1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản ở thành phố Đồng Hới giai đoạn 20072009

69 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 573,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản ở thành phố Đồng Hới giai đoạn 20072009Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ

Trang 1

.PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất nước ta đang trên con đường phát triển, việc tạo ra khối lượng lớn cơ sở vật

chất và kỹ thuật là điều tất yếu Trong quá trình tạo ra khối lượng lớn này thì đầu tưXDCB đóng vai trò cực kỳ quan trọng Việc sử dụng vốn đầu tư XDCB đúng hướng luôn

là vấn đề mang tính thời sự được cả xã hội quan tâm theo dõi với những niềm vui, hyvọng và sự lo lắng, bởi tổng số vốn đầu tư ngày càng tăng theo đà phát triển kinh tế của

đất nước thì phạm vi đầu tư càng trải rộng khắp trong tất cả các ngành kinh tế, văn hoá, xã

hội, khoa học

Một trong những vấn đề chủ yếu để phát triển nền kinh tế hiện nay là thu hút

được nhiều VĐT cho công cuộc phát triển đất nước, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng

nghèo nàn, lạc hậu

Trong những năm qua, lĩnh vực đầu tư XDCB ở các bộ, ngành, địa phương đã cóbước chuyển biến rõ rệt từ việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, lập quy hoạch, kế hoạch

đến quản lý, tổ chức thực hiện xử lý nợ đọng vốn đầu tư Tiếp tục thực hiện các chính

sách bố trí ưu tiên, bố trí VĐT cho các dự án kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, y tế,giáo dục và các chương trình, mục tiêu, nguồn vốn nhà nước dành cho đầu tư xây dựng cơbản đóng vai trò rất quan trọng và có tính chủ đạo trong việc phát triển kết cấu hạ tầngkinh tế xã hội của đất nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,góp phần vào chương trình xóa đói giảm nghèo và cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân

và nâng cao trình độ văn hóa dân trí

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là sự hỗ trợ củanguồn vốn NSNN, các tổ chức quốc tế và nguồn vốn huy động từ nội bộ nền kinh tế củatỉnh Quảng Bình, trong những năm qua công tác đầu tư XDCB ở thành phố Đồng Hớimặc dù còn gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn nhưng đã ưu tiên cho công tác XDCB để

Trang 2

nhiều khởi sắc cả về giao thông, điện chiếu sáng, các công trình phúc lợi công cộng, hệthống công viên cây xanh, tạo tiền đề cho KT - XH thành phố không ngừng tăng trưởng,hoà nhập chung vào sự phát triển của tỉnh và cả nước.

Bên cạnh những kết quả đạt được của việc sử dụng vốn NSNN cho đầu tư XDCB,còn có những tồn tại Nhiều vấn đề bức xúc về quy hoạch, kế hoạch đầu tư chưa được

đồng bộ; một số quyết định chủ trương đầu tư thiếu chính xác; tình trạng đầu tư dàn trãi

diễn ra phổ biến; thất thoát, lãng phí xảy ra ở nhiều ngành, lĩnh vực trong tất cả các khâucủa quá trình đầu tư,…nợ tồn đọng vốn đầu tư XDCB ở mức cao và có xu hướng ngàycàng tăng Cùng với các tác động không nhỏ của tình hình Thế giới, suy thoái kinh tế toàncầu, giá cả, tiền công cũng đã ảnh hưởng đền hiệu quả sử dụng VĐT

Đồng Hới là một thành phố có nền kinh tế xuất phát điểm thấp, việc huy động

nguồn vốn đầu tư từ nội bộ nền kinh tế của tỉnh còn hạn chế, chủ yếu dựa vào nguồn hỗtrợ của ngân sách Trung ương và khai thác quỹ đất, nên việc tiết kiệm và sử dụng vốn đầu

tư nói chung và đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách nói riêng càng mang tính cấp thiết

Từ những cơ sở trên, yêu cầu sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN cần phải đúngmục đích và hiệu quả Đây là vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn không thể giải quyếtmột lúc, mà cần phải có thời gian dài Chính vì vậy, việc nâng cao hiêụ quả VĐT trên địabàn thành phố Đồng Hới trong những năm tới là vấn đề nổi cộm cần được quan tâm hàng

đầu Để góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và hoàn thiện việc sử dụng có hiệu quả nguồn

vốn NSNN cho đầu tư XDCB ở thành phố Đồng Hới, em chọn đề tài“Thực trạng và giải pháp nâng cao hi ệu quả sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ

b ản ở thành phố Đồng Hới giai đoạn 2007 - 2009” làm khóa luận tốt nghiệp.

Mục đích nghiên cứu

Phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng VĐT từ NSNN trên cơ sở đó đề xuất một sốgiải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách Nhà nước cho đầu tư XDCB

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vốn của ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây

dựng cơ bản

Đại học Kinh tế Huế

Trang 3

Phạm vi nghiên cứu:

Nội dung nghiên cứu chủ yếu tập trung vào vấn đề sử dụng vốn ngân sách cho

đầu tư XDCB trên địa bàn thành phố Đồng Hới những mặt đạt được, chưa được trong giaiđoạn từ năm 2007 - 2009 Từ đó đưa ra một số giải pháp sử dụng hiệu quả vốn ngân sách

trên địa bàn trong giai đoạn tiếp theo

Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này em đã sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp tổng hợp và phân tích thống kê số liệu thứ cấp theo thời gian

- Phương pháp điều tra, thu thập thông tin, số liệu

- Phương pháp tổng hợp, đánh giá và tổng kết thực tiễn

- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

Ngoài ra em còn sử dụng các bảng biểu, sơ đồ, biểu đồ để mô tả các kết quả trong quátrình nghiên cứu của mình

Kết cấu của khóa luận:

Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận và phụ lục Phần nội dung nghiên cứu được chia làm 4chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Tổng quan về thành phố Đồng Hới

Chương 3: Thực trạng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơbản ở thành phố Đồng Hới giai đoạn 2007 -2009

Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách Nhà

nước cho đầu tư xây dựng cơ bản ở thành phố Đồng Hới

Do hạn chế về mặt thời gian, trình độ và kinh nghiệm bản thân nên khóa luậnkhông tránh khỏi những sai sót nhất định Em rất mong nhận được sự giúp đỡ cũng như

đóng góp của thầy cô giáo trường Đại học Kinh Tế Huế và các cô chú, anh chị ở Kho Bạc

Nhà Nước Tỉnh Quảng Bình để khóa luận được hoàn thiện hơn

Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

xã hội ở mọi quốc gia Song quan niệm về ngân sách Nhà nước lại chưa thống nhất, người

ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về NSNN tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiêncứu Các nhà kinh tế Nga quan niệm: "NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiềntrong một giai đoạn nhất định của quốc gia"

Ở Việt Nam, luật Ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội Việt Nam thông qua

ngày 16/12/2002 định nghĩa: "Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà

nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một

năm để bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước"

Ngân sách Nhà nước bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương.Ngân sách Trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chínhphủ và các cơ quan khác ở Trung ương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của

đơn vị hành chính các cấp có HĐND và UBND

Về bản chất, NSNN là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể

khác như doanh nghiệp, cơ quan hành chính sự nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong vàngoài nước gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách

 Vai trò của ngân sách Nhà nước

NSNN là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sảnxuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội

Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

Điều tiết trong kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế

NSNN là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triểnsản xuất kinh doanh và chống độc quyền

Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹđạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho

nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững

Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho

cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở

đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp

thuộc mọi thành phần kinh tế Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp

Nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thịtrường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo Và trong những điều kiện cụ

thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triểncủa các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển

sang cơ cấu mới hợp lý hơn Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài

chính thông qua thuế, NSNN đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thíchhoặc hạn chế sản xuất kinh doanh

Gi ải quyết các vấn đề xã hội

Trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặcbiệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàngthiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống

mù chữ, hỗ trợ đồng bào bão lụt

Góp ph ần ổn định thị trường, chống lạm phát

Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng những mặt hàng mang tính

chất chiến lược Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất, thuế xuất nhậpkhẩu, dự trữ quốc gia Kiềm chế lạm phát cùng với ngân hàng trung ương với chính sáchtiền tệ thích hợp NSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chỉ tiêu của chính

Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

 Hệ thống ngân sách Nhà nước Việt Nam

Căn cứ trên Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6.6.2003 của Chính phủ thì hệ

thống ngân sách địa phương ở Việt Nam hiện nay lại được tổ chức theo mô hình lồng

ghép Theo đó, ngân sách địa phương bao gồm ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trungương (gọi chung là ngân sách tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các

huyện; ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sáchhuyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách của các xã; và ngân sách các xã,

phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách xã)

Sơ đồ 1: Hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam theo quy định hiện hành

1.1.2 Vốn NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản

Vốn ngân sách được hình thành từ vốn tích lũy của nền kinh tế và được Nhà nướcduy trì trong kế hoạch ngân sách để cấp cho các đơn vị thực hiện các kế hoạch Nhà nước

hàng năm, kế hoạch 5 năm và kế hoạch dài hạn

Đối với cấp hành chính là huyện, thị xã thì việc nhận vốn ngân sách cho đầu tư

bao gồm VĐT của Nhà nước cấp thông qua sở tài chính, vốn ngân sách của Tỉnh

Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

Bất kỳ một quá trình tăng trưởng hoặc phát triển kinh tế nào muốn tiến hành được

đều phải có VĐT, VĐT là nhân tố quyết định để kết hợp các yếu tố trong sản xuất kinh

doanh Nó trở thành yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu đối với tất cả các dự án đầu tư choviệc phát triển kinh tế đất nước

Nghị định số 385-HĐBT ngày 07/11/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là ChínhPhủ) về việc sửa đổi, bổ sung thay thế điều lệ quản lý đầu tư xây dựng cơ bản đã ban hành

theo Nghị định số 232-CP ngày 06/6/191 khái niệm “Vốn đầu tư XDCB là toàn bộ chi phí

cho việc khảo sát, quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu tư chi phí thiết kế xây dựng, chi phí mua sắm và lắp đặt thiết bị và các chi phí khác ghi trong tổng dự toán”.

Các nguồn lực thuộc quyền sở hữu và chi phối toàn diện của Nhà nước được sửdụng cho hoạt động đầu tư XDCB được gọi là VĐT XDCB từ NSNN

NSNN với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước tham giahuy động và phân phối VĐT thông qua hoạt động thu, chi nhân sách

Căn cứ vào phạm vi, tính chất và hình thức cụ thể, VĐT XDCB từ NSNN đượchình thành từ các nguồn sau:

- Nguồn vốn thu trong nước (Thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ bán, chothuê tài sản, tài nguyên của đất nước… và các khoản thu khác)

- Nguồn vốn từ nước ngoài (vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA nguồnviện trợ phi Chính phủ)

- VĐT XDCB của ngân sách địa phương được hình thành từ các khoản thungân sách địa phương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích của từng địaphương (tỉnh, huyện, xã) quản lý thực hiện

Mức độ kế hoạch hóa, VĐT từ NSNN được phân chia thành:

- VĐT xây dựng tập trung: nguồn vốn này được hình thành theo kế hoạchvới tổng mức vốn và cơ cấu vốn do Thủ tưởng Chính phủ quyết định giao cho từng Bộ,Ngành và từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

- VĐT XDCB từ nguồn thu được để lại theo Nghị quyết của Quốc hội: thu

từ thuế nông nghiệp, thu bán, cho thuê nhà của Nhà nước, thu cấp đất, chuyển quyền sửdụng đất…

- VĐT XDCB theo chương trình quốc gia

- VĐT XDCB thuộc NSNN nhưng được để lại đơn vị để đầu tư tăng cường

cơ sở vật chất như : truyền hình, thu học phí…

Nguồn VĐT XDCB từ NSNN phần lớn được sử dụng để đầu tư cho các dự ánkhông có khả năng thu hồi vốn trực tiếp, có vốn đầu tư lớn, có tác dụng chung cho nền

KT - XH mà các thành phần kinh tế khác không có khả năng hoặc không muốn tham gia

đầu tư Nguồn vốn cấp phát không hoàn lại này từ NSNN có tính chất bao cấp nên dễ bị

thất thoát, lãng phí, đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ Vốn ngoài nước thường phụ thuộc vào

điều kiện nhà tài trợ đặt ra, cũng làm cho việc quản lý bị chi phối Đối với viện trợ không

hoàn lại thường do phía nước ngoài điều hành nên giá thành cao

VĐT từ NSNN chủ yếu được đầu tư cho các dự án sau:

- Các dự án kết cấu hạ tầng KT - XH, quốc phòng-an ninh không có khảnăng thu hồi vốn và được quản lý sử dụng phân cấp chi NSNN cho đầu tư phát triển

- Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sựtham gia của Nhà nước theo quy định của Pháp luật

Chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập quy hoạch tổng thể phát triển KT

-XH vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi được Chính phủ chophép

1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn NSNN

Nền kinh tế luôn luôn tồn tại mâu thuẩn, một bên là nhu cầu xã hội có tính vô hạn

và một bên là nguồn lực khan hiếm, có hạn để tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ nhằmthỏa mãn nhu cầu xã hội Việc đo lường đánh giá hiệu quả VĐT trở nên rất cần thiết đặcbiệt là đối với nền kinh tế kém phát triển có thu nhập thấp như nước ta

Lợi ích của VĐT mang lại bao gồm lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội Biểu hiện củalợi ích kinh tế là tăng thu nhập quốc dân, nâng cao mức sống, làm thay đổi cơ cấu và thúc

Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

đẩy nền kinh tế phát triển, từ đó làm tăng thu NSNN, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm chi phí,

cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, bảo vệ môi trường Lợi ích xã hội biểu hiện lợi íchchính trị, quốc phòng, an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội, phát triển văn hóa, tăng

cường sự bình đẳng và quyền lợi của các quốc gia dân tộc

a Một số chỉ tiêu kết quả sử dụng vốn:

- Kh ối lượng VĐT thực hiện:

Là tổng số tiền đã chi đã tiến hành các hoạt động của các công cuộc đầu tư baogồm: các công tác cho chi phí xây lắp, chi phí cho công tác mua sắm trang thiết bị, các chi

phí khác theo quy định của thiết kế dự toán và được ghi trong dự án đầu tư được duyệt

- Các lo ại chi phí trong xây dựng:

Bao gồm: Chi phí phá và tháo dở các vật kiến trúc Chi phí san lấp mặt bằng xâydựng chi phí xây dựng các hạng mục công trình chi phí mua sắm, vận chuyển, lắp đặtthiết bị Chi phí bảo dưỡng thiết bị, công trình Chi phí lập báo cáo nghiên cứu tiền khảthi, Chi phí tuyên truyền quảng cáo Chi phí khởi công công trình, chi phí đền bù đất đai,giai phóng mặt bằng

b Một số chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn

- Ch ỉ tiêu ICOR: phản ánh mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng qua công thức:

ICOR= I /∆GDP Hay I = ICOR x GDP

Trong đó:

ICOR: là hệ số tỷ lệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội

I : vốn đầu tư

∆ GDP: mức thay đổi trong tổng sản phẩm quốc nội

Hệ số ICOR cho biết trong thời kỳ cụ thể muốn tăng thêm 1 đồng GDP thì cần

bao nhiêu đồng VĐT Hệ số này càng thấp thì hiệu quả VĐT càng cao Nếu hệ số ICORkhông đổi thì tỷ lệ giữa VĐT so với GDP sẽ quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế (tỷ lệđầu tư càng cao thì tốc độ tăng trưởng càng cao và ngược lại)

Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

Tuy nhiên vì sự cần thiết phải thỏa mãn các giả thiết khi tính toán ICOR, người tachỉ sử dụng hệ số này vào kế hoạch hóa kinh tế ngắn hạn (quý, nửa năm hoặc một năm).

