1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần tập đoàn Đông Thiên Phú

83 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần tập đoàn Đông Thiên PhúKhóa luận tốt nghiệp tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn Đông Thiên Phú Khóa luận tốt nghiệp tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn Đông Thiên Phú Khóa luận tốt nghiệp tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn Đông Thiên Phú

Trang 1

.BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn Cô Th.S Vương Thị Thanh Trì đã tận tình hướng dẫn,

giúp đỡ và truyền đạt nhiều ý kiến quý báu để giúp em hoàn thành khóa luận này

Em xin có lời cảm ơn chân thành nhất đến Quý Thầy, Cô trường Đại học Thăng

Long đã truyền đạt nhiều kiến thức rất giá trị của các môn cơ sở trong suốt khóa học,

đó là kiến thức nền tảng giúp em rất nhiều trong quá trình nghiên cứu khóa luận

Em xin chân thành cám ơn Ban Giám đốc công ty, Trưởng các phòng ban chuyên

môn và các cô chú, anh chị tại công ty cổ phần tập đoàn Đông Thiên Phú đã tạo điều

kiện thuận lợi giúp em nghiên cứu, thu thập số liệu và truyền đạt những kinh nghiệm

thực tế tại đơn vị để hoàn thành tốt khóa luận này

Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2015

Sinh viên TỐNG KHÁNH LY

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng

Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

SINH VIÊN Tống Khánh Ly

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, HÌNH ẢNH

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH, NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH

CỦA CÁC DN 1

1.1 Một số vấn đề cơ bản về cạnh tranh 1

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 1

1.1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh 1

1.1.1.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 2

1.1.2 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế 4

1.1.2.1 Tích cực 4

1.1.2.2 Hạn chế 5

1.2 Các loại hình cạnh tranh 6

1.2.1 Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường 6

1.2.1.1 Cạnh tranh giữa người mua và người bán 6

1.2.1.2 Cạnh tranh giữa người mua với nhau 6

1.2.1.3 Cạnh tranh giữa người bán với nhau 6

1.2.2 Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế 6

1.2.2.1 Cạnh tranh trong nội bộ ngành 6

1.2.2.2 Cạnh tranh giữa các ngành 7

1.2.3 Căn cứ vào mức độ cạnh tranh 7

1.2.3.1 Cạnh tranh hoàn hảo 7

1.2.3.2 Cạnh tranh không hoàn hảo 7

1.2.3.3 Cạnh tranh độc quyền 7

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DN 7

1.3.1 Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DN 8

1.3.1.1 Các yếu tố môi trường ngành 8

1.3.1.2 Các yếu tố khách quan trong môi trường kinh tế quốc dân 9

1.3.2 Các nhân tố nội bộ DN ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DN 10

1.3.2.1 Hệ thống cơ sở vật chất 10

Trang 6

1.3.2.2 Khả năng tài chính của DN 11

1.3.2.3 Nguồn nhân lực 12

1.3.2.4 Khả năng liên doanh liên kết của DN 13

1.3.2.5 Năng lực marketing 13

1.3.2.6 Năng lực tổ chức bộ máy quản lý và trình độ lao động 14

1.3.3 Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của M.Porter 15

1.3.3.1 Sự cạnh tranh giữa các DN trong ngành 15

1.3.3.2 Quyền lực thương lượng của nhà cung ứng 16

1.3.3.3 Nguy cơ đe dọa từ những người mới vào cuộc 17

1.3.3.4 Quyền lực thương lượng của người mua 17

1.3.3.5 Nguy cơ đe dọa từ các sản phẩm và dịch vụ thay thế 18

1.4 Các công cụ cạnh tranh chủ yếu của DN 18

1.4.1 Giá cả 18

1.4.2 Chất lượng của sản phẩm 20

1.4.3 Hệ thống kênh phân phối 21

1.4.4 Chất lượng nguồn nhân lực 23

1.4.5 Các công cụ canh tranh khác 24

1.4.5.1 Dịch vụ bán hàng 24

1.4.5.2 Hình thức thanh toán 25

1.4.5.3 Yếu tố thời gian 25

1.4.5.4 Hình ảnh nhãn hiệu và sản phẩm của công ty 26

1.5 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của DN 26

1.5.1 Nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại 27

1.5.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển 27

1.5.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh để thực hiện mục tiêu 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN ĐÔNG THIÊN PHÚ (Tập đoàn Đông Thiên Phú) 29

2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần Tập đoàn Đông Thiên Phú 29

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tập đoàn Đông Thiên Phú 29

2.1.1.1 Giới thiệu chung về Tập đoàn Đông Thiên Phú 29

2.1.1.2 Số liệu cơ bản về vốn 29

2.1.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của Tập đoàn Đông Thiên Phú 29

2.1.2 Phân tích cơ cấu tổ chức và phân tích chức năng bộ máy quản lý của Tập đoàn Đông Thiên Phú 31

2.1.3 Các ngành nghề kinh doanh chính 33

2.1.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty năm 2012 - 2014 35

2.1.4.1 Kết quả doanh thu của Tập đoàn Đông Thiên Phú năm 2012 - 2014 35

Trang 7

2.1.4.2 Kết quả lợi nhuận của Tập đoàn Đông Thiên Phú năm 2012 - 2014 36

2.2 Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Đông Thiên Phú 37 2.2.1 Phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn Đông Thiên Phú 37

2.2.1.1 Đối thủ cạnh tranh 37

2.2.1.2 Khách hàng 39

2.2.1.3 Nhà cung ứng 39

2.2.1.4 Yếu tố kinh tế 40

2.2.1.5 Yếu tố pháp luật - chính trị 41

2.2.1.6 Yếu tố công nghệ 42

2.2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn Đông Thiên Phú 43

2.2.2.1 Thực trạng về thiết bị và công nghệ tại công ty 43

2.2.2.2 Thực trạng năng lực tài chính của công ty 45

2.2.2.3 Thực trạng năng lực làm việc của đội ngũ lao động trong công ty 50

2.2.2.4 Thực trạng năng lực marketing 52

2.2.2.5 Thực trạng trình độ và hệ thống tổ chức quản lý DN 53

2.2.2.6 Thực trạng giá thành và chất lượng công trình của công ty 53

2.3 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần tập đoàn Đông Thiên Phú 54

2.3.1 Các mặt đạt được 54

2.3.2 Các mặt còn hạn chế 54

2.3.3 Nguyên nhân khách quan 56

2.3.4 Nguyên nhân chủ quan 56

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN ĐÔNG THIÊN PHÚ 58

3.1 Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh năm 2015 và mục tiêu đến năm 2020 58

3.1.1 Các quan điểm của lãnh đạo công ty về phát triển 58

3.1.2 Định hướng kinh doanh của công tynăm 2015 và đến năm 2020 59

3.1.2.1 Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh năm 2015 59

3.1.2.1 Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh đến năm 2020 59

3.2 Phương hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty 61

3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn Đông Thiên Phú 62

3.3.1 Phát huy các biện pháp cải tiến kỹ thuật, đầu tư nâng cao năng lực máy móc thiết bị thi công 62

Trang 8

3.3.2 Tăng cường công tác thu hồi vốn và huy động vốn 62

3.3.2.1 Công tác thu hồi vốn 62

3.3.2.2 Công tác huy động 63

3.3.3 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 64

3.3.4 Nâng cao năng lực marketing 65

3.3.5 Hoàn thiện hệ thống và trình độ tổ chức quản lý DN 65

3.3.6 Thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành xây dựng công trình 66

3.4 Kiến nghị với nhà nước về mặt chính sách, pháp luật 67

3.4.1.1 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế của Nhà nước tạo môi trường kinh doanh ổn định 68

3.4.1.2 Đẩy mạnh quá trình cải cách thủ tục hành chính 68

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 9

WTO Tổ chức Thương mại Quốc tế

CPNVL Chi phí nguyên vật liệu

CPNC Chi phí nhân công

CPC Chi phí sản xuất chung

BĐS Bất động sản

CBCNV Cán bộ công nhân viên

CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

GPMB Giải phóng mặt bằng

XDCB Xây dựng cơ bản

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của M.Porter 15

Hình 1.2 Hệ thống kênh phân phối truyền thống 22

Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của Tập đoàn Đông Thiên Phú 31

Biểu đồ 2.1 Doanh thu Tập đoàn Đông Thiên Phú năm 2012 - 2014 35

Biểu đồ 2.2 Lợi nhuận Tập đoàn Đông Thiên Phú năm 2012 - 2014 36

Hình 2.2 Cơ cấu xuất xứ máy móc thiết bị của Công ty cổ phần Tập đoàn Đông Thiên Phú 43

Bảng 2.1 Danh mục thiết bị của công ty tính đến 31/12/2014 44

Bảng 2.2 Bảng cân đối kế toán của ĐTP giai đoạn 2012 - 2014 46

Bảng 2.3 Một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu của công ty từ năm 2012 - 2014 48

Bảng 2.4 Cơ cấu lao động và thu nhập CBCNV qua các năm 50

Bảng 2.5 Cơ cấu lao động theo cấp bậc 50

Bảng 2.6 Cơ cấu lao động theo trình độ 51

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh đóng vai trò vô cùng quan trọng và được coi là động lực của sự phát triển của mỗi DN nói riêng của nền kinh tế nói chung Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần kinh tế, góp phần xóa bỏ những độc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh Kết quả của quá trình cạnh tranh sẽ quyết định DN nào tiếp tục tồn tại và phát triển còn DN nào sẽ bị phá sản và giải thể Do đó, vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của DN đã trở thành một vấn đề quan trọng mà bất cứ DN nào cũng phải quan tâm

Công ty cổ phần Tập đoàn Đông Thiên Phú là một DN hoạt động kinh doanh bất động sản và xây dựng hoàn thiện khá thành công trên thị trường Hà Nội và các tỉnh lân cận Doanh thu và số lượng nhân viên của công ty không ngừng tăng lên theo các năm Tuy nhiên, trên thị trường đang ngày càng xuất hiện nhiều những DN cạnh tranh với DN Đông Thiên Phú Do đó việc nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh là vô cùng cần thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

 Nghiên cứu những vấn đề lý luận về cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trong ngành xây dựng - kinh doanh bất động sản nói riêng

 Đánh giá và phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn Đông Thiên Phú

 Kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn Đông Thiên Phú

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Môi trường kinh doanh của ngành xây dựng - kinh doanh bất động sản Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn Đông Thiên Phú

Phạm vi nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn Đông Thiên Phú giai đoạn 2012 - 2014, đồng thời mô tả thực tế việc cạnh tranh kinh doanh bất động sản trên thị trường nội địa của Công ty cổ phần Tập Đoàn Đông Thiên Phú với các đối thủ cạnh tranh

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, tác giả sử dụng một số phương pháp thống,

kê, so sánh, phân tích trên cơ sở tài liệu:

Trang 12

Phần lý thuyết: Tham khảo các tài liệu thứ cấp (sách, giáo trình, đề tài nghiên cứu…) về lý thuyết cạnh tranh, nâng cao năng lực cạnh tranh v v., để từ đó đúc kết được phần cơ sở lý luận

Phần đánh giá môi trường cạnh tranh dựa vào nguồn thông tin thứ cấp (số liệu, báo cáo của công ty …) và sơ cấp (số liệu, báo cáo của ngành…)

Thông tin thứ cấp gồm các thông tin từ các báo cáo của Công ty cổ phần Tập đoàn Đông Thiên Phú, các tạp chí ngành xây dựng, các nguồn từ tổng cục thống kê, bộ xây dựng và từ internet

5 Kết cấu đề tài

Khóa luận được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và sự cần thiết của nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN

Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn Đông Thiên Phú

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn Đông Thiên Phú

Trang 13

1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH, NĂNG LỰC CẠNH

TRANH VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA NÂNG CAO NĂNG LỰC

CẠNH TRANH CỦA CÁC DN 1.1 Một số vấn đề cơ bản về cạnh tranh

Nền kinh tế thị trường được xem là mô hình kinh tế năng động nhất trong tất cả các mô hình kinh tế, nền kinh tế thị trường mang lại nhiều thành tựu kinh tế góp phần đáng kể cho sự phát triển văn minh nhân loại Kinh tế thị trường vận động dưới sự tác động tổng hợp của các quy luật kinh tế khách quan, trong đó phải nói đến quy luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu, quy luật giá trị Trong đó, quy luật cạnh tranh đòi hỏi các DN phải tự thích nghi với những vận động, biến đổi của nền kinh tế để tồn tại và phát triển Cạnh tranh đã, đang và sẽ là vấn đề được nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm nghiên cứu cả trên phương diện lý luận và trong thực tiễn xã hội, nhằm tìm ra và vận dụng ngày càng hiệu quả quy luật này phục vụ cho sự phát triển của mỗi DN và mỗi quốc gia

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh

1.1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh

Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi DN, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia… điều này chỉ khác nhau

ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô DN hay ở quốc gia mà thôi Trong khi đối với một DN mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân vv

Theo Từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là “Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh

nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”

Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn Kinh tế

học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng: Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các

DN cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường Hai tác giả này cho

cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition)

Ba tác giả Mỹ khác là D.Begg, S Fischer và R Dornbusch cũng cho cạnh tranh

là cạnh tranh hoàn hảo, các tác giả này viết: Một cạnh tranh hoàn hảo, là ngành trong

đó mọi người đều tin rằng hành động của họ không gây ảnh hưởng tới giá cả thị trường, phải có nhiều người bán và nhiều người mua

Trang 14

Cùng quan điểm như trên, R.S Pindyck và D.L Rubinfeld trong cuốn Kinh tế học

vĩ mô cho rằng: Một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, hoàn thiện có rất nhiều người mua và người bán, để cho không có người mua hoặc người bán duy nhất nào có ảnh hưởng có ý nghĩa đối với giá cả

Theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm trong tác phẩm Thị trường, chiến lược, cơ

cấu thì cạnh tranh trong thương trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn đối thủ cạnh tranh [6, tr.118]

Qua các quan điểm khác nhau về cạnh tranh của các tác giả cho thấy có những nhận xét khác nhau về cạnh tranh theo quan điểm của mỗi người nhưng các quan niệm

này đều tụ trung một ý tưởng là: “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh

doanh cùng một loại sản phẩm hàng hóa và cùng tiêu thụ trên một thị trường để đạt được mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận”

Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận này, tác giả sử dụng định nghĩa về cạnh tranh của tác giả Đoàn Hùng Nam bởi nó phù hợp với nội dung nghiên cứu của khóa luận Theo tác giả Đoàn Hùng Nam trong tác phẩm Nâng cao năng lực

cạnh tranh của DN thời hội nhập cho rằng: “Cạnh tranh là một quan hệ kinh tế, tất

yếu phát sinh trong cơ chế thị trường với việc các chủ thể kinh tế ganh đua gay gắt

để giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng để thu được lợi nhuận cao nhất Mục đích cuối cùng trong cuộc cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích đối với DN và đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi”.[5, tr 74]

Tóm lại, có thể hiểu: “Cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các

chủ thể hiện đại trên thị trường với nhau để giành giật những điều kiện sản xuất thuận lợi và nơi tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển”

1.1.1.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh

Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm

1990 Theo Aldington Report (1985): “DN có khả năng cạnh tranh là DN có thể sản

xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của DN và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ DN” Định

nghĩa này cũng được nhắc lại trong “Sách trắng về năng lực cạnh tranh của Vương quốc Anh” (1994) Năm 1998, Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa

“Đối với DN, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng

Trang 15

Hội đồng Chính sách năng lực cạnh tranh của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực

cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới… Ủy

ban Quốc gia về hợp tác kinh tế có trích dẫn khái niệm năng lực cạnh tranh theo Từ

điển Thuật Ngữ chính sách thương mại (1997), theo đó, năng lực cạnh tranh là năng

lực của một DN “không bị DN khác đánh bại về năng lực kinh tế” Quan niệm về năng

lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), năng lực cạnh tranh của

DN là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất

có hiệu quả làm cho các DN phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế

Theo M Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của DN

Tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh của DN là khả

năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của DN, tác giả

Trần Sửu (2005) cũng có ý kiến tương tự: “Năng lực cạnh tranh của DN là khả năng

tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”

Theo tác giả Lê Đăng Doanh trong tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh của

DN thời hội nhập: “Năng lực cạnh tranh của DN được đo bằng khả năng duy trì và

mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho DN trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước” [5, tr 28]

Theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm trong tác phẩm Thị trường, chiến lược, cơ

cấu nêu lên tầm quan trọng của việc gia tăng giá trị nội sinh và ngoại sinh của DN, đây chính là năng lực cạnh tranh mà mỗi DN cố gắng đạt được, là cơ sở để DN thực hiện các chiến lược kinh doanh của mình.[6, tr 22]

Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của DN với năng lực kinh doanh

Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của DN phù hợp, cần lưu ý

những đặc thù khái niệm này như Henricsson và các cộng sự (2004) chỉ ra: đó là tính

Trang 16

đa nghĩa (có nhiều định nghĩa), đa trị (có nhiều cách đo lường), đa cấp (với các cấp

độ khác nhau), phụ thuộc, có tính quan hệ qua lại, tính chất động và là một quá trình

Từ những cách hiểu trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của DN

như sau: Năng lực cạnh tranh của DN là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh

tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng

có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững

Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm DN (ngành)

và từng DN

1.1.2 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế

Trong lịch sử kinh tế thế giới, các nhà nhà kinh tế học đã nghiên cứu và chỉ ra vai trò quan trọng của cạnh tranh Từ thế kỷ 18, nhà kinh tế học cổ điển Anh - Adam Smith với tác phẩm “Của cải của các dân tộc” ông đã chỉ ra vai trò quan trọng của cạnh tranh trong quá trình phát triển kinh tế Ông cho rằng với sức ép của cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác và do đó tạo ra sự cố gắng lớn nhất

Kết quả của sự cố gắng đó là lòng hăng say lao động, sự phân phối các yếu tố sản xuất một cách hợp lý và tăng của cải cho xã hội Hiện nay, cạnh tranh được coi là phương thức hoạt động để tồn tại và phát triển của mỗi DN, nếu không có cạnh tranh thì không có tăng trưỏng và phát triển kinh tế Vai trò cạnh tranh cũng có hai mặt, tích cực và tiêu cực và được thể hiện như sau

1.1.2.1 Tích cực

Đối với nền kinh tế quốc dân

Cạnh tranh làm sống động nền kinh tế, thúc đẩy quá trình lưu thông và các yếu tố sản xuất Thông qua cạnh tranh, các nguồn tài nguyên được phân phối một cách hợp lý hơn, dẫn đến sự điều chỉnh kết cấu ngành, cơ cấu lao động được thực hiện mau chóng

và tối ưu Cạnh tranh là đòn bẩy mạnh mẽ nhất của quá trình luân chuyển vốn, luân chuyển các yếu tố sản xuất, phân phối lại tài nguyên, tập chung sản xuất và tích luỹ tư bản Đồng thời cạnh tranh còn là cơ chế điều tiết việc phân phối lợi nhuận giữa các ngành và trong nền kinh tế, do chịu ảnh hưởng của quy luật bình quân hóa lợi nhuận

Đối với DN kinh doanh

Do động lực tối đa hóa lợi nhuận và áp lực bị phá sản nếu dừng lại, cạnh tranh buộc các chủ thể kinh tế phải không ngừng tăng cường thực lực của mình bằng các biện pháp đầu tư mở rộng sản xuất, đầu tư cho nghiên cứu khoa học, sáng tạo và thường xuyên cải tiến kỹ thuật, công nghệ, tăng năng xuất lao động, tăng chất lượng

Trang 17

5

sản phẩm, giảm chi phí sản xuất Qua đó cạnh tranh nâng cao trình độ mọi mặt của người lao động, nhất là đội ngũ quản trị kinh doanh, đồng thời chọn lọc và đào thải những chủ thể kinh tế không thích nghi được với sự khắc nghiệt của thị trường

Đối với người tiêu dùng

Qua cạnh tranh cho thấy trên thị trường, những hàng hóa nào phù hợp nhất với yêu cầu sử dụng và khả năng thanh toán của người tiêu dùng, bởi cạnh tranh làm cho giá cả có xu hướng ngày càng giảm, lượng hàng hóa được bán trên thị trường ngày càng tăng, chất lượng ngày một tốt hơn, hàng hóa đa dạng phong phú Chính vì vậy cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng Bên cạnh đó cạnh tranh còn đảm bảo rằng cả người sản xuất và người tiêu dùng đều không thể dùng sức mạnh áp đặt ý muốn chủ quan cho người khác Nói cách khác cạnh tranh còn có vai trò là một lực lượng điều tiết thị trường Như vậy, chúng ta thấy cùng với tác động của các quy luật kinh tế khách quan khác, cạnh tranh đã giúp cho các DN trả lời được câu hỏi, đó là: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Và sản xuất như thế nào? một cách thỏa đáng nhất Vận dụng quy luật cạnh tranh Nhà nước và DN có điều kiện hoạch định các chiến lược phát triển một cách khoa học mà vẫn đảm bảo được tính thực tiễn, chủ động hơn trong công tác đối phó với mọi biến động của thị trường

