Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam thời kỳ 20012005 và những giải pháp thực hiệnKết cấu của đề án gồm có 3 chương: Một số vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực, thực trạng Kết cấu của đề án gồm có 3 chương: Một số vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực, thực trạng Kết cấu của đề án gồm có 3 chương: Một số vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực, thực trạng
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 4
I Một số khái niệm, quan niệm 4
II Nội dung - yêu cầu phát triển NNL và KHH phát triển NNL 5
III Vai trò của NNL đối với việc phát triển KT-XH nước ta 9
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN NNL Ở VIỆT NAM 11
I Thực trạng của việc phát triển NNL thời kỳ 1996-2000 11
II Một số mặt đã đạt được và còn yếu kém trong quá trình phát triển NNL giai đoạn 1996-2000 26
CHƯƠNG III: KẾ HOẠCH HÓA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THỜI KỲ 2001-2005 VÀ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 32
I Căn cứ cho việc xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển NNL 32
II Mục tiêu và phương hướng phát triển NNL thời kỳ 2001-2005 34
III Các giải pháp và chính sách phát triển NNL cho thời kỳ 2001-2005 40
KẾT LUẬN 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
LỜI NÓI ĐẦU
Trang 3Những năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới, đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Muốn vậy chúng ta phải phát huytổng hợp mọi nguồn lực về vốn, đất đai, tài nguyên con người và công nghệ kỹthuật Phải tranh thủ sự ủng hộ của thế giới nhưng dùa trên sức mình là chính.Trong đó, chú trọng đến yếu tố nguồn nhân lực bởi con người là điều kiện tiênquyết, là mục tiêu của sự phát triển xã hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVIII của đảng xác định “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơbản cho sự phát triển nhanh và bền vững” của đất nước Vì vậy việc nâng caochất lượng nguồn lực con người có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triểnnguồn nhân lực và đối với công cuộc phát triển đất nước
Thực tiễn trên thế giới đã chứng minh nước nào có chiến lược đúng đắn
về nguồn lực con người thì dân téc đó phát triển đi lên Kinh nghiệm mấy thập
kỷ qua ở Nhật Bản và một số nước ASEAN đã cho thấy giá trị to lớn của chiếnlược khai thác nguồn lực con người Với họ, chiến lược này đã tập trung vàonhững trọng điểm tài năng, kỹ nghệ, sáng tạo và ý chí Do đầu tư đúng hướng,trong những năm qua các nước này đang trở thành những trung tâm phát triểnkinh tế - xã hội năng động nhất
Phát huy những truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam trong sự nghiệpđấu tranh bảo vệ Tổ quốc và kiến thiết xây dựng nước nhà, chúng ta phải dựavào khai thác nguồn nhân lực trong và ngoài nước một cách cởi mở hợp lý nhất.Với những phẩm chất thông minh, sáng tạo, dũng cảm và nhân đạo, chúng ta cóquyền tự hào và tin tưởng đó là nguồn của cải vô giá được kết tinh trong conngười Việt Nam Sự thành công của công cuộc đổi mới nói chung và sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng ở nước ta cũng dựa trên nền tảng nguồncủa cải vô giá đó
Nhận thức được xu thế phát triển ấy, em xin thực hiện đề tài: “Kế hoạch
phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam thời kỳ 2001-2005 và những giải pháp thực hiện”.
Trang 4CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
định nghĩa của LHQ: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề là kiến thức và
năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội trong mét cộng đồng” Khác với các nguồn lực vật chất,
tài chính, con người có cảm giác, rất nhạy cảm với những tác động qua lại củamối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra tại môi trường nơi họ sống, làmviệc, họ có thể tự quyết định và hành động theo ý mình… do đó việc quản lý và
sử dụng con người khó khăn hơn rất nhiều so với việc quản lý và sử dụng cácnguồn lực vật chất và tài chính khác
Nguồn lực theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hoá được trong công tác kếhoạch hoá (KHH) ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồmnhững người trong độ tuổi lao động theo quy định của bộ luật lao động nướcCHXHCN Việt Nam (nam đủ 15 đến hết 60, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi), có khảnăng lao động Đây là lực lượng lao động tiềm tàng có thể huy động vào cáchoạt động của nền KT-XH
2 Lực lượng lao động (LLLĐ)
LLLĐ là một bộ phận của NNL, bao gồm những người trong độ tuổi laođộng đang làm việc và những người chua làm việc có nhu cầu việc làm Đây lànhững người mà nền kinh tế có thể huy động và phải giải quyết việc làm LLLĐkhông bao gồm những người đang đi học, làm nội trợ, mất khả năng lao động vàkhông có nhu cầu làm việc Tỷ lệ tham gia LLLĐ trong tổng dân số trong tuổilao động khác nhau giữa nam - nữ, thanh thị - nông thôn, trình độ phát triển KH-
Trang 5XH… các quốc gia (vùng) càng nghèo thì tỷ lệ tham gia LLLĐ càng cao vàngược lại.
3 Phát triển nguôn nhân lực (PTNNL)
Phát triển NNL của một quốc gia(một vùng lãnh thổ) là tạo ra sự biến đổi
số lượng và chất lượng về mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức, tinh thần củatừng con người lao động, tạo lập một cơ cấu đội ngũ nhân lực hợp lý và sử dụngnăng lực của con người cùng với đội ngũ của họ vì sự tiến bộ kinh tế, xã hội…
Theo F.M.Harbison, tốc độ tăng nhu cầu lao động có kỹ thuật phụ thuộcvào tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) vì trong một chu kỳ dài, tốc độ tăng việclàm cần lao động đã qua đào tạo (nhu cầu lao động có kỹ thuật) thường tăng gấp2-3 lần tốc độ tăng của GDP
II Nội dung - yêu cầu phát triển NNL và KHH phát triển NNL
1 Phát triển NNL
- Theo UNDP có 5 điểm “phát sinh năng lượng” của phát triển NNL là:
+ Giáo dục
+ Sức khoẻ và dinh dưõng
+ Môi trường (tự nhiên – kinh tế – xã hội)
+ Tạo môi trường làm việc và đãi ngộ thoả đáng cho con người
Cả ba mặt này phải làm đồng bộ mới thúc đẩy sự phát trển NNL nói tiêng
và phát triển KT- XH nói chung
* Phát triển nguồn nhân lực có thể coi là một lĩnh vực của quản lý NNLbao gồm các hoạt động theo sơ đồ sau:
Trang 6Quản lý nhân lực
Phát triển NNL Sử dụng NNL Tạo môi trường của NNLDân số và KHHGĐ Tuyển dụng Mở rộng chủng loại việc làmDinh dưỡng và sức khoẻ Sàng lọc Mở rộng quy mô việc làmGiáo dục và đào tạo Bố trí sử dụng Phát triển tổ chức
Văn hoá và truyền thống dân tộc Đánh giá
Việc làm, phân phối thu nhập và đãi ngộ
* Về cơ cấu nguồn nhân lực (NNL) bao gồm:
1.1 Cơ cấu trạng thái hoạt động của NNL: phân chia NNL thành hoạt
động kinh tế (LLLĐ) và không hoạt động kinh tế (đi học, MSLĐ, nội trợ vàkhông có nhu cầu làm việc
1.2 Việc tạo lập cơ cấu NNL mới để đáp ứng nhu cầu phát triển KT - XHtheo hướng CNH, HĐH (của mỗi quốc gia, vùng) phải nhằm phục vụ cho được
sự chuyển dịch lớn về cơ cấu lao động theo ba mặt chủ yếu là:
- Cơ cấu trình độ lành nghề của đội ngò lao động chuyển dịch theo hướngyêu cầu trí tuệ ngày cang cao, gắn với cơ cááu công nghiệp mới, đó là cơ cấunhiều trình độ công nghệ, nhiều loại quy mô trong đó ưu tiên các loại trình độtiên tiến thích hợp
Theo kinh nghiệp của thế giới, tương ứng với mỗi giai đoạn phát triểncủa tiến bộ kỹ thuật cần có cơ cấu chất lượng lao động theo các trình độ thíchhợp tương ứng
- Cơ cấu phân công lao động theo ngành:
Theo tổng kết kinh nghiệm của các nhà kinh tế học trên thế giới, có mốiquan hệ tương quan chặt chẽ giữa bình quân GDP/người và cơ cấu lao động làmviệc trong các ngành KTQD: GDP/người càng cao thì tỷ trọng lao động làmviệc trong lao động nông nghiệp càng giảm, trong công nghiệp và dịch vụ càngtăng và ngược lại…
- Cơ cấu tổ chức lao động chuyển dịch theo hướng hình thành bộ máy và
cơ chế vận hành mới của ba loại hình tổ chức phổ biển trong xã hội Đó là:
Trang 7+ Bộ máy Nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp), Đảng, Đoàn thể;đội ngò cán bộ công chức hành chính của bộ máy công quyền, sự phát triển sốlượng tương quan với qui mô dân số và đòi hỏi chất lượng cao…
+ Các doanh nghiệp (kể cả hộ gia đình) sản xuất kinh doanh và dịch vụphát triển theo yêu cầu của thị trường sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ
+ Các cơ sở sự nghiệp (khoa học và giáo dục - đào tạo.v.v…) gồm độingò cán bộ viên chức, lao động khu vực sự nghiệp thuộc hệ thống kết cấu hạtầng xã hội, phục vụ trực tiếp cho sự phát triển toàn diện và thoả mãn nhu cầungày càng tăng của con người Số lượng và chất lượng này tương quan với quy
mô dân số, phân bố dân cư và trình độ phát triển KT-XH, có ý nghĩa quyết địnhđến chất lượng dịch vụ và chất lượng của kết quả phát triển con người
Cơ cấu này, theo Liên Hợp quốc, là “tam giác phát triển” với sự chọn lọcnhững thành phần thích hợp nhất ở mỗi đỉnh tam giác và có quan hệ tương táctheo chức năng để thúc đẩy phát triển:
Ở mỗi loại tổ chức đều có 3 chức năng cần có nhân lực thành thạo nghềnghiệp để đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả nhất:
- Chức năng lãnh đạo, quản lý (cán bộ quản lý)
- Chức năng tham mưu, nghiên cứu, thiết kế, KHH (chuyên gia)
- Chức năng thực hiện (những người thực hiện)
Tuỳ theo mỗi loại tổ chức, mỗi chức năng cần có những nhân lực tươngứng vế ngành nghề, trình độ, tư chất con người cụ thể và với một cơ cấu thíchhợp Nếu bảo đảm được cho mỗi loại tổ chức đó có bộ máy với cơ cấu đồng bộ
và cơ chế vận hành tốt sẽ bảo đảm hiệu quả hoạt động của toàn xã hội Vì vậy,phải xuất phát từ những yêu cầu phẩm chất của các loại chức năng lao động đó
để đào tạo nhân lực cho phù hợp, tránh tình trạng thừa thiếu trong mỗi giai đoạnphát triển KT-XH
1.3 Đối với mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ, mỗi ngành còn phải chú ýđến cơ cấu lãnh thổ, vùng, miền để đảm bảo sự tương quan NNL với yêu cầuphát triển bền vững
Trang 82 Kế hoạch hoá phát triển NNL
Trong điều kiện công nghệ thế giới đang thay đổi nhanh chóng đòi hỏichất lượng NNL cũng phải thay đổi nhanh chóng để theo kịp tiến bộ côngnghệ… Tuy nhiên, bao giê cũng cần phải có một thời gian để đào tạo và điềuchỉnh chất lượng NNL đảm bảo cân bằng cung và cầu về NNL đáp ứng yêu cầuCNH và HĐH Vai trò của Nhà nước trong việc quản lý, xây dựng chiến lượcphát triển NNL là phải đưa ra những dự báo ngay từ bây giờ để nền kinh tế cóthời gian đièu chỉnh Tuy nhiên, còng nh các kế hoạch khác trong nền kinh tế thịtrường, kế hoạch phát triển NNL chỉ là một kế hoạch chỉ dẫn, nó cung cấpnhững định hướng, còn việc thực hiện là thông qua đào tạo và những chính sáchkhuyến khích hay hạn chế thích hợp Nội dung KHH phát triển NNL bao gồm 3
bộ phận có liên quan với nhau về ý nghĩa và khác nhau về quy mô, đó là:
2.1 Kế hoạch phát triển nhân lực có mục tiêu là làm thế nào để cung vàcầu về lao động kỹ năng của các ngành nghề khác nhau khớp được với nhau vàtránh được dư thừa hoặc thiếu hụt lao động kỹ năng so với nhu cầu cần đếnnhằm đạt mục tiêu phát triển chung Vì vậy chính sách ở đây là phải dùa trênnhu cầu mỗi loại lao động mà tiến hành các giải pháp chuyển hoá đào tạo saocho đủ nguồn lao động thích ứng với nhu cầu đó của thị trường sức lao động
2.2 Kế hoạch phát triển việc làm: xử lý và giải quyết mối quan hệ giữatăng trưởng và biến đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư với giải quyết việc làm saocho sử dụng có hiệu quả tổng nguồn lao động trong mối quân hệ tác động qualại giữa cung và cầu lao động trong phát triển KT-XH
2.3 Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực: có quy mô lớn nhất, nó bao quát
cả hai kế hoạch trên KHH NNL bao gồm việc hoạch định phương hướng và cácchính sách trực tiếp và gián tiếp tác động đến số lượng và chất lượng NNL Tuynhiên cấp bách nhất là nâng cao chất lượng NNL và sử dụng có hiệu quả NNL
ấy phục vụ cho sự phát triển của con người, phát triển KT-XH và môi trườngbền vững
Trang 9Do đó nghiên cứu xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực phải toàndiện bao gồm đầy đủ các mặt chủ yếu trên đây mới có thể thực hiện được mụctiêu đề ra.
3 Hệ thống chính sách phát triển NNL bao gồm
3.1 Các chính sách điều tiết qúa trình tái sản xuất dân số và kế hoạch hoágia đình nhằm giảm nhịp tăng quy mô dân số và làm tăng chất lượng dân số vàNNL
3.2 Các chính sách tác động đến quá trình trưởng thành, phát triển và hoànhập các thế hệ thanh thiếu niên để đáp ứng các yêu cầu phát triển KT-XH
III Vai trò của NNL đối với việc phát triển KT-XH nước ta
Ngày nay, trước sự phát triển nh vò bão của cuộc Cách mạng KHCN vàThông tin, sù giao lưu trí tuệ và tư tưởng sự liên minh kinh tế giữa các khu vựctrên thế giới Sự ra đời của nhiều công ty xuyên quốc gia đã tạo ra tốc độ tăngtrưởng kinh tế chưa từng thấy Tình hình đó đã dẫn đến sự quốc tế hoá nền kinh
tế thế giới, gây nên những đảo lộn về chính trị xã hội sâu sắc mang tính toàn cầu
và đang đi tới thiết lập một trật tự thế giới mới Trong bối cảnh đó khu vực châuÁ-Thái Bình Dương đang nổi lên là khu phát triển kinh tế năng động nhất Mộttrong những yếu tố chủ chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng là vai tròcủa NNL
Theo kinh nghiệm của nhiều nước thì nếu chỉ có lực lượng lao động đông
và rẻ thì không thể tiến hành CNH, mà đòi hỏi phải có một đội ngò lao động cótrình độ chuyên môn cao Chính nhờ lực lượng lao động có trình độ chuyênmôn cao mà Nhật Bản nà các nước Nics (các nước công nghiệp mới) vận hành
có hiệu quả công nghệ nhập khẩu hiện đại, sản xuất ra nhiều mặt hàng có thểcạnh tranh với các nước công nghiệp phát triển trên thế giới
Để đảm bảo thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, phải bồi dưỡng
và phát huy nhân tố con người Với tư cách là mục tiêu và động lực phát triển,con người có vai trò to lớn không những trong đời sống kinh tế mà còn tronglĩnh vực hoạt động khác Bởi vậy phải quan tâm, nâng cao chất lượng conngười, không chỉ với tư cách là nguời lao động sản xuất, mà với tư cách là mội
Trang 10công dân trong xã hội mội cá nhân trong tập thể, mội thành viên trong cộngđồng nhân loại… không thể thực hiện CNH, HĐH nếu không có đội ngũ đôngđảo những công nhân lành nghề, những nhà khoa học kỹ thuật tài năng, giỏichuyên môn nghiệp vụ, những nhà doanh nghiệp tháo vát, những nhà lãnh đạo,quản lý tận tụy, biết nhìn xa trông rộng.
Vào những năm 80, quan điểm phát triển NNL đã trở thành vấn đề quantâm đặc biệt ở châu Á - Thái Bình Dương Con người được coi là yếu tố quantrọng nhất của sự phát triển Trong thời đại mới muốn giải quyết hài hoà các yếu
tố cung và cầu có liên quan đến chiến lược phát triển NNL thì cần xem xét khíacạnh NNL theo quan hệ mọi phía Phải thấy được vai trò sản xuất của nguồn làvấn đề cốt lõi của học thuyết vốn con người Và vai trò sản xuất của NNL cóquan hệ chặt chẽ với vai trò tiêu dùng được thể hiện bằng chất lượng cuộc sống.Việt Nam đang hướng tới một nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có
sự quản lý vĩ mô của Nhà nước với mục tiêu đảm bảo cho dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng văn minh, an ninh quốc gia và sự bền vững của môi truờng.Nền kinh tế nước ta chỉ có thể đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh hiệu quả KT-
XH cao khi nền kinh tế ấy thực sự dùa trên cơ sở CNH, HĐH trong đó phải lấyviệc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanhbền vững…
CNH, HĐH đang đặt con người trước những vấn đề phức tạp nan giải cảtrong quan hệ giữa người với người cũng như giữa người với tự nhiên Để giảiquyết chúng, cần có sự thay đổi sâu sắc cách nghĩ, cách nhìn, cách hành độngcủa con người Đây chính là lý do vì sao mà nhiều nhà khoa học kêu gọi phảitiến hành cuộc “cách mạng con người” bởi vì “cách mạng con người là chìakhoá mở đường cho hoạt động tích cực, đưa đến mội cách sống mới và đổi mới
số phận con người” CNH, HĐH với cách mạng con người là hai mặt của mộtquá trình phát triển thống nhất Công cuộc phát triển này to lớn phức tạp và khókhăn đến mức phải có sự nỗ lực to lớn mới mong “đẩy tới mội bước” trong thờigian tới
Trang 11CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ KẾ
HOẠCH PHÁT TRIỂN NNL Ở VIỆT NAM
I Thực trạng của việc phát triển NNL thời kỳ 1996-2000
1 Về chỉ số phát triển con người (HDI)
Theo báo cáo phát triển con người năm 2000 của UNDP đánh giá trình độphát triển con người của các quốc gia trên thế giới, Việt Nam đạt thứ hạng108/174 nước trên thế giới tham gia xếp hạng, với giá trị chỉ số HDI là 0,671,với các chỉ tiêu tuổi thọ bình quân đạt 67,8/năm(chỉ số tuổi thọ đạt 0,71); tỷ lệbiết chữ của người lớn là 92,9% và tỷ lệ huy động đi học các cấp của trẻ em 6 –