Qua đó người ta có thể thấy được vốn đầu tư so với các nhân tố tăng trưởng khác có ý

nghĩa thế nào đối với tăng trưởng sản lượng ICOR càng cao chứng tỏ vốn đầu tư càngquan trọng

Hệ số ICOR đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng các kế hoạch kinh tế

Đây là chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi nhất trong việc tính toán nhu cầu VĐT theo các mô

Hi: Hiệu suất VĐT trong kỳ

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội trong kỳ

I: Tổng mức VĐT trong kỳ

- Ch ỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư

Các kết quả đạt được do thực hiện đầu tư

Tổng VĐT thực hiệnCông thức này phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh,diạch vụ và nâng cao đời sống nhân dân của tổng VĐT đã bỏ ra trong một thời kỳ so vớithời kỳ khác (hoặc so với định mức chung) Chỉ tiêu này tỷ lệ thuận với kết quả thu được,kết quả đầu ra nhiều thì hiệu quả đạt được cao Nó có thể định lượng thông qua các chỉ

tiêu như: giá trị TSCĐ tăng thêm, số km đường, số nhà máy nước, điện

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn ngân sách đầu tư XDCB

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VĐT thuộc NSNN

M ột là công tác quy hoạch và kế hoạch đề ra

Công tác quy hoạch và kế hoạch hoá hoạt động đầu tư (gọi tắt là kế hoạch hoá

đầu tư) vừa là nội dung vừa là công cụ quản lý đầu tư Để nâng cao hiệu quả sử dụng

Hiệu quả hoạt động đầu tư

Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

VĐT XDCB thì công tác quy hoạch kế hoạch đầu tư phải xuất phát từ nhu cầu của pháttriển kinh tế Mục đích đầu tư cuối cùng của hoạt động đầu tư XDCB là tái sản xuất giản

đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở kỷ thuật cho nền sản xuất xã hội Do đó nhu cầu

của nền kinh tế là xuất phát điểm cho việc lập quy hoạch và công tác kế hoạch hoá phảidựa vào định hướng lâu dài của Nhà nước, phù hợp với quy định của Pháp luật Kế hoạch

đầu tư phải dựa trên khả năng huy động của nguồn lực trong nước và ngoài nước đảm bảo

tính vững chắc và có mục tiêu rõ rệt Công tác quy hoạch và kế hoạch phải đảm bảo tínhkhoa học, tính đồng bộ và tính liên tục Có như vậy thì hiệu quả sử dụng VĐT XDCB mới

được nâng cao, ngược lại công tác quy hoạchh, công tác kế hoạch tính khoa học không

cao, không xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế, không có mục đích rõ rệt, không cótính bền vững thì dẽ gây nên lãng phí thất thoát VĐT XDCB

Có thể khẳng định quy hoạch ảnh hưởng đặt biệt quan trọng đến hiệu quả củahoạt động đầu tư XDCB Thực tế đầu tư XDCB trong những năm qua cho thấy, nếu quyhoạch yếu thì tình trạng các công trình không đưa vào sử dụng được hoặc thua lỗ kéo dàiphải phá sản như Nhà máy Đường, Cảng cá, Chợ đầu mối… Quy hoạch dàn trải sẽ làmcho việc đầu tư XDCB manh mún không có hiệu quả

Hai là chính sách kinh t ế

Các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sử dụngVĐT Đó là chính sách dịch vụ thương mại, chính sách đầu tư…Các chính sách điều tiếtkinh tế vĩ mô, vi mô như chính sách tài khoá (chủ yếu là chính sách thuế và chính sách chitiêu của Chính phủ), chính sách tiền tệ (công cụ chính sách lãi xuất và mức cung tiền),chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách khấu hao…

Chính sách kinh tế góp phần tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo điều kiện cho nềnkinh tế phát triển theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực, VĐT được sử dụng có hiệu quảcao hay thấp Các chính sách kinh tế tác động vào lĩnh vực đầu tư góp phần tạo ra một cơcấu đầu tư nhất định, là cơ sở để hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý hay không hợp lýcũng như tác động làm tăng hoặc giảm thất thoát VĐT, theo đó mà VĐT được sử dụng có

Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

Trong quá trình khai thác sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành, các chínhsách kinh tế tác động làm cho đối tượng này phát huy tác dụng tích cực hay tiêu cực, tức

là làm cho VĐT được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp

Ba là công tác t ổ chức quản lý vốn đầu tư xây dựng

Tổ chức quản lý VĐT xây dựng là một lĩnh vực rộng bao gồm nhiều nội dungnhằm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh phù hợp với chiếnlược phát triển KT - XH trong từng thời kỳ nhất định để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng CNH - HĐH đất nước Sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn VĐT do Nhà nướcquản lý, chống thất thoát, lãng phí, bảo đảm dự án được xây dựng đúng quy hoạch, mỹquan, bền vững, đảm bảo môi trường sinh thái, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnhtrong đầu tư xây dựng, áp dụng công nghệ tiên tiến với chi phí hợp lý, tổ chức quản lýchặt chẽ theo đúng trình tự XDCB đối với các dự án thuộc nguồn vốn NSNN Phân định

rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan quản lý Nhà nước, chủ đầu tư, tổ chức tư vấn

và nhà thầu trong quá trình đầu tư và xây dựng, nhằm sử dụng có hiệu quả VĐT Chấtlượng của công tác quản lý đầu tư sẽ tạo điều kiện cho việc tiết kiệm hay thất hoát, lãngphí VĐT, cũng như tạo điều kiện cho các kết quả đầu tư tăng hay giảm về mặt khối lượng

và mang lại nhiều hay ít các lợi ích KT - XH khi khai thác sử dụng có hiệu quả đầu tưnày Chính do những thiếu sót trong công tác quản lý đầu tư xây dựng đã làm cho VĐT bịthất thoát, lãng phí Một số đối tượng đầu tư hoàn thành mang lại hiệu quả sử dụng khôngnhư mong muốn về lợi ích KT - XH chính là những nguyên nhân làm cho VĐT kém hiệuquả

B ốn là tổ chức khai thác, sử dụng cho các đối tượng đầu tư hoàn thành

Tổ chức khai thác, sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành sẽ tạo ra một khốilượng cung ứng hàng hoá dịch vụ nhất định So sánh khối lượng hàng hoá dịch vụ này vớinhu cầu hàng hoá dịch vụ của nền kinh tế sẽ xác định lợi ích kinh tế của VĐT

Nhóm nhân tố tổ chức khai thác sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành, với vịtrí riêng có vai trò quan trọng trong sự tác động độc lập và theo mối liên hệ tác động lẫnnhau giữa chúng có tác động tổng hợp đến kết quả sử dụng VĐT

Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

1.2 Cơ sở thực tiễn

Hiện nay, với nền kinh tế thị trường phát triển, các nước phát triển và đang pháttriển dành vốn đầu tư XDCB vào phát triển hạ tầng, các cở sở kinh tế lớn mà tư nhân khó

có thể đầu tư được và dùng chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua

con đường tín dụng Nhà nước Đầu tư vào các cơ sở sản xuất chủ yếu là các doanh nhiệp

tư nhân, các tập đoàn kinh doanh Trên thế giới có rất nhiều nước đã sử dụng hiệu quảVĐT XDCB, gần với Việt Nam nhất có các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan,

Singpore Ở những nước này mặc dù nền kinh tế có phát triển nhưng họ vẫn chú trọng

đến đầu tư phát triển cơ sở sản xuất vừa và nhỏ Khuyến khích mọi thành phần kinh tế bỏ

vốn vào đầu tư Nhà nước chỉ tham gia vào những công trình dự án lớn và đầu tư vào dịch

vụ công cộng Với phương châm cần tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại, các cơ sở

hạ tầng phải đi trước một bước để phục vụ phát triển kinh tế vùng miền núi, nông thônnhằm chuyển biến tích cực cơ cấu kinh tế Các nước trong khu vực Đông Nam Á đều có

chính sách đầu tư mạnh cho phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, miền núi, đường, điện, hệ

thống thông tin liên lạc, kiên cố hóa kênh mương thủy lợi Nhìn chung chính sách ĐTPT

cơ sở hạ tầng là chính sách lớn trong đường lối phát triển kinh tế và chiếm tỷ trọng cao

trong chi tiêu của Chính phủ các nước

Việt Nam những năm vừa qua, về lĩnh vực đầu tư XDCB đã có sự chuyển biếnrất tích cực, góp phần đáng kể vào việc thực hiện các mục tiêu KT - XH của đất nước.Nổi bật là: hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này được tiếp tục hoàn thiện, khắc phục cơbản các vướng mắc và sự thiếu đồng bộ Tổng số vốn giải ngân đạt mức cao nhất từ trướctới nay; trong đó, lượng giải ngân các dự án thuộc nguồn vốn NSNN, trái phiếu Chínhphủ tăng cao

Từ thực tế nguồn vốn dành cho đầu tư XDCB ngày càng gia tăng, và tốc độ tăngcho chi ĐTPT từ nguồn NSNN trong cân đối luôn cao hơn tốc độ tăng chi thường xuyên

và tăng hơn tốc độ tăng chi của ngân sách địa phương, đã thể hiện sự công khai hệ thốngtài chính công; thông qua đó cho thấy trách nhiệm của Chính phủ trong việc quyết định

Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

tổng nguồn vốn đầu tư cho XDCB ở nước ta là 174.435 tỷ đồng, trong đó vốn NSNN là98.818 tỷ đồng chiếm 56,65% , còn lại là vốn vay và vốn của các doanh nghiệp Nhà nước.

