4,3 4,9 5,9 5,4

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 39

(Nguồn: Số liệu điều tra 2012)

Theo báo cáo của nghề đúc truyền thống Huế, số hộ cơ sở đúc đồng vào năm

2008 là 102 cơ sở, nhưng đến năm 2009 thì số cơ sở này giảm mạnh và chỉ còn là 61

cơ sở Tuy nhiên trong quá trình điều tra cho thấy rằng: tổng số hộ còn hoạt động đúcđồng đến nay là 61 hộ nhưng chỉ có khoảng 30 hộ là đang duy trì sản xuất ở nhữngmức độ khác nhau, số hộ còn lại hoạt động cầm chừng hoặc đi làm thuê cho các lò đúckhác Những cơ sở tồn tại được cho đến hôm nay đều xác định được hướng đi riêngcho mình, đó là đúc chuông, đúc đồ tự khí, đúc các sản phẩm mỹ nghệ phục vụ du lịch

Đa số các hộ đúc đồng đều rơi vào tình cảnh chung là đang bế tắc trong vấn đề là giảiquyết vấn đề đầu ra cho sản phẩm Họ muốn phát triển nghề nghiệp nhưng không biếtbắt đầu từ đâu bởi vì phần lớn người làm nghề thường ít học và không hề có kiến thức

về phát triển sản xuất trong nền kinh tế thị trường Do đó, trong 16 hộ tiến hành điềutra thì doanh thu trung bình/hộ qua các năm tăng chậm và hầu như không đáng kể,năm 2008 doanh thu đạt 4,3 tỷ đồng/năm nhưng đến năm 2011 thì doanh thu chỉ đạt5,4 tỷ đồng/năm, tăng 1,1 tỷ đồng so với năm 2008 Nguyên nhân là do họ rất thụ độngtrong việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa ứ đọng rất nhiều và doanh thu không ổn định,

cá biệt có hộ phải tự đem sản phẩm đi bán ở các tỉnh khác Bên cạnh đó là sự cạnhtranh khốc liệt của các lò đúc khác trong và ngoài nước đã làm cho quá trình tiêu thụsản phẩm càng thêm điêu đứng

Năm 2007, Phường Đúc từng tổ chức một khu trưng bày với sự tham gia của các

cơ sở đúc đồng, mong muốn giới thiệu các sản phẩm truyền thống của làng nghề, từnhững vật dụng gia đình, đến hàng lưu niệm, mỹ nghệ và cả những bộ lư đèn mà ngườidân thường gọi là tam sự, ngũ sự, thất sự và cửu sự tùy theo số lượng của mỗi bộ đểthờ cúng trên bàn thờ tổ tiên, miếu mạo, đình chùa… Hàng hóa không thiếu, được bàybán không chỉ ở khu trưng bày, giới thiệu sản phẩm này mà dễ dàng bắt gặp ở khắp khuvực phường đúc, có thể nhìn thấy từ cầu Bạch Hổ (ở trục đường Bùi Thị Xuân) đến chợPhường Đúc Tuy nhiên, đến thời điểm này chỉ còn lại cảnh vắng vẻ, người bán hàngngồi chơi, chuyện phiếm với nhau hoặc vào ra cùng những món hàng Việc giới thiệu vàbán sản phẩm của làng nghề này đang là nỗi trăn trở của các lò đúc đồng khi lượngkhách tham quan đã ít, lượng khách mua hàng lại càng ít hơn Chị Nguyễn Thị Thu

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 40

Loan - Cơ sở đúc đồng Nguyễn Thắng Tín, cho biết: “Hiện tại, mỗi ngày không có mấykhách, đặc biệt là khách “tua”, nên có ngày bán được có ngày không…” Điều đó đã làmcho doanh thu bình quân tiếp tục giảm trong những năm vừa qua.

Không chỉ các sản phẩm từ đồng mà gian hàng gỗ tre mỹ nghệ cũng ế ẩm, chỉ

có độc nhất một sinh viên trông coi, mặc dù các sản phẩm ở đây đều bắt mắt, giá cảphải chăng… Theo quá trình tìm hiểu và đi thực tế của tôi, do tour tuyến du lịch đếnvới trung tâm làng nghề Phường Phường Đúc không có là bao, lượng khách nướcngoài theo các tour hầu như không có, chỉ là những khách du lịch đi lẻ, nên giới thiệuđược sản phẩm của làng nghề là điều không dễ

Bên cạnh đó, nhu cầu sắm sửa đồ đồng ở khu vực khách nội địa và ngay cảngười dân Huế cũng không cao, họ cho rằng những sản phẩm của nghề đúc rất nặng vàkhó mua về nước để làm quà Đáng ngại hơn là sản phẩm của làng nghề này chưa thểcạnh tranh được với lượng hàng sản xuất với quy mô công nghiệp từ TP.HCM Theonghệ nhân Nguyễn Văn Đệ, việc đầu tư hàng trăm triệu đồng cho nhà xưởng vớikhuôn đúc bằng gang, các loại máy gò, máy tiện, máy phay… chưa được chú trọng, từ

đó dẫn đến giá sản phẩm của làng nghề không thể cạnh tranh với giá hàng côngty…Thật đáng buồn khi một trung tâm giới thiệu sản phẩm làng nghề lại vắng kháchtham quan cũng như lượng hàng bán ra không đáng kể, song càng tiếc hơn khi sảnphẩm bị hàng cùng chủng loại lấn lướt vì giá cả, độ sắc nét…

Nhìn về con đường phát triển nghề đúc đồng, tất cả các cơ sở sản xuất đều bày

tỏ thái độ không tin tưởng và đều đưa ra dự báo mờ mịt về tương lai của làng nghề

"Lửa nghề" đã có dấu hiệu dần tắt trong lòng những người thợ đúc bởi lẽ việc cần làm

để chấn hưng nghề nghiệp thì nhiều nhưng khả năng tài chính hạn chế và có nhữngviệc vượt ngoài khả năng của người thợ Số thợ đúc đồng cũng giảm đáng kể qua cácnăm Vì nhiều bậc lão làng của làng nghề không muốn con cháu theo nghề mà đầu tưvào một nghề khác ổn định và nhẹ nhàng hơn Nhiều người sản xuất lâu năm cũngquyết định "tắt lửa" và đóng cơ sở sản xuất, chỉ trưng bày trong nhà những vật bằngđồng tinh xảo một thời đã qua làm kỷ niệm

Thực trạng trên cho thấy sự kém phát triển của làng nghề đúc đồng và những

Trường Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 07/10/2020, 07:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w