Giang, Trà Vinh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Kon Tum, Bình Phước và Việnkiểm sát cấp cao 3, gồm 25 đơn vị cho rằng: Nhiệm vụ cụ thể của Kiểm sát viên là Kiểm sát viên kiểm sát tính hợp pháp về c
Trang 1TỔNG HỢP CÁC CHUYÊN ĐỀ VÀ THAM LUẬN HỘI THẢO
“NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ PHẠM VI TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT
1.1 Khái niệm chung về nhiệm vụ: Có các quan điểm sau:
- Viện kiểm sát các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Phú Thọ,
Bà Rịa - Vũng Tàu, Đắk Lắk, Nghệ An, Lào Cai, Ninh Thuận, QuảngNinh, Quảng Trị, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hà Giang,Đồng Tháp, Điện Biên, Hà Nội, gồm 17 đơn vị: Căn cứ vào Đại từ điển
Tiếng Việt, cho rằng: Nhiệm vụ nói chung là công việc mang tính chất bắt
buộc đối với chủ thể phải thực hiện, phải hoàn thành trong một thời gian nhất định của công việc được giao Nhiệm vụ của một chủ thể xuất phát từ
tư cách chủ thể trong quan hệ xã hội mà chủ thể đó tham gia và được pháp luật quy định
- Viện kiểm sát các tỉnh Trà Vinh, Hà Tĩnh, gồm 02 đơn vị cho rằng:
Nhiệm vụ là những công việc cần làm để đảm bảo chức năng của vị trí công việc không bị sai lệch
- Viện kiểm sát Hưng Yên cho rằng: Nhiệm vụ là trách nhiệm và
nghĩa vụ phải làm của một người nào đó khi được phân công thực hiện một công việc để hoàn thành nhiệm vụ được giao của người đó và công tác, kế hoạch của một cơ quan, tổ chức
- Viện kiểm sát các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Phú Yên,Tây Ninh, Yên Bái, Khánh Hòa, Hòa Bình, Hà Nam, Kon Tum, Bắc Giang,
Bắc Kạn, Bình Phước, Quảng Ngãi, gồm 11 đơn vị cho rằng: Nhiệm vụ
được hiểu là công việc do pháp luật hoặc cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc cá nhân có quyền giao cho cơ quan, đơn vị, tổ chức cấp dưới hoặc cá nhân phải làm vì một mục đích và thực hiện trong một thời gian nhất định.
1.2 Nhiệm vụ cụ thể của Kiểm sát viên trong kiểm sát giải quyết
vụ án hành chính
- Viện kiểm sát các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: BìnhThuận, Bạc Liêu, Gia Lai, Lạng Sơn, Nam Định, Phú Yên, Thái Nguyên,Tiền Giang, Tuyên Quang, TP Cần Thơ, Hưng Yên, Hậu Giang, Hà Giang,Đồng Tháp, Cà Mau, Quảng Ngãi, Hà Nội, Khánh Hòa, Kiên Giang, Bắc
Trang 2Giang, Trà Vinh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Kon Tum, Bình Phước và Viện
kiểm sát cấp cao 3, gồm 25 đơn vị cho rằng: Nhiệm vụ cụ thể của Kiểm sát
viên là Kiểm sát viên kiểm sát tính hợp pháp về các quyết định và hành vi của người tiến hành tố tụng và hành vi của người tham gia tố tụng, bảo đảm mọi vi phạm pháp luật trong tố tụng hành chính phải được phát hiện
và xử lý kịp thời, giúp cho việc giải quyết vụ án hành chính nghiêm minh
và khách quan được quy định cụ thể tại Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; Quy chế công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, Điều 43 Luật tố tụng hành chính năm 2015: Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án; Nghiên cứu hồ sơ vụ án; xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 84 của Luật này; Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án theo quy định của Luật này; Kiểm sát bản
án, quyết định của Tòa án; Đề xuất với Viện trưởng quyết định việc kiến nghị, kháng nghị; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; nhiệm vụ khác theo quy định của Luật TTHC
* Đánh giá: Qua công tác tổng hợp thấy các đơn vị nhìn chung đã
đưa ra được khái niệm chung về nhiệm vụ và khái niệm cụ thể về nhiệm vụcủa Kiểm sát viên trong giải quyết vụ án hành chính Tuy nhiên, chỉ có 31đơn vị bám sát đề cương hướng dẫn số 22/HD-VKSTC ngày 25/4/2017 nên
đã đưa ra khái niệm chung về nhiệm vụ, còn 23 đơn vị đã nhầm lẫn kháinhiệm chung về nhiệm vụ với khái niệm cụ thể nhiệm vụ của Kiểm sát viêntrong tố tụng hành chính (Phụ lục 1) Còn 10 đơn vị không đưa khái niệmnhiệm vụ chung mà lại đưa ra nhiệm vụ của Viện kiểm sát nói chung trong
tố tụng hành chính (Phụ lục 1)
Đối với khái niệm nhiệm vụ cụ thể của Kiểm sát viên trong kiểm sátgiải quyết vụ án hành chính đã có 25 đơn vị căn cứ vào Điều 83 Luật tổchức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (Luật TCVKSND năm 2014) vàĐiều 43 Luật tố tụng hành chính năm 2015 (Luật TTHC năm 2015) nêuđược những nhiệm vụ cụ thể của Kiểm sát viên trong kiểm sát giải quyết vụ
án hành chính Còn 02 đơn vị chỉ căn cứ vào Điều 83 Luật TCVKSND năm
2014 để đưa ra nhiệm vụ cụ thể của Kiểm sát viên trong kiểm sát giải quyết
vụ án hành chính là chưa đủ mà phải căn cứ Điều 43 Luật TTHC năm 2015
và Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính của ngànhmới đầy đủ (Phụ lục 1) Có những đơn vị lại chỉ căn cứ Điều 25 LuậtTCVKSND năm 2014 để đưa ra khái niệm cụ thể về nhiệm vụ của Kiểmsát viên trong kiểm sát giải quyết vụ án hành chính là chưa đủ vì Điều luậtnày chỉ quy định nhiệm vụ chung của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểmsát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính Có 22 đơn vị chỉ căn
cứ các quy định pháp luật chung của Luật TCVKSND năm 2014, LuậtTTHC năm 2015 để đưa ra khái niệm chung về nhiệm vụ cụ thể của Kiểmsát viên trong kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính chưa đáp ứng đượcyêu cầu của Đề cương Hướng dẫn (Phụ lục 1)
Trang 32 Khái niệm về quyền hạn của Kiểm sát viên trong giải quyết vụ
án hành chính
2.1 Khái niệm chung về quyền hạn
- Viện kiểm sát các tỉnh: Trà Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, gồm 03
đơn vị cho rằng: Quyền hạn là có quyền trong một giới hạn và cái giới hạn
này nó càng rộng thì trọng trách, trách nhiệm càng nhiều
- Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng, Viện kiểm sát tỉnh Bắc Kạn,
gồm 02 đơn vị cho rằng: Quyền hạn tức là những việc mà một cá nhân, cơ
quan, tổ chức được làm khi thực thi công vụ và được pháp luật cho phép.
- Viện kiểm sát tỉnh Hưng Yên: Quyền hạn là trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ, một người nào đó có quyền được thực hiện một yêu cầu, một việc nào đó để yêu cầu một đối tượng phải thực hiện những việc làm theo quy định của pháp luật hoặc quy tắc xử sự chung.
- Viện kiểm sát các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: BìnhThuận, Bắc Ninh, Bạc Liêu, Phú Thọ, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đắk Lắk, Nghệ
An, Lào Cai, Long An, Ninh Thuận, Phú Yên, Quảng Ninh, Quảng Trị,Sơn La, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hòa Bình, Hà Nam, Hà Giang,Đồng Tháp, Đồng Nai, Điện Biên, Kon Tum, Bắc Giang, Bình Phước, HàNội và Viện kiểm sát cấp cao 1, gồm 27 đơn vị căn cứ vào từ điển Tiếng
Việt cho rằng: Quyền hạn là quyền của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân
được xác định theo phạm vi, nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ,
vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật Quyền hạn của cơ quan, tổ chức là quyền quyết định giải quyết công việc trong phạm vi thẩm quyền của cơ quan, tổ chức Quyền hạn của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức là quyền quyết định giải quyết công việc trong phạm vi thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó.
