1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng

23 171 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 343,5 KB
File đính kèm 1.rar (112 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu. Trong đời sống kinh tế, xã hội ngày nay, các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại luôn có xu hướng gia tăng và ngày càng phức tạp. Cùng với đó, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nguy cơ xảy ra tranh chấp trong các giao dịch cũng ngày một gia tăng. Khi đã xảy ra tranh chấp, các vấn đề sẽ phát sinh và hậu quả của nó làm mất thời gian, chi phí, gây tổn hại đến uy tín, danh dự của các tổ chức và cá nhân tham gia giao dịch, đồng thời gây mất ổn định xã hội. Chính vì thế, nhu cầu hình thành và phát triển một thiết chế pháp luật tích cực để có thể phòng ngừa, ngăn chặn tranh chấp phát sinh trong các giao dịch là một đòi hỏi khách quan. Hoạt động công chứng xuất hiện tại Việt Nam từ khá lâu và được ghi nhận lần đầu tiên vào thời kỳ Pháp thuộc. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 và khi đất nước thống nhất thì các chế định về công chứng và hoạt động công chứng đã có nhiều sửa đổi, bổ sung để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội. Hiện nay, hoạt động công chứng chịu sự điều chỉnh của Luật Công chứng năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01012015, đã khắc phục được những hạn chế, bất cập về thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho bước phát triển mới của hoạt động công chứng, từng bước phát triển nghề công chứng, đưa công chứng nước ta tiến gần hơn với công chứng thế giới, thể hiện vai trò và chức năng của công chứng trong xã hội. Theo đó, “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”. Công chứng là một loại hình dịch vụ công quan trọng, một thể chế không thể thiếu được của Nhà nước để đảm bảo cho sự an toàn của các giao dịch. Các văn bản công chứng có giá trị pháp lý cũng như độ tin cậy cao hơn hẳn các loại văn bản, giấy tờ không được công chứng hoặc chỉ được trình bày bằng miệng. Các văn bản công chứng tạo nên sự yên tâm tin tưởng của khách hàng, hạn chế đến mức thấp nhất các tranh chấp có thể xảy ra. Để phản ánh rõ bản chất của việc công chứng từ đó giảm thiểu những rủi ro cho các bên tham gia giao dịch thì văn bản công chứng phải có giá trị pháp lý nhất định, từ đó làm nền tảng pháp lý cho các bên tham gia giao dịch dựa vào đó để thực hiện và giải quyết các vấn đề phát sinh theo đúng quy định của pháp luật. Hiện nay, phần lớn thủ tục, hồ sơ thực hiện các giao dịch đều sử dụng văn bản công chứng hoặc bản sao có chứng thực của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên qua thực tiễn cho thấy quy định về văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng trong các văn bản pháp luật còn chưa chi tiết, đầy đủ, còn mang tính hình thức chưa có cơ chế để thực hiện một cách phù hợp trên thực tế. Bên cạnh đó, một số quy định còn chưa rõ hoặc có nội dung chồng chéo dẫn đến tình trạng nhiều cơ quan, cá nhân chưa nhận thức đúng, đủ và chính xác, làm ảnh hưởng đến vị trí, vai trò của công chứng trong đời sống xã hội. Do đó, việc nghiên cứu về văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng để từ đây làm cơ sở hoàn thiện các quy định của pháp luật là một nhu cầu cấp thiết. Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài làm báo cáo kết thúc học phần là: “Văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng”. 2. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu Tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng, từ đó đánh giá đúng tình trạng hiện tại của những quy định này đến văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng; đề xuất các quan điểm nhằm hoàn thiện văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Nhiệm vụ nghiên cứu Trên cơ sở những kiến thức chung về hoạt động công chứng đưa ra các khái niệm và đặc điểm của văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Đánh giá những kết quả đạt được cũng như những điểm còn tồn tại, hạn chế đối với những vấn đề liên quan đến văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Từ đó, đề xuất các quan điểm nhằm hoàn thiện văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của bài là văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng, trong đó tập trung vào các nội dung chủ yếu như: khái niệm công chứng, văn bản công chứng, những nội dung cơ bản của văn bản công chứng; làm rõ giá trị chứng cứ và giá trị thi hành của văn bản công chứng; đề xuất các quan điểm nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng. 3. Cơ cấu của bài báo cáo. Chương 1: Quy định của pháp luật về công chứng và văn bản công chứng. Chương 2: Giá trị pháp lý của văn bản công chứng và thực tiễn quy định của pháp luật Việt Nam về giá trị pháp lý của văn bản công chứng Chương 3: Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC

-BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN

CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ NGHỀ CÔNG CHỨNG

Chuyên đề: VĂN BẢN CÔNG CHỨNG VÀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ

CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG

Họ và tên: Trần Thị Thanh Bình Sinh ngày: 25 tháng 12 năm 1992

Số báo danh: 6 Lớp: Đào tạo nghề công chứng Khóa 22 tại Đà Nẵng

Kon Tum, ngày 15 tháng 7 năm 2020

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu 1

2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu 2

3 Cơ cấu của bài báo cáo 2

CHƯƠNG 1.QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG VÀ VĂN BẢN CÔNG CHỨNG 3

1.1 Khái niệm, đặc điểm của công chứng 3

1.1.1 Khái niệm công chứng 3

1.1.2 Đặc điểm của công chứng 4

1.2 Khái niệm, đặc điểm của văn bản công chứng 5

1.2.1 Khái niệm văn bản công chứng 5

1.2.2 Đặc điểm của văn bản công chứng 7

1.2.2.1 Tính chính xác 7

1.2.2.2 Tính phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội của văn bản công chứng 8 1.2.2.3 Được tuân thủ về mặt hình thức 8

1.2.2.4 Tuân thủ các nguyên tắc, thủ tục công chứng 9

CHƯƠNG 2.GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG VÀ THỰC TIỄN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM TÁC ĐỘNG ĐẾN GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG 10

2.1 Giá trị pháp lý của văn bản công chứng 10

2.1.1 Giá trị thi hành 10

2.1.2 Giá trị chứng cứ 11

2.2 Thực tiễn quy định của pháp luật Việt Nam tác động đến giá trị pháp lý của văn bản công chứng 12

2.2.1 Quy định về tiêu chuẩn công chứng viên 12

2.2.2 Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi văn bản công chứng vô hiệu 13

2.2.3 Quy định về hiệu lực của văn bản công chứng 14

2.2.4 Quy định về lưu trữ hồ sơ công chứng 15

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VĂN BẢN CÔNG CHỨNG VÀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG 17

3.1 Nâng cao nhận thức về công chứng 17

3.2 Hoàn thiện quy định của pháp luật về giá trị pháp lý của văn bản công chứng 17 3.3 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về các vấn đề có liên quan, tác động đến giá trị pháp lý của văn bản công chứng 18

KẾT LUẬN 20

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu.

Trong đời sống kinh tế, xã hội ngày nay, các giao dịch dân sự, kinh tế, thươngmại luôn có xu hướng gia tăng và ngày càng phức tạp Cùng với đó, do nhiều nguyênnhân khác nhau, nguy cơ xảy ra tranh chấp trong các giao dịch cũng ngày một giatăng Khi đã xảy ra tranh chấp, các vấn đề sẽ phát sinh và hậu quả của nó làm mất thờigian, chi phí, gây tổn hại đến uy tín, danh dự của các tổ chức và cá nhân tham gia giaodịch, đồng thời gây mất ổn định xã hội Chính vì thế, nhu cầu hình thành và phát triểnmột thiết chế pháp luật tích cực để có thể phòng ngừa, ngăn chặn tranh chấp phát sinhtrong các giao dịch là một đòi hỏi khách quan

Hoạt động công chứng xuất hiện tại Việt Nam từ khá lâu và được ghi nhận lầnđầu tiên vào thời kỳ Pháp thuộc Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 và khi đất nướcthống nhất thì các chế định về công chứng và hoạt động công chứng đã có nhiều sửađổi, bổ sung để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội Hiện nay, hoạt động côngchứng chịu sự điều chỉnh của Luật Công chứng năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày01/01/2015, đã khắc phục được những hạn chế, bất cập về thể chế, tạo cơ sở pháp lýcho bước phát triển mới của hoạt động công chứng, từng bước phát triển nghề côngchứng, đưa công chứng nước ta tiến gần hơn với công chứng thế giới, thể hiện vai trò

và chức năng của công chứng trong xã hội Theo đó, “Công chứng là việc công chứng

viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp củahợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không tráiđạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc

từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứnghoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”

