1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm định tính hiệu quả dạng yếu của thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 20102016

68 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiểm định tính hiệu quả dạng yếu của thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 20102016Đề tài này nhằm đạt các mục tiêu: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về thị trường chứng khoán Đề tài này nhằm đạt các mục tiêu: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về thị trường chứng khoán Đề tài này nhằm đạt các mục tiêu: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về thị trường chứng khoán

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KIỂM ĐỊNH TÍNH HIỆU QUẢ DẠNG YẾU CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện: Giáo viên hướng dẫn

Lê Đình Khôi Tiến sĩ Trần Thị Bích Ngọc Lớp: K46B Tài chính

Niên khoá: 2012-2016

Huế, Khóa học 2012 - 2016

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 2

Trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới Cô giáo TS.Trần Thị Bích Ngọc

- người trực tiếp hướng dẫn đã quan tâm, đưa ra những chỉ bảo quý báu và giúp đỡ về mọi mặt để tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Kế toán – Tài chính, trường Đại học Kinh tế Huế đã tận tình dạy dỗ và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa học

Xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình và bạn bè đã quan tâm, động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

TÓM TẮT KHOÁ LUẬN

Luận văn này xem xét tính hiệu quả dạng yếu của thị trường chứng khoán Việt Nam Giá đóng cửa của bảy bộ chỉ số là VN-Index, HNX-Index, VN-30-Index, VN50-Index, SMALLCAP-Index, MIDCAP-Index, LARGECAP-Index được thu thập từ trang cophieu68.vn trong giai đoạn 3/2010-3/2016 Nghiên cứu này sử dụng phương pháp thống kê mô tả, kiểm định phân phối chuẩn, kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định tính tự tương quan và kiểm định đoạn mạch để xem xét mức độ hiệu quả của thị trường chứng khoán Việt Nam Kết quả cho thấy rằng thị trường chứng khoán Việt Nam không đạt hiệu quả ở dạng yếu

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt Từ tiếng Anh đầy đủ Nghĩa tiếng Việt tương đương TTCK Thị trường chứng khoán

EMH Efficient Market Hypothesis Lý thuyết thị trường hiệu quả HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội HoSE Sở giao dịch chứng khoán Thành phố

Hồ Chí Minh ADF Augmented Dickey Fuller Kiểm định Dickey-Fuller bổ sung TTHQ Thị trường hiệu quả

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 5

MỤC LỤC

TÓM TẮT KHOÁ LUẬN ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii

Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Đối tượng nghiên cứu 2

5 Phạm vi nghiên cứu 2

6 Kết cấu đề tài 2

Phần 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ TÍNH HIỆU QUẢ CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 4

1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán 4

1.1.1 Thị trường chứng khoán 4

1.1.2 Chức năng và vai trò của thị trường chứng khoán 4

1.2 Lý thuyết về tính hiệu quả của thị trường chứng khoán 6

1.2.1 Thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis) 6

1.2.2 Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên (Random walk hypothesis) 8

1.2.3 Tầm quan trọng của lý thuyết thị trường hiệu quả 8

1.2.4 Các giả định của lý thuyết thị trường hiệu quả 9

1.2.5 Các dạng thị trường hiệu quả 9

1.2.6 Các đặc trưng cơ bản của thị trường hiệu quả 10

1.2.7 Kiểm định tính hiệu quả dạng yếu của thị trường 10

1.2.8 Các nghiên cứu trước đây về thị trường hiệu quảdạng yếu 14

Chương 2: KIỂM ĐỊNH TÍNH HIỆU QUẢ DẠNG YẾU CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 17

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 6

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam 17

2.1.2 Giới thiệu các bộ chỉ số được sử dụng 19

2.2 Kiểm định tính hiệu quả của TTCK Việt Nam 27

2.2.1 Kiểm định tính phân phối chuẩn của các chuỗi lợi suất: Jarque-Bera test 27

2.2.2 Kiểm định tính dừng của các chuỗi lợi suất: Unit root test 32

2.2.3 Kiểm định sự ngẫu nhiên của chuỗi lợi suất: Runs test 37

2.2.4 Kiểm định tính độc lập của chuỗi lợi suất: 39

2.2.5 Kết luận về mức độ hiệu quả của thị trường 42

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44

3.1 Kết quả nghiên cứu 44

3.2 Những gợi ý cho nhà đầu tư 44

Phần 3: KẾT LUẬN 45

1 Kết luận 45

2 Những hạn chế của đề tài 45

3 Phương hướng phát triển của đề tài 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

PHỤ LỤC 49

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Biểu đồ chỉ số VN-Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 20

Hình 2.2 Biểu đồ chỉ số VN30-Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 21

Hình 2.3 Biểu đồ chỉ số VN50-Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 22

Hình 2.4 Biểu đồ chỉ số SMALLCAP –Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 23

Hình 2.5 Biểu đồ chỉ số MIDCAP –Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 24

Hình 2.6 Biểu đồ chỉ số LARGECAP –Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 25

Hình 2.7 Biểu đồ chỉ số HNX –Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 26

Hình 2.8 Phân tích mô tả VN-Index 27

Hình 2.9 Phân tích mô tả HNX-Index 28

Hình 2.10 Phân tích mô tả VN30-Index 28

Hình 2.11 Phân tích mô tả VN50-Index 29

Hình 2.12 Phân tích mô tả SMALLCAP-Index 30

Hình 2.13 Phân tích mô tả MIDCAP-Index 30

Hình 2.14 Phân tích mô tả LARGECAP-Index 31 Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Thống kê mô tả chỉ số VN-Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 20

Bảng 2.2 Thống kê mô tả chỉ số VN30-Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 21

Bảng 2.3 Thống kê mô tả chỉ số VN30-Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 22

Bảng 2.4 Thống kê mô tả chỉ số SMALLCAP-Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 23

Bảng 2.5 Thống kê mô tả chỉ số MIDCAP-Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 24

Bảng 2.6 Thống kê mô tả chỉ số LARGECAP-Index từ 22/3/2010 đến 31/03/201625 Bảng 2.7 Thống kê mô tả chỉ số HNX-Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 26

Bảng 2.8 Kết quả kiểm định ADF với chuỗi tỷ suất sinh lợi chỉ số VN-Index 32

Bảng 2.9 Kết quả kiểm định ADF với chuỗi tỷ suất sinh lợi chỉ số HNX-Index 32

Bảng 2.10 Kết quả kiểm định ADF với chuỗi tỷ suất sinh lợi chỉ số VN30-Index 33

Bảng 2.11 Kết quả kiểm định ADF với chuỗi tỷ suất sinh lợi chỉ số VN50-Index 33

Bảng 2.12 Kết quả kiểm định ADF với chuỗi tỷ suất sinh lợi chỉ số SMALLCAP-Index 34

