Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộphận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền.Tất cả những tệ nạn đó gây ra sự bất bình trong nhâ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Phạm trù “Quyền lực chính trị” là phạm trù trung tâm của khoa họcchính trị Đây là một phạm trù lịch sử, vì vậy trong mỗi chế độ xã hội khácnhau, quyền lực chính trị thuộc về một chủ thể nhất định và phản ánh bản chấtcủa mỗi chế độ xã hội Lần đầu tiên trong lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lêninkhẳng định rằng: chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ xã hội mà mọi quyền lựcthuộc về nhân dân Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch
Hồ Chí Minh vạch rõ: chế độ ta là chế độ mà mọi quyền hành và lực lượngđều ở nơi dân Trên thực tế vấn đề mọi quyền lực thuộc về nhân dân đã trởthành tư tưởng xuyên suốt, mục tiêu phấn đấu và là động lực to lớn của cáchmạng Việt Nam
Trong những năm đổi mới từ 1986 đến nay, dân chủ xã hội chủ nghĩađược tăng cường, quyền làm chủ của nhân dân tiếp tục được phát huy trênnhiều lĩnh vực kinh tế,chính trị, xã hội Mọi người đều thừa nhận rằng: cùngvới đổi mới về kinh tế, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyềnlàm chủ của nhân dân là một trong những thành tựu nổi bật của công cuộc đổimới những năm qua Đến nay, quyền làm chủ của nhân dân trên cả hai hìnhthức: dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp đã có một bước tiến quan trọng.Đảng và Nhà nước ta, thời gian qua rất chú trọng công tác xây dựng pháp luậtnhằm thể chế hoá quyền làm chủ của nhân dân Sau khi ban hành Hiến pháp
1992, hai bộ Luật lớn là Bộ Luật Lao động và Bộ Luật Dân sự, nhiều luật vàvăn bản dưới luật được xây dựng và ban hành Hệ thống pháp luật của nước ta
có bước tiến đáng kể Nhà nước ta đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiềuchính sách mới về kinh tế, chính trị, xã hội nhằm phát huy quyền làm chủ củanhân dân Nhờ vậy, quyền làm chủ của nhân dân được mở rộng và đề cao,quyền dân chủ được tôn trọng, không khí xã hội ngày càng mở rộng hơn,nhân dân ta tin tưởng vào vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhànước, vững vàng trước những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù
Nhưng công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, quyền lực chính trịcủa nhân dân lao động ở nước ta càng đứng trước nhiều vấn đề bức xúc vànan giải, ảnh hưởng tới thực thi quyền lực chính trị của nhân dân lao độngnhư hiện tượng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu dân, kèn cựa địa vị, cục bộ
Trang 2địa phương, bè phái, mất đoàn kết khá phổ biến; nạn tham nhũng, dùng tiềncủa Nhà nước tiêu sài phung phí, ăn chơi sa đoạ không được ngăn chặn cóhiệu quả Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộphận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền.Tất cả những tệ nạn đó gây ra sự bất bình trong nhân dân, làm tổn thương uytín của Đảng và Nhà nước ta.
Để làm rõ một cách tương đối hệ thống về phạm trù quyền lực chính trịcủa nhân dân lao động nhằm đi đến luận giải thực trạng và bước đầu xác địnhmột số giải pháp cơ bản để tăng cường quyền lực chính trị của nhân dân laođộng trong thời kỳ quá độ ở nước ta Tôi chọn đề tài “Quyền lực chính trị củanhân dân lao động ở nước ta hiện nay Thực trạng và giải pháp” để làm tiểuluận lớp Cao cấp chính trị khoá 2 Trong quá trình nghiên cứu, sẽ không tránhkhỏi những thiếu sót, mong các thầy cô đóng góp thêm để tiểu luận đạt đượckết quả tốt
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
I QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG TA VỀ QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ CỦA NHÂN DÂN LAO ĐỘNG.
1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền lực chính trị.
Quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp hay của một liênminh giai cấp, tập đoàn xã hội (hoặc của nhân dân - trong điều kiện chủnghĩa xã hội nó nói lên khả năng của một giai cấp thực hiện lợi ích của mình:
“Quyền lực chính trị theo đúng hướng của nó, là bạo lực có tổ chức của mộtgiai cấp để trấn áp một giai cấp khác”
Trong chế độ xã hội có đối kháng giai cấp luôn tồn tại hai loại quyền lựcchính trị thuộc hai chủ thể chính trị đối lập nhau: quyền lực chính trị của giai cấpcầm quyền (thống trị) và quyền lực của giai cấp, tầng lớp không cầm quyền
Giai cấp thống trị tổ chức ra bộ máy Nhà nước và sử dụng sức mạnh của
bộ máy đó để thực hiện ý chí, lợi ích của giai cấp mình Khi ấy, quyền lực chínhtrị của giai cấp thống trị trở thành quyền lực Nhà nước Do đó, xét về bản chất,quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị của giai cấp thống trị Nó được thựchiện bằng cả một hệ thống chuyên chính do giai cấp đó lập ra Nhờ hệ thống đó,giai cấp thống trị có khả năng vận dụng các công cụ bạo lực của Nhà nước đểbuộc các giai cấp, tầng lớp xã hội khác phục tùng ý trí của giai cấp thống trịtrong việc tổ chức xã hội như một chỉnh thể
Các giai cấp và tầng lớp không nắm quyền thống trị dùng sức mạnh chínhtrị của mình để chống lại hay đòi hỏi giai cấp thống trị phải thay đổi trật tự xãhội, thay đổi các chính sách đã ban hành cho phù hợp với lợi ích của giai cấpmình Trong trường hợp giai cấp bị trị là giai cấp có lợi ích cơ bản đối kháng vớigiai cấp thống trị, giai cấp bị trị dùng quyền lực chính trị của mình để đấu tranhlật đổ sự thống trị của giai cấp cầm quyền, thiết lập nhà nước của mình, dùngNhà nước đó để tổ chức lại xã hội theo một trật tự phù hợp với lợi ích của nó.Khi ấy, quyền lực của giai cấp mới giành được quyền thống trị trở thành quyềnlực nhà nước
Trong lịch sử loài người đã lần lượt xuất hiện các chủ thể quyền lực nhànước khác nhau
Trang 4Ở xã hội chiếm hữu nô lệ, chủ nô là chủ thể duy nhất của mọi tài sản, củacải trong xã hội -từ ruộng đất đến nông cụ, súc vật và cả những người nô lệ (nô
lệ không có quyền của một con người mà chỉ được coi là công cụ biết nói).Những người lao động khác đôi khi khá đông và chiếm vai trò trong nền sảnxuất xã hội, nhưng cũng không có quyền lực chính trị - pháp lý đáng kể Toàn bộquyền lực chính trị nằm trong tay giai cấp chủ nô Hình thức tổ chức quyền lựccao nhất trong chế độ chiếm hữu nô lệ là quân chủ chuyên chế Sự xuất hiện củahình thức tổ chức này cũng báo hiệu sự cáo chung của chế độ chiếm hữu nô lệ.Quyền lực chính trị của phong kiến ra đời và trở thành thống trị
Dưới chế độ phong kiến, toàn bộ quyền lực chính trị nằm trong tay vua.Vua được xem là “con trời”, nhân dân được coi là “thần dân” - con vua Do đó,
họ luôn luôn phải ở thế phục tùng mà không có một chút quyền lực nào
Không thể an phận ở địa vị “thần dân”, nhân dân lao động không ngừngđấu tranh để loại bỏ chế độ chuyên chế độc tài phong kiến nhằm xác lập quyềnlực chính trị thực sự của mình
Giai cấp tư sản - giai cấp nảy sinh trong lòng chế độ phong kiến, đã thuhút được đông đảo quần chúng lao động làm cách mạng thành công - nền dânchủ tư sản được thiết lập
Sau khi ra đời, nền dân chủ tư sản lấy việc duy trì, củng cố và phát triểnnền kinh tế tư bản chủ nghĩa, đồng thời củng cố nền thống trị về chính trị củagiai cấp tư sản đối với toàn xã hội
Nền dân chủ tư sản dựa trên nhà nước pháp quyền tư sản, áp dụng thuyếthọc “tam quyền phân lập” Song thực chất hệ thống pháp luật trong nhà nước tưbản chỉ là sự thể hiện thành luật pháp, ý chí của giai cấp tư sản cấm quyền, toàn