1.1.2.2 Hạn chế

Bên cạnh những tích cực mà quy luật cạnh tranh mang lại, là những tiêu cực, đó

là do chạy theo lợi nhuận nên cạnh tranh có tác dụng không hoàn hảo, nó vừa là động lực tăng trưởng kinh tế vừa bao hàm sức mạnh tàn phá mù quáng Sự đào thải không khoan nhượng những DN kinh doanh không có hiệu quả Tuy rằng sự đào thải đó là phù hợp với quy luật kinh tế khách quan, nhưng nó lại gây ra những hậu quả về kinh tế

xã hội to lớn như nạn thất nghiệp ra tăng, mất ổn định xã hội…

Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà các chủ thể sử dụng mọi biện pháp trong đó có

cả những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh để giành chiến thắng trên thương trưòng như gian lận, quảng cáo lừa gạt khách hàng, tình trạng cá lớn nuốt cá bé, lũng loạn thị trường Như vậy lợi ích người tiêu dùng bị xâm hại và cuối cùng cạnh tranh có

xu hướng dẫn đến độc quyền làm cho nền kinh tế phát triển theo chiều hướng không tốt

Với những đóng góp của cạnh tranh trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, cạnh tranh đã, đang và sẽ luôn là phương thức hoạt động hữu hiệu của nền kinh tế thị trường, DN cần nhận thức được các vai trò quan trọng của nó cũng như những mặt tích cực, tiêu cực của cạnh tranh mang lại để chúng ta vận dụng quy luật này sao cho hiệu quả nhất cho hoạt động của DN

Trang 18

1.2 Các loại hình cạnh tranh

Có nhiều cách phân loại cạnh tranh dựa theo nhiều tiêu thức khác nhau, nhưng ngày nay trong phân tích đánh giá người ta dựa theo các tiêu thức sau: Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường, căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế và căn cứ vào mức độ cạnh tranh

1.2.1 Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường

Dựa vào tiêu thức này, cạnh tranh được chia làm ba loại

1.2.1.1 Cạnh tranh giữa người mua và người bán

Là một cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ - bán đắt Trên thị trường người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, người mua thì ngược lại, họ lại muốn mua hàng hoá với giá thấp nhất có thể Giá cả cuối cùng được chấp nhận là giá

cả thống nhất giữa người bán và người mua sau một quá trình mặc cả với nhau Cạnh tranh giữa người mua và người bán là cạnh tranh phổ biến trên tất cả các thị trường sản phẩm dịch vụ

1.2.1.2 Cạnh tranh giữa người mua với nhau

Là cuộc cạnh tranh dựa trên cơ sở quy luật cung cầu Khi một hàng hóa dịch vụ nào đó mà mức cung cấp nhỏ hơn nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh sẽ trở nên quyết liệt và giá dịch vụ hàng hóa đó sẽ tăng Kết quả cuối cùng là người bán sẽ thu được lợi nhuận cao, còn người mua thì mất thêm một số tiền Đây chính là cuộc cạnh tranh mà những người mua tự làm hại chính mình

1.2.1.3 Cạnh tranh giữa người bán với nhau

Là một cuộc cạnh tranh giữa các DN với nhau, thủ tiêu lẫn nhau để giành khách hàng và thị trường, cuộc cạnh tranh dẫn đến là giá cả giảm xuống và có lợi cho thị trường Trong khi đó đối với những DN khi tham gia thị trường không chịu được sức

ép sẽ phải bỏ thị trường, nhường thị phần của mình cho các DN có sức cạnh tranh mạnh hơn

1.2.2 Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế

Theo tiêu thức này, người ta chia cạnh tranh ra làm hai loại

1.2.2.1 Cạnh tranh trong nội bộ ngành

Là một cuộc cạnh tranh giữa các DN trong cùng một ngành, cùng sản xuất một loại hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch bằng các biện pháp cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất làm cho giá trị hàng hoá cá biệt do DN sản xuất ra nhỏ hơn giá trị xã hội Kết quả cuộc cạnh tranh này làm cho kỹ thuật sản xuất phát triển hơn

Trang 19

7

1.2.2.2 Cạnh tranh giữa các ngành

Là một cuộc cạnh tranh giữa các DN hay đồng minh giữa các doanh nghiệp trong các ngành với nhau nhằm giành giật lợi nhuận cao nhất Trong quá trình này xuất hiện

sự phân bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành khác nhau, kết quả hình thành

tỷ suất lợi nhuận bình quân

1.2.3 Căn cứ vào mức độ cạnh tranh

1.2.3.1 Cạnh tranh hoàn hảo

Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có nhiều người bán và không người nào có ưu thế để cung cấp một số lượng sản phẩm quan trọng mà có thể ảnh hưởng tới giá cả Các sản phẩm làm ra được người mua xem là đồng nhất tức là ít có sự khác nhau về quy cách, chất lượng, mẫu mã Người bán tham gia trên thị trường chỉ có cách thích ứng với gia cả trên thị trường, họ chủ yếu tìm cách giảm chi phí và sản xuất một mức sản phẩm đến mức giới hạn mà tại đó chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên

1.2.3.2 Cạnh tranh không hoàn hảo

Là cuộc cạnh tranh trên thị trường mà phần lớn sản phẩm của họ là không đồng nhất với nhau, mỗi sản phẩm có thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau Mỗi nhãn hiệu đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau mặc dù khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể Người bán có uy tín độc đáo đối với người mua do nhiều lý do khác nhau như khách hàng quen, gây được lòng tin Người bán lôi kéo khách hàng về phía mình bằng nhiều cách: Quảng cáo, cung cấp dịch vụ, tín dụng, ưu đãi trong giá cả đây là loại cạnh tranh rất phổ biến trong giai đoạn hiện nay

1.2.3.3 Cạnh tranh độc quyền

Là cạnh tranh trên thị trường ở đó chỉ có một số người bán sản phẩm thuần nhất hoặc nhiều người bán một loại sản phẩm không độc nhất Họ có thể kiểm soát gần như toàn bộ số lượng sản phẩm hay hàng hoá bán ra trên thị trường Thị trường có sự pha trộn giữa độc quyền và cạnh tranh được gọi là thị trường cạnh tranh độc quyền Điều kiện ra nhập hoặc rút khỏi thị trường cạnh tranh độc quyền có nhiều cản trở: Do vốn đàu tư lớn hay do độc quyền bí quyết công nghệ Trong thị trường này không có cạnh tranh về giá cả mà một số người bán toàn quyền quyết định giá Họ có thể định giá cao hơn hoặc thấp hơn tuỳ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng của sản phẩm, cốt sao cuối cùng

họ thu được lợi nhuận tối đa

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DN

Năng lực cạnh tranh mà DN có được là do sự phấn đấu bền bỉ và lâu dài của DN

Nó là kết quả của rất nhiều hoạt động thực tiễn được thực hiện theo một chiến lược cạnh tranh đã đề ra và phụ thuộc vào nhiều những nhân tố bên trong và bên ngoài DN

Trang 20

1.3.1 Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DN

Nếu các nhân tố bên trong làm ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của

DN thì các nhân tố bên ngoài cũng có tác động không nhỏ đến năng lưc cạnh tranh của

họ, những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các hoạt động cạnh tranh của DN đó là môi trường ngành và môi trường kinh tế quốc dân

1.3.1.1 Các yếu tố môi trường ngành

Đối thủ cạnh tranh

Các DN đang kinh doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhau tạo ra sức

ép trở lại lên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh Mức độ cạnh tranh trên thị trường phụ thuộc vào số lượng các DN hoạt động trong ngành, tốc độ tăng trưởng của ngành, cơ cấu chi phí cố định và mức độ đa dạng hóa sản phẩm Để đề ra chiến lược cạnh tranh hợp lý, DN cần phân tích từng đối thủ cạnh tranh để hiểu được thực lực, khả năng phản kháng, cũng như dự đoán chiến lược kinh doanh của các đối thủ

Khách hàng

Sự tồn tại và phát triển của DN phụ thuộc vào khách hàng, do đó DN cần phải đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của khách hàng, đáp ứng chuỗi giá trị giành cho khách hàng Tuy nhiên khách hàng có thể tạo áp lực lên DN bằng cách ép giá hoặc đòi hỏi chất lượng phục vụ cao hơn Nếu DN nào không đáp ứng được các đòi hỏi quá cao của khách hàng thì DN đó cần phải thương lượng với khách hàng hoặc tìm những khách hàng mới có ít ưu thế hơn

Nhà cung cấp

Không chỉ khách hàng, mà DN luôn phải chịu áp lực từ phía các tổ chức cung ứng thiết bị, nguyên vật liệu, vốn, lực lượng lao động:

Đối với nhà cung cấp vật tư thiết bị

DN cần phải liên hệ cho mình nhiều nhà cung ứng để tránh tình trạng phụ thuộc quá nhiều vào một nhà cung ứng, nếu lệ thuộc quá nhiều vào một nhà cung ứng DN có khả năng bị các tổ chức này gây khó khăn bằng cách tăng giá, giảm chất lượng hàng hóa hoặc dịch vụ đi kèm

Trang 21

9

Đối với nhà cung cấp vốn

Hầu hết các DN đều phải vay vốn để tiến hành các hoạt động kinh doanh Để tránh tình trạng lệ thuộc quá nhiều vào một loại hình huy động vốn nghiệp cần nghiên cứu một cơ cấu vốn hợp lý

Nguồn lao động

Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng để DN phát triển bền vững, chính vì vậy

DN cần có chính sách tuyển dụng và đào tạo hợp lý để thu hút, chủ động nguồn lao động nhất là đội ngũ lao động có trình độ

1.3.1.2 Các yếu tố khách quan trong môi trường kinh tế quốc dân

Môi trường kinh tế quốc dân của mỗi DN bao gồm ba yếu tố: thực trạng nền kinh

tế xã hội, hệ thống pháp luật và bối cảnh chính trị xã hội

Một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao ổn định, thu nhập quốc dân tính trên đầu người cao sẽ tạo điều kiện tăng tích lũy, tăng đầu tư cho sản xuất, thị trường có sức mua lớn tạo môi trường thuận lợi để DN phát triển

Hệ thống pháp luật và các chế độ chính sách của Nhà nước sẽ có tác dụng tạo điều kiện hoặc kìm hãm sự phát triển của các DN Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh cho tất cả các DN Nhà nước thúc đẩy và tăng sức cạnh cho DN thông qua các chính sách như:

Nhà nước ưu tiên đầu tư cho công tác giáo dục, đào tạo nâng cao trình độ cho nguồn nhân lực Hỗ trợ nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật Tạo điều kiện về cơ sở vất chất và các yếu tố đầu vào Thực hiện các chính sách kích cầu để mở rộng và tăng dung lượng thị trường đầu ra cho DN Đồng thời với công cụ chi tiêu Chính phủ, Nhà nước cũng là người mua với nhu cầu đa

dạng

Nhà nước đầu tư quy hoạch và tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ giúp DN có điều kiện chuyên môn hóa sâu từ đó tăng năng lực cạnh tranh Một trong những bộ phận của yếu tố chính trị ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN là hệ thống luật pháp Mức độ ổn định của hành lang pháp lý sẽ tạo điều kiện cho DN phát triển Ngược lại DN sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi phải đối diện với

hệ thống pháp luật không ổn định, chính sách thay đổi, điều đó sẽ làm suy yếu năng lực cạnh tranh Nhà nước cần xây dựng khuôn khổ pháp luật đồng bộ, phù hợp các nguyên tắc kinh doanh thương mại quốc tế, đảm bảo cho sự cạnh tranh công bằng, bình dẳng Những chính sách đó phải giữ đúng vai trò là môi trường kinh doanh lành mạnh, tránh can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh, giảm tính tự chủ của DN Luật

Trang 22

“Chống độc quyền” của Mỹ, đạo luật về “Độc quyền và Hợp nhất” ở Anh đều nhấn mạnh khía cạnh quan trọng là đảm bảo cạnh tranh công bằng giữa các DN

Yếu tố thứ ba của môi trường vĩ mô là các yếu tố chính trị xã hội Một quốc gia

có nền chính trị ổn định sẽ giúp DN phát triển thuận lợi, các nhà đầu tư trong và ngoài nước tin tưởng, yên tâm đầu tư cho sản xuất kinh doanh Các nhân tố về xã hội như bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, mức sống, dân số, quyết định thái độ tiêu dùng

và khả năng thanh toán của khách hàng mục tiêu Khoảng cách giàu nghèo, trình độ dân số là một trong những tác động đến trình độ văn hóa và chất lượng nguồn nhân lực

Tóm lại, bằng các hoạt động và chính sách Nhà nước có thể tạo điều kiện thuận

lợi cũng có thể tạo ra những rào cản, khó khăn cho các hoạt động cạnh tranh của DN

1.3.2 Các nhân tố nội bộ DN ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DN

1.3.2.1 Hệ thống cơ sở vật chất

Công nghệ kỹ thuật và máy móc thiết bị là một bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong tài sản cố định, nó là những cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu quyết định năng lực sản xuất của DN, là nhân tố đảm bảo năng lực cạnh tranh Nếu công nghệ kỹ thuật, máy móc thiết bị lạc hậu, trình độ thấp kém sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phẩm làm tăng các chi phí sản xuất, sản phẩm của DN sẽ không đạt các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh môi trường, chất lượng sản phẩm sẽ không đồng đều, kém tính thống nhất, do vậy sẽ rất khó khăn trong cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trong nước và hàng ngoại nhập, DN sẽ phải thua ngay trên sân nhà, sản phẩm không thể xuất khẩu, tham gia vào thị trường khu vực và thế giới

Để đánh giá về năng lực công nghệ kỹ thuật, máy móc thiết bị có thể dựa vào một số đặc tính như sau:

 Tính hiện đại của công nghệ kỹ thuật: Biểu hiện ở các thông số như hãng sản xuất, năm sản xuất, công nghệ thiết kế, giá trị còn lại của thiết bị

 Tính đồng bộ: Thiết bị đồng bộ là điều kiện đảm bảo sự phù hợp giữa công nghệ, thiết bị với phương pháp sản xuất, với chất lượng và độ phức tạp của sản phẩm

do công nghệ đó sản xuất ra

 Tính hiệu quả: Thể hiện trình độ sử dụng máy móc thiết bị công nghệ sẵn có

để phục vụ chiến lược cạnh tranh của DN

 Tính đổi mới: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh luôn có nhiều biến động, máy móc thiết bị công nghệ phải thích ứng được với yêu cầu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của từng giai đoạn, từng phương án sản xuất kinh doanh, nếu máy móc thiết bị

Trang 23

Vậy có thể khẳng định một DN với hệ thống công nghệ kỹ thuật, máy móc thiết

bị tiến tiến hiện đại, cộng với khả năng quản lý tốt sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ và đảm bảo được lợi thế cạnh tranh cho DN trên thị trường

1.3.2.2 Khả năng tài chính của DN

Trong một DN, nguồn lực tài chính là vấn đề không thể không nhắc đến bởi nó đóng vai trò đặc biệt quan trọng và nó quyết định đến chiến lược cạnh tranh của DN Trước hết, nguồn lực tài chính của DN được thể hiện ở quy mô vốn tự có, khả năng huy động các nguồn vốn khác phục vụ sản xuất kinh doanh và sử dụng các nguồn vốn

đó một cách có hiệu quả Quy mô vốn tự có phụ thuộc vào tiền vốn đóng góp ban đầu

và quá trình tích lũy hàng năm của DN Nếu DN hoạt động có hiệu quả, lợi nhuận hàng năm cao, phần lợi nhuận để lại tái đầu tư cho sản xuất kinh doanh sẽ lớn và quy

mô sẽ tăng DN có quy mô vốn tự có lớn cho thấy khả năng tự chủ về tài chính và chiếm được lòng tin của nhà cung cấp, nhà đầu tư và khách hàng DN nên có kế hoạch tăng vốn tự có lên một mức nhất định đủ để đảm bảo khả năng thanh toán nhưng vẫn

đủ kích thích để DN tận dụng đòn bẩy tài chính khi cần thiết nhằm làm tăng lợi nhuận Trong sản xuất kinh doanh, để đáp ứng các yêu cầu về đồng vốn, DN có thể huy động vốn từ rất nhiều nguồn, chiếm dụng tạm thời của các nhà cung cấp, hoặc khách hàng, vay các tổ chức tài chính hoặc huy động vốn trên thị trường chứng khoán Khả năng huy động vốn của DN phụ thuộc vào chỉ số tín nhiệm, niềm tin, mối quan hệ của

DN với các bên cung ứng vốn và sự phát triển của thị trường tài chính Nếu thị trường tài chính phát triển mạnh, tạo được nhiều kênh huy động với những công cụ phong phú

sẽ mở ra nhiều cơ hội đầu tư phát triển cho DN Lựa chọn phương thức huy động vốn hợp lý hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho DN tăng cường sức mạnh tài chính để thực hiện chiến lược cạnh tranh

Bên cạnh đó, để đánh giá năng lực tài chính của một DN cũng cần xem xét kết cấu vốn cố định và vốn lưu động của DN Nếu kết cấu vốn hợp lý sẽ có tác dụng đòn

Trang 24

bẩy góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Có những DN có quy mô vốn lớn nhưng vẫn không mạnh, đó là do kết cấu tài sản và nguồn vốn không phù hợp với quy mô và đặc điểm sản xuất kinh doanh, DN đó chưa biết cách khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của mình Ngược lại, có những DN có quy mô vốn không lớn nhưng vẫn được coi là mạnh vì DN đó đã duy trì được tình trạng tài chính tốt, biết cách huy động được những nguồn tài chính thích hợp để sản xuất ra những sản phẩm

có chất lượng đáp ứng nhu cầu của thị trường mục tiêu Một DN có tiềm lực tài chính mạnh sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc đầu tư đổi mới công nghệ, mua sắm trang thiết bị, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, do vậy sẽ giữ vững và nâng cao được sức cạnh tranh và củng cố vị thế của DN trên thị trường

1.3.2.3 Nguồn nhân lực

Trong sản xuất kinh doanh yếu tố con người là vô cùng quan trọng đối với hoạt động của mỗi DN, để quản lý tốt các hoạt động sản xuất kinh doanh trước hết phải làm tốt công tác về quản lý nguồn nhân lực Nguồn nhân lực không đảm bảo về số lượng

và chất lượng là nguyên nhân dẫn đến làm giảm sút năng suất và chất lượng sản phẩm Nếu làm tốt công tác quản lý nguồn nhân lực là con đường dẫn tới thành công của các

DN bởi quản lý nguồn nhân lực giúp DN khai thác được mọi tiềm năng của người lao động đóng góp vào sự tồn tại và phát triển của DN đó, sử dụng chi phí tiền lương một cách hiệu quả nhất, ngăn chặn mọi sự di chuyển lao động ra khỏi DN làm ảnh hưởng đến hoạt động của bộ máy

Nguồn nhân lực của DN cần đáp ứng được các yêu cầu về chuyên môn, nghiệp

vụ, trình độ đối với từng vị trí làm việc

Trong đó, yêu cầu đối với đội ngũ lãnh đạo và quản trị viên các cấp không chỉ cần giỏi về trình độ chuyên môn nghiệp vụ mà còn phải có khả năng sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, sự nhanh nhẹn, linh hoạt trong thu thập và xử lý thông tin, sáng suốt

dự báo và ứng phó với các biến động của thị trường Chất lượng nguồn nhân lực của

DN ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh của

DN đó, nếu một DN có đội ngũ nhân lực chất lượng cao thì DN đó có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường

Ban lãnh đạo DN: Là những người vạch ra các chiến lược kinh doanh, trực tiếp điều hành và tổ chức sản xuất kinh doanh, quyết định sự thành công hay thất bại của một DN Những thành viên của ban lãnh đạo cần có kinh nghiệm, biết cách động viên sức mạnh tập thể cùng phấn đấu cho sự nghiệp phát triển chung của DN

Cán bộ quản trị cấp trung gian và cấp cơ sở: Là những người trực tiếp điều hành

và thực hiện các kế hoạch, phương án, chiến lược kinh doanh do ban lãnh đạo đề ra

