Đặt vấn đề: Đầu tư công có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng của Việt Nam và là "đòn bẩy" đối với một số ngành và vùng trọng điểm.. Tuy
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MARKETING
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN HỌC
QUẢN LÝ CHI TIÊU CÔNG
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG
TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 2MỤC LỤC
Chương I: LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 1
Chương II: PHẦN NỘI DUNG 1
2.1 Đầu tư công là gì? 1
a) Khái niệm đầu tư công: 1
b) Phân loại dự án đầu tư công: 2
c) Nguyên tắc quản lý đầu tư công: 3
2.2 Vai trò đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế 3
2.3 Tình hình Đầu tư công ở Việt Nam 4
a) Tổng quát tình hình đầu tư công thời gian qua 4
b) Những hạn chế còn tồn tại của Đầu tư công ở Việt Nam 7
c) Nguyên nhân 9
d) Thách thức hiện tại đối với Đầu tư công ở Việt Nam 9
Chương III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẨ ĐẦU TƯ CÔNG TRONG GIAI ĐOẠN SẮP TỚI 11
Tài liệu tham khảo: 13
Trang 4LỜI CẢM ƠN
***
Để hoàn thành tiểu luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban giám hiệu trường Đại Học Tài Chính Marketing – Khoa sau Đại học vì đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất với hệ thống thư viện hiện đại, đa dạng các loại sách, tài liệu thuận lợi cho việc tìm kiếm, nghiên cứu thông tin
Xin cảm ơn giảng viên bộ môn Quản lý chi tiêu công – TS.GVC Nguyễn Văn Thuận đã giảng dạy tận tình, chi tiết để em có đủ kiến thức và vận dụng chúng vào bài tiểu luận này
Do chưa có nhiều kinh nghiệm cũng như những hạn chế về kiến thức, trong bài tiểu luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự nhận xét, ý kiến đóng góp, phê bình từ phía Thầy để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn
Trang 5Chương I: LỜI MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề:
Đầu tư công có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng của Việt Nam và là "đòn bẩy" đối với một số ngành và vùng trọng điểm Hiện nay, đại dịch Covid-19 đang tiếp tục diễn biến phức tạp trên toàn cầu, trong
đó có Việt Nam Chưa thể dự báo thời điểm dừng lại nhưng di chứng của dịch Covid-19 đối với các nền kinh tế là hết sức nặng nề: hoạt động thương mại, dịch vụ suy giảm rõ rệt, đầu tư và tiêu dùng tư nhân suy giảm…
Do đó, thúc đẩy đầu tư công giờ đây không chỉ tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế trong trung và dài hạn mà còn để cứu vãn sụt giảm tăng trưởng kinh tế, kích thích các DN quay trở lại ngay với sản xuất để tạo thị trường, tạo việc làm cho người lao động, cung cấp phúc lợi cho người dân đặc biệt là những đối tượng đang bị tổn thương bởi dịch bệnh hoặc tình trạng sa sút về kinh tế, mất việc làm, không có thu nhập ổn định do đại dịch Covid-19 gây ra
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi nguồn vốn ngân sách nhà nước càng hạn hẹp thì việc nâng cao hiệu quả đầu tư công từ vốn ngân sách nhà nước càng trở nên quan trọng Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động đầu tư công, sự hạn hẹp của nguồn vốn ngân sách nhà nước, cũng như thực trạng đầu tư công tại Việt Nam, chúng tôi đã
chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam hiện nay”
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư công và đánh giá thực trạng đầu tư công tại Việt Nam khoảng thời gian gần đây, đặc biệt là năm 2019 và 2020
Từ đó xem xét những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và tìm ra nguyên nhân nhằm đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư công trong thời gian tới
Trang 6Chương II: PHẦN NỘI DUNG 2.1 Đầu tư công là gì?
a) Khái niệm đầu tư công:
Theo Luật đầu tư công năm 2014: Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước
vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
Luật đầu tư công số 39/2019/QH14 ngày 13/06/2019: “Đầu tư công là hoạt động
đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án và đối tượng đầu tư công khác theo quy định của Luật này.” Theo đó:
+ Chương trình đầu tư công là một tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhằm
thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
+ Dự án đầu tư công là dự án sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công.
+ Theo điều 5 của Luật đầu tư công 2019 thì đối tượng đầu tư công bao gồm:
Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội: Trường hợp thật sự cần thiết tách riêng việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập, đối với dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định; đối với dự
án nhóm A do Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định theo thẩm quyền Việc tách riêng dự án độc lập được thực hiện khi phê duyệt chủ trương đầu tư dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A
Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
Đầu tư và hỗ trợ hoạt động đầu tư cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích, phúc lợi
xã hội
Trang 7 Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo phương thức đối tác công tư.
Đầu tư phục vụ công tác lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố và điều chỉnh quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch
Cấp bù lãi suất tín dụng ưu đãi, phí quản lý; cấp vốn điều lệ cho các ngân hàng chính sách, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; hỗ trợ đầu tư cho các đối tượng chính sách khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
b) Phân loại dự án đầu tư công:
Căn cứ vào tính chất, dự án đầu tư công được phân loại như sau:
+ Dự án có cấu phần xây dựng là dự án đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án;
+ Dự án không có cấu phần xây dựng là dự án mua tài sản, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua, sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị, máy móc và dự án khác không quy định tại điểm a khoản này
Căn cứ mức độ quan trọng và quy mô, dự án đầu tư công được phân loại thành dự
án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C theo tiêu chí quy định tại các điều 7, 8, 9 và 10 của Luật đầu tư công 2019
c) Nguyên tắc quản lý đầu tư công:
- Tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công
Trang 8- Phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm của quốc gia và quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch
- Thực hiện đúng trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức,
cá nhân liên quan đến quản lý và sử dụng vốn đầu tư công
- Quản lý việc sử dụng vốn đầu tư công theo đúng quy định đối với từng nguồn vốn; bảo đảm đầu tư tập trung, đồng bộ, chất lượng, tiết kiệm, hiệu quả và khả năng cân đối nguồn lực; không để thất thoát, lãng phí
- Bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư công
2.2 Vai trò đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế
Đầu tư công có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhiều nền kinh tế, nhất là những nước đang phát triển, đặc biệt là nhìn từ góc độ đảm bảo cơ sở cho phát triển bền vững Sáng 16/7, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị giao ban trực tuyến giữa Thường trực Chính phủ với các địa phương trên toàn quốc về công tác giải ngân vốn đầu
tư công đã nêu rõ: Đầu tư công là một trong các “cứu cánh” quan trọng để Việt Nam vượt qua khó khăn do tác động của dịch Coid-19, như tạo việc làm, thúc đẩy tăng trưởng Theo Tổng cục Thống kê, cứ tăng 1% đầu tư công sẽ góp phần tăng 0,06% GDP
Trang 92.3 Tình hình Đầu tư công ở Việt Nam
a) Tổng quát tình hình đầu tư công thời gian qua
- Thống kê số lượng dự án trên hệ thống http://giamsatdautuquocgia.mpi.gov.vn/
Phân loại Dự án ODA Dự án trong
Tổng số dự án 1403 dự án 29839 dự án 31242 dự án
- Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện phân theo thành phần kinh tế:
Trang 10Ở Việt Nam, số liệu Tổng cục Thống kê cho thấy, tỷ trọng vốn đầu tư công đang có
xu hướng giảm, nhất là giai đoạn 2005-2010, từ mức 47,1% năm 2005 xuống còn 38,1% năm 2010; sau đó nhích lên chút ít trong các năm 2012 đến 2014, giảm còn 38% năm
2015 và dừng ở mức 37,6% năm 2016
Đáng chú ý, mức tăng đầu tư công hàng năm khá cao, giai đoạn 2005-2016 chỉ có 3 năm giảm nhẹ, còn lại đều tăng, có năm tăng tới 22,6% (2009); Giá trị tuyệt đối cũng tăng đều qua các năm, từ mức 161,6 nghìn tỷ đồng năm 2005 lên 316,3 nghìn tỷ đồng năm 2010 và 557,5 nghìn tỷ đồng năm 2016
Về cơ cấu nguồn vốn đầu tư công, khoảng 50% là trực tiếp từ ngân sách nhà nước, trên 30% là vốn vay, còn lại 20% là vốn của các doanh nghiệp nhà nước và nguồn vốn khác Vốn đầu tư từ Trung ương có xu hướng giảm dần, trong khi từ ngân sách địa phương (tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương) có xu hướng tăng lên và bình quân thời
kỳ 2005-2016, vốn đầu của Trung ương là 51,4%, địa phương là 48,6%, chênh lệch không đáng kể, phản ánh sự phân cấp mạnh mẽ của cơ chế đầu tư công thời gian qua
Vốn đầu tư công phần lớn được dành cho lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng, gồm
cả hạ tầng cứng (đường giao thông, sân bay, bến cảng, cấp thoát nước, điện, viễn thông…), lẫn hạ tầng mềm (y tế, giáo dục…) Tổng cộng các lĩnh vực này năm 2016 chiếm khoảng 53,6% tổng đầu tư công; trong đó, lĩnh vực vận tải, kho bãi lớn nhất (21,3%) và lĩnh vực điện, nước xếp thứ hai (14,4%) Kết quả, nhiều công trình, dự án đầu
tư kết cấu hạ tầng (nhất là trong giao thông, cấp điện…) được triển khai, năng lực hệ thống kết cấu hạ tầng nâng lên đáng kể
Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện phân theo thành phần kinh tế - kinh tế
nhà nước (theo gso.gov.vn)
Trang 11Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện phân theo thành phần kinh tế - kinh tế nhà nước (theo gso.gov.vn) - kinh tế ngoài nhà nước
Vốn đầu tư thực hiện so với tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế (%)(*)
Hệ số ICOR theo giá
so sánh 2010(**)
Chú thích: (*) Vốn đầu tư thực hiện so với quy mô GDP đánh giá lại giai đoạn
2010-2019 lần lượt là: 38,1%; 32,8%; 31,3%; 31%; 31,6%; 33,8%; 34,2%; 34,7%; 37,7%; 35,4%.(**) Hệ số ICOR theo quy mô GDP đánh giá lại theo giá so sánh 2010 giai đoạn 2011-2019 lần lượt là: 5,5; 6,4; 6,5; 5,9; 5,6; 6,0; 6,1; 6,0; 6,1.