Công chứng là một loại hình dịch vụ công quan trọng, một thể chế không thểthiếu được của Nhà nước để đảm bảo cho sự an toàn của các giao dịch Các văn bảncông chứng có giá trị pháp lý cũng như độ tin cậy cao hơn hẳn các loại văn bản, giấy

tờ không được công chứng hoặc chỉ được trình bày bằng miệng Các văn bản côngchứng tạo nên sự yên tâm tin tưởng của khách hàng, hạn chế đến mức thấp nhất cáctranh chấp có thể xảy ra Để phản ánh rõ bản chất của việc công chứng từ đó giảmthiểu những rủi ro cho các bên tham gia giao dịch thì văn bản công chứng phải có giátrị pháp lý nhất định, từ đó làm nền tảng pháp lý cho các bên tham gia giao dịch dựavào đó để thực hiện và giải quyết các vấn đề phát sinh theo đúng quy định của phápluật Hiện nay, phần lớn thủ tục, hồ sơ thực hiện các giao dịch đều sử dụng văn bảncông chứng hoặc bản sao có chứng thực của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quyđịnh của pháp luật

Tuy nhiên qua thực tiễn cho thấy quy định về văn bản công chứng và giá trịpháp lý của văn bản công chứng trong các văn bản pháp luật còn chưa chi tiết, đầy đủ,còn mang tính hình thức chưa có cơ chế để thực hiện một cách phù hợp trên thực tế.Bên cạnh đó, một số quy định còn chưa rõ hoặc có nội dung chồng chéo dẫn đến tìnhtrạng nhiều cơ quan, cá nhân chưa nhận thức đúng, đủ và chính xác, làm ảnh hưởngđến vị trí, vai trò của công chứng trong đời sống xã hội Do đó, việc nghiên cứu về vănbản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng để từ đây làm cơ sở hoànthiện các quy định của pháp luật là một nhu cầu cấp thiết Vì vậy, tôi lựa chọn đề tàilàm báo cáo kết thúc học phần là: “Văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bảncông chứng”

Trang 4

2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu.

Mục đích nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về văn bản công chứng vàgiá trị pháp lý của văn bản công chứng, từ đó đánh giá đúng tình trạng hiện tại củanhững quy định này đến văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản côngchứng; đề xuất các quan điểm nhằm hoàn thiện văn bản công chứng và giá trị pháp lýcủa văn bản công chứng

Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở những kiến thức chung về hoạt động công chứng đưa ra các kháiniệm và đặc điểm của văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng.Đánh giá những kết quả đạt được cũng như những điểm còn tồn tại, hạn chế đối vớinhững vấn đề liên quan đến văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản côngchứng Từ đó, đề xuất các quan điểm nhằm hoàn thiện văn bản công chứng và giá trịpháp lý của văn bản công chứng

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của bài là văn bản công chứng và giá trị pháp lý của vănbản công chứng, trong đó tập trung vào các nội dung chủ yếu như: khái niệm côngchứng, văn bản công chứng, những nội dung cơ bản của văn bản công chứng; làm rõgiá trị chứng cứ và giá trị thi hành của văn bản công chứng; đề xuất các quan điểmnhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về văn bản công chứng và giá trị pháp lýcủa văn bản công chứng

3 Cơ cấu của bài báo cáo.

Chương 1: Quy định của pháp luật về công chứng và văn bản công chứng.Chương 2: Giá trị pháp lý của văn bản công chứng và thực tiễn quy định củapháp luật Việt Nam về giá trị pháp lý của văn bản công chứng

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về văn bản côngchứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng

Trang 5

CHƯƠNG 1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG VÀ

VĂN BẢN CÔNG CHỨNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm của công chứng.

1.1.1 Khái niệm công chứng.

Cuộc sống của con người trong xã hội là sự tổng hòa của nhiều mối quan hệ,trong đó những quan hệ về giao dịch dân sự được diễn ra hàng ngày Việc mua bán,trao đổi hàng hóa, tài sản nói chung không chỉ được thực hiện thông qua quan hệ giaotiếp, giao dịch miệng mà còn cao hơn là các hình thức giao dịch bằng văn bản Người

có tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự có quyền định đoạt tài sản theo nhiều hìnhthức bằng văn bản như: mua bán, tặng cho, thế chấp, để lại thừa kế qua di chúc,… Cácquan hệ giao dịch đó còn phải được xác lập và thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhấtđịnh do pháp luật quy định Một số hợp đồng, giao dịch liên quan đến việc định đoạttài sản mà pháp luật quy định phải thông qua công chứng, chứng thực thì các bên thamgia giao dịch phải thực hiện, không thể làm trái quy định (các hợp đồng, giao dịch vềchuyển nhượng quyền sử dụng đất; chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắnliền với đất; các hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển quyền sử dụng đất ở; các hợpđồng thế chấp tài sản; tặng cho tài sản; hợp đồng mua bán tài sản khác mà pháp luậtquy định tài sản đó phải đăng ký sở hữu,…)

Như vậy, công chứng được định nghĩa cụ thể theo quy định tại Khoản 1, Điều

2, Luật Công chứng 2014 như sau: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ

chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giaodịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác,hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sangtiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) màtheo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầucông chứng.”

Ở Việt Nam, hoạt động công chứng mới chỉ được tiếp tục khôi phục và hoạtđộng hơn ba mươi năm qua Vì vậy, trong nhận thức chung của cá nhân, tổ chức vềcông chứng đang từng bước được nâng cao, ổn định và đi vào chiều sâu

1.1.2 Đặc điểm của công chứng.

- Việc công chứng một hợp đồng, giao dịch thực chất là việc làm của côngchứng viên nhằm chứng nhận:

Tính xác thực, tính hợp pháp của quan hệ giao dịch đó là diễn ra giữa các bên.Tính xác thực về năng lực hành vi dân sự của người tham gia giao dịch tại thờiđiểm giao dịch được đảm bảo theo quy định của pháp luật

Tính xác thực về ý chí tự nguyện thông qua việc thỏa thuận của các bên

Việc ký và điểm chỉ của các bên trong văn bản là do chính họ (người có tên,giấy tờ cá nhân và địa chỉ ghi trong văn bản) thực hiện

Về nội dung, mục đích của hợp đồng, giao dịch không trái pháp luật, không tráiđạo đức xã hội

Trang 6

- Văn bản công chứng có giá trị để thi hành; đó cũng là điều mong muốn củacác bên tham gia giao dịch Nhìn chung, các giao dịch dân sự diễn ra trong cuộc sốngrất nhiều và đa dạng, người tham gia giao dịch đều muốn giao dịch của mình thànhcông và an toàn pháp lý, những mong muốn này thông qua việc hành nghề của côngchứng viên sẽ đáp ứng được họ.

- Nghề công chứng là một nghề mang tính chuyên nghiệp cao Nghề côngchứng có những yêu cầu khắt khe và tính chuyên nghiệp của nghề công chứng đượcthể hiện thông qua:

Người hành nghề công chứng là người được Nhà nước bổ nhiệm theo tiêuchuẩn, trình tự, thủ tục luật định Pháp luật còn quy định về các quyền, nghĩa vụ củangười được bổ nhiệm công chứng viên trong hành nghề

Người hành nghề công chứng phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật và ngườiyêu cầu công chứng về văn bản công chứng do mình công chứng

Đảm bảo tính khách quan, trung thực trong hành nghề

Người hành nghề phải nghiên cứu giải quyết yêu cầu công chứng một cách thậntrọng, tỉ mỉ, chính xác, đúng quy định của pháp luật Thực tiễn cho thấy công chứng làmột nghề tiềm ẩn nhiều rủi ro Người hành nghề phải có kinh nghiệm tích lũy qua thờigian, kèm theo những hiểu biết sâu về luật pháp và có cả kinh nghiệm trong việc xemxét và nhận biết trạng thái tâm lý của người mà mình giao tiếp trong quá trình thựchiện công chứng

Hoạt động công chứng phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, thông qua đó ngườihành nghề thiết thực bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước không bị xâm hại Ngườihành nghề còn phải bám sát, tôn trọng và thực hiện đúng, chính xác luật chuyên ngànhcông chứng và pháp luật có liên quan Công chứng với tư cách là một nghề, có tínhđộc lập tương đối trong tác nghiệp và chỉ tuân theo luật pháp; tuy nhiên trong hoạtđộng nghề nghiệp, người hành nghề công chứng còn thường xuyên có các mối quan hệcông việc với các ngành, các cơ quan khác để đảm bảo chắc chắn, sự chính xác trongnghiên cứu và giải quyết các yêu cầu công chứng

