1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xếp hạng tín dụng nội bộ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam

133 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 187,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhờ tích hợpcác nguyên tắc, khung chính sách và tiêu chuẩn tín dụng căn bản của ngân hàng, hệthống xếp hạng tín dụng là căn cứ độc lập để tổ chức tín dụng đánh giá hiệu quả quátrình quản

Trang 2

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-NĂM 2019

Trang 3

TÓM TẮT

Trong điều kiện nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng như hiện nay thì cácdoanh nghiệp Việt Nam nói chung và các Ngân hàng thương mại nói riêng cần phảixây dựng hệ thống theo chuẩn mực quốc tế Mục tiêu để nâng cao năng lực quản trị,hướng tới xây dựng hệ thống hoàn chỉnh, thống nhất và khoa học Xếp hạng tíndụng nội bộ là một công cụ để đánh giá mức rủi ro của khách hàng Nhờ tích hợpcác nguyên tắc, khung chính sách và tiêu chuẩn tín dụng căn bản của ngân hàng, hệthống xếp hạng tín dụng là căn cứ độc lập để tổ chức tín dụng đánh giá hiệu quả quátrình quản trị rủi ro của các bộ phận liên quan, bảo đảm việc cấp tín dụng được quản

lý phù hợp, các tài sản có rủi ro tín dụng nằm trong các giới hạn, thống nhất với cáctiêu chuẩn thận trọng và khả năng phát hiện rủi ro sớm Hỗ trợ quản lý và quản trịkhách hàng- quan hệ khách hàng của các tổ chức tín dụng phụ thuộc vào mức độxếp hạng tín dụng của khách hàng đó Những khoản vay có mức rủi ro cao cần phảikiểm soát, đánh giá thường xuyên, những khách hàng vay có mức xếp hạng tíndụng thấp cũng cần phải được chú trọng theo dõi Ngược lại, những khách hàng tốtvới mức xếp hạng tín dụng cao sẽ được ưu ái hơn trong các quan hện giao dịch,như: ưu đãi về lãi suất, số tiền cho vay, thời hạn vay,v v

Chính vì thực tiễn đó, việc xếp hạng tín dụng là cần thiết và tác giả đã lựa chọn đềtài: “ Xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thônViệt Nam” cho luận văn nghiên cứu của mình

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất

cứ một trường đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả,kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bốtrước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn đượcdẫn nguồn đầy đủ trong luận văn

Tác giả

TRẦN TRUNG KIÊN

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để có thể thực hiện và hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ, tôi đã nhận được sự hỗ trợ

và hướng dẫn nhiệt tình từ quý Thầy Cô cũng như sự động viên, ủng hộ của giađình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luậnvăn Thạc sĩ

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy TS Lê Đình Hạc đã tận tình hướng dẫntôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Tôi cũng xin chân thànhcảm ơn toàn thể quý Thầy Cô khoa Sau Đại học - Trường Đại học Ngân hàngTPHCM đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạomọi điều kiện thuận lợi nhất cho các học viên trong thời gian học tập nghiên cứu.Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ba mẹ, gia đình, bạn bè và đồngnghiệp đã luôn bên cạnh, động viên và hỗ trợ cho tôi rất nhiều để tôi có thể chuyêntâm học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài nghiên cứu một cách hoàn chỉnh

Mặc dù đã cố gắng thực hiện luận văn của mình một cách hoàn thiện nhất nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót hoặc nghiên cứu chưa sâu, tôi rất mong nhận được sự đóng góp và chỉ bảo từ quý Thầy Cô Tôi xin trân trọng cảm ơn

TPHCM, ngày 17 tháng 09 năm 2019

Tác giả

Trần Trung Kiên

Trang 6

Tổ chức tín dụngNgân hàng thương mại cổ phấn Á ChâuNgân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt NamTrung tâm thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà NướcĐịnh chế đánh giá tín dụng bên ngoài

Cán bộ tín dụngSản phẩm dịch vụThương mại cổ phầnKhách hàng cá nhânKhách hàng

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 1.1 Nhân tố khác nhau căn bản của Basel II so với Basel I 24

Bảng 1.2 Hệ thống ký hiệu xếp hạng công cụ nợ dài hạn của Moody’s 46

Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank 62

Bảng 2.2 Các chỉ tiêu xác định quy mô doanh nghiệp của hệ thống XHTDNB Agribank 69

Bảng 2.3 Bảng chấm điểm Phi tài chính trường hợp khách hàng đã có quan hệ tín dụng 71

Bảng 2.4 Trọng số chỉ tiêu tài chính và phi tài chính đối với khách hàng doanh nghiệp tại Agribank 72

Bảng 2.5 Bảng đánh giá xếp loại khách hàng doanh nghiệp của Agribank 73

Bảng 2.6 Bảng đánh giá xếp loại khách hàng cá nhân của Agribank 74

Bảng 2.7 Kết quả chấm điểm tài sản đảm bảo 75

Bảng 2.8 Bảng tổng hợp xếp hạng rủi ro trong hệ thống XHTDNB cá nhân của Agribank 75