bộ quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đều nằm trong tay những tập đoàn tưbản lũng đoạn và nhằm phục vụ cho lợi ích của thiểu số tư bản trong dân cư
Giai cấp tư sản tuyên bố quyền bình đẳng của mọi công dân trướcpháp luật, quyền tự do cơ trú, tự do ngôn luận, quyền bầu cử và ứng cửvào các cơ quan quyền lực Nhà nước…Nhưng bằng nhiều quy định khắtkhe, trước hết liên quan tới điều kiện kinh tế, nó tước bỏ hầu hết quyềndân chủ đối với người lao động
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, bằng thắng lợi của cách mạng
vô sản, quyền lực nhà nước tư sản nói riêng, quyền lực chính trị của giai cấp
Trang 5tư sản nói chung sẽ bị thủ tiêu; quyền lực chính trị của nhân dân lao độngđược tổ chức thành quyền lực nhà nước Trong Nhà nước đó, nhân dân dưới
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản có quyền sử dụng sức mạnh của Nhà nước đểthực hiện lợi ích khách quan của mình
Sự ra đời của quyền lực nhà nước của nhân dân lao động là bước nhảyvọt trong lịch sử tiến hoá của quyền lực chính trị, nó đặc điểm bắt đầu cho
sự hình thành một nền dân chủ mới: dân chủ xã hội chủ nghĩa mà nội hàm
cơ bản của nó là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân
Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” (1848), C.Mác và Ph.Ăngghenchỉ rõ: Trong giai đoạn thứ nhất của cuộc cách mạng, công nhân - giai cấp vôsản phải giành lấy dân chủ, phải trở thành giai cấp thống trị Bởi giai cấp côngnhân - nhân dân lao động sẽ không thể tiêu diệt được giai cấp tư sản nếu khônggiành được chính quyền và thiết lập chuyên chính vô sản bằng con đường cáchmạng vô sản; đập tan nhà nước tư sản, xây dựng nhà nước mới: Mục đích trướcmắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các Đảng
vô sản khác: Tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị củagiai cấp tư sản, giai cấp tư sản giành lấy chính quyền
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng sâu sắc nhất và triệt đểnhất trong lịch sử Do vậy, quyền chính trị ngày càng có ý nghĩa đặc biệt quantrọng cả trong việc xác lập chính quyền cách mạng cũng như quá trình dân chủhoá tổ chức và hoạt động của Nhà nước kiểu mới
Quyền lực chính trị thực sự chỉ có được thực hiện trong chế độ dân chủ,không thể thực hiện trong chế độ chuyên quyền độc đoán về chính trị Chế độdân chủ, theo Mác là chế độ: Do dân tự quy định, nhân dân tự hình thành Nhànước và Pháp luật và là hình thức Nhà nước trong đó nhân dân được tham giamột cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi vào quản lý công việc của Nà nước vàcủa xã hội
V.I Lênin tiếp tục phát triển lý luận của C.Mác - Ph Ăngghen trong thờiđại đế quốc chủ nghĩa Từ những buổi đầu của sự nghiệp lãnh đạo cách mạng,Lênin đã coi việc nhân dân giành lấy dân chủ, giành lấy quyền lực chính trị làmục tiêu đầu tiên của cuộc cách mạng ở Nga Người cho rằng: đấu tranh giànhlấy quyền lực chính trị về tay nhân dân lao động và đấu tranh cho chủ nghĩa xãhội là thống nhất trong cách mạng của giai cấp vô sản Nếu tưởng rằng cuộc đấu
Trang 6tranh vì dân chỉ có thể làm cho giai cấp vô sản xa rời cách mạng xã hội chủnghĩa hoặc có thể che lấp, làm lu mờ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa… thì chủnghĩa xã hội thắng lợi mà lại không thực hiện dân chủ hoàn toàn, giai cấp vô sảncũng không thể nào chuẩn bị để chiến thắng giai cấp tư sản được nếu không tiếnhành một cuộc đấu tranh toàn diện, triệt để và cách mạng để giành dân chủ.
Về sau, tư tưởng dân chỉ được Lênin mở ra phạm vi rộng lớn cho sự pháttriển các quyền chính trị Người coi: sự tham gia của những người lao động vàochính quyền như là mục đích của chính quyền Xô viết và việc thu hút được mọingười lao động tham gia quản lý Nhà nước là một trong những ưu thế quyết địnhcủa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa… vì rằng, một thiểu số người, tức là Đàngkhông thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội
Như vậy, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học đã đề cập đếnquyền lực chính trị của nhân dân lao động trên rất nhiều phương diện khác nhau,
nó liên quan mật thiết đến toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của giai cấp
vô sản cũng như cuộc đấu tranh để giải phóng nhân loại vì sự tiến bộ của xã hội
2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực chính trị.
Được soi sáng bởi học thuyết cách mạng và khoa học của chủ nghĩaMác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã cảm nhận được tính quy luậtphát triển của lịch sử và thắng lợi tất yếu của cách mạng vô sản Năm 1923,trong tác phẩm “Đường Kách Mệnh”, Người viết: Trong thế giới bây giờ chỉ
có kách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dânchúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do,bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa khoe khoang bên An Nam! Káchmệnh Nga dạy cho chúng ta rằng: muốn kách mệnh thành công thì phải lấydân chúng làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phảithống nhất
Để đưa sự nghiệp cách mạng nước ta giành thắng lợi, điều Người quantâm đầu tiên là xác lập vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua việcthành lập một chính đảng mác - xít Người tiếp thu và truyền bá chủ nghĩaMác - Lênin, kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, sánglập ra Đảng cộng sản Việt Nam Người tập hợp lực lượng cách mạng trongnước, tranh thủ sự ủng hộ của bè bạn quốc tế, lãnh đạo Cách mạng Tháng
Trang 7Tám (1945) thành công, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - Nhànước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
Ngay sau khi đọc “Tuyên ngôn độc lập”, ngày 3 tháng 9 năm 1945, tạiphiên họp đầu tiên của Hội Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu 6 nhiệm
vụ quan trọng; trong đó, có nhiệm vụ xây dựng Hiến pháp và tổng tuyển cửbầu Quốc hội của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Người viết: Do tổngtuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội, Quốc hội cử ra Chính phủ, Chính phủ
đó thật sự là Chính phủ của toàn dân
Từ truyền thống chính trị “lấy dân làm gốc” của dân tộc, kết hợp với tưtưởng tiến bộ nhất của nền dân chủ hiện đại, đã nên cái đặc sắc trong tư tưởng
Hồ Chí Minh; quyền chính trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh được nâng lên mộttầm cao mới, phù hợp với quy luật phát triển…
3 Quan điểm của Đảng ta về quyền lực chính trị.
Từ khi Đảng ta ra đời đến nay, Đảng ta luôn thấm nhuần tư tưởng củaNgười: Mọi lực lượng đều ở nơi dân, mọi quyền hạn đều của dân, mọi thắnglợi đều bắt nguồn từ nhân dân Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do dân
và vì nhân dân
Để giữ vững và củng cố quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, Đảng tachỉ rõ: Thiết lập quyền lực của nhân dân lao động lấy liên minh công nông làmnòng cốt và do giai cấp công nhân lãnh đạo… bảo đảm cho nhân dân lao độngthật sự làm chủ xã hội hiểu rõ và biết sử dụng quyền lực chính trị của mình
Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước - thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, vấn đề giữ vững quyền lực chính trịthống trị của giai cấp công nhân luôn luôn là vấn đề quan tâm đặc biệt củaĐảng, toàn dân ta Bởi vì các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu hòng cướpchính quyền nhân dân, đúng như Lênin đã từng cảnh cáo: giành chính quyền
đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn nhiều
Đảng cộng sản Việt Nam luôn quán triệt quan điểm: Xây dựng Nhànước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấyliên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làmnền tảng do Đảng cộng sản lãnh đạo Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ củanhân dân giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâmphạm đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân
Trang 8Như vậy, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xãhội chủ nghĩa vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của nhân dân Là một quá trìnhnhân dân đứng lên làm chủ, thực hiện hoài bão của nhân dân, mục tiêu lýtưởng của Đảng Quyền làm chủ của nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là độnglực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng.