Ngoài việc tuân thủ pháp luật, người hành nghề còn chịu điều chỉnh và thựchiện nghiêm quy định trong bản Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng

- Kết quả của hoạt động công chứng là văn bản công chứng Văn bản côngchứng là văn bản có giá trị chứng cứ trước pháp luật Trên cơ sở đó, Tòa án áp dụngpháp luật để xem xét, giải quyết việc tranh chấp hợp đồng Mặt khác, văn bản côngchứng cũng có giá trị để buộc các bên tham gia giao dịch phải thực hiện quyền, nghĩa

vụ đã thỏa thuận theo các điều khoản ghi trong hợp đồng, giao dịch Do đó, hoạt độngcông chứng cũng được coi là một hoạt động mang tính chất bổ trợ tư pháp

- Hoạt động hành nghề công chứng là hoạt động mang tính chất dịch vụ công.Thông qua hoạt động công chứng các quan hệ được xác lập, thực hiện Các hoạt độngdịch vụ có liên quan đến công chứng được thực hiện rất chuyên nghiệp và đem lại hiệuquả cao, giúp cho cá nhân, tổ chức có yêu cầu công chứng rất thuận tiện khi có yêu cầucần đến công chứng Công chứng viên là người giải quyết tất cả các vấn đề thuộc yêucầu của khách hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ đến khi hoàn thành việc công chứng Đểthực hiện cung cấp dịch vụ công đạt chất lượng cao, yêu cầu chung là phải có một hệthống pháp luật đầy đủ, đồng bộ và ý thức công dân trong thực thi pháp luật cao, cùng

Trang 7

với đó là sự thuần thục, chuyên nghiệp trong xử lý các tình huống phát sinh trong côngviệc của tổ chức hành nghề công chứng và của công chứng viên

1.2 Khái niệm, đặc điểm của văn bản công chứng.

1.2.1 Khái niệm văn bản công chứng.

Luật Công chứng 2014 ra đời, khái niệm và nhiều quy định về văn bản côngchứng cũng được hoàn thiện Theo Khoản 4, Điều 2, Luật Công chứng 2014 thì vănbản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng viên chứng nhậntheo quy định của Luật Công chứng

Theo như quy định trên thì văn bản công chứng gồm hai nhóm:

- Hợp đồng, giao dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định củaLuật Công chứng

Theo quy định của Luật Công chứng thì hợp đồng, giao dịch có thể do các bênsoạn thảo hoặc công chứng viên soạn thảo theo yêu cầu của người yêu cầu côngchứng Công chứng viên xem xét các khía cạnh khác nhau của hợp đồng, giao dịchnhư: chủ thể, đối tượng tham gia giao dịch, quyền và nghĩa vụ của các bên, các camkết, sự tự nguyện giao kết hợp đồng, giao dịch,… Công chứng viên phải kiểm tra nộidung của hợp đồng, giao dịch; nếu trong hợp đồng, giao dịch có điều khoản vi phạmpháp luật, trái đạo đức xã hội, đối tượng của hợp đồng, giao dịch không phù hợp vớiquy định của pháp luật thì công chứng viên phải chỉ rõ cho người yêu cầu công chứng

để sửa chữa

Việc xem xét của công chứng viên có thể được thể hiện dưới nhiều hình thứckhác nhau như bằng lời nói, bằng văn bản,… Việc xem xét này được thực hiện tạinhiều thời điểm khác nhau, từ lúc khách hàng yêu cầu công chứng đến lúc công chứngviên chứng nhận hợp đồng, giao dịch Việc xem xét này giúp các bên có cơ hội và điềukiện thể hiện ý chí của mình đúng pháp luật và đảm bảo sự công bằng trong cam kếtcủa họ

Tuy nhiên công chứng viên tuyệt đối không được tác động, can thiệp dưới mọihình thức vào các thỏa thuận của người yêu cầu công chứng trong hợp đồng, giao dịch

do họ giao kết, trừ trường hợp các thỏa thuận đó trái pháp luật, trái đạo đức xã hội

- Bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật Côngchứng

Luật Công chứng năm 2014 đã giao cho công chứng viên đang hành nghề tạimột tổ chức hành nghề công chứng có thầm quyền chứng nhận tính chính xác, hợppháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếngnước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt

Tại Điều 61, Luật công chứng 2014 cũng đã quy định các nguyên tắc để côngchứng bản dịch cũng như nêu ra các trường hợp mà công chứng viên không được nhận

và công chứng bản dịch như sau:

Việc dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếngnước ngoài sang tiếng Việt để công chứng phải do người phiên dịch là cộng tác viêncủa tổ chức hành nghề công chứng thực hiện

Cộng tác viên phải là người tốt nghiệp đại học ngoại ngữ hoặc đại học khác màthông thạo thứ tiếng nước ngoài đó Cộng tác viên phải chịu trách nhiệm đối với tổ

Trang 8

chức hành nghề công chứng về tính chính xác, phù hợp của nội dung bản dịch do mìnhthực hiện.

Công chứng viên tiếp nhận bản chính giấy tờ, văn bản cần dịch, kiểm tra vàgiao cho người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình thực hiện Người phiêndịch phải ký vào từng trang của bản dịch trước khi công chứng viên ghi lời chứng và

ký vào từng trang của bản dịch

Công chứng viên không được nhận và công chứng bản dịch trong các trườnghợp sau đây:

Công chứng viên biết hoặc phải biết bản chính được cấp sai thẩm quyền hoặckhông hợp lệ; bản chính giả;

Giấy tờ, văn bản được yêu cầu dịch đã bị tẩy xoá, sửa chữa, thêm, bớt hoặc bị

hư hỏng, cũ nát không thể xác định rõ nội dung;

Giấy tờ, văn bản được yêu cầu dịch thuộc bí mật nhà nước; giấy tờ, văn bản bịcấm phổ biến theo quy định của pháp luật

- Lời chứng của công chứng viên là một bộ phận cấu thành của văn bản côngchứng, thể hiện trách nhiệm của công chứng viên đối với việc công chứng Lời chứngtrong văn bản công chứng được quy định tại Điều 46 và Khoản 3, Điều 61, Luật Côngchứng 2014:

Đối với hợp đồng, giao dịch:

Lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng, giao dịch phải ghi rõ thờiđiểm, địa điểm công chứng, họ, tên công chứng viên, tên tổ chức hành nghề côngchứng; chứng nhận người tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn tự nguyện, có nănglực hành vi dân sự, mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm phápluật, không trái đạo đức xã hội, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ trong hợp đồng, giao dịchđúng là chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người tham gia hợp đồng, giao dịch; tráchnhiệm của công chứng viên đối với lời chứng; có chữ ký của công chứng viên và đóngdấu của tổ chức hành nghề công chứng

Đối với bản dịch:

Lời chứng của công chứng viên đối với bản dịch phải ghi rõ thời điểm, địa điểmcông chứng, họ tên công chứng viên, tên tổ chức hành nghề công chứng; họ tên ngườiphiên dịch; chứng nhận chữ ký trong bản dịch đúng là chữ ký của người phiên dịch;chứng nhận nội dung bản dịch là chính xác, không vi phạm pháp luật, không trái đạođức xã hội; có chữ ký của công chứng viên và đóng dấu của tổ chức hành nghề côngchứng

1.2.2 Đặc điểm của văn bản công chứng.

1.2.2.1 Tính chính xác.

- Chính xác về thời điểm công chứng:

Ngày, tháng, năm phải chính xác vì đó là ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng,giao dịch; ngày, tháng, năm công chứng viên ký là ngày văn bản công chứng có hiệulực thi hành; ngày, tháng, năm trong lời chứng của công chứng viên được ghi đồngthời bằng số và bằng chữ Trong một số trường hợp (công chứng di chúc, theo đề nghịcủa người yêu cầu công chứng hoặc công chứng viên thấy cần thiết), thời gian công

Trang 9

chứng còn phải chính xác cả giờ, phút (theo quy định tại Khoản 2, Điều 45, Luật Côngchứng 2014).