Bảng 2.13 Kết quả kiểm định ADF với chuỗi tỷ suất sinh lợi chỉ số MIDCAP-Index 35

Bảng 2.14 Kết quả kiểm định ADF với chuỗi tỷ suất sinh lợi chỉ số LARGECAP-Index 35

Bảng 2.15 Tổng hợp kiểm định tính hiệu quả dạng yếu bằng phương pháp kiểm định ngiệm đơn vị 36

Bảng 2.16 Kết quả kiểm định đoạn mạch với chuỗi tỷ suất sinh lợi VN-Index 37

Bảng 2.17 Kết quả kiểm định đoạn mạch với chuỗi tỷ suất sinh lợi HNX-Index 37

Bảng 2.18 Kết quả kiểm định đoạn mạch với chuỗi tỷ suất sinh lợi VN30-Index 37

Bảng 2.19 Kết quả kiểm định đoạn mạch với chuỗi tỷ suất sinh lợi VN50-Index 37

Bảng 2.20 Kết quả kiểm định đoạn mạch với chuỗi tỷ suất sinh lợi SMALLCAP-Index 38

Bảng 2.21 Kết quả kiểm định đoạn mạch với chuỗi tỷ suất sinh lợi MIDCAP-Index 38

Bảng 2.22 Kết quả kiểm định đoạn mạch với chuỗi tỷ suất sinh lợi LARGECAP-Index 38 Bảng 2.23 Tổng hợp kết quả kiểm định tính hiệu quả dạng yếu sử dụng phương pháp kiểm định đoạn mạch 39

Bảng 2.24 Kết quả hồi quy đối với chuỗi tỷ suất sinh lợi VN-Index 39

Bảng 2.25 Kết quả hồi quy đối với chuỗi tỷ suất sinh lợi HNX-Index 40 Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 9

Bảng 2.26 Kết quả hồi quy đối với chuỗi tỷ suất sinh lợi VN30-Index 40

Bảng 2.27 Kết quả hồi quy đối với chuỗi tỷ suất sinh lợi VN50-Index 40

Bảng 2.28 Kết quả hồi quy đối với chuỗi tỷ suất sinh lợi SMALLCAP-Index 41

Bảng 2.29 Kết quả hồi quy đối với chuỗi tỷ suất sinh lợi MIDCAP-Index 41

Bảng 2.30 Kết quả hồi quy đối với chuỗi tỷ suất sinh lợi LARGECAP-Index 41

Bảng 2.31 Tổng hợp kiểm định tính hình độc lập của các chuỗi lợi suất 42

Bảng 2.32 Tổng hợp kết quả kiểm định với các chuỗi lợi suất 42

Bảng 3.1 Kiểm định ADF đối với chuỗi VN-Index 49

Bảng 3.2 Kiểm định ADF đối với chuỗi HNX-Index 50

Bảng 3.3 Kiểm định ADF đối với chuỗi VN30-Index 51

Bảng 3.4 Kiểm định ADF đối với chuỗi VN50-Index 52

Bảng 3.5 Kiểm định ADF đối với chuỗi SMALLCAP-Index 53

Bảng 3.6 Kiểm định ADF đối với chuỗi MIDCAP-Index 54

Bảng 3.7 Kiểm định ADF đối với chuỗi LARGECAP-Index 55

Bảng 3.8 Kết quả hồi quy VN-Index 56

Bảng 3.9 Kết quả hồi quy HNX-Index 56

Bảng 3.10 Kết quả hồi quy VN30-Index 57

Bảng 3.11 Kết quả hồi quy VN50-Index 57

Bảng 3.12 Kết quả hồi quy SMALLCAP-Index 58

Bảng 3.13 Kết quả hồi quy MIDCAP-Index 58

Bảng 3.14 Kết quả hồi quy LARGECAP-Index 59 Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 10

Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Đối với việc đánh giá sức mạnh tăng trưởng và thịnh vượng của nền kinh tế của mọi quốc gia trên thế giới, các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (World Bank); Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF); Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và quan trọng nhất là các tổ chức xếp hạng tín dụng như Standard & Poor’s, Moody's, Fitch Ratings vẫn chủ yếu xem xét thị trường chứng khoán ở những quốc gia đó

Thị trường chứng khoán cũng là một chỉ số của nền kinh tế Nếu nhà đầu tư tin tưởng vào nền kinh tế, họ sẽ mua cổ phiếu Việc thị trường chứng khoán hoạt động ổn định và hiệu quả là một tiêu chí rất quan trọng trong việc xác định sức khỏe của nền kinh tế, tuy nhiên việc xác định tính hiệu quả của thị trường lại không dễ dàng có được nếu chỉ xem xét các dấu hiệu bên ngoài

Chính vì thế, việc xác định được tính hiệu quả của nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng là rất quan trọng để từ đó các nhà đầu tư có căn cứ

để đầu tư vào thị trường, nâng cao lòng tin của nhà đầu tư

Đó là lý do vì sao tôi chọn đề tài “Kiểm định tính hiệu quả dạng yếu của thị

trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010-2016” làm Luận văn tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu chung

Luận văn tập trung vào kiểm định tính hiệu quả dạng yếu của TTCK Việt Nam

2.2 Mục tiêu cụ thể

Để giải quyết được vấn đề nghiên cứu đặt ra ở trên, đề tài này nhằm đạt các mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau đây:

 Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về thị trường chứng khoán và

Lý thuyết thị trường hiệu quả

 Sử dụng số liệu của 6 bộ chỉ số ở SGDCK thành phố Hồ Chí Minh và SGDCK Hà Nội để kiểm định tính hiệu quả dạng yếu của TTCK Việt Nam trong giai đoạn từ 22/03/2010 đến 31/03/2016

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 11

 Đưa ra một số khuyến nghị đối với nhà đầu tư vào TTCK Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu 3.1 Nghiên cứu tài liệu

Nghiên cứu các tài liệu, nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài để áp dụng vào luận văn Kế thừa các lý thuyết đã được xây dựng, các kiểm định đã được tiến hành để từ đó tìm ra những phương pháp phù hợp với trường hợp của luận văn

3.2 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu nghiên cứu là số liệu thứ cấp về 6 bộ chỉ số là VN-Index, Index, VN50-Index, SMALLCAP-Index, MIDCAP-Index, LARGECAP-Index, số liệu được thu thập là số liệu đóng cửa theo ngày, các số liệu thứ cấp được thu thập trên trang web cophieu68.vn

VN-30-3.3 Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu thu thập được xử lý để tiến hành các phương pháp phân tích: phân tích mô tả, kiểm định tính phân phối chuẩn, kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định đoạn mạch, kiểm định tính độc lập của chuỗi tỷ suất sinh lợi

Các kiểm định được tiến hành bằng phần mềm Eviews và bảng tính Excel

4 Đối tượng nghiên cứu

Tính hiệu quả dạng yếu của TTCK Việt Nam

5 Phạm vi nghiên cứu 5.1 Về thời gian

Trong giai đoạn từ 22/03/2010 đến 31/03/2016

5.2 Về không gian

Thị trường chứng khoán Việt Nam

Dữ liệu được thu thập sẽ gồm các bộ chỉ số: VN-Index, HNX-Index, VN30, VN50, LARGECAP, MIDCAP, SMALLCAP

6 Kết cấu đề tài

Nội dung Luận văn được bố cục thành phần mở đầu, 3 chương và phần kết luận Phần mở đầu của luận văn giới thiệu về đề tài nghiên cứu bao gồm các nội Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 12

 Chương 1 trình bày hệ thống hóa các vấn đề lý luận về đề tài nghiên cứu

Chương 1 nêu các lý thuyết về thị trường chứng khoán, lý thuyết thị trường hiệu quả và các phương pháp để tiến hành kiểm định lý thuyết thị trường hiệu quả

 Chương 2 là trọng tâm của đề tài với nội dung chính là đánh giá thực trạng hoạt động của TTCK từ năm 2010 đến nay và phân tích mức độ hiệu quả của TTCK Việt Nam Chương 2 sẽ lần lượt tiến hành phân tích mô tả các bộ chỉ số, kiểm định tính phân phối chuẩn, kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định đoạn mạch, kiểm định tính độc lập của chuỗi tỷ suất sinh lợi

 Chương 3 sẽ thảo luận kết quả thu được đối với vai trò nhà đầu tư dựa trên

cơ sở phân tích mức độ hiệu quả của TTCK được trình bày trong chương 2

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 13

Phần 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ

TÍNH HIỆU QUẢ CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán 1.1.1 Thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính là nguồn cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế

Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán dài hạn như: các trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh, hợp đồng tương lai, quyền chọn, bảo chứng phiếu, chứng quyền [1]

1.1.2 Chức năng và vai trò của thị trường chứng khoán 1.1.2.1 Chức năng của thị trường chứng khoán

Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội [1]

Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các

cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình [1]

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 14

Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô

Các chỉ số giá của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế [1]

1.1.2.2 Vai trò của thị trường chứng khoán Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản

là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao [1]

Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm

Sự biến động không ngừng của giá chứng khoán, đặc biệt giá của cổ phiếu, nhà đầu tư có thể đánh giá doanh nghiệp một cách khách quan và khoa học tại bất

kỳ thời điểm nào [1]

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 15

Hỗ trợ và thúc đẩy các công ty cổ phần ra đời và phát triển

Thị trường chứng khoán hỗ trợ chương trình cổ phần hóa cũng như việc thành lập và phát triển của công ty cổ phần qua việc quảng bá thông tin, định giá doanh nghiệp, bảo lãnh phát hành, phân phối chứng khoán một cách nhanh chóng, tạo tính thanh khoản cho chúng và như thế thu hút các nhà đầu tư đến góp vốn vào công ty cổ phần

Ngược lại, chính sự phát triển của mô hình công ty cổ phần đã làm phong phú và đa dạng các loại hàng hóa trên TTCK, thúc đẩy sự phát triển sôi động của thị trường chứng khoán [1]

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Thị trường chứng khoán không những thu hút các nguồn vốn trong nội địa

mà còn giúp Chính phủ và doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu

công ty ra thị trường vốn quốc tế để thu hút thêm ngoại tệ [1]

1.2 Lý thuyết về tính hiệu quả của thị trường chứng khoán 1.2.1 Thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis)

Trong những năm 1950, lần đầu tiên người ta sử dụng máy tính trong phân tích các hiện tượng kinh tế Tuy vậy, những nhà nghiên cứu đã thất bại trong việc tìm ra quy luật phát triển kinh tế mang tính chu kỳ nếu chỉ dựa trên sự phân tích một vài biến số kinh tế Nghiên cứu sự biến động của giá cổ phiếu cũng không phải là một ngoại lệ

Năm 1953, lần đầu tiên Maurice Kendall công bố nghiên cứu của mình về giá của cổ phiếu Theo kết quả này, giá của cổ phiếu thay đổi ngẫu nhiên, không có quy luật và không thể dự đoán được

Bằng một loạt nghiên cứu của các nhà khoa học, người ta nhận thấy rằng chính sự thay đổi ngẫu nhiên này là biểu hiện của một thị TTHQ Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng chính sự cạnh tranh giữa các nhà đầu tư đã dẫn đến một TTHQ Lý thuyết TTHQ đã có những ứng dụng nhất định trong việc xây dựng chính sách đầu tư

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 16

Khái niệm tính hiệu quả của thị trường rất phổ biến từ những năm 60 của thế

kỷ 20 TTHQ được hiểu theo ba khía cạnh đó là: (1) Phân phối hiệu quả, (2) hoạt động hiệu quả và (3) thông tin hiệu quả Một thị trường chỉ được coi là hiệu quả hoàn toàn khi nó đồng thời đạt được hiệu quả trên cả ba mặt trên

•Thị trường được xem là hiệu quả về mặt phân phối khi các các nguồn tài nguyên khan hiếm được phân phối để sử dụng một cách tốt nhất Điều này có nghĩa

là chỉ những người trả giá cao nhất cho các nguồn tài nguyên đó mới giành được quyền sử dụng chúng Đối với thị trường vốn nói chung và TTCK nói riêng, vai trò của nó là phân phối các nguồn vốn có thể đầu tư sao cho có hiệu quả nhất

•Thị trường được xem là hiệu quả về mặt hoạt động khi các chi phí giao dịch trong thị trường đó được quyết định theo quy luật cạnh tranh Nói cách khác, thị trường này được đặt trong môi trường cạnh tranh giữa các nhà tiếp thị và nhà môi giới kiếm lợi nhuận thông thường (không phải lợi nhuận độc quyền) thông qua các hoạt động của mình Khi chi phí giao dịch bằng 0 thì thị trường được coi là hiệu quả Tuy nhiên trên thực tế, các thị trường sẽ không tồn tại nếu chi phí hoạt động của những người vận hành thị trường không được bù đắp

•Thị trường được coi là hiệu quả về mặt thông tin nếu thị giá hiện hành phản ánh đầy đủ và tức thời tất cả các thông tin có ảnh hưởng tới thị trường

Tuy ba mặt cấu thành của TTHQ này có sự gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau, nhưng trong lý thuyết TTHQ người ta giả định là TTCK có hiệu quả về mặt phân phối và hiệu quả hoạt động Vì vậy, chúng ta chỉ xét thị trường này trong điều kiện hiệu quả về mặt thông tin Khi nói đến TTHQ thì đồng nghĩa với quan điểm là thị trường hiệu quả về mặt thông tin Từ đó, giả thiết về TTHQ được phát biểu như sau:

Thị trường hiệu quả là thị trường trong đó giá cả của chứng khoán đã phản ánh đầy đủ tức thời tất cả các thông tin hiện có trên thị trường Khi giả thiết này đúng có nghĩa là giá cả chứng khoán được xác định tại mức công bằng và phản ánh đầy đủ thông tin hiện có trên thị trường; việc giá chứng khoán tăng hay giảm là do

và chỉ do nó phản ứng đối với các thông tin mới Mà theo định nghĩa, thông tin mới

là các thông tin không thể dự đoán được Do vậy, sự thay đổi về giá chứng khoán Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 17

do tác động của các thông tin mới cũng là không thể dự đoán được Tức là, giá chứng khoán thay đổi một cách ngẫu nhiên và không dự đoán được

Tuy nhiên, cũng cần phân biệt về tính ngẫu nhiên của biến động giá với sự bất hợp lý về mức giá Nếu giá cả được hình thành một cách hợp lý thì chỉ những thông tin mới mới làm giá đó thay đổi [4]

1.2.2 Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên (Random walk hypothesis)

Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên là nền móng cho việc phát triển lý thuyết thị trường hiệu quả

Theo lý thuyết bước đi ngẫu nhiên đối với thị trường chứng khoán thì sự thay đổi giá là ngẫu nhiên, nhưng sự ngẫu nhiên là kết quả của sự cạnh tranh giữa các nhà đầu tư khôn ngoan trong việc tìm kiếm lợi nhuận Các sự thay đổi giá trong quá khứ độc lập với nhau, không có các liên hệ tương quan chuỗi [1]

1.2.3 Tầm quan trọng của lý thuyết thị trường hiệu quả

Thị trường hiệu quả có một số ưu điểm nổi bật sau:

Khuyến khích nhà đầu tư tin tưởng vào thị trường vì vậy họ sẽ rót vốn vào thị trường mà không để lãng phí nguồn lực Nhà đầu tư luôn nghĩ rằng họ đang được tự do lựa chọn cơ hội cho chính mình, không lo ngại rằng vào bất kỳ lúc nào

họ sẽ bị những rủi ro ngoài tầm kiểm soát

Khuyến khích phân phối một cách hiệu quả Trong một thị trường hiệu quả, đồng vốn cũng sẽ tự tìm đến được những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả kinh tế thực sự

Cải thiện thông tin thị trường và vì vậy tăng cơ hội trong đầu tư Với một thị trường hiệu quả, thong tin được phản ánh vào trong giá cả một cách chuẩn xác và nhanh nhạy, đến lượt mình, thị trường hiệu quả cũng luôn cho thấy các thong tin thị trường là những thông tin có độ tin cật cao, sẽ là kênh thu hút các nguồn vốn đầu tư

Như vậy, thị trường hiệu quả là cần thiết đối với tất cả các thị trường và nhà đầu tư Tuy nhiên, mức độ hiệu quả và tác động của từng mức độ này đến toàn thị trường lại là vấn đề lớn và không dễ gì có thể nhận biết được [1]

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 18

1.2.4 Các giả định của lý thuyết thị trường hiệu quả

Giả thuyết tiền đề, và cũng rất quan trọng, của một TTHQ cho rằng nó đòi hỏi một số lượng lớn các đối thủ cạnh tranh tham gia thị trường với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Họ tiến hành phân tích và định giá các loại chứng khoán một cách hoàn toàn độc lập với nhau

Giả thuyết thứ hai là những thông tin mới về chứng khoán được công bố trên thị trường một cách ngẫu nhiên và tự động, và việc quyết định về thời điểm công bố thông tin cũng độc lập lẫn nhau

Giả thuyết thứ ba, đặc biệt quan trọng, là các nhà đầu tư luôn tìm mọi cách điều chỉnh giá chứng khoán thật nhanh nhằm phản ánh chính xác ảnh hưởng của thông tin Mặc dù sự điều chỉnh của giá có thể là không hoàn hảo, tuy nhiên nó không hề ưu tiên cho một mặt nào Có khi sự điều chỉnh là quá mức, cũng có khi là dưới mức cần thiết, nhưng ta không thể dự đoán được điều gì sẽ xảy ra ở mỗi thời điểm xác định Giá chứng khoán được điều chỉnh một cách nhanh chóng là bởi số lượng lớn các nhà đầu tư với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cạnh tranh với nhau

1.2.5 Các dạng thị trường hiệu quả 1.2.5.1 Thị trường hiệu quả dạng yếu

Lý thuyết TTHQ dạng này cho rằng giá chứng khoán hiện tại là sự phản ánh đầy đủ mọi thông tin dạng yếu của TTCK (các thông tin quá khứ), bao gồm các mức giá trong quá khứ, lợi suất trong quá khứ hay sự thay đổi của giá hay các mức lợi suất ở các thời điểm Tại TTHQ dạng yếu, mức giá thị trường hiện tại đã phản ánh tất cả các thu nhập trong quá khứ và mọi thông tin trên thị trường nên giả thuyết này có nghĩa là lợi suất – suất sinh lời của chứng khoán trong quá khứ cũng như các thông tin khác không có mối liên hệ với tương lai (các lợi suất độc lập với nhau) Nói cách khác, không thể dự báo được giá chứng khoán trong tương lai hay là có thể kiếm được lợi nhuận vượt trội bằng những căn cứ từ thông tin tương tự của chúng trong quá khứ [1]

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 19

1.2.5.2 Thị trường hiệu quả dạng trung bình

Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng trung bình cho rằng giá chứng khoán sẽ điều chỉnh nhanh chóng trước bất kỳ thông tin công khai nào, tức là mức giá hiện tại phản ánh đầy đủ mọi thông tin côngkhai trong hiện tại (hoặc lân cận với hiện tại), cũng như trong quá khứ [1]

1.2.5.3 Thị trường hiệu quả dạng mạnh

Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng mạnh cho rằng giá chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin từ công khai đến nội bộ Như vậy, trong một TTHQ dạng mạnh thì người sử dụng tất cả những thông tin có thể có, dù rằng các thông tin

đó có được phổ biến ra công chúng hay không sẽ không thể thu được lợi nhuận vượt trội so với người khác [1]

1.2.6 Các đặc trưng cơ bản của thị trường hiệu quả

Một thị trường được xem là hiệu quả sẽ có những biểu hiện thông qua các đặc trưng chính sau đây:

•Giá chứng khoán thay đổi kịp thời và chính xác đối với những thông tin mới

và có một số lượng lớn nhà đầu tư biết tối đa hóa lợi nhuận

•Thứ hai, sự thay đổi tỷ suất lợi nhuận được quyết định bởi sự thay đổi của lãi suất đầu tư phi rủi ro và phụ phí rủi ro Mọi sự thay đổi của giá chứng khoán xuất phát từ các sự kiện khác đều ngẫu nhiên không dự đoán trước được

•Thứ ba, những nguyên tắc hoặc kinh nghiệm đều không thể áp dụng để thu được lợi nhuận siêu ngạch

•Thứ tư, các nhà đầu tư chuyên nghiệp không thể dùng các hình thức phân tích chuyên nghiêp (phân tích cơ bản và kỹ thuật) để thu được lợi nhuận siêu ngạch

cả trên hai phương diện cá nhân cũng như tổ chức [1]

1.2.7 Kiểm định tính hiệu quả dạng yếu của thị trường

Kiểm định tính hiệu quả dạng yếu của thị trường là việc kiểm định liệu có thể sử dụng chuỗi quá khứ của giá cổ phiếu hoặc lợi suất để dự đoán thành công giá

cổ phiếu hoặc lợi suất trong tương lai hay không

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 20

Kiểm định được tiến hành bằng cách đo sự phụ thuộc thống kê giữa những

sự thay đổi giá Nếu không có sự phụ thuộc (có nghĩa sự thay đổi giá cả là ngẫu nhiên) thì thị trường là thị trường hiệu quả dạng yếu, nghĩa là không có chiến lược đầu tư có lãi nào được xây dựng dựa vào thông tin về giá trong quá khứ Ngược lại nếu có sự phụ thuộc, ví dụ sự tăng giá trong kỳ này làm cho giá cả tăng trong thời

kỳ sau, như vậy rõ ràng là có cơ sở để xây dựng chiến lược đầu tư có lãi dựa vào những thông tin quá khứ và lúc đó thị trường được xem là không hiệu quả dạng yếu

Vì vậy tất cả các kiểm định về thị trường hiệu quả dạng yếu đều xuất phát bằng việc kiểm định lý thuyết bước đi ngẫu nhiên [1]

1.2.7.1 Kiểm định tính phân phối chuẩn

Theo Fisher và Jordan (1991) thì nếu một chuỗi tuân theo bước ngẫu nhiên thì nó sẽ phải tuân theo quy luật phân phối chuẩn

Nếu một chuỗi không tuân theo phân phối chuẩn thì ta có thể kết luận là chuỗi

đó không tuân theo bước ngẫu nhiên Nếu một chuỗi tuân theo phân phối chuẩn thì ta chưa có kết luận về việc chuỗi đó có tuân theo bước ngẫu nhiên hay không

Để kiểm định tính phân phối chuẩn của chuỗi lợi suất ta sử dụng kiểm định Jacque-Bera

1.2.7.2 Kiểm định nghiệm đơn vị

Kiểm định nghiệm đơn vị là một kiểm định được sử dụng khá phổ biến để kiểm định một chuỗi thời gian là dừng hay không dừng Dickey và Fuller (1981) đã đưa ra kiểm định Dickey và Fuller (DF) và kiểm định Dickey và Fuller mở rộng Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 21

(ADF) Nghiên cứu này sử dụng kiểm định ADF để thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị nên chỉ tập trung vào lý thuyết của mô hình này

Theo Dickey và Fuller (1981) mô hình kiểm định nghiệm đơn vị mở rộng ADF có dạng:

: Nhiễu trắng Nhiễu trắng là số hạng chỉ sai số ngẫu nhiên xuất phát từ các giả định cổ điển rằng nó có giá trị trung bình bằng 0, phương sai là hằng số và không tự tương quan

Các giả thiết đƣợc kiểm định:

0, ỗ ấ à ỗ ô ( ệ đơ ị)

0, ỗ ấ à ỗ Kết quả của kiểm định ADF thường rất nhạy cảm với sự lựa chọn chiều dài

độ trễ k nên tiêu chuẩn thông tin AIC (Akaike’s Information Criterion) của Akaike (1973) được sử dụng để chọn lựa k tối ưu cho mô hình ADF Cụ thể, giá trị k được lựa chọn sao cho AIC nhỏ nhất Giá trị này sẽ được tìm một cách tự động khi dùng phần mềm Eviews để thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 22

1.2.7.3 Kiểm định đoạn mạch (run-test)

Kiểm định đoạn mạch là một phương pháp kiểm định phi tham số khá phổ biến cho tính ngẫu nhiên, giúp kiểm tra tính ngẫu nhiên của sự thay đổi lợi nhuận giá cổ phiếu so với lợi nhuận trung bình của cả dãy cổ phiếu quan sát được

Theo Bradley (1968), một đoạn mạch trong chuỗi thời gian tài chính là một chuỗi những điểm mà tất cả các phần dư của chuỗi đều cùng dương hoặc cùng âm Một mẫu với quá nhiều hoặc quá ít đoạn mạch thường dẫn tới chuỗi số liệu đó là không ngẫu nhiên

Cụ thể giá trị kỳ vọng và phương sai của các đoạn mạch được tính theo công thức sau:

(R) N 2 N N

N (R) 2 N N (2 N N N)

N (N 1)Nếu số quan sát N>20, quy luật phân bố của R là phân bố chuẩn:

R (R)

t(R) N(0,1) Trong đó:

N : Số quan sát của mẫu

R : Số đoạn mạch quan sát được Mean : Giá trị trung bình

N : Số quan sát có giá trị nhỏ hơn giá trị trung bình

N : Số quan sát có giá trị lớn hơn giá trị trung bình (R) : Giá trị kỳ vọng của các đoạn mạch

(R) : Phương sai của các đoạn mạch t(R) : Độ lệch chuẩn của quan sát

Giả thuyết kiểm định:

ỗ ấ à ỗ ẫ ê

ỗ ấ ô ả à ỗ ẫ ê Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 23

Giả thiết của chuỗi lợi suất là chuỗi ngẫu nhiên bị bác bỏ nếu 1 645 tại 10

Nếu giá trị Z - statistic tính được trong phép kiểm định này âm, tức là lợi nhuận cổ phiếu có tương quan thuận và ngược lại là tương quan nghịch Lợi nhuận

cổ phiếu tương quan thuận cũng đồng nghĩa với việc Mô hình bước đi ngẫu nhiên bị phủ định Phương pháp này được áp dụng rất hữu hiệu để kiểm tra tính hiệu quả của

TTCK dạng yếu và để xem xét tính tương quan thuận nghịch của chúng

1.2.7.4 Kiểm định về tính độc lập của tỷ suất sinh lợi

Ta sử dụng kiểm định thống kê về tính độc lập để xem xét tỷ suất sinh lợi ngày t có tương quan với tỷ suất sinh lợi ngày (t-1), (t-2), (t-3) hay không Những người ủng hộ giả thuyết thị trường hiệu quả cho rằng mối tương quan này bằng 0 cho tất cả các kết hợp Do vậy, chúng ta sẽ kiểm định tính tương quan giữa các biến trong phương trình sau:

∑ Trong đó:

: Tỷ suất sinh lợi của chỉ số ở ngày t

: Tỷ suất sinh lợi của chỉ số ở ngày t-i : Hệ số tự do

: Sai số

Nếu giữa các biến trong mô hình có sự tương quan (p-value < 0,05) thì bác

bỏ giả thuyết thị trường hiệu quả

1.2.8 Các nghiên cứu trước đây về thị trường hiệu quảdạng yếu

Một công bố khá sớm về kiểm định EMH dạng yếu là của Thái Long (2004) trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ Tuy vậy trong nghiên cứu này tác giả sử dụng số liệu còn rất ít, chỉ gồm chưa tới 4 năm hoạt động và chỉ có trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Hơn nữa phương pháp áp dụng đơn giản, chỉ dùng mô hình ARIMA Kết luận về thị trường là hiệu quả yếu

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 24

Hồ Việt Tiến (2006) nghiên cứu thị trường cổ phiếu của Việt Nam theo phương pháp kiểm định hệ số tương quan đối với một số cổ phiếu và có kết luận TTCK Việt Nam chưa hiệu quả về mặt thông tin

Nguyễn Thị Bảo Khuyên (2007) thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô và chỉ số giá chứng khoán, nghiên cứu này tiến hành kiểm định xem trong thời gian qua thị trường chứng khoán Việt Nam có hiệu quả về mặt thông tin hay không Để kiểm chứng điều này, đề tài sử dụng các mô hình kiểm định nhân quả Granger hai biến (Granger causality test) và mô hình hiệu chỉnh sai số (error correction mechanism) Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ dài hạn giữa các biến kinh tế vĩ mô với chỉ số giá chứng khoán và thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn chưa hiệu quả về mặt thông tin Vì thế, có thể có một số nhà đầu tư vẫn đang khai thác sự không hiệu quả này nhằm tìm kiếm lợi nhuận siêu ngạch

Lê Đạt Chí (2007) – Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh tiến hành kiểm định theo phương pháp hồi quy hai biến đối với một số cổ phiếu chủ chốt tại HoSE và cũng cho kết luận về sự không hiệu quả dạng yếu của TTCK Việt Nam

Trương Đông Lộc (2007) tiến hành đánh giá TTCK Việt Nam xét trường hợp TTGD Hà Nội với phương pháp kiểm định hệ số tự tương quan và kiểm định đoạn mạch, kiểm định kết luận về sự không hiệu quả của HaSTC

Nguyễn Việt Dũng (2008) tìm hiểu về mối quan hệ giữa thông tin báo cáo tài chính và giá cổ phiếu (thị trường hiệu quả dạng trung bình) Tác giả sử dụng mô hình Ohlson (1995) để xây dựng cho trường hợp của Việt Nam Trong nghiên cứu này tác giả chỉ sử dụng một phần rất nhỏ EMH dạng trung bình đê phục vụ cho nghiên cứu của mình

Rakesh Gupta, Junhao Yang và Parikshit K Basu (2014) sử dụng kiểm định ADF để kiểm tra tính hiệu quả dạng yếu của TTCK Việt Nam, nghiên cứu sử dụng lợi suất ngày, tuần, tháng và quý từ năm 2000 đến năm 2012 Nghiên cứu bao hàm cả tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu lên TTCK Việt Nam bằng cách sử dụng các dữ liệu vào thời kỳ trước khủng hoảng Nghiên cứu chỉ ra rang TTCK Việt Nam đang tiến dần đến tính hiệu quả dạng yếu mặc dù sự chuyển dịch này là khá chậm

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 25

Nguyễn Quang Hưng (2013) kiểm định tính ngẫu nhiên và tính dự đoán được của TTCK Việt Nam trong sự so sánh với các thị trường khác Nghiên cứu sử dụng kiểm định portmanteau để kiểm định tự tương quan, kiểm định nghiệm đơn vị

và kiểm định Lo MacKinlay's Các kiểm định chỉ ra sự không hiệu quả của TTCK Việt Nam và giá chứng khoán có thể dự đoán được Dữ liệu được sử dụng là dữ liệu tuần được thu thập từ 1/2006 đến 3/2010, trong đó thời kỳ trước khủng hoang từ 1/2006 đến 10/2008, thời kỳ khủng hoảng từ 10/2008 đến 3/2010

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 26

Chương 2: KIỂM ĐỊNH TÍNH HIỆU QUẢ DẠNG YẾU CỦA THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

2.1 Khái quát TTCK Việt Nam 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam

Thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 8 về việc phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, ngay từ năm 1996 Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng và phát triển thị trường vốn, TTCK, nhằm huy động các nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển, phục vụ chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Ủy ban chứng khoán nhà nước

Xây dựng và phát triển TTCK là mục tiêu đã được Đảng và Chính phủ Việt Nam định hướng từ những năm đầu thập kỷ 90 (thế kỷ 20) nhằm xác lập một kênh huy động vốn mới cho đầu tư phát triển Việc nghiên cứu, xây dựng đề

án thành lập TTCK đã được nhiều cơ quan Nhà nước, các Viện nghiên cứu phối hợp đề xuất với Chính phủ

Một trong những bước đi đầu tiên có ý nghĩa khởi đầu cho việc xây dựng TTCK ở Việt Nam là việc thành lập Ban Nghiên cứu xây dựng và phát triển thị trường vốn thuộc Ngân hàng Nhà nước (Quyết định số 207/QĐ-TCCB ngày 6/11/1993 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước) với nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng

đề án và chuẩn bị các điều kiện để thành lập TTCK theo bước đi thích hợp Theo sự

uỷ quyền của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã phối hợp với Bộ Tài chính tổ chức nghiên cứu về các lĩnh vực liên quan đến hoạt động của TTCK, đề xuất với Chính phủ về mô hình TTCK Việt Nam, đào tạo kiến thức cơ bản về chứng khoán và TTCK cho một bộ phận nhân lực quản lý và vận hành thị trường trong tương lai; nghiên cứu, khảo sát thực tế một số TTCK trong khu vực và trên thế giới… Tuy nhiên, với tư cách là một tổ chức thuộc NHNN nên phạm vi nghiên cứu, xây dựng đề án và mô hình TTCK khó phát triển trong khi TTCK là một lĩnh vực cần có sự phối hợp, liên kết của nhiều ngành, nhiều tổ chức

Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 27

Vì vậy, tháng 9/1994, Chính phủ quyết định thành lập Ban soạn thảo Pháp lệnh về chứng khoán và TTCK do một đồng chí Thứ trưởng Bộ Tài chính làm Trưởng Ban, với các thành viên là Phó Thống đốc NHNN, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Trên cơ sở Đề án của Ban soạn thảo kết hợp với đề án của NHNN và ý kiến của các

Bộ, ngành liên quan ngày 29/6/1995, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 361/QĐ-TTg thành lập Ban Chuẩn bị tổ chức TTCK giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xây dựng TTCK ở Việt Nam

Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) được thành lập ngày 28/11/1996 theo Nghị định số 75/CP của Chính phủ, là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng tổ chức và quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Việc thành lập cơ quan quản lý thị trường chứng khoán (TTCK) trước khi thị trường ra đời

là bước đi phù hợp với chủ trương xây dựng và phát triển TTCK ở Việt Nam, có ý nghĩa quyết định cho sự ra đời của TTCK sau đó hơn 3 năm

Từ khi thành lập (năm 2000), Ủy ban chứng khoán Nhà nước đã phối hợp với các bộ, ngành xây dựng bộ khung pháp lý, chuẩn bị hàng hóa, thành lập các công ty chứng khoán và các điều kiện về cơ sở vật chất, cán bộ cho thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ 7/2000

Với vị thế là cơ quan quản lý chuyên ngành về chứng khoán và TTCK, UBCKNN có vai trò rất quan trọng trong việc chuẩn bị các điều kiện cho sự ra đời của TTCK, đồng thời tổ chức và quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK với mục tiêu chính là tạo môi trường thuận lợi cho việc huy động vốn cho đầu tư phát triển, đảm bảo cho TTCK hoạt động có tổ chức, an toàn, công khai, công bằng và hiệu quả, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư [1]

Sở GDCK thành phố Hồ Chí Minh

Thực hiện chủ trương xây dựng và phát triển kinh tế thị trường, từ đầu những năm thập niên 90 Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu đề án xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam Trên cơ sở đề

án của các Bộ, Ngành, ngày 28//11/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định số Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 28

75/1998/NĐ-CP về việc thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và giao cho đơn

vị này chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc ra đời thị trường chứng khoán

Ngày 11/07/1998, với Nghị định số 48/CP về Chứng khoán và Thị trường chứng khoán, Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được khai sinh Cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ cũng ký Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Hai năm sau, vào ngày 28/07/2000, phiên giao dịch đầu tiên đã chính thức được tổ chức tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của Thị trường chứng khoán Việt Nam

Sau 7 năm hoạt động, từ chỗ chỉ có hai, ba doanh nghiệp niêm yết và bốn công

ty chứng khoán thành viên, đến thời điểm tháng 08/2007 đã có 111 doanh nghiệp niêm yết và 55 công ty chứng khoán thành viên, 18 công ty quản lý quỹ, 61 tổ chức lưu ký Cấu trúc thị trường đã được rõ ràng và chuyên biệt hơn với sự tách ra hoạt động độc lập của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam trong năm 2005

Nhằm đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của thị trường, đáp ứng quá trình đổi mới nền kinh tế, tái cơ cấu các doanh nghiệp, ngày 11/05/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 599/QĐ chuyển Trung Tâm thành Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), hoạt động theo mô hình Công ty TNHH Một Thành viên (100% vốn chủ sở hữu thuộc Bộ Tài chính) Việc chuyển đổi mô hình đã giúp HOSE có một vị trí tương xứng với các Sở Giao dịch khác trên thế giới trong mối quan hệ và hợp tác quốc tế, từ đó, nâng cao vị trí và tầm ảnh hưởng của thị trường chứng khoán Việt Nam [1]

2.1.2 Giới thiệu các bộ chỉ số đƣợc sử dụng 2.1.2.1 VN-Index

VN-Index là chỉ số thể hiện xu hướng biến động giá của tất cả cổ phiếu niêm yết và giao dịch tại SGDCK TPHCM Chỉ số VN-Index so sánh giá trị vốn hóa thị trường hiện tại với giá trị vốn hóa thị trường cơ sở vào ngày gốc 28/07/2000, ngày đầu tiên thị trường chứng khoán chính thức đi vào hoạt động Giá trị vốn hóa thị trường cơ sở tính trong công thức chỉ số được điều chỉnh trong các trường hợp như niêm yết mới, hủy niêm yết và các trường hợp có thay đổi về vốn niêm yết (Nguồn: Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 29

cophieu68.vn)

Hình 2.1 Biểu đồ chỉ số VN-Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016

Nguồn: Phân tích từ số liệu thu thập

Bảng 2.1 Thống kê mô tả chỉ số VN-Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016

Nguồn: Phân tích từ số liệu thu thập

Chỉ số VN-Index trong thời gian từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 có giá trị trung bình và trung vị gần như nhau, chỉ số biến đổi dao động xung quanh mức trung bình là 499.30, độ lệch chuẩn của chỉ số là 71.49 là khá nhỏ so với giá trị trung bình cho thấy hoạt động của chỉ số ổn định trong giai đoạn nghiên cứu

vnindex

vnindexTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 30

VNM, REE, OGC, IJC, VCB, PNJ, BVH, ITA, HPG, CTG, SJS, QCG, PVF, PVD, CII, SBT, VSH, KDH, DIG, HVG, GMD (Nguồn: cophieu68.vn)

Hình 2.2 Biểu đồ chỉ số VN30-Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016

Nguồn: Phân tích từ số liệu thu thập

Bảng 2.2 Thống kê mô tả chỉ số VN30-Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016

Nguồn: Phân tích từ số liệu thu thập

Chỉ số VN30-Index trong thời gian từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 có giá trị trung bình và trung vị gần như nhau, chỉ số biến đổi dao động xung quanh mức trung bình là 536.35, độ lệch chuẩn của chỉ số là 71.77 là khá nhỏ so với giá trị trung bình cho thấy hoạt động của chỉ số ổn định trong giai đoạn nghiên cứu

vn30

vn30Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 31

DHG, PHR, GMD, DPR, PPC, QCG, AGR, IJC, REE, CII, VSH, DIG, KDH, VCF, PNJ, PGD, MPC, BCI, TRC, VHC, CTD, BMP, HT2, SBS, HT1, PVT, HSG (Nguồn: cophieu68.vn)

Hình 2.3 Biểu đồ chỉ số VN50-Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016

Nguồn: Phân tích từ số liệu thu thập

Bảng 2.3 Thống kê mô tả chỉ số VN30-Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016

Nguồn: Phân tích từ số liệu thu thập

Chỉ số VN50-Index trong thời gian từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 có giá trị trung bình và trung vị gần như nhau, chỉ số biến đổi dao động xung quanh mức trung bình là 403.58, độ lệch chuẩn của chỉ số là 38.21 là khá nhỏ so với giá trị trung bình cho thấy hoạt động của chỉ số ổn định trong giai đoạn nghiên cứu

2.1.2.4 SMALLCAP-Index

Top 40 mã chứng khoán có vốn hóa từ 100 đến 1.000 tỷ và hệ số thanh khoản cao nhất

0 100 200 300 400 500 600

vn50

vn50Trường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 32

Mã tính vnindex: SHN, NTB, KSS, AAA, IDJ, VE9, PGS, TNG, SBT, PVA, STP, VMD, MCG, VNE, PVC, PVL, VNF, GTT, HBS, SDH, DIC, TCM, NVT, DZM, S96, VGS, WSS, ICG, VHG, LAF, TS4, KSA, VIS, DCS, MCV, TDC, DQC, SRC, IJC, HLA (Nguồn: cophieu68.vn)

Hình 2.4 Biểu đồ chỉ số SMALLCAP –Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016

Nguồn: Phân tích từ số liệu thu thập

Bảng 2.4 Thống kê mô tả chỉ số SMALLCAP-Index từ 22/3/2010 đến

31/03/2016

Nguồn: Phân tích từ số liệu thu thập

Chỉ số SMALLCAP-Index trong thời gian từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 có giá trị trung bình và trung vị cách xa nhau, chỉ số có xu hướng giảm mạnh vào đầu

kỳ nghiên cứu (giảm từ 1034.40 ngày 06/05/2010 còn 241.6 ngày 7/11/2011, giảm 76.6% ) sau đó ổn định trong giai đoạn sau, độ lệch chuẩn của chỉ số là 178.44 cao

so với giá trị trung bình do ảnh hưởng bởi kỳ giảm giá đầu tiên, cho thấy hoạt động của chỉ số không ổn định trong giai đoạn nghiên cứu

0 200 400 600 800 1000 1200

smallcap

smallcapTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 33

2.1.2.5 MIDCAP-Index

Top 30 mã chứng khoán có vốn hóa từ 1.000 đến 5.000 tỷ và hệ số thanh khoản cao nhất

Chỉ số được tính bắt đầu từ VNINDEX ngày 02/01/2009

Mã tính Index: KLS, PVX, HBB, ITA, ITC, REE, BVS, QCG, GMD, SHB, SCR, PVS, HSG, HQC, VSH, CII, PPC, VOS, DIG, PVI, PVT, PGD, VFMVF1,

AGR, OCH, CM, NLT, PHR, LSS, MPC (Nguồn: cophieu68.vn)

Hình 2.5 Biểu đồ chỉ số MIDCAP –Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016

Nguồn: Phân tích từ số liệu thu thập

Bảng 2.5 Thống kê mô tả chỉ số MIDCAP-Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016

Nguồn: Phân tích từ số liệu thu thập

Chỉ số MIDCAP-Index trong thời gian từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 có giá trị trung bình và trung vị cách khá xa nhau, chỉ số có xu hướng giảm mạnh vào đầu

kỳ nghiên cứu (giảm từ 443.20 ngày 11/05/2010 còn 241.6 ngày 08/01/2011, giảm 45.5% ) sau đó ổn định trong giai đoạn sau, độ lệch chuẩn của chỉ số là 63.59 khá

0 50 100 150 200 250 300 350 400 450 500

midcap

midcapTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Trang 34

cao so với giá trị trung bình do ảnh hưởng bởi kỳ giảm giá đầu tiên, cho thấy hoạt động của chỉ số không ổn định trong giai đoạn nghiên cứu

Hình 2.6 Biểu đồ chỉ số LARGECAP –Index từ 22/3/2010 đến 31/03/2016

Nguồn: Phân tích từ số liệu thu thập

Bảng 2.6 Thống kê mô tả chỉ số LARGECAP-Index từ 22/3/2010 đến

31/03/2016

Nguồn: Phân tích từ số liệu thu thập

Chỉ số LARGECAP-Index trong thời gian từ 22/3/2010 đến 31/03/2016 có giá trị trung bình và trung vị gần như nhau, chỉ số biến đổi dao động xung quanh

0 100 200 300 400 500 600

largecap

largecapTrường Đại học Kinh tế Đại học Huế

Ngày đăng: 05/10/2020, 16:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w