1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ, xã An Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

86 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ, xã An Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng BìnhMục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn

Trang 1

Họ tên: Đặng Thị Hằng GVHD: PGS.TS Mai Văn Xuân Lớp: K40B KTNN

Đề tài: Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ, xã An Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh

Quảng Bình.

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

HTX nói chung, HTXNN nói riêng là một loại hình tổ chức kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Quá trình phát triển HTX đã trải qua nhiều bước thăng trầm, song luôn là nội dung có tính chiến lược trong phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn

Thực hiện đường lối đổi mới HTXNN của Đảng và thi hành luật HTX 2003, hầu hết các địa phương đều đã chuyển đổi từ HTXNN kiểu cũ sang HTXNN kiểu mới cho phù hợp với quy luật kinh tế thị trường và đặc điểm của SXNN dựa trên quyền tự chủ SXKD của hộ nông dân Xuất phát từ đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương, sự vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới HTXNN của các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp việc chuyển đổi HTXNN đã diễn ra hết sức đa dạng và phong phú

Sau gần 14 năm thực hiện Chỉ thị 68-CT/TW ngày 24/5/1996 của Ban bí thư Trung ương Đảng khoá VII về : “Phát triển kinh tế hợp tác trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế” và từ khi Luật HTX được ban hành năm 1996, sửa đổi năm 2003 và nhất

là sau khi TW Đảng có Nghị quyết TW 5 khoá IX về củng cố, đổi mới và phát triển kinh tế tập thể, phong trào HTX ở nước ta đã có những chuyển biến mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, kinh tế hợp tác hiện nay còn bộc lộ nhiều yếu kém: Công tác vận động tuyên truyền Luật HTX sửa đổi chưa tốt nên một bộ phận nông dân còn mặc cảm, chưa hiểu rõ bản chất HTX kiểu mới; nhiều HTX chưa phát huy được tính ưu việt của kinh tế tập thể, chưa coi trọng vai trò hợp tác, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế hàng hoá của nông hộ; một số

Đại học Kinh tế Huế

Trang 2

HTX chuyển đổi mang tính hình thức; chất lượng hoạt động dịch vụ của HTX còn thấp; đội ngũ cán bộ quản lý HTX chưa được đào tạo kiến thức quản lý mới,… chưa

đủ sức đảm nhiệm tốt vai trò của mình

Sự phát triển của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ nói riêng cũng như các HTXDVNN trên địa bàn huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình cũng không nằm ngoài bối cảnh đó HTX Mỹ Lộc Hạ là một trong sáu HTXDVNN điển hình của xã An Thủy Chính vì thế, để chuyển đổi, xây dựng HTXDVNN và các hình thức hợp tác khác thực sự đem lại hiệu quả, chúng ta cần phải phân tích nghiêm túc và kỹ càng thực trạng để từ đó giúp thấy rõ những tồn tại đề ra các giải pháp thiết thực

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Nâng cao hiệu

quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ, xã An Thuỷ, huyện

Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Hệ thống hoá một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

- Xem xét đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh – dịch vụ của các HTX nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu Trên cơ sở đó đưa ra những định hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ nói riêng và của các HTX trên địa bàn huyện Lệ Thuỷ tỉnh Quảng Bình nói chung

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Là hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ

1.4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tại địa bàn HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ - xã

An Thuỷ - huyện Lệ Thuỷ - tỉnh Quảng Bình

- Phạm vi về thời gian: Số liệu thu thập từ năm 2007 - 2009

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện những nội dung trên, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp duy vật biện chứng: được sử dụng như là cơ sở phương pháp luận của đề tài, để xem xét mối quan hệ trong tác động qua lại lẫn nhau, là phương

Đại học Kinh tế Huế

Trang 3

pháp chung để nhận thức bản chất của các sự vật, hiện tượng

- Phương pháp thống kê kinh tế, phân tích kinh doanh:

+ Điều tra, thu thập số liệu để có cơ sở phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ

 Số liệu thứ cấp: Được chúng tôi thu thập tại UBND xã An Thuỷ, phòng Nông nghiệp huyện Lệ Thuỷ, HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ, ngoài ra những thông tin từ các đề tài đã được công bố, các báo cáo, tài liệu, một số website có liên quan đến kết quả thu thập

 Số liệu sơ cấp: Chúng tôi đã điều tra HTX và một số hộ xã viên Về điều tra

hộ xã viên, căn cứ vào điều kiện của thôn Mỹ Lộc Hạ, thôn có 4 đội Chúng tôi đã chọn 4 đội của thôn để tiến hành điều tra Đó là 10 hộ đội 1, 10 hộ đội 2, 10 hộ đội 3,

10 hộ đội 4 của thôn Mỹ Lộc Hạ

Chọn mẫu điều tra: Chọn ngẫu nhiên, tổng số mẫu điều tra là 40 hộ

Nội dung điều tra: Điều tra các thông tin liên quan phục vụ cho đề tài nghiên cứu dựa trên các thông tin ghi trên bảng hỏi Đối với HTX, đó là tổng nguồn vốn kinh doanh, tình hình công nợ của HTX, số khâu dịch vụ và tổng diện tích gieo trồng mà HTX đảm nhận, doanh thu cũng như chi phí trong từng khâu…Đối với các hộ xã viên,

đó là đánh giá của họ về chất lượng và giá cả các hoạt động kinh doanh - dịch vụ của HTX, cũng như tư nhân; ý kiến của xã viên về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của HTX

+ Tổng hợp số liệu thống kê:

Để tổng hợp số liệu thống kê chúng tôi đã sử dụng các phương pháp:

 Sử dụng các bảng biểu: Tổng hợp, phân tích, so sánh các chỉ tiêu cơ bản của hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX

 Phân tổ thống kê: chúng tôi tiến hành phân tổ theo các chỉ tiêu: phân lao động theo giới, theo trình độ, theo độ tuổi các cán bộ quản lý

+ Phương pháp tính số bình quân, tốc độ phát triển: Nhằm đánh giá mức độ phổ biến của các chỉ tiêu cũng như xem xét sự biến thiên của các chỉ tiêu đó

Trang 4

- Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình điều tra chúng tôi đã có tham khảo

ý kiến của một số người có am hiểu sâu sắc về hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTX , và các thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp để củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của HTX nhằm bổ sung và hoàn thiện cho bài viết của mình

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ

NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Những lý luận chung về hiệu quả kinh doanh

1.1.1.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh

Vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của mỗi nhà sản xuất, mỗi doanh nghiệp, mỗi HTX, mà còn là mối quan tâm chung của toàn xã hội Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp, HTX muốn tồn tại và phát triển, yêu cầu đặt ra là phải kinh doanh có hiệu quả, không chỉ đạt hiệu quả về kinh tế mà còn phải đạt hiệu quả về môi trường và xã hội, để đạt được điều đó cần phải tìm cách mở rộng quy mô, áp dụng tiến

bộ khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh dịch vụ, tìm kiếm thông tin mở rộng thị trường, có như thế mới đứng vững trên thị trường

Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời

Hiệu quả kinh doanh là thước đo chất lượng hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ tổ chức, quản lý sản xuất là vấn đề sống còn đối với tất cả các doanh nghiệp Chính vì thế nhiệm vụ và mục tiêu đặt ra cho các doanh nghiệp đó là phải hoạt động

đạt hiệu quả Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và

Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

vốn…) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định

Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh có thể được tính theo các cách sau:

Cách 1:

H = K - C

Hiệu quả kinh doanh tính theo cách này cho thấy được lợi nhuận mang lại như thế nào, cách tính này đơn giản, thuận lợi, nhưng không phản ánh hết chất lượng kinh doanh cũng như những tiềm năng nâng cao hiệu quả và khả năng tiết kiệm hay lãng phí lao động xã hội

Cách 2: Từ nhược điểm của cách trên ta có thể sử dụng cách tính sau:

H =

C

K

Trong đó: - H là hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

- K là kết quả thu về từ hoạt động sản xuất kinh doanh

- C là chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

Như vậy, chúng ta thấy giữa kết quả và hiệu quả có quan hệ mật thiết với nhau Kết quả thu được phải là kết quả tốt, kết quả có ích, nó có thể là một đại lượng vật chất được tạo ra do có sự đầu tư chi phí hay mức độ thỏa mãn của nhu cầu và có phạm vi xác định (như tổng sản lượng, tổng sản phẩm hàng hóa…)

Hiệu quả kinh doanh, trước hết là một đại lượng so sánh; so sánh giữa kết quả đầu ra với chi phí đầu vào, so sánh giữa chi phí kinh doanh với kết quả thu được Trên góc độ xã hội, chi phí được xem xét phải là chi phí hoạt động xã hội Do đó, thước đo của hiệu quả là sự tiết kiệm lao động xã hội và tiêu chuẩn của hiệu quả là tối đa hóa kết quả đạt được hoặc tối thiểu hóa chi phí bỏ ra dựa trên các nguồn nhân tài và vật lực hiện có

1.1.1.2 Bản chất của hiệu quả kinh doanh

Để hiểu rõ bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh thì cần phải phân biệt được ranh giới giữa hiệu quả và kết quả hoạt động kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh quan hệ so sánh, so sánh giữa kết quả đầu ra với chi phí đầu vào, so sánh giữa chi phí kinh doanh với kết quả thu được Trên góc độ xã hội, chi phí được xem xét phải là chi phí hoạt động kinh

Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

doanh Từ đó, bản chất của hiệu quả kinh doanh chính là hiệu quả của lao động xã hội

Do đó, thước đo của hiệu quả kinh là sự tiết kiệm lao động xã hội và tính chất của hiệu quả là tối đa hóa đạt được hoặc tối thiểu hóa chi phí bỏ ra dựa trên các nguồn nhân lực

và vật lực hiện có Như vậy:

Xét về mặt chất: Hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực trong một doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động kinh doanh phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa kết quả thực hiện những mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị, xã hội

Xét về mặt lượng: Hiệu quả hoạt động kinh doanh ở mối tương quan giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Doanh nghiệp, HTX có hiệu quả khi nào kết quả lớn hơn chi phí Chi phí này càng nhỏ thì hiệu quả càng cao và ngược lại

Xét về mặt thời gian: Hiệu quả của doanh nghiệp phải là hiệu quả đạt được trong từng giai đoạn, trong từng thời kỳ và trong cả quá trình sản xuất

Xét về mặt không gian: Hiệu quả kinh doanh chỉ có thể coi là đạt được tốt khi toàn bộ các hoạt động của các bộ phận, các đơn vị đều mang lại hiệu quả

Kết quả hoạt động kinh doanh là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình hoạt động, có thể là đại lượng cân, đong, đo đếm được như: số sản phẩm tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận… và cũng có thể là những đại lượng chỉ phản ánh đến chất lượng hoàn toàn như: chất lượng sản phẩm, dịch vụ, uy tín… Vì vậy, kết quả luôn là mục tiêu của doanh nghiệp, HTX

1.1.1.3 Phân biệt một số loại hiệu quả

Khi nói đến hiệu quả kinh tế, thì có nhiều quan điểm khác nhau của nhiều nhà kinh tế đề cập đến vấn đề này, nhưng có một điểm chung nhất đó là: Doanh nghiệp, HTX muốn đạt được hiệu quả thì phải sử dụng các yếu tố nguồn lực (vốn, lao động, tư liệu sản xuất…) một cách hợp lý, tiết kiệm trong quá trình sản xuất kinh doanh, mà vẫn thu được một kết quả như mong muốn Tuy nhiên, kết quả này có thể biểu hiện về mặt giá trị tiền tệ, nhưng cũng có thể biểu hiện về mặt hiệu quả xã hội

Hiệu quả kinh tế là sự tương quan so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ

ra được thể hiện bằng các chỉ tiêu như: giá trị tổng sản phẩm, lợi nhuận; còn hiệu quả

xã hội là sự tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả mà xã hội đạt được như: giải quyết việc làm, môi trường sinh thái…

Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

Hiệu quả kinh tế - xã hội là sự tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả đạt được cả về kinh tế và cả cho xã hội; hiệu quả kinh tế – xã hội vừa có tính lý luận sâu sắc vừa là yêu cầu đặt ra phù hợp với thực tiễn Đối với nước ta nói chung và ở huyện Lệ Thuỷ tỉnh Quảng Bình nói riêng, yêu cầu phát triển nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo là rất cần thiết; trong đó chất lượng hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTXNN đóng vai trò quan trọng

1.1.1.4 Nguyên tắc khi đánh giá hiệu quả kinh doanh

a Đảm bảo tính toàn diện và hệ thống trong việc xem xét hiệu quả kinh doanh - dịch vụ

Đối với các HTX, việc đánh giá hiệu quả kinh doanh - dịch vụ cần phải chú ý đến tất cả các khâu, các mặt, các yếu tố của quá trình kinh doanh, xem xét ở góc độ không gian và thời gian, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài

b Đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp nói chung, lợi ích của xã hội và cả lợi ích của người lao động

Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của một đơn vị, chúng ta không chỉ xem xét trong phạm vi của đơn vị đó, mà còn phải xem xét hiệu quả của nó trong phạm vi toàn ngành, toàn vùng hoặc của toàn bộ nền kinh tế Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng phải được xem xét trong mối liên hệ với lợi ích người lao động nhằm kích thích họ phát huy khả năng sáng tạo trong công việc đảm bảo cho sự phát triển lâu dài

c Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh phải đánh giá cả về mặt định tính lẫn định lượng

Mặt định tính cho chúng ta biết được tổng quát tình hình hoạt động của đơn vị kinh doanh, được sử dụng trong các trường hợp không thể đo lường bằng các con số

cụ thể hoặc khó định lượng được Về mặt định lượng, hiệu quả kinh doanh được xem xét trong mối tương quan giữa cái được và cái mất

d Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh – dịch vụ phải căn cứ vào kết quả cuối cùng về hiện vật và cả giá trị

Khi đánh giá hiệu quả kinh doanh dịch vụ, nếu như chúng ta chỉ căn cứ vào kết quả cuối cùng về mặt giá trị thôi thì cũng không đủ, điều này chỉ phản ánh được về

Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

mặt chất lượng của sản phẩm mà chưa thể hiện được về mặt số lượng, chính vì thế chúng ta cần phải căn cứ cả về mặt số lượng và mặt giá trị

1.1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh - dịch vụ của các HTX

a Về vốn kinh doanh

Vốn sản xuất kinh doanh của HTX được biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản dùng trong HTX, bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động Ngoài vốn kinh doanh lớn hay nhỏ có tác động lớn đến hoạt động kinh doanh của chính HTX đó Ngoài nguồn vốn góp từ mỗi xã viên, các HTX có thể huy động thêm vốn kinh doanh bằng cách vay

từ các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, vv… nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn kinh doanh trong các hoạt động

b Về nguồn nhân lực

Ảnh hưởng của yếu tố con người đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của một tổ chức là rất lớn Con người với tư cách là chủ thể vừa là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất Ngày nay, dưới sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, máy móc dần dần thay thế sức lao động của con người nhưng nếu không có sự điều hành của con người thì máy móc sẽ trở nên vô tác dụng Do vậy nhân tố nguồn lực là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của HTX

c Về khoa học và công nghệ

Khoa học và công nghệ là một đòi hỏi tất yếu để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, quyết định đến chất lượng dịch vụ, năng suất lao động, năng suất cây trồng và vật nuôi… Trong nông nghiệp – nông thôn, khi mà sản xuất hàng hóa đang trên đà phát triển, hoạt động kinh doanh đòi hỏi đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, thì việc thực hiện kinh doanh – dịch vụ của một HTX muốn bắt kịp với nhịp độ của thị trường đòi hỏi phải

có những ứng dụng tiến bộ mới vào sản xuất Những thiết bị, công nghệ hiện đại được ứng dụng một cách phù hợp sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm chi phí đầu vào, tăng lợi nhuận cho HTX, quyết định đến hiệu quả và kết quả của HTX

d Về hệ thống thông tin

Xây dựng một hệ thống thông tin chính xác là điều cần thiết cho bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, các HTX cần nắm vững thông tin về thị trường: giá cả vật tư, phân bón, nhu cầu của người mua, giá

Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

cả của đối thủ cạnh tranh,… Ngoài ra, thông tin về các chính sách của Nhà nước ban hành, các chủ trương đổi mới theo Luật nhằm xây dựng HTX theo mô hình mới Tất

cả những thông tin đó đều có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất - kinh doanh của HTX

e Về trình độ tổ chức và điều hành

Trình độ tổ chức và điều hành của cán bộ quản lí có vai trò quyết định đến thành công hay thất bại của một tổ chức Đối với mỗi HTX, cán bộ quản lí là người đầu ngòi tổ chức tất cả các hoạt động của HTX, là một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển của HTX đó Cán bộ quản lí HTX có năng lực, có trình độ chuyên môn trình độ học vấn cao sẽ đưa ra những quyết định đúng hướng, có trình độ phải lớn nhằm giúp HTX ngày càng đi lên, tăng thu nhập cho xã viên, phát triển kinh tế hộ góp phần thúc đẩy chung cho sự phát triển của nông nghiệp - nông thôn

Ngoài ra, hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTX còn chịu ảnh hưởng của một

số nhân tố khác như: thời tiết khí hậu, địa hình của địa phương, sự thay đổi của thị trường…

1.1.2 Bản chất kinh tế của hợp tác xã nông nghiệp

1.1.2.1 Khái niệm hợp tác và kinh tế hợp tác

Hợp tác là cùng chung sức, chung vốn để làm những việc mà từng người không làm được hoặc làm không có hiệu quả

Kinh tế hợp tác là hình thức liên kết tự nguyện của một nhóm người hoặc nhiều người (các thể nhân hoặc các pháp nhân) để phát huy sức mạnh về lao động và vốn nhằm giải quyết có hiệu quả những vấn đề sản xuất kinh doanh hoặc đời sống

Trong lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ thì kinh

tế hợp tác là một hình thức kinh tế mà nhờ đó các chủ thể kinh tế tự chủ có điều kiện phát triển Hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp là nhu cầu khách quan, hợp tác từ giản đơn đến phức tạp, từ đơn ngành đến đa ngành Trình độ xã hội hóa sản xuất càng cao thì nhu cầu hợp tác càng tăng, quan hệ hợp tác ngày càng sâu rộng, do đó tất yếu hình thành và ngày càng phát triển các hình thức hợp tác ở trình độ cao hơn, chẳng hạn, nhu cầu dịch vụ cho quá trình tái sản xuất ngày càng tăng, như là dịch vụ về giống, phòng trừ sâu bệnh, thủy lợi v.v…

1.1.2.2 Các loại hình kinh tế hợp tác

Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

a Kinh tế hợp tác giản đơn

- Tổ, hội nghề nghiệp được hình thành trên cơ sở tự nguyện của các chủ thể kinh tế độc lập có hình thức và mục đích hoạt động kinh doanh giống nhau, nhằm cộng tác, trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất – kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuân của mỗi thành viên

Tổ, hội nghề nghiệp thường gồm 5-30 thành viên tự nguyện gia nhập, hoặc rút khỏi tổ Tổ, hội nghề nghiệp hoạt động không có điều lệ, không có tư cách pháp nhân Quan hệ giữa các thành viên chủ yếu dựa trên quan hệ tình cảm, tập quán, truyền thống cộng đồng, không mang tính pháp lý Nội dung hoạt động mang tính khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư

- Tổ, nhóm hợp tác là loại hình kinh tế giản đơn do các chủ thể kinh tế độc lập,

tự nguyện thành lập, xuất phát từ nhu cầu của các thành viên Các tổ nhóm hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, gia nhập hoặc ra khỏi tổ, thành lập hoặc giải thể

tổ chức, quản lý dân chủ, cùng có lợi

- Tổ kinh tế hợp tác, thường gọi tắt là “tổ hợp tác” là loại hình kinh tế hợp tác giản đơn, có quy mô lớn hơn, thường từ 5 – 30 hộ thành viên Quan hệ hợp tác mang tính ổn định, thường xuyên, có cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý lãnh đạo So với hợp tác xã thì

tổ hợp tác loại này có nội dung, nguyên tắc hoạt động gần giống hợp tác xã, nhưng khác nhau ở chỗ tổ hợp tác hoạt động không có điều lệ, không có tư cách pháp nhân

b Kinh tế hợp tác xã

Trong nông nghiệp, HTX là một tổ chức kinh doanh của những người nông dân có cùng nhu cầu và nguyện vọng, tự nguyện liên kết lại để phối hợp giúp đỡ nhau phát triển kinh tế hoặc đáp ứng tốt hơn về đời sống của mỗi một thành viên, đây là một loại hình kinh tế hợp tác được ra đời và có quy mô và trình độ cao hơn kinh tế hợp tác giản đơn

Ở nước ta, HTX nói chung và HTXNN nói riêng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm xây dựng và phát triển Để tạo cơ sở pháp lý cho HTX phát triển, năm 1996 luật HTX đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20 tháng 3 năm 1996; có hiệu lực ngày 01 tháng 01 1997

gồm 10 chương và 56 điều Luật này định nghĩa về HTX: “HTX là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp

Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng

xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.” Trong quá trình tổ chức thực hiện, do thực tiễn luôn có những thay đổi vì thế

để phù hợp với sự phát triển của thực tiễn thì phải thay đổi những nội dung ít còn phù hợp Năm 2003 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 4 đã ban hành luật HTX mới ngày 26 tháng 11 năm 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2004 Luật này được sửa đổi từ luật HTX năm 1996 và định

nghĩa về HTX: “HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.”

1.1.2.3 Khái niệm về hợp tác xã, hợp tác xã nông nghiệp

Theo Luật HTX 2003 nước ta quy định:

“Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này

để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.”

HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ,

tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy

và các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật

HTXNN là một trong các hình thức cụ thể của kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, là tổ chức kinh tế của những người nông dân có cùng nhu cầu và nguyện vọng,

tự nguyện liên kết lại để phối hợp giúp đỡ nhau phát triển kinh tế hoặc đáp ứng tốt hơn nhu cầu về đời sống của mỗi thành viên, tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc, luật pháp quy định, có tư cách pháp nhân

1.1.2.4 Vai trò của hợp tác xã nông nghiệp

Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

Thông qua các hoạt động kinh tế xã hội, HTX đã khẳng định được vai trò quan trọng không chỉ đối với sản xuất kinh doanh và đời sống của hàng chục triệu người dân mà còn là nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy dân chủ, bảo đảm an sinh xã hội,

Vai trò của HTX thể hiện rất rõ trong việc phòng chống thiên tai, có sức mạnh tập thể sẽ hạn chế thiệt hại; kinh tế hợp tác còn thúc đẩy văn hóa – xã hội ở cơ sở phát triển Ngày nay, trong xu thế hội nhập, các HTX có một vị trí hết sức đặc biệt trong nền kinh tế quốc dân Các HTX được tổ chức theo mô hình HTX kiểu mới, sản xuất kinh doanh ngày càng hiệu quả hơn Các HTXNN đã có những đóng góp nhất định vào sự phát triển kinh tế xã hội nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế nông hộ Nhờ có hoạt động của các HTX mà các yếu tố đầu vào, các khâu dịch vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp được cung cấp kịp thời, đầy đủ

và đảm bảo chất lượng, các khâu sản xuất tiếp theo được đảm bảo làm cho hiệu quả sản xuất của nông hộ được nâng lên

Thông qua các hoạt động dịch vụ, vai trò điều tiết sản xuất của các HTXNN được thực hiện theo hướng tập trung, tạo điều kiện hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, chuyên môn hóa cao

Mặt khác, hoạt động của các HTX chính là cầu nối giữa Nhà nước và nông dân Thông qua HTXNN Nhà nước có thể thực hiện các chính sách của mình với những

Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

người nông dân như chính sách khuyến nông, chính sách thuế và một số chính sách kinh tế xã hội khác Các HTX chính là cầu nối giúp Nhà nước có thể chuyển giao các

kỹ thuật, khoa học công nghệ tiến bộ trong sản xuất đến nông dân Đồng thời, các HTX cũng là nơi cung cấp cho Nhà nước những thông tin cơ bản về tình hình nông nghiệp nông thôn để có những chính sách điều chỉnh phù hợp Ngược lại, đối với các

hộ nông dân, HTX chính là nơi họ có thể tìm thấy những yếu tố đầu vào cho sản xuất

và tiêu thụ sản phẩm Và HTX cũng chính là nơi họ thể hiện những yêu cầu, nguyện vọng của mình đối với Nhà nước HTX là nơi họ có thể tìm đến trong những lúc khó khăn trong sản xuất và đời sống Vì vậy, kinh tế HTX không thể thiếu trong nền kinh

tế, đặc biệt là trong nông nghiệp nông thôn

a HTX dịch vụ: Bao gồm 3 loại:

- HTX dịch vụ từng khâu (còn gọi là HTX chuyên khâu): Hoạt động tập trung ở từng lĩnh vực trong quá trình tái sản xuất hoặc từng khâu công việc trong quá trình sản xuất và phạm vi cho sản xuất, bao gồm HTX đầu vào (thủy lợi, làm đất, vật tư phân bón…); HTX dịch vụ đầu ra, HTX tín dụng…

- HTX dịch vụ tổng hợp đa chức năng: có nội dung hoạt động đa dạng, gồm khâu dịch vụ cho sản xuất, cung ứng vật tư đầu vào, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ giống, phòng trừ sâu bệnh, tưới tiêu…

Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

- HTX dịch vụ “đơn mục đích” hay HTX “chuyên ngành”: HTX loại này được hình thành từ nhu cầu của các hộ thành viên cùng sản xuất kinh doanh – dịch vụ một loại hàng hóa tập trung hoặc cùng làm nghề giống nhau

b HTX sản xuất kết hợp dịch vụ

Nội dung hoạt động chủ yếu là dịch vụ và kết hợp Phù hợp trong các ngành tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, nghề đánh cá, làm muối

c HTX sản xuất kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện

Cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động, bộ máy quản lý và chế độ hạch toán, kiểm

kê, kiểm soát, phân phối theo nguyên tắc của HTX kiểu mới và tương tự một doanh nghiệp tập thể HTX hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận nhằm phát triển kinh tế HTX, đem lại lợi ích cho xã viên Nội dung hoạt động mang tính hợp tác một cách toàn diện, thích hợp trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng, nuôi trồng thủy sản, nghề làm muối và đánh cá

1.1.2.6 Bản chất HTX kiểu mới theo luật HTX

Ở Việt Nam, các loại hình HTX đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm xây dựng và phát triển Để đáp ứng quan hệ kinh tế hợp tác mới, tạo điều kiện cho HTX phát triển, Quốc hội đã ban hành Luật HTX năm 1996 Luật HTX được Quốc hội khóa IX kỳ họp lần thứ 9 thông qua ngày 20/3/1996 và có hiệu lực ngày 1/1/1997 Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, Luật đã có nhiều điểm không còn phù hợp với tình hình cơ chế mới Do vậy, Luật đã được sửa đổi và đến năm 2003 được thông qua trước quốc hội khóa XI kỳ họp lần thứ 4 (Luật gồm 10 chương với 52 điều), có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2004, thay cho luật năm 1996 Bản chất của luật có thể được tóm lược như sau:

** Đặc điểm cơ bản của HTX kiểu mới

a Đặc điểm chung

HTX kiểu mới là một tổ chức kinh tế tự chủ của những người lao động có cùng nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên, nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh – dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nói chung và của mỗi một thành

Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

viên tham gia HTX Người vào HTX đóng góp vốn như nhau, hưởng lợi ích như nhau,

có quyền quyết định bình đẳng theo những nguyên tắc cơ bản đã được thừa nhận HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật

b Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX

- Tự nguyện: mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có đủ điều kiện theo quy định của Luật này, tán thành Điều lệ HTX đều có quyền gia nhập HTX, xã viên có quyền ra HTX theo quy định của Điều lệ HTX

- Dân chủ, bình đẳng và công khai: xã viên có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát HTX và có quyền ngang nhau trong biểu quyết, thực hiện công khai phương hướng sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối và những vấn đề khác quy định trong điều lệ HTX

- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: HTX tự chủ, tự chịu trách nhiệm

về kết quả sản xuấ kinh doanh, tự quyết về phân phối thu nhập

- Hợp tác và phát triển cộng đồng: xã viên phải có ý thức phát huy tinh thần xây dựng tập thể

c Điều kiện trở thành xã viên

- Công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, có hành vi dân sự đầy đủ, có góp vốn, góp sức, tán thành Điều lệ HTX, tự nguyện xin gia nhập HTX có thể trở thành xã viên

Cán bộ, công chức được tham gia HTX với tư cách là xã viên theo quy định của Điều lệ HTX nhưng không được trực tiếp điều hành và quản lý HTX

- Hộ gia đình, pháp nhân có thể trở thành xã viên theo quy định của Điều lệ HTX Khi tham gia HTX, hộ gia đình, pháp nhân phải cử người đại diện có đủ điều kiện như đối với cá nhân tham gia

- Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có thể là xã viên của nhiều HTX trong trường hợp điều lệ HTX không cấm

d Nghĩa vụ của xã viên

- Chấp hành điều lệ, nội quy HTX, các Nghị quyết của Đại hội xã viên

Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

- Góp vốn theo quy định của điều lệ HTX, mức vốn góp không vượt quá 30% vốn điều lệ HTX

- Thực hiện các cam kết kinh tế với HTX

- Trong phạm vi vốn góp của mình, cùng chịu trách niệm về các khoản nợ, rủi

ro, thiệt hại, các khoản lỗ của HTX

- Bồi thường thiệt hại do mình gây ra cho HTX theo quy định của điều lệ HTX

e Điều lệ thành lập HTX

- Hộ nông dân phải thực sự là đơn vị kinh tế tự chủ, được pháp luật thừa nhận

- Có môi trường pháp lí thuận lợi, đầy đủ cho việc ra đời HTX

- Hộ nông dân có nhu cầu tự nguyện tham gia HTX, được học tập, được cung cấp thông tin, có hiểu biết về luật HTX, điều lệ mẫu, nhiệt tình gánh vác công việc chung của HTX

- Sáng lập viên tiến hành tuyên truyền, vận động các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân khác có cùng nhu cầu tham gia HTX, xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, dự thảo điều lệ HTX và xúc tiến các công việc cần thiết khác để tổ chức Hội nghị thành lập HTX

f Điều kiện cấp giấy chứng nhận kinh doanh

- Có hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ

Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

- Ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm

- Tên, biểu tượng (nếu có) phải được đăng kí tại cơ quan có thẩm quyền và được bảo hộ theo quy định của pháp luật

- Có vốn điều lệ, đối với HTX kinh doanh ngành, nghề mà chính phủ quy định

có vốn pháp định thì vốn điều lệ không được thấp hơn vốn pháp định

Trang 18

Sơ đồ 1: Quá trình thành lập và phát triển HTX

- Đa dạng hoá các hoạt động kinh tế trong HTX

- Liên kết với các hợp tác xã khác

- Phát triển cộng đồng

- Tăng cường quan hệ giữa chính quyền, các tổ chức

xã hội với HTX

- Lành mạnh hoá các quan hệ trong nội bộ HTX

Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

h Giải thể, phá sản HTX:

* Trường hợp giải thể tự nguyện:

- Khi đề nghị theo Nghị quyết của Đại hội xã viên, HTX phải gửi đơn xin giải thể và Nghị quyết Đại hội xã viên đến UBND đã cấp giấy chứng nhận kinh doanh cho HTX, đồng thời đăng báo địa phương nơi HTX hoạt động trong 3 số liên tiếp về việc xin giải thể, thời hạn thanh toán nợ, thanh toán các hợp đồng

- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn thanh toán nợ và thanh lí hợp đồng, UBND nhận đơn phải ra thông báo về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận về xin giải thể

- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo chấp thuận cho giải thể, HTX phải thanh toán các chi phí cho việc giải thể, trả vốn góp và chi trả các khoản theo điều lệ HTX cho xã viên

* Trường hợp giải thể bắt buộc:

UBND cấp giấy chứng nhận kinh doanh có quyền quyết định buộc phải giải thể đối với HTX khi có một trong các trường hợp sau:

- Sau thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mà HTX không tiến hành hoạt động

- HTX ngừng hoạt động trong 12 tháng liền

- Trong thời hạn 6 tháng liền, HTX không đủ số lượng xã viên tối thiểu theo quy định của điều lệ mẫu

- Trong thời hạn 18 tháng liền, HTX không tổ chức được Đại hội xã viên thường kì mà không có lí do chính đáng

* Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật

- Việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với HTX được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản

1.1.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu

Để nghiên cứu làm rõ kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ thì tôi đã sử dụng các chỉ tiêu sau:

 Quy mô xã viên

 Quy mô về nguồn vốn kinh doanh

Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

Trong đó: LNKD: Lợi nhuận kinh doanh

LNTC: Lợi nhuận tài chính

Trong đó: - TP/V: Tỷ suất vốn kinh doanh

- Ps: Lợi nhuận

- Vkd: Vốn kinh doanh

Hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTXNN chúng ta cần phải nắm rõ các chỉ tiêu phân tích hiệu quả, để vận dụng vào đánh giá hiệu quả của quá trình hoạt động kinh doanh của HTXNN từ đó chúng ta có thể đưa ra những phương án sản xuất kinh doanh nhằm tổi thiểu hóa chi phí, mang lại hiệu quả cao, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh cho đơn vị

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Tình hình phát triển các HTXNN ở một số nước trên thế giới

HTX ra đời ở châu Âu cách đây gần 2 thế kỷ và từ đó đã phát triển hầu khắp thế giới HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, vì lợi ích của xã viên và cộng đồng dựa trên các giá trị tương trợ lẫn nhau, tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng, công bằng và đoàn kết, xã viên tin tưởng vào giá trị đạo đức, trung thực, cởi mở, có trách nhiệm xã hội và quan tâm đến người khác Bởi những lý do đó mà HTX đáp ứng

Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

nhu cầu kinh tế - xã hội của cộng đồng và thành công ở rất nhiều nước, kể cả các nước công nghiệp phát triển như: Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Italia, Nhật Bản… Đặc biệt hiện nay

mô hình HTX đã trở thành lực lượng vững mạnh ở một số nước châu Á

Năm 1944, lần đầu tiên nước Đức, những nguyên tắc về HTX được nêu ra là:

Tự do gia nhập, quản lý dân chủ, thực hiện nguyên tắc “một người một phiếu”, góp tỷ suất lợi nhuận vào các phần của hội: Chia lợi tức tỷ lệ với sự hoạt động của dân số, trả tiền cho các sản phẩm mua, đào tạo và giáo dục xã viên không tham gia chính trị và tôn giáo Đây là cơ sở cho những nguyên tắc hoạt động mà các tổ chức HTX quốc tế

đã phê chuẩn sau này Năm 1847, tổ chức phúc lợi nông thôn đầu tiên ở nước Đức đã được thành lập, sau đó các HTXNN phát triển và trở thành một lực lượng kinh tế xã hội quan trọng của Cộng hoà Liên bang Đức

Ở nhiều nước trên thế giới, Chính phủ đã ban hành rất sớm các Thông tư, Pháp lệnh, Luật HTX Có nước còn tính hợp hiến của HTX trong Hiến pháp nhằm mục đích hướng dẫn, giúp đỡ nông dân Khi họ thực sự có nhu cầu thì tự nguyện liên kết với nhau thành HTX để vượt qua khó khăn, phát triển sản xuất

Đến nay ở hầu khắp các nước trên thế giới, nhiều hình thức kinh tế HTX trong nông nghiệp vẫn được duy trì, phát triển và có hiệu quả rõ rệt

Ở Hà Lan, HTXNN đã ra đời hơn 100 năm Ngay từ đầu các HTX đã thực hiện chức năng thương nghiệp chuyên ngành vì mục tiêu kinh tế Đa số hộ nông dân tham gia từ 2 – 4 HTX khác nhau Ngày nay, hệ thống các loại hình HTX ở Hà Lan vẫn phát triển và có vị trí quan trọng đối với lĩnh vực nông nghiệp cho xã hội

Ở Mỹ, hệ thống các HTX đã hình thành trên một năm trở nên cần thiết đối với các chủ trang trại Ngay từ năm 1914, Nhà nước đã thành lập các HTX Chính phủ Liên bang cũng như ở từng bang đều dành một khoản kinh phí nhất định cho hoạt động của các HTX Ngày nay, các HTX tự nguyện có hiệu quả của các chủ nông trại

có vai trò to lớn trong nền nông nghiệp hiện đại của Mỹ

Ở Nhật Bản, đại đa số nông trại đều tham gia HTX Từ năm 1947, Chính phủ Nhật Bản đã ban hành Luật hợp tác hoá nông nghiệp Đến năm 1967, Nhật Bản thông qua chính sách cơ bản về hợp tác hoá nhằm phát triển nông nghiệp Nhờ vậy, phong trào hợp tác hoá đã được triển khai trên phạm vi toàn quốc

Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

Ở một số nước trong khối ASEAN như Indonesia, Thái Lan…HTX cũng xuất hiện khá sớm Chính phủ của các nước này cũng đã có những chủ trương, biện pháp cụ thể để khuyến khích thành lập HTX hay hiệp hội nông dân để giúp đỡ nhau phát triển sản xuất Đồng thời, các Chính phủ đều dành sự quan tâm hỗ trợ đáng kể cho khu vực kinh tế HTX và các nông trại Chẳng hạn, Chính phủ Thái Lan đã thành lập hệ thống phát triển nông thôn quốc gia, từ Trung ương đến cơ sở Nhà nước Indonesia đã nêu rõ chủ trương nền kinh tế quốc dân phải được xây dựng trên nguyên tắc tương trợ và hợp tác Nhà nước đề ra những chính sách ưu tiên đối với khu vực kinh tế HTX đã tiến hành cải tiến HTX theo một số hướng cơ bản

Ở Liên Xô cũ, các nước Đông Âu và Trung Quốc, phong trào hợp tác hoá trong nông nghiệp được triển khai rầm rộ, rộng rãi và nhanh chóng để thành lập các nông trại tập thể, công xã nhân dân… Nhằm mục tiêu đưa nông nghiệp, nông dân đi lên chủ nghĩa xã hội

Tuy nhiên, mô hình HTX “tập thể hoá” đã chứa đựng những yếu tố không phù hợp với nền sản xuất nông nghiệp, hàng hoá trong điều kiện cơ chế thị trường Do vậy, trong những năm qua, ở các nước nói trên, khu vực kinh tế này đã và đang tiến hành quá trình đổi mới, cải tổ, song điều đó không phủ nhận tính tất yếu khách quan của kinh tế HTX trong nông nghiệp

1.2.2 Tình hình phát triển các HTXNN ở Việt Nam

Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp nước ta đã hình thành và phát triển hơn 50 năm, kể từ sau tháng 8 năm 1945 Tuy nhiên, việc đưa nông dân vào HTX chỉ thực sự trở thành phong trào rộng lớn từ năm 1958

Căn cứ vào đường lối, chính sách cơ chế quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước; căn cứ vào đặc điểm, tính chất, vai trò của các tổ chức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn có thể phân chia quá trình hình thành, phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp thành 3 giai đoạn

Trang 23

trào rộng khắp nông thôn Đến năm 1958, thực hiện chủ trương của Hội nghị lần thứ 8 BCH TW khoá II (8-1958) hầu hết các tỉnh đều tiến hành xây dựng thí điểm HTXNN chủ yếu bằng cách chuyển từ tổ đổi công lên HTX Trên toàn miền Bắc lúc này đã có 4.832 HTX với 126.082 hộ nông dân tham gia, chiếm 4,74% tổng số nông hộ

Kể từ sau Hội nghị thứ 16 BCH TW (4-1959) hợp tác hoá gần như đồng nhất với tập thể hoá tư liệu sản xuất

Thời kỳ 1961 – 1975

Đây là giai đoạn củng cố hoàn thiện, đưa HTXNN bậc thấp lên bậc cao, mở rộng quy mô HTX theo mô hình tập thể hoá Giai đoạn này phong trào hợp tác hoá đã bộc lộ nhiều nhược điểm, biểu hiện rõ nét là sự không phù hợp của mô hình HTX bậc cao, quy mô lớn với trình độ phát triển lực lượng sản xuất, trình độ cán bộ quản lý…

Đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là quá trình củng cố và mở rộng quy mô HTX luôn mâu thuẫn và ngược lại với kết quả thu được trong SXNN, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, trước hết sản xuất nông nghiệp ngày càng sa sút

Tuy nhiên, do điều kiện đất nước có chiến tranh, toàn dân phải dốc sức lực phục

vụ mọi nhu cầu chiến đấu giành chiến thắng nên thời kỳ này HTX mang ý nghĩa nổi trội, những mâu thuẫn, bất hợp lý trong cơ cấu tổ chức, quản lý, phân phối… tạm thời lắng xuống

Thời kỳ 1976 – 1980

Đây là giai đoạn tiếp tục mở rộng và củng cố HTX gắn với chủ trương xây dựng cấp huyện ở miền Bắc và thực hiện mô hình tập thể hoá ở miền Nam sau giải phóng với mong muốn thúc đẩy nhanh quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa trên phạm vi

cả nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội

Cuối thập niên 70 thế kỉ XX, nền kinh tế đất nước lâm vào tình trạng khủng

Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

hoảng nghiêm trọng, trước hết là tình trạng khủng hoảng kinh tế tập thể trong nông nghiệp trên phạm vi cả nước

Thời kỳ 1981 – 1988

Đây là giai đoạn thực hiện Chỉ thị 100/CT-TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, trong HTXNN (gọi tắt là khoán sản phẩm) Cơ chế khoán sản phẩm với 3 khâu (gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch) đã phá

vỡ một mảng trong mô hình HTX tập thể hoá, tạo điều kiện gắn người lao động với kết quả cuối cùng của sản xuất Nhờ đó cơ chế khoán đã tạo động lực kích thích chủ động hăng hái sản xuất trong nông dân, có thể nói: “Chỉ thị 100/CT-TW đã mang lại một luồng sinh khí mới cho SXNN” Giai đoạn 1981 – 1985, được coi là thời kỳ thành công của quá trình thực hiện Chỉ thị 100/CT-TW Sau đó những hạn chế của chỉ thị ngày càng bộc lộ rõ, đã dẫn đến tình trạng vi phạm lợi ích của người lao động, tỷ lệ vượt khoán ngày càng giảm Nông dân chán nản trả ruộng khoán ngày càng nhiều Thực tế đó đòi hỏi phải có cơ chế quản lý mới đó là logic đưa đến sự ra đời Nghị quyết

10 Bộ Chính trị (5/4/1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp

Giai đoạn 1989 – 1996

Đây là giai đoạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó góp phần tạo nên những thành tựu nổi bật nhất trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới của đất nước Là giai đoạn tiếp tục thực hiện quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở nước ta từ khi thực hiện Chỉ thị khoán 100 Có thể nói sự thay đổi của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam được kể đến như một thành tựu từ sau khi có Nghị quyết 10 của

Bộ Chính trị về “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp”

Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 BCH TW khoá VI (29/3/1989), đã đề cập đến những quan điểm, phương hướng tiếp tục đổi mới HTX và tập đoàn sản xuất Cùng với việc coi hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp nông thôn, đã khơi dậy tính tự chủ, năng động, sáng tạo, gắn bó với đồng ruộng, cây trồng, vật nuôi của người nông dân Đây là một sự đổi mới có tính bước ngoặt trong nhận thức về cơ chế kinh tế trong nông nghiệp, về vai trò và vị trí khách quan của kinh tế hộ nông dân, quan niệm mới về chế độ kinh tế hợp tác trong nông nghiệp; là cơ sở khách quan cho sự hình thành và phát triển các hình thức kinh tế

Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

hợp tác trong nông nghiệp

Để tiếp tục thực hiện đổi mới và phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, Nhà nước đã ban hành Luật đất đai năm 1993 cùng với Nghị định số 64/CP của Chính phủ

về việc giao đất cho hộ nông dân sử dụng lâu dài và được hưởng năm quyền: sử dụng, chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế và thế chấp thì tính tự chủ của kinh tế hộ được phát huy một cách cao độ Hộ xã viên được quyền tự chủ trong SXKD, được quyền lựa chọn các yếu tố đầu vào và tự quyết định bán sản phẩm

Giai đoạn từ 1996 đến nay

Sau khi ban hành Luật HTX năm 1996, và có hiệu lực từ ngày 1-1-1997, cùng với các Nghị quyết, văn bản hướng dẫn của Đảng và Nhà nước, các địa phương đã ra Nghị quyết và có văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể Quá trình triển khai Luật HTX, thực hiện chuyển đổi, xây dựng HTX kiểu mới theo các bước chủ yếu sau đây: Phổ biến và ban hành các văn bản thi hành Luật HTX; thành lập ban chỉ đạo ở cấp tỉnh, huyện; tổ chức tuyên truyền, tập huấn cho cán bộ và nông dân; làm thí điểm và sau đó nhân ra trên diện rộng

Năm 2001, các HTX chuyển đổi và thành lập mới đã tạo ra giá trị sản lượng đạt khoảng 32,2 nghìn tỷ đồng, tạo việc làm cho khoảng 3,3 triệu lao động, huy động được 6.243 nghìn tỷ đồng dưới dạng vốn góp của xã viên Hoạt động dịch vụ của HTX chủ yếu sau chuyển đổi gồm có: Thuỷ lợi (94,9%), BVTV (61,9%), thú y (37,7%), giống (41,35%), khuyến nông (47,5%), vật tư (36%), làm đất (14,8%), tiêu thụ sản phẩm (10,3%), chế biến (0,4%), điện (52,2%), dịch vụ khác (3,9%) Sau 5 năm thực hiện luật HTX, tính đến giữa năm 2002 cả nước có 2.569 HTX thành lập mới và 6.384 HTX đã chuyển đổi theo Luật trong tổng số 10.331 HTX

*Sau khi có Luật HTX năm 2003

Căn cứ Nghị quyết Đai hội IX, Nghị quyết số 13 và Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 5 (khoá IX) về kinh tế tập thể, Luật HTX năm 2003, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã

có thông tư số 04/2004/TT-BKH ngày 13/12/2004 về việc hướng dẫn xây dựng phát triển khu vực kinh tế tập thể 5 năm 2006 – 2010 Cùng với việc thực hiện Luật HTX năm 2003, Chính phủ, các ban ngành và địa phương đã có những văn bản chỉ đạo tạo điều kiện cho kinh tế tập thể, các HTX và HTXDVNN phát triển đúng hướng

Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

Theo Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ sau khi Luật HTX 2003 ra đời

số HTX làm ăn có lãi đã tăng lên Năm 2005 có tới 77% số HTXNN hoạt động có lãi, tăng 8% so với năm 2002 Mức lãi bình quân một HTX là 24,5 triệu đồng Nhiều HTX

có lãi từ 100 – 300 triệu đồng, kinh doanh có lãi, bảo toàn được vốn và tăng trưởng; tổng giá trị tài sản bình quân một HTX đạt trên 1 tỷ đồng Hiện vẫn còn tới 42% HTX trung bình và 22 HTX yếu kém

Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH - DỊCH VỤ

CỦA HTXDVNN MỸ LỘC HẠ XÃ AN THUỶ,

HUYỆN LỆ THUỶ, TỈNH QUẢNG BÌNH

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Vị trí địa lý đóng vai trò quan trọng, có sự ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế nhất là trong nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của người nông dân

HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ- An Thủy- Lệ Thuỷ- Quảng Bình là một HTX có quy

mô tương đối lớn, cơ bản chuyên trồng cây lúa, thuộc vùng trũng nằm ở phía Nam tỉnh Quảng Bình Phía Bắc giáp sông Kiến Giang, bên kia sông là xã Lộc Thủy, phía Nam giáp xã Phú Thủy, phía Đông giáp HTXDVNN Mỹ Lộc Thượng, phía Tây giáp HTXDVNN Mỹ Lộc An

Địa hình thổ nhưỡng

Địa hình đất đai của HTX với tổng diện tích đất tự nhiên là 292 ha

Diện tích đất nông nghiệp là 255 ha Trong đó: Diện tích đất trồng lúa 254 ha, Diện tích đất trồng màu 1 ha (luân canh cây lạc & đậu xanh)

Tổng diện tích HTX trực tiếp quản lý điều hành dịch vụ 255 ha

Địa hình của HTX nhìn theo hướng Tây Nam phía trước là cánh đồng thẳng cánh cò bay phía sau là dòng sông Kiến Giang thơ mộng, hai bên tiếp giáp với 2 HTX

ở cùng xã An Thủy Với địa hình ruộng đất thuộc vùng trũng nên thường gặp khó khăn khi có lũ đầu vụ

Khí hậu thời tiết

Khí hậu ở HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ nằm trong vùng khí hậu của miền Trung nắng lắm mưa nhiều, được chia làm hai mùa rõ rệt

Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

Mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, bình quân số giờ nắng trên 8h/ngày, nhiệt độ trung bình >29%, lượng bốc hơi nước 105mm/tháng, lượng mưa 50mm/tháng, độ ẩm 45%/tháng Đặc biệt mùa này thường có gió phơn Tây Nam gây cho thời tiết khô, nóng vào khoảng tháng 6, kéo dài 35 - 45 ngày, làm cho cây trồng sinh trưởng và phát triển kém

Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2, bình quân số giờ nắng >4h/ngày nhiệt

độ trung bình 260C, lượng mưa 295m/tháng, bốc hơi nước 75mm/tháng , độ ẩm 95% Đặc biệt mùa này thường có gió Tây Bắc và Đông Bắc và mưa kéo dài, thường có bão,

lũ lụt gây ngập úng đối với cây trồng và sinh hoạt của nông dân, nông thôn

Nguồn nước- thủy văn

Dọc theo với khu dân cư sinh sống là dòng sông Kiến Giang nối liền 2 xã An Thủy và Lộc Thủy, được bắt nguồn từ nguồn nước của Rào Mệ và Rào Con (ở Rào Con nay trở thành hồ chứa nước An Mã), là nơi để lấy nước vào ruộng phục vụ cho nông nghiệp và là nơi lấy nước sinh hoạt đối với đời sống của người dân ở đây Dòng sông này tạo điều kiện thoát nước ra biển Nhật Lệ khi lũ đầu vụ hay vào mùa lũ lụt

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của HTX

HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ bao gồm trong địa phận của 1 thôn, có 4 xóm, kinh tế của HTX chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính Trong đó trồng trọt chiếm vai trò quan trọng, đặc biệt là cây lúa nước đóng vai trò chủ đạo trong trồng trọt, sản lượng thóc hàng năm đạt từ 2300- 2600 tấn Ngoài ra còn trồng một số hoa màu khác như cây lạc, khoai lang ở các vùng đất cao, sản lượng khoảng từ 200- 250 tấn Chăn nuôi chủ yếu là trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng, cá ao hồ, cá lúa, Ngoài nông nghiệp các ngành nghề phụ khác phát triển tương đối mạnh như buôn bán nhỏ, xây dựng

Tuy vậy đời sống nhân dân trong HTX vẫn còn gặp không ít khó khăn

 Dân số và lao động

Đây là yếu tố chính, quyết định sự phát triển kinh tế xã hội Đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp, lao động đóng vai trò quan trọng, bởi lẽ đối tượng trong nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi, là những cơ thể sống phải trải qua quá trình sinh trưởng, phát triển, chịu sự tác động của lao động và điều kiện tự nhiên Quy mô, chuyên môn hóa, cơ giới hóa trong nông nghiệp còn phát triển chậm, cho nên trong sản xuất nông

Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

nghiệp yếu tố lao động là rất quan trọng, phải có sự nâng cao về trình độ lao động, tiếp thu các tiến bộ khoa học - kỷ thuật, công nghệ mới để nâng cao hiệu quả kinh tế trong SXNN Về mật độ tăng dân số có ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống nông hộ, song

nó là nguồn lao động cho xã hội

Để thấy rõ tình hình dân số và lao động của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ xã An Thủy chúng ta quan sát bảng số liệu dưới đây

Bảng 1: Tình hình dân số và lao động của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ qua 3 năm

09/08 (%)

Nhân khẩu nông nghiệp Khẩu 2408 2412 2419 100,2 100,3

Nguồn: Bản báo cáo tình hình cơ bản của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ năm 2009

Qua bảng 1: Ta thấy HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ năm 2009 có 511 hộ, trong đó hộ nông nghiệp chiếm 92,76%, toàn HTX có 2655 nhân khẩu thì có đến 2419 nhân khẩu nông nghiệp Với số liệu trên cho ta thấy HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ có số hộ nông nghiệp và nhân khẩu rất cao, có thể nói là một HTX thuần nông, thu nhập và đời sống dựa vào nông nghiệp

Qua 3 năm hộ nông nghiệp trong HTX có giảm nhưng không đáng kể, do nhu cầu của một số hộ chuyển đi nơi khác Từ bảng 1 cho thấy tổng lao động nông nghiệp qua 3 năm có xu thế giảm, do có sự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, một số lao động chuyển sang làm nghề khác như: Xây dựng, mộc, xuất khẩu lao động

Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

 Tình hình đất đai

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là yếu tố cấu thành lãnh thổ quốc gia, đất đai

là yếu tố vô cùng quý giá của mỗi quốc gia Là tư liệu sản xuất chủ yếu đặc biệt và không thể thay thế Tình hình đất đai và cơ cấu sử dụng đất đai của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ qua 3 năm 2007- 2009 được thể hiện qua bảng số sau:

Bảng 2: Tình hình biến động đất đai của HTX theo mục đích sử dụng qua 3 năm

09/08 (%)

-Đất tôn giáo, tín ngưỡng Ha 0,03 0,03 0,03 100 100

Nguồn: Báo cáo tình hình đất đai của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ năm 2009

Qua bảng số liệu cho ta thấy diện tích đất tự nhiên qua 3 năm không đổi Trong

đó đặc biệt diện tích đất phi nông nghiệp không thay đổi Chỉ có diện tích đất nông nghiệp tăng và diện tích đất chưa sử dụng giảm, nguyên nhân là do một số diện tích đất chưa sử dụng được quy hoạch thành đất nông nghiệp

2.2 THỰC TRẠNG CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH - DỊCH VỤ CỦA HTXDVNN MỸ LỘC HẠ

2.2.1 Khái quát chung

2.2.1.1 Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật của HTX qua 3 năm 2007-2009

Để nắm được tình hình cơ sở vật chất của HTX chúng ta tham khảo bảng số liệu sau:

Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

Bảng 3: Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật của HTX qua 3 năm 2007 – 2009

09/08 (%)

Nguồn: Bản báo cáo kiểm kê tài sản của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ năm 2009

Qua bảng 3 cho thấy HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ sau khi thực hiện chuyển đổi HTX (năm 1997), HTX đã không ngừng xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất khá vững chắc Hệ thống mương, đường bê tông được hoàn thiện 100%, với vốn Nhà nước đầu tư 60% HTX và xã viên góp 40% vốn đối ứng Ngoài ra hệ thống cầu cống, đê điều, hệ thống truyền thanh cũng được hoàn thiện dần Đặc biệt từ năm 2005-2009 HTX đã xây dựng được nhà truyền thống và trụ sở làm việc khang trang với trị giá hơn

1 tỷ đồng bằng vốn của HTX và nhân dân đóng góp

Phải nói rằng về cơ sở vật chất kỷ thuật thì HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ là một trong những HTX có hệ thống cơ sở vật chất kỷ thuật lớn và cơ bản nhất trong địa bàn tại xã và trong tỉnh Quảng Bình

Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

2.2.1.2 Tình hình sử dụng tài sản cố định của HTX qua 3 năm 2007- 2009

VCĐ là vốn mà doanh nghiệp đã đầu tư mua sắm, xây dựng để hình thành nên TSCĐ hay được hiểu là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ nhằm đem lại lợi ích cho doanh nghiệp Việc quản lý VCĐ thực chất là việc quản lý TSCĐ

Sau khi chuyển đổi HTX đến nay, ba năm 2007- 2009, HTX vẫn tiếp tục nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý đối với việc sử dụng tài sản cố định với mục đích bảo toàn vốn, tài sản hiện có và sinh lời Để hiểu rõ vấn đề này chúng ta tham khảo

Tỷ trọng

%

SL (tr.đ)

Tỷ trọng

%

SL (tr.đ)

Tỷ trọng

Nguồn: Báo cáo tài chính của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ năm 2009

Qua bảng 4: Ta thấy cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động dịch vụ đều được xây dựng, đầu tư nâng cấp, như tài sản phục vụ sản xuất và tài sản phục vụ quản lý được HTX quan tâm đầu tư xây dựng

Tài sản phục vụ sản xuất năm 2009 so với năm 2008, mức đầu tư tăng 4,9% Đó

là đầu tư xây dựng hệ thống đê điều, nạo vét kênh mựơng, nhằm đảm bảo cho việc phục vụ tốt công tác thủy lợi đáp ứng nhu cầu của xã viên, đem lại lợi nhuận cho HTX Tài sản phục vụ quản lý năm 2009 so với năm 2008, mức đầu tư tăng 4,6% Đó là việc đầu tư xây dựng hội trường làm việc của HTX, sắm sửa trang thiết bị dùng cho việc quản lý

Đối với HTX tài sản chờ thanh lý là hầu như không có

2.2.1.3 Tình hình sử dụng vốn lưu động của HTX qua 3 năm 2007 – 2009

Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động của doanh nghiệp VLĐ có vai trò rất quan trọng nhằm đảm bảo một cách thường xuyên nhu cầu

Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

về vốn hoạt động cho HTX Để biết được tình hình sử dụng vốn lưu động của HTX ta tham khảo qua bảng sau:

Bảng 5: Tình hình sử dụng vốn lưu động của HTX qua 3 năm 2007 – 2009

Chỉ tiêu

SL (tr.đ)

Tỷ trọng

%

SL (tr.đ)

Tỷ trọng

%

SL (tr.đ)

Tỷ trọng

Nguồn: Bảng cân đối tài khoản của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ năm 2007-2009

Qua bảng 5 ta thấy nguồn VLĐ của HTX luôn biến động Năm 2008 tăng so với năm 2007 là 24,8% Năm 2009 giảm so với năm 2008 là 18,4% Lý do nguồn VLĐ được sử dụng vào việc xây dựng thêm hội trường HTX và xây dựng hệ thống đê điều phục vụ sản xuất Qua phân tích ta thấy HTX có mức phát triển chưa cao, giá trị TSLĐ còn thấp trong tổng nguồn vốn Tiền mặt qua hàng năm tăng, đặc biệt là tiền gửi cũng tăng lên, mức tăng năm 2009 so với năm trước là 476,2% chứng tỏ rằng HTX thu dịch vụ đối với xã viên dần dần chuyển sang thanh toán bằng tiền, giảm thanh toán bằng lượng, lượng sản phẩm hàng hoá cũng hầu như được bán hết, chứng tỏ HTX nắm bắt đúng nhu cầu của người dân Nhìn tổng quát qua 3 năm từ 2007-2009 nguồn vốn lưu động của HTX giảm xuống nhưng vẫn đảm bảo đáp ứng đủ theo nhu cầu của xã viên trong sản xuất

2.2.1.4 Đánh giá chung về tình hình cơ bản của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ

HTX là đơn vị kinh tế tập thể, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc: Dân chủ, bình đẳng và công khai, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi, hợp tác và phát

Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

triển cộng đồng Bộ máy quản lý gồm: BQT 3 người, BKS 2 người, Kế toán 3 người, 1 thủ kho kiêm thủ quỹ và 4 đội trưởng Bộ phận dịch vụ bao gồm: Đội ngũ vận hành máy bơm điện, bảo vệ đồng, các hộ tham gia làm dịch vụ làm đất

HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ là HTX cơ bản thuần nông, hộ nông nghiệp chiếm 92,76% số hộ trong toàn HTX Để phát triển kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH HTX cần có hướng đẩy mạnh dịch vụ mở mang ngành nghề tạo việc làm cho nông dân, chuyển dần một bộ phận lao động nông nghiệp sang một số ngành dịch vụ khác nhằm tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho nông dân HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ tổ chức kinh doanh các dịch vụ như: Thuỷ lợi, làm đất, vật tư, giống, BV-thuốc chuột, điện sinh hoạt, tín dụng nội bộ

2.2.2 Tình hình thực hiện các khâu dịch vụ

2.2.2.1 Phương thức tổ chức các hoạt động dịch vụ của HTX

+ Đối với khâu dịch vụ tưới tiêu: HTX trực tiếp quản lý điều hành nước tưới

tiêu toàn bộ diện tích cho xã viên HTX trực tiếp hợp đồng với đội ngũ thợ vận hành là

xã viên của HTX theo từng năm một

+ Đối với khâu dịch vụ làm đất: HTX trực tiếp hợp đồng về việc cày ải máy

lòng đối với các chủ hộ có phương tiện như trâu cày, máy cày và máy lòng, hợp đồng theo từng năm một, đảm bảo cày, lòng hết diện tích của xã viên đảm bảo chất lượng,

độ nhuần nhuyễn để xã viên gieo cấy được

+ Đối với dịch vụ cung cấp giống: Thông qua trạm giống của huyện và các

trạm giống trong khu vực HTX trực tiếp ký hợp đồng mua giống về cung cấp đầy đủ theo nhu cầu của xã viên, đảm bảo chất lượng tốt Ngoài ra HTX còn kết hợp mời kỹ

sư nông nghiệp chuyên ngành về phục tráng giống tại địa phương Sau đó nhân rộng

và phân cho xã viên theo giá nội bộ

+ Đối với dịch vụ điện: Thông qua mạng lưới điện của quốc gia tại huyện HTX

đã đầu tư xây dựng tuyến điện đảm bảo kỹ thuật, độ an toàn cao, đầu tư tuyến dây điện bọc toàn bộ để hạn chế hao tổn trên đường dây HTX đã cung cấp điện sáng cho 100%

số hộ trên địa bàn, giá cả không vượt quá mức quy định giá của Nhà nước Đối với các

hộ đăng ký điện kinh doanh thì HTX thu với mức cao hơn

+ Đối với dịch vụ vật tư Lân đạm: HTX bỏ vốn ra mua Lân-đạm-kali từ các

Đại học Kinh tế Huế

Trang 35

nhà máy, đại lý về cung cấp cho xã viên với giá thấp hơn các đại lý bán trên địa bàn và cho xã viên nợ từ 1-3 tháng, sau đó mới tính lãi suất đối với những hộ trả chậm Cung cấp đầy đủ theo nhu cầu của xã viên

+ Đối với dịch vụ bảo vệ-thuốc chuột

Tại địa bàn của HTX việc diệt chuột mang tính cá nhân theo từng hộ thì không mang lại hiệu quả cao, vì vậy cần phải có phương thức diệt tập trung và đồng thời HTX đã chọn và làm hợp đồng đối với xã viên có nhu cầu và đủ điều kiện tham gia hợp đồng, mỗi năm hợp đồng 1 lần từ 3-6 người, bảo vệ toàn bộ đồng ruộng và hoa màu của xã viên, chịu trách nhiệm trước sự thiệt hại lúa và hoa màu của xã viên kể cả việc mất cắp lúa trên đồng ruộng Đối với việc diệt chuột, HTX chịu trách nhiệm mua thuốc và chỉ đạo pha trộn thuốc phân cho xã viên theo từng đợt đồng loạt, tập trung toàn bộ xã viên tham gia và đảm bảo an toàn đối với gia súc, gia cầm và bảo vệ môi trường Một năm 2 vụ, tổ chức xã viên đi bỏ thuốc diệt chuột từ 8-10 lần Quản lí không cho xã viên mang thuốc vào khu dân cư

+ Đối với dịch vụ tín dụng nội bộ

Hợp tác xã dùng vốn nhàn rỗi của HTX và huy động tiền gửi của xã viên để cho

xã viên vay theo hình thức tín dụng nội bộ Với lãi suất 1,2%/tháng, HTX đã tạo điều kiện cho những hộ mua sắm máy móc phục vụ sản xuất, hoặc những trường hợp có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có vốn làm ăn Mức cho vay tối đa là 10 triệu đồng, thời gian cho vay từ 3 tháng đến 1 năm Việc xem xét cho vay được quy định:

+ Dưới 5 triệu đồng giao quyền cho đồng chí Chủ nhiệm xem xét quyết định + Từ 5 – 10 triệu đồng phải được hội đồng BQT xét quyết định

2.2.2.2 Tình hình đáp ứng nhu cầu các khâu dịch vụ của HTX

-Dịch vụ tưới tiêu: HTX đảm bảo đấu úng, tưới hạn kịp thời trên hai vụ lúa của

xã viên (vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu)

-Dịch vụ làm đất: HTX đảm nhiệm 100% diện tích canh tác của xã viên trên 2

vụ Đảm bảo độ nhuần nhuyễn để xã viên gieo cấy

-Dịch vụ Điện: Thông qua Chi nhánh điện lực huyện Lệ Thuỷ, HTX đã đầu tư

tuyến điện sáng phục vụ 100% nhu cầu của nhân dân trong sinh hoạt và kinh doanh (từ năm 2008 HTX không đảm nhiệm dịch vụ này nữa)

Đại học Kinh tế Huế

Trang 36

-Dịch vụ vật tư nông nghiệp (phân bón): HTX đáp ứng theo nhu cầu của xã

viên, với đơn giá rẻ hơn tư nhân trong địa bàn

-Dịch vụ giống: Thông qua trạm giống Huyện và các nơi khác HTX liên hệ,

cung cấp đủ lượng giống theo nhu cầu xã viên cần thu từng vụ sản xuất

-Dịch vụ bảo vệ - thuốc chuột: HTX huy động và làm tốt công tác diệt chuột,

bảo vệ mùa màng, tài sản lúa, hoa màu của xã viên trên 2 vụ đạt hiệu quả

Ngoài ra HTX còn tiến hành một số dịch vụ khác: dịch vụ tiêu thụ sản phẩm,

nhưng chỉ đáp ứng được 20 – 30% nhu cầu của nhân dân

2.2.3 Tình hình vốn kinh doanh, công nợ của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ

Nguồn vốn kinh doanh bao gồm VCĐ và VLĐ, nguồn vốn kinh doanh quyết định đến khả năng kinh doanh - dịch vụ của HTX Tình hình công nợ ảnh hưởng đến việc quay vòng vốn của HTX Vì vậy xem xét tình hình chung hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTX qua 3 năm thì ta không thể không xem xét tình hình vốn kinh doanh

và công nợ của HTX qua 3 năm Để biết được tình hình VKD, công nợ của HTX ta tham khảo qua bảng sau:

Bảng 6: Tình hình vốn kinh doanh của HTX qua 3 năm 2007 – 2009

Năm

2007 (tr.đ)

Năm

2008 (tr.đ)

Năm

2009 (tr.đ)

So sánh 08/07 (%)

09/08 (%)

Nguồn: Số liệu điều tra thực tế HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ qua 3 năm

Đại học Kinh tế Huế

Trang 37

Qua bảng 6 ta thấy nguồn VKD của HTX là rất lớn và biến động qua các năm Nguồn VKD do xã viên đóng góp 100% Nguồn VKD năm 2008 là lớn nhất với 4.442.000.000 đồng, thấp nhất là năm 2007 là 4.227.000.000 đồng Trong nguồn VKD thì VCĐ chiếm tỷ trọng rất lớn, năm 2009 VCĐ chiếm 82,2% trong tổng nguồn VKD, tăng 3,2% so với năm 2008, nguồn VLĐ chiếm 17,8% trong tổng nguồn VKD, giảm 18,4% so với năm 2008

Về tình hình công nợ, qua bảng 6 cũng cho ta thấy rằng tình hình không đáng lo ngại lắm Qua các năm nợ phải trả của HTX giảm rất đáng kể, nợ phải trả năm 2008 giảm so với năm 2007 là 49,8%, 2009 giảm so với năm 2008 là 62,7% Nợ phải thu năm 2008 so với năm 2007 tăng 108,9% nhưng năm 2009 nợ phải thu của HTX lại giảm so với năm 2008 là 17%, trong đó nợ khó đòi năm 2009 so với năm 2008 giảm 31,6%, so với năm 2007 giảm 58,1% Nợ khó đòi giảm qua các năm, điều đó cho thấy đời sống của bà con xã viên đã được nâng lên một bước Tuy nhiên, nợ khó đòi cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc đầu tư tái sản xuất của HTX, vì vậy cần có các giải pháp để nhằm hạn chế vấn đề nợ khó đòi của HTX, đây cũng là một bài toán đang làm đau đầu các cán bộ quản lý của HTX

bộ máy quản lý HTX ta tham khảo bảng 7

Qua bảng số liệu cho thấy bộ máy quản lý điều hành hoạt động dịch vụ của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ qua 3 năm có sự thay đổi Do đặc thù của HTX nông nghiệp vùng trũng nên bộ máy quản lý được phân cấp lao động gián tiếp gồm Ban quản trị, Ban kiểm soát, kế toán, thủ quỹ, giúp việc, lao động trực tiếp là các đồng chí đội

Đại học Kinh tế Huế

Trang 38

trưởng đội sản xuất Về trình độ chuyên môn qua bảng số liệu cho thấy trong bộ máy quản lý đã không ngừng được nâng cao về trình độ và chuyên môn Nếu như năm

2007 cán bộ quản lý 14 người mới chỉ có 2 đại học – cao đẳng, 5 trung cấp và 1 sơ

cấp, thì đến năm 2009 có đến 4 đại học, 3 trung cấp và 1 sơ cấp

Bảng 7: Tình hình bộ máy quản lý của HTX qua 3 năm 2007- 2009

- Chưa qua đào tạo 6 42,9 5 38,5 5 38,5 83,3 100

Nguồn: Báo cáo tình hình cơ bản của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ năm 2009

Trong những năm trở lại đây HTX đã biết chú trọng đến công tác đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài để đáp ứng theo hướng phát triển CNH, HĐH nông nghiệp

Đại học Kinh tế Huế

Trang 39

nông thôn Tuy nhiên đội ngũ cán bộ quản lý vẫn còn mang nặng tâm lý thời bao cấp, chưa bắt nhịp được với nền kinh tế thị trường nên hiệu quả trong công việc còn thấp

2.3 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH - DỊCH VỤ QUA 3 NĂM CỦA HTXDVNN MỸ LỘC HẠ

Mức độ đáp ứng các khâu dịch vụ của HTX cho ta biết được khả năng cung cấp dịch vụ của HTX cũng như sự tin tưởng của các hộ xã viên vào HTX Để xem xét hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTX qua 3 năm, đầu tiên ta phải tìm hiểu mức

độ đáp ứng từng khâu dịch vụ của HTX qua 3 năm

Mức độ đáp ứng các khâu dịch vụ của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ qua 3 năm 2007-2009

Để biết được mức độ và khả năng hoạt động cung cấp dịch vụ của HTX ta tham khảo bảng số liệu sau:

Bảng 8: Mức độ đáp ứng các khâu dịch vụ của HTX qua 3 năm 2007-2009

Nhu cầu

xã viên

%HTX đảm nhận

Nhu cầu

xã viên

%HTX đảm nhận

Nguồn: Số liệu điều tra thực tế HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ qua 3 năm

Qua bảng 8 cho ta thấy mức độ đáp ứng dịch vụ và công tác hoạt động dịch vụ của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ với mức độ khá lớn HTX cơ bản đáp ứng 100% nhu cầu của xã viên trong 6 khâu dịch vụ cơ bản trên Trong đó đặc thù cho thấy là các khâu dịch vụ như: Tưới tiêu, bảo vệ - thuốc chuột Bắt buộc HTX phải đảm nhận thì mới

Đại học Kinh tế Huế

Trang 40

đưa lại hiệu quả kinh tế tối đa cho hộ xã viên Ngoài ra khâu dịch vụ làm đất cơ bản HTX đảm nhận 100% diện tích, nhưng do đặc thù ruộng vùng trũng, bùn lầy, nên qua hàng năm HTX không thể đảm nhận được khoảng từ 5-10 ha/năm Còn lại các khâu

dịch vụ khác, HTX đáp ứng đủ theo nhu cầu của hộ xã viên

2.3.1 Kết quả kinh doanh - dịch vụ của HTX qua 3 năm 2007 – 2009

Hoạt động dịch vụ của HTX với mục đích là đem lại lợi nhuận tối đa cho HTX

và phục vụ nhu cầu sản xuất, thực sự là bà đỡ của nông dân

Kết quả hoạt động dịch vụ của HTX được trình bày ở các bảng 9,10, 11

Bảng 9: Doanh thu các hoạt động dịch vụ của HTX qua 3 năm 2007-2009

Tên dịch vụ

SL (tr.đ)

Tỷ trọng

%

SL (tr.đ)

Tỷ trọng

%

SL (tr.đ)

Tỷ trọng

Nguồn: Số liệu điều tra thực tế HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ qua 3 năm

Qua bảng 9 ta nhận thấy năm 2007 mặc dù hoạt động dịch vụ của HTX đối với SXNN, chủ yếu là 6 khâu dịch vụ: dịch vụ tưới tiêu, làm đất, phân bón, điện, giống và dịch vụ bảo vệ - thuốc chuột Nhưng ngoài ra HTX còn tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi làm tín dụng nội bộ cho xã viên vay vốn để phục vụ sản xuất, tạo việc làm Từ năm

2008 HTX không cung cấp dịch vụ điện nữa Qua bảng 9 ta nhận thấy tổng doanh thu qua 3 năm từ 2007 đến 2009 có xu hướng giảm xuống Doanh thu năm 2007 là cao nhất đạt 1.636.600.000 đồng, doanh thu năm 2009 là thấp nhất đạt 1.409.700.000

Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 05/10/2020, 12:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Hợp tác xã, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2003 Khác
2. TS.Phùng Thị Hồng Hà, Giáo trình Quản trị Doanh nghiệp Nông nghiệp, Trường Đại học Kinh tế Huế, 2004 Khác
3. Đào Nguyên Phi, Bài giảng Phân tích hoạt động kinh doanh, Khoa Kế toán - Tài chính, Đại học Kinh tế Huế, 2006 Khác
4. TS. Trịnh Văn Sơn, Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế Huế, 2006 Khác
5. PTS. Mai Văn Xuân - PTS. Nguyễn Văn Toàn- PGS.PTS. Hoàng Hữu Hòa, Lý thuyết thống kê, Khoa Kinh tế, Đại học Huế, 1997 Khác
6. Nguyễn Văn Thi (2005), Chuyên đề tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Kinh tế Huế Khác
7. Nguyễn Thị Ngọc Anh (2008), Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Kinh tế Huế Khác
8. Nguyễn Thị Phương Thảo (2008), Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Kinh tế Huế Khác
9. Đỗ Thị Thảo (2009), Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Kinh tế Huế Khác
10. Đàm Thị Huyền Trang (2009), Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Kinh tế Huế Khác
11. Điều lệ HTX dịch vụ nông nghiệp Mỹ Lộc Hạ, HTX Mỹ Lộc Hạ, 2006 Khác
12. Bảng cân đối tài khoản của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ năm 2007-2009, HTX Mỹ Lộc Hạ, 2009 Khác
13. Báo cáo kiểm kê tài sản của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ năm 2009, HTX Mỹ Lộc Hạ, 2009 Khác
14. Báo cáo tài chính của HTXDVNN Mỹ Lộc Hạ năm 2009, HTX Mỹ Lộc Hạ, 2009 Khác
15. Báo cáo tình hình kinh tế hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp đến năm 2009, nhiệm vụ giải pháp đến năm 2015, Ủy ban nhân dân huyện Lệ Thủy, 2009.Đại học Kinh tế Huế Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w