Trong tố tụng hành chính Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính thuộc thẩm quyền Viện kiểm sát cấp mình theo
phân công của Viện trưởng và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng
- Viện kiểm sát các tỉnh: Tây Ninh, Yên Bái, gồm 02 đơn vị cho
rằng: Quyền hạn là những công việc cụ thể mà chủ thể có thể thực hiện
trong một giới hạn cho phép theo quy định do cơ quan, tổ chức, cá nhân đặt ra nhằm để đảm bảo thực hiện được một hay nhiều nhiệm vụ được phân công Có nghĩa là chủ thể chỉ được thực hiện quyền này trong một phạm vi giới hạn nhất định, việc thực hiện quyền vượt quá giới hạn cho phép được coi là hành vi lạm quyền
2.2 Khái niệm cụ thể về quyền hạn của Kiểm sát viên trong giải
quyết vụ án hành chính
- Viện kiểm sát cấp cao 3 cho rằng: Quyền hạn của KSV trong giải quyết vụ án hành chính là quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tài
Trang 4liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án, quyền trực tiếp tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định của Luật TTHC và tại phiên tòa, phiên họp, KSV có quyền kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục những vi phạm trong hoạt động tố tụng (khoản 6 Điều 84, khoản 6 Điều 43 Luật TTHC)
- Viện kiểm sát các tỉnh: Gia Lai, Bến Tre, Nam Định, Phú Yên, gồm
4 đơn vị cho rằng: KSV có những quyền hạn sau:
Được Tòa án gửi các văn bản tố tụng do Tòa án ban hành trong thời hạn luật định Được Tòa án chuyển hồ sơ vụ án để nghiên cứu Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật; yêu cầu kiến nghị Tòa án thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật; đề nghị với Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật Kiểm tra xác định tính hợp pháp, kịp thời, đầy đủ, khách quan trong quá trình thu thập tài liệu, chứng
cứ xác minh, lập hồ sơ của Toà án Yêu cầu Toà án trưng cầu giám định, xác minh làm rõ tài liệu, chứng cứ hoặc tự mình tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để đảm bảo cho việc kháng nghị Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án
- Viện kiểm sát các tỉnh: Quảng Bình, Sơn La, Viện kiểm sát cấp cao
1, Bắc Giang, Cà Mau, Quảng Ngãi, gồm 06 đơn vị cho rằng: Quyền hạn
của KSV là những quyền năng pháp lý cụ thể của KSV được quy định trong Hiến pháp, Luật TCVKSND, Luật TTHC và các văn bản pháp luật khác được KSV thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, cụ thể là: quyền yêu cầu, kiến nghị và đề nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật
- Viện kiểm sát tỉnh Hậu Giang cho rằng: Trong kiểm sát giải quyết
vụ án hành chính, KSV có quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án; quyền trực tiếp tiến hành các biện pháp thu thập tài liệu chứng cứ theo quy định của Luật TTHC, tại phiên tòa, phiên họp KSV có quyền kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục vi phạm trong hoạt động tố tụng
* Đánh giá: Nhìn chung, các đơn vị đã bám sát Hướng dẫn của Viện
kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ 10) trong đó có 35 đơn đã tiếp cận và đưa rađược khái niệm chung về quyền hạn Còn 15 đơn vị không đưa ra đượckhái niệm chung về quyền hạn mà đưa ra khái niệm về quyền hạn củaKiểm sát viên trong giải quyết vụ án hành chính (Phụ lục 2) Riêng có 03đơn vị thì không phân biệt được nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm sát viên
mà cho rằng nhiệm vụ luôn đi cùng quyền hạn, quyền năng pháp lý màpháp luật quy định cho Kiểm sát viên để thực hiện nhiệm vụ của Kiểm sátviên (Phụ lục 2)
Trang 5Về quyền hạn cụ thể của Kiểm sát viên trong giải quyết vụ án hànhchính: Có 12 đơn vị đã nêu được quyền hạn cụ thể của Kiểm sát viên tronggiải quyết vụ án hành chính, còn 24 đơn vị đã đưa ra khái niệm quyền hạn
cụ thể của Kiểm sát viên nhưng rất chung chung (Phụ lục 2), đặc biệt có 22đơn vị không phân biệt giữa quyền hạn với nhiệm vụ của Kiểm sát viên màquyền hạn và nhiệm vụ đều được quy định cụ thể tại Điều 27 Luật tổ chứcVKSND tối cao, Điều 43 Luật tố tụng hành chính (Phụ lục 2) Như vậy, cácđơn vị chưa bám sát đề cương hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tốicao để đưa ra những khái niệm chính xác về quyền hạn, quyền hạn cụ thểcủa Kiểm sát viên trong kiểm sát giải quyết vụ án hành chính
3 Tranh tụng:
3.1 Khái niệm chung về tranh tụng:
- Viện kiểm sát các tỉnh: Lâm Đồng, Bình Thuận, Bạc Liêu, HảiDương, Đà Nẵng, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bình Định, Quảng Nam và
Viện kiểm sát cấp cao 2, gồm 10 đơn vị căn cứ: Theo từ điển Luật học của
Viện khoa học pháp lý, nhà xuất bản tư pháp năm 2005 thì: “Tranh tụng là hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên gỡ tội) có quyền bình đẳng với nhau trong việc đưa ra chứng cứ
để bảo vệ quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại quan điểm và lợi ích của phía đối lập”.
“Tranh tụng tại phiên tòa là hoạt động tố tụng được tiến hành tại phiên tòa bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của bên kia dưới sự điều khiển, quyết định của Chủ tọa phiên tòa với vai trò trung gian, trọng tài Bản chất của tranh tụng là quá trình xác minh, làm rõ công khai và tranh luận giữa các bên dưới sự điều khiển của Tòa án để phân tích, thẩm định, đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, tạo cơ sở để Tòa giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp luật.”
- Viện kiểm sát thành phố Hà Nội, Viện kiểm sát tỉnh Nghệ An, gồm
02 đơn vị cho rằng: Theo Đại từ tiếng Việt năm 1998 thì tranh tụng có
nghĩa là “Kiện tụng” dùng để “ kiện cáo nhau” Còn theo từ điển Hán – Việt thì thuật ngữ “tranh tụng” được ghép từ hai từ “tranh luận” và “tố tụng”, có nghĩa là tranh luận giữa hai bên, yêu cầu Tòa án làm trọng tài
+ Về mặt lập pháp: Khái niệm tranh tụng chưa được chính thức ghi nhận hoặc giải thích trong văn bản quy phạm pháp luật nào ở nước ta từ năm 1945 đến nay Đến khi có Nghị quyết 08 thì vấn đề này mới được đặt ra.
+ Tranh tụng là hoạt động của các bên tham gia tố tụng có lợi ích đối trọng nhau thực hiện, dựa trên nguyên tắc bình đẳng trong thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ quan điểm của mình, phản bác quan điểm của phía đối lập nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.
Trang 6- Viện kiểm sát các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Đắk Lắk,
Đắk Nông, Quảng Trị, Hải Phòng, Yên Bái, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Tiền
Giang, Đồng Nai, Vĩnh Long, gồm 10 đơn vị: căn cứ theo Đại từ điển
Tiếng Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin Hà Nội- 1998 thì tranh tụng là kiện tụng Theo từ điển Hán Việt thì tranh tụng là “Cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải”.
+ Theo từ điển Luật học thì “Tranh tụng tại phiên tòa là hoạt động
tố tụng được tiến hành tại phiên tòa bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của bên kia dưới sự điều khiển, quyết định của Chủ tọa phiên tòa với vai trò trung gian, trọng tài” Bản chất của tranh tụng là quá trình điều tra công khai và tranh luận giữa các bên dưới sự điều khiển của Tòa án để phân tích, thẩm định, đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, giúp Tòa án giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp luật.
- Viện kiểm sát các tỉnh: Bà Rịa – Vũng Tàu, Ninh Bình, gồm 02
đơn vị: Căn cứ dưới góc độ pháp lý, tranh tụng được hiểu là sự tranh luận
giữa các bên dựa trên những tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, nhằm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
và làm cơ sở cho việc ra phán quyết của Tòa án Bản chất và mục đích của tranh tụng là xác định sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm Tòa án ra phán quyết là đúng đắn, chính xác.
Tranh tụng trong tố tụng hành chính lần đầu tiên được quy định tại Điều 18 Luật TTHC năm 2015, trên cơ sở cụ thể hóa khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2015, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2001, Nghị quyết 49-NQ/TW
- Viện kiểm sát các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: TâyNinh, Sơn La, Bắc Ninh, Cà Mau, Đồng Tháp, Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh, PhúYên, Quảng Ngãi, Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh, Hòa Bình, Vĩnh
Phúc, Khánh Hòa, gồm 15 đơn vị căn cứ: Đại từ tiếng Việt năm 1998 thì
tranh tụng có nghĩa là “Kiện tụng” còn theo từ điển Hán – Việt thì tranh tụng có nghĩa là “Cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải”.
Theo tạp chí khoa học pháp lý số 04/2004 khái niệm tranh tụng hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng: Tranh tụng là những hoạt động tố tụng được bắt đầu từ khi các đương sự thực hiện quyền khởi kiện và kết thúc khi có bản
án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Quá trình tranh tụng bao gồm toàn bộ các giai đoạn khởi kiện, thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử, xét xử
sơ thẩm, phúc thẩm và cả giai đoạn giám đốc thẩm, tại thẩm.
Theo nghĩa hẹp: Tranh tụng là sự đối đáp, đấu tranh giữa các bên trong vụ án với nhau về chứng cứ, yêu cầu, phản đối yêu cầu của mỗi bên
để từ đó nhằm chứng minh cho đối phương và Tòa án rằng yêu cầu và phản đối của mình có căn cứ và hợp pháp
Trang 7- Viện kiểm sát các tỉnh: Hà Nam, Ninh Thuận, Hải Dương, gồm 03
đơn vị cho rằng: Tranh tụng là tranh luận trong tố tụng Trong tố tụng bao
giờ cũng có sự tham gia của các bên có quyền và lợi ích trái ngược nhau yêu cầu Tòa án phân xử Để có cơ sở cho Tòa án phân xử thì pháp luật quy định các bên tham gia tố tụng chứng minh và tranh luận để bảo vệ yêu cầu của mình.
- Viện kiểm sát các tỉnh: Hưng Yên, Gia Lai, Quảng Bình, Hậu
Giang, gồm 04 đơn vị cho rằng: Tranh tụng là việc trình bày nội dung sự
việc, tài liệu, chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và lập luận, đánh giá, phát biểu quan điểm về một việc nào đó theo yêu cầu của đương sự được thực hiện theo quy định của luật tố tụng.
- Viện kiểm sát các tỉnh: Điện Biên, Kiên Giang, Bắc Kạn, Trà Vinh,
Bình Thuận gồm 5 đơn vị cho rằng: Tranh tụng là sự đối đáp, đấu tranh
giữa các bên trong vụ án với nhau về chứng cứ, yêu cầu, phản đối yêu cầu của mỗi bên để từ đó nhằm chứng minh cho đối phương và Tòa án rằng yêu cầu và phản đối của mình có căn cứ Bản chất của tranh tụng là quá trình điều tra công khai và tranh luận giữa các bên dưới sự điều khiển của Hội đồng xét xử để phân tích, thẩm định, đánh giá chứng cứ nhằm xác định
sự thật khách quan của vụ án, tạo cơ sở để Tòa án ra bản án, quyết định giải quyết vụ án khách quan không thiên vị, đúng pháp luật.
- Viện kiểm sát tỉnh Bến Tre cho rằng: Tranh tụng được quy định
gồm các bộ phận cấu thành là: Chủ thể tranh tụng, phạm vi tranh tụng, nội dung đảm bảo tranh tụng Theo đó, chủ thể của tranh tụng chỉ là đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
- Viện kiểm sát các tỉnh: Kon Tum, Thừa Thiên Huế, Viện kiểm sát
cấp cao 1 gồm 03 đơn vị cho rằng: Tranh tụng là hoạt động của các bên
tham gia xét xử đưa ra quan điểm của mình và tranh luận lại để bác bỏ một phần hoặc toàn bộ quan điểm của phía bên kia Tranh tụng là cơ sở để Tòa án đánh giá toàn bộ nội dung vụ án và đưa ra phán quyết cuối cùng đảm bảo tính khách quan, đúng pháp luật
- Viện kiểm sát tỉnh Nam Định cho rằng: Tranh tụng của KSV trong
phiên tòa hành chính là việc kiểm sát việc thực hiện các biện pháp nghiệp
vụ để thực hiện các quyền hạn, nhiệm vụ của mình
- Viện kiểm sát tỉnh các tỉnh Long An, Hà Giang, gồm 02 đơn vị:
Tranh tụng tại phiên tòa là hoạt động tố tụng được tiến hành tại phiên tòa bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên
và bác bỏ ý kiến, luận điểm của bên kia dưới sự điều khiển, quyết định của Chủ tọa phiên tòa với vai trò trung gian, trọng tài” Bản chất của tranh tụng là quá trình điều tra công khai và tranh luận giữa các bên dưới sự điều khiển của Tòa án để phân tích, thẩm định, đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, giúp Tòa án giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp luật.
Trang 8- Viện kiểm sát tỉnh Lào Cai: Tranh tụng là hoạt động tố tụng trong
quá trình giải quyết vụ án hành chính, được thể hiện rõ nhất ở giai đoạn xét xử, góp phần quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan, giải quyết đúng đắn vụ án của Tòa án.
- Viện kiểm sát tỉnh Bình Dương: Tranh tụng là nguyên tắc trong
hoạt động xét xử nhằm tìm ra chân lý, làm sáng tỏ sự thật khách quan, hạn chế được sự chủ quan, duy ý chí trong hoạt động tố tụng để ban hành một bản án có căn cứ, đúng pháp luật.
- Viện kiểm sát tỉnh Bình Phước: Tranh tụng là bảo đảm quan trọng
để người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng của mình Trên cơ sở đánh giá chứng cứ và các ý kiến tranh luận của các bên tham gia tố tụng HĐXX mới có điều kiện cân nhắc, xem xét để ra quyết định đúng đắn, khách quan và đúng pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa, các đương sự được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tranh tụng là sự đối đáp, đấu tranh giữa các bên trong vụ án với nhau về chứng cứ, yêu cầu, phản đối yêu cầu của mỗi bên để từ đó nhằm chứng minh cho đối phương và Tòa án rằng yêu cầu và phản đối của mình có căn
cứ và hợp pháp
- Viện kiểm sát các tỉnh: Quảng Ninh, Bắc Giang gồm 02 đơn vị:
Tranh tụng là việc tranh luận, đối đáp bảo vệ quan điểm giữa các chủ thể theo quy định của Luật tố tụng Có thể là giữa các chủ thể tham gia tố tụng với nhau hoặc cả chủ thể tiến hành tố tụng tùy thuộc vào tính chất của quan hệ pháp luật.
- Viện kiểm sát tỉnh Lạng Sơn: Tranh tụng là một quá trình được bắt
đầu từ khi người khởi kiện có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực.
3.2 Khái niệm cụ thể về phạm vi tranh tụng của Kiểm sát viên
trong giải quyết vụ án hành chính: Có các quan điểm như sau:
* Quan điểm có tranh tụng của Kiểm sát viên trong giải quyết vụ
án hành chính nhưng phạm vi tranh tụng khác nhau:
- Viện kiểm sát các tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, gồm 02 đơn vị cho rằng:
Phạm vi tranh tụng của KSV trong giải quyết vụ án hành chính là giới hạn tất cả các vấn đề mà KSV tham gia tranh tụng tại phiên tòa cần làm rõ các chứng cứ, tài liệu, căn cứ pháp lý, lập luận để Hội đồng xét xử có thể nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, chính xác nhất sự thật khách quan của vụ án hành chính.
- Viện kiểm sát các tỉnh: Thừa Thiên Huế, Đồng Tháp, Lạng Sơn,Quảng Nam, Hậu Giang, Đắk Lắk, Đắk Nông, Kom Tum, Điện Biên, AnGiang, Vĩnh Long, Viện kiểm sát cấp cao 1, Viện kiểm sát cấp cao 2, Viện
Trang 9kiểm sát cấp cao 3, gồm 14 đơn vị cho rằng: Phạm vi tranh tụng bao gồm
tất cả các vấn đề nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án Do đó, phạm
vi tranh tụng của KSV bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện (thông báo trả lại đơn khởi kiện) đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật (riêng Vĩnh Long: cả giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm)
- Viện kiểm sát các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Cao
Bằng, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Lào Cai, Thái Nguyên, Quảng Bình, Trà Vinh,
gồm 07 đơn vị cho rằng: Phạm vi tranh tụng của KSV trong vụ án hành
chính bao gồm: Tham gia hỏi và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ
án hành chính tại phiên tòa sơ thẩm và phạm vi tranh tụng của KSV được
mở rộng hơn trong hoạt động tranh luận với đương sự khi VKS kháng nghị
quy định tại khoản 3 điều 239 Luật TTHC
- Viện kiểm sát tỉnh Cà Mau cho rằng: Phạm vi tranh tụng của KSV
từ khi bắt đầu giai đoạn hỏi đến khi kết thúc giai đoạn hỏi tại phiên tòa.
- Viện kiểm sát các tỉnh: Hưng Yên, Thanh Hóa, gồm 02 đơn vị:
Phạm vi tranh tụng của KSV: Từ khi bắt đầu giai đoạn hỏi đến khi kết thúc phần phát biểu ý kiến của KSV về việc giải quyết vụ án.
- Viện kiểm sát tỉnh Bắk Kạn: Phạm vi tranh tụng là toàn bộ hoạt
động tranh tụng của KSV từ khi khai mạc phiên tòa cho đến khi kết thúc phần tranh luận nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời đúng pháp luật.
- Viện kiểm sát các tỉnh: Bắc Ninh, Bình Dương, Nam Định, Bà Rịa
- Vũng Tàu, gồm 04 đơn vị cho rằng: Phạm vi tranh tụng của KSV trong
giải quyết vụ án hành chính là giới hạn tất cả những vấn đề mà KSV tham gia tranh tụng cần làm rõ bằng các chứng cứ, tài liệu, căn cứ pháp lý, lập luận trong quá trình hỏi tại phiên tòa và trong bài phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát để việc giải quyết vụ án được khách quan, chính xác, đúng quy định của pháp luật
- Viện kiểm sát các tỉnh: Gia Lai, Long An, gồm 02 đơn vị cho rằng:
Phạm vi tranh tụng của KSV quy định tại khoản 1 Điều 175 Luật TTHC năm 2015: Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án, quan hệ tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của đương sự trong vụ án.
- Viện kiểm sát tỉnh Bình Thuận cho rằng: Phạm vi tranh tụng của
KSV là sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong giai đoạn tranh luận tại phiên tòa
- Viện kiểm sát thành phố Hồ Chí Minh, Viện kiểm sát tỉnh Bình
Phước cho rằng: Phạm vi tranh tụng của KSV khi KSV phát biểu quan điểm
của Viện kiểm sát tại phiên tòa Ngoài ra, đối với vụ án có kháng nghị của
Trang 10Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm KSV đưa ra chứng cứ, lập luận để bảo vệ quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát
- Viện kiểm sát tỉnh Hải Dương: Phạm vi tranh tụng của KSV từ giai
đoạn nghiên cứu hồ sơ cho đến khi kết thúc phiên tòa, biểu hiện tập trung nhất là tại phiên tòa (hỏi, yêu cầu công bố tài liệu… nhận xét về kết luận giám định, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án).
* Quan điểm không có tranh tụng của Kiểm sát viên trong giải quyết vụ án hành chính:
- Viện kiểm sát các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: TháiBình, Đồng Nai, Hà Giang, Quảng Trị, Tây Ninh, Kiên Giang, Khánh Hòa,Bạc Liêu, thành phố Cần Thơ, Tuyên Quang, Bến Tre, Ninh Bình, Bắc
Giang, Bình Định, Vĩnh Phúc, gồm 15 đơn vị cho rằng: KSV không tham
gia tranh tụng mà chỉ phát biểu quan điểm của mình sau khi tranh luận kết thúc và KSV giữ vị trí kiểm sát việc tuân theo pháp luật nên KSV và đương
sự không đối lập nhau về quyền và nghĩa vụ nên không có tranh tụng Luật
tố tụng hành chính không quy định rõ ràng cụ thể về phạm vi tranh tụng của KSV trong giải quyết vụ án hành chính
* Một số địa phương đưa ra quan điểm không rõ ràng:
- Viện kiểm sát các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Nghệ An,
Hà Nam, Quảng Ngãi, Ninh Thuận, Phú Yên, Hà Nội, Lâm Đồng, Đà
Nẵng, gồm 7 đơn vị cho rằng: Trong tố tụng hành chính, VKS là cơ quan
tiến hành tố tụng và Kiểm sát viên tham gia vụ án hành chính là người tiến hành tố tụng, không phải là một bên tranh tụng nên KSV không tham gia tranh tụng mà chỉ có tranh tụng giữa người khởi kiện và bên bị kiện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự; Tại phiên tòa phúc thẩm, có kháng nghị của VKS thì KSV tham gia tranh tụng để bảo vệ quan điểm của VKS.
* Một số địa phương không có quan điểm:
Gồm 4 đơn vị: Viện kiểm sát các tỉnh: Lai Châu, Yên Bái, SócTrăng, Tiền Giang,
* Đánh giá: Qua công tác tổng hợp chuyên đề của các Viện kiểm sát
cấp cao, Viện kiểm sát địa phương, đa số các đơn vị đã tiếp cận được kháiniệm chung về tranh tụng, tuy nhiên các đơn vị tiếp cận vấn đề này cònchưa toàn diện, có một số đơn vị sao chép lại các quan điểm trong Đại từđiển Tiếng Việt, trong từ điển Luật học và chưa đưa ra được quan điểm củamình về vấn đề tranh tụng cũng như tranh tụng của Kiểm sát viên trongkiểm sát giải quyết vụ án Đặc biệt một số địa phương không đưa ra đượcquan điểm của mình
Về phạm vi tranh tụng của Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sátgiải quyết vụ án hành chính, bước đầu các đơn vị cũng đã đưa ra quan điểm
và lập luận để bảo vệ quan điểm của mình Có rất nhiều quan điểm khác
Trang 11nhau về vấn đề này, đa số các đơn vị (47 đơn vị) cho rằng trong tố tụnghành chính có tranh tụng của kiểm sát viên, nhưng phạm vi tranh tụng cũng
có rất nhiều ý kiến khác nhau Còn 15 đơn vị cho rằng trong tố tụng hànhchính không có tranh tụng của KSV, 4 đơn vị thì không đưa ra được quanđiểm về phạm vi tranh tụng của KSV trong giải quyết vụ án hành chính(Phụ lục 3)
II CƠ SỞ THỰC TIỄN vÒ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN, PHẠM VI TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN
1 Thực tiễn quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi tranh tụng của Kiểm sát viên:
1.1 Các quy định của pháp luật về nhiệm vụ của Kiểm sát viên :
Nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong giải quyết vụ án hành chính lànhững công việc KSV phải thực hiện theo quy định của pháp luật khi đượcViện trưởng Viện kiểm sát phân công kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong hoạt động tố tụng hành chính nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ
án hành chính đúng pháp luật Đa số các Viện kiểm sát cấp cao và Việnkiểm sát địa phương thống nhất: Nhiệm vụ của KSV được quy định trongcác điều sau:
- Điều 4, 5, điểm e khoản 2 Điều 6, Điều 27 Luật tổ chức VKSNDnăm 2014
- Thông tư liên tịch số 03/2016
- Điều 25 Luật TTHC (Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tốtụng hành chính)
- Điều 43 Luật TTHC (Nhiệm vụ của KSV):
+ Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện
+ Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án
+ Nghiên cứu hồ sơ vụ án; xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ theoquy định tại khoản 6 Điều 84 của Luật này
+ Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến của Viện kiểmsát về việc giải quyết vụ án theo quy định của Luật này
+ Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án
+ Yêu cầu, kiến nghị Tòa án thực hiện hoạt động tố tụng theo quyđịnh của Luật này
+ Đề nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghịbản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật
+ Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu,kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người thamgia tố tụng vi phạm pháp luật
Trang 12+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.
1.2 Các quy định của pháp luật về quyền hạn:
* Quyền yêu cầu:
- Quyền yêu cầu của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác kiểm sát
việc giải quyết các vụ án hành chính được quy định chung tại Khoản 2
Điều 25 Luật TTHC quy định: Viện kiểm sát kiểm sát vụ án hành chính từ
khi thụ lý đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án; tham gia các phiên tòa, phiên họp của Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác thi hành bản án, quyết định của Tòa án; thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
+ Điểm đ Khoản 1, Khoản 2 Điều 42 quy định: Quyền yêu cầu củaViện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát
+ Khoản 6, Khoản 8 Điều 43 quy định: Quyền yêu cầu của Kiểm sátviên
+ Khoản 6 Điều 84: Quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tàiliệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án
+ Khoản 4 Điều 93 (yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ)
+ Khoản 4 Điều 166 (kiểm sát viên tham gia tố tụng có quyền đượcxem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bảnphiên tòa )
+ Điểm c Khoản 1 Điều 182 (yêu cầu công bố các tài liệu của vụ án)+ Điều 183 (yêu cầu nghe băng ghi âm, đĩa ghi hình, xem bằng ghihình, đĩa ghi hình, thiết bị khác lữu trữ âm thanh, hình ảnh)
+ Điều 186 (KSV có quyền hỏi thêm)
+ Khoản 2 Điều 259 (yêu cầu người có đơn đề nghị giám đốc thẩm
bổ sung tài liệu, chứng cứ)
+ Khoản 1 Điều 261 (yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự hoãn thihành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự)
+ Điều 286 (áp dụng các quy định của thủ tục giám đốc thẩm)
- Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-VKSTC-TANDTC ngày
31/8/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao
về phối hợp trong công tác giải quyết án hành chính:
+ Điểm a Khoản 1 và Điểm a Khoản 2 Điều 5 (yêu cầu Tòa ánchuyển hồ sơ vụ án hành chính để VKS xem xét việc kháng nghị)
+ Điều 20 (yêu cầu, kiến nghị của Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên)+ Điều 21 (yêu cầu Tòa án cho sao chụp bản sao đơn khởi kiện và tàiliệu, chứng cứ trong trường hợp trả lại đơn khởi kiện)
Trang 13+ Điều 22 (yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ)
+ Điều 23 (yêu cầu sửa đổi, bổ sung biên bản phiên tòa, phiên họp)+ Điểm a Khoản 1 Điều 27 (yêu cầu Hội đồng xét xử khắc phục viphạm về thủ tục tố tụng )
* Quyền kiến nghị (khoản 2 Điều 25, Điều 315, Điều 343)
KSV có thể tham mưu cho Viện trưởng thực hiện hoặc tự mình thựchiện các quyền kiến nghị theo quy định của Luật TTHC 2015:
- Kiến nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chưa thành niên,người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (nếu họ không cóngười khởi kiện) cư trú cử người giám hộ đứng ra khởi kiện vụ án hànhchính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người đó (khoản 3 Điều 25)
- Kiến nghị quyết định chuyển vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được quyết định (khoản 6 Điều 34);
- Kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minhngười tham gia tố tụng vi phạm pháp luật (khoản 8 Điều 43);
- Kiến nghị việc quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩncấp tạm thời (khoản 1 Điều 76);
- Kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện (Khoản 1 Điều 124);
- Kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn(khoản 1Điều 248);
- Kiến nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDtối cao (Điều 287);
- Kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ thi hành án hànhchính và cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức phải chấphành bản án, quyết định của Tòa án để có biện pháp thi hành nghiêm chỉnhbản án, quyết định của Tòa án (Điều 315);
- Kiến nghị đối với Tòa án cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và
cá nhân có trách nhiệm bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ,đúng pháp luật (Điều 343);
- Kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm (nói chung) trong quá trìnhgiải quyết các vụ án hành chính (khoản 2 Điều 25)
* Quyền kháng nghị
- Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (Điều 211)
Đây là quyền duy nhất thuộc về VKSND Theo quy định của Luật
TTHC năm 2015 thì “Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực
tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc
Trang 14thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm” Về cơ bản, đối với vụ án được
giải quyết theo thủ tục thông thường thì việc kháng nghị phúc thẩm không
có nội dung mới Tuy nhiên, do Luật TTHC năm 2015 bổ sung chế địnhmới về giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn, vì vậy, khi kháng nghị vàkiểm sát việc giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn ở giai đoạn phúc thẩm,cần lưu ý một số vấn đề sau:
Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm củaVKSND cùng cấp là 15 ngày, của VKSND cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể
từ ngày tuyên án; thời hạn kháng nghị đối với quyết định của Tòa án cấp sơthẩm của VKSND cùng cấp là 07 ngày, của VKSND cấp trên trực tiếp là
10 ngày kể từ ngày VKSND cùng cấp nhận được quyết định (khoản 1, 2Điều 213) Thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm theo thủ tục rút gọn của VKSND cùng cấp là 07 ngày, củaVKSND cấp trên trực tiếp là 10 ngày kể từ ngày nhận được bản án, quyếtđịnh (khoản 2Điều 251) Luật TTHC năm 2015 quy định mới về tráchnhiệm của VKSND khi Tòa án nhận được kháng nghị mà quyết định khángnghị đã quá thời hạn kháng nghị theo quy định của Bộ luật thì Tòa án cấp
sơ thẩm có quyền yêu cầu VKSND giải thích bằng văn bản và nêu rõ lý do(khoản 3 Điều 213) Quyết định kháng nghị đã quá thời hạn kháng nghịđược hiểu là ngày ghi trên quyết định kháng nghị đã vượt quá thời hạn 15ngày (hoặc 30 ngày) kể từ ngày tuyên án trong trường hợp kháng nghị bản
án, vượt quá 07 ngày (hoặc 10 ngày) kể từ ngày VKSND cùng cấp nhậnđược bản án, quyết định trong trường hợp kháng nghị bản án của Tòa áncấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn, kháng nghị quyết định tạm đình chỉ, quyếtđịnh đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm
- Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm:
Quy định tại Điều 260, Điều 283 Luật tố tụng hành chính
1.3 Các quy định của pháp luật là nguồn để xem xét đánh giá về tranh tụng và phạm vi tranh tụng của Kiểm sát viên:
- Quan điểm, chủ trương của Đảng trong Nghị quyết số 08-NQ/TW,Nghị Quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư phápđến năm 2020 đã đặt ra yêu cầu: “Đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết cáckhiếu kiện hành chính tại Tòa án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dântham gia tố tụng, đảm bảo sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan côngquyền trước Tòa án” Khoản 5 - Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ:
“Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”
- Điều 18 Luật TTHC năm 2015 quy định nguyên tắc: “Bảo đảmtranh tụng trong xét xử” quy định ”Tòa án có trách nhiệm bảo đảm chođương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiệnquyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩmtheo quy định của Luật này” Tuy không quy định cụ thể trong Điều 18nhưng KSV cũng là chủ thể tham gia tranh tụng tại phiên tòa hành chính:
Trang 15- Điều 175 Luật TTHC năm 2015 quy định nội dung và phương thứctranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm đã thể hiện tranh tụng tại phiên tòa có baogồm việc hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giáchứng cứ, tình tiết vụ án Điểm d khoản 1 Điều 177 quy định sau khi nghexong lời trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự thì theo sự điều hành của Chủ tọa phiên tòa, KSV có quyềntham gia hỏi người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan KSV tham gia hỏi, đối đáp với đương sự tại phiên tòa chính làminh chứng thể hiện sự tham gia tranh tụng của KSV với tư cách chủ thểtranh tụng.
- Khoản 3 Điều 239 Luật TTHC năm 2015 quy định tranh luận tạiphiên tòa phúc thẩm khi VKS kháng nghị thì KSV phải phát biểu về nhữngvấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự
đã nêu Ở đây thể hiện sự tham gia tranh tụng rõ nét nhất của KSV với tưcách là chủ thể tham gia tranh tụng, KSV với những tài liệu, chứng cứ phảitranh tụng với đương sự để bảo vệ kháng nghị của VKS
- Điều 190, Điều 201, Điều 240, khoản 5 Điều 253 Luật TTHC quyđịnh về phát biểu quan điểm của VKSND về việc tuân theo pháp luật củaThẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tốtụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thờiđiểm HĐXX nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án
Thông qua công tác tổng hợp, Viện kiểm sát các địa phương có quan điểm như sau: 15 đơn vị có quan điểm cho rằng: Không có tranh tụng của KSV trong kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, 07 đơn vị có quan điểm không rõ ràng và 04 đơn vị không có quan điểm về vấn đề này Còn lại các đơn vị đều cho rằng trong tố tụng hành chính có tranh tụng của KSV nhưng phạm vi tranh tụng cũng khác nhau như chúng tôi đã trình bày
ở mục 3 phần I.
2 Thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi tranh tụng của Kiểm sát viên trong kiểm sát giải
quyết vụ án hành chính (thời điểm từ 01/7/2015 đến 31/5/2017)
2.1 Thực tiễn công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính:
Thông qua công tác tổng hợp, VKSND các cấp đã thụ lý kiểm sát8.072 vụ, việc (sơ thẩm: 6.011 vụ, phúc thẩm: 1.758, giám đốc thẩm: 203),trong đó: Yêu cầu Tòa án xác minh thu thập chứng cứ: 164
Đã giải quyết: 3.646 vụ (sơ thẩm: 2.516 vụ, phúc thẩm: 1.084 vụ,giám đốc thẩm: 46 vụ), trong đó: Tòa án đã xét xử 36 vụ VKS kháng nghị,chấp nhận kháng nghị 31 vụ đạt tỷ lệ 86%
Kiểm sát viên tham gia 2.143 phiên tòa (Sơ thẩm: 1.253, Phúc thẩm:1.084, Giám đốc thẩm: 46)
Trang 16Kiểm sát 3.159 bản án, quyết định (Sơ thẩm: 2.370, Phúc thẩm: 789,Giám đốc thẩm: 46) phát hiện 493 bản án, quyết định có vi phạm
Quan công tác kiểm sát các cấp đã ban hành 79 kháng nghị (69kháng nghị phúc thẩm, 10 kháng nghị phúc thẩm) và 149 văn bản kiến nghịyêu cầu khắc phục vi phạm (Tòa án: 131, các cơ quan khác: 18)
Còn lại: 5.426 vụ
2.2 Quan điểm, nhận thức trong thực tiễn:
Đa số ý kiến cho rằng thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật vềnhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi tranh tụng của KSV trong giải quyết vụ ánhành chính, nhận thấy pháp luật tố tụng hành chính cơ bản đã quy định rõràng, chi tiết về nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi tranh tụng của Kiểm sátviên tạo điều kiện cho KSV thực hiện nhiệm vụ, chủ động quyền tự quyếtđịnh, cũng như tham gia tranh tụng tại phiên tòa bảo đảm việc giải quyết vụ
án của Tòa án khách quan đúng pháp luật
Tuy nhiên qua nhiều phiên tòa sơ thẩm ở cấp dưới khi tham gia xéthỏi KSV chỉ tập trung vào nội dung vụ án, chưa quan tâm đến việc thựcquyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật tố tụng hànhchính như:
- Tại phiên tòa, KSV chỉ mới chú trọng phát biểu ý kiến về kiểm sátviệc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và hầu như bỏqua việc chấp hành pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng
- Ở một số VKS địa phương, KSV vẫn chưa vận dụng, áp dụng đầy
đủ, triệt để các quy định của pháp luật về quyền hạn vì Luật TTHC có quyđịnh nhưng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, rõ ràng nên KSV vẫn cònlúng túng khi áp dụng, chẳng hạn như trong việc thực hiện quyền yêu cầuTòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hànhchính
- Luật TTHC năm 2015 quy định nội dung, phạm vi tranh tụng, tuynhiên một số nơi, KSV chưa phát huy một cách có hiệu quả của nhiệm vụtranh tụng của mình, dẫn đến việc tham gia giải quyết vụ án hành chínhchưa đạt kết quả, thể hiện thông qua chất lượng các câu hỏi, bài phát biểucủa KSV về việc giải quyết vụ án hành chính và KSV phát biểu tại tòa cònchưa thuyết phục, nội dung còn đơn giản, không sát với nội dung vụ kiện,không theo kịp diễn biến phiên tòa.(VC2)
- Trong quá trình kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, KSV đượcphân công nhiệm vụ khi phát hiện vi phạm của Tòa với tinh thần tráchnhiệm chưa cao nên không kịp thời báo cáo Lãnh đạo Viện ban hành kiếnnghị hoặc kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án có vi phạmdẫn đến hiệu quả công tác kiểm sát còn hạn chế
3 NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC
Trang 173.1 Khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật:
3.1.1 Khó khăn của Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ:
- Về kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện:
+ Luật TTHC quy định KSV có nhiệm vụ kiểm sát việc trả lại đơnkhởi kiện nhưng không quy định khi Tòa án trả lại đơn phải sao gửi choVKS đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo Thông tư 03 có quy định Tòa ánphải gửi hồ sơ khi có yêu cầu của VKS nên VKS có quyền rút hồ sơ, tàiliệu để kiểm sát Tuy nhiên, thời hạn để kiến nghị của VKS chỉ có 7 ngày
kể từ ngày nhận được thông báo trả lại đơn khởi kiện nên rất khó khăn, bởikhông phải VKS có yêu cầu là rút được hồ sơ ngay, việc tra tìm nghiên cứu
áp dụng pháp luật điều chỉnh tranh chấp trong lĩnh vực hành chính rất rộng
nên thời gian (07 ngày) là trở ngại trong việc thực hiện nhiệm vụ này (Đắk
Nông, Yên Bái)
+ Theo quy định tại Điều 123 Luật TTHC thì khi trả lại đơn khởi
kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện, Tòa án phải có văn bảnghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện và văn bản trả lại đơn khởi kiện được gửingay cho VKS cùng cấp Tuy nhiên, quy định như trên thì VKS khôngkiểm sát được căn cứ của việc trả lại đơn khởi kiện Tòa án chỉ ra thôngbáo trả lại đơn nhưng lại không có kèm theo đơn khởi kiện hoặc tài liệuliên quan để VKS xem xét việc trả lại đơn có đúng theo quy định của pháp
luật hay không (Bà Rịa - Vũng Tàu, Ninh Bình)
- Về việc tham gia phiên họp giải quyết khiếu nại, kiến nghị việc trả lại đơn khởi kiện của KSV: Khoản 3 Điều 124 quy định phiên họp xem xét,
giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện Tuy nhiên,không có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, tiến hành phiên họp, KSVvắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp; trường hợp cả ngườikhởi kiện và KSV cùng vắng mặt thì phiên họp chỉ có mặt duy nhất 01Thẩm phán, như vậy việc Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp là không khả
thi và không đảm bảo sự khách quan (Bắc Ninh)
+ Luật chưa quy định cụ thể về thủ tục mở phiên họp cũng như việcthông báo cho VKS để phân công KSV tham gia phiên họp Do đó gặp khó
khăn trong việc phân công KSV tham gia (Đồng Tháp, Thái Bình, Hà
Giang, Sơn La, Quảng Trị)
Thông tư 03 đã hướng dẫn những nội dung KSV phát biểu tại phiênhọp xem xét giải quyết khiếu nại, kiến nghị việc trả lại đơn khởi kiện củaTòa án nhưng cả Luật TTHC năm 2015 và Thông tư 03 đều không quyđịnh việc gửi văn bản phát biểu ý kiến của KSV cho Tòa án Do đó gây ra
lúng túng của KSV khi tham gia các phiên họp này (Quảng Trị)
- Về kiểm sát thông báo thụ lý: Luật TTHC năm 2015 quy định KSV
có nhiệm vụ kiểm sát thông báo thụ lý Tuy nhiên, lại không quy định Tòa
án phải gửi kèm các tài liệu, chứng cứ (Điều 126 Luật TTHC) Đồng thời,
Trang 18Luật TTHC cũng quy định khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử mới gửi
hồ sơ cho VKS nghiên cứu (Điều 147 LTTHC) Như vậy, trên thực tế khikiểm sát thông báo thụ lý, KSV chỉ kiểm sát được thời hạn, hình thức thôngbáo mà không kiểm sát được nội dung của thông báo
- Về thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và đối thoại.
Khoản 2 Điều 25 quy định:“Viện kiểm sát kiểm sát vụ án hành chính
từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án "; khoản 2 Điều 43 quyđịnh nhiệm vụ, quyền hạn của KSV: "2 Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụán" Như vậy, các quy định của pháp luật thể hiện KSV có quyền kiểm sát
và tham gia mọi hoạt động tố tụng trong việc giải quyết vụ án hành chính.Tuy nhiên, từ Điều 136 đến Điều 140 quy định về thông báo phiên họp,thành phần, trình tự, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,công khai chứng cứ và đối thoại; xử lý kết quả đối thoại đều không đề cậpđến sự có mặt của KSV Điều này đã hạn chế chức năng của KSV trong
việc kiểm sát hoạt động tư pháp của Tòa án
+ Luật TTHC năm 2015 đã quy định nguyên tắc đối thoại là nguyêntắc bắt buộc Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và đối thoại là thủ tục tố tụng cực kỳ quan trọng, là cơ hội để các bênđương sự đối thoại, hòa giải mâu thuẫn, đưa ra những tài liệu, chứng cứ đểbảo vệ quan điểm của mình Do vậy, KSV cần phải có mặt tại phiên họp đểthực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư
ký Tòa án Điều này sẽ nâng cao chất lượng phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại; đảm bảo việc giải quyết vụ
án được chính xác, đúng quy định của pháp luật (Bắc Ninh, Hà Tĩnh).
- Về thời hiệu khởi kiện: Việc áp dụng về thời hạn khởi kiện vụ án
hành chính: Tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật TTHC đối với trường hợp
coi là ”biết được” còn chưa thống nhất (Đắk Lắk, Ninh Bình, VC1, Hà
Nội)
+ Quy định về thời hiệu khởi kiện còn mâu thuẫn với quy định pháp luật khác có liên quan Chẳng hạn, khi giải quyết vụ án dân sự Tòa án xác
định có quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật thì theo yêu cầu của đương
sự Tòa án xem xét hủy bỏ quyết định đó (Điều 34 BLTTDS) Trong trường
hợp này không xem xét về thời hiệu (Vĩnh Phúc)
- Về thời hiệu yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Luật TTHC không quy định thời hiệu yêu cầu độc lập của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vậy có áp dụng thời hiệu theo quy định tạiĐiều 116 Luật TTHC đối với trường hợp này không? (Kiên Giang, Sóctrăng)
- Về thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại theo quy định tại Khoản 5 Điều
116 Luật TTHC năm 2015 “Các quy định của Bộ luật dân sự về cách xác
định thời hạn, thời hiệu được áp dụng trong tố tụng hành chính”; điểm a
Trang 19khoản 1 Điều 157 BLDS năm 2015 “Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắtđầu lại trong trường hợp sau đây:
a) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ củamình đối với người khởi kiện
Như vậy, trường hợp vụ án hành chính đã hết thời hiệu khởi kiện thì
có áp dụng thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính bắt đầu lại theo điểm akhoản 1 Điều 162 BLDS 2005 hay không? Và việc xác định bên có nghĩa
vụ đã thừa nhận nghĩa vụ của mình trong vụ án hành chính như thế nào thìrất khó xác định nên cần có hướng dẫn cụ thể
- Về kiểm sát quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ: Kiểm sát quyết định
tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án hành chính (Điều 122 Luật TTHC)quy định trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải gửiquyết định cho VKS cùng cấp Tuy nhiên luật không quy định khi Tòa án
ra quyết định thì chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu Vì vậy, rất khó khăncho KSV kiểm sát việc Tòa án ra quyết định có đảm bảo tính căn cứ và
đúng pháp luật không (Quảng Nam, Đắk Nông, Điện Biên)
- Về điều kiện tạm đình chỉ vụ án: Khoản 18 Điều 55 Luật TTHC
năm 2015 mới chỉ quy định đương sự có quyền đề nghị Tòa án tạm đìnhchỉ giải quyết vụ án nhưng chưa có hướng dẫn những trường hợp nào thìđương sự có quyền đề nghị tạm đình chỉ hay chỉ cần đương sự có yêu cầu
tạm đình chỉ thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án (Bắc
Ninh, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Sơn La, Bình Thuận Ninh Thuận, Trà Vinh, Đắk Lắk, Ninh Bình)
- Về tạm đình chỉ vụ án: Khoản 2 Điều 142 Luật TTHC năm 2015
không quy định cụ thể thời hạn giải quyết những vụ án bị tạm đình chỉđược tiếp tục giải quyết và cũng không quy định Tòa án phải gửi thông báotiếp tục giải quyết vụ án cho VKS nên khó khăn cho VKS trong quá trình
kiểm sát giải quyết vụ án (Quảng Ninh)
- Về việc ra quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ: Trường hợp sau khi
Thẩm phán đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử, trong giai đoạnchờ đến ngày mở phiên tòa, nếu có một trong các căn cứ quy định tại Điều
141, Điều 143 Luật TTHC thì có thể ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ
vụ án hay không? Nếu có thì thẩm quyền ban hành như thế nào (Ninh Bình).
- Về việc gửi hồ sơ nghiên cứu Điều 231 LTTHC: Tòa án gửi hồ sơ
cho VKS nghiên cứu trong vòng 15 ngày là bất cập Với thời hạn trên làquá ngắn, bởi vì vụ án hành chính rất phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực
khác nhau nên cần nhiều thời gian để xem xét, nghiên cứu (Quảng Ninh,
TP Đà Nẵng, Kiên Giang, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Đắk Nông, Ninh Bình)
Trang 20- Về tham gia phiên họp, phiên tòa của KSV: Khoản 2 Điều 25 quy định: “Viện kiểm sát kiểm sát vụ án hành chính từ khi thụ lý đến khi kết
thúc việc giải quyết vụ án; tham gia các phiên tòa, phiên họp của Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác thi hành bản án, quyết định tòa án; thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị kháng nghị theo pháp luật” Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 156 quy định về việc có mặt của KSV
tại phiên tòa sơ thẩm:“Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng
cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa, nếu vắng mặt thì HĐXX vẫn tiến hành xét xử”; khoản 1 Điều 244 quy định: ”Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa HĐXX quyết định hoãn phiên tòa khi Kiểm sát viên vắng mặt trong trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị" Mặt khác, theo quy định tại Điều
162, Điều 232 thì các trường hợp luật quy định hoãn phiên tòa không cótrường hợp vắng mặt KSV Tương tự, Điều 208 về phiên họp xét kháng cáoquá hạn vắng mặt vẫn họp
Quy định nêu trên rất bất cập bởi vì nếu KSV vắng mặt tại phiên tòa
sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm (trừ trường hợp VKS có kháng nghị) màHội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử thì KSV sẽ không thực hiện đượcchức năng, nhiệm vụ kiểm sát được diễn biến tại phiên tòa để có quan điểm
về tố tụng cũng như nội dung vụ án (Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Nam Định,
Nghệ An, Đà Nẵng, Hải Phòng, VC2, Kiên Giang, Hải Dương, Đồng Nai, Yên Bái, Hà Giang, Thái Nguyên, Hải Dương, Quảng Trị, Bình Thuận, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Sóc Trăng, An Giang, Hà Nội, Thái Bình)
- Về việc hỏi và tranh luận sau nghị án
Điều 192 quy định: "Qua tranh luận hoặc qua nghị án, nếu xét thấy
có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc xét hỏi chưa đầy đủ hoặc cầnxem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và
tranh luận" Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận thấy có tình tiết, chứng
cứ cần phải làm rõ và quay trở lại việc hỏi và tranh luận Trường hợp việchỏi và tranh luận phát sinh tình tiết mới thay đổi nội dung vụ án, dẫn đếnquan điểm giải quyết trong bài phát biểu của KSV không còn đảm bảo, cóthể trái với báo cáo đề xuất Lãnh đạo Viện trước đó thì trường hợp này giảiquyết như thế nào? Đây là một vấn đề vướng mắc cần phải làm rõ
- Về việc gửi bản phát biểu của KSV: Điều 190, Điều 262, Điều 240,
Khoản 2 Điều 270, Điều 306 Luật TTHC quy định: ”Ngay sau khi kết thúc
phiên tòa, KSV phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ
sơ vụ án” là không phù hợp bởi vì bài phát biểu của KSV không những căn
cứ vào hồ sơ vụ án mà còn căn cứ nội dung xét hỏi, kết quả tranh luận, cáctài liệu, chứng cứ phát sinh tại phiên tòa từ đó KSV mới có thể xây dựngbài phát biểu đầy đủ và đưa ra được quan điểm giải quyết vụ án được chínhxác nhất nên ngay sau khi kết thúc phiên tòa KSV không thể gửi ngay bài
phát biểu được (Nam Định, Nghệ An, Kiên Giang, Đồng Nai, Thái Bình,
Trang 21Hà Giang, Lạng Sơn, Sơn La, Thái Nguyên, Hà Nam, Quảng trị, Bình Thuận, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Sóc Trăng, Ninh Thuận, An Giang)
- Về họp xét kháng cáo quá hạn: Khoản 3 Điều 208 quy định ”Căn
cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc kháng cáo quá hạn, ý kiến của đương sự kháng cáo quá hạn, đại diện VKS tại phiên họp, Hội đồng xét kháng cáo quá hạn quyết định theo đa số về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn ” Quy định chưa rõ ràng, không gửi
thông báo cho VKS tham gia nên khó khăn cho việc phân công KSV tham
gia phiên họp và VKS có phải gửi văn bản không? (Hải Phòng)
3.1.2 Khó khăn của Kiểm sát viên khi thực hiện quyền hạn.
- Về chế tài: Điều 25 Luật TTHC quy định quyền yêu cầu, kiến nghị
của Viện kiểm sát nhưng Luật chưa quy định cụ thể, rõ ràng về cơ chế đảm
bảo cho các quyền năng (Vĩnh Phúc, Nghệ An, Sơn la, Ninh Bình, Nam
Định)
- Khoản 2 Điều 25 Luật TTHC năm 2015 quy định: VKS kiểm sát
vụ án hành chính từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án; thamgia các phiên tòa, phiên họp của Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong công tác thi hành bản án, quyết định của Tòa án; thực hiện các quyềnyêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật (Khoản 2 Điều
25 Luật TTHC) Tuy nhiên, Luật lại quy định: VKS được nghiên cứu hồ sơ
vụ án từ khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử nên việc thực hiệnnhiệm vụ và quyền hạn của VKS bị hạn chế
- Về việc xem xét, kiến nghị việc trả lại đơn khởi kiện
Khoản 1 điều 124: Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được văn
bản trả lại đơn khởi kiện, VKS có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơnkhởi kiện Tuy nhiên nếu chỉ căn cứ vào Thông báo trả lại đơn khởi kiện
mà không có đơn khởi kiện và chứng cứ tài liệu kèm theo thì rất khó đểVKS thực hiện quyền kiến nghị Mặt khác, VKS cũng chỉ có thể kiểm sátviệc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án khi Tòa án gửi thông báo trả lại đơnkhởi kiện cho VKS, trường hợp Tòa án không gửi thông báo thì VKSkhông thể thực hiện được chức năng kiểm sát vì Luật TTHC không quyđịnh VKS được quyền kiểm sát trực tiếp tại Tòa án về việc xem xét và thụ
lý đơn khởi kiện Như vậy sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự (Vĩnh
Phúc, Nghệ An, Sơn La, Hà Nội, Ninh Bình)
- Về quyền thu thập tài liệu, chứng cứ của KSV
Luật TTHC 2015 quy định 07 biện pháp thu thập chứng cứ Thẩmphán được phép tiến hành (khoản 2 Điều 84) Đối với VKS, khoản 6 Điều
84 chỉ quy định“Viện kiểm sát có thể xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ
để bảo đảm cho việc kháng nghị” mà không quy định rõ VKS được tiến
hành những biện pháp thu thập chứng cứ nào (Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Sơn
La)
Trang 22Khoản 4 Điều 93 quy định trường hợp VKS có yêu cầu cung cấp tàiliệu, chứng cứ thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện theokhoản 3 Điều 93 Như vậy, Luật đã quy định rõ ràng những trường hợpVKS có quyền thu thập tài liệu, chứng cứ trong giải quyết vụ án hành chính
và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp tàiliệu, chứng cứ đó cho VKS Tuy nhiên, trong trường hợp VKS đã có yêucầu mà đối tượng bị yêu cầu có hành vi cản trở hoạt động xác minh, thuthập chứng cứ hoặc không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho VKS thì giảiquyết như thế nào?
Hiện nay, Luật chỉ quy định việc xử lý hành vi cản trở hoạt độngxác minh, thu thập chứng cứ và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa
án (Điều 318, Điều 325) mà chưa quy định chế tài xử lý hành vi cản trởhoạt động xác minh, thu thập chứng cứ và không cung cấp tài liệu, chứng
cứ cho VKS Đây là thiếu sót rất lớn, có thể ảnh hưởng đến quá trình thực
hiện chức năng của VKS trong việc giải quyết vụ án hành chính (Bắc
Ninh, Tây Ninh)
- Về xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, thẩm định tài sản:
Điều 88 quy định việc xem xét, thẩm định tại chỗ; Điều 91 quy định về
Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản nhưng không quy định VKS cóquyền tham gia các hoạt động này
- Về thời hạn kháng nghị: Điều 213 Luật TTHC thời hạn kháng nghị
của VKS ngắn, không đảm bảo thời gian cho VKS thực hiện kháng nghị
(Kiên Giang, Nam Định, Sóc Trăng)
3.1.3 Khó khăn về quy định của pháp luật thực định về tranh tụng và phạm vi tranh tụng của KSV trong quá trình giải quyết vụ án hành chính:
- Tranh tụng cũng như phạm vi tranh tụng trong vụ án hành chính
chưa được quy định cụ thể, về nội dung cũng như phương thức tranh tụng.Trên thực tế giải quyết vụ án, việc tranh tụng gần như không diễn ra vì đặcthù các vụ án hành chính thường chỉ có một bên (người khởi kiện) tham gia– có mặt tại tòa, còn bên người bị kiện thì thường vắng mặt (có đơn xinvắng mặt hợp lệ), việc đối thoại trực tiếp giữa hai bên cũng không thựchiện được vì lý do này Việc xác minh thu thập tài liệu chứng cứ cũng rấtkhó khăn, vì tài liệu xác minh lại là tài liệu do chính bên người bị kiện đưa
ra Tại phiên tòa, thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ đọc được ý kiến của bên
bị kiện và bên khởi kiện có phản hồi lại chứ không có kết quả tranh tụng vàkhông thực hiện được trình tự hỏi đáp Tất cả những điều này đều dẫn đếnkhông đảm bảo nguyên tắc tranh tụng cũng như không thực hiện được việc
tranh tụng (Hà Nội)
- Về chủ thể tham gia tranh tụng:
Khoản 1 Điều 18 LTTHC năm 2015 quy định cụ thể: Tòa án cótrách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
Trang 23pháp của đương sự được thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm,phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Luật này Theo đóLuật khẳng định chủ thể tranh tụng chỉ bao gồm đương sự, người bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Khoản 1 Điều 175 LTTHC năm 2015 quy định: ”Tranh tụng tạiphiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phátbiểu quan điểm lập luận, đánh giá chứng cứ, tình tiết vụ án, quan hệ phápluật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của đương sựtrong vụ án“ Theo quy định nêu trên, có căn cứ cho rằng KSV tại phiên tòahành chính sơ thẩm cũng là chủ thể tranh tụng Vì tại phiên tòa, sau khinhững người tham gia tố tụng hỏi và đối đáp xong, KSV sẽ phát biểu quanđiểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhândân, Thư ký Tòa án của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý đếntrước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và nêu quan điểm về việc giảiquyết vụ án Bản phát biểu của KSV có đầy đủ các nội dung như: Phát biểuquan điểm, đánh giá chứng cứ, tình tiết vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp
và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của đương sự trong vụ án
Khoản 3 Điều 239 LTTHC quy định về tranh luận tại phiên tòa hànhchính phúc thẩm như sau: ”3 Trình tự tranh luận đối với kháng nghị củaViện kiểm sát được thực hiện như sau:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phát biểu
về tính hợp pháp, tính có căn cứ đối với kháng nghị của Viện kiểm sát.Đương sự có quyền bổ sung ý kiến
b) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về những vấn đề mà người bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự đã nêu
Như vậy, tại phiên tòa hành chính phúc thẩm, nếu VKS có khángnghị phúc thẩm thì VKS là chủ thể tham gia tranh tụng, nội dung tranh tụnglà: phát biểu ý kiến về những vấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của đương sự, đương sự đã nêu Có thể thấy, việc quy định về chủ thểtranh tụng trong TTHC năm 2015 còn mâu thuẫn, chưa có sự thống nhất.Dẫn đến tình trạng hiện nay có nhiều nhận thức khác nhau về tranh tụng
của KSV trong quá trình giải quyết vụ án (Quảng Ngãi)
- Theo Điều 18 Luật TTHC thì Chủ thể tham gia tranh tụng bao gồmcác đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Nghĩa làKSV không phải là chủ thể của các bên tham gia tranh tụng mà chỉ là chủthể tham gia quá trình tranh tụng, lắng nghe và hỏi các bên trong vụ án đểlàm căn cứ chứng minh sự thật vụ án, chưa tham gia đúng tinh thần nguyên
tắc tranh tụng, chưa tham gia sâu rộng vào hoạt động tranh tụng (VC1,
VC2, Lâm Đồng)
- Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi tranh tụng của KSVtrong Luật TTHC năm 2015 chưa thể hiện rõ nét, còn hẹp, chưa nổi bật vị
Trang 24trí, vai trò, ý nghĩa tranh tụng của KSV tại phiên tòa nhất là phiên tòa sơ
thẩm.(Bình Phước, Hậu Giang)
- Luật TTHC năm 2015, không quy định cụ thể nội dung hoạt độngtranh tụng của KSV tại phiên tòa dẫn đến nhận thức chưa rõ về vai trò,trách nhiệm tranh tụng của KSV Điều này làm giảm hiệu quả của công táckiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính và ảnh hưởng rất lớn đến
chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS (VC3)
3.2 Khó khăn vướng mắc do nhận thức và áp dụng pháp luật
- Về thời hiệu khởi kiện: Luật TTHC quy định thời hiệu khởi kiện là
01 năm kể từ ngày ”nhận được” hoặc ”biết được” Đối với trường hợpngười khởi kiện không phải là đối tượng bị tác động trực tiếp bởi quyếtđịnh hành chính thì thời hiệu khởi kiện bắt đầu tính từ ngày họ ”biết được”.Việc xác định thời điểm ”biết được” chưa được ngành cấp trên hướng dẫn
cụ thể Quan điểm của hai ngành chưa thống nhất Có những vụ án khingười khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà thửađất đó đã được người khác sử dụng từ 30 – 40 năm, xây nhà kiên cố, ngườikhởi kiện biết việc sử dụng đó nhưng trong đơn khởi kiện lại trình bày với
lý do: Khi đến Uỷ ban nhân dân thì mới biết được số, ngày, tháng, năm củaGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên mới khởi kiện Việc quy định thờihiệu khởi kiện như hiện nay chưa đáp ứng được việc bảo vệ quyền lợi
chính đáng của đương sự (Nghệ An, Khánh Hòa)
+ Điểm a khoản 2 Điều 116 LTTHC: Một năm kể từ ngày nhận đượchoặc biết được quyết định hành chính Nhận thức về quy định này khôngthống nhất:
Quan điểm cho rằng: Đối với người nhận được quyết định hànhchính theo quy định của pháp luật (Chủ sử dụng nhận được giấy chứngnhận quyền sử dụng đất, người bị xử phạt vi phạm hành chính ) thì thờiđiểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện kể từ ngày họ nhận được quyết địnhhành chính Đối với người không nhận được quyết định hành chính thì thờihiệu khởi kiện tính từ ngày họ ”biết được” quyết định hành chính
Quan điểm thứ hai: Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện làngày ”nhận được” hoặc ”biết được” quyết định hành chính xâm phạm đếnquyền và lợi ích hợp pháp của mình Như vậy thời điểm bắt đầu thời hiệukhởi kiện là ngày ”biết được” quyết định hành chính xâm phạm quyền vàlợi ích hợp pháp của họ mà không kể trước đó họ đã nhận được quyết định
hành chính (VC1, Hà Nội)
- Việc khởi kiện khi hết thời hiệu khởi kiện: là trường hợp không có
quyền khởi kiện thỏa mãn theo Điều 115, 116 Luật TTHC Trường hợp nàycần trả lại đơn khởi kiện theo điểm a khoản 1 điều 123 Luật TTHC NếuTòa án án đã thụ lý thì cần đình chỉ theo điểm g khoản 1 Điều 143 LuậtTTHC Tuy nhiên tại điểm h khoản 1 Điều 143 có quy định đình chỉ cáctrường hợp theo khoản 1 Điều 123 Như vậy, việc hết thời hiệu khởi kiện