- Các số liệu, con số sau phần ghi bằng số phải ghi bằng chữ để tránh sự sửachữa, sai lệch

- Chính xác về chủ thể yêu cầu công chứng:

Chủ thể là cá nhân hoặc pháp nhân Nếu là cá nhân phải có đủ năng lực hành vidân sự, nếu là pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của phápluật; thông tin về chủ thể phải đầy đủ, đúng với những giấy tờ mà họ đã cung cấp vìnếu có sai sót sẽ có thể dẫn đến sự nhầm lẫn, tranh chấp, mất hiệu lực của văn bảncông chứng

Chủ thể tham gia giao dịch và yêu cầu công chứng cũng góp phần quyết địnhhình thức và nội dung của văn bản công chứng Công chứng viên khi tiếp nhận yêucầu công chứng phải kiểm tra chủ thể tham gia trong văn bản công chứng, nếu xácđịnh không đúng chủ thể thì văn bản sẽ bị vô hiệu theo quy định của pháp luật

Ngoài chủ thể, tùy theo quy định của pháp luật, khả năng về ngôn ngữ, tìnhtrạng sức khỏe hay yêu cầu của người yêu cầu công chứng mà trong hợp đồng, giaodịch còn có thêm việc tham gia của người làm chứng, người phiên dịch

- Chính xác về địa điểm công chứng:

Trong văn bản công chứng phải ghi rõ ràng địa điểm công chứng Việc côngchứng phải được thực hiện tại trụ sở, tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 2, Điều 44,Luật Công chứng 2014 thì “Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổchức hành nghề công chứng trong trường hợp người yêu cầu công chứng là người giàyếu, không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tùhoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề côngchứng”

- Chính thức hóa, công khai hóa các sự kiện pháp lý

Ý chí của các bên phải được thể hiện rõ ràng trong văn bản công chứng vì đây

sẽ là cơ sở cho việc thực hiện hoạt động công chứng

1.2.2.2 Tính phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội của văn bản công chứng.

Sự phù hợp của nộp dung văn bản công chứng với pháp luật, đạo đức xã hội làđiều kiện cơ bản, quan trọng để văn bản công chứng đó có giá trị pháp lý vì “Côngchứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhậntính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đâygọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội củabản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoàisang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải côngchứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” (theo quy định tại Khoản

1, Điều 2, Luật Công chứng 2014)

Do vậy, khi thực hiện công chứng, công chứng viên phải có trách nhiệm xemxét các nội dung của hợp đồng, giao dịch có phù hợp với các quy định của pháp luậthiện hành và đạo đức xã hội hay không

1.2.2.3 Được tuân thủ về mặt hình thức.

Trang 10

Văn bản công chứng phải đáp ứng các điều kiện của pháp luật về hình thức đểđảm bảo tính chính xác và giá trị pháp lý của văn bản công chứng Việc xác định đúngđối tượng của hợp đồng, giao dịch quyết định đến hình thức của văn bản công chứng.Đối tượng là tài sản như nhà, quyền sử dụng đất, xe,… (những loại pháp luật quy địnhphải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu) thì phải lập hợp đồng và phải được côngchứng Còn đối tượng là một hành vi, một công việc phải thực hiện mà pháp luậtkhông bắt buộc phải công chứng thì công chứng viên chỉ chứng nhận khi được ngườiyêu cầu công chứng yêu cầu, lúc này văn bản đó mới trở thành văn bản công chứng.

Ví dụ: bố mẹ tặng cho mà không con tài sản là nhà đất thì hình thức văn bản bắt buộcphải là hợp đồng tặng cho tài sản mà không phải là một văn bản chuyển nhượng nàokhác; hoặc các bên yêu cầu công chứng chứng nhận hợp đồng cầm cố tài sản thì côngchứng viên không thể soạn thảo và công chứng hợp đồng thế chấp được

Ngoài ra văn bản công chứng cũng cần tuân thủ các quy định về chữ viết, sửalỗi kỹ thuật, ghi số tờ, số trang trong văn bản, ký tên hoặc điểm chỉ, lời chứng củacông chứng viên,… Mọi chi tiết thể hiện trong văn bản công chứng phải được thể hiện

rõ ràng, chính xác, không viết tắt, không viết chen hoặc đè dòng; việc sửa lỗi kỹ thuậtcũng phải thực hiện đúng quy định để người nhận hoặc thực hiện các văn bản đó cóthể nhận biết đúng các nội dung đã được chỉnh sửa, tránh nhầm lẫn hoặc gây khó hiểu

Theo quy định tại Điều 6, Luật Công chứng 2014 thì chữ viết dùng trong côngchứng là tiếng Việt và theo Khoản 1, Điều 45, Luật Công chứng 2014 thì chữ viếttrong văn bản công chứng phải rõ ràng, dễ đọc, không được viết tắt hoặc viết bằng kíhiệu, không được viết xen dòng, viết đè dòng, không được tẩy xóa, không được đểtrống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Mặc dù quy định không được viết tắttrong văn bản công chứng nhưng trong thực tế, văn bản công chứng vẫn còn tình trạngviết tắt như: CMND (chứng minh nhân dân), UBND (Ủy ban nhân dân), QSDĐ(quyền sử dụng đất),…

Theo quy định tại Điều 46, Luật Công chứng 2014 quy định về lời chứng củacông chứng viên thì: “Lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng, giao dịchphải ghi rõ thời điểm, địa điểm công chứng, họ, tên công chứng viên, tên tổ chức hànhnghề công chứng; chứng nhận người tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn tựnguyện, có năng lực hành vi dân sự, mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịchkhông vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ tronghợp đồng, giao dịch đúng là chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người tham gia hợp đồng,giao dịch; trách nhiệm của công chứng viên đối với lời chứng; có chữ ký của côngchứng viên và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.”

Theo quy định tại Điều 48, Luật Công chứng 2014 quy định về việc ký tên hoặcđiểm chỉ như sau: “Người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịchphải ký vào hợp đồng, giao dịch trước mặt công chứng viên Trong trường hợp người

có thẩm quyền giao kết hợp đồng của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp khác đã đăng kýchữ ký mẫu tại tổ chức hành nghề công chứng thì người đó có thể ký trước vào hợpđồng; công chứng viên phải đối chiếu chữ ký của họ trong hợp đồng với chữ ký mẫutrước khi thực hiện việc công chứng Việc điểm chỉ được thay thế việc ký trong trườnghợp người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch không ký được dokhuyết tật hoặc không biết ký Khi điểm chỉ, người yêu cầu công chứng, người làmchứng, người phiên dịch sử dụng ngón trỏ phải; nếu không điểm chỉ được bằng ngóntrỏ phải thì điểm chỉ bằng ngón trỏ trái; trường hợp không thể điểm chỉ bằng hai ngóntrỏ đó thì điểm chỉ bằng ngón khác và phải ghi rõ việc điểm chỉ đó bằng ngón nào, của

Trang 11

bàn tay nào Việc điểm chỉ cũng có thể thực hiện đồng thời với việc ký trong cáctrường hợp như công chứng di chúc; theo đề nghị của người yêu cầu công chứng; côngchứng viên thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho người yêu cầu công chứng.”.

Theo quy định tại Điều 49, Luật Công chứng 2014 quy định: “Văn bản côngchứng có từ hai trang trở lên thì từng trang phải được đánh số thứ tự Văn bản côngchứng có từ hai tờ trở lên phải được đóng dấu giáp lai giữa các tờ.”

Theo quy định tại Điều 50, Luật Công chứng 2014 về sửa lỗi kỹ thuật thì:

“Công chứng viên thực hiện việc sửa lỗi kỹ thuật có trách nhiệm đối chiếu từng lỗi cầnsửa với các giấy tờ trong hồ sơ công chứng, gạch chân chỗ cần sửa, sau đó ghi chữ,dấu hoặc con số đã được sửa vào bên lề kèm theo chữ ký của mình và đóng dấu của tổchức hành nghề công chứng Công chứng viên có trách nhiệm thông báo việc sửa lỗi

kỹ thuật đó cho người tham gia hợp đồng, giao dịch.”

1.2.2.4 Tuân thủ các nguyên tắc, thủ tục công chứng.

Công chứng viên là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản côngchứng của mình chứng nhận, do đó công chứng viên phải đảm bảo thực hiện theo đúngnhững nguyên tắc và trình tự thủ tục công chứng

Việc tuân thủ nghiêm túc các nguyên tắc, trình tự thủ tục này đem lại sự an toàncho công chứng viên đồng thời bảo đảm tính pháp lý cho văn bản mà công chứng viênchứng nhận, tránh được các tranh chấp có thể xảy ra

Ngày đăng: 06/10/2020, 08:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w