Thời gian qua, đầu tư công đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, đặc biệt là các công trình cơ sở hạ tầng quan trọng Theo số liệu của Bộ Kế hoạch
và đầu tư, trong năm 2019, đầu tư công chiếm 10,7% tổng giá trị GDP cả nước, khoảng 32% tổng mức đầu tư toàn xã hội
Tổng mức đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn 2010-2019 liên tục tăng và duy trì ở mức cao, tỷ lệ vốn đầu tư/GDP trung bình đạt 33,5% Trong cơ cấu đầu tư toàn xã hội, đầu tư của khu vực công có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam Đầu tư của khu vực này bao gồm các nguồn chủ đạo như: Nguồn ngân sách nhà nước, vốn đầu tư tín dụng nhà nước và từ các doanh nghiệp nhà nước, trong đó đầu tư của ngân sách nhà nước
và các doanh nghiệp nhà nước chiếm trên 70% đầu tư của khu vực công
Trang 12Báo cáo về kinh tế - tài chính vừa được Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế, Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam công bố cho biết, tổng vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) được phép thực hiện trong năm 2020 là gần 700 nghìn tỷ đồng, gấp 2,2 lần
số vốn thực giải ngân trong năm 2019 (312 nghìn tỷ đồng), bao gồm: 470,6 nghìn tỷ đồng trong dự toán năm 2020 và 225,2 nghìn tỷ đồng vốn năm 2019 chuyển sang
*** Qua nghiên cứu, đánh giá thực tiễn đầu tư công giai đoạn 2011-2019 có thể rút
ra nhận định sau:
Đầu tư nhà nước đã phát huy vai trò trong những giai đoạn kinh tế khó khăn và là động lực quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, có tác động lan tỏa lớn, nhất là đối với các dự án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, năng lượng
cường đầu tư cho cơ sở hạ tầng, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xử lý bất hợp lý vùng miền; chú trọng đầu tư cho các ngành nghề có lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế Ngân sách nhà nước đã tập trung nhiều hơn cho đầu tư phát triển con người, nâng cao trình độ của người lao động Cụ thể, trong tổng mức đầu
tư phát triển từ ngân sách nhà nước, đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng chiếm một tỷ lệ khá lớn Bình quân chiếm trên 90% tổng chi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước
Đã hình thành được bộ khung pháp luật tương đối đồng bộ để điều chỉnh các hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư nhà nước nói riêng Trong đó, phải kể đến Luật Đầu tư công năm 2014 và Luật Đầu tư công sửa đổi, bổ sung năm 2019
b) Những hạn chế còn tồn tại của Đầu tư công ở Việt Nam
Đầu tư công tại Việt Nam tuy đã đạt những kết quả tích cực, song thực tiễn cho thấy, hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại “3 cái đọng”, đó là vốn đọng, nợ đọng và thủ tục đọng:
- Đầu tư từ ngân sách nhà nước còn dàn trải; hiệu quả đầu tư một số công trình hạ
tầng chưa cao So với các quốc gia khác đã trải qua giai đoạn phát triển tương đồng với
Trang 13Việt Nam, thì hệ số suất đầu tư của Việt Nam hiện nay vẫn ở ngưỡng cao Thực tế này cho thấy, mô hình tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, hiệu quả đầu tư còn thấp
Phân tích đơn cử tình trạng Giải ngân vốn, dù chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị GDP nhưng tình trạng giải ngân đầu tư công nhiều năm qua còn chậm, gây tác động không nhỏ tới tốc độ tăng trưởng chung của cả nền kinh tế trong năm 2019 và 2020:
+ Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giải ngân 9 tháng đầu năm
2019 ước đạt 192,1 nghìn tỷ đồng, bằng 45,17% so với kế hoạch Quốc hội giao và bằng 49,14% so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, thấp hơn cùng kỳ năm 2018 Trong đó, giải ngân vốn trái phiếu chính phủ (TPCP) và ODA đều đạt thấp Có 07 bộ, ngành và 14 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt trên 70%, trong đó, 04 bộ ngành và 04 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt trên 80% Nhiều bộ, cơ quan trung ương và địa phương có
tỷ lệ giải ngân vốn dưới mức bình quân chung; có 31 bộ, cơ quan trung ương và 19 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt dưới 50%, trong đó, 17 bộ, cơ quan trung ương và 01 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt dưới 30%
+ Tỷ lệ giải ngân thấp làm giảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, ảnh hưởng đến các ngành, lĩnh vực, tăng trưởng kinh tế, việc triển khai các chính sách tài khóa, tiền
tệ đến môi trường đầu tư, kinh doanh và các hiệp định đã ký kết Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về thúc đẩy phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công năm 2019, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhận định, tình trạng chậm giải ngân vốn đầu tư công từ chục năm qua đã tạo ra nút thắt cổ chai đối với nền kinh tế, gây ra rất nhiều hệ lụy, trong đó trong đó có bốn hậu quả lớn:
Thứ nhất, giải ngân chậm làm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế do vốn là một trong những yếu tố quan trọng của tăng trưởng GDP
Thứ hai, vốn đầu tư công là nguồn lực của các dự án lớn, phát triển cơ sở hạ tầng,
Trang 14ngoài, huy động vốn đầu tư toàn xã hội, giảm uy tín quốc gia, niềm tin của các nhà đầu
tư
Thứ ba, chậm giải ngân sẽ gây lãng phí lớn khi tiền nằm ở đó mà Chính phủ phải trả thêm chi phí vốn
Thứ tư, doanh nghiệp, xã hội, chủ đầu tư phải chịu nhiều chi phí đội lên, việc làm giảm đi, nợ nần tăng và uy tín làm ăn giảm sút
+ Theo Bộ Tài chính, ước giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2020 của các bộ, ngành, địa phương đến hết ngày 31/5 là hơn 122.241 tỷ đồng, đạt gần 26% kế hoạch Như vậy, còn lượng vốn rất lớn (hơn 577 nghìn tỷ đồng) đang chờ giải ngân Các chuyên gia đều đánh giá, việc giải ngân hơn 577 nghìn tỷ đồng từ nay đến cuối năm 2020 là thách thức rất lớn
Cụ thể tại TP HCM: Tính đến hết ngày 31/7/2020, đã giải ngân 20.059,960 tỉ đồng vốn đầu tư công, đạt 47,6% tổng kế hoạch vốn đã giao (42.139,316 tỉ đồng), cao hơn về giá trị tuyệt đối lẫn tỷ lệ giải ngân so với cùng kỳ
Nếu tính luôn khối lượng hoàn thành chưa quyết toán và số vốn đã chi cho các dự
án nhưng chưa hoàn trả tạm ứng là 1.470,199 tỉ đồng thì tỷ lệ giải ngân đạt 51,1% kế hoạch vốn đã giao là 42.139,316 tỉ đồng, so với yêu cầu của Chính phủ, của lãnh đạo thành phố và bối cảnh hiện nay thì kết quả giải ngân vẫn chưa đạt yêu cầu, chưa trở thành nhân tố then chốt để vực dậy kinh tế Tp.HCM Nguyên nhân chủ yếu là do công tác bồi thường giải phóng mặt bằng của các đơn vị chủ đầu tư trên địa bàn thành phố còn chậm, kéo dài gây ảnh hưởng đến tiến độ thi công và giải ngân kế hoạch vốn
Đồng thời, công tác triển khai thực hiện và giải ngân vốn ODA vay lại của các dự
án còn vướng về mặt thủ tục Trong đó, khó khăn lớn nhất chủ yếu đến từ Dự án xây dựng tuyến metro Bến Thành - Suối Tiên với kế hoạch vốn ODA vay lại được giao là 9.946,1 tỉ đồng (chiếm gần 30% tổng kế hoạch vốn) nhưng đến nay chỉ giải ngân được khoảng 41% kế hoạch