HÀ NỘI, năm 2019VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ LÀNH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI ĐẾN TÌNH TRẠNG STRESS CỦA NỮ CÁN BỘ TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH
Trang 1HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LÀNH
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI ĐẾN
TÌNH TRẠNG STRESS CỦA NỮ CÁN BỘ TRONG
CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH (NGHIÊN CỨU TẠI QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LÀNH
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI ĐẾN TÌNH
TRẠNG STRESS CỦA NỮ CÁN BỘ TRONG
CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH (NGHIÊN CỨU TẠI QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
Ngành: Xã Hội Học
Mã số: 8310301
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:GS.TS TRỊNH DUY LUÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu củariêng tôi, do tôi trực tiếp làm dưới sự hướng dẫn của GS.TS Trịnh Duy Luân.Các số liệu, kết quả trong khóa luận là trung thực và chưa được sử dụng trongbất cứ một nghiên cứu nào khác Đây là kết quả tôi đạt được trong quá trìnhnghiên cứu
Tôi xin cam đoan mọi tham khảo trong khóa luận này đều được ghi rõ nguồngốc, trích dẫn rõ ràng Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy định viếtkhóa luận, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
TP Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2019
Học viên
Nguyễn Thị Lành
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Xã Hội Học với đề tài:“Ảnh
hưởng của các yếu tố xã hội đến tình trạng stress của nữ cán bộ trong cơ quan hành chính (nghiên cứu tại Quận 10 – TP Hồ Chí Minh” Trước hết tôi xin
chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa xã hội học – Học viện khoahọc xã hội, đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Xã hội học đã tận tình dạybảo, giúp đỡ và định hướng cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến GS.TS Trịnh Duy Luân– người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết, tận tình hướng dẫn và chỉ bảotôi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Thường vụ Quận ủy 10, Thường trực
Ủy ban nhân dân Quận 10, Đảng ủy các cơ sở Đảng trực thuộc Quận 10, đặcbiệt là các đồng chí là nữ lãnh đạo, quản lý đã cung cấp những số liệu cầnthiết và giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình thu thập số liệu phục vụ nghiêncứu đề tài, đồng thời xin cảm ơn sự hợp tác cung cấp thông tin, giúp đỡ nhiệttình của đồng nghiệp trong Quận 10 trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứutại địa bàn
Cuối cùng, tôi xin gửi những lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn
bè đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành quá trìnhhọc tập và nghiên cứu đề tài của mình
Xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2019
Học viên
Nguyễn Thị Lành MỤC LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12
1.1. Cơ sở lý luận 12
1.1.1. Các khái niệm 12
1.1.2. Các tác nhân gây Stress (Stressors) 14
1.1.3. Đo lường các khái niệm 14
1.1.4. Nguyên nhân của stress 16
1.1.5. Quan điểm tiếp cận stress 18
1.2. Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 20
1.2.1. Lý thuyết tương tác biểu tượng trong phân tích căng thẳng xã hội 20
1.2.2. Lý thuyết hiện đại hóa của Goode 22
1.2.3. Lý thuyết của David Mc Clelland 22
1.3. Giới thiệu về địa bàn và mẫu nghiên cứu 23
1.3.1. Địa bàn nghiên cứu 23
1.3.2. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 26
Chương 2: THỰC TRẠNG STRESS TRONG NỮ CÁN BỘ TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH Ở QUẬN 10 30
2.1. Biểu hiện 30
2.1.1. Tình hình sức khỏe trong 3 tháng trở lại đây 30
2.1.2. Những biểu hiện về mặt tâm lý khi bị stress 31
2.1.3. Những biểu hiện về sức khỏe thể chất 34
2.1.4. Những biểu hiện bệnh tật khi bị stress 35
2.2. Mức độ 37
2.3. Sự nhận biết 39
2.4. Một số hệ quả 41
Trang 6Chương 3:CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÌNH TRẠNG
STRESS CỦA NỮ CÁN BỘ 45
3.1. Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tình trạng stress của nữ cán bộ 45
3.1.1. Điều kiện làm việc 45
3.1.2. Các yếu tố từ quan hệ gia đình và cộng đồng 58
3.1.3. Các sự kiện cuộc đời xảy ra trong thời gian gần đây (3 tháng) 66
3.2. Phương thức đối phó với stress của nữ cán bộ 68
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74
1. Kết luận 74
2. Khuyến nghị 74
2.1. Đối với cơ quan nhà nước 74
2.2. Đối với cơ quan nữ cán bộ đang công tác 76
2.3. Đối với cá nhân nữ cán bộ 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Đặc điểm nhân khẩu - xã hội của mẫu nghiên cứu 26
Bảng 2.1 Sức khỏe của nữ cán bộ trong 3 tháng gần đây 31
Bảng 2.2 Những biểu hiện về mặt tâm lý khi bị stress 32
Bảng 2.3 Những biểu hiện về mặt sức khỏe thể chất khi bị stress 34
Bảng 2.4 Những biểu hiện bệnh tật khi bị stress 36
Bảng 2.5 Mức độ bị stress của nữ cán bộ 38
Bảng 2.6 Những dấu hiệu nhận biết về stress 40
Bảng 2.7 Một số hệ quả khi bị stress 41
Bảng 3.1 Đặc điểm công việc của nữ cán bộ 45
Bảng 3.2 Môi trường làm việc của nữ cán bộ 50
Bảng 3.3 Mối quan hệ trong cơ quan của nữ cán bộ 52
Bảng 3.4 Tương quan giữa sự hòa hợp với cấp trên ảnh hưởng đến việc cấp trên đánh giá hiệu quả công việc 54
Bảng 3.5 Mức độ đi làm của nữ cán bộ 55
Bảng 3.6 Tương tác giữa độ tuổi và mức độ stress 56
Bảng 3.7 Tương tác giữa tình trạng gia đình và mức độ stress 57
Bảng 3.8 Tương tác về sự hài lòng giữa mức thu nhập và mức độ stress 57
Bảng 3.9 Vấn đề chia sẻ công việc trong gia đình của người chồng 59
Bảng 3.10 Sự phân bố thời gian cho công việc, gia đình và bản thân 60
Bảng 3.11 Khả năng hoàn thành công việc trong cơ quan và việc nhà 64
Bảng 3.12 Cảm nhận của bản thân khi nữ cán bộ thực hiện vai trò lãnh đạo trong cơ quan và thực hiện vai trò trong gia đình 65
Bảng 3.13 Các sự kiện cuộc đời xảy ra trong 03 tháng gần đây 67
Bảng 3.14 Các giải pháp và hiệu quả mang lại của các giải pháp mà nữ cán
bộsử dụng khi bị stress 68
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu đồ 2.1 Sức khỏe 3 tháng gần đây của nữ cán bộ 31
Biểu đồ 2.2 Mức độ bị stress của nữ cán bộ 38
Biểu đồ 2.3 Sáu dấu hiệu căng thẳng của nữ cán bộ 41
Biểu đồ 2.4 Một số hệ quả của stress đối với nữ cán bộ 42
Biểu đồ 3.1 Số năm công tác tại cơ quan 47
Biểu đồ 3.2 Sự đúng hạn trong công việc của nữ cán bộ 48
Biểu đồ 3.3 Tính trách nhiệm cao trong công việc của nữ cán bộ 49
Biểu đồ 3.4 Các yếu tố trong môi trường làm việc của nữ cán bộ 51
Biểu đồ 3.5 Sự hòa hợp với đồng nghiệp và cấp trên trực tiếp của nữ cán bộ 53
Biểu đồ 3.6 Mức độ đi làm của nữ cán bộ trong 01 tháng trở lại đây 55
Biểu đồ 3.7 Sự phân bố thời gian cho công việc, gia đình và bản thân nữ cán bộ lãnh đạo quản lý 63
Biểu đồ 3.8 Khả năng đồng thời vừa hoàn thành việc cơ quan vừa hoàn thành việc gia đình của nữ cán bộ 65
Biểu đồ 3.9 Cảm nhận của nữ cán bộ lãnh đạo quản lý khi thực hiện vai trò lãnh đạo trong cơ quan và thực hiện vai trò trong gia đình 66
Biểu đồ 3.10 Các sự kiện xảy ra trong 3 tháng trở lại đây của nữ cán bộ 68
Trang 9DANH SÁCH CÁC HỘP Hộp 2.1 – Hộp 2.3: Những biểu hiện tâm lý khi bị stress
Hộp 2.4 – Hộp 2.5: Những biểu hiện về mặt sức khỏe thể chất khi bị stress Hộp 2.6 – Hộp 2.7: Những biểu hiện bệnh tật khi bị stress
Hộp 2.8 – Hộp 2.9: Mức độ bị stress của nữ cán bộ
Hộp 2.10 – Hộp 2.11: Hệ quả khi bị stress của nữ cán bộ
Hộp 3.1 – Hộp 3.2: Mối quan hệ trong cơ quan của nữ cán bộ
Hộp 3.3 – Hộp 3.4: Vấn đề chia sẻ công việc trong gia đình
Hộp 3.5 – Hộp 3.6: Sự phân bố thời gian cho công việc, gia đình và bản thân Hộp 3.7: Cảm nhận của nữ cán bộ khi thực hiện vai trò lãnh đạo
trong cơ quan và thực hiện vai trò trong gia đình
Trang 10MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước cùng với sự pháttriển của khoa học kỹ thuật giúp thay đổi môi trường sống cũng như điều kiệnsống và làm cho đời sống của người dân ngày càng được nâng cao dẫn đếnviệc họ phải thích nghi với lối sống hiện đại mà đôi khi làm cho con người bịmất cân bằng về tâm lý, có những biểu hiện như rối loạn thần kinh, thất vọng
ức chế
Bên cạnh đó, cuộc sống ngày càng khó khăn, con người phải đối mặtvới nhiều nỗi lo toan, nhiều áp lực đến từ nhiều phía, phải gánh vác quá nhiềuvai trò và trách nhiệm với công việc, với gia đình, với bản thân nên tình trạngstress ngày càng gia tăng Theo Hans Selye nhà tâm lý học người Mỹ đã nói:
“Chỉ có chết mới hoàn toàn thoát khỏi stress bởi vì mọi hoạt động của conngười đều liên quan đến stress”
Phụ nữ gánh vác một nửa công việc xã hội và công việc gia đình Sựquá tải này dẫn đến tình trạng người phụ nữ không có nhiều thời gian thưgiãn, nghỉ ngơi… hoàn thiện bản thân Những điều này rất dễ dẫn đến stress,
mà nếu không tự nhận ra, họ sẽ bị chìm đắm vào những muộn phiền, âu sầu
và không tự cân bằng lại được tâm lý và sẽ trở thành bệnh lý
Mối quan hệ làm việc với đồng nghiệp trong cùng cơ quan, sự ủng hộtinh thần từ các đồng nghiệp, sự khuyến khích động viên của lãnh đạo cấptrên và khả năng giải quyết vấn đề của người quản lý sẽ giúp họ tránh đượcstress ở mức tối đa Phụ nữ ngày nay, đặc biệt là phụ nữ làm công tác lãnh đạoquản lý, hàng ngày phải tiếp xúc với rất nhiều người dân, phải giải quyết cáccông việc với yêu cầu hoàn thiện cao nhất Môi trường làm việc, công việctrong cơ quan và việc gia đình cùng với việc phải không ngừng nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, chính trị, v.v… sẽ tạo ra cảm giác bị căng thẳng,
Trang 11ức chế lâu ngày sẽ tạo ra stress
Trang 12Áp lực trong công việc đã khiến stress gần như trở thành một căn bệnhgây nhiều tác hại nhất đối với nữ cán bộ Quản lý là một hoạt động rất phứctạp, trong những điều kiện có sự thúc ép về thời gian, gắn với trách nhiệm Đóchính là lý do khiến tôi muốn tìm hiểu sâu hơn qua đề tài nghiên cứu luận
văn: “Ảnh hưởng của các yếu tố xã hội đến tình trạng stress của nữ cán bộ
trong các cơ quan hành chính” Mục đích là để tìm ra được những nguyên
nhân chính, các tác nhân các yếu tố xã hội ảnh tạo ra tình trạng stress trong nữcán bộ lãnh đạo quản lý Từ đó có những kiến nghị nhằm giúp họ vượt quamọi thử thách và phòng ngừa gia tăng hội chứng stress
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều nghiên cứ về stress từ lý thuyết chođến thực nghiệm trên nhiều đối tượng khác nhau
Theo Hans Hugo Bruno Selye, người đã phổ biến từ stress trong cuốn
“The stress of life” và những nghiên cứu của ông trở thành những luận điểm
cơ bản, nền móng cho những nghiên cứu khoa học về Stress
Vào những năm 1970 - 1980 nhiều nhà nghiên cứu đã công bố cácchương trình nghiên cứu thực nghiệm về stress nhằm tìm hiểu các mối liên hệgiữa thay đổi trong cuộc sống và đau ốm Nghiên cứu của Thomas Holmes vàRichard Rahe, 1976 đã lập ra một thang đo về mức độ của stress đi kèm vớicác sự kiện cuộc đời gọi là thang đo sự kiện cuộc sống để tìm ra những tìnhhuống nào có khả năng gây ra stress nhiều nhất
Có một số nghiên cứu về ảnh hưởng của stress đối với phụ nữ, họcsinh, sinh viên, thanh thiếu niên và cả những người cao tuổi Bên cạnh đócũng có những bài báo, tạp chí cũng đề cập đến vấn đề stress này
Trong cuốn “Tâm lý và sức khỏe”do Đặng Phương Kiệt, 2000 chủ biên
có bài “Stress và chứng bệnh tâm thể, stress và ứng phó với stress” Ông cho
rằng “Stress là kiểu đáp ứng riêng và chung được sinh vật tạo ra đối với cácsự
Trang 13kiện kích thích làm đảo lộn thế cân bằng của sinh vật và vượt quá năng lựcứng phó của nó” Tác nhân gây stress là một sự kiện kích thích từ bên tronghoặc từ bên ngoài đặt ra một yêu cầu khiến một sinh vật phải có một đáp ứngthích nghi nào đó.
Một số trải nghiệm sự kiện gây stress lại có vẻ ít hoặc không chịu ảnhhưởng tiêu cực trong khi những người khác lại bị suy sụp nghiêm trọng bởinhững trở ngại nho nhỏ Sự khác biệt này có thể bắt gặp trong cách đáp ứngcủa con người với stress là vì ảnh hưởng của một tác nhân gây stress vừa phụthuộc vào bản chất của nó lại phụ thuộc vào ý nghĩa của nó Stress là một vấn
đề mang tính cá nhân
Trong bài viết của Đỗ Nguyên Phương“Ảnh hưởng của yếu tố xã hội
vào quan hệ tâm thân tác động đến sức khỏe” cho biết: Stress là trạng thái
trung gian giữa các yếu tố kinh tế - văn hóa – xã hội và quan hệ tâm thân tổnhại đến sức khỏe Một số yếu tố kinh tế - văn hóa – xã hội được coi là tácnhân gây ra căng thẳng tâm lý (stressor) và những tác nhân này có thể dẫn đếnmột số bệnh lý thực sự của tâm thần và thể chất Ông đã đưa ra một mô hìnhnói về cơ chế gây bệnh của stress:
+ Xác định các yếu tố kinh tế - văn hóa - xã hội nhất là sự thay đổi củacác yếu tố này được coi là tác nhân gây căng thẳng tâm lý
+ Giải thích được vì sao một số yếu tố kinh tế - văn hóa – xã hội có thểgây ra tình trạng căng thẳng tâm lý
+ Mô tả biểu hiện quan hệ tâm thân từ sự căng thẳng tâm lý để biểuhiện bệnh lý và ngược lại
+ Phân tích cơ chế gây bệnh của “Sự căng thẳng tâm lý” từ quan hệ tâmthân đến sức khỏe
Về phân loại dựa trên hoàn cảnh có 2 trường hợp sau:
+ Sự thay đổi hoàn cảnh nhưng thích nghi không kịp
Trang 14+ Hoàn cảnh bế tắc không có phương án giải quyết
Cuốn “Khơi sáng tinh thần và giải tỏa Stress” của tác giả Mike Goerge,
2013, đưa ra 7 nhận định sai lầm của con người về stress:
Sai lầm thứ 1: Stress là một điều tự nhiên và tích cực trong cuộc sống
hiện tại
Sai lầm thứ 2: Bạn phải trở thành bác sỹ để chuẩn đoán và chữa trị
stress Sai lầm thứ 3: Stress là cần thiết để đạt được thành công
Sai lầm thứ 4: Stress chỉ đơn giản là một hiện tượng tự nhiên, liên quan
đến cơ thể, chỉ cần nghỉ ngơi thư giãn một chút là sẽ hết
Sai lầm thứ 5: Thay đổi chế độ ăn uống, chạy bộ và kỳ nghỉ tốt sẽ xua
đuổi stress
Sai lầm thứ 6: Bạn phải làm việc 14 giờ một ngày nên liên tục chịu đựng
stress
Sai lầm thứ 7: Những người khác, các sự kiện tình huống trong cuộc sống
đều phải chịu trách nhiệm về tình trạng stress của bạn
Trong cuốn “Kỹ năng cho tuổi vị thành niên” có bài “Làm chủ cảm
xúc và quản lý Stress” (Nguyễn Thị Oanh, 2005) cho rằng, trước kia, ít ai biết
stress là gì, ngày nay ai cũng nhắc tới nó Stress chẳng qua là một áp lực làm
cho cuộc sống ngày càng dồn dập Theo nghĩa tích cực đó là một thách thức,
một kích
Yếu tố kinh tế - văn hóa – xã hội
Cách nhìn nhận giá trị biểu tượngStress
Chu kỳ nhịp sống – Cơ chế tâm thần – thần kinh – miễn dịchBiểu hiện tâm lý
Trang 15thích để ta cố gắng lên, làm tốt hơn, nhận trách nhiệm lớn hơn để đáp ứng yêucầu của cuộc sống.
Tuy nhiên nếu những gì đòi hỏi ở ta quá lớn vượt quá khả năng của tathì ta bị stress và đè nặng lên đời sống tinh thần cũng như thể chất của ta Khi
bị stress chúng ta không làm được những công việc thật sự chất lượng, chúng
ta mệt mỏi, chán nản mà nhiều khi không nhận ra đó là stress
Trong trang Web của Tuổi Trẻ online có bài “Stress đối với phụ nữ
công sở” (Trần Thu Hương, 2004) có nêu lên những nguyên nhân chủ yếu
dẫn đến stress khi phụ nữ làm ở công ty nhất là nữ nhân viên văn phòng: Thứ
nhất: là nguyên nhân từ nghề nghiệp Nữ nhân viên văn phòng hàng ngày
trong 8 giờ làm việc phải giải quyết những công việc ổn định, đơn điệu từnăm này qua năm khác, ít có biến động Bên cạnh đó là môi trường làm việckhép kín,dù đầy đủ tiện nghi, nhưng thiếu không khí… dễ tạo ra cái gọi là hộichứng văn phòng Sắp xếp công việc một cách khoa học để vừa làm tốt côngviệc một cách chủ động là một việc hoàn toàn không đơn giản Thông thườngstress bắt nguồn từ những mong muốn không thực hiện được, từ tâm lý bắtmình phải hoàn thành công việc một cách tốt nhất Các nhà nghiên cứu cho
rằng từ “phải” là nguồn gốc của stress Thứ hai, là nguyên nhân từ cuộc sống
gia đình Người phụ nữ luôn đóng vai trò “nội trợ” Họ gánh vác một nửacông việc xã hội lại mang trên vai gánh nặng các công việc gia đình và dườngnhư không được sự giúp đỡ của người chồng Sự quá tải này dẫn đến tìnhtrạng phụ nữ không còn thời gian nghỉ ngơi, giải trí, chăm sóc sắc đẹp vàhoàn thiện bản thân Nếu không tự nhận ra tình trạng này, đắm chìm vàonhững lo âu, sầu muộn và không tự cân bằng lại được sẽ trở thành bệnh lý
Trong cuốn “Stress và đời sống” (Đặng Phương Kiệt, 1998) cho biết
các yếu tố tác động đến cuộc sống của con người thông qua gia đình, môitrường làm việc, những sự kiện và những biến động xảy ra trong cuộc đời làmcho cá
Trang 16nhân trong xã hội bị stress Sau đó là những chiến lược giúp cá nhân vượt quakhi đối phó với stress Họ đưa ra các phản ứng của cá nhân đối với stress nhưnhững phản ứng khẩn cấp, những phản ứng về mặt tâm lý, để đối phó vớistress như chiến lược sơ cấp và chiến lược thứ cấp.
Theo một thống kê tại Mỹ gần đây cho thấy có hơn 50% trong số 550triệu ngày nghỉ việc của người Mỹ mỗi năm là do stress, gần 50% công nhân
có triệu chứng kiệt quệ sức lực cả tinh thần lẫn thể chất Chi phí do ảnh hưởngcủa stress từ công việc là 300 tỉ USD/ năm (nghỉ việc, giảm năng suất, khámbệnh …) Đặc biệt thống kê cho thấy có 60% đến 80% tai nạn nghề nghiệp là
do stress mà ra (Báo Mới, 2018) Đây là con số đáng báo động và cần đượcquan tâm để điều chỉnh, cân bằng, giảm bớt áp lực từ stress do công việc gây ra
Tuy nhiên theo một cách nghĩ tích cực thì stress ở mức độ nhất địnhcũng là một dạng động lực để bạn có thể hoàn thành xuất sắc công việc bằngtất cả khả năng của mình Chỉ cần biết cách cân bằng, kiểm soát và làm mọithứ đi đúng quỹ đạo thì stress cũng có thể là động lực thúc đẩy và gia tăngcảm hứng trong quá trình làm việc
Theo thống kê của Viện sức khỏe tâm thần Trung ương trong năm
2016, có khoảng 30% dân số Việt Nam mắc chứng bệnh rối loạn tâm thần vàkhoảng 25% trong số đó mắc bệnh trầm cảm Với dân số gần 100 triệu dân sốngười mắc trầm cảm khoảng 7 triệu người, (Báo Tiền Phong, 2018) Trong khi
đó, năm 2015 theo thống kê của World Health Organization (WHO) có 3,6triệu người Việt Nam bị trầm cảm, và nó xảy ra ở nhiều lứa tuổi nhưng phổbiến nhất là độ tuổi từ 18 đến 45 và phụ nữ là người bệnh nhiều hơn nam giới.Các thống kê dịch tễ học về sức khỏe tâm thần của Tổ chức y tế thế giới chothấy các rối loạn liên quan đến stress đang ngày càng gia tăng, tỷ lệ chungtrong dân số có thể từ 5 – 10% và có nhiều nơi tứ 15 – 20% dân số (Báo Mới,2018) Riêng ở Việt Nam, theo thống kê cả Bộ Y tế trong năm 2017 cókhoảng 15% dân số
Trang 17mắc các rối loạn về tâm thần phổ biến liên quan đến stress, 3 triệu người bị rốiloạn tâm thần nặng Chỉ tính riêng 10 loại bệnh tâm thần thường gặp nhấtnhư: trầm cảm, động kinh, rối loạn hành vi, tâm thần phân liệt… đã có hơn 13triệu người mắc phải, trong đó có 40% bệnh nhân ở độ tuổi dưới 30 Tỷ lệvướng phải stress ở phụ nữ là rất nhiều, ở mọi lứa tuổi, mọi giai đoạn Mỗigiai đoạn, người phụ nữ chịu stress ở mức độ khác nhau…
Tại Việt Nam có nhiều nghiên cứu về vấn đề stress và cũng đã chỉ rarằng ở mỗi ngành nghề khác nhau yếu tố nguy cơ và mức độ stress cũng khácnhau Có rất nhiều yếu tố được cho là nguyên nhân dẫn đến stress nghềnghiệp như: cơ cấu tổ chức lao động, điều kiện lao động, mức độ của ngườilao động mà còn ảnh hưởng tới các đối tượng cùng tương tác với họ
Mô hình hệ thống về stress của PGS.TS.BS Nguyễn Văn Thọ (Viện tâm
Từ những công trình nghiên cứu nêu -trSêựnpchóó tthháểcc–
hNoitềhmấytinrằ–nkgháccác đề tài nghiên cứu về stress, đặc biệt là stress đốivới phụ nữ hiện nay vẫn còn là một lĩnh vực khá mới Trong các tài liệu nàychưa tìm thấy một nghiên cứu nào về vấn đề stress, những ảnh hưởng của cácyếu tố xã hội đến tình trạng stress của nữ cán bộ lãnh đạo quản lý tại các cơquan hành chính nhà nước Với lý do đó mà tôi chọn đề tài này nhằm bổ
Trang 18sung thêm kiến thức lý luận và thực tiễnvề
Trang 19những ảnh hưởng xã hội đến tình trạng stress của nữ cán bộ, và đưa ra những kiến nghị nhằm hạn chế tình trạng này trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu tổng quát
- Tìm hiểu rõ thực trạng bị stress và các tác nhân, yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tình trạng stress của nữ cán bộ tại Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
3.2. Mục tiêu cụ thể
-Tìm hiểu thực trạng stress của nữ cán bộ lãnh đạo quản lý trong công việc
- Ảnh hưởng của các yếu tố xã hội (công việc và gia đình) tới tình trạngstress đến gia đình và bản thân họ
- Đề xuất một số kiến nghị chính sách liên quan đến các tác nhân, yếu
tố xã hội
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Những yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tình trạng stress của nữ cán bộ4.2. Khách thể nghiên cứu
Nữ cán bộ (gồm cấp ủy Đảng, trưởng, phó các ban ngành đoàn thể từcấp Phường đến Quận)
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại Quận 10
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10 năm 2018đến tháng 02 năm 2019
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu về thực trạng stress và những yếu tố xãhội ảnh hưởng đến tình trạng stress của nữ cán bộ trong cơ quan hành chínhnhà nước tại Quận 10
Trang 20- Nghiên cứu tư liệu: Các tài liệu được thu thập và chọn lọc từ các
nguồn: Thư viện tổng hợp Quốc gia, thư viện trường Đại học Mở Thành phố
Hồ Chí Minh, thư viện của trung tâm nghiên cứu công tác xã hội, văn phòngKhoa xã hội học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố HồChí Minh
- Nghiên cứu định lượng: Điều tra bằng bảng hỏi 150 cán bộ nữ với các
nội dung:
+ Đặc điểm nhân khẩu - xã hội cá nhân và gia đình
+ Đặc điểm công việc và môi trường làm việc
+ Thực trạng stress (biểu hiện, mức độ, nhận biết và sự ảnh hưởng)+ Các yếu tố xã hội (quan hệ xã hội nơi làm việc, mức độ hoàn thànhnhiệm vụ và mối quan hệ trong gia đình)
+ Các phương thức đối phó và hiệu quả mang lại cho nữ cán bộ khi họ
bị stress
- Nghiên cứu định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu (10 trường hợp gồm 5
cấp Quận và 5 cấp Phường) Mục đích là trả lời cho các câu hỏi “như thếnào?” và “tại sao?” đối với tình trạng stress của nữ cán bộ
- Phương pháp xử lý số liệu: sử dụng phần mềm SPSS 20 để xử lýthống kê số liệu định lượng thu thập được
- Cách chọn mẫu: sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích Đề tàichọn là nữ cán bộ (Trưởng, phó các ban ngành đoàn thể, Đảng viên trong cấp
ủy Đảng từ cấp Phường đến Quận)
5.1. Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng bị stress của nữ cán bộ Quận 10 là như thế nào?
- Những tác nhân xã hội gây ra stress cho nữ cán bộ là gì?
- Có thể có những khuyến nghị gì đối với các yếu tố xã hội để cải thiệnnhững tình trạng stress của nữ cán bộ
5.2. Giả thuyết nghiên cứu
Trang 21- Nữ cán bộ gặp phải trình trạng stress do áp lực từ công việc trong cơ
quan và công việc gia đình do đảm nhận nhiều vai trò trong cùng một thời điểm
- Môi trường làm việc, mối quan hệ trong gia đình, việc cân bằng thời
gian cho việc tại cơ quan và việc cho gia đình làm cho nữ cán bộ gặp phải
stress thường xuyên
- Việc tạo ra khoảng không gian làm việc, thư giãn, vui chơi giải trí, sự
thông cảm và đồng thuận của cấp trên, sự hỗ trợ của các thành viên trong gia
đình giúp nữ cán bộ giải tỏa được căng thẳng
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Khái quát quan điểm về stress nói chung và stress của nữ cán bộ nói
riêng, làm phong phú thêm nội dung nghiên cứu trong xã hội học
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn cung cấp kết quả thực tế về việc nhận biết thực trạng và các
yếu tố xã hội ảnh hưởng gây ra tình trạng stress của nữ cán bộ Từ đó các cấp
lãnh đạo, cơ quan chức năng có liên quan sẽ nắm được thực trạng vấn đè này
và đưa ra các biện pháp nhằm khắc phục những tác động tiêu cực của stress
đến công việc và cuộc sống của nữ cán bộ
6.3. Khung nghiên cứu
Thực trạng
STRESS
10
Các yếu tố xã hội
Môi trường làm việc:
Đặc điểm công việc
Môi trường làm việc
Mối quan hệ trong cơ quan
Các yếu tố cá nhân
Quan hệ gia đình và cộng đồng:
Chia sẻ trong việc gia đình Mối quan hệ giữa công việc, gia đình và cá nhân Việc thực hiện vai trò trong công việc cơ quan và việc gia đình Các sự kiện trong cuộc đời (3 tháng trở lại đây)
Trang 227. Kết cấu của luận văn
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Thực trạng stress của nữ cán bộ
Chương 3: Các yếu tố xã hội ảnh hưởng/ gây ra stress trong nữ cán bộ.KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
PHẦN PHỤ LỤC
Bảng câu hỏi
Tài liệu tham khảo
Trang 23nó đi (Theo tân từ điển Webster)
Stress theo từ điển tiếng Anh gốc Latinh nghĩa nguyên thủy là nỗi đau,
sự thử thách, tai họa, stress là tổng hợp các phản ứng tâm sinh lý của cơ thểtrước các yếu tố bên ngoài đòi hỏi sự thích nghi của cơ thể
Theo J Delay định nghĩa: “Stress là trạng thái căng thẳng cấp diễn của
cơ thể buộc phải huy động các khả năng phòng vệ để đối phó với một tìnhhuống đang đe dọa”
Theo Charmaine Sauders định nghĩa: “Stress là trạng thái quá căngthẳng của tinh thần Căng thẳng là một áp lực từ bên ngoài do chúng ta cảmthấy quá bận rộn, mệt mỏi, vội vã hoặc căng thẳng bên trong do chúng ta tạora”
Theo Nguyễn Thành Khải, 2001, “Stress là trạng thái căng thẳng vềtâm lý mà con người cảm nhận được trong quá trình hoạt động cũng nhưtrong cuộc sống”
Các áp lực bên ngoài (áp lực công việc, gánh nặng công việc) được xemnhư là áp lực tác động đến cá nhân và nó gây ra căng thẳng (Hinkle, 1973)
Trong luận văn này, stress là trạng thái căng thẳng về mặt tâm lý màcon người cảm nhận được trong quá trình hoạt động cũng như trong cuộc sống
Trang 241.1.1.2. Cán bộ lãnh đạo - quản lý trong cơ quan hành chính nhà nướcCán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữchức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản ViệtNam, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, Thànhphố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở Quận, Huyện, thị xã,thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước(Điều 4, Luật cán bộ công chức năm 2008).
Cán bộ phường, xã, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là công dân ViệtNam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực Hội đồngnhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, phó bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổchức chính trị xã hội, công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyểndụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp
xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Điều 4, Luật cán
bộ công chức năm 2008)
Cán bộ lãnh đạo: Là người phải có những tố chất và tầm nhìn chiếnlược, coi trọng đại cục, tư duy tổng hợp Điều hành công việc như một bộmôn nghệ thuật, thường đảm nhận những vai trò trung gian, mọi việc phảihoàn hảo, phù hợp, hiệu quả Là người mấu chốt gắn kết tình cảm của tập thể,người phát biểu trong cơ quan (Nguyễn Thành Khải, 2001)
Cán bộ quản lý: Là người có tính chiến thuật, quán xuyến cục bộ và cótính chuyên môn cao, được đào tạo, có kỹ năng, nhiều kinh nghiệm thực tiễn
và là người giám sát trực tiếp Làm việc để mang lại hiệu quả, phù hợp, tậndụng mọi kỹ năng để giải quyết mọi khó khăn Người quản lý phải có tínhkhách quan, công bằng, lãnh đạm, lo lắng mọi mặt cho các hoạt động của tậpthể (Nguyễn Thành Khải, 2001)
Nữ cán bộ tại Quận 10 trong luận văn này bao gồm những nữ cán bộchủ chốt làm công tác cấp trưởng, phó các ban ngành đoàn thể, trưởng, phócác phòng ban, nữ cán bộ trong cấp ủy Đảng từ cấp Phường đến cấp Quận
Trang 251.1.2. Các tác nhân gây Stress (Stressors)
Tác nhân gây stress rất đa dạng và phong phú, bao gồm những ảnhhưởng bởi các yếu tố tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội tạo ra stress được gọi
là tác nhân gây stress
Hans Selye, 1956 đã đưa ra chuỗi sự kiện mà ở đó cơ thể phản hồi vàđáp ứng các tác nhân gây ra stress và ông gọi đây là hội chứng GAS hay làhội chứng thích nghi tổng quát, bao gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Giai đoạn phản ứng – báo động: Trong giai đoạn này, cơthể sẽ cảnh giác kích thích có hại từ môi trường xung quanh
- Giai đoạn 2: Giai đoạn phản kháng – thích nghi: Trong giai đoạn nàythì cơ thể đã đối phó thành công với các tác nhân gây stress và đã có kinhnghiệm đối phó với stress
- Giai đoạn 3: Giai đoạn cạn kiệt – mệt mỏi: Trong giai đoạn này cơ thểkhông thể đối phó trước sự tấn công liên tục của các tác nhân gây stress, cơthể không có khả năng phục hồi và thích nghi
Trong luận văn này chỉ tập trung vào các tác nhân xã hội bao gồm cácyếu tố liên quan đến việc làm, mối quan hệ xã hội tại nơi làm việc, môi trườnglàm việc và các quan hệ trong gia đình và cộng đồng
1.1.3. Đo lường các khái niệm
Trang 261.1.3.1. Stress bên ngoài: chỉ bất cứ sự kiện nào hoặc bất cứ kích thíchnào từ môi trường khiến con người cảm thấy bị căng thẳng hoặc bị thức tỉnh.
1.1.3.2. Stress bên trong: là sự nhìn nhận của bản thân dẫn đến lo âu và
có cảm xúc tiêu cực
1.1.3.3. Stress sự kiện cuộc đời: bao gồm các sự kiện xảy ra trong cuộcđời của cá nhân như ly hôn, mất vợ/chồng … sự kiện cuộc đời là sự kiện rấtnhạy cảm và khó nói Các sự kiện mang tính ngẫu nhiên tiêu cực và khôngkiểm soát được sẽ dẫn đến stress nhiều và ngược lại
1.1.3.4. Stress hàng ngày: Diễn ra hàng ngày mặc dù mức tác động cóthể nhỏ hơn nhưng theo sự tích lũy của thời gian nó có tác hại đến sức khỏenhư xung đột bạn bè, cãi vã trong gia đình
1.1.3.5. Stress căng thẳng kinh niên: Có những sự kiện tiêu cực xảy ratạo thành một nỗi ám ảnh trong một thời gian dài và ảnh hưởng đến khả năngphòng tránh bệnh tật của cá nhân đó
1.1.3.6. Stress xung đột vai trò: Khi một người có quá nhiều vai tròtrong một tổ chức và đời sống cá nhân và phải đối mặt với nhiều căng thẳng,
họ không thể cân bằng tất cả các vai trò trong một thời gian dài Và những vaitrò họ đảm nhận có thể trở thành mâu thuẫn nhau trong tự nhiên, yêu cầu họphải lựa chọn vai trò nào đó Nữ cán bộ lãnh đạo quản lý vừa đảm nhận vaitrò chính trong cơ quan, họ phải đảm nhận nhiều việc quan trọng trong côngviệc, bên cạnh đó họ còn là người vợ, người mẹ trong gia đình dẫn đến sựxung đột vai trò khi họ phải cố gắng cân bằng tất cả vai trò mà họ đảm nhậntrong một khoảng thời gian dài
1.1.3.7. Mức độ stress: Theo Tô Như Khuê, 1995:
Stress bình thường: Là mức độ đảm bảo hoạt động sống hàng ngày, cho
dù có chịu tác động bởi những tác nhân gây căng thẳng nhẹ hoặc vừa nhưngcá
Trang 27nhân vẫn giữ được trạng thái cân bằng, không có ảnh hưởng của yếu tố căngthẳng đáng kể.
Stress cao: Khi có tác nhân gây căng thẳng đáng kể, cơ thể phải sửdụng thêm một số các năng lượng và cấu trúc lại hệ thống chức năng để thíchnghi với những kích thích đó, các phản ứng thích nghi đạt tới mức giới hạnnếu yếu tố gây căng thẳng đến mức tới hạn Ở mức độ này, mặc dù có nhữngbiến đổi của cơ thể nhưng nó sẽ được phục hồi lại sau khi tác nhân ngừng tácđộng Tuy nhiên, nếu mức độ kéo dài hoặc các tác nhân kích thích quá mứchơn nữa thì phản ứng thích nghi sẽ không đáp ứng được nữa, cơ thể sẽ chuyểnsang trạng thái bệnh lý
Stress bệnh lý: Ở mức độ này, các phản ứng của cơ thể không còn hiệuquả mong muốn, các hệ thống chức năng mất tính mềm dẻo, môi trường bêntrong có nhiều rối loạn và không trở lại bình thường khi kích thích ngừng tácđộng
Stress cảm nhận: S Cohen, Kamarck và Mermelstein (1983) đo lườngxem cá nhân có cảm nhận mình bị stress hay không Theo các nhà nghiên cứuthì phương pháp này được xem là tốt hơn, phương pháp xem xét stress đượctạo ra bởi các sự kiện cuộc đời với cá nhân, đồng thời nó cũng là phương pháptốt hơn trong việc dự báo các tác động về sức khỏe do stress tạo nên
Đối phó với stress: là nhận biết ra các nguyên nhân gây stress trong đờisống chúng ta Nhận ra stress tác động đến chúng ta như thế nào và hành động
để giảm bớt các nguồn gây stress và giữ stress ở mức độ chấp nhận được.Ví
dụ như để giảm nguồn stress là thay đổi lối sống, môi trường sống hoặc họccách thư giãn để sự căng thẳng không gây ra và không có hại đến sức khỏe.(Nguyễn Thị Oanh, 2005)
1.1.4. Nguyên nhân của stress
Trang 28Stress sẽ xảy ra khi áp lực từ môi trường tác động lên cá nhân, vượt quámức giới hạn chịu đựng của họ bao gồm những nguyên nhân từ môi trườngbên ngoài và từ mỗi cá nhân Những nguyên nhân nảy sinh từ vấn đề sức khỏecủa mỗi người, từ những áp lực trong công việc, học tập; từ môi trường làmviệc cũng như môi trường sống và từ những mối quan hệ cá nhân với cộngđồng.
Những vấn đề về sức khỏe và thể chất: Sự thay đổi sinh lý của cơ thểtrong quá trình hoàn thiện cũng là nguyên nhân gây ra những căng thẳng, mệtmỏi ở từng lứa tuổi Cơ thể ốm yếu, sức đề kháng yếu, dễ mắc phải những cănbệnh thông thường do chế độ sinh hoạt không hợp lý, ăn uống không đầy đủdinh dưỡng cũng làm cho chúng ta rơi vào trạng thái mệt mỏi, căng thẳng.Hoặc khi mắc những căn bệnh nghiêm trọng, nan y thời gian điều trị kéo dài,tốn kém người ta thường không ngừng nghĩ về căn bệnh đó, buồn rầu, âu sầu
và thường suy nghĩ về những hướng xấu có thể xảy ra cho bản thân điều đógóp phần nảy sinh những căng thẳng
Những vấn đề từ môi trường bên ngoài: Sự thay đổi của thời tiết, nắngmưa thất thường, không khí oi bức cũng dễ làm chúng ta phát sinh những bựcbội, cáu gắt; sự ô nhiễm môi trường như tiếng ồn, khói bụi cũng là nguyênnhân dẫn đến tình trạng stress trong mỗi chúng ta Môi trường làm việc họctập, không thoải mái, thiếu những tiện nghi cần thiết, không đủ ánh sáng hoặclàm việc hay học tập trong một môi trường mà mọi người không làm hết khảnăng của mình, không tập trung vào chuyên môn mà còn làm ảnh hưởng đếnhoạt động của người khác cũng là nguyên nhân nảy sinh những bất mãn, chánnản, căng thẳng cho chúng ta
Những căng thẳng, áp lực từ công việc, gia đình, xã hội và các mốiquan hệ trong xã hội cũng là một trong những nguyên nhân lớn dẫn đến stressnhư công việc đòi hỏi phải hoàn thành trong thời gian ngắn yêu cầu phải dốctoàn sức lực để đạt được kết quả như mong muốn sẽ tạo nên áp lực lớn cho
Trang 29mỗi
Trang 30chúng ta, nếu không hoàn thành hoặc không tốt sẽ ảnh hưởng đến thành tích
cá nhân Hoặc mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình, các mối quan hệngoài xã hội cũng gây ra những đè nặng về tâm lý của cá nhân
Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế hiện nay, vấn đề tài chính cũng lànguyên nhân tạo ra stress, phải suy nghĩ tính toán trong việc chi tiêu tài chínhcho bản thân và gia đình, phải phân bổ thế nào cho hợp lý mà vẫn đảm bảonhững điều kiện cần thiết cho cuộc sống
Cách nghĩ của cá nhân về các vấn đề trong cuộc sống mà cá nhân đógặp phải được xem là nguyên nhân quyết định cá nhân đó có phải đối mặt vớistress hay không “lăng kính phản chiếu cuộc sống” của mỗi người trong cùngmột vấn đề có thể tạo nên những thái độ, phản ứng, hành xử khác nhau Cáchmỗi chúng ta nghĩ và cảm nhận về cuộc sống, về những khó khăn phải đốimặt nếu chúng ta nghĩ mọi chuyện theo hướng tích cực, đơn giản mọi vấn đề
và cho rằng nó không đến mức không thể giải quyết được thì nó sẽ giảm bớtnhững đè nặng về tâm lý thay vì cứ nghĩ đến hậu quả xấu nhất và cho rằng nó
sẽ xảy đến thì chỉ làm cho tâm lý của chúng ta thêm nặng nề và đôi khi dẫnđến tình trạng không thể giải quyết được
Cơ thể khi mắc phải chứng bệnh nào đó hoặc bị ốm liên tục cũng khiếncho bản thân suy nghĩ dẫn đến tình trạng suy sụp tinh thần, chán nản và mệtmỏi cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến stress
1.1.5. Quan điểm tiếp cận stress
1.1.5.1. Quan điểm tiếp cận stress từ môi trường bên ngoài
Quan điểm này cho rằng stress xuất hiện từ các sự kiện, các yếu tố từbên ngoài như các tác nhân gây ra căng thẳng Holmes và Rahe (1967) đãphát triển quan điểm này và họ xác định các sự kiện cuộc sống gây ra stresskhu những sự kiện làm biến đổi cuộc sống của cá nhân và đưa thang đo thíchứng xã hội bao gồm 43 sự kiện và mỗi thang đo này ứng với một số nhómlàm thay đổi
Trang 31cuộc sống Có một số các sự kiện gây ra stress một cách rõ rang như ly dị,chết của người thân trong gia đình Ngoài ra còn có các sự kiện như kết hôn,mang thai Đó là những sự kiện bao gồm tích cực và tiêu cực diễn ra trongcuộc sống hàng ngày có thể dẫn đến tình trạng stress trong mỗi chúng ta.Ngoài ra Holmes và Rahe cũng quan tâm đặc biệt đến mối liên hệ giữa các sựkiện trong cuộc sống với bệnh tật tuy nhiên cũng có rất nhiều trường hợpcũng trải qua những sự kiện trong cuộc sống nhưng họ không bị stress Dovậy stress như một sự phản ứng trước thay đổi của cuộc sống.
1.1.5.2. Quan điểm tiếp cận stress từ bên trong
Là cách tiếp cận đầu tiên được các nhà nghiên cứu về stress tiến hànhđiển hình là Hans Selye, 1956 nhìn nhận stress chủ yếu vào các khía cạnh sinhhọc của phản ứng với stress Ông nghiên cứu về những ảnh hưởng của stressđến các phản ứng đáp lại của thực thể và cố gắng kết nối những tương tác nàyvới sự phát triển của bệnh tật, ông quan tâm đến stress như một kích thích, tậptrung vào điều kiện môi trường tạo ra stress Stress được xem như là phản ứngsinh học, ông nhấn mạnh đến mặt sinh học của stress
1.1.5.3. Quan điểm tiếp cận stress như một sự tương tác
Trước các sự kiện, tình huống, hoàn cảnh khó khăn… xảy ra với cánhân thì stress xuất hiện do cá nhân đó bị mất đi sự cần bằng giữa các yêu cầu
và các nguồn đáp ứng Ảnh hưởng mà stress có ở con người chủ yếu dựa trênnhững cảm nhận của cá nhân về mối đe dọa, tổn thương và khả năng ứng phóhơn là bản thân trước sự kiện gây ra stress Quan điểm này tập trung vào khíacạnh đánh giá hoàn cảnh gây ra stress, phân tích các yếu tố tổn thương và cácchiến lược ứng phó có thể đi sâu lý giải các khía cạnh đó như sau: Con người
sử dụng ba loại đánh để đánh giá các hoàn cảnh: đánh giá lần thứ nhất, đánhgiá lần thứ hai và đánh giá lại Sau khi cá nhân đó đánh giá ban đầu về sự kiệnthì họ xác định những lựa chọn ứng phó có thể kiểm soát được stress
Trang 32Mô hình đánh giá stress
Nguồn: R.S Lazarus and Folkman, 1984.
Quan điểm tương tác các nguồn vật chất và xã hội không quan trọngbằng niềm tin cà nhân của con người vào những nguồn này Khi cá nhân đó cóthể quản lý hoàn cảnh môi trường gây ra stress và cảm giác tự tin rằng mình
có thể điều chỉnh để có thể ứng phó với stress
1.2. Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu
1.2.1. Lý thuyết tương tác biểu tượng trong phân tích căng thẳng xã hội
Tương tác giữa các cá nhân có thể tạo nên căng thẳng trầm trọng Căngthẳng bắt đầu từ cảm giác gánh nặng, lo sợ Những ví dụ của hoàn cảnh căngthẳng là ly hôn, việc làm không thuận lợi, thất nghiệp …
Những công trình nghiên cứu của các nhà lý thuyết Charles HortonCooley, William Thomas và Erving Goffman lý giải các quá trình xã hội, từ
cá nhân và chính xã hội đã tạo ra căng thẳng:
Liên quan và đe dọa đến bản thân
Trang 33Theo Charles Horton Cooley: Cá nhân tự coi bản thân là một thực thể
xã hội có quan hệ với phản ứng của người khác Căng thẳng diễn ra khi một
cá nhân thất bại trong phản ánh một hình ảnh nhất quán với những khách thể
khác.William Thomas: Khái niệm về hoàn cảnh xã hội nhất quán, hành vi sẽtương đối trật tự Khi các khái niệm khác nhau xuất hiện và những ứng xửthường lệ bị xóa bỏ, cảm giác mất trật tự, vô tổ chức sẽ hình thành Khả năng
cá nhân đối mặt với bối cảnh mất trật tự có quan hệ chặt chẽ với những kinhnghiệm xã hội hóa dạy cá nhân cách ứng xử với căng thẳng Một căng thẳngkhông thể tạo ra cùng một tác động như nhau cho các cá nhân Việc thích nghi
và kiểm soát căng thẳng của cá nhân phản ánh năng lực so sánh tình hình hiệntại với tình huống tương tự trong quá khứ và kinh nghiệm đối mặt Điều quantrọng là năng lực thích nghi và kiểm soát của cá nhân
Erving Goffman: Ông cho rằng cuộc đời như nhà hát, để các tương tác
xã hội diễn ra cá nhân cần có thông tin về người khác trong hành động Thôngtin được thể hiện qua các kênh: vẻ bề ngoài, trải nghiệm của bản thân vớingười đó, bối cảnh xã hội và quan trọng nhất là cách giao tiếp thông qua lờinói và hành động Bộ mặt là rất quan trọng, thể hiện thông qua lời nói và thầmlặng Một số người mang bộ mặt không đúng với ngữ cảnh Cái tôi trong giaotiếp có hai vai trò tương tác xã hội: Là hình ảnh của con người từ dòng chảycác sự kiện và là một nhân vật trong trò chơi cần sự uyển chuyển biến đổi.Căng thẳng nảy sinh khi ông cho rằng cái tôi là một thực thể bí ẩn và tốithượng, vì nó luôn là chính chúng ta và thể hiện chúng ta là ai Căng thẳngnảy sinh khi cái tôi thất bại trong thể hiện bản thân
Như vậy, căng thẳng xác định biến số chính trong trải nghiệm sự căngthẳng là quan niệm của chính cá nhân Con người hiểu tình huống khác nhaunhưng khá thống nhất trong cách mà họ hiểu về nỗi đau và xung đột trong vaitrò, nhiệm vụ, các mối quan hệ cá nhân và những khía cạnh khác của cuộc
Trang 34sống
Trang 35dẫn đến cảm thấy stress Cách con người cảm về bản thân (Cooley), xác địnhtình huống (Thomas) và kiểm soát cảm xúc và vẻ ngoài (Goffman) có thể tạo
ra điều kiện cho căng thẳng
1.2.2. Lý thuyết hiện đại hóa của Goode
Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa tác động đến xã hội sẽ đưa ranhững áp lực của hiện đại hóa “Sự mở rộng cơ hội nghề nghiệp, vị trí xã hộicủa phụ nữ được nâng cao, phụ nữ được tham gia vào các hoạt động ngoài xãhội nhiều hơn …”
Việc áp dụng lý thuyết này vào đề tài nghiên cứu giải thích rằng khi đấtnước phát triển đòi hỏi nhu cầu của công việc cũng như cá nhân họ và ngườilao động phải cố gắng làm để đáp ứng được những đòi hỏi đó của xã hội dẫnđến tình trạng căng thẳng
1.2.3. Lý thuyết của David Mc Clelland
David Mc Cleeland (Ths Tạ Thị Hồng Hạnh) cho rằng con người có banhu cầu cơ bản: Nhu cầu thành tựu, nhu cầu liên minh và nhu cầu quyền lực
+ Nhu cầu thành tựu: Con người có nhu cầu về thành tựu cao là ngườiluôn đeo đuổi giải quyết công việc tốt hơn Họ thường mong muốn hoànthành những mục tiêu có tính thách thức bằng sự nỗ lực của ban thân họ, thíchthành công khi cạnh tranh và cần nhận được sự phản hồi về kết quả công việccủa họ một cách rõ ràng Những người có nhu cầu thành tựu cao được độngviên làm việc tốt hơn, họ có:
Lòng mong muốn thực hiện các trách nhiệm cá nhân
Xu hướng đặt ra các mục tiêu cao hơn cho chính bản thân
Nhu cầu cao về sự phản hồi cụ thể và ngay lập tức
Nhanh chóng và họ sớm làm chủ được công việc
+ Nhu cầu liên minh: Giống như nhu cầu tình yêu xã hội của Maslowđược chấp nhận, tình yêu, bạn bè… người lao động có nhu cầu liên minh sẽ
Trang 36làm việc tốt việc mà sự thành công của họ đòi hỏi kỹ năng quan hệ và sự hợptác Những người có nhu cầu liên minh mạnh rất thích những công việc màqua đó tạo ra sự thân thiện với mọi người và các mối quan hệ trong xã hội.