II CƠ CHẾ THỰC THI QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ CỦA NHÂN DÂN LAO ĐỘNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
1 Hệ thống chính trị - cơ chế chủ yếu bảo đảm quyền lực chính trị của nhân dân lao động ở nước ta hiện nay.
Hệ thống chính trị là một phạm trù dùng để chỉ một chỉnh thể các đảngphái, các đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội tồn tại trong khuôn khổ củapháp luật với một nhà nước thuộc giai cấp cầm quyền để tác động vào các quátrình kinh tế - xã hội nhằm duy trì và phát triển chế độ xã hội đó
Trong thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay, cấu trúc hệ thống chính trịbao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội kháccủa nhân dân
Cơ chế vận hành của hệ thống chính trị nhằm đảm bảo quyền lực chínhtrị của nhân dân lao động ở nước ta hiện nay là: Đảng lãnh đạo, Nhà nướcquản lý, nhân dân làm chủ
1.1 Đảng lãnh đạo:
Đảng là người lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phậncủa hệ thống ấy Trên cơ sở ý chí và nguyện vọng của nhân dân lao động,Đảng đề ra cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách lớn định hướng cho
sự phát triển của Nhà nước và của toàn xã hội trong từng thời kỳ nhất định.Cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng phải là linh hồn của Hiến pháp
và Pháp luật Khi cương lĩnh, đường lối của Đảng được thể chế hoá thànhHiến pháp và pháp luật Nhà nước để quản lý xã hội, vai trò lãnh đạo củaĐảng không còn dừng lại ở học thuyết, mà biến thành một công cuộc xâydựng cụ thể, theo Lênin đó là thời kỳ lịch sử mà lý luận biến thành thực tiễn
Đảng phát hiện, bồi dưỡng, lựa chọn cán bộ để bố trí vào máy Đảng,đồng thời giới thiệu với các cơ quan Nhà nước những cán bộ có phẩm chất vànăng lực để họ lựa chọn
Trang 9Đảng kiểm tra mọi hoạt động của các cơ quan Nhà nước trong việcthực hiện đường lối, chủ trương của Đảng.
Đảng lãnh đạo xây dựng các nhân tố trong hệ thống chính trị sao chotừng phân tố phải mạnh và sự liên kết các nhân tố phải hợp lý, khoa học
Đảng giáo dục, tổ chức cho đảng viên nêu cao tiên phong, tuyên truyền,giáo dục, thuyết phục để quần chúng nhân dân thấy rõ tính đúng đắn trong cácquyết định chính trị của Đảng để các tầng lớp nhân dân tự giác thực hiện chủtrương, chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà nước
- Tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế, xã hội theo đúng pháp luật,giữ vững kỷ cương Nhà nước, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
- Xây dựng và phát huy dân chủ xã hội, bảo đảm và tạo điều kiện thuậnlợi cho công dân tham gia quản lý công việc Nhà nước và xã hội; đảm bảothực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân theo luật định; nghiêm trị nhữnghành vi tham nhũng, vi phạm quyền làm chủ của công dân
Thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động thông qua Nhànước là một khâu hết sức quan trọng Bởi suy cho cùng, quyền lực chính trịcủa nhân dân lao động nước ta được hợp pháp hoá bằng Nhà nước và Nhànước là công cụ hữu hiệu để thực hiện quyền lực của nhân dân Nhà nước cósức mạnh tổ chức vật chất, sức mạnh cưỡng chế, có đầy đủ phương tiện vậtchất để bảo đảm thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân
Quyền lực chính trị của nhân dân lao động được thực hiện thông qua Nhànước, bằng Nhà nước, nhưng cũng chính nhà nước lại mang những yếu tố có thểhạn chế quyền lực của nhân dân Đó là căn bệnh cố hữu: chủ nghĩa quan liêu của
Trang 10Nhà nước làm cho Nhà nước xa rời dân, ngày càng bớt đi sự kiểm soát của dân,biến những cán bộ Nhà nước vốn là “đầy tớ của dân” thành những ông “quancách mạng” quay lại sách nhiễu dân Bệnh quan liêu dường như là khả năngphản ánh tiềm ẩn trong cái lôgic nội tại của bộ máy Nhà nước và dường như cảbên ngoài ý chí, phẩm chất cá nhân trong con người của bộ máy.
1.3 Nhân dân làm chủ:
Nhân dân làm chủ có nghĩa là nhân dân có điều kiện bảo đảm đượctham gia vào các công việc quản lý Nhà nước Hay nói một cách đầy đủ hơn,nhân dân làm chủ phải trên hai phương diện:
Một là, nhân dân có điều kiện tham gia vào lĩnh vực chính trị mà chủyếu tham gia vào các hoạt động của hệ thống chính trị
Hai là, hệ thống chính trị phải thể hiện là tổ chức của dân, do dân
và vì dân
Mặt khác, nhân dân còn làm chủ thông qua các tổ chức chính trị
xã hội Đây là một hình thức chuyển tiếp, phù hợp với điều kiện lịch sử trình độ giác ngộ, tập quán, truyền thống của dân tộc Việt Nam
-Thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, lợi ích chung của toàn xãhội, của cộng đồng, của cá nhân và tập thể được kết hợp hài hoà, làmtiền đề cho mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, củng cố mối quan hệ máuthịt giữa Đảng với nhân dân, thu hút ngày càng đông đảo nhân dân thamgia vào quản lý xã hội, quản lý Nhà nước Các tổ chức chính trị - xã hộilàm cho bộ máy Nhà nước của dân trở nên “mềm dẻo” và năng độnghơn, sức mạnh, khả năng và hiệu lực quản lý bộ máy được tăng cường.Việc tổ chức chính trị - xã hội tham gia quản lý Nhà nước và xã hội làm
đa dạng thêm các biện pháp thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân,tạo điều kiện cho họ làm quen với những sinh hoạt dân của nhân dân,nhằm phát huy cao độ sức sáng tạo và sự đoàn kết cộng đồng
Như vậy, Đảng ta là Đảng cầm quyền, còn nhân dân là người nắmchính quyền, làm chủ xã hội Dân phải có Đảng để lãnh đạo, để chỉ lốiđưa đường, dân cũng là “nước” đối với Đảng, Mục tiêu phấn đấu, lýtưởng của Đảng không phải cho chính mình và cũng không chỉ vì giaicấp công nhân mà vì hạnh phúc, tự do của toàn thể nhân dân Sự lãnhđạo của Đảng
2 Dân chủ trực tiếp – một phương thức mới để thực thi quyền lực chính trị của nhân dân lao động ở nước ta hiện nay.
Trang 11Trong xã hội phong kiến Việt Nam, dân chủ chỉ đạt được biểu hiệndưới hình thức dân chủ láng xóm (sinh hoạt xóm, làng) nhưng trên thực tếsinh hoạt này chỉ mang ý nghĩa là tập trung dân chủ, nghe ý kiến dân cơ, thônxóm, góp ý kiến chứ thực sự tôn trọng quyền được quyền làm chủ của dântrong sinh hoạt.
Phát huy quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân trong công cuộc xâydựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa là điều kiện không thể thiếu trongphát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với sự trường tồn và phát triển củađất nước
Dân chủ trực tiếp có các đặc trưng sau:
- Người dân trực tiếp (thực quyền) tham gia hoặc không tham gia bỏ láphiếu bầu chọn người thay mình (uỷ quyền) vào các cơ quan đại diện, cơquan Nhà nước, tổ chức của mình sinh hoạt để gánh vác những công việcchung cho nhân dân uỷ quyền để thực hiện
- Được đến gặp trực tiếp, trao đổi trực tiếp với các cơ quan, các cá nhânthừa hành nhiệm vụ hoặc có đơn thư trao đổi gửi đến cơ quan, cá nhân đó đểđược trả lời trực tiếp những vấn đề mà người dân có đơn, thư
- Được sinh hoạt tập thể theo hệ thống tổ chức, được quyền chất vấn,phát biểu về xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, giám sát, kiểm tra cácchương trình hoạt động, các chính sách liên quan trực tiếp đến người dân
- Người dân được quyền trực tiếp chất vấn các cơ quan, nhân viên thừahành thực hiện nhiệm vụ được giao phó (uỷ quyền) đồng thời được quyền góp
ý, phê bình và đề nghị cấp có thẩm quyền miễn nhiệm, bãi chức những nhânviên làm vi phạm đến lợi ích của dân, vi phạm pháp luật
- Quyết định những vấn đề liên quan quyền lợi, cuộc sống thông quabàn bạc dân chủ không trái với những quy định của pháp luật
Dân chủ trực tiếp được thực hiện thực sự khi có được luật hoá Chỉ cóluật hoá mới bảo đảm được tính thực thi của dân chủ trực tiếp với tự do cánhân Dân chủ là thể hiện quyền lực của mình trong khuôn khổ pháp luật
Thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của dân chính là phát huy được sứcmạnh của dân tham gia tổ chức, quản lý và hoạt động đối với chế độ mới.Lênin từng chỉ rõ: Đối với chúng ta một sức mạnh là nhờ ở sự giác ngộ củaquần chúng, nước mạnh khi nào quần chúng biết rõ…tất cả mọi cái, quầnchúng có thể phán đoán được về mọi cái, quần chúng có thể phán đoán được
về mọi cái Tư tưởng dân chủ trực tiếp còn được thể hiện rất rõ trong phong
Trang 12cách Hồ Chí Minh Chính phủ ban hành sẽ góp phần thiết thực tốt phươngthực dân chủ trực tiếp.
Công cuộc cách mạng mà nhân dân ta đang tiến hành là nhằm tiếp tục
sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá vì mục tiêu: dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, vững bước đi lên chủnghĩa xã hội Nhiệm vụ và mục tiêu cách mạng đó chỉ có thể hoàn thành khichúng ta đồng thời phải tăng cường quyền lực chính trị của nhân dân lao động
ở nước ta hiện nay trên mọi phương diện Bởi vì:
- Nhân dân lao động nước ta giành lại quyền thống trị xã hội từ tay đếquốc, phong kiến Quyền lực đó là kết quả tất yếu của quá trình lịch sử dựngnước và giữ nước từ hàng ngàn năm của dân tộc, là thành quả trực tiếp củaCách mạng tháng Tám do nhân dân ta tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng vàChủ tịch Hồ Chí Minh Sử dụng có hiệu quả quyền lực chính trị của mình,nhân dân lao động nước ta đã tiến hành hai cuộc kháng chiến chống Pháp vàchống Mỹ thắng lợi, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Khác với thời kỳchiến tranh trước đây, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay,quyền lực của nhân dân lao động phải có sự biến đổi về chất cho phù hợp vớitình hình mới Trong thời kỳ chiến tranh, quyền lực chính trị hướng sức mạnhvào đánh đuổi kẻ thù là chủ yếu; trong thời kỳ này phải tập trung sức cho xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Để làm được điều đó, đòi hỏi tất yếu quyền lựcchính trị phải không ngừng đổi mới, tăng cường và hoàn thiện
- Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự phát triển của lựclượng sản xuất đòi hỏi phải có sự định hướng của một quan điểm chính trịđúng đắn và một quyền lực chính trị đủ mạnh Công cuộc đổi mới kinh tế hiệnnay càng cần phải có sự định hướng chính trị đúng đắn.Thiếu quan điểmchính trị trong quá trình phát triển kinh tế rất có thể kinh tế tăng trưởng ở tốc
độ cao nhưng quyền lực chính trị của nhân dân lao động không được đảmbảo Nếu quan điểm chính trị đúng sẽ góp phần hình thành một nền kinh tế có
cơ cấu hợp lý và các kiểu quan hệ sản xuất phù hợp với điều kiện lịch sửđương thời, góp phần to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế, giải phóng sức sảnxuất, lành mạnh hoá các cơ quan hệ xã hội – kinh tế Ngược lại, chính trị vàquyền lực chính trị sẽ biến thành lực cản đối với sự phát triển kinh tế trên mọiphương diện Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá việcphát huy sức mạnh toàn dân trên mọi lĩnh vực, đặc biệt trên lĩnh chính trị vôcùng cấp thiết và cấp bách
Trang 13- Tính thống nhất của nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự thống nhất của
hệ thống chính trị Bất cứ nước nào cũng có tình trạng kinh tế phát triểnkhông đều giữa các vùng, các lĩnh vực; nhưng bên cạnh đó vẫn còn có nhữngquá trình thống nhất bên trong của nó: kinh tế thị trường phát triển nên sựthống nhất của nền kinh tế, trong điều kiện đó, hệ thống chính trị phải đượcxây dựng tập trung, thống nhất, vừa tập trung quyền lực cho Trung ương vừaphân công hợp lý cho địa phương Mọi sự phân cấp, không phải là chia cắt màchỉ là biện pháp tăng tính thống nhất và tăng sức mạnh của hệ thống chính trị.Các thế lực phản động thường lợi dụng vào sự phát triển không đều bên ngoàicủa nền kinh tế để kích động, xúi giục phân chia quyền lực, phân tán cát cứ
- Do yêu cầu của cách mạng hiện nay đòi hỏi ngay trong kết cấu quyềnlực chính trị của nhân dân lao động có sự đổi mới, hoàn thiện cho phù hợp,nhất là phân định chức năng nhiệm vụ, mối quan hệ giữa các thành tố trong
hệ thống chính trị Ngoài hình thức dân chủ gián tiếp là chủ yếu, thực tế đòihỏi quyền lực chính trị của nhân dân lao động phải được thực hiện qua mộtphương thức mới - đó là phương thức dân chủ trực tiếp
- Bên cạnh những thời cơ và thuận lợi, công cuộc đổi mới của chúng tacòn gặp phải những thách thức và trở lực lớn Đó là: mặt trái của cơ chế thịtrường, bệnh quan liêu, tham nhũng trong hệ thống chính trị, âm mưu “diễn biếnhoà bình” của các thế lực thù địch… Nếu không tăng cường quyền lực chính trịcủa nhân dân lao động trên mọi phương diện thì khó khắc phục được những lựccản và khó làm thất bại những âm mưu chống phá chế độ của kẻ thù
III THỰC TRẠNG VIỆC THỰC THI QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ CỦA NHÂN DÂN LAO ĐỘNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
1 Những thành tựu:
1.1 Về Đảng.
Để nâng cao hiệu quả lãnh đạo của mình nhằm phát huy mạnh mẽquyền lực chính trị của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam ý thức rõ rằng:điều tiên quyết phải tự đổi mới cả về nội dung lãnh đạo; về công tác cán bộ;
về tổ chức, phương thức hoạt động…
Sau khi đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước tại Đại hội VI,Trung ương Đảng và Chính phủ đã cụ thể hoá, thể chế hoá đường lối trênnhiều vấn đề quan trọng như: trao quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh chocác đơn vị kinh tế quốc doanh; thu hút vốn đầu tư nước ngoài; đổi mới quản
lý kinh tế nông nghiệp…
Trang 14Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991) đã thôngqua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội và chiến lược ổn định, phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 Đó lànhững bước phát triển quan trọng đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra cả
về tư duy lý luận cũng như năng lực nắm bắt thực tiễn, từ đó xác định đúngđắn mục tiêu, bước đi và giải pháp có ý nghĩa chiến lược phù hợp với tìnhhình quốc tế
Mười năm qua (1991 – 2000) thực hiện Cưng lĩnh và chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội, Đảng và nhân dân ta đã và đang thực hiện có kếtquả nhiều mục tiêu đề ra, từng bước hiện thực hoá những đặc trưng của xãhội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta phấn đấu xây dựng Các Hội nghịTrung ương khoá VII và khoá VIII đã tập trung trí tuệ lãnh đạo, chỉ đạothực hiện nhiều vấn đề lớn đặt ra đối với sự nghiệp đổi mới và phát triểncủa đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa
Đảng lãnh đạo quá trình xây dựng và phát huy vai trò tổ chức quản lýcủa Nhà nước xã hội chủ nghĩa và công tác vận động quần chúng củaĐảng Nhà nước và cả hệ thống chính trị Nhiệm vụ xây dựng và kiện toànNhà nước trong sự nghiệp đổi mới được Đảng đặc biệt coi trọng Quốc hộikhoá VIII (1987), khoá IX (1992) và khoá X (1997) tập trung nhiều trí tuệcho việc xây dựng hệ thống pháp luật, bảo đảm cho nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước Bộ máy hành chính từ Chính phủ đến chính quyền các cấp được tăngcường, phát huy, hiệu lực quản lý điều hành và gắn liền với cải cách nềnhành chính Cơ quan tư pháp cũng được củng cố tăng cường nhằm giữnguyên kỷ cương, phép nước Đảng ta đã nêu rõ quan điểm về xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân do ĐảngCộng sản lãnh đạo; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng,củng cố nhà nước trong sạch, vững mạnh, chống quan liêu, tham nhũng.Quyền lực của Nhà nước là thống nhất những có sự phân công rành mạchgiữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, tăng cường pháp chế xãhội chủ nghĩa
Sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới thể hiện ở chủ trươngtăng cường công tác vận động quần chúng nhân dân nhận thức rõ sự nghiệp