Họ góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của DN Họ cần thành thạo chuyên môn

Trang 25

có chất lượng, lòng hăng say nhiệt tình làm việc có trách nhiệm của họ là yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của DN

1.3.2.4 Khả năng liên doanh liên kết của DN

Liên doanh liên kết là sự kết hợp hai hay nhiều pháp nhân kinh tế khác nhau để tạo ra một pháp nhân mới có sức mạnh tổng hợp về kinh nghiệm, máy móc thiết bị, công nghệ và nguồn tài chính Đây là một trong những yếu tố đánh giá năng lực của

DN Nhất là đối với những DN thường tham gia thực hiện các dự án với quy mô lớn, nhưng trên thực tế những yêu cầu đôi khi vượt quá khả năng của một DN đơn lẻ trong cạnh tranh Để đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường, tăng năng lực cạnh tranh của

DN, vấn đề mở rộng các quan hệ liên doanh liên kết dưới nhiều hình thức thích hợp là giải pháp quan trọng và cần thiết Qua đó DN có thể đáp ứng một cách toàn diện những yêu cầu của khách hàng hoặc của dự án có quy mô lớn và có mức độ phức tạp cao

Liên doanh liên kết có thể thực hiện theo chiều ngang, tức là DN sẽ liên kết với các DN cùng ngành để đảm nhận và thực hiện các đơn hàng hoặc dự án lớn Liên kết theo chiều dọc là hình thức liên kết với các DN sản xuất nguyên vật liệu đầu vào hoặc các đơn vị cung cấp trang thiết bị cho sản xuất, nhờ đó có thể tạo ra sự ổn định trong sản xuất và làm giảm giá thành của sản phẩm Dù liên doanh, liên kết dưới bất cứ hình thức nào thì các DN đều dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi

Liên doanh liên kết tạo điều kiện cho DN có thể chủ động trong sản xuất, minh bạch trong chi tiêu và góp phần phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa sâu, đăc biệt là khai thác được những thế mạnh, khắc phục những điểm yếu, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho DN

1.3.2.5 Năng lực marketing

Năng lực marketing của DN là khả năng nắm bắt nhu cầu thị trường, khả năng thực hiện chiến lược 4P (Product, Place, Price, Promotion) trong hoạt động marketing Khả năng marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm, nâng cao vị thế của DN Đây là nhóm nhân tố rất quan trọng tác động tới năng lực cạnh tranh của DN

Trang 26

Vì vậy, điều tra nhu cầu thị trường và dựa trên khả năng sẵn có của DN để lựa chọn lĩnh vực kinh doanh phù hợp, tạo ra sản phẩm có thương hiệu được người sử dụng chấp nhận

Trong điều kiện kinh tế hàng hóa phát triển, văn minh tiêu dùng ngày càng cao, thì người tiêu dùng càng hướng tới tiêu dùng những hàng hóa có thương hiệu uy tín

Vì vậy, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm là một tất yếu đối với những DN muốn tồn tại trên thị trường

Mặt khác, năng lực cạnh tranh của DN phụ thuộc nhiều khâu như tiêu thụ, khuyến mãi, nghiên cứu thị trường… do đó dịch vụ bán hàng (trước - trong - sau) đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến doanh số tiêu thụ, đây được xem là vấn đề sống còn của mỗi DN

1.3.2.6 Năng lực tổ chức bộ máy quản lý và trình độ lao động

Tổ chức quản lý tốt trước hết là áp dụng phương pháp quản lý hiện đại đã được

DN của nhiều nước áp dụng thành công như phương pháp quản lý theo tình huống, quản lý theo tiếp cận quá trình và tiếp cận hệ thống, quản lý theo chất lượng như ISO

9000, ISO 1400 Bản thân DN phải tự tìm kiếm và đào tạo cán bộ quản lý cho chính mình Muốn có được đội ngũ cán bộ quản lý tài giỏi và trung thành, ngoài yếu tố chính sách đãi ngộ, DN phải định hình rõ triết lý dùng người, phải trao quyền chủ động cho cán bộ và phải thiết lập được cơ cấu tổ chức đủ độ linh hoạt, thích nghi cao với sự thay đổi

Nhân lực là một nguồn lực rất quan trọng vì đảm bảo nguồn sáng tạo trong tổ chức Trình độ nguồn nhân lực thể hiện ở trình độ quản lý của các cấp lãnh đạo, trình

độ chuyên môn của cán bộ công nhân viên, trình độ tư tưởng văn hoá của mọi thành viên trong DN Trình độ nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, thể hiện trong kết cấu kỹ thuật của sản phảm, mẫu mã, chất lượng và từ đó

uy tín, danh tiếng của sản phẩm sẽ ngày càng tăng, DN sẽ tạo được vị trí vững chắc của mình trên thương trường và trong lòng công chúng, hướng tới sự phát triển bền vững

Trang 27

15

1.3.3 Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của M.Porter

Theo Michael E Porter, ngành kinh doanh nào cũng phải chịu tác động của năm lực lượng cạnh tranh :

1 Nguy cơ nhập cuộc của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng

2 Mức độ cạnh tranh của các công ty trong cùng ngành

3 Sức mạnh của khách hàng

4 Sức mạnh của nhà cung cấp

5 Sự đe dọa của các sản phẩm thay thế

Mối quan hệ giữa các yếu tố này được thể hiện trong hình dưới đây:

Hình 1.1 Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của M.Porter

(Nguồn: http://voer.edu.vn)

Đặc điểm của từng lực lượng cạnh tranh được hiểu như sau:

1.3.3.1 Sự cạnh tranh giữa các DN trong ngành

Cạnh tranh giữa các công ty trong một ngành được xem là vấn đề cốt lõi nhất của phân tích cạnh tranh Các hàng hóa trong ngành cạnh tranh khốc liệt với nhau về giá

cả, sự khác biệt về sản phẩm hoặc sự đổi mới sản phẩm giữa các DN hiện đang cùng tồn tại trong thị trường Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt khi đối thủ đông đảo và gần như cân bằng nhau, khi tăng trưởng của ngành là thấp, khi các loại chi phí ngày càng tăng, khi các đối thủ cạnh tranh có chiến lược đa dạng Có một điều thuận lợi và cũng

là bất lợi cho các đối thủ trong cùng ngành là khả năng nắm bắt kịp thời những thay đổi, cải tiến trong sản xuất - kinh doanh hoặc các thông tin về thị trường

Các DN sẽ có khả năng cạnh tranh cao nếu có sự nhạy bén, kịp thời và ngược lại

có thể mất lợi thế cạnh tranh bất cứ lúc nào nếu họ tỏ ra thiếu thận trọng và nhạy bén

DN ở các quốc gia khác nhau (trừ các DN ở nước sở tại) khi cùng tiến hành hoạt động

Trang 28

kinh doanh trên thị trường nước ngoài sẽ có một phần bất lợi như nhau do các quy định hạn chế của Chính phủ nước sở tại Chính vì thế, DN nào mạnh về tài chính hoặc khoa học kỹ thuật hoặc trên cả hai phương diện sẽ có được lợi thế rất lớn

Khác với hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước, DN khi tham gia thị trường nước ngoài cần có sự trợ giúp của các DN khác trong cùng quốc gia để có thêm khả năng chống đỡ trước sự cạnh tranh của các DN thuộc quốc gia khác Lúc đó có thể coi

sự cạnh tranh trong ngành là sự cạnh tranh giữa các quốc gia Sức ép cạnh tranh đối với các DN làm cho giá cả các yếu tố đầu ra và những yếu tố đầu vào biến động theo các xu hướng khác nhau

Điều này đòi hỏi DN phải linh hoạt điều chỉnh các hoạt động của mình nhằm giảm thách thức, tăng thời cơ giành thắng lợi trong cạnh tranh Muốn vậy DN cần nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường, đưa ra thị trường những sản phẩm mới chất lượng cao, mẫu mã và giá cả phù hợp

Yếu tố này đã được Apple vận dụng một cách hoàn hảo khi bắt đầu tham gia thị trường điện thoại di động bằng thiết bị Iphone với tư tưởng thiết kế hoàn toàn mới đã đem lại thành công vang dội cho Apple

1.3.3.2 Quyền lực thương lượng của nhà cung ứng

Người cung ứng có thể chi phối đến DN là do sự thống trị hoặc khả năng độc quyền của một số ít nhà cung ứng Nhà cung ứng có thể đe doạ tới nhà sản xuất do tầm quan trọng của sản phẩm được cung ứng, do đặc tính khác biệt hoá cao độ của người cung ứng với người sản xuất, do sự thay đổi chi phí của sản phầm mà nhà sản xuất phải chấp nhận và tiến hành, do liên kết của những người cung ứng gây ra Trong buôn bán quốc tế, nhà cung ứng có vai trò là nhà xuất khẩu nguyên vật liệu Khi DN không thể khai thác nguồn nguyên vật liệu nội địa, nhà cung ứng quốc tế có vị trí càng quan trọng Mặc dù có thể có cạnh tranh giữa các nhà cung ứng và DN có thể lựa chọn nhà cung ứng tốt nhất thì quyền lực thương lượng của nhà cung ứng bị hạn chế vẫn không đáng kể Trong mối quan hệ này, để đảm bảo lợi nhuận cho DN trước khả năng tăng cao chi phí đầu vào, đảm bảo sức cạnh tranh của sản phẩm, DN phải biến được quyền lực thương lượng của người cung ứng thành quyền lực của mình

Các nhà chế tạo máy tính cá nhân là một ví dụ về ngành phụ thuộc vào một nhà cung cấp rất có thế lực Trong trường hợp này là nhà cung cấp Intel một nhà chế tạo bộ

vi xử lý cho các máy tính cá nhân (PCs) lớn nhất thế giới Tiêu chuẩn ngành về các máy tính cá nhân và chạy trên bộ vi xử lý X86 của Intel như hệ vi xử lý pentium hiện được bán trong hầu hết các PC Như vậy các nhà chế tạo PC có ít lựa chọn, buộc phải

sử dụng một bộ vi xử lý của Intel như là bộ não cho các máy tính của họ Mặc dù, một vài công ty đã cố gắng để sản xuất nhân bản bộ vi xử lý Intel, thành công của họ vẫn

Trang 29

17

còn bị hạn chế, hiện nay Intel vẫn giữ 85% thị phần Điều này đặt Intel vào vị thế rất

có thế lực so với các nhà chế tạo PC Sản phẩm mà nó cung cấp ít có khả năng thay thế

và chi phí chuyển đổi đối với người mua là quá cao, điều đó cho phép Intel tăng giá trên mức mà có thể phổ biến nếu như ở một thị trường cung cấp cạnh tranh hơn

1.3.3.3 Nguy cơ đe dọa từ những người mới vào cuộc

Là sự xuất hiện của các DN mới tham gia vào thị trường nhưng khả năng mở rộng sản xuất, chiếm lĩnh thị trường (thị phần) của các DN khác Để hạn chế mối đe doạ này, các nhà quản lý thường dựng nên các hàng rào như:

 Mở rộng khối lượng sản xuất của DN để giảm chi phí

1.3.3.4 Quyền lực thương lượng của người mua

Người mua có quyền thương lượng với DN (người bán) thông qua sức ép giảm giá, giảm khối lượng hàng mua từ DN, hoặc đưa ra yêu cầu chất lượng phải tốt hơn với cùng một mức giá Các nhân tố tạo nên quyền lực thương lượng của người mua gồm: Khối lượng mua lớn, sự đe doạ của quá trình liên kết những người mua khi tiến hành thương lượng với DN, do sự tập trung lớn của người đối với sản phẩm chưa được dị biệt hoá hoặc các dịch vụ bổ sung còn thiếu Quyền lực thương lượng của người mua

sẽ rất lớn nếu DN không nắm bắt kịp thời những thay đổi về nhu cầu của thị trường hoặc khi DN thiếu khá nhiều thông tin về thị trường (đầu vào và đầu ra) Các DN khác

sẽ lợi dụng điểm yếu này của DN để tung ra thị trường những sản phẩm thích hợp hơn, giá cả phải chăng hơn và bằng những phương thức dịch vụ độc đáo hơn

Một ví dụ về ngành trong đó người mua đầy quyền lực của ngành cung cấp các chi tiết xe ô tô Những người mua ở đây là các công ty ô tô lớn, như General Motor, Ford, và Chrysler Những nhà cung cấp chi tiết ô tô thì đông đảo và nói chung là qui

Trang 30

mô nhỏ, những người mua của họ chỉ là một vài hãng chế tạo ô tô có qui mô lớn Ví

dụ, Chrysler kinh doanh với gần 2000 nhà cung cấp chi tiết khác nhau và các hợp đồng thông thường với một số nhà cung cấp khác nhau về cùng một chi tiết Các công ty ô

tô lớn có thể dùng vị thế đầy quyền lực của mình để kích các nhà cung cấp cạnh tranh lẫn nhau, thúc ép giảm giá mà họ phải trả cho các bộ phận chi tiết và yêu cầu chất lượng cao hơn Nếu một nhà cung cấp nào đó phản đối, thì công ty ô tô lớn sử dụng đe dọa chuyển đến các nhà cung cấp khác như một công cụ thương lượng Hơn nữa, để giữ giá các chi tiết thấp, cả Ford và General Motor đều sử dụng đe dọa tự chế tạo lấy các chi tiết hơn là mua sắm từ các nhà cung cấp chi tiết xe ô tô

1.3.3.5 Nguy cơ đe dọa từ các sản phẩm và dịch vụ thay thế

Khi giá cả của sản phẩm, dịch vụ hiện tại tăng lên thì khách hàng có xu hướng sử dụng sản phẩm và dịch vụ thay thế Đây là nhân tố đe doạ sự mất mát về thị trường của DN Các đối thủ cạnh tranh đưa ra thị trường những sản phẩm thay thế có khả năng biệt hoá cao độ so với sản phẩm của DN hoặc tạo ra các điều kiện ưu đãi về dịch

vụ hay các điều kiện về tài chính Nếu sản phẩm thay thế càng giống sản phẩm của

DN, thì mối đe doạ đối với DN càng lớn Điều này sẽ làm hạn chế giá cả, số lượng hàng bán và ảnh hưởng đến lợi nhuận của DN Nếu có ít sản phẩm tương ứng sản phẩm của DN, DN sẽ có cơ hội tăng giá và tăng thêm lợi nhuận

Khi một người khát nước, họ có thể uống Coca, Pepsi, nước lọc, trà đá, nước cam, bia,… vì vậy sản phẩm thay thế của Coca-Cola không những là Pepsi mà còn là các đồ uống khác nữa Khi thị phần các đồ uống khác tăng lên thì đương nhiên thị phần của Coca sẽ giảm đi vì một phần khách hàng đáng nhẽ mua Coca thì họ lại dùng một sản phẩm khác thay thế

1.4 Các công cụ cạnh tranh chủ yếu của DN

Trong nền kinh tế hoạt động cạnh tranh trên thị trường DN có thể sử dụng các công cụ cạnh tranh khác nhau để chiếm lĩnh thị trường, tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng thị phần… Các công cụ thường được các DN sự dụng là chất lượng sản phẩm, giá

cả, hệ thống phân phối và quảng bá thương hiệu

Trang 31

Chính sách xây dựng giá thấp

Đây là chính sách mà DN xây dựng giá bán sản phẩm thấp hơn giá cả thị trường,

có hai cách áp dụng chính sách này DN xây dựng giá thấp hơn giá thị trường đối với sản phẩm cùng loại, nhưng vẫn cao hơn giá thành sản xuất Đây là trường hợp DN áp dụng khi sản phẩm mới thâm nhập thị trường, DN cần thu hút khách hàng, cạnh tranh với sản phẩm cùng loại để chiếm lĩnh thị phần, trong trường hợp này DN sẽ nhanh chóng chiếm được thị phần mà lợi nhuận vẫn đạt được mặc dù không lớn DN chấp nhận xây dựng giá sản phẩm thấp hơn giá thị trường và thấp hơn giá thành sản xuất, đây là trường hợp mà DN chấp nhận thua lỗ tạm thời để phát triển thị trường, chiếm lĩnh thị phần, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hóa, tăng nhanh vòng quay của đồng vốn, Tạo tiền đề cho chiến lược xây dựng giá bán cao cho sản phẩm sau này

Chính sách xây dựng giá bán cao

Đây là chính sách mà DN định giá bán sản phẩm của mình cao hơn giá thị trường

và cao hơn giá thành sản phẩm Trong trường hợp này áp dụng cho những sản phẩm mới lần đầu được tung ra thị trường, chưa có sản phẩm cạnh tranh, người tiêu dùng chưa biết rõ về sản phẩm và chưa có điều kiện để so sánh về giá cả và chất lượng Giai đoạn này DN tranh thủ chiếm lĩnh thị trường sau đó sẽ dần giảm giá để tương đương với giá thị trường, nhưng vẫn đảm bảo cao hơn giá thành sản phẩm DN vẫn thu được lợi nhuận như mong muốn

Chính sách ổn định giá

Theo đó DN sẽ xây dựng và đưa ra một mức giá phù hợp và sẽ được áp dụng trong một thời gian dài để tạo uy tín và củng cố niềm tin của khách hàng về sự ổn định của thị trường đối với sản phẩm Nó giúp sản phẩm có những nét độc đáo, khác biệt, nhằm phân biệt với những sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh, từ đó có điều kiện mở rộng thị trường và chiếm lĩnh thị phần của sản phẩm

Trang 32

Chính sách bán phá giá

Là chính sách mà DN dùng biện pháp hạ giá bán ở mức rất thấp, DN chấp nhận thua lỗ trong một thời gian nhất định, nhằm làm cho đối thủ cạnh tranh không thể bán sản phẩm cùng loại trong một thời gian, từ chỗ thua lỗ do không cạnh tranh được về giá đối thủ cạnh tranh buộc phải rút khỏi thị trường Khi đó DN độc chiếm thị trường, độc quyền với sản phẩm và lúc đó DN sẽ chủ động nâng giá lên cao và thu lại lợi nhuận Chính sách bán phá giá được coi là rất mạo hiểm, nó là con dao hai lưỡi do vậy

ít DN sử dụng chính sách này để bán hàng, và hiện nay chính sách bán phá giá được coi là phương thức cạnh tranh không lành mạnh, và bị cấm ở một số quốc gia trên thế giới

Chính sách phân biệt giá

Đó là chính sách xây dựng và đưa ra những mức giá khác nhau đối với cùng một loại sản phẩm khi bán cho các đối tượng khách hàng khác nhau, cho các khu vực thị trường khác nhau, khách hàng mua với số lượng hàng hóa khác nhau hoặc trong những thời điểm khác nhau Với chính sách này DN sẽ làm thỏa mãn được nhiều đối tượng khách hàng có nhu cầu khác nhau, có điều kiện tài chính khác nhau, tạo nên sự linh hoạt về giá nhằm hấp dẫn khách hàng đồng thời vẫn đảm bảo được lợi ích cho DN khi sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao hơn hoặc phải vận chuyển sản phẩm đến nhiều địa điểm khác nhau

Tóm lại, việc nghiên cứu và vận dụng chính sách để xây dựng giá bán sản phẩm

là một vấn đề hết sức phức tạp, nó đòi hỏi mỗi DN phải luôn linh hoạt và sáng tạo bởi

vì giá cả sản phẩm không chỉ được quyết định bởi giá trị hàng hóa mà nó còn phụ thuộc số lượng, khả năng thanh toán của khách hàng và nhiều yếu tố khác

Như vậy, chiến lược giá cả là một công cụ cạnh tranh sắc bén của mỗi DN, nó ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn tại và phát triển của DN Mỗi DN cần nghiên cứu, xây dựng và hoạch định chiến lược về giá bán sản phẩm của mình sao cho phù hợp với những biến động của thị trường, mục tiêu xây dựng và phát triển của DN cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh của DN

1.4.2 Chất lượng của sản phẩm

Chất lượng sản phẩm có vai trò đặc biệt quan trọng trong cạnh tranh của mỗi DN, một trong những căn cứ quan trọng khi người tiêu dùng quyết định lựa chọn và sử dụng sản phẩm của DN là chất lượng của sản phẩm Theo nhà nghiên cứu kinh tế M.Porter thì năng lực cạnh tranh của mỗi DN được thể hiện thông qua hai chiến lược

cơ bản đó là phân biệt hóa sản phẩm (chất lượng) và chi phí thấp Chính vì vậy chất

Trang 33

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi tham gia các tổ chức thương mại quốc

tế như (AFTA, WTO…) cùng với những cơ hội kinh doanh trên thị trường lớn là việc các nước thành viên đều phải dỡ bỏ rất nhiều những hàng rào thuế quan để cho hàng của các nước tràn vào cạnh tranh tự do ngay trên sân nhà Việc các DN đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm không những đảm bảo cạnh tranh giành thắng lợi trên sân nhà mà còn xây dựng chiến lược đem sản phẩm của mình ra nước ngoài để cạnh tranh với thị trường quốc tế Để sử dụng có hiệu quả công cụ chất lượng sản phẩm trong cạnh tranh, các DN cần làm tốt công tác quản lý chất lượng sản phẩm Quản lý chất lượng là các hoạt động có tổ chức phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một quy trình chặt chẽ về chất lượng sản phẩm

1.4.3 Hệ thống kênh phân phối

Có thể hiểu kênh phân phối là một tập hợp các cá nhân hoặc tổ chức tham gia vào quá trình làm cho sản phẩm bán ra tới được tay khách hàng, do vậy nếu DN lựa chọn kênh phân phối không hợp lý có thể sẽ làm giảm sản lượng tiêu thụ sản phẩm, dẫn đến hàng hóa ế ẩm, không tiêu thụ được và DN sẽ thất bại trong cạnh tranh

Trang 34

Hình ảnh minh họa dưới đây biểu diễn một kênh phân phối truyền thống thường được các DN sử dụng

Hình 1.2 Hệ thống kênh phân phối truyền thống

(Nguồn: http://voer.edu.vn/)

Trong nền kinh tế thị trường, kênh phân phối thể hiện được những vai trò quan trọng như sau:

 Chi phí vận chuyển thường tăng lên sau mỗi lần biến động giá nhiên liệu, điều

đó đặt ra cho mỗi DN phải tìm ra cho mình những phương thức vận chuyển hợp lý nhất, tiết kiệm nhất trong lưu thông cho sản phẩm của mình

 Với tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật nhanh như hiện nay những DN chỉ dựa vào lợi thế về công nghệ để cạnh tranh thì khó tồn tại lâu, bởi đối thủ rất rễ bắt trước hoặc họ đầu tư những công nghệ thế hệ sau sẽ hiện đại hơn Hơn nữa hiệu quả sản xuất không thể tăng vô hạn, khi đó nó gần như đã đạt điểm tối đa nên các DN khó có thể hy vọng vượt trội ở mặt này, do vậy các DN cạnh tranh phần lớn đặt nhiều hy vọng vào kênh phân phối của minh

 Hiện nay các sản phẩm ngày càng đa dạng và phong phú về mẫu mã, chất lượng, kích cỡ, chính vì vậy các DN sẽ rất dễ gặp khó khăn trong thời hạn giao sản phẩm có chất lượng cho khách hàng đúng hẹn, và nhiệm vụ quan trọng này DN lại tin tưởng đặt lên vai của những nhà phân phối

Trang 35

23

 Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như hiện nay, các DN sản xuất

đã có nhiều thay đổi lớn trong phương pháp quản lý hàng tồn kho Nếu để số lượng hàng hóa tồn kho lớn sẽ làm tăng chi phí bảo quản, lưu kho và làm giảm chất lượng của sản phẩm Khi đó các DN có xu hướng giảm hàng tồn kho xuống mức cần thiết thấp nhất để giảm chi phí giá thành Điển hình nhất trong phương pháp quản lý này là phương pháp quản lý “Just in time - Jit” của Nhật bản chính phương pháp quản lý này

đã giúp cho các DN Nhật bản có được lợi thế cạnh tranh rất lớn trên thương trường và

đã thắng được các DN Mỹ Để thực hiện hiệu quả phương pháp quản lý này không gì tốt hơn là các DN phải lựa chọn được kênh phân phối hợp lý nhất và tốt nhất cho mình

 Trên thực tế để xây dựng hoặc thay đổi được một kênh phân phối cần rất nhiều thời gian và công sức bởi nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan khác chứ không đơn thuần là mong muốn chủ quan của DN sản xuất Để lựa chọn và tiến hành xây dựng một kênh phân phối vận hành một cách trơn tru có khi DN phải mất nhiều năm, chính vì vậy nếu DN chọn được kênh phân phối có chất lượng tốt sẽ đảm bảo khả năng tiêu thụ sản phẩm, duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh của DN

Có rất nhiều hình thức tiêu thụ sản phẩm, như bán hàng trực tiếp, bán hàng thông qua các công ty bán buôn của mình hoặc các hãng bán buôn độc lập… Tùy vào từng loại sản phẩm hàng hóa như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng… mà

DN có thể lựa chọn cho DN mình một hình thức sao cho phù hợp nhất, việc lựa chọn

và xây dựng kênh phân phối phải dựa trên các kết quả nghiên cứu kỹ lưỡng các đặc điểm của thị trường Sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin đã khiến hệ thống giao thông được cải thiện đáng kể thì các DN đã có nhiều thay đổi trong việc lựa chọn kênh phân phối sản phẩm, trong đó các DN có đều xu hướng chọn kênh phân phối trực tiếp vì hình thức này cho phép DN phát triển các quan hệ hợp đồng và hệ thống các đơn hàng cá biệt

1.4.4 Chất lượng nguồn nhân lực

Trong các cách để tạo ra năng lực cạnh tranh của công ty thì lợi thế thông qua con người được xem là yếu tố căn bản Con người được xem là nguồn lực căn bản và

có tính quyết định của mọi thời đại Nguồn lực từ con người là yếu tố bền vững và khó thay đổi nhất trong mọi tổ chức

Năng lực thông qua con người ở các DN được hiểu như là khả năng của đội ngũ nhân viên trong DN Nguồn nhân lực đóng góp cho sự thành công của DN trên các khía cạnh chất lượng cao, dịch vụ tuyệt hảo, khả năng đổi mới, kỹ năng trong công việc cụ thể và năng suất của đội ngũ nhân viên Đây là những yếu tố then chốt mang lại sự thành công của các DN Tuy vậy, không phải DN nào cũng có thể thành công

Trang 36

trên hầu hết tất cả các khía cạnh trên về nguồn nhân lực và thường người ta chọn các trọng tâm phù hợp với viễn cảnh (vision) và chiến lược của DN Ví dụ có DN đề cao các yếu tố về năng suất; kỹ năng có tính chuyên nghiệp và cũng có DN lại đề cao dịch

vụ tốt, chất lượng cao, khả năng đổi mới của đội ngũ nhân viên

Năng lực thông qua yếu tố con người thường mang tính bền vững vì nó không thể xác lập trong một thời gian ngắn Nó liên quan đến văn hoá của DN Đây chính là các chuẩn mực bất thành văn, trở thành nếp sống và ứng xử giữa các thành viên trong

DN Văn hoá còn đề cập đến các giá trị mà những người nhân viên trong DN đề cao, suy tôn và cả cách thức mà họ chia sẻ thông tin cho nhau trong tổ chức Muốn cải thiện nguồn nhân lực thì trước hết phải cải thiện môi trường văn hoá DN và điều này không phải dễ và mất rất nhiều thời gian và khá tốn kém Rõ ràng nền tảng các khía cạnh thể hiện ở trên thường gắn với văn hoá DN và rất khó hình thành trong ngày một ngày hai, như chúng ta làm điều đó với các nguồn lực khác như tài chính hoặc công nghệ

1.4.5 Các công cụ canh tranh khác

1.4.5.1 Dịch vụ bán hàng

Trước khi bán hàng, các DN thực hiện các hoạt động như: quảng cáo, giới thiệu, hướng dẫn thị hiếu khách hàng… Những việc này nhằm hấp dẫn, lôi cuối khách hàng đến với sản phẩm, dịch vụ của DN mình Trong quá trình bán hàng, khâu quan trọng nhất là nghệ thuật chào mời khách hàng Điều này đòi hỏi người bán hàng phải thật sự tôn trọng khách hàng, lịch sự, ân cần và chu đáo, bên cạnh đó cần tư vấn cho khách hàng sử dụng dịch vụ thích hợp nhất Hoạt động tiêu thụ của DN không dừng lại ở khâu khách hàng thanh toán tiền hàng Để nâng cao uy tín và trách nhiệm đến cùng đối với người tiêu dùng về sản phẩm của mình thì DN cần phải triển khai tốt các dịch vụ hậu mãi Nội dung của dịch vụ hậu mãi: Cam kết thu lại sản phẩm và hoàn trả tiền cho khách hoặc đổi lại hàng nếu như sản phẩm không theo đúng yêu cầu ban đầu của khách hàng và cam kết bảo hành trong một khoảng thời gian nhất định Những dịch

vụ này tạo sự tin tưởng, uy tín của DN đối với người tiêu dùng Sau nữa, phương thức phục vụ trên sẽ phát huy tác dụng khi được bảo đảm các yêu cầu sau: Các dịch vụ phải nhanh, chính xác Qua các dịch vụ bán hàng, DN sẽ nhìn nhận được sản phẩm mà mình cung cấp ra thị trường đã đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng hay chưa, nếu đã đáp ứng được thì mức độ hài lòng của khách hàng là mấy phần

Việc mở cửa thị trường làm tăng sự cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp Việt Nam đã có những nỗ lực để cải tiến chất lượng sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ Một số doanh nghiệp đầu đàn trong lĩnh vực viễn thông như Viettel, VNPT, … được coi như những ví dụ điển hình Các

Trang 37

25

doanh nghiệp này áp dụng đồng thời nhiều biện pháp như làm kho dữ liệu khách hàng

để theo dõi phản hồi của khách hàng về sản phẩm, thành lập một đội ngũ chăm sóc khách hàng để không chỉ xử lý những vấn đề về sản phẩm mà còn quan tâm đến việc duy trì quan hệ khách hàng, đào tạo nhân viên về tầm quan trọng của việc xử lý các vấn đề phát sinh sau khi mua hàng

1.4.5.2 Hình thức thanh toán

Phương thức thanh toán là công cụ cạnh tranh khá quan trọng Ai nắm được công

cụ này sẽ thắng trong cạnh tranh Bởi vì, công cụ này tạo được sự tiện lợi cho khách hàng Phương thức thanh toán phải linh hoạt, đa dạng Phương thức thanh toán gọn nhẹ, rườm rà hay chậm chễ ảnh huởng đến công tác tiêu thụ và do đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