+ Nhu cầu quyền lực: Là nhu cầu kiểm soát và ảnh hưởng môi trườnglàm việc của người khác, kiểm soát và ảnh hưởng đến người khác Các nhànghiên cứu chỉ ra rằng người có nhu cầu quyền lực mạnh và nhu cầu thànhtựu cao là người có xu hướng trở thành các nhà quản trị, quản lý, một sốngười cho rằng nhà quản lý thành công là người có nhu cầu quyền lực mạngnhất hơn cả nhu cầu thành tựu và cuối cùng là nhu cầu liên minh
1.3. Giới thiệu về địa bàn và mẫu nghiên cứu
1.3.1. Địa bàn nghiên cứu
Quận 10 nằm ở trung tâm của Thành phố Hồ Chí Minh Quận 10 đượcchia thành 5 khu với tổng số 15 phường lớn nhỏ không đều nhau Địa bànQuận 10 giáp ranh như sau:
Phía Bắc giáp Quận Tân Bình, giới hạn bởi đường Bắc Hải
Phía Nam giáp Quận 5, giới hạn bởi đường Hùng Vương và NguyễnChí Thanh
Phía Đông giá Quận 3, giới hạn bởi đường Cách mạng tháng Tám ,Điện Biên Phủ và Lý Thái Tổ
Phía Tây giáp Quận 11, giới hạn bởi đường Lý Thường Kiệt
Quận 10 là một trong những quận nội thành của Thành phố Hồ ChíMinh có những điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa xã hộivới các quận trung tâm và ngoại thành, đó là cơ hội để thúc đẩy sự phát triểnkinh tế - xã hội của Quận trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước
* Thực trạng nữ cán bộ tại Quận hiện nay
- Ban chấp hành Đảng bộ Quận: 11/43 tỷ lệ 25,58%
Trang 37- Trưởng, phó các ban xây dựng Đảng, Ủy ban kiểm tra, văn phòng quận ủy, Mặt trận và các đoàn thể Quận: 15/39 tỷ lệ 38,46%
- Trưởng, phó các phòng ban quản lý nhà nước: 16/38 tỷ lệ 42,1%
- Trưởng, phó các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Quận: 6/30 tỷ lệ 20,0%
- Bí thư, phó bí thư thường trực Đảng ủy 15 Phường: 13/30 tỷ lệ 43,33%
-Chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân 15 Phường: 17/35 tỷ lệ 48,57%
- Chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồng 15 Phường: 17/30 tỷ lệ 56,67%
- Chủ tịch, phó chủ tịch phụ nữ 15 Phường: 30/30 tỷ lệ 100%
- Chủ tịch, phó chủ tịch Mặt trận 15 Phường: 17/30 tỷ lệ 56,67%
- Bí thư, phó bí thư Đoàn thanh niên 15 Phường: 18/30 tỷ lệ 60,0%
- Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng nằm trong cấp ủy Đảng trực thuộc 15Phường: 17/49 tỷ lệ 34,69%
Trong nhiệm kỳ 2015 – 2020 thực hiện Chỉ thị 36-CT/TW ngày 30tháng 5 năm 2014 của Bộ Chính trị về đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Chương trình hành động số31-CTr/TU của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh về thực hiện Nghị quyết11-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hóa
– hiện đại hóa đất nước, Quận 10 phấn đấu đạt tỷ lệ cấp ủy viên là nữ, trẻ tuổikhông dưới 15,0%
Quận ủy Quận 10 hàng năm đều xây dựng và triển khai kế hoạch đàotạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý tham gia vào các lớp đào tạo, bồidưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý nhà nước … Quađào tạo giúp cho cán bộ nữ trang bị thêm kiến thức nâng cao trình độ chuyênmôn, nghiệp vụ nhằm phục vụ tốt nhất quá trình thực hiện nhiệm vụ đượcgiao Với phương châm học đi đôi với hành, sự cố gắng của nữ cán bộ lãnhđạo quản lý góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ nữ có trình độ cao, đáp ứng
Trang 38yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Hiệnnay, 100% cán
Trang 39bộ nữ giữ chức vụ lãnh đạo quản lý đạt trình độ từ đại học trở lên, 98% có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên.
Nhìn chung qua nghiên cứu cho thấy tại Quận 10 áp dụng chế độ chính sách dành cho nữ cán bộ lãnh đạo quản lý đều thông qua Bộ Luật lao động:
- Thời gian làm việc trong điều kiện lao động bình thường là:
+ Không quá 8 giờ trong một ngày
+ Không quá 48 giờ trong một tuần
- Thời gian nghỉ mỗi ngày là 60 phút đối với lao động nữ nuôi con nhỏdưới 1 tuổi
- Thời gian nghỉ mỗi ngày là 30 phút đối với lao động nữ trong thờigian hành kinh
Nhà nước đảm bảo quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặtvới nam giới, có chính sách khuyến khích người sử dụng lao động tạo điềukiện để người lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độlàm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn ngày, không trọntuần, không giao việc làm tại nhà
Nhà nước có chính sách và biện pháp từng bước mở mang việc làm, cảithiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe,tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của nữ lao động nhằm giúp laođộng nữ phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hòa cuộcsống lao động và cuộc sống gia đình (Trích Điều 109 – Chương 10 Bộ Luật laođộng)
Bộ luật lao động ra đời nhằm bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của các bêntham gia vào quan hệ pháp luật lao động Xuất phát từ những đặc điểm củađối tượng tham gia vào lao động, xuất phát từ những chính sách, những quyđịnh của pháp luật về “Sự phát triển của phụ nữ”, về bình đẳng giới đưa ramột số chế độ lao động áp dụng cho lao động nữ Bộ lao động đã đưa ra 4 nhóm
Trang 40chính: