1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế tại chi cục thuế quận đống đa TP hà nội

116 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 757 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế là một trong các chức năng quan trọng của quản lý thuế, là các khâu cơ bản trong mô hình quản lý thuế theo cơ chế tự khaitự nộp. Thực hiện pháp luật về Quản lý thuế hiện nay, ngành thuế đã kiện toàn hệ thống bộ máy quản lý thuế theo các chức năng: tuyên truyềnhỗ trợ người nộp thuế, quản lý kê khaikế toán thuế, quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, thanh tra và kiểm tra đối tượng nộp thuế (ĐTNT) và kiểm tra nội bộ. Trong đó quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế đóng vai trò quan trọng đối với việc đáp ứng nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN), đồng thời góp phần chấn chỉnh và làm chuyển biến nhận thức về việc chấp hành chính sách pháp luật thuế của người nộp thuế, đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế. Trong hoạt động thực tiễn, do thuế là một khoản thu không hoàn trả trực tiếp và không liên quan đến lợi ích trực tiếp của người nộp thuế nên có nhiều cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp… có tâm lý chây ỳ nộp thuế, chiếm dụng tiền thuế, thậm chí còn có hiện tượng trốn thuế làm cho số nợ đọng thuế còn rất lớn, luôn có xu hướng ngày càng tăng, nhiều khoản nợ thuế tồn tại, gây thất thu lớn cho NSNN. Mặc dù bộ máy Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế được xây dựng một cách hệ thống từ các cấp Cục đến chi cục, tuy nhiên do chính sách còn chưa đồng bộ, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế còn yếu, trình độ của một số cán bộ thuế còn hạn chế nên hiệu quả công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế còn chưa cao, đặc biệt là trong giai đoạn suy thoái kinh tế hiện nay. Chi cục thuế quận Đống Đa một trong những quận tập trung nhiều doanh nghiệp nhất của TP. Hà Nội trong bối cảnh kinh tế suy thoái như hiện nay, việc nâng cao chất lượng công tác quản lý thuế nói chung, nhất là công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế là nhiệm vụ trọng tâm đối với Chi cục. Thực tế thời gian qua Chi cục thuế Đống Đa đã tăng cường công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế và cũng đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, do hạn chế nguồn lực và điều kiện khách quan, quá trình triển khai công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế cũng còn gặp phải một số vướng mắc, khó khăn nên tình trạng nợ đọng trong thời gian qua vẫn còn ở mức cao, việc xử lý nợ động còn nhầm lẫn, tiến độ chậm, gây thất thu cho NSNN. Trong bối cảnh đó, việc tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế đối với Chi cục thuế quận Đống Đa đang là vấn đề mang tính thời sự, cấp bách trong bối cảnh kinh tế suy thoái hiện nay. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế tại Chi cục thuế quận Đống Đa TP. Hà Nội” luận văn thạc sỹ của mình.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 8

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ 8

1.1 Tổng quan về nợ thuế 8

1.1.1 Khái niệm nợ thuế 8

1.1.2 Đặc điểm của nợ thuế 10

1.1.3 Phân loại nợ thuế 11

1.2 Những vấn đề chung về quản lý nợ thuế 18

1.2.1 Khái niệm Quản lý nợ thuế 19

1.2.2 Vai trò của công tác quản lý nợ thuế 19

1.2.3 Những nội dung cơ bản của quản lý nợ thuế 20

1.2.4 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của công tác quản lý nợ thuế 21

1.3 Những vấn đề cơ bản về cưỡng chế nợ thuế 23

1.3.1 Khái niệm cưỡng chế nợ thuế 23

1.3.2 Đặc điểm cưỡng chế nợ thuế 24

1.3.3 Vai trò của công tác cưỡng chế nợ thuế 25

1.3.4 Yêu cầu đối với công tác cưỡng chế nợ thuế 26

1.3.5 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của công tác cưỡng chế nợ thuế 27

1.4 Mối quan hệ giữa quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế 28

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 29

1.5.1 Nhóm yếu tố chủ quan 29

1.5.2 Nhóm yếu tố khách quan 31

1.6 Quy trình quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 32

1.6.1 Khái niệm 32

1.6.2 Yêu cầu đối với việc xây dựng quy trình quản lý nợ thuế và quy trình cưỡng chế nợ thuế 33

Trang 2

1.6.3 Nội dung cơ bản của quy trình quản lý nợ thuế và quy trình

cưỡng chế nợ thuế 33

1.6.3.1 Nội dung cơ bản của quy trình quản lý nợ thuế 33

1.6.3.1 Nội dung cơ bản của quy trình cưỡng chế nợ thuế 35

TỔNG KẾT CHƯƠNG 1 37

Chương 2 38

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI 38

2.1 Khái quát về Chi cục Thuế quận Đống Đa, TP Hà Nội 38

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Chi cục Thuế quận Đống Đa, TP Hà Nội 38

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Chi cục Thuế quận Đống Đa 41

2.1.2.1 Vị trí, chức năng 41

2.1.3 Mô hình tổ chức của Chi cục Thuế quận Đống Đa 44

2.2 Thực trạng công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế ở Chi cục thuế Đống Đa-TP Hà Nội 47

2.2.1 Thực trạng công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế Đống Đa-TP Hà Nội 47

2.2.1.1 Tình hình nợ thuế 47

2.2.1.2 Công tác quản lý nợ thuế tại chi cục 59

2.3 Đánh giá về công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế ở Chi cục thuế Đống Đa-TP Hà Nội 73

2.3.1 Những kết quả đạt được 73

2.3.2 Hạn chế trong công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế tại Chi cục Thuế Đống Đa – Thành phố Hà Nội 74

2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 75

KẾT LUẬN CHƯƠNG II 82

Chương 3 83

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ ĐỐNG ĐA 83

3.1 Mục tiêu, nội dung cải cách công tác quản lý thuế tại Việt Nam đến năm 2020 83

3.1.1 Mục tiêu cải cách công tác quản lý thuế tại Việt Nam 83

3.1.2 Nội dung cải cách quản lý thuế đến năm 2020 84

Trang 3

3.2 Quan điểm đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ

và cưỡng chế nợ thuế tại Chi cục thuế Đống Đa-TP Hà Nội 87

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế ở Chi cục thuế Đống Đa – TP Hà Nội 89

3.3.1 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thực hiện công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế 89

3.3.2 Phân luồng công việc, xác định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân trong quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 91

3.3.4 Hoàn thiện cơ sở dữ liệu người nộp thuế tại Chi cục 96

3.4 Các điều kiện thực hiện giải pháp 96

3.4.1 Về hệ thống chính sách, pháp luật Quản lý Thuế 97

3.4.1.1 Điều chỉnh quy định về các biện pháp cưỡng chế nợ thuế trong Luật Quản lý thuế cho phù hợp với thực tiễn 97

3.4.1.2 Điều chỉnh qui định về phạt nộp chậm thuế 99

3.4.1.4 Hoàn thiện điều kiện quy định các biện pháp lý xử lý nợ thuế của người nộp thuế lâm vào tình trạng giải thể, phá sản hoặc bỏ trốn, mất tích 100

3.4.1.5 Xây dựng, hoàn thiện hệ thống tiêu chí đánh giá rủi ro phục vụ công tác thu nợ và cưỡng chế nợ thuế 101

3.4.1.6 Hoàn thiện các quy trình và các tiêu chí đánh giá công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế 102

3.4.1 7 Quản lý kê khai để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 103

3.4.2 Về các điều kiện hỗ trợ 104

3.4.2.1 Hiện đại hóa công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế trên cơ sở phát triển hệ thống công nghệ thông tin gắn liền với hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật 104

3.4.2.2 Nâng cao chất lượng công chức ngành Thuế thông qua đổi mới công tác tuyển dụng, đào tạo và chính sách cán bộ 105

3.4.2.3 Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, giảm bớt các thủ tục rườm rà, cản trở sản xuất kinh doanh của NNT 107

KẾT LUẬN 108

NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Số lượng tổ chức, cá nhân trên địa bàn quận Đống Đa – TP Hà

Nội 39

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ số thu thuế tại Chi cục Thuế quận Đống Đa 39

Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy tại Chi cục Thuế quận Đống Đa 44

Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng số thu thuế tại Chi cục Thuế quận Đống Đa 47

Bảng 2.3: Cơ cấu số thu thuế theo sắc thuế giai đoạn 2010-2013 48

Bảng 2.4:Tổng hợp nợ thuế giai đoạn 2011 - 2013 49

Bảng 2.5: Cơ cấu nợ thuế theo sắc thuế giai đoạn 2011-2013 51

Bảng 2.6: Cơ cấu tỷ lệ nợ thuế theo sắc thuế giai đoạn 2011 – 2013 52

Bảng 2.7: Cơ cấu nợ thuế theo khu vực giai đoạn 2011 - 2013 54

Bảng 2.8: Cơ cấu tỷ lệ nợ thuế theo khu vực giai đoạn 2011 - 2013 54

Bảng 2.9: Nợ thuế qua các năm phân loại theo tính chất nợ 56

Biểu 2.10: Tỷ lệ các khoản nợ thuế phân loại theo tính chất nợ 57

Bảng 2.11: Kết quả thu nợ đọng giai đoạn 2011 - 2013 62

Bảng 2.12: Kết quả thu nợ từ biện phápđiện thoại, nhắn tin nhắc nhở nợ thuế 65

Bảng 2.13: Kết quả thu nợ từ biện pháp thông báo nợ thuế và tiền phạt 66

Bảng 2.14: Kết quả thu nợ từ biện pháp mời đơn vị đến làm việc tại Chi cục 67

Bảng 2.15: Kết quả thu nợ từ biện pháp Đôn đốc nợ trực tiếp tại trụ sở đơn vị 68

Bảng 2.16: Hiệu quả của biện pháp đôn đốc thu nợ 69

Biểu 2.17: Các biện pháp cưỡng chế đã được thực hiện 72

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế là một trong các chức năng quantrọng của quản lý thuế, là các khâu cơ bản trong mô hình quản lý thuế theo cơchế tự khai-tự nộp Thực hiện pháp luật về Quản lý thuế hiện nay, ngành thuế

đã kiện toàn hệ thống bộ máy quản lý thuế theo các chức năng: tuyên

truyền-hỗ trợ người nộp thuế, quản lý kê khai-kế toán thuế, quản lý nợ và cưỡng chế

nợ thuế, thanh tra và kiểm tra đối tượng nộp thuế (ĐTNT) và kiểm tra nội bộ.Trong đó quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế đóng vai trò quan trọng đốivới việc đáp ứng nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN), đồng thời gópphần chấn chỉnh và làm chuyển biến nhận thức về việc chấp hành chính sáchpháp luật thuế của người nộp thuế, đảm bảo công bằng giữa các đối tượngnộp thuế

Trong hoạt động thực tiễn, do thuế là một khoản thu không hoàn trảtrực tiếp và không liên quan đến lợi ích trực tiếp của người nộp thuế nên cónhiều cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp… có tâm lý chây ỳ nộp thuế, chiếmdụng tiền thuế, thậm chí còn có hiện tượng trốn thuế làm cho số nợ đọng thuếcòn rất lớn, luôn có xu hướng ngày càng tăng, nhiều khoản nợ thuế tồn tại,gây thất thu lớn cho NSNN Mặc dù bộ máy Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợthuế được xây dựng một cách hệ thống từ các cấp Cục đến chi cục, tuy nhiên

do chính sách còn chưa đồng bộ, việc ứng dụng công nghệ thông tin trongquản lý thuế còn yếu, trình độ của một số cán bộ thuế còn hạn chế nên hiệuquả công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế còn chưa cao, đặc biệt làtrong giai đoạn suy thoái kinh tế hiện nay

Chi cục thuế quận Đống Đa- một trong những quận tập trung nhiềudoanh nghiệp nhất của TP Hà Nội- trong bối cảnh kinh tế suy thoái như hiệnnay, việc nâng cao chất lượng công tác quản lý thuế nói chung, nhất là công

Trang 7

tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế là nhiệm vụ trọng tâm đối với Chicục Thực tế thời gian qua Chi cục thuế Đống Đa đã tăng cường công tácquản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế và cũng đã đạt được nhiều kết quả tíchcực Tuy nhiên, do hạn chế nguồn lực và điều kiện khách quan, quá trình triểnkhai công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế cũng còn gặp phải một sốvướng mắc, khó khăn nên tình trạng nợ đọng trong thời gian qua vẫn còn ởmức cao, việc xử lý nợ động còn nhầm lẫn, tiến độ chậm, gây thất thu choNSNN.

Trong bối cảnh đó, việc tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng caochất lượng công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế đối với Chi cụcthuế quận Đống Đa đang là vấn đề mang tính thời sự, cấp bách trong bốicảnh kinh tế suy thoái hiện nay

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Giải pháp hoànthiện công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế tại Chi cục thuế quậnĐống Đa- TP Hà Nội” luận văn thạc sỹ của mình

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế là vấn đề khó khăn mà các quốcgia đều phải đối mặt và tìm cách nâng cao hiệu quả Hầu hết chính phủ cácnước đã và đang triển khai nhiều giải pháp nhằm thu nợ thuế, đảm bảo nguồnthu cho NSNN, đồng thời đảm bảo sự công bằng giữa những người nộp thuế

Sở Thuế vụ của Mỹ đã triển khai chương trình “Offer in Compromise” (Đềxuất thỏa hiệp) nhằm thỏa hiệp đối với những người nợ thuế nhằm để nângcao việc thu hồi thuế, đồng thời đảm bảo điều kiện cho những người nợ thuế

có thế thực hiện nghĩa vụ thuế của mình một cách hợp lý nhất.Trên thực tế,vấn đề quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế thu hút sự quan tâm của nhiềuchính phủ, người làm luật, các học giả, và cả các doanh nghiệp Có thể kể đến

Trang 8

một số công trình nghiên cứu về mặt lý thuyết (được lồng nghép trong các nộidung về quản lý thuế) như:

- “Improving Tax Administration in Developing countries” của Quỹ

Tiền tệ quốc tế năm 1992, được soạn bởi Richard M Bird và MilkaCasanegra de Jantscher Công trình này nghiên cứu và đưa ra một số gợi ýcho việc cải tiến việc quản lý thuế nói chung, và quản lý nợ thuế đối với cácnước phát triển

- “Handbook of Tax Administration”của By Matthijis Alink và Victor

van Kommer, năm 2011 Cuốn sách đề cập đến các nội dung về lịch sử thuế,lợi ích, cấu trúc cơ quan thuế cho tới các nội dung về quan lý thuế và thu hồi

nợ thuế, quản lý rủi ro…, tuy nhiên chưa phân tích cụ thể đầy đủ về lý luận vàthực tiễn của quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế

Ngoài ra cũng có các công trình nghiên cứu, đánh giá hiệu quả củanhững giải pháp quản lý nợ thuế và thu hồi thuế của các chính phủ, như: “Taxdebt collection: IRS has a complex process to attempt to collect billions ofDollars in Unpaid tax debts” của Gao năm 2008 báo cáo cho Hạ viện Mỹ vềhiệu quả quy trình thu nợ thuế của Sở Thuế vụ Mỹ Báo cáo cho thấy nhữngđiểm yếu của Sở Thuế vụ trong thu hồi nợ thuế như: không có đủ mạng lướithu hồi rộng khắp, hệ thống thu hồi và đánh giá chưa đồng bộ, quy trình quáphức tạp dẫn đến việc phải giải quyết từng trường hợp riêng rẽ…Tuy nhiên,vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể về việc nâng cao hiệu quảcông tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế đối với các cơ quan thuế củacác nước đang phát triển

2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Công tác quản lý thuế nói chung và công tác quản lý nợ và cưỡng chế

nợ thuế nói riêng thuế ở Việt Nam không những là mối quan tâm của Chínhphủ, cơ quan bộ ngành mà còn được tìm tòi, nghiên cứu bởi nhiều nhà khoa

Trang 9

học, sinh viên các trường đại học và doanh nhân Có khá nhiều công trìnhnghiên cứu, bài viết có liên quan đến đề tài này, ví dụ như:

- Công trình nghiên cứu khoa học “Nâng cao hiệu quả công tác quản lý

nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế ở Việt Nam” của TS Lê Xuân Trường (2010):

nghiên cứu khá toàn diện các vấn đề về lý luận và thực tiễn về quản lý nợthuế và cưỡng chế nợ thuế ở Việt Nam Trên cơ sở làm rõ những hạn chếtrong công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế ở Việt Nam, tác giả đềxuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợthuế ở Việt Nam Tuy nhiên, các giải pháp chủ yếu mang tính ngắn hạn, chưađưa ra các giải pháp mang tính chiến lược

- Các tác giả TS Lê Xuân Trường và ThS Lê Minh Thắng (2012) với

bài báo khoa học “Đi tìm lời giải cho bài toán nợ thuế ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính số 3 (569) 2012 Nhóm tác giả đã phân tích thực trạng nợ thuế cũng

như những giải pháp đôn đốc và quản lý nợ thuế của ngành thuế Trên cơ sởphân tích và tìm ra những hạn chế, nguyên nhân của nợ thuế (nguyên nhânkhách quan và chủ quan) để từ đó đưa ra giải pháp hạn chế nợ thuế Tuynhiên, vấn đề cưỡng chế nợ thuế không được đề câp trong bài viết, nhiều giảipháp không phù hợp với các chi cục thuế

- Phạm Nga (2012) với bài báo khoa học“Nâng cao hiệu quả công tác

quản lý nợ thuế”, Báo Xây dựng 2012 Tác giả đã phân tích thực trạng công

tác quản lý thuế năm 2011 và hiệu quả của các giải pháp quản lý thuế Trên

cơ sở nhận định những khó khăn chung trong nền kinh tế năm 2012, tác giả

đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác quản

lý thuế Tuy nhiên, các giải pháp chủ yếu mang tính lý thuyết và cơ chếchính sách

- ThS Nguyễn Xuân Thành – Cục thuế TP Hà Nội với bài báo khoa học

“Giải pháp thu hồi nợ thuế sau thanh tra tại cục thuế TP Hà Nội”, Tạp chí Tài

Trang 10

chính số 3 (569) 2012 Bài viết đã phấn tích khá rõ các nguyên nhân đặc biệt

các nguyên nhân từ phía cơ quan thuế (tại các phòng thanh tra, phòng kiểmtra, quản lý nợ, kê khai và kế toán thuế) để từ đó đề xuất một số giải pháp.Tuy nhiên, bài viết không nghiên cứu toàn diện về quản lý nợ thuế và cưỡngchế nợ thuế mà chỉ nghiên cứu giải pháp quản lý, thu hồi nợ thuế sau thanh tratại TP Hà Nội

- Luận văn thạc sĩ kinh tế“Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế tại địa bàn huyện Đông Anh-TP Hà Nội” (2010) của Nguyễn Việt Hà, tác giả đã

nghiên cứu tổng hợp các lý luận cơ bản về công tác quản lý nợ thuế và cưỡngchế nợ thuế, phân tích thực trạng những mặt làm được và chưa làm được vàđưa ra những giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nợ thuế vàcưỡng chế nợ thuế tại huyện Đông Anh

- Luận văn thạc sĩ kinh tế “Tăng cường quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội” (2012) của Đỗ Thị Ngọc Tác giả phân

tích làm rõ các nội dung liên quan đến công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế

nợ thuế và đánh giá được đặc điểm của NNT trên địa bàn thành phố Hà Nộichi phối tới công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế; đề xuất các nhómgiải pháp cho công tác quản lý nợ thuế trên địa bàn Hà Nội

Tóm lại, các công trình nêu trên đều đề cập đến vấn đề quản lý nợ thuế

và cưỡng chế nợ thuế Mỗi nghiên cứu nêu trên đã làm nổi bật lên những khíacạnh riêng và đưa ra những giải pháp đối với vấn đề quản lý nợ thuế và cưỡngchế nợ thuế Tuy nhiên, phần đa các nghiên cứu đó chỉ nghiên cứu ở một vấn

đề hoặc có nghiên cứu đầy đủ nhưng chưa đưa ra giải pháp trong dài hạn, đặcbiệt là chưa có công trình nghiên cứu nội dung này trong bối cảnh khủnghoảng kinh tế như hiện nay (2013-2014) và những thay đổi về cơ chế quản lýthuế của nhà nước Phân tích về tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài ở trên

cũng cho thấy, đến nay chưa có đề tài hoặc luận văn, luận án nào nghiên cứu

Trang 11

về công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế tại chi cục Thuế quận Đống Đa- TP Hà Nội

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa, phân tích làm rõ thêm những vấn đề lý luận

về quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng,những kết quả đạt được và hạn chế trong công tác quản lý nợ thuế, cưỡng chế

nợ thuế tại Chi cục thuế Đống Đa-TP Hà Nội Từ đó, luận văn đề xuất giảipháp hoàn thiện công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế tại Chi cục

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế

cả trên phương diện lý luận và thực tiễn

Phạm vi nghiên cứu là công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuếđối với các đối tượng nộp thuế trên địa bàn quận Đống Đa và do Chi cục thuếĐống Đa-TP Hà Nội quản lý giai đoạn 2011 - 2013

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm:

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu và kết hợp với khảo sát thực tế tạiChi cục thuế Đống Đa-TP Hà Nội

- Phương pháp thống kê, phương pháp mô tả - khái quát, phương phápdiễn giải - quy nạp

- Phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp đối chiếu - so sánh

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế

tại Chi cục thuế quận Đống Đa-TP Hà Nội

Trang 12

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế

nợ thuế tại Chi cục thuế quận Đống Đa-TP Hà Nội

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ

CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ1.1 Tổng quan về nợ thuế

1.1.1 Khái niệm nợ thuế

Thuế là một khoản thu bắt buộc mà các cá nhân và tổ chức phải nộpcho nhà nước, là công cụ quan trọng để nhà nước thực hiện chức năng vànhiệm vụ của mình Sự ra đời của thuế gắn liền với sự ra đời, tồn tại và pháttriển của nhà nước Mọi nhà nước khi xuất hiện đều cần đến ngân sách đểđảm bảo sự tồn tại và hoạt động của mình Nhà nước có thể dùng nhiều nguồnkhác nhau để tạo ngân sách, trong đó có thể dùng quyền lực chính trị vốn có

để thu một số khoản đóng góp bắt buộc được gọi là thuế

Định nghĩa về thuế rất đa dạng, có thể khác nhau giữa các quốc gia, tuythuộc vào bản chất của nhà nước và cách thức nhà nước sử dụng thuế

Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất: “thuế là một khoản đónggóp bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhân, được nhà nước quy định thôngqua hệ thống pháp luật”[Nguyễn Thị Liên và Nguyễn Văn Hiệu, 2009, tr 9]

Trong quá trình quản lý thuế, việc xảy ra nợ thuế là điều không thểtránh khỏi, đó có thể là do bản thân pháp luật thuế cho phép người nộp thuếđược nợ thuế trong những thời gian nhất định, cũng có thể do nhiều nguyênnhân khác, cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, mà người nộp thuế chưanộp số thuế phải nộp trong thời hạn quy định của pháp luật Điều này đặt rađòi hỏi, để đảm bảo thu đủ số thuế phải nộp của người nộp thuế vào ngânsách Nhà nước thì phải làm tốt công tác quản lý nợ thuế

Nợ thuế nhìn chung được hiểu là các khoản tiền thuế phải đóng gópváo NSNN nhưng chưa được nộp đúng theo quy định Nợ thuế có thể đượcđịnh nghĩa chi tiết trong các văn bản pháp luật của các cơ quan thuế như:

Trang 14

Tổng cục Thuế (2011) đưa ra khái niệm: “Tiền thuế nợ là các khoảntiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp và các khoản phải nộp khác theo quyđịnh của pháp luật về thuế mà người nộp thuế đã kê khai, cơ quan thuế đãtính; các cơ quan chức năng phát hiện và thông báo cho cơ quan thuế, cơ quanthuế xác định đây là nghĩa vụ của người nộp thuế và đã thông báo cho ngườinộp thuế nhưng đã hết thời hạn quy định mà chưa nộp vào NSNN.”

Hoặc đơn giản hơn, số thuế nợ là số tiền được xác định phải nộp vào

ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật nhưng chưa được nộp vàongân sách nhà nước (TS.Lê Xuân Trường, tr.324)

Liên quan đến nợ thuếcòn một số khái niệm cần làm rõ: khoản nợ, tuổi

nợ, mức nợ

Khoản nợ là số tiền thuế nợ được cơ quan có thẩm quyền xác định theo

số lần phát sinh phải nộp của một người nộp thuế nhất định Khái niệm nàyrất quan trọng trong quản lý nợ thuế, nó cho biết cơ quan quản lý thuế cầnphải theo dõi, đôn đốc thu số thuế nợ của những người nộp thuế nào, vớikhoản thuế gì

Tuổi nợ là khoảng thời gian liên tục tính từ thời điểm bắt đầu nợ phát

sinh đến thời điểm khoản nợ đó được cơ quan thuế thống kê Tuổi nợ là yếu

tố quan trọng khi phân loại nợ thuế và thực hiện các biện pháp quản lý haycưỡng chế nợ thuế Tuổi nợ càng dài thì mức độ rủi ro thu hồi nợ càng cao,thậm chí có thể không thể thu hồi, gây ảnh hưởng đến NSNN.Rõ ràng xét trênbình diện tổng thể, không kể những trường hợp đặc biệt, với cơ quan thuếviệc nợ thuế càng ít càng ngắn thì càng tốt

Mức nợ thuế là số tiền thuế còn nợ của người nợ thuế tại một thời

điểm, ở một ngưỡng nhất định Như vậy mức nợ phản ánh độ lớn của khoản

nợ ở những quãng phân loại nhất định Một khoản nợ ở mức nợ lớn là khoản

nợ cần quan tâm xử lý nhiều hơn với những khoản nợ mức nhỏ

Trang 15

1.1.2 Đặc điểm của nợ thuế

1.1.2.1 Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến

Dù thuế có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng về bảnchất thì các sắc thuế đều trực tiếp hay gián tiếp đánh vào thu nhập của các thểnhân hay pháp nhân trong nền kinh tế Nói cách khác, thuế là một hình thứcphân phối thu nhập có tính chất bắt buộc mà mọi người có nghĩa vụ phải nộpcho nhà nước Như vậy, hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi íchkinh tế của người nộp thuế Do đó, như một hành vi tâm lý phổ biến, ngườinộp thuế thường có xu hướng trốn hoặc tránh thuế Đối với các nước đangphát triển, tình trạng nợ thuế còn đặc biệt nghiêm trọng do nhận thức xã hội

về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ lợi ích của việc nộpthuế Các hành vi gian lận tiền thuế, trốn thuế, nợ thuế còn chưa được phêphán, lên án mạnh mẽ Tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, nợ đọng thuế cònkhá phổ biến vừa làm thất thu NSNN, vừa không đảm bảo công bằng xã hội

1.1.2.2 Nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế

Nộp thuế là nghĩa vụ bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhântrong xà hội Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính bắt buộcchung do nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ

xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuếvào NSNN Nội dung của pháp luật thuế chủ yếu đề cập đến: mức nộpthuế, người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế

Hành vi nợ thuế là hành vi vi phạm luật thuế của người nộp thuế bằngcách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo quyđịnh của pháp luật thuế

1.1.2.3 Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế

Thực chất, nợ thuế mới chỉ là hành vi chậm nộp thuế khi quá thời hạnnộp theo quy định của pháp luật còn trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm phápluật của đối tượng nộp thuế bằng mọi hình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế

Trang 16

phải nộp vào NSNN Tuy nhiên, trong một số trường hợp việc nợ thuế có thể

là một hành vi nằm trong chuỗi hành vi nhằm trốn thuế Một số chủ thể có thể

để nợ một số thuế dẫn đến không có khả năng thanh toán rồi trốn thuế hoặc cốtình nợ một số thuế lớn sau đó bỏ trốn không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế

1.1.2.4 Nợ thuế khác với hành vi tránh thuế

Nợ thuế và tránh thuế khác nhau về bản chất Tránh thuế không phải làhành vi vi phạm pháp luật mà chỉ lợi dụng sơ hở của luật thuế để giảm nghĩa

vụ thuế Còn nợ thuế là nghĩa vụ đã được luật pháp xác định nhưng cố tìnhchậm nộp

1.1.3 Phân loại nợ thuế

Phân loại nợ thuế là việc phân chia nợ thuế thành những nhóm khácnhau theo những tiêu thức nhất định

Phân loại nợ thuế giúp các cơ quan thuế có thể hiểu bản chất, đặc điểmcủa từng loại nợ thuế để từ đó có biện pháp quản lý, đôn đốc và thu hồi nợ

Về cơ bản, người ta sử dụng các tiêu thức sau đây để phân loại nợ thuế:

1.1.3.1 Căn cứ vào thời gian nợ

Căn cứ vào thời gian nợ, nợ thuế được chia ra thành hai loại: Nợ tronghạn và nợ quá hạn

- Nợ trong hạn:gồm các khoản nợ thuế vẫn còn trong thời hạn nộp thuế

hoặc được gia hạn nộp thuế Ví dụ, nợ thuế TNDN đối với các doanh nghiệpđược gia hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật quản lý thuế Các khoản

nợ này, về cơ bản, không đáng lo ngại vì nó không vi phạm pháp luật về thuế.Tuy nhiên, cáccơ quan quản lý thuếcũng cần theo dõi nắm bắt khoản nợ này

để đôn đốc thu nộp kịp thời khi đến hạn nộp thuế

- Nợ quá hạn: là những khoản nợ đến hạn trả (theo quy định của pháp

luật) hoặc đến hạn phải nộp (theo thông báo hoặc được ghi trên quyết địnhcủa cơ quan thuế) mà chưa nộp Nợ quá hạn còn có thể được phân loại chi tiết

Trang 17

hơn nữa tùy mức độ Việc phân loại chi tiết này sẽ giúp cho các cơ quan quản

lý có biện pháp quản lý và đông đốc thu hồi nợ thuế phù hợp

Để áp dụng hình thức cưỡng chế nợ thuế thì nợ quá hạn cần phải phânchia chi tiết hơn theo các tiêu chí khác nhau: tuổi nợ, mức nợ và tình trạng sảnxuất kinh doanh Các quy định về cưỡng chế nợ thuế phần lớn dựa trên tuổi nợ

1.1.3.2 Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ

Khả năng thu hồi nợ phụ thuộc vào các yếu tố: mức nợ, tuổi nợ, tìnhtrạng hoạt động kinh doanh của người nợ thuế Căn cứ vào khả năng thu hồi

nợ, nợ thuế được phân loại thành: nợ có khả năng thu, nợ khó thu và nợkhông có khả năng thu

- Nợ có khả năng thu

Nợ thuế thuộc nhóm này được hiểu là số tiền nợ thuế của người nợ thuếđược xác định phải nộp vào ngân sách Nhà nước nhưng còn trong thời hạnnộp thuế hoặc đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật mà chưa nộp vàkhông thuộc các trường hợp nợ thuộc nhóm nợ khó thu và nợ không có khảnăng thu hồi Nợ thuế thuộc nhóm này là nợ thuế của những người nộp thuếvẫn đang lao động hoặc tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường,không lâm vào tình trạng quá khó khăn dẫn đến không có khả năng nộp thuế

và cũng không có dấu hiệu bất thường trong chấp hành pháp luật thuế

Nợ thuế có khả năng thu, có thể tiếp tục được phân loại chi tiết hơn,việc phân loại chi tiết này cũng giúp ích rất nhiểu cho công tác quản lý.Chẳng hạn, trong quy định về quản lý nợ thuế ở Việt Nam hiện nay, nợ cókhả năng thu có thể phân loại chi tiết thành: Nợ thuế chậm nộp dưới 30 ngày,

Nợ thuế chậm nộp từ 30 ngày đến 90 ngày Mốc nợ thuế 90 ngày là mốc quantrọng vì có liên quan đến thời điểm xác định một trong những dấu hiệu phải

áp dụng biện pháp cưỡng chế theo Luật Quản lý thuế tại Việt Nam

- Nợ khó thu

Trang 18

Dấu hiệu nhận biết nợ thuế khó thu là nợ thuế của những người nộpthuế đang rất khó khăn về tài chính chẳng hạn như đang bị đình trệ SXKDtrong một thời gian dài, đang phải tạm ngừng nghỉ kinh doanh do gặp khókhăn, đang lâm vào tình trạng phá sản, bị thua lỗ kéo dài hoặc nếu khôngphải gặp khó khăn tài chính thì là đối tượng có ý thức chấp hành pháp luật rấtkém, cố tình kéo dài thời gian trả nợ, có nhiều cách để đối phó và trốn tránhnghĩa vụ thuế Việc các cơ quan quản lý áp dụng các biện pháp cưỡng chế vớicác đối tượng này gặp rất nhiều khó khăn.

Thực tế cho thấy, nợ thuế của các doanh nghiệp bỏ trốn (các đốitượng thực tế không còn tồn tại nhưng không làm thủ tục chấm dứt hoạtđộng và quyết toán thuế với cơ quan thuế) đều thuộc và nợ thuế khó thu,thậm chí không có khả năng có thu vì có thể coi là trường hợp cố tình nợ

để trốn thuế Việc truy tìm và xử lý theo pháp luật các trường hợp này gặprất nhiều khó khăn hoặc có thể truy bắt được thủ phạm nhưng họ lại không

có tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ thuế đã nợ

Thông thường thì nhóm tiền nợ thuế khó thu gồm các trường hợp sau:+Tiền thuế nợ của người nộp thuế đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi + Tiền thuế nợ có liên quan đến trách nhiệm hình sự: người nộp thuếđang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự, đang chờ bản án hoặc kếtluận của cơ quan pháp luật

+Tiền thuế nợ của người nộp thuế đã không còn hoạt động sản xuấtkinh doanh tại địa điểm đăng ký kinh doanh hoặc đã giải thểnhưng chưa thanhtoán đầy đủ theo quy định của pháp luật

+ Tiền thuế nợ của người nộp thuế lâm vào tình trạng phá sản;

+Nợ khó thu khác: là các khoản tiền thuế nợ mà cơ quan thuế đã ápdụng đến biện pháp cưỡng chế nợ thuế cuối cùng là thu hồi giấy chứng nhận

Trang 19

đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hànhnghề nhưng vẫn không thu hồi được tiền thuế nợ.

- Nợ không có khả năng thu

Việc phân loại nợ vào nhóm này chủ yếu căn cứ vào tình trạng tồn tạicủa người nộp thuế Ranh giới giữa nợ khó thu hồi và nợ không có khả năngthu hồi rất khó phân định Nợ thuế thuộc loại này là thường là nợ thuế của cácdoanh nghiệp đã giải thể, phá sản nhưng không có tài sản để thực hiện nghĩa

vụ thuế và cũng chưa làm các thủ tục để xoá nợ thuế theo quy định của phápluật Thuộc nhóm này còn có nợ thuế của NNT là cá nhân đã chết, đã mấttích, mất năng lực hành vi dân sự nhưng chưa được xoá nợ thuế theo quy địnhcủa pháp luật

Phân loại nợ thuế theo tiêu thức này giúp cho các cơ quan quản lý đề ranhiều các biện pháp để quản lý nợ thuế như đôn đốc thu nợ hoặc tổ chứccưỡng chế hoặc khoanh nợ, gia hạn hoặc xóa nợ theo quy định của pháp luật

1.1.3.3 Căn cứ vào nội dung nợ của người nộp thuế

Căn cứ vào tiêu thức này, nợ thuế được chia thành nợ thuế, phí thôngthường, nợ phạt thuế, phí và nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra

- Nợ thuế, phí thông thường

Nợ trong nhóm này bao gồm các khoản nợ phát sinh từ số thuế, phíphải nộp do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế mà không bao gồm sốthuế, phí bị truy thu, bị phạt chậm nộp do cơ quan thuế thanh tra, kiểm traphát hiện Xét theo những tiêu chí khác, trong nhóm nợ thuế, phí này cũngbao gồm nhiều khoản nợ có tuổi nợ, mức nợ khác nhau do người nộp thuế kêkhai với cơ quan thuế và các khoản nợ thuế này được theo dõi trên hồ sơ quản

lý đối tượng nộp thuế lưu tại cơ quan thuế

- Nợ phạt thuế, phí

Trang 20

Khi người nộp thuế có vi phạm về thuế, phí, theo Luật Quản lý thuếhiện hành, cơ quan thuế sẽ xử phạt.Tùy theo loại vi phạm, nội dung vi phạm,các khoản nợ phạt phát sinh sẽ tương ứng cho từng lần vi phạm Do đó nhóm

nợ phạt thuế, phí này còn có thể chia ra thành các khoản mục nợ: nợ do phạtnộp chậm; nợ phạt thiếu thuế phải nộp; nợ phạt trốn thuế; nợ phạt vi phạm thủtục về thuế

- Nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra

Sau khi cơ quan thuế kiểm tra, thanh tra phát hiện thêm số thuế mà đơn

vị phải nộp bỏ sót ngoài sổ sách, không kê khai hoặc không chính xác ở tất cảcác ở tất cả các loại hồ sơ trong năm tính thuế thì khoản nợ này sẽ phát sinh

Ở thời điểm cơ quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra thì theo quy định sốthuế này đã phải nộp vào NSNN nhưng có thể đơn vị do vô tình hoặc cố tình

đã kê khai sai để trốn thuế

Số nợ thuộc nhóm nợ (được phân chia theo nội dung nợ của người nộpthuế) này phản ánh được số thuế phát hiện thêm được coi là nợ thuế củanhững người nộp thuế được thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên, nó cũng có ýnghĩa quan trọng giúp cơ quan thuế có những biện pháp quản lý thích hợp vớinhóm nợ này Đồng thời, việc theo dõi nợ thuế theo nhóm này giúp cơ quanthuế đánh giá được các mức độ vi phạm pháp luật thuế của đối tượng nộpthuế trong từng thời kỳ cụ thể

Trong công tác quản lý thuế, việc phân loại nợ thuế theo nội dung giúpthực hiện đúng trình tự thu thuế khi cưỡng chế nợ thuế theo quy định của LuậtQuản lý thuế Theo đó, tiền thuế phải được thu trước tiền phạt

1.1.3.4 Căn cứ vào tính chất nợ

Căn cứ vào tính chất nợ thì nợ thuế được chia thành nợ thông thường,

nợ chờ xử lý, nợ đang chờ điều chỉnh, nợ đang xử lý, miễn giảm, xóa nợ, nợtrong quá trình tranh chấp thuế, nợ đang được xóa nợ, giãn nợ

Trang 21

- Nợ thông thường

Là khoản tiền nợ thuế của người nợ thuế mà khoản thuế nợ đã được xácđịnh rõ ràng, không sai sót, không nhầm lẫn, không có khiếu nại, không thuộcdiện xét miễn giảm thuế

- Nợ chờ xử lý

Nợ chờ xử lý là khoản nợ thuế xác định chưa một cách chính xác vàchắc chắn, đang cần điều chỉnh lại hoặc nợ thuế đang có khiếu nại, đangthuộc diện xét miễn giảm thuế cụ thể gồm các nhóm sau:

Nợ đang xử lý miễn, giảm, xóa nợ: là số tiền nợ thuế của người nợ

thuế đang trong thời gian làm các thủ tục tại cơ quan thuế để được xử lý

miễn, giảm, xóa nợ theo quy định của pháp luật về thuế (bao gồm cả các trường hợp đang là thủ tục xử lý miễn, giảm áp dụng các điều khoản miễn, giảm theo các hiệp định tránh đánh thuế hai lần); cá nhân được cơ

quan pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự màkhông còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ; nợ của người nợ thuế

bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định củaLuật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt Khi ngườinộp thuế đang có nợ thuế do đến kỳ phải thực hiện kê khai thuế đúng hạnnhưng theo quy định của pháp luật về thuế họ sẽ được miễn, giảm hoặcđược xử lý cho ghi thu, ghi chi và đang làm thủ tục thì tạm thời đưa vàonhóm nợ chờ xử lý này để theo dõi chứ không áp dụng các biện phápcưỡng chế thu nợ

Nợ đang chờ điều chỉnh: Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế do có sai

sót của NNT hoặc của cơ quan thuế khi kê khai thuế, tính thuế đang làm thủtục để điều chỉnh lại hoặc do tạm tính số thuế phải nộp cao hơn số phát sinh,tức là, số tiền nợ do người nộp thuế đã kê khai số thuế tạm nộp hàng kỳ theoquy định nhưng thực tế thuế phát sinh phải nộp thấp hơn so với số thuế đã kê

Trang 22

khai tạm nộp, đang làm thủ tục điều chỉnh lại Ngoài ra, trong nhóm này còn

có số tiền nợ do chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc, tiền thuế đã nộpvào tài khoản thu NSNN nhưng do chứng từ luân chuyển chưa kịp thời hoặcthất lạc nên trên sổ thuế vẫn ghi nợ

Nợ trong quá trình tranh chấp thuế: theo quy định hiện hành tại các

văn bản quy phạm pháp luật về thuế và xử lý khiếu nại tố cáo thì trong quátrình khiếu nại khi cơ quan có thẩm quyền chưa ra quyết định xử lý thì ngườinộp thuế vẫn phải nộp các khoản thuế vào NSNN Do đó, phát sinh thêmkhoản nợ chờ xử lý do khiếu nại của người nộp thuế, xử lý thoái trả tiền thuếkhi có quyết định chính thức của cơ quan có thẩm quyền thì nợ này được đưavào một trong hai nhóm nợ có khả năng thu hoặc nợ không có khả năng thu

Nợ đang được khoanh nợ, giãn nợ: Là số tiền thuế nợ của đối tượng

nộp thuế đã được xử lý cho khoanh nợ, giãn nợ hoặc đang trong thời hạn làmcác thủ tục tại cơ quan thuế đã được xử lý giãn nợ theo quy định

1.1.3.5 Căn cứ vào đối tượng nợ

Căn cứ vào đối tượng nợ, nợ thuế có thể được phân chia cụ thể thànhcác nhóm đối tượng theo tính chất sở hữu, loại hình hoặc đặc điểm tổ chứcsản xuất kinh doanh Theo đó, nợ thuế có thể phân chia thành các nhóm sau:

- Nợ thuế của doanh nghiệp nhà nước

- Nợ thuế của doanh nghiệp dân doanh

- Nợ thuế của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Nợ thuế của hộ kinh doanh cá thể

- Nợ thuế thu nhập của cá nhân

- Nợ thuế của các đối tượng khác

Cách phân loại này bên cạnh việc cho các đơn vị quản lý thấy đượcmức độ nợ của từng đối tượng để qua đó tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đếntình trạng nợ thuế của từng đối tượng nó còn giúp cơ quan thuế đặt trọng tâm

Trang 23

vào quản lý nợ thuế của nhóm đối tượng mà có khả năng rủi ro cao trong thuhồi nợ.

Ví dụ sau khi phân tích, cơ quan thuế thấy rằng nợ thuế của đối tượng

hộ kinh doanh cá thể có khả năng rủi ro cao trong thu hồi nợ thì cơ quan thuế

sẽ đặt trọng tâm trong việc quản lý nợ thuế ở nhóm đối tượng hộ kinh doanh

cá thể này

1.1.3.5 Căn cứ vào sắc thuế

Căn cứ vào tiêu thức sắc thuế, nợ thuếsẽ biết được sắc thuế nào có số

nợ cao, sắc thuế nào có số nợ thấp Cụ thể, khi căn cứ vào sắc thuế, nợ thuế

sẽ được phân chia thành: Nợ thuế GTGT, nợ thuế TTĐB, nợ thuế XNK, nợthuế TNDN, nợ thuế TNCN

Cách phân loại này chẳng những giúp cho các cơ quan quản lý tìm racác biện pháp nhằm quản lý nợ thuế hiệu quả mà nó còn giúp cho việc hoànthiện những quy định pháp lý và thu nộp sắc thuế đó từ đó góp phần làm hoànchỉnh thêm pháp luật thuế và quản lý thuế

1.2 Những vấn đề chung về quản lý nợ thuế

Nợ thuế là việc không thể tránh khỏi ttrong quá trình quản lý thuế Đểđảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế vào ngân sách nhà nước(NSNN) thì công tác quản lý nợ thuế là công tác quan trọng trong công tácquản lý thuế nói chung Để hiểu rõ hơn bản chất của quản lý nợ thuế, cần thiếtphải nghiên cứu những nội dung cơ bản như khái niệm, nội dung và đặc điểmcủa quản lý nợ thuế

1.2.1 Khái niệm Quản lý nợ thuế

Quản lý nợ thuế là một phần trong của quản lý thuế, do đó nó cũngđược hiểu là việc tổ chức thực thi pháp luật thuế của nhà nước trên 3 khíacạnh: (1) hoạch định các chính sách quản lý; (2) tổ chức bộ máy ngành thuế

và xây dựng nguồn nhân lực thực hiện công tác quản lý nợ thuế; (3) vận dụng

Trang 24

các phương pháp thích hợp để tác động đến quá trình nộp nợ thuế của NNT.Trong đó chủ thể của quá trình quản lý nợ thuế là Nhà nước bao gồm các cơquan lập pháp với vai trò hoạch định chính sách, cơ quan hành pháp với tưcách người điều hành trực tiếp công tác thu và nộp nợ thuế; hệ thống các cơquan chuyên môn giúp việc cho cơ quan hành pháp (cơ quan thuế, hải quan )thay mặt cho Nhà nước tổ chức thực hiện thu nợ thuế Đối tượng của công tácquản lý nợ thuế là các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ nộp các khoản còn nợthuế theo quy định của Pháp luật.

Một cách đơn giản hơn, Giáo trình Quản lý thuế của Học viện Tàichính (2010) đưa ra khái niệm: “Quản lý nợ thuế là công việc theo dõi, nắmbắt thực trạng nợ thuế và các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý và thựchiện các biện pháp đôn đốc thu hồi số thuế nợ của người nộp thuế.”

1.2.2 Vai trò của công tác quản lý nợ thuế

Quản lý nợ thuế có vai trò quan trọng trong công tác quản lý thuế, đó làkhâu tiếp theo của quá trình quản lý và kê khai thuế Vai trò của quản lý nợthuế được thể hiện ở 4 điểm sau đây:

Thứ nhất, quản lý nợ thuế giúp các cơ quan thuế nắm bắt được chính

xác tình hình thực hiện nghĩa vụ của người nộp thuế, từ đó đề ra các biệnpháp nhằm thúc đẩy người nộp thuếthực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế, tăngkhả năng thu hồi nợ thuế; góp phầnnâng cao ý thức tuân thủ của người nộpthuế, đảm bảo thực hiện nghiêm túc pháp luật thuế

Thứ hai, quản lý nợ thuế tốt góp phần đảm bảo công bằng xã hội thông

qua việc đảm bảo các đối tượng nộp thuế đều phải thực hiện đầy đủ vànghiêm túc nghĩa vụ thuế của mình Việc quản lý nợ thuế hiệu quả, góp phầnhạn chế được việc cạnh tranh không công bằng giữa những cơ sở cạnh tranhvới nhau do mức thuế nộp khác nhau

Trang 25

Thứ ba, quản lý nợ thuế góp phần quản lý các khoản thu của Nhà nước,

chống thất thoát ngân sách Nhà nước Một mặt quản lý nợ thuế giúp hạn chếviệc nợ thuế, trốn thuế gây thất thoát NSNN, mặt khác quản lý nợ tốt sẽ gópphần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thu thuế, quản lý kê khai thuế vàthanh tra, kiểm tra thuế giúp xác định đúng nghĩa vụ thuế Qua đó, hiệu quảcủa công tác quản lý các khoản thu của Nhà nước sẽ được nâng cao

Thứ tư, quản lý nợ thuế tốt cũng tạo ra một kênh thông tin đúng đắn

để xử lý các khoản nợ của người nộp thuế một cách đúng đắn Căn cứ vàothông tin có được từ việc quản lý nợ thuế, các cơ quan quản lý sẽ đề ranhững biện pháp phù hợp với người nộp thuế để tạo điều kiện thuận lợi chohoạt động sản xuất, kinh doanh của họ

1.2.3 Những nội dung cơ bản của quản lý nợ thuế

Quản lý nợ thuế ở các quốc gia, khu vực khác nhau có thể có quytrình và nội dung khác nhau Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng của quản lý nợthuế là đảm bảo thu đủ số thuế mà NNT cần phải nộp vào NSNN theo đúngquy định của pháp luật Do vậy, về cơ bản công tác quản lý nợ thuế luônbao gồm các nội dung chính sau đây:

Thứ nhất, theo dõi, thống kê và nắm bắt đầy đủ tình hình nợ thuế của

NNT, bao gồm: số thuế phải nộp, số thuế đã nộp, số thuế còn phải nộp Nộidung này đòi hỏi các cơ quan thuế phải theo dõi, quản lý và thống kê đượcđầy đủ dữ liệu về NNT và các dữ liệu trên tại một thời điểm nhất định, từ đó

có thông tin cụ thể để áp dụng các biện pháp quản lý nợ thuế

Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng nợ thuế thông qua các thông tin

thống kê, phân loại, phân tích nguyên nhân nợ thuế…Nội dung này đòi hỏi cơquan thuế đánh giá được thực trạng nợ thuế tại một thời điểm nhất định, phântích được xu hướng cũng như diễn biến của nợ thuế theo các tiêu chí phân loạikhác nhau Hơn nữa, cơ quan thuế cần làm rõ được nguyên nhân chủ quan

Trang 26

cũng như khách quan của tình hình nợ thuế trên để làm cơ sở cho việc tìm racác giải pháp đôn đốc xử lý phù hợp.

 Thứ ba, thực hiện các biện pháp đôn đốc, nhắc nhở NNT nộp thuế vàcác khoản thu theo quy định Việc thực hiện các biện pháp này rất đa dạng đốivới từng quốc gia, khu vực Hình thức thông thường nhất là ra thông báo bằngvăn bản nhắc nhở hay điện thoại, email,…Việc xác định các hình thức đônđốc cho phù hợp là rất quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thuhồi nợ thuế

1.2.4 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của công tác quản lý nợ thuế.

- Tỷ lệ nợ quá hạn/ Tổng số thuế ghi thu

Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất phản ánh hiệu quả đôn đốc thu nộp thuếcủa cơ quan thuế Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả của công tác đôn đốc nợ đốivới những khoản nợ trong hạn của cơ quan thuế trong năm Đồng thời, chobiết khả năng thu nợ của từng địa phương trên tổng số thuế ghi thu từng thời

kỳ tăng lên hay giảm đi, so sánh tỷ lệ thực hiện kỳ này với thực tế các kỳtrước đó sẽ giúp cho cơ quan thuế cấp trên có những biện pháp chấn chỉnh kịpthời trong công tác chỉ đạo thu nợ tại địa phương đó Chỉ tiêu này càng thấpthì hiệu qủa quản lý nợ và đôn đốc thu nộp càng cao và ngược lại

- Tỷ lệ nợ có khả năng thu (hoặc nợ không có khả năng thu…)/ Sốthuế ghi thu

Tiêu chí này phản ánh tình hình các loại nợ cụ thể Nó phản ánh hiệuquả công tác quản lý nợ và đốc thu của cơ quan thuế đối với từng loại nợ đạtđến mức độ nào Qua đó, cho ta thấy cần tập trung các biện pháp quản lý nợ

và đôn đốc thu nộp với những loại nợ nào trong một thời kỳ nhất định Tỷ lệnày cũng cho biết khả năng thu hồi nợ ở mức độ nào

- Tuổi nợ bình quân của các khoản nợ thuế quá hạn đã được nộp

Công thức tính chỉ tiêu này như sau:

Trang 27

Tuổi nợ bình quân (tính theo ngày) = (Tổng số ngày thực tế phát sinhcủa tất cả các khoản nợ quá hạn)/(Tổng số nợ quá hạn).

Tiêu chí này cho biết khoảng thời gian trung bình của một khoản nợ từkhi phát sinh đến khi được nộp vào NSNN Chỉ tiêu này càng thấp thì hiệuquả công tác quản lý nợ và đôn đốc thu nộp càng cao và ngược lại

- Tỷ lệ chi phí hành chính phục vụ thu nợ thuế/ Số thuế quá hạn thu hồi được

Công thức tính chỉ tiêu này như sau:

Tỷ lệ chi phí hành chính = (Tổng chi phí thực tế dùng cho thunợ)/(Tổng số tiền nợ quá hạn thu hồi được trong năm)*100%

Tiêu chí này cho biết mức độ chi phí để thu hồi nợ như thế nào để thuđược một đồng nợ thuế thì mất bao nhiêu đồng chi phí Chỉ tiêu này càng thấpcàng tốt> Nếu chỉ tiêu này ở mức 100% thì xét riêng về hiệu quả kinh tế làbằng không vì số chi ra để thu nợ đúng bằng số thuế thu về được

- Tỷ lệ số lượt người nộp thuế nợ quá hạn/ Số người nộp thuế

Tỷ lệ này phản ánh phạm vi đối tượng nợ thuế rộng hay hẹp Nếu tỷ

lệ này càng cao chứng tỏ mức độ nợ thuế đã lan rộng Nếu tỷ lệ này thấp,chứng tỏ nợ quá hạn chỉ tập trung ở một số đối tượng nhất định Như vậy,

tỷ lệ này phản ánh hiệu quả răn đe, cảnh báo của cơ quan thuế đối vớinhững đối tượng nợ thuế (tr.334, 335, 336)

1.3 Những vấn đề cơ bản về cưỡng chế nợ thuế

1.3.1 Khái niệm cưỡng chế nợ thuế

Cưỡng chế nợ thuế là khâu tất yếu trong quá trình quản lý thuế, nó thểhiện tính răn đe của pháp luật đối với những đối tượng cố tình không thựchiện nghĩa vụ thuế của mình

Cưỡng chế nợ thuế là việc cơ quan thuế áp dụng các biện pháp buộcngười nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ thuế khi khoản nợ thuế có tuổi nợ rơi

Trang 28

vào ngưỡng quy định áp dụng cưỡng chế nợ thuế theo pháp luật về quản lýthuế Thông thường, việc cưỡng chế nợ thuế chỉ được thực hiện sau khi cơquan thuế đã áp dụng đầy đủ các biện pháp quản lý đôn đốc thu nợ của mìnhnhưng vẫn không thu đủ tiền vào NSNN, điều này không chỉ giúp công táccưỡng chế nợ thuế đạt hiệu quả tối đa mà còn giúp giảm tối thiểu chi phí chocông tác cưỡng chế nợ thuế

Cưỡng chế nợ thuế được định nghĩa “là việc cơ quan thuế và các cơ

quan bảo vệ pháp luật áp dụng các biện pháp buộc người nộp thuế phải thựchiện nghĩa vụ thuế” (TS Lê Xuân Trường, 2010, tr324)

Cưỡng chế nợ thuế được coi là công cụ quan trọng nhằm góp phầnnâng cao hiệu lực của pháp luật về thuế, chống thất thu NSNN Các trườnghợp áp dụng cưỡng chế nợ thuế đối với NNT bao gồm:

- Người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế đã quá thời hạnquy định chậm nộp (đối với Việt Nam là 90 ngày) kể từ ngày hết thời hạn nộpthuế, hết thời hạn gia hạn nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế

- Người nộp thuế còn nợ tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế cóhành vi bỏ trốn, tẩu tán tài sản

- Người nộp thuế không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành

chính về thuế(trong thời hạn 10 ngày-theoquy định pháp luật thuế Việt Nam)

kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính

1.3.2 Đặc điểm cưỡng chế nợ thuế

1.3.2.1 Cưỡng chế nợ thuế khi phát sinh hành vi nợ thuế quá hạn

Như đã trình bày ở trên, biện pháp cưỡng chế nợ thuế chỉ xuất hiện saukhi các cơ quan quản lý áp dụng đầy đủ các biện pháp nhưng vẫn không thu

đủ tiền thuế nợ của các cá nhân hoặc tổ chức vào NSNN Như vậy cưỡng chế

nợ thuế sẽ là hành vi xuất hiện sau hành vi nợ thuế Cưỡng chế nợ thuế có thể

Trang 29

được coi là giải pháp thu nợ thuế sau cùng khi các giải pháp khác đã đượctriển khai mà không đạt được mục tiêu thu hồi được khoản nợ vào NSNN.

1.3.2.2 Cưỡng chế nợ thuế là biện pháp cần thiết đảm bản tính nghiêm minh của pháp luật thuế

Như đã phân tích ở trên, nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến vì thuếliên quan trực tiếp đến lợi ích của đối tượng nộp thuế Do vậy để đảm bảo tínhnghiêm minh của pháp luật thuế bắt buộc phải có các biện pháp thi hành phápluật thuế mang tính răn đe của pháp luật, buộc NNT phải tuân thủ pháp luậtthuế

Cưỡng chế nợ thuế là một trong các công tác quan trọng áp dụng đốivới những người nợ thuế không tự nguyện chấp hành quyết định của cơ quanthuế nhằm mục đích đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế vào NSNN và gópphần thực hiện công bằng giữa những người nộp thuế

1.3.2.3 Cưỡng chế nợ thuế đòi hỏi có sự phối kết hợp chặt chẽ, đồng

bộ giữa cơ quan thuế với các cơ quan thi hành pháp luật khác.

Để công tác cưỡng chế nợ thuế đạt hiệu quả, cơ quan thuế cần phải có

sự hỗ trợ và phối hợp từ các cơ quan, ban, ngành chức năng khác như: khobạc, công an, viện kiểm sát Việc cưỡng chế nợ thuế cần những thủ tục pháp

lý chặt chẽ liên quan đến chức trách của nhiều cơ quan khác nhau Bởi vậyviệc phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan tổ chức, ban, ngành khác làmột tất yếu

1.3.3 Vai trò của công tác cưỡng chế nợ thuế

Theo những đặc điểm của cưỡng chế nợ thuế thì cưỡng chế nợ thuế làmột hành vi thi hành pháp luật về thuế, đó là biện pháp được áp dụng để đảmbảo thu đúng, thu đủ tiền thuế vào NSNN Do đó, cưỡng chế nợ thuế đóngmột vai trò quan trọng trong quy trình quản lý thuế Vai trò của cưỡng chế nợthuế được thể hiện qua ba điểm sau đây:

Trang 30

Thứ nhất, cưỡng chế nợ thuế đảm bảo việc thực thi pháp luật Thuế,

cống thất thoát NSNN Cưỡng chế nợ thuế là khâu cuối cùng trong quy trìnhquản lý thuế, được sử dụng sau khi mọi phương pháp khác không thể thu hồiđược nợ thuế của NNT Do đó, cưỡng chế nợ thuế đóng một vai trò quantrọng trong việc tăng khả năng thu hồi được khoản nợ thuế, chống thất thuthuế có hiệu quả đồng thời cưỡng chế nợ thuế đảm bảo thực hiện nghiêm túcpháp luật thuế Sau khi các cơ quan thuế đã sử dụng nhiều biện pháp đôn đốcsong người nộp thuế vẫn cố tình chây ỳ, dây dưa, không nộp thuế thì bằnghành vi cưỡng chế nợ thuế, các cơ quan quản lý sẽ đưa ra các hình thức vàbiện pháp phù hợp tác động đến lợi ích của người nộp thuế buộc họ phải thựchiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Công tác cưỡng chế nợ thuế được coi

là thành công khi các khoản thuế và thu khác thuộc NSNN được nộp vàoNSNN Do vậy, cưỡng chế nợ thuế đã góp phần chống thất thu thuế cho ngânsách Nhà nước

Thứ hai, cưỡng chế nợ thuế đóng vai trò nâng cao tính tự giác chấp

hành nghĩa vụ thuế của người nộp thuế Đối với một đối tượng cố tình chây ỳ,

cố tình không thực hiện nghĩa vụ thuế, khi bị cơ quan thuế thực hiện thànhcông việc cưỡng chế nợ thuế sẽ phát đi một tín hiệu cảnh báo với chính đốitượng đó việc tự giác thực hiên nghĩa vụ thuế sẽ mang lại cho họ nhiều lợi íchhơn, trong tương lai, nếu còn tiếp tục chây ỳ thì thiệt hại đối với họ sẽ là điềutrông thấy Hơn nữa tác dụng cảnh báo của cưỡng chế nợ thuế còn có hiệu lựcđối với các đối tượng khác đang có ý định cố tình không thực hiện nghĩa vụthuế Qua đó cưỡng chế nợ thuế thúc đẩy sự tuân thủ tự nguyện của ngườinộp thuế

Thứ ba, cưỡng chế nợ thuế đảm bảo tính công bằng trong thực thi pháp

luật thuế Giữa các đối tượng ở trong cùng một điều kiện, hoàn cảnh như nhau

và cùng phải thực hiện nghĩa vụ thuế giống nhau thì sự công bằng trong thựcthi pháp luật thuế phải được thể hiện ở việc số thuế mà họ phải nộp vào

Trang 31

NSNN là như nhau Công tác cưỡng chế nợ thuế khiến cho những người cónghĩa vụ về thuế thì bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ đó, nếu không thực hiện

sẽ chịu sự trừng phạt của pháp luật, từ đó đảm bảo tính công bằng của phápluật thuế một quốc gia

1.3.4 Yêu cầu đối với công tác cưỡng chế nợ thuế

Cũng như công tác quản lý nợ, công tác cưỡng chế nợ thuế chỉ đạt được hiệuquả khi xác định đúng mục tiêu và phải đảm bảo các yêu cầu cụ thể như sau:

Thứ nhất, cưỡng chế nợ thuế phải đảm bảo tính hiệu lực của pháp luật

nhà nước Điều này có nghĩa là, khi ban hành các quyết định cưỡng chế nợthuế phải đảm bảo được thực hiện thống nhất từ cấp trung ương đến cấp địaphương

Thứ hai, cưỡng chế nợ thuế phải đảm bảo tính hiệu quả Tính hiệu quả

của việc thi hành cưỡng chế nợ thuế được thực hiện ở việc chi phí bỏ ra là tốithiểu còn kết quả đạt được là tối đa Hơn nữa, việc cưỡng chế nợ thuế lại phụthuộc rất nhiều vào các yếu tố khách quan như thời gian cưỡng chế, địa điểmthi hành, hình thức cưỡng chế…Do đó, để đảm bảo hiệu quả của công táccưỡng chế nợ thuế thì trước khi ban hành các quyết định về cưỡng chế nợthuế thì cần tính toán đến các yếu tố khách quan ấy Bên cạnh đó, cơ quanthuế cần cân nhắc kỹ lưỡng từng trường hợp nợ thuế và xác định trường hợpnào thực hiện biện pháp cưỡng chế nào là hợp lý

Thứ ba, do cưỡng chế nợ thuế là một hành vi thi hành pháp luật về

thuế, do đó công tác cưỡng chế nợ thuế phải đảm bảo tính tuân thủ pháp luậtcủa người nộp thuế Đồng thời, việc cưỡng chế nợ thuế cũng góp phần nângcao tính hiệu quả của pháp luật, góp phần răn đe, nâng cao ý thức tuân thủ củađối tượng nộp thuế

Trang 32

1.3.5 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của công tác cưỡng chế nợ thuế.

- Tỷ lệ số cuộc cưỡng chế thành công/ Tổng số đối tượng đã thực hiện cưỡng chế nợ thuế

Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả áp dụng các biện pháp cưỡng chế nợthuế đã thực hiện trong một thời kì như thế nào Chỉ tiêu này càng cao thìchứng tỏ hiệu quả công tác cưỡng chế nợ thuế càng tốt

Chỉ tiêu này cũng có thể vận dụng để đánh giá tính hiệu quả của từnghình thức cưỡng chế nợ thuế cụ thể như: Cưỡng chế bằng cách trích từ tàikhoản, cưỡng chế bằng kê biên tài sản, cưỡng chế bằng trừ lương

- Tỷ lệ chi phí hành chính để cưỡng chế nợ thuế/ Tổng số tiền thuế thu được qua cưỡng chế

Công thức để tính chỉ tiêu này như sau:

Tỷ lệ chi phí cưỡng chế = (Tổng chi phí thực tế dùng cho cưỡng chế nợthuế/ Tổng số tiền nợ thu được trong năm)*100%

Tiêu chí này phản ánh được chi phí thực tế mà cơ quan thuế đã phải bỏ

ra để thực hiện các cuộc cưỡng chế so với số thuế có thể thuc được qua cưỡngchế Chỉ tiêu này càng thấp thì tính hiệu quả của cưỡng chế nợ thuế càng cao.Khi chỉ tiêu này bằng và lớn hơn 100% thì tính hiệu quả xét riêng dưới góc độ

số thu rất thấp, thậm chí có thể nói là phi hiệu quả Đối với từng cuộc cưỡngchế có thể chấp nhận tính phi hiệu quả này để đánh đổi lấy sự cảnh báo, răn

đe Nhưng nếu tính tổng thể thì không thể chấp nhận tính phi hiệu quả này.(tr.336, tr.337)

1.4 Mối quan hệ giữa quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế

Mặc dù quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế là hai nội dung khác biệt vàđộc lập với nhau, nhưng giữa chúng có mối quan hệ mật thiết, bổ sung chonhau, đó là mối quan hệ tương tác hai chiều.Trong quá trình phân tích đặcđiểm của cưỡng chế nợ thuế thì hành vi cưỡng chế nợ thuế là hành vi xuất

Trang 33

hiện sau hành vi nợ thuế Cưỡng chế nợ thuế sẽ được thực hiện sau khi các cơquan quản lý tiến hành nhiều biện pháp đôn đốc nhằm thu nợ thuế nhưngkhông thành công Do đó để có thể lựa chọn và thực hiện được các biện phápcưỡng chế nợ thuế có hiệu quả thì các cơ quan thuế cần phải theo dõi đượccác các khoản nợ thuế Việc theo dõi các khoản nợ thuế lại đề cập đến vai tròcủa công tác quản lý nợ.

Có thể nói quản lý nợ sẽ là căn cứ để cơ quan thuế lựa chọn và thựchiện các biện pháp cưỡng chế hiệu quả Quản lý nợ thuế là việc theo dõi cáckhoản nợ thuế để có các biện pháp đôn đốc nhằm thu hồi kịp thời khoản nợthuế đó.Thông qua các phương pháp phân loại nợ, các tiêu chí đánh giá rủi rotrong quản lý nợ, cơ quan thuế xác định được sẽ phải ưu tiên khoản nợ nào đểtập trung thu nợ Đồng thời, trên cơ sở phân loại nợ thuế thì cơ quan quản lýthuế sẽ đưa ra các biện pháp cưỡng chế phù hợp với từng đối tượng nợ thuế

Ví dụ như đối với các khoản nợ thuế thông thường thì đó chưa phải là khoảnđược ưu tiên để tập trung thu nợ, do vậy, không cần áp dụng các biện phápcưỡng chế nợ thuế còn đối với khoản nợ thuế khó thu thì cần thiết phải sửdụng các biện pháp cưỡng chế nợ thuế Hơn nữa, quản lý nợ thuế tốt sẽ dẫnđến việc đôn đốc thu nợ của cơ quan thuế đối với người nợ thuế phát huy hiệuquả sẽ làm cho số lượng các khoản nợ khó thu giảm đi Nếu các biện phápđôn đốc đó thực hiện được hiệu quả sẽ có tác động làm giảm khối lượng côngviệc của cưỡng chế nợ thuế dẫn tới làm giảm chi phí cưỡng chế nợ thuế

Ở chiều tác động ngược lại, cưỡng chế nợ thuế hiệu quả sẽ có tác độnglàm giảm bớt khối lượng cho công việc quản lý nợ thuế bởi vì việc cưỡng chế

nợ thuế là biện pháp giúp thu hồi các khoản nợ thuế từ phía các cá nhân, tổchức phải thực hiện nghĩa vụ về thuế, thực hiện cưỡng chế nợ thuế sẽ có hiệuquả trực tiếp là làm cho số tiền nợ thuế giảm và số lượng các khoản nợ đangđược theo dõi tại các cơ quan thuế sẽ giảm đi hay nói cách khác khối lượngcông việc trong quản lý nợ thuế sẽ giảm đi

Trang 34

Tóm lại, công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế có mối quan hệ tácđộng qua lại với nhau, bổ sung cho nhau cùng phát triển để đạt hiệu quả cao.

Do vậy, trên thực tế việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả quản lý nợ thuế cũngchính là để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của công tác cưỡng chế nợ thuế,góp phần nâng cao năng lực quản lý thuế nói chung

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế

Công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế trong quá trình thực hiệnthường bị ảnh hưởng bởi hai nhóm nhân tố: nhóm nhân tố khách quan vànhóm nhân tố chủ quan

1.5.1 Nhóm yếu tố chủ quan

Nhóm yếu tố này chủ yếu xuất phát từ phía cơ quan quản lý thuế, cụthể như sau:

Thứ nhất, quy trình và các biện pháp quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế

của cơ quan thuế:Quy trình và các biện quản lý nợ thuế có ảnh hưởng trựctiếp đến hiệu quả của công tác quản lý nợ thuế Một quy trình quản lý nợ thuếkhoa học, đảm bảo tính chặt chẽ, hiệu quả, phối hợp nhịp nhàng giữa cáckhâu và kèm theo các giải pháp quản lý hiệu quả sẽ giúp các cán bộ thuế thaotác nghiệp vụ dễ dàng, qua đó làm giảm bớt thời gian và chi phí Qua đó, gópphần nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế

nợ thuế Ngược lại, khi cơ quan thuế xây dựng quy trình phức tạp, cồng kềnh

sẽ khiến cho hoạt động quản lý nợ thuế trở nên khó khăn, tốn nguồn lực màkhông hiệu quả

Thứ hai, đó là sự ảnh hưởng của các yếu tố công nghệ, đặc biệt là trình

độ CNTT của cơ quan thuế nói riêng và của xã hội nói chung Công nghệthong tin là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả của công tác quản lýthuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng Nó cũng góp phần nâng cao hiệu

Trang 35

quả, giảm bớt thời gian, chi phí, nhân lực để thực hiện Hiện nay các cơ quanthuế có thể sử dụng các hệ thống phần mềm hỗ trợ về kê khai thuế, quản lý nợthuế, cũng như quản lý hệ thống dữ liệu người nộp thuế.…

Thứ ba, chính sách, pháp luật là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến công

tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế Chính sách, pháp luật phải đồng bộ, phùhợp với tình hình thực tế Trong trường hợp người nộp thuế không có khảnăng nộp thuế, nợ đọng kéo dài nhưng cơ quan thuế vẫn tính phạt nộp chậmlại càng làm cho số nợ đọng tăng lên, sẽ càng làm cho việc quản lý thu nợ gặpnhiều khó khăn Khi đó việc đánh giá hiệu quả công tác quản lý nợ và cưỡngchế nợ thuế lại càng không chính xác

Thứ tư, đó chính là yếu tố con người, trình độ và kỹ năng của các cán

bộ làm công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế Họ là những ngườitham gia trực tiếp vào công tác này, là những người thực thi các quy định vàbiện pháp do đó sự thành bại của công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợthuế có sự phụ thuộc rất lớn vào trình độ của nhân sự thực hiện công việc này

1.5.2 Nhóm yếu tố khách quan

Bên cạnh sự ảnh hưởng của nhóm nhân tố chủ quan thì công tác quản

lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế còn chịu sự ảnh hưởng của nhóm yếu tốkhách quan, cụ thể là:

Thứ nhất, các yếu tố của môi trường kinh tế có ảnh hưởng nhất định

đến công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế Các yếu tố của môi trườngkinh tế có ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế cóthể kể đến như lạm phát, chi phí nguyên vật liệu, lãi suất, các chính sách quản

lý vĩ mô của nhà nước…Có thể lấy ví dụ như khi nhà nước thực hiện chínhsách tiền tệ thắt chặt (trong nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao) sẽ làm cho lãisuất tăng từ đó kéo theo giá cả các mặt hàng, giá cả các nguyên liệu, vật liệutăng cao…điều đó làm cho chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 36

tăng Chi phí sản xuất kinh doanh tăng sẽ là một trong các yếu tố khiến chohiệu quả sản xuất của doanh nghiệp giảm nhiều, doanh nghiệp sẽ ngày cànglâm vào tình trạng khó khăn về mặt tài chính Đôi khi việc sử dụng nguồn tàichính để chống chọi với sự biến động của giá cả đã là cả một vấn đề khókhăn Trong những trường hợp như vậy có nhiều doanh nghiệp không có khảnăng nộp thuế đúng thời hạn hoặc cố tình chây ỳ nộp thuế dù biết có thể bịphạt chậm nộp từ phía các cơ quan thuế.

Thứ hai, như đã phân tích ở trên, công tác quản lý nợ thuế và cưỡng

chế nợ thuế sẽ dễ dàng đạt hiệu quả nếu như có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơquan quản lý thuế với các tổ chức, ban, ngành có liên quan Có thể nói sựphối hợp của các cơ quan hữu quan với cơ quan thuế trong công tác quản lý

nợ và cưỡng chế nợ thuế có một vai trò rất quan trọng Nếu giữa các cơ quannày không có mối liên hệ chặt chẽ thì sẽ gây ra rất nhiều vấn đề phức tạp nhưcác vấn đề về thủ tục, vấn đề triển khai các biện pháp nhằm đôn đốc, cưỡngchế nợ thuế từ phía các cơ quan thuế đối với các đối tượng phải thực hiện cácnghĩa vụ về thuế

Thứ ba, đặc điểm của nền kinh tế cũng là một yếu tố tác động đến công

tác đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế Theo thống kê của các nhà nghiêncứu về thuế thì nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển thì ý thức tuân thủ phápluật của người nộp thuế thường không cao Ý thức tuân thủ pháp luật của đốitượng nộp thuế cũng là một yếu tố tác động quan trọng đến hiệu quả công tácquản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế Nếu như ý thức tuân thủ, chấp hành phápluật của đối tượng nộp thuế không tốt, cố tình dây dưa chây ỳ không nộp thuế,hoặc trường hợp do chính sách quy định chưa rõ thì đối tượng nộp thuế sẽ cốtình áp dụng tính thuế sai, khi cơ quan thuế phát hiện ra truy thu thì lại khiếunại, cố tình không nộp…

Trang 37

1.6 Quy trình quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế

1.6.1 Khái niệm

Quy trình quản lý nợ thuế và quy trình cưỡng chế nợ thuế là việc quyđịnh trình tự thực hiện các bước công việc trong quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế và trách nhiệm thực hiện các bước công việc đó của các bộ phận trong cơ quan thuế

Quy trình quản lý nợ thuế và quy trình cưỡng chế nợ thuế phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: quan điểm, tư duy quản lý thuế của từng nhà nước, các điềukiện kinh tế-xã hội, trình độ quản lý, mức độ hiện đại của cơ sở vật chất trang thiết bị cơ quan thuế, trình độ dân trí và ý thức của người nộp thuế, tổ chức bộ máy quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế, các quy định pháp luật khác

Việc xây dựng quy trình quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế nhằm mục đích chuẩn hóa việc thực hiện quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế tại các cơ quan thuế, thống nhất cách thức thực hiện công việc, nâng cao năng suất và hiệu quả công việc

1.6.2 Yêu cầu đối với việc xây dựng quy trình quản lý nợ thuế và quy trình cưỡng chế nợ thuế

Quy trình quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế là hai quy trình khác nhau nhưng về cơ bản các quy trình này phải thỏa mãn các yêu cầu sau:

 Quy trình quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế phải được quy định rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật hoặc trong các văn bản của cơ quan quản lý thuế, được công bố công khai đối với mọi chủ thể có liên quan Yêu cầu này nhằm đảm bảo quy trình phải được pháp luật quy định, nhằm đảm bảo tính tuân thủ, chấp hành của các chủ thể liên quan

 Quy trình phải thể hiện được sự phân công, phân nhiệm rõ rang cho các

bộ phận trong cơ quan quản lý thuế trong việc thực hiện các công viêc của quy trình Yêu cầu này đảm bảo tính khoa học, thống nhất của quy trình

Trang 38

 Quy trình quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế phải kế thừa và phù hợp với nội dung của các quy trình quản lý thuế khác, nhằm đảm bảo tính liênhoàn, thống nhất, dễ thực hiện cho cán bộ và cơ quan quản lý thuế, đồng thời thuận lợi cho đối tượng nộp thuế.

1.6.3 Nội dung cơ bản của quy trình quản lý nợ thuế

và quy trình cưỡng chế nợ thuế

1.6.3.1 Nội dung cơ bản của quy trình quản lý nợ thuế

Một quy trình quản lý nợ thuế đảm bảo được các yêu cầu trên thườngbao gồm các nội dung cơ bản sau:

- Nội dung các công việc, các thao tác cần phải làm trong quản lý nợ thuế đối với từng đối tượng có liên quan trong quá trình này Cụ thể, có thể bao gồm các công việc:

o Xây dựng chỉ tiêu thu tiền nợ thuế (xác định số nợ, lập chỉ tiêuthu nợ cho năm kế hoạch, báo cáo kế hoạch và chỉ tiêu, phêduyệt kế hoạch và chỉ tiêu)

o Triển khai thực hiện thu nợ thuế thông qua các biện pháp đônđốc thu và xử lý tiền nợ (phân công việc quản lý thuế theo từngcấp; phân loại, theo dõi tiền nợ thuế; đôn đốc thu nợ và xử lý cáctrường hợp đề nghị miễn giảm nợ thuế,…)

- Trách nhiệm của từng bộ phận trong thực hiện các công việc củaquy trình quản lý nợ thuế (trách nhiệm thực hiện đối với các bộ phận trực tiếpquản lý nợ, trách nhiệm của các cá nhân/bộ phận tham gia quy trình, tráchnhiệm báo cáo, phê duyệt, ra quyết định của các cấp quản lý…) và mối quan

hệ phối hợp giữa các cơ quan quản lý thuế cũng như các cơ quan thi hànhpháp luật trong quản lý thuế

- Các yêu cầu về thời hạn, thời điểm hoàn thành, kết quả cần đạt đượccủa các công việc trong quy trình quản lý thuế

Trang 39

- Chi tiết các biểu mẫu kèm theo.

Hiện nay ở Việt Nam, việc áp dụng quản lý thuế đối với các khoản nợthuế như sau:

+ Đối với khoản nợ từ 01 đến 30 ngày, kể từ ngày hết hạn nộp thuế, công chức quản lý nợ và công chức tham gia thực hiện quy trình thực hiện đôn đốc thu nộp bằng hình thức gọi điện thoại, nhắn tin, gửi thưđiện tử cho người nộp thuế hoặc người đại diện theo pháp luật của người nộp thuế;

+ Đối với khoản nợ từ ngày thứ 31 trở lên, kể từ ngày hết hạn nộpthuế, công chức quản lý nợ và công chức tham gia thực hiện quy trìnhthực hiện:

 Lập thông báo tiền thuế nợ và tiền phạt chậm nộp, gửi NNT;

 Sau khi phát hành thông báo mười ngày làm việc, nếu người nộpthuế chưa nộp tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước thì phòng, đội quản lýnợ; phòng, đội tham gia thực hiện quy trình thực hiện các công việc sau:

 Mời người nộp thuế hoặc người đại diện pháp luật của người nộpthuế đến làm việc tại trụ sở cơ quan thuế hoặc làm việc trực tiếp tại trụ sở củangười nộp thuế;

 Trường hợp sau thời hạn mời làm việc một ngày mà người nộp thuếkhông đến cơ quan thuế hoặc đã đến nhưng không giải trình đầy đủ hoặckhông bổ sung thông tin, tài liệu thì tổ chức làm việc trực tiếp tại trụ sở củangười nộp thuế;

Sau khi làm việc, lập biên bản ghi nhận kết quả, đồng thời, tại biên bảnphải yêu cầu người nộp thuế cam kết thực hiện nộp thuế trong thời hạn 90ngày kể từ ngày hết hạn nộp thuế

 Đối với khoản tiền thuế nợ trên 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộpthuế; khoản tiền thuế nợ đã quá thời hạn gia hạn nộp thuế; người nộp thuế có

Trang 40

hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn: phòng, đội quản lý nợ lập thông báo về việc

sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế nợ thuế

1.6.3.1 Nội dung cơ bản của quy trình cưỡng chế nợ thuế

Quy trình cưỡng chế nợ thuế thường tương đối đơn giản, trong đóthường bao gồm 4 bước chung như sau:

- Bước 1: Xác định người nợ thuế phải áp dụng biện pháp cưỡng chế

- Bước 2: Thu thập, xác minh và kiểm tra thông tin

- Bước 3: Tổ chức thực hiện cưỡng chế nợ thuế

- Bước 4: Theo dõi quá trình thực hiện CCNT

Trong đó, đối với quy định hiện hành ở Việt Nam thì các trường hợp áp dụngbiện pháp cưỡng chế nợ thuế bao gồm:

a) Người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế đã quá 90 (chínmươi) ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, hết thời hạn gia hạn nộp thuếtheo quy định của Luật Quản lý thuế và của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

b) Người nộp thuế còn nợ tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế

Có 6 biện pháp cưỡng chế nợ thuế, đó là:

Ngày đăng: 05/10/2020, 00:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Bộ Tài Chính (2011), Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 7. Chi cục Thuế quận Đống Đa, Báo cáo tổng kết năm công tác thuế từ năm2008 đến năm 20138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm công tác thuế từ năm"2008 đến năm 2013
Tác giả: Bộ Tài Chính
Năm: 2011
12. Vũ Thị Mai (2003) "Mô hình tổ chức cơ quan thuế trên thế giới", Tạp chí Thuế Nhà nước số tháng 3/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức cơ quan thuế trên thế giới
14. Nguyễn Minh Ngọc (2002) "Dịch vụ hóa đối tượng nộp thuế - xu hướng cải cách công tác quản lý thuế", Thời báo Tài chính Việt nam, số 143 (884) ngày 29/11/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ hóa đối tượng nộp thuế - xu hướngcải cách công tác quản lý thuế
15. Quách Đức Pháp (2002) "Tiến trình cải cách hệ thống chính sách thuế ở Việt nam”, Tạp chí thuế Nhà nước, số 4/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình cải cách hệ thống chính sách thuế ởViệt nam
1. Bộ Tài chính - Tổng cục Thuế (2001), Thuế Việt nam qua các thời kỳ lịch sử (tập I, tập II), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, TP. Hà Nội Khác
2. Bộ Tài chính (2007), Quyết định của Bộ Tài chính số 49/2007/QĐ-BTC ngày 15 tháng 6 năm 2007 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thuế trực thuộc Tổng cục Thuế Khác
3. Bộ Tài chính (2007), Quyết định của Bộ Tài chính số 49/2007/QĐ-BTC ngày 15 tháng 6 năm 2007 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thuế trực thuộc Tổng cục Thuế Khác
4. Bộ Tài chính (2003), Thông tư số 127/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện Quyết định 197/2003/QĐ-TTg ngày 23/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành cơ chế quản lý thuế tự khai, tự nộp Khác
5. Bộ Tài chính (2003), Thông tư số 215/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 hướng dẫn về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế Khác
8. Chính phủ (2013), Nghị định 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế Khác
9. Nguyễn Thị Bất - Vũ Duy Hào (2002), Giáo trình quản lý thuế, NXB Thống kê Khác
10. Mai Văn Bưu, Phan Kim Chiến (2001), Quản lý Nhà nước về kinh tế (Giáo trình sau đại học), Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, TP. Hà Nội Khác
11. Nguyễn Thị Liên, PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu (2008), Giáo trình nghiệp vụ thuế, Học viện Tài Chính Khác
13. Đỗ Đức Minh - Nguyễn Việt Cường (2005), Giáo trình Lý thuyết thuế, NXB Tài chính Khác
16. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật Quản lý Thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 Khác
17. Tổng cục Thuế (2011), Quyết định số 1395/QĐ-TCT ngày 14/10/2011về việc hướng dẫn ban hành Quy trình cưỡng chế nợ thuế Khác
18. Tổng cục Thuế (2008), Quyết định số 528/QĐ-TCT ngày 29/05/2008 về việc hướng dẫn ban hành Quy trình kiểm tra thuế Khác
19. Tổng cục Thuế (2010), Quyết định số 503/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục Thuế trực thuộc Cục thuế Khác
20. Tổng cục Thuế (2010), Quyết định số 504/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ của các Đội thuộc Chi cục Thuế Khác
21. Tổng cục Thuế (2009), Phân tích và đánh giá rủi ro trong hoạt động thanh tra thuế, TP. Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w