23 tuổi là 63%(chỉ số kiến thức đạt 0,83); GDP thực bình quân đầu người đạt1.689 ppp$US (chỉ số thu nhập 0,47), tăng 13 bậc so với năm 1992 và vượt 24bậc so với thứ hạng xếp về GDP bình quân đầu người
2 Về số lượng NNL
Số lượng NNL tăng lên đã đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và phát triển
xã hội; dân số trong tuổi lao động đã tăng tuyệt đối 12,5 triệu người sau 10 năm(từ 33,8 triệu năm 1990 lên 44,8 triệu người năm 1999, chiếm 58,4% dân số vàtrên 46 triệu người, chiếm 59,1% dân số năm 2000), trung bình mỗi năm tăngtrên 1,2 triệu người
3 Về thực trạng chất lượng của NNL
Thực trạng chất lượng của NNL đã tăng lên và đóng góp đáng kể cho tăngtrưởng kinh tế và phát trtiển xã hội nhưng vẫn là rất thấp và tồn chứa nhiều bấthợp lý về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền và sử dụng lãngphí
3.1 Trình độ học vấn của dân số trong tuổi lao động khá cao và đã tăng
lên: số người mù chữ đã giảm từ 8,4% (thành thị 3,7%, nông thôn 10,2%) năm
1989 xuống 3,8% (nữ 4,78%, thành thị 1,7%, nông thôn 5,9%) năm 1998; sốnăm học cao nhất bìng quân đạt 7,3 năm (nữ 7 năm); thành thị 8,8 năm (nữ 8,6năm); nông thôn 6,9 năm (nữ 6,6 năm); vùng đạt cao nhất là ĐBS Hồng: 8,6năm và vùng đạt thấp nhất là ĐBS Cửu Long: 5,9 năm) Đặc biệt là số người
Trang 12thuộc nhóm tuổi 1 8 – 34 có số năm đi học bình quân là 9,5 năm là tiền đề thuậtlợi để đào tạo và nâng cao trình độ nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển KT-
XH trong thời kỳ đến năm 2010; đã có tới trên 18 triệu người đã tốt nghiệpPTCS trở lên, tỷ trọng trong tổng số LLLĐ tăng tương ứng từ 45,4% lên 48,3%
… nhưng còn khác biệt lớn theo vùng (cao nhất là ĐBS Hồng đạt 75,4% và thấpnhất là ĐBS Cửu Long:21,8%) và có trên 5 triệu người đã tốt nghiệp PTTH trởlên Ngoài ra còn số học sinh đang học ở các trường sẽ là lực lượng đáng kể bổsung vào chất lượng LLLĐ: Cuối năm học 1998 - 1999 đã có 1.150 ngàn em dùthi tốt nghiệp PTCS và trên 425 ngàn thanh niên dự thi tốt nghiệp PTTH Đó lànguồn vốn quý, nếu tổ chức quản lý, đào tạo và sử dụng tốt thì đây là mội lợithế so sánh rất đáng kể cho đất nước bước vào thế kỷ XXI
3.2 Trình độ chuyên môn nghề nghiệp của nguồn nhân lực
Theo tổng điều tra dân số 1.4 1999 cả nước có 2,5 ngàn Tiến sĩ khoa học,8,8 ngàn tiến sĩ chuyên nghành, 17,2 ngàn thạc sĩ, 936 ngàn người có trình độđại học, 379,2 ngàn người có trình độ cao đẳng, 1526.2 ngàn người có trình độTHCN, 1.239,8 ngàn người có trình độ CNKT, NVKT có bằng, chiếm 7,6%tổng người từ 13 tuổi trở” lên (tỷ lệ này của các nước trong khu vực là 49 -50%) Như vậy vẫn còn lại 92,4% là lao động chưa lành nghề không có chuyênmôn kỹ thuật, nếu so sánh với giai đoạn 3 của trình độ tiến bộ kỹ thuật, từ thủcông lên cơ khí hoá (như nước ta hiện nay) thì đội ngũ lao động có chuyên môn
kỹ thuật ở nước ta là quá thấp nhưng chúng ta lại có đội ngũ cán bộ đại học vàtrên đại học cao hơn rất nhiều
Quan hệ cơ cấu chất lượng LĐ & trình độ tiên bộ kỹ thuật (%)
Loại lao động Các giai đoạn tiến bộ kỹ thuật
3 4 5 6 7 8 9 10 11Lao động giản đơn
765206,51,5-
375382-
114512,54,50,5
3602172
-5530102
-4040173
-2150254
60346
Trang 13-(Nguồn: Lao động kỹ thuật, Đề tài cấp nhà nước 88.76.054, Bộ LĐ-TB-XH)
Theo F.M.harbison: “Trong một chu kỳ dài, tốc độ tăng việc làm cần laođộng đã qua đào tạo thường tăng 2-3 lần tốc độ tăng của GĐP” Ở nước ta, lựclượng lao động đã qua đào tạo đã tăng lên với tốc độ luôn luôn thấp hơn tốc độtăng của GĐP (4,05%/năm thời kỳ 1980-1989 và 7,3%/năm thời kỳ 1990 -2000) nên không đáp ứng nhu cầu lao động có kỹ thuật cho phát triển kinh tế xãhội
- Cơ cấu đội ngũ lao động đã qua đào tạo theo cấp trình độ còn bất hợp lý,rất thiếu công nhân và nhân viên kỹ thuật Trong hầu hết các ngành đều ở tìnhtrạng “thừa thầy, thiếu thợ” ví dụ: trong ngành y tế định mức hợp lý là 1 bác sĩ/4
kỹ thuật viên và người phục vụ nhưng hiện nay tỷ lệ này ở nước ta là 1/1,3…
- Trình độ chuyên môn nghề nghiệp của LLLĐ trên các vùng đều thấp vàchênh lệch đáng kể Theo kết quả điều tra lao động việc làm năm 1996, trongtổng số lao động đang làm việc trong nhành công nghiệp và xây dựng, tỷ trọnglao động đã qua đào tạo là 27,7%, cao nhất là ở ĐBS Hồng, Đông Nam Bộ,TDMN Bắc Bộ (30 - 37%), thấp nhất là ở Duyên hải miền Trung, ĐBSCL, TâyNguyên (18 - 20%); Trong khối ngành dịch vụ là 21,8%, còn trong nông lâmnghiệp chỉ có 3,85%, cao nhất là ở ĐBS Hồng, Đông Nam Bộ (trên 5%) thấpnhất là ở ĐBSCL (0,88%)
Bảng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đang làm việc trong các ngành trên các
27,737,0233,525,3218,7320,3530,5920,7
3,864,615,54,982,623,05,320,88
21,8340,938,7726,3619,5931,4418,4315,13
Trang 143.3 Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ (tri thức)
a) Số lượng đã tăng khá: Do kết quả của mở rộng quy mô đào tạo ồ ạt thờigian qua, số người có trình độ CĐ - ĐH trở lên khá cao, đến năm 1999 có trên1,3 triệu người và có 28,5 ngàn người có trình độ trên ĐH Hiện có hơn 45.000cán bộ làm việc trong khu vực NCKH(R&D), khoảng 200.000 người làm việctrong các trường ĐH - CĐ Tỷ lệ cán bộ có trình độ CĐ- ĐH/1vạn dân đã tăng
từ 11 (năm 1995) lên 17,7 (năm 2000) (một số nước trong vùng đã đạt trên dưới
50 người/1vạn dân)
Tính riêng số cán bộ nghiên cứu và kỹ sư trên một vạn dân, ta có (4) caohơn Ấn Độ (1,1), Thái Lan (2,5), Trung Quốc (2,5) và tương đương Malaixia(4), nhưng thấp xa so với Singapore (400), Hàn Quốc (47), Nhật Bản (81)…
b) Hậu quả của cơ cấu và chất lượng đào tạo,cơ cấu đội ngò cán bộ
KH-CH trong tình trạng “dư thừa” cán bộ nghiên cứu lý thuyết Thiếu đội ngò cán
bộ thực hành những công trình sư, nhà công nghệ, kỹ sư thực hành giỏi hoạtđộng trực tiếp trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh
c) Về sử dụng còn nhiều bất hợp lý: hầu hết tập trung ở cấp TW, ở các cơquan gián tiếp, ở các thành phố lớn và rất nhiều ở những vùng nông thôn, vùngsâu vùng xa
- Số cán bộ có trình độ PTS trở lên hầu hết tập trung ở các trường đại học,các cơ quan Trung ương và hai thành phố lớn Hà Nội, TP Hồ Chí Minh
- Có tới 19,2% cán bộ KH-CN làm việc ở Hà Nội, 14% ở TP.Hồ ChíMinh, còn ở Cao Bằng chỉ có 0,6%, Sơn La 0,47, Lai Châu 0,27, Kiên Giang0,4%…
- Các cơ quan hành chính, sự nghiệp chiếm 633,7% cán bộ KH- KT,trong đó riêng ngành giáo dục chiếm 43%, còn các ngành sản xuất kinh doanhchỉ có 32,7% (chỉ tiêu này của Thái Lan là 58,2%, Hàn Quốc 48%, Nhật 64.4%,Singapore 44%) Nói chung các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp ở phíanam, tỉ lệ cán bộ có trình độ có trình độ cao còn rất thấp
Trang 15- Là một nước nông nghiệp với 80% dân số sống ở nông thôn, 69%laođộng lám nông - lâm ngư nghiệp, song 89,3% số cán bộ KH-KT có chuyên mônthuộc lĩnh vực này lại làm việc ở các cơ quan TW; 8,9% làm việc ở cấp thànhphố và tỉnh; 1,8% ở cấp huyện, còn ở cấp xã gần như không có ai.
d) Đội ngũ cán bộ KH-CN tuy có tiềm năng trí tuệ cao, tiếp thu nhanh trithức mới nhưng còn thiếu tính liên kết cộng đồng, khó hợp tácvà rất thiếu cán
bộ đầu đàn, thiếu cán bộ giỏi về kinh tế, quản lý, tài chính, ngân hàng… Mộtđiều tra mới đây cho thấy chỉ có 30,9% số người được hỏi ý kiến là có thái độsẵn sàng hợp tác với đồng nghiệp
e) Có sự chuyển dịch và hẫng hụt lớn đội ngũ chuyên gia đầu ngành trongcác ngành khoa học - công nghệ khi bước vào thế kỷ XXI Tình trạng thấtnghiệp của đội ngũ tri thức có xu hướng tăng lên
Theo tài liệu điều tra của Bộ KH-CN-MT về tỷ lệ dịch chuyển lao động(có mặt đến 11.7.1995) thì tỷ lệ người ra đi là 12% và người đến là 8,5%, trong
đó tỷ lệ tương ứng của giáo sư là 11,4% và 1,5%; phó giáo sư là 11% và 4,1%;tiến sĩ là 9,6% và 5,3%… Trong vòng 5-10 năm tới hẫnh hụt về cán bộ KH-KTđầu ngành là khó tránh khỏi
f) Trong khi chất lượng của NNL còn thấp, số lượng và tỷ lệ lao động đãqua đào tạo còn ít, thì tỷ lệ thất nghiệp của lao động đã qua đào tạo khá cao vàtăng nhanh đặc biệt là ở cấp cao đẳng, đại học và trên đại học Trong giai đoạn1996-1999, ở khu vực thành thị: số thất nghiệp có trình độ CĐ, ĐH tăng bìnhquân 12,8%/năm; số thất nghiệp có trình độ đào tạo sau đại học tăng đột biến từ0,51% trong tổng số lượng lao động có cùng trìng độ (năm 1996) lên 7,3% (năm1999) trong khi rất nhiều vùng, ngành rất cần lại không được đáp ứng Đây làtồn tại rất lớn trong chính sách sử dụng lao động kỹ thuật đặc biệt là đối với sốngười đưọc đào tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước nếu khong được tháo gỡ thì
sẽ gây lãng phí lớn, kìm hãm phát triển và gây ra sự bất công bằng xã hội
3.4 Đội ngũ cán bộ quản lý nói chung còn bất cập so với yêu cầu thực tiễn hiện nay, ảnh hưởng tới hiệu quả của công tác quản lý cả tầm vĩ mô và vi mô.