Tuy nhiên, do khối lượng dự án, lượng vốn tăng nên khối lượng công việc củacác chủ đầu tư, cơ quan chủ quản đầu tư tăng lên đột biến trong khi năng lực cũng như lực

lượng cán bộ làm công tác quản lý đầu tư của các đơn vị chưa kịp đáp ứng

Nhằm khai thác tiềm năng lợi thế kinh tế và duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao,Tỉnh uỷ - UBND tỉnh Quảng Bình đã có nhiều chủ trương, chính sách sử dụng có hiệuquả các nguồn lực phát triển KT - XH, đặc biệt là nguồn VĐT Tổng số VĐT toàn xã hội

qua 20 năm đạt 26.024 tỷ đồng Vốn ngân sách thành phố quản lý tăng nhanh hàng năm,

thể hiện quyết tâm huy động nguồn vốn cho đầu tư phát triển

Với những cố gắng nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh nhà trongviệc huy động sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho phát triển, hệ thống cơ sở hạtầng, tiềm năng lợi thế được khơi dậy và từng bước phát triển có kết quả; năng lực sảnxuất của các ngành kinh tế tăng lên đáng kể Đời sống nhân dân có chuyển biến tích cực

cả về vật chất lẫn tinh thần Đã hình thành các vùng chuyên canh tập trung sản xuất hàng

hoá tương đối lớn Các vùng kinh tế động lực từng bước được hình thành và trở thành

những trung tâm thu hút đầu tư hấp dẫn Về khu công nghiệp Tây Bắc, làng nghề truyềnthống đã dược hỗ trợ một phần ngân sách để phát triển cơ sở hạ tầng

Trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn, địa phương đã ưu tiên hàng đầu

cho việc xây dựng các công trình phúc lợi xã hội như: nâng cấp, xây dựng các trường học,trụ sở làm việc cho các xã, phường, triễn khai thực hiện các đề án xã hội hoá về nâng cấp

và phát triển hệ thống chợ, lát gạch vĩa hè, phát triển hệ thống cây xanh đường phố, thugom, xử lý rác thải, xây dựng công trình vệ sinh và hệ thống giao thông nông thôn Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI

Thành phố Đồng Hới là một đơn vị hành chính gắn liền với quá trình hình thành,phát triển của tỉnh Quảng Bình

Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, thành phố Đồng Hới vẫn khôngngừng phát triển Trong thời kỳ 1964 - 1975, cùng với Quảng Bình, Đồng Hới vừa làtuyến đầu đánh Mỹ vừa là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam anh hùng,

nơi đã có những phong trào “xe chưa qua nhà không tiếc, đường chưa thông không tiếc

máu, tiếc xương”,"chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi"… những tên làng, tên đất, tên người như:dòng Nhật Lệ, trận địa pháo lão dân quân Đức Ninh, em bé Bảo Ninh, các anh hùng:Quách Xuân Kỳ, Trương Pháp, Lê Trạm, Nguyễn Thị Suốt, Nguyễn Thị Khứu, Phạm Thị

Nghèng… đã đi vào lịch sử

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, năm 1976 tỉnhBình Trị Thiên được thành lập trên cơ sở sát nhập 3 tỉnh Quảng Bình - Quảng Trị - ThừaThiên Huế, thành phố Đồng Hới chỉ giữ vai trò trung tâm kinh tế văn hoá của các huyện,khu vực phía Bắc Sau ngày tái lập tỉnh Quảng Bình (tháng 7/1989), Đồng Hới trở lại vaitrò là trung tâm tỉnh lỵ, nơi có vai trò là động lực phát triển của cả tỉnh Đồng thời xâydựng thành phố Đồng Hới theo tiêu chuẩn đô thị hiện đại, nhằm từng bước nâng cao chất

lượng đô thị hạt nhân, tác động thúc đẩy tiến trình đô thị hoá trên địa bàn toàn tỉnh

Kết quả sự phấn đấu nỗ lực không ngừng của Đảng bộ, quân và dân Đồng Hới đã

được khẳng định, ngày 28/10/2003 Bộ Xây dựng có quyết định công nhận Đồng Hới là đô

thị loại III và chỉ 10 tháng sau, ngày 16/8/2004, Chính phủ đã có Nghị định thành lậpthành phố Đồng Hới trực thuộc tỉnh Quảng Bình Đây là niềm tự hào và vinh dự lớn, làmốc son quan trọng đánh dấu quá trình xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ và nhândân thành phố Đồng Hới nói riêng, tỉnh Quảng Bình nói chung, đồng thời là động lực

thúc đẩy đảng bộ, quân và dân thành phố tiếp tục phấn đấu xây dựng thành phố ngày

Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

2.1 Đặc điểm tự nhiên

Thành phố Đồng Hới, trực thuộc tỉnh Quảng Bình nằm trên quốc lộ 1A, đườngsắt Thống nhất Bắc Nam và đường Hồ Chí Minh, có vị trí địa lý 17o21’ vĩ độ bắc và

106o10’ kinh độ đông với diện tích tự nhiên là 155,54 km2.

Thành phố có vị trí trung độ của tỉnh Quảng Bình, cách khu du lịch di sản thiênnhiên thế giới vườn quốc gia Phong nha - Kẻ Bàng 50 km, cách khu du lịch suối Bang 50

km, cách khu cụm Cảng biển Hòn La 60 km và cửa khẩu quốc tế Cha Lo 180 km, ĐồngHới nằm ngay dọc bờ biển, có sông Nhật Lệ chảy giữa lòng thành phố, bờ biển với chiềudài 12 km về phía Đông thành phố và hệ thống sông, suối, hồ, rừng nguyên sinh ở phíatây thành phố rất thích hợp cho phát triển du lịch, nghỉ ngơi, giải trí Phía Bắc giáp huyện

Bố Trạch, phía Nam giáp huyện Quảng Ninh, phía Đông giáp biển, phía tây giáp huyện

Bố Trạch và huyện Quảng Ninh

Nằm trên trục giao thông bắc Nam về đường sắt, đường bộ và đường hàng không,

có hệ thống cảng biển Nhật Lệ, Đồng Hới hiện đang hình thành các trung tâm dịch vụ,

thương mại và các khu công nghiệp của Tỉnh Các trung tâm này có khả năng tồn tại lâu

dài và mở rộng ảnh hưởng trong khu vực và quan hệ Quốc tế Sự phát triển khu vực kinh

tế Bắc Trung Bộ và khu vực kinh tế trọng điểm miền trung và cửa khẩu Quốc Tế Cha Lo

đã tạo cơ hội cho thành phố cũng như tỉnh Quảng Bình phát triển

Cơ cấu hành chính của thành phố bao gồm 10 phường nội thành (Hải Đình, ĐồngPhú, Đồng Mỹ, Nam lý, Bắc Lý, Phú Hải, Đồng Sơn, Hải Thành, Bắc Nghĩa, Đức NinhĐông) và 6 xã ngoại thành (Nghĩa Ninh, Đức Ninh, Bảo Ninh, Lộc Ninh, Thuận Đức,

Quang Phú) Có thể nói rằng thành phố Đồng Hới là nơi hội tụ nhiều điều kiện để pháttriển KT - XH theo hướng CNH - HĐH, sớm hội nhập vào xu thế chung của cả nước vàhợp tác Quốc tế

2 2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.2.1 Nguồn lao động, dân số và thu nhập

Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

Bảng 1: Dân số trung bình của Đồng Hới năm 2007 - 2009

( Nguồn: niên giám thống kê 2009)

Dân số Đồng Hới có xu hướng tăng khá nhanh, Năm 2005 là 101,085 người đến

năm 2009 dân số thành phố đạt 108.526 người mật độ dân số trung bình năm 2009 là 697người/km2 Số người nằm trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao trong tổng số dân củathành phố Nguồn lao động chủ yếu nằm trong độ tuổi từ 15 - 35, có trình độ chuyên môn

kỹ thuật đã qua đào tạo cao

Trong những năm tới, do tốc độ đô thị hóa cùng với hiện tượng di dân từ các địa

phương khác đến Trình độ học vấn và tay nghề của đại đa số lực lượng lao động tăng lên

và khả năng sẽ tăng nhanh hơn nếu có chính sách thu hút lao động giỏi về làm việc tạitỉnh nhà Đến nay, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 35% tổng số lao động trên địa bàn

Năm 2009 đã giải quyết việc làm cho và tạo thêm việc làm mới cho 6.500 lao động Với

việc thực hiện đề án xóa đói giảm nghèo, đến nay tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 2.43% Thunhập bình quân đầu người đạt 760 USD/năm

2.2.2 Tình hình cơ sở hạ tầng thành phố Đồng Hới

Trong những năm qua, rất nhiều các trụ sở cơ quan, nhà ở và công trình mới được

đầu tư xây dựng Nhìn chung các công trình này được xây dựng chủ yếu tập trung vào các

tuyến phố mới và dọc theo quốc lộ 1A và dọc theo các trục đường chính Công trình khákhang trang, tạo lập được bộ mặt mới cho đô thị và những nét thay đổi lớn cho thành phố

Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

Đồng Hới nói riêng và tỉnh Quảng Bình nói chung.

Hệ thống giáo dục đã có chuyển biến mới về quy mô cũng như chất lượng Thànhphố Đồng Hới hiện có 39/60 trường đạt chuẩn quốc gia Cơ sở vật chất của các trườngkhông ngừng được đầu tư nâng cấp, đảm bảo chất lượng dạy và học ngày càng được nânglên Các công trình văn hóa như tượng đài mẹ Suốt, thư viện Tỉnh, nhà văn hóa Tỉnh,thành phố, phường, xã đã đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân

Về các công trình thương mại, dịch vụ đã được hình thành Toàn thành phố hiện

có 12 chợ Hai chợ lớn là Đồng Hới và Nam Lý đóng vai trò trung tâm thương mại chínhcủa thành phố

Từ năm 1989 đến nay thành phố Đồng Hới đã xây dựng và phát triển rất nhanh,

đặc biệt là khu vực Đồng Hới cũ (Khu vực I: Đồng Phú, Đồng Mỹ, Hải Đình) Hệ thốngđường giao thông hầu như đã được hoàn thiện Tuy nhiên, chất lượng còn chưa đồng đều,

chỉ giới đường không rõ ràng, lộ giới một số đường còn nhỏ hẹp

Trong công nghiệp đã xây dựng khu công nghiệp Tây Bắc Đồng Hới, nhà máygạch Tuy nen, Nhà máy Thanh Nhôm định hình: 2.000 tấn/năm Trong giao thông vận tải,cầu Nhật Lệ đã đưa xã Bảo Ninh phát triển thành khu du dịch, khu đô thị mới

Giai đoạn 2000 - 2005, vốn đầu tư XDCB trên địa bàn là 2354 tỷ đồng, gấp 2,5

lần so với giai đoạn 1995 - 2000; trong đó vốn NSNN chiếm 27,26%, vốn tín dụng 8,8%,vốn tự có chiếm 25,24%, vốn huy động trong dân 45,42% Tốc độ tăng vốn trong giai

đoạn này là 20,69%

Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

Biểu đồ 1: Cơ cấu nguồn vốn cho đầu tư XDCB giai đoạn 2000 - 2005

45,42%

27,26%

8,8%

25,24%

Vốn NSNN Vốn tín dụng Vốn tự có Vốn huy động trong dân

Bên cạnh những tiến bộ đã đạt được, công tác đầu tư XDCB ở thành phố trongthời gian qua còn bộc lộ không ít khó khăn, vướng mắc Tồn tại nhất là tình trạng thiếuquy hoạch trong đầu tư, chậm trong triển khai kế hoạch đầu tư, những bất cập trong côngtác triển khai đầu tư (như thẩm định, xét duyệt, chọn thầu ), tình trạng sơ hở trong quản

lý chất lượng dự án đầu tư và các vấn đề liên quan đến vận hành, bảo dưỡng công trình

sau đầu tư, đầu tư dàn trãi, khép kín Nguyên nhân của những yếu kém trên một phần là

do chưa có một cơ chế quản lý đầu tư XDCB đồng bộ cho cả quá trình bàn hành quyếtđịnh đầu tư Tình trạng này kéo dài trong nhiều năm nhưng chưa có cơ quan chủ trì cùngcác ban ngành liên quan đúc rút, đưa ra giải pháp triệt để để khắc phục

2.2.3 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội

Năm 2010, là năm cuối cùng thực hiện kế hoạch 5 năm 2006 – 2010, việc thực

hiện nhiệm vụ kinh tế, xã hội của thành phố có những thuận lợi Qua 4 năm thực hiệnthành phố đã đạt được thắng lợi bước đầu quan trọng về kinh tế, xã hội Tình hình chínhtrị, xã hội khá ổn định Tiền đề phát triển kinh tế xã hội đã được bộc lộ Những kết quả

đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, một số công trình giao thông

quan trọng khác, các chương trình và dự án trong nông nghiệp, thuỷ sản bước đầu pháthuy tác dụng

Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

Bên cạnh đó, làn sóng đầu tư của các doanh nghiệp vào Tỉnh đang tăng nhanh, cónhiều nhà đầu tư đăng ký đầu tư xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệptrong thành Một số doanh nghiệp sau thời gian đầu tư ở thành phố, đến nay đã đi vào sảnxuất, tạo ra sản phẩm mới, điều này sẽ đóng góp lớn vào giá trị sản xuất ngành côngnghiệp Quy hoạch tổng thể, quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng đô thị đã cơ bản hoànthành; các cấp, các ngành đã xây dựng được chương trình hành động Việc hội nhập kinh

tế quốc tế sẽ có tác động mạnh vào kinh tế chung của cả nước Tuy vậy, nền kinh tế chủyếu là nông nghiệp, kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội chưa đáp ứng nhu cầu phát triển vớinhịp độ cao, tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn thấp, vốn đầu tư thiếu, nguồn thu hạn chế.Nhiều vấn đề xã hội bức xúc phải tiếp tục quan tâm giải quyết

Với quyết tâm xây dựng lại quê hương “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Bác Hồ

đã dạy, Đảng bộ, quân và dân Đồng Hới phát huy ý chí tự lực, tự cường, ý Đảng, lòng dân

hoà quyện, xây dựng quê hương ngày càng đổi thay trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2001-2005 là 12,5%, dự báo tốc độ này sẽtăng trong giai đoạn 2006 - 2010 Đời sống của nhân dân sẽ ngày càng được nâng cao; tỷ

lệ hộ giàu ngày càng tăng, hộ nghèo ngày càng giảm và không có hộ đói

Bảng 2: Một số chỉ tiêu KT - XH chủ yếu của thành phố giai đoạn 2006 - 2009

Trang 21

2.2.4 Tiềm năng phát triển của thành phố Đồng Hới

Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học của tỉnh Quảng Bình, trong quátrình hình thành và phát triển, Thành phố Đồng Hới đã và đang đóng vai trò hết sức quantrọng cho việc phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉntriệu đồng nhà Đây thực sự là

nơi có nhiều tiềm năng phát triển mạnh mẽ và vững chắc Đồng Hới trở thành một địa

danh quen thuộc không chỉ trên giải đất miền Trung mà còn vang tiếng trên cả nước Nằmtrên trục quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt thống nhất Bắc Nam, đường biển,

các đường nối từ Đông sang Tây… Đồng Hới có một vị trí vô cùng thuận lợi trong việcgiao lưu phát triển trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, nằm ở vị trí chiếnlược quan trọng, với hành lang kinh tế thuận lợi trong giao lưu trong nước và quốc tế, đặc

biệt với nước bạn Lào, thuận lợi cho phát triển dịch vụ du lịch, thương mại, công nghiệp

hướng về xuất khẩu và thu hút VĐT

Nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn nguyên liệu từ nông, lâm, thuỷ sản khá đadạng, có thể khai thác để phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng, chế biến nông, lâm,thuỷ sản; ngoài ra, các nguồn tài nguyên khoáng sản khác như: nước khoáng nóng, cũng

là một nguồn lực đáng kể cần tập trung khai thác phát triển Tiềm năng phát triển du lịch

phong phú trên cơ sở kết hợp các loại hình du lịch quá cảnh, mua sắm, du lịch nghỉdưỡng, du lịch văn hoá - lịch sử, hoài niệm chiến trường xưa, du lịch tâm linh Nguồnlao động với lợi thế về chi phí lao động rẻ là điều kiện để mở rộng các ngành để thu hút

nhiều lao động như may mặc, xuất khẩu, giày da Ngoài ra bờ biển dài với nguồn tàinguyên khá phong phú, thuận lợi cũng là một thế mạnh để phát triển tổng hợp kinh tế

Trang 22

CHƯƠNG 3 THƯC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐẦU TƯ XÂY

DỰNG CƠ BẢN GIAI ĐOẠN 2007 - 2009

3.1 Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn giai đoạn 2007 - 2009

Trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và trong nước diễn biến phức tạp, khủnghoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động tiêu cực đến tình hình sản xuấtkinh doanh cả nước nói chung và Thành phố Đồng Hới nói riêng Ở một số ngành, nhiềudoanh nghiệp sản xuất kinh doanh bị thu hẹp, đình trệ, nhiều doanh nghiệp hoạt động cầmchừng Tuy nhiên, chính từ trong những khó khăn đó, vai trò điều hành của tỉnh, sự nỗ lực

để ổn định sản xuất kinh doanh, phát triển bức phá vượt khó đi lên của lực lượng doanh

nghiệp, cá nhân kinh doanh càng được thể hiện rõ Giai đoạn 2007 - 2009 là giai đoạn cónhiều biến động, trong chính sự biến động bất lợi như vậy, tình hình thu, chi ngân sách

trên địa bàn đã đạt được những thành tựu nhất định, thể hiện sự tăng trưởng của nền kinh

tế trong chính những giai đoạn khó khăn nhất

Bảng 3: Tình hình thu chi ngân sách thành phố Đồng Hới giai đoạn 2007 - 2009

( Nguồn: phòng hành chính - tổng hợp, KBNN)

3.1.1 Tình hình thu NSNN

Năm 2008, tổng thu ngân sách đạt mức 216.719 triệu đồng, tăng gần gấp đôi so

với năm 2007, tăng 97.093 triệu đồng UBND thành phố đã chỉ đạo các ngành chức năng,Chi cục Thuế thành phố đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu NSNN được giao tăng 35%

Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

so với kế hoạch đề ra Thu từ ngân sách thành phố vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu,chiếm 74,61% tổng thu Trong đó, nguồn thu tiền sử dụng đất là nguồn thu chiếm chiếm

tỷ lệ cao nhất, đóng góp vào tổng thu là: 17.025 triệu đồng, khoản thu này tăng 78,76% sovới năm 2007 (năm 2007 là 9.524 triệu đồng); tiếp theo là thu khu vực ngoài ngoài quốcdoanh và quốc doanh với mức đóng góp là 16.154 triệu đồng

Có thể nói, việc tăng nguồn thu ngân sách trong năm 2008 có nhiều lời giải, songcốt yếu đó chính là những chuẩn bị trong một thời gian dài cho hạ tầng cơ sở của nền kinh

tế, thu hút đầu tư và việc phát triển, khai thác có hiệu quả những nguồn lực mới Cácthành phần kinh tế đều được tạo điều kiện phát triển, quy mô sản xuất của nhiều doanhnghiệp ngày càng được mở rộng và nâng cao Kinh tế tập thể tiếp tục được duy trì, đónggóp ổn định trong cơ cấu kinh tế, kinh tế tư nhân tiếp tục có sự phát triển nhanh.Đây là

kết quả từ sự lãnh đạo, chỉ đạo của UBND thành phố, phối hợp của phòng ban chức năng

và nỗ lực phấn đấu của tập thể và cán bộ chi cục Thuế Đồng Hới với nhiều biện phápquản lý, khai thác nguồn thu, chống thất thu hiệu quả trên các lĩnh vực

3.1.2 Tình hình chi NSNN

Thành phố đã thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ chi phục vụ chính trị và phát triểnkinh tế xã hội theo dự toán HĐND giao Trong những năm qua cùng với nguồn bổ sungcủa Tỉnh, thành phố đã đảm bảo tập trung giải ngân hỗ trợ cho các dự án đầu tư phát triểnthành phố Các khoản chi NSNN đều thực hiện đúng chế độ và theo dự toán được duyệt,

đảm bảo hoạt động của nền kinh tế, xã hội

Trong giai đoạn 2007 - 2009, UBND thành phố chú trọng ưu tiên đầu tư cho sựnghiệp giáo dục, y tế Năm 2007 chi cho sự nghiệp giáo dục, y tế là 39.402 triệu đồng;khoản chi này tăng lên 8.168 triệu đồng, tăng 20,73% trong năm 2008 Và tăng 14.043triệu đồng, tăng 35,64% trong năm 2009 Song song với khoản chi giáo dục, chi cho đầu

tư phát triển cũng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu chi ngân sách thành phố Dự báo trong

những năm tới khoản chi này còn tăng cao do nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng gia tăng

Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

thị đang được UB thành phố tập trung đầu tư xây dựng và phát triển Khoản chi cho sựnghiệp giáo dục, y tế và chi cho ĐTPT tăng lên hàng năm tương ứng với mức tăng củatổng chi Hầu hết các khoản chi có xu hướng tăng lên so với những năm trước đó.

Nhìn chung, ngành Tài chính - Thuế đã chủ động cân đối ngân sách kịp thời, phốihợp với cơ quan thu để thu đúng, thu đủ, kịp thời các khoản thu vào NSNN phục vụ nhucầu chi cho Thành phố

Mặc dù có những thách thức do ảnh hưởng bối cảnh chung của suy thoái kinh tếthế giới và cả nước, nhưng với những giải pháp tích cực thành phố đã tập trung huy động

và khai thác tốt các nguồn thu, chủ động sắp xếp lại các nội dung chi tiêu hợp lý do vậy

đã đạt được những kết quả tốt trong điều hành thu chi ngân sách Qua 3 năm nghiên cứu

đã bội thu ngân sách

3.2 Thực trạng hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách ở thành phố Đồng Hới giai đoạn 2007 -2009

3.2.1 Nguồn vốn đầu tư phát triển thành phố Đồng Hới giai đoạn 2007 - 2009

Nhằm khai thác tiềm năng lợi thế kinh tế và duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao,Tỉnh uỷ - UBND tỉnh Quảng Bình đã có nhiều chủ trương, chính sách sử dụng có hiệuquả các nguồn lực phát triển, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội

qua 20 năm đạt 26.024 tỷ đồng Cơ cấu nguồn vốn đầu tư chuyển biến tích cực theo xuhướng tăng huy động nguồn nhân lực của toàn xã hội cho ĐTPT Thực hiện kế hoạch phát

triển thời kỳ 2006 - 2010, trong giai đoạn 2007 - 2009 thành phố đã huy động được một

lượng vốn tương đối lớn dành cho hoạt động đầu tư XDCB.Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

Bảng 4: Vốn đầu tư XDCB trên địa bàn thành phố Đồng Hới phân theo cấp quản lý

và nguồn hình thành giai đoạn 2007 - 2009

Chỉ tiêu

Giá trị (Trđ)

Kết cấu (%)

Giá trị (Trđ)

Kết cấu (%)

Giá trị (Trđ)

Kết cấu (%)

Trang 26

với năm 2007 Nguồn vốn do Tỉnh quản lý chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng cơ cấu nguồnvốn phân theo hình thức quản lý, chiếm trên 65% Riêng đối với nguồn vốn do Trung

Ương quản lý có biến động không đều và có xu hướng giảm Năm 2008 nguồn vốn doTrung Ương quản lý là 55.620 triệu đồng tuy nhiên sang năm 2009 nguồn vốn này đã

giảm xuống còn 47.482 triệu đồng Qua đây cho thấy, công tác phân cấp quản lý đã minhbạch và rõ ràng, Chính phủ đang dần hạn chế sự quản lý về VĐT và chuyển dần cho từngTỉnh, thành quản lý, điều này sẽ góp nâng cao hiệu quả sử dụng VĐT

Nguồn vốn NSNN chiếm trên 80%, vốn dự án chiếm trên 10%, còn lại là vốnnhân dân đóng góp và vốn khác Có thể khẳng định rằng nguồn vốn NSNN giữ vai trò đặcbiệt quan trọng trong việc định hướng đầu tư trên địa bàn, là công cụ để thành phố thựchiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành, các vùng thông qua phân bổ VĐT, tạo ramột khối lượng cơ sở hạ tầng lớn, tăng mức sống của nhân dân thông qua việc đầu tư cáccông trình phúc lợi xã hội trên địa bàn Vốn NSNN tùy theo từng năm, từng kế hoạch pháttriển mới được cấp Nguồn vốn huy động trong dân cư, tín dụng ưu đãi còn gặp nhiều khó

khăn

3.2.2 Nguồn vốn đã thực hiện cho đầu tư XDCB trên địa bàn thành phố Đồng Hới giai đoạn 2007 - 2009

3.2.2.1 Tổng VĐT từ ngân sách Nhà nước cho đầu tư XDCB do thành phố quản lý

Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

Bảng 5: Tổng vồn NSNN đã thực hiện cho XDCB ở thành phố Đồng Hới giai đoạn 2007 - 2009

ĐVT: Triệu đồng

Lượng tăng, giảm tuyệt

đối (Trđ) Tốc độ phát triển (%) Tốc độ tăng (%) Liên hoàn Định gốc Liên hoàn Định gốc Liên hoàn Định gốc

(Nguồn: phòng thanh toán vốn, KBNN)

Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

Là một thành phố mới nên cơ sở hạ tầng phát triển chưa đầy đủ, nhu cầu về VĐT

ở Đồng Hới là khá lớn Nhiều dự án phát triển đô thị, nhiều công trình phúc lợi đang rất

cần VĐT Hàng năm VĐT Nhà nước cấp cho địa phương là khá ổn định nhưng vẫn chưa

đáp ứng đủ nhu cầu cho đầu tư phát triển

Đối với nguồn vốn ngân sách, thành phố chủ trương sử dụng tiết kiệm có hiệu

quả, ưu tiên cho đầu tư công cộng, các dự án kinh tế trọng điểm; quản lý thống nhất kếthợp phân cấp cụ thể, công khai về vốn đầu tư Vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn ngânsách trong năm 2007 và năm 2008 ít có sự biến động Riêng trong năm 2009, tổng vốncho đầu tư XDCB có sự biến động mạnh, tăng 24.512 triệu đồng hay tăng 63,49% so với

năm 2008 Trong đó, ngân sách thành phố chiếm tỷ trọng lớn nhất, chiếm trên 70% tổng

sự biến đông mạnh này chủ yếu là do nguyên nhân sau:

- Nhu cầu xây dựng ngày càng tăng Nhiều trụ sở cơ quan được xây dựng mới hoặc

được tu bổ lại; nhiều công trình phúc lợi được xây dựng đáp ứng nhu cầu của

người dân thành phố Và để phòng chống bão lụt nhiều công trình kiên cố đượcxây dựng trên nhiều phường xã

- Giá vật liệu xây dựng, giá nhân công tăng nên một só dự án có thêm sự hỗ trợ vềnguồn vốn

- Năm 2009 là năm Chính phủ Việt Nam thực hiện gói kích cầu nên việc đầu tư tăng

một cách đáng kể

Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

Biểu đồ 2: Biểu đồ biểu hiện xu hướng sử dụng vốn đầu tư cho XDCB ở thành phố

Đồng Hới giai đoạn 2006 - 2009

36255 37219 38610

63122

010000

 V ốn đầu tư cho XDCB thành phố Đồng Hới phân theo cơ cấu nguồn vốn

Ở Việt Nam và các nước trên thế giới để hoàn thành một dự án có thể cần phải có

sự đóng góp của nhiều nguồn vốn khác nhau như nguồn vốn ODA, nguồn vốn mục tiêucủa Chính phủ hoặc nguồn vốn dự phòng hoặc nguồn vốn từ NSNN Tùy theo từng dự

án cụ thể mà tỷ trọng các nguồn vốn này là khác nhau Nhưng nếu đó là dự án do Nhà

nước làm chủ đầu tư thì nguồn vốn từ NSNN chiếm tỷ trọng khá lớn

Để phục vụ mục tiêu phát triển KT - XH và nâng cao đời sống nhân dân, UB

thành phố Đồng Hới đã kí quyết định cho xây dựng nhiều công trình, dự án chủ yếu là các

dự án phúc lợi, trường học, trạm y tế, các công trình hỗ trợ sau bão lụt Nguồn vốn cho

đầu tư XDCB được lấy từ nhiều nguồn, tùy theo từng điều kiện phát triển mà các nguồn

này có mức đóng góp khác nhau vào tổng nguồn vốn cho đầu tư XDCB Do vậy, cácnguồn vốn này thường không cố định, thay đổi hàng năm tùy theo mục đích sử dụng và

2006

Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

Bảng 6: Vốn đầu tư cho XDCB thành phố Đồng Hới phân theo cơ cấu nguồn vốn giai đoạn 2007 - 2009

(Nguồn: phòng thanh toán vốn, KBNN)

Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

Trong giai đoạn 2007 - 2009 VĐT cho XDCB có nhiều biến động Nguyên nhân

chủ yếu là do các nguồn hình thành vốn có sự thay đổi Các nguồn này thay đổi theo từng

năm, theo từng mục tiêu kế hoạch phát triển của thành phố Trong khi năm 2007 nguồn

vốn cho đầu tư XDCB chỉ bao gồm các nguồn: nguồn quỹ đất, nguồn huy động xây dựngchợ, vốn ĐTPT, nguồn vốn thu vượt, vốn tập trung, thì sang năm 2008 và 2009 cơ cấunguồn vốn đã tăng thêm 3 nguồn là: nguồn vốn hỗ trợ, nguồn vốn chuyển nguồn và nguồnvốn phân bổ Sự biến động của các nguồn hình thành vốn cho đầu tư XDCB cụ thể đượcbiểu hiện như sau:

Đối với nguồn vốn quỹ đất

Thành phố đã huy động nguồn vốn có nguồn gốc ngân sách để đầu tư hoàn thiện

cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện tốt nhất cho người dân đầu tư sản xuất và dịch vụ thương mại

Chủ tịch UBND thành phố Trần Đình Dinh cho rằng, "thế mạnh của thành phố chính là

đất đai, từ quỹ đất phải biết tạo ra vốn để đầu tư phát triển Vì thế, Thành phố sẽ đặc biệt

theo dõi sát sao tình hình bất động sản, tạo sinh khí mới cho các nhà đầu tư bất động sảnthông qua chính sách nhà ở của thành phố"

Đây là nguồn vốn tương đối ổn định và là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất

trong cơ cấu nguồn vốn cho đầu tư XDCB Trong công tác thu thuế, đối với thu nguồn sửdụng đất cơ quan Thuế kiên quyết không để hồ sơ tồn đọng Nguồn vốn này có xu hướng

tăng hàng năm Riêng đối với năm 2009 nguồn vốn này đã tăng gần như gấp đôi so với

năm 2008, đạt 28.737 triệu đồng tức là tăng 12.161 triệu đồng hay tăng 73,37% Hầu hết

đất đai trên địa bàn thành phố Đồng Hới đã được quy hoạch và đưa vào sử dụng, ý thức

người dân ngày càng cao trong việc nộp thuế sử dụng đất

Đối với nguồn vốn đầu tư phát triển:

Nguồn vốn cho đầu tư phát triển là nguồn vốn được ưu tiên dành cho đầu tư xâydựng các công trình trọng điểm, mua sắm các phần mềm quản lý, các trang thiết bị phục

vụ nhu cầu giảng dạy ở các trường trong thành phố đưa các trường học này đạt chuẩnquốc gia trong vài năm tới Mặc dù lĩnh vực đầu tư phát triển được chính quyền các cấp

Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

thể như sau: năm 2007 nguồn vốn này đạt 1.344 triệu đồng, đạt mức cao nhất trong 3 nămnghiên cứu Nhưng đến năm 2008 nguồn vốn này đã giảm xuống còn 68 triệu đồng, giảm3.076 triệu đồng tức là giảm 97,84% so với năm 2007.

Đối với nguồn vốn chuyển nguồn

Nguồn vốn chủ yếu là nguồn vốn từ năm 2006, 2007, 2008 chuyển sang, Nguồnvốn này có xu hướng tăng lên rõ rệt, chỉ trong 2 năm nguồn vốn này đã chiếm tỷ trọng lớntrong cơ cấu vốn và đã làm tăng lượng vốn cho đầu tư XDCB một cách đáng kể Năm

2008 lượng vốn này chỉ là 3.936 triệu đồng nhưng đến năm 2009 đã đạt 236,71% tức là

tăng một lượng là 5.381 triệu đồng Điều này thể hiện công tác giải ngân còn gặp nhiều

vướng mắc Nhiều dự án phải chuyển tiếp sang năm sau thực hiện do vốn giải ngân khôngkịp tiến độ thi công, một số dự án tiến độ thi công kéo dài sang năm sau đòi hỏi nguồnvốn phải chuyển năm sau sử dụng Thực hiện quy định về tính lồng ghép trong hệ thốngngân sách cũng làm khó tách bạch trách nhiệm trong việc giải ngân vốn chậm, lượng vốnchuyển nguồn tăng cao Luật Ngân sách nhà nước hiện hành cho phép được chuyểnnguồn NSNN năm trước chưa sử dụng sang năm sau Quy định này đã tháo gỡ vướngmắc trong việc xử lý nguồn cho các nhiệm vụ đã được bố trí, nhưng chưa thực hiện được,khắc phục tình trạng “chạy chi vào cuối năm” Mặt khác, việc cho phép chi chuyển nguồn

đã làm cho dòng lưu chuyển VĐT chưa được phản ánh đầy đủ trong cân đối NSNN

Đối với nguồn vốn hỗ trợ:

Là nguồn vốn được Chính phủ, UB Tỉnh hoặc UB Thành phố hỗ trợ vì mục tiêuphát triển hoặc hỗ trợ hậu quả bão lụt Nguồn vốn hỗ trợ ở thành phố Đồng Hới trong giai

đoạn 2007 - 2009 bao gồm:

+ Nguồn hỗ trợ kinh phí xây dựng và gia cố các công trình trước và sau mưa bão+ Nguồn vỗn hỗ trợ đô thị loại III

Năm 2008, nguồn vốn hỗ trợ là 1.755 triệu đồng, trong khi năm 2009 là 837 triệu

đồng Nguồn vốn này tăng giảm là do điều kiện từng năm mà trung ương cấp cho từng

tỉnh thành để hỗ trợ trước và sau bão lụt, hoặc để hỗ trợ các công trình mang tính chấtquốc gia

Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

Cơn bão số 8 và số 10 trong năm 2008 đã uy hiếp các tỉnh trong vùng duyên hảimiền Trung, nhiều nhà cửa và các công trình đang xây dựng dở dang bị hư hỏng nặng.Một số con đê, kênh mương thủy lợi ở vùng ruộng lúa Đồng Phú, Lộc Ninh, Phú Hải vàmột phần ở Bắc Nghĩa, Đức Ninh bị phá hủy, một số trục đường giao thông ở vùng ĐồngSơn, Nghĩa Ninh và Bắc Lý cần phải tu sửa lại.

Hầu hết nguồn vốn hỗ trợ đô thị loại III được thành phố sử dụng cho giáo dục

-đào tạo Đầu tư thiết bị dạy học cho nhiều trường trên địa bàn, xây dựng thêm nhiều nhà

văn hóa ở các tiểu khu ở phường Đức Ninh Đông, xã Lộc Ninh, xã Quang Phú

Nguồn vốn huy động

Hầu hết nguồn vốn huy động được đều sử dụng để xây dựng các công trình phục

vụ lợi ích nhân dân mà chủ yếu là hệ thống chợ và nhà văn hóa Giai đoạn 2007 - 2009 làgiai đoạn chợ Đồng Hới, Đồng Sơn và chợ Đồng Mỹ được xây dựng và hoàn thiện Đây

là những đầu mối thương mại quan trọng Việc hoàn thiện hệ thống chợ sẽ góp phần thúc

đẩy trao đổi mua bán được thuận lợi Nguồn vốn đã huy động được trong dân năm 2007

là 1.778 triệu đồng, năm 2008 nguồn huy động được chỉ là 87 triệu đồng giảm 95,84%.Năm 2009 là 843 triệu đồng tăng 756 triệu đồng so với năm 2008, nhưng lại giảm 335triệu đồng so với năm 2007 Điều này đã thể hiện sự nỗ lực của các cơ quan chức năngtrong việc đề ra nhiều chính sách khuyến khích người dân góp vốn cùng Nhà nước xâydựng quê hương ngày càng giàu đẹp hơn theo như lời Bác Hồ căn dặn, thực hiện đườnglối "Nhà nước và nhân dân cùng làm"

Qua đây, UB thành phố cần thấy được vai trò của người dân trong sự nghiệp xâydựng đất nước Các cơ quan chức năng cần tận dụng nguồn thu này để hạn chế sự đónggóp của nguồn vốn từ NSNN , giảm bớt rủi ro, phần nữa dành phần nguồn vốn đó vào đầu

tư các dự án thuộc các lĩnh vực khác để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Theo các chuyên gia kinh tế, nguồn vốn trong dân giữ vai trò đặc biệt quan trọng

đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung của cả nước và trên thực tế, nguồn vốn trong dân

hiện còn rất lớn nhưng chưa được huy động đúng mức Cũng theo các chuyên gia, nguồn

Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

này chủ yếu vẫn dành cho tiêu dùng và được người dân dự trữ chủ yếu dưới các hình thứctiền ngoại tệ, gửi ngân hàng và vàng Để huy động các nguồn vốn trong dân đầu tư vàosản xuất kinh doanh, mang lại của cải vật chất cho xã hội Trong tương lai, nguồn vốn nàycần được huy động nhiều hơn nữa, không chỉ đối với huy động chợ mà còn nhiều lĩnh vựckhác nữa đều cần có sự ủng hộ và đóng góp từ người dân.

Tóm lại, đối với công tác XDCB, VĐT là yếu tố cực kỳ quan trọng Cùng với vốnngân sách còn có các nguồn tài chính nhàn rỗi tạm thời của nhiều quỹ tài chính như QuỹBHXH, Quỹ tích lũy trả nợ, nguồn tồn ngân kho bạc, xổ số kiến thiết…; các nguồn vốn

xã hội từ tư nhân, FDI, ODA sẽ là các nguồn vốn góp phần không nhỏ cho quá trình pháttriển của đất nước đưa nền cơ sở hạ tầng ngang tầm với các quốc gia trên thế giới

Biểu đồ 3: Biểu đồ biểu hiện xu hướng biến động của vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản giai đoạn 2006 - 2009

0 10000 20000 30000 40000 50000 60000 70000

NS thành phố

NS xã phường

Thông qua biểu đồ ta thấy ngân sách thành phố dành cho đầu tư XDCB có xuhướng tăng nhanh và ngày càng cao Điều này cho thấy công tác đầu tư XDCB ở thànhphố Đồng Hới đang phát triển và được sự quan tâm của các cấp chính quyền Tuy nhiên,nếu nguồn vốn này cứ tăng dần theo hàng năm là điều đáng lo ngại Vì ngân sách thànhphố là có hạn, nếu cứ dành nguồn vốn này cho đầu tư XDCB mà quên đi sự phát triển củacác nghành khác là điều không nên Chính vì vậy, ngoài việc đầu tư phát triển cơ sở hạtầng đô thị cũng cần phải đi đôi với việc đầu tư phát triển của các nghành nghề khác tạonên sự phát triển cân bằng giữa các ngành nghề trong xã hội Và để hạn chế nguồn vốn

Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 07/10/2020, 07:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w