Thời gian qua, nhiều DN bất động sản kích cầu bằng cách áp dụng nhiều giải pháp thanh toán linh hoạt thông qua nhiều chương trình liên kết với các ngân hàng, tổ chức tín dụng để đưa ra nhiều giải pháp thanh toán thuận lợi cho khách hàng Trong

đó, hình thức được áp dụng nhiều hiện nay của các chủ đầu tư là hỗ trợ khách hàng bằng các gói vay ưu đãi và các khuyến mãi kèm theo căn hộ Theo đó, với phần lớn các dự án đã hoàn thành, người mua chỉ cần thanh toán từ 30-50% giá trị căn hộ là có thể nhận nhà Phần còn lại được trả chậm trong 1 đến 2 năm với lãi suất ưu đãi, có khi không có lãi suất

1.4.5.3 Yếu tố thời gian

Những thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ làm thay đổi nhanh chóng cách nghĩ, cách làm việc của con người, tạo thời cơ cho mỗi người, mỗi đất nước tiến nhanh về phía trước Đối với các DN yếu tố quyết định trong chiến lược kinh doanh hiện tại là tốc độ chứ không phải là yếu tố cổ truyền như nguyên vật liệu, lao động Muốn chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này, các DN phải biết tổ chức nắm bắt thông tin nhanh chóng tiêu thụ để thu hồi vốn nhanh trước khi chu kỳ sản xuất sản phẩm kết thúc

Có thể lấy Nguyễn Bá Dương và tập đoàn CotecCons của ông làm ví dụ Giữa năm 2013, một làn sóng các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào ngành may mặc, dệt nhuộm của Việt Nam nhằm đón đầu Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

đã hình thành Nhận thấy nhu cầu xây dựng nhà máy của doanh nghiệp ngoại sẽ tăng nhanh, CotecCons chủ động tiếp cận và nhanh chóng thắng thầu các dự án từ chủ đầu

tư là những tập đoàn may mặc lớn của Trung Quốc như Texhong Textile hay Shenzhu Tổng giá trị các gói thầu này lên đến gần 2.000 tỷ đồng Những cuộc nắm bắt ngoạn mục này đã giúp CotecCons gia tăng nhanh quy mô Hiện vốn điều lệ của CotecCons

là 422 tỷ đồng, vốn hóa thị trường đạt 2.970 tỷ đồng Trong giai đoạn 2006 - 2014,

Trang 38

doanh thu của Công ty đã tăng gấp 9 lần, tương đương với tốc độ tăng trưởng hằng năm đạt 37%

1.4.5.4 Hình ảnh nhãn hiệu và sản phẩm của công ty

Hình ảnh nhãn hiệu là cách sử dụng một nhân vật, con vật, hiện tượng tự nhiên

và hình học để diễn tả tính cách riêng biệt của nhãn hiệu Hình tượng của nhãn hiệu có thể là người thật, vật thật hoặc là bằng hình vẽ Người Trung Hoa và người Á Đông xa xưa đã dùng các biểu tượng để thể hiện kì vọng và ước muốn của mình, nó không chỉ nhằm thể hiện tính thẩm mỹ mà chủ yếu là để bộc lộ ý nghĩa theo chủ nghĩa tượng trưng

Hình ảnh nhãn hiệu thường được sử dụng trong các chương trình quảng cáo và khuyến mãi hoặc trong các hoạt động giới thiệu sản phẩm mới nhằm tạo sự chú ý, sinh động, gợi nhớ, và tạo sự khác biệt Mục tiêu sử dụng hình ảnh nhãn hiệu thường là để tạo thiện cảm đối với nhãn hiệu qua tính cách gần gũi của người thật, vật thật hoặc tính cách dễ thương, thú vị của nhân vật hoạt hình Có thể kể đến một số hình ảnh nhãn hiệu đã gây được ấn tượng với khách hàng như: con sư tử Paddle Pop của kem Wall - thương hiệu Kido của tập đoàn Kinh Đô, chú hề Mc Donald - Tập đoàn đồ ăn nhanh

Mc Donald…

1.5 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của DN

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, để tồn tại và có vị trí nhất định trên thị trường thì mỗi DN đều phải cạnh tranh gay gắt không chỉ với các

DN trong nước mà còn phải cạnh tranh với các công ty tập đoàn xuyên quốc gia Đối với các DN, cạnh tranh luôn là con dao hai lưỡi Quá trình cạnh tranh sẽ đào thải các

DN không đủ năng lực cạnh tranh để đứng vững trên thị trường Mặt khác cạnh tranh buộc các DN phải không ngừng cố gắng hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh của mình để tồn tại và phát triển Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ đang phát triển nhanh, các công trình khoa học công nghệ tiên tiến ra đời tạo ra các sản phẩm tốt, đáp ứng nhu cầu của con người Người tiêu dùng có những yêu cầu ngày càng khó tính về sản phẩm mà nhu cầu của con người thì vô tận, luôn có “thị trường ngách” đang chờ các DN tìm ra và thỏa mãn Do đó các DN phải

đi sâu nghiên cứu thị trường, phát hiện ra những nhu cầu mới của khách hàng để qua

đó có thể lựa chọn phương án phù hợp với năng lực kinh doanh của DN để đáp ứng nhu cầu khách hàng Trong cuộc cạnh tranh này DN nào nhạy bén hơn thì DN đó thành công

Tóm lại việc nâng cao khả năng cạnh tranh của DN trong điều kiện hội nhập là cần thiết cho sự tồn tại, phát triển và thực hiện mục tiêu của DN

Trang 39

27

1.5.1 Nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại

Xuất phát từ quy luật của cơ chế thị trường, cạnh tranh là đào thải những cái lạc hậu và bình tuyển cái tiến bộ để thúc đẩy hàng hóa dịch vụ phát triển nhằm mục đích thỏa mãn người tiêu dùng một cách tốt nhất

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là một quy luật tất yếu, nó luôn tồn tại cho dù con người có muốn hay không Các DN muốn trụ vững trên thị trường thì phải cạnh tranh gay gắt với nhau Cạnh tranh giành giật khách hàng, cạnh tranh để bán được hàng hóa, dịch vụ Muốn vậy họ phải tạo ra được những điều kiện thuận lợi, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, làm thế nào để khách hàng tin tưởng vào sản phẩm, dịch vụ của DN, ưu thích và tiêu dùng nó DN nào đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng, cung cấp những dịch vụ thuận tiện nhất và tốt nhất với mức giá phù hợp thì mới

có thể tồn tại lâu dài trên thị trường

1.5.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển

Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều kiện, yếu tố kích thích kinh doanh Quy luật cạnh tranh là động lực phát triển sản xuất, cung ứng hàng hóa dịch vụ Hàng hóa bán nhiều, số lượng người cung ứng ngày càng đông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt, kết quả của cạnh tranh là loại bỏ những DN làm ăn kém hiệu quả và sự lớn mạnh của những DN làm ăn tốt Do vậy muốn tồn tại và phát triển thì DN cần phải cạnh tranh, phải tìm mọi cách nâng cao khả năng cạnh tranh của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng Các DN cần phải tìm ra biện pháp để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng bằng cách sản xuất và kinh doanh dịch vụ có chất lượng cao, công dụng tốt nhưng giá cả phù hợp Có như vậy hàng hóa và dịch vụ của DN mới ngày càng phát triển

1.5.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh để thực hiện mục tiêu

Mỗi DN dù lớn hay nhỏ đều đặt ra những mục tiêu nhất định cho mình Tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển mà DN đặt mục tiêu nào lên hàng đầu Chính vì vậy mà DN luôn tìm cách để bán được sản phẩm hay tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ của mình nhiều nhất trên cơ sở tối đa hóa lợi nhuận Cạnh tranh là con đường tốt nhất để

DN có thể tự đánh giá được khả năng và năng lực của mình từ đó đánh giá được đối thủ cạnh tranh và tìm ra được những lỗ hổng của thị trường và đó là phần thưởng để đạt được mục tiêu

TÓM TẮT CHƯƠNG 1: Nội dung chính trong chương 1 đã trình bày cơ sở lý

luận về cạnh tranh gồm bản chất của cạnh tranh, khái niệm về lợi thế cạnh tranh, khái niệm về năng lực cạnh tranh Từ đó cho thấy được tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho DN Bên cạnh đó, nội dung chương cũng nêu ra các yếu tố

Trang 40

môi trường, các nguồn lực của DN và ảnh hưởng của chúng đến khả năng cạnh tranh của một DN nói chung Từ đó làm cơ sở để phân tích sự tác động của các yếu tố môi trường này đến khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn Đông Thiên Phú trong chương 2 và làm cơ sở để xây dựng giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh

trong chương 3 của khóa luận

Ngày đăng: 04/10/2020, 20:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thanh Bình (2005), “Gánh nặng đầu vào- nỗi lo của các DN”, tạp chí Thông tin Tài chính, (số 12), trang 4-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gánh nặng đầu vào- nỗi lo của các DN
Tác giả: Thanh Bình
Năm: 2005
2. Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư, Trung tâm Thông tin Kinh tế Xã hội Quốc Gia (2004), “DN Việt Nam với vấn đề thương hiệu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: DN Việt Nam với vấn đề thương hiệu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư, Trung tâm Thông tin Kinh tế Xã hội Quốc Gia
Nhà XB: nhà xuất bản Thống Kê
Năm: 2004
3. Bộ Tài Chính (2005), “Yêu cầu khắt khe của chất lượng tăng trưởng”, trang tin điệntử http://www.mof.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu cầu khắt khe của chất lượng tăng trưởng
Tác giả: Bộ Tài Chính
Năm: 2005
5. Bạch Thụ Cường (2002), “Bàn về cạnh tranh toàn cầu” nhà xuất bản Thông Tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cạnh tranh toàn cầu
Tác giả: Bạch Thụ Cường
Nhà XB: nhà xuất bản Thông Tấn
Năm: 2002
6. Lê Đăng Doanh, “Nâng cao năng lực cạnh tranh của DN thời hội nhập” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của DN thời hội nhập
7. Nguyễn Quốc Dũng (2000), “Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, luận án Tiến sỹ Kinh tế, Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quốc Dũng
Năm: 2000
8. Đoàn Hùng Nam, “Nâng cao năng lực cạnh tranh của DN thời hội nhập”, trang 74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của DN thời hội nhập
9. Tôn Thất Nguyễn Thiêm, “Thị trường, chiến lược, cơ cấu” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường, chiến lược, cơ cấu
4. Chu Văn Cấp (2003), Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w