Trang 16a) Đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế (QLKT) trong các cơ quan nhà nước.Kết quả điều tra mới đây tại 9 bộ, tổng cục, cho thấy:
- Đội ngũ cán bộ làm việc trong các cơ quan quản lý có 198.236 người,chiếm 13,5% số lượng công chức nhà nước, trong đó nam 65%, nữ 35%
- Tuổi trung bình là 46 là 70% tập trung ở nhóm 40 - 50 tuổi và chỉ có 1/5
là dưới 35 tuổi (ở một số bộ tỷ lệ này chỉ 4 - 5%)
- Về trình độ chuyên môn: 84% tốt nghiệp CĐ, ĐH và trên ĐH
- Về trình độ lý luận chính trị: 60% là sơ cấp, chỉ có 5% là cao cấp Phầnlớn trưởng thành từ chuyên môn và chưa được trang bị kiến thức về QLKT
- Khả năng sử dụng máy vi tính đạt 64%, tuy nhiên mới chỉ sử dụng vàocông việc giản đơn và soạn thảo văn bản Đáng chú ý là trên 89% cán bộ trên 45tuổi không biết sử dụng máy vi tính Nhìn chung kỹ thuật tin học chưa trở thànhcông cụ quan trọng phục vụ quản lý
- Trình độ ngoại ngữ: có 5,5% không biết ngoại ngữ nào, tuy nhiên số cóbằng D trở lên rất ít, số người có thể sử dụng phục vụ công tác chuyên mônkhông nhiều
b) Cán bộ quản lý sản xuất kinh doanh Kết quả điều tra cho thấy:
- Trên 80% chủ doanh nghiệp là nam, tỷ lệ nữ giữ chức vụ giám đốc chỉthuộc loại hình công ty TNHH (23,9%), DNNN 18,8%; DNở nông thôn 14,1%
…
- Độ tuổi giám đốc: Tuổi trung bình là 40, trong đó độ tuổi 40 - 49 là42%; độ tuổi 50 – 59 là 32%; độ tuổi 30 – 39 là 20%
- Về trình độ: 77% có trình độ đại học Đa số chưa được đào tạo về trình
độ quản lý kinh doanh Kết quả điều tra tự đánh giá năng lực có 19,5% giám đốccho rằng công tác hiện nay là “rất phù hợp ”, 79% cho là phù hợp, chỉ có 2%cho là không phù hợp (thuộc nhóm doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH)
- 69% là giám đốc được bổ nhiệm, có 11% là theo chế độ bầu cử và 6% làđược thuê
Trang 17- Xuất thân của giám đốc doanh nghiệp tư nhân là công ty TNHH có 49%trước đây đã là giám đốc và phó giám đốc DNNN, 25% đã là cán bộ các cơquan quản lý Nhà nước, cộng hai loại này là 74%…
Số cán bộ QLKT có trình độ ĐH trở lên hầu hết tập trung ở thành phố,còn ở nông thôn hầu hết mới tốt nghiệp PTCS, chỉ có 19,2% tốt nghiệp ĐH
Đội ngò quản lý trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn hầu hếtđều thiếu kiến thức quản lý cần thiết, chỉ có 30% số chủ doanh nghiệp là có qualíp quản lý trên dưới 3 tháng Đa số họ thành lập doanh nghiệp và bắt đầu kinhdoanh là do thấy người khác làm ăn được thì bắt chước Chỉ có 25% số chủdoanh nghiệp biết rõ về luật công ty và luật DNTN,44% biết các luật thuế, 25%biết luật lao động, 22% biết về luật phá sản và đặc biệt chỉ có 8% biết về luậtđầu tư và có đến 60% chủ doanh nghiệp không biết rõ về luật này
Những vấn đề trên đây cho thấy thực trạng số lượng và chất lượng củađội ngò lao động QLKT ở nưóc ta Một nhà văn hoá lớn rất có lý khi cho rằng
“có một thứ quý hơn tài năng và hiếm hơn tài năng - Đó là biết sử dụng tốt tàinăng của người khác” Còn ông cha ta đã dạy “một người biết lo bằng mét khongười làm” đã nói lên vai trò và ý nghĩa quan trọng của lao động quản lý và cán
bộ làm quản lý Vì vậy đào tạo lại và xây dựng mới đội ngò cán bộ quản lý kinh
tế phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ mới là cấp bách và là biện pháp quan trọng
để phát huy vai trò nhân tố con người
3.5 Đội ngũ công nhân kỹ thuật (CNKT): quy mô còn nhỏ, số có trình độ lành nghề còn quá thấp chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước cả
về số và chất lượng.
Theo số liệu thống kê, trên cả nước số công nhân lành nghề được đào tạochính quy theo hệ thống chuẩn quốc gia chỉ chiếm 18,4% tổng số CNKT, trong
đó chỉ có 8% là thợ bậc cao, còn lại là chủ yếu đào tạo theo các loại hình khác
Hiện nay, nhu cầu CNKT còn rất lớn: các DNNN thiếu 34%; DNTN và
có vốn đầu tư nước ngoài thiếu hơn 35%; lao động phổ thông thừa 17% (DNNNthừa 30%) Trong khi khả năng đáp ứng nhu cầu LĐKT cho các KCK, KCN cònnhiều hạn chế (chẳng hạn KCN Đồng Nai hàng năm cần tuyên 25 - 30 ngàn lao
Trang 18động kỹ thuật nhưng chỉ đáp ứng được 1/3 nhu cầu…) thì tình trạng thất nghiệpcủa đội ngò lao động nói trên vẫn tiếp diễn.
Theo điều tra lao động việc làm ở các doanh nghiệp TP HCM 1998
-2000 thì tình trạng thất nghiệp của đội ngò lao động đã qua đào tạo ở khu vựcthành thị cả nước là 4,88% (năm 1999), giảm 1,66% so với năm 1996 Bìnhquân cả nước hàng năm thời kỳ 1996-1999, con số trên vẫn tăng cả tuỵêt đối(6909 người) và tương đối (5,47%) Tuy nhiên đáng lưu ý là số thất nghiệp ởtrình độ CNKT và sơ cấp lại giảm cả tuyệt đối và tương đối(4,18%), trong khi
số thất nghiệp ở trình độ THCN và CĐ, ĐH lại tăng lên
Tóm lại: Tình hình hiện tại phản ánh tình trạng không cân đối cung - cầucủa thị trường lao động kỹ thuật, đang rất thiếu đội ngò lao động có chất lượngcao (nhiều doanh nghiệp, các khu CN, khu chế xuất…) đang rất thiếu lao độnglành nghề và phải thuê lao động nước ngoài) đồng thời lại rất thừa do chất lượngkém; Thừa chuyên ngành này, thiếu chuyên ngành kia; Thừa ở thành phố songlại thiếu ở nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa
4 Về sử dụng lao động đã qua đào tạo còn bất hợp lý
Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong LLLĐ đang làm việc của cả nước đãtăng lên từ 10,44% (thành thị 23,04%, nông thôn 5,74%) năm 1989lên 13,3%(thành thị 33,4%, nông thôn 8,1%) năm 1998
Tỷ lệ huy động thấp (khoảng 70%), có sự khác biệt rất lớn giữa các ngànhKTQD, giữa các vùng nên không phát huy được hết năng lực của đội ngũ này
a) Sự phân bố khác nhau giữa các ngành Ngành nông - lâm nghiệp vớihơn 70% lao động nhưng chỉ có khoảng 14%, tổng số LĐKT LĐKT tập trungtrong khu vực dịch vụ (hơn 52%), chủ yếu là trong ngành giáo dục và y tế; khuvực CN&XD là 34% Điều này dẫn tới về sự khác nhau về tỷ lệ lao động đã quađào tạo trong tổng số lực lượng lao động đang làm việc trong cácngành(CN&XD là27,7%, Dịch vụ là 21,8%; Nông - Lâm nghiệp chỉ có 3,85%).Trong tổng số cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp có tới 89,3% làm việc ởcác cơ quan trung ương; 8,9% làm việc ở cấp thành phố và tỉnh; 1,8% ở cấp
Trang 19huyện, còn ở cấp xã gần như không có ai nên đã hạn chế đưa KH-CN vào sảnxuất nông nghiệp và nông thôn.
b) Cơ cấu trình độ lao động (ĐH/THCN/CNKT) sử dụng trong mỗi ngànhcòn bất hợp lý và cải thiện rất chậm
CN&XD; 1/1, 79/8, 17 (năm 1989) so với 1/0, 88/7,4 (năm 1996)
Nông-Lâm-Thuỷ sản; 1/4, 65/5, 86 (năm 1989) so với 1/5, 5/4,83 (năm1996)
Hành chính sự nghiệp; 1/1, 4/0, 17 (năm 1989) so với 11/1, 15/0, 11 (năm1996)
Toàn bộ nền kinh tế xã hội; 1/1, 68/2, 2,3 (năm 1989) so với 1/1, 6/4 3(năm 1996)
c) Mặc dù LĐKT chủ chiếm tỷ lệ nhỏ trong lực lượng lao động, song lạiphân bố không đều giữa các vùng, tỉnh/thành phố Năm 1998, lao động kỹ thuậtphân bố tập trung chủ yếu ở hai thành phố Hà Nội, TP HCM, ở hai vùngĐBSHồng (26,7%) và Đông Nam Bộ (23,5%), nhất là vùng kinh tế trọng điểmBắc Bộ và Nam Bộ Các vùng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số lực lượngLĐKT cả nước là Tây Nguyên (2,9%), Tây Bắc (2,85%), Duyên hải Nam Trung
Bộ (7,62%) Do đó tỷ lệ lao động kỹ thuật trong tổng số lao động đang làm việctrong các ngành KTQD của các vùng chênh lệch khá lớn: cao nhất là vùngĐBSH 27%, ĐBTĐNB 21,6%, ĐNB 18,2% và thấp nhất là ĐBSCL 6% và TâyNguyên 7,2%
Sự cách biệt lớn về LĐKT giữa các thành phần kinh tế đã thu hẹp dần.Nếu như trước đây khu vực nhà nước chỉ chiếm khoảng 14% lao động XH,nhưng lại tập trung tới 77,4% tổng số LĐKT của cả nước (năm 1989) thì nay dochủ trương giảm biên chế ở khu vực hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp nhànước nên khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã và đang có lực hót mạnh mẽ đốivới hệ thống đào tạo đã được phát triển: với lực lượng LĐKT, đặc biệt là laođộng có trình độ cao
5 Đã hình thành hệ thống cơ sở đào tạo nghề nghiệp rộng khắp bao
gồm: 139 trường CĐ-ĐH; Hệ thống 247 trường THCN; Hệ thống 151 trường
Trang 20dạy nghề chính quy trong đó có hai trường dạy nghề quốc tế; Trên 1000 cơ sởdạy nghề bán công, dân lập, tư thục và khoảng 500 trung tâm dạy nghềQuận/huyện; 189 trung tâm kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, dạy nghề nhưngnăng lực và chất lượng đào tạo chưa cao, cơ cấu đào tạo bất hợp lý về trình độ,ngành nghề và phân bố không hợp lý theo vùng, miền…
5.1 Số lượng đào tạo tăng nhanh nhưng không cân đối giữa các bậc học, đặc biệt là cao đẳng đại học tăng quá nhanh Tỷ lệ học sinh tham gia đào tạo
nghề nghiệp các loại so với tổng số thanh niên 18-23 tuổi vẫn còn rất thấp, mớichỉ có 5% (năm 1989), 7,56% (năm 1995) và 11,54% nếu kể cả dạy nghề ngắnhạn là 17,46% (năm 1998), trong khi tỷ lệ này của nước phát triển là 80-90%
5.2 Về chất lượng đào tạo thấp chưa đáp ứng nhu cầu:
- Cơ cấu các cấp đào tạo CĐ, ĐH/THCN/CNKT mất cân đối lớn nhưngchậm được cải thiện tất yếu dẫn tới sự mất cân đối về cơ cấu giữa các LĐKT
- Cơ cấu ngành nghề đào tạo rất bất hợp lý Khối đào tạo nghề những nămgần đây phát triển nhanh, thường gấp 4-5 lần học sinh nghề chính quy dài hạngóp nhần tăng nhanh sè lao động đã qua đào tạo Riêng năm 1999 có 900.000học sinh học nghề các loại, trong đó dai hạn chỉ có 150.000 người
- Hệ thông sơ sở vật chất kỹ thuật tuy có được đầu tư đáng kể nhưng nhìnchung là lạc hậu, chậm được cải thiện chưa tương xứng với mức tăng sinh viên,đặc biệt là ký túc xá, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo và các điều kiện họctập cho sinh viên thiếu nghiêm trọng
- Đội ngũ giáo viên giảng dạy không tăng theo kịp mức tăng quy mô sinhviên:
+ Đội ngũ giáo viên giảng dạy CĐ, ĐH tăng không đáng kể từ 21.889người (năm 1990) lên 22.750 người (năm 1995) và 26.120 người (năm 1998)dẫn đến tình trạng quá tải: số lưọng sinh viên CĐ,ĐH/giáo viên tăng từ 4,48người (năm 1990) lên 13,1 người (năm 1995) và 30,1 người (năm 1998)
+ Số giáo viên THCN giảm liên tục từ 10395 người (năm 1990) xuống9.425 người (năm 1995) và 9960 người (năm 1998)
Trang 21+ Số giáo viên dạy nghề hầu như không đổi từ 6.103 người (năm 1990),6.055 người (năm 1995) và 6.193 người (năm 1998)…
- Nội dung chương trình, phương pháp… còn nhiều bất cập nên chấtlượng sinh viên tốt nghiệp thấp, không đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động
và có xu hướng tỷ lệ nghịch với tăng quy mô
- Tình trạng trên cùng với chính sách sử dụng chưa hợp lý đã dẫn đến hậuquả thất nghiệp cho đội ngũ sinh viên CĐ, ĐH tốt nghiệp hiện nay, nếu ta khôngđiều chỉnh kịp thời sẽ càng nghiêm trọng hơn
5.3 Phân bố các cơ sở đào tạo nghề nghiệp không đồng đều theo lãnh thổ, chưa tương ứng với dân số và nhu cầu phát triển KT-XH.
- Điều đặc biệt lưu ý là các trường do trung ương quản lý hầu hết tậptrung chủ yếu ở các vùng có các khu công nghiệp và kinh tế phát triển mạnh nhưđồng bằng bắc bộ (42,3%), Đông Nam Bộ (30,6%) Miền Núi và Trung Du phíaBắc (27%)
- Hàng loạt trường trung học sư phạm của tỉnh được nâng cấp thànhtrường cao đẳng sư phạm Tính đến năm 1998, không kể các trường trực thuộc
bộ GD-ĐT, đã có 44/61 tỉnh có trường cao đẳng sư phạm
- Những cơ sở đào tạo công nhân kỹ thuật và phần lớn các trường THCN
do địa lý do là nơi có nhu cầu cao về lao động kĩ thuật này… Vì vậy, thanh niênnông thôn ít có cơ hội được đào tạo nghề
- Các vùng có mật độ trường cao nhất là các vùng phía bắc:
Đồng bằng Bắc Bộ chiếm tới 38,7% miền núi và trung du phía bắc đứngthứ hai với 19,3% Đông Nam Bộ 17,3% trong khi đó, cả vùng Duyên hải Trung
Bộ và Tây Nguyên chỉ chiếm 10% và đến năm 1997 vẫn còn khá nhiều tỉnhkhông có một trường đào tạo CNKT nào (Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang, NinhThuận, Bình Thuận, Kon Tum, Sóc Trăng, Trà Vinh)
Sự phân bố các cơ sở đào tạo nghề nghiệp rất chênh lệch theo vùng là mộttrong những nguyên nhân không đẩy nhanh được phát triển đào tạo nghề nghiệplàm cho tỷ lệ đi học của thanh niên nhiều vùng còn thấp và có sự chênh lệch rấtlớn giữa các vùng về tỷ lệ này Theo điều tra mức sống 1997-1998, tỷ lệ đi học
Trang 22ở nhóm 18-23 cao nhất ở các vùng Đồng bằng Bắc Bộ 16,73%, Đông Nam Bộ15,09%, thấp nhất ở Tây Nguyên 1,97% và miền núi trung du phía bắc 5,42%.
Sự chênh lệch giữa các nhóm dân cư cũng rất đáng kể: Số học sinh được đi học
ở cấp trên trung học phổ thông thuộc nhóm nghèo nhất hầu như không có ai ởnông thôn chỉ có 5,71%, trong khi ở thành thị là 22,3%
6 Quan hệ giữa tăng trưởng và biến đổi cơ cấu kinh tế với giải quyết việc làm, sử dụng lao động xã hội con nhiều bất hợp lý tác động đến phát triển NNL.
6.1 Tăng trưởng kinh tế cao đã góp phần giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng NNL, song chưa đáp ứng nhu cầu.
Trong thời kỳ 1992-1997, GDP tăng trưởng trung bình 9,1%, trong đó laođộng tăng 3,1% và năng suất lao động xã hội tăng 5,8% Trung bình tăng trưởng3% GDP đã làm tăng 1% việc làm và nâng cao hiệu quả sư dụng nguồn laođộng Số lao động làm việc trong nền kinh tế quốc dân đã tăng từ 30,3 triệungười (năm 1990) lên 34,6 triệu (năm 1995) và gần 37 triệu (năm 1997), bìnhquân mỗi năm tăng 95,8 vạn người (2,9%/người) nhưng thấp hơn mức và tốc độtăng của LLLĐ, nên số lượng và tỷ lệ người thất nghiệp và thiếu việc làm vẫntăng lên Năm 1998 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực nên tốc
độ tăng trưởng kinh tế giảm, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm cao…
Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ngày càng nghiêm trọng: Theotổng điều tra dân số 1.4.1999 có 1,45 triệu người thất nghiệp chiếm 4,05%LLLĐ Theo ĐTLĐ-VL 1.7.1998 có tới trên 9,4 triệu người thiếu việc làmthường xuyên (tăng 0,9 triệu so với năm 1997), trong đó gần 1,2 triệu ở thànhthị và trên 8,2 triệu ở nông thôn (tăng 0,9 so với năm 1997), trong đó 84% ở độtuổi 15-44 Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động của lao động hoạt động kinh tếthường xuyên ở nông thôn mới đạt 72,9% Điều đó có nghĩa là khoảng 10 triệungười, chiếm 28,5% LLLĐ của cả nước đang thất nghiệp và thiếu việc làm…
Quan hệ giữa bình quân GDP/người và cơ cấu lao động đang làm việc
ở các nước đang phát triển điển hình
Trang 23Mức GDP/người
(USD)
GDP/người và cơ cấu lao động đang làm việc (%)
320 960 1600 2560 3200Tổng số
Nông nghiệp
Công nghiệp
Dịch vô
10066925
100492130
100392635
100303040
100253342
(Nguồn: Kinh tế học của sự phát triển, Viện QLKTTƯ dịch 1990)
Ở nước ta, tăng trưởng kinh tế các ngành khác nhau đã làm biến đổi cơcấu kinh tế (GDP) kéo theo sự biến đổi về cơ cấu phân công LĐXH: trong thời
kỳ 1991-1997, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP đã giảm từ 72,6% xuống 69%;tương ứng GDP ngành dịch vụ tăng từ 35,7%-42,5% và lao động tăng từ 13,8%-18,5%; GDP công nghiệp và xây dựng tăng từ 23,8%-31,7% nhưng lao động lạigiảm từ 13,6%-12,5%
- Khu vực nông-lâm-ngư nghiệp: chiếm 8% tổng số vốn đầu tư, GDPnông nghiệp đã tăng 4,7%/năm và lao động tăng 2,1% và NSLĐ nông nghiệptăng 2,5% và rất thấp Tỷ trong nông nghiệp đã giảm nhưng vẫn rất cao, cao hơnmức trung bình của nước có GDP/ng 320 USD; tình trạng thiếu việc làm của laođộng nông nghiệp ở nông thôn là rất nghiêm trọng
- Khu vực công nghiệp: GDP công nghiệp tăng bình quân 13,8%/n trong
đó lao động tăng 1,6%/năm và NSLĐ công nghiệp tăng 12,2%/n Sự tăngtrưởng nhanh của công nghiệp dùa vào các ngành có dung lượng vốn lớn nhưng
sử dụng Ýt lao động Các ngành công nghiệp phục vụ nông nghiệp-nông thôn vàcông nghiệp tiêu dùng, đặc biệt là công nghiệp gia dụng, công nghiệp chế biến
có thị trường rất lớn phục vụ cuộc sống của gần 77 triệu dân, trên 17 triệu hộ giađình, đặc biệt là ở nông thôn và tạo gia nhiều việc làm chưa được quan tâm pháttriển và còn để hàng ngoại chiếm lĩnh…
- Khu vực dịch vụ với 17 phân ngành đã tăng nhanh và có chuyển biếntích cực trong cơ cấu GDP và thu hót thêm nhiều lao động góp phần chuyểndịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang dịch vụ Tuy nhiên số lao động làmdịch vụ trên 10 ngàn dân ở nước ta năm 1997 mới đạt 889 người và chất lượngdịch vụ thấp Tỷ trọng lao động làm dịch vụ chiếm 18,5% là thấp xa so với nước