Bảng 2.9 Bảng trọng số của các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính trong hệ thống XHTD định chế tài chính của Agribank 79

Bảng 2.10 Bảng đánh giá xếp hạng định chế tài chính của Agribank 79

Bảng 2.11 Kết quả xếp loại quan hệ ngân hàng của hệ thống XHTD Định chế Tài chính của Agribank 80

Bảng 2.12 Bảng tổng hợp kết quả xếp loại định chế tài chính và xếp loại quan hệ ngân hàng của hệ thống XHTD định chế tài chính của Agribank 80

Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức của Agribank 58

Sơ đồ 2.2Tổng thể quy trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng trong hệ thống Agribank 68

Sơ Đồ 3.1 Mối quan hệ giữa xếp hạng tín dụng với quản trị vốn, phân loại nợ và dự phòng rủi ro 94

Trang 8

ở lợi nhuận giảm, ngân hàng phải sử dụng vốn tự có để bù đắp sự giảm sút đó, uytín của ngân hàng giảm sút, dẫn đến tình trạng khó khăn, phá sản Do đó, các ngânhàng cần phải xây dựng hệ thống chấm điểm khách hoàn thiện để có được chínhsách khách hàng phù hợp, hạn chế rủi ro và nâng cao chất lượng hoạt động.

Tính cấp thiết của đề tài:

Trong điều kiện nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng như hiện nay thì cácdoanh nghiệp Việt Nam nói chung và các NHTM nói riêng cần phải xây dựng hệthống theo chuẩn mực quốc tế Mục tiêu là để nâng cao năng lực quản trị, hướng tớixây dựng hệ thống hoàn chỉnh, thống nhất và khoa học XHTD nội bộ là một công

cụ để đánh giá mức rủi ro của khách hàng Nhờ tích hợp các nguyên tắc, khungchính sách và tiêu chuẩn tín dụng căn bản của ngân hàng, hệ thống XHTD là căn cứđộc lập để TCTD đánh giá hiệu quả quá trình quản trị rủi ro của các bộ phận liênquan, bảo đảm việc cấp tín dụng được quản lý phù hợp, các tài sản có rủi ro tín dụngnằm trong các giới hạn, thống nhất với các tiêu chuẩn thận trọng và khả năng pháthiện sớm rủi ro Hỗ trợ quản lý và quản trị khách hàng-quan hệ khách hàng của cácTCTD phụ thuộc vào mức độ XHTD của khách hàng đó Những khoản vay có mứcrủi ro cao cần phải kiểm soát, đánh giá thường xuyên, những khách hàng vay cómức XHTD thấp cũng cần phải chú trọng theo dõi Ngược lại, những khách hàng

Trang 9

tốt với mức XHTD cao sẽ được ưu ái hơn trong các quan hệ giao dịch, như: ưu đãi

về lãi suất, số tiền cho vay, thời hạn vay,v v

Chính vì thực tiễn đó, việc xếp hạng tín dụng là cần thiết và tác giả đã lựa chọn

đề tài: “Xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” cho luận văn nghiên cứu của mình.

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Mục tiêu tổng quát:

Cấp tín dụng hiện nay đang là hoạt động kinh doanh chủ yếu, mang lại nhiều lợinhuận nhất cho ngân hàng, nhưng đồng thời cũng chứa đựng nhiều rủi ro Do đóviệc xây dựng một hệ thống xếp hạng tín dụng hiệu quả là vô cùng cần thiết đối vớimỗi ngân hàng Luận văn đi sâu vào tìm hiểu thực trạng hệ thống xếp hạng tín dụngnội bộ của ngân hàng Agribank để từ đó chỉ ra được hạn chế đồng thời kiến nghịgiải pháp để nâng cao hiệu quả của hệ thống này, qua đó góp phần nâng cao hiệuquả tính quản trị rủi ro tín dụng cho ngân hàng

Mục tiêu cụ thể:

Để đạt được mục tiêu cuối cùng, đề tài cần đạt được những mục tiêu cụ thể sau:

- Tìm hiểu về tín dụng và xếp hạng tín dụng, các phương pháp đánh giá xếp hạng tín dụng khách hàng cá nhân tại các Ngân hàng Thương mại

- Tìm hiểu về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

- Đánh giá thực trạng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

- Đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện những mặt còn hạn chế trong hệthống xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn Việt Nam

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Trang 10

- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu mô hình và các chỉ tiêu đánh giá xếp hạng tín dụng nội bộ tại Agribank đã được xây dựng và áp dụng tại

ngân hàng Agribank, trong khoảng thời gian từ 2011 đến hết năm 2018

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, cụ thể như sau:

- Phương pháp thống kê và tổng hợp: luận văn phân tích, hệ thống hóa và tổnghợp những vấn đề cơ bản của lí luận về xếp hạng tín dụng nội bộ để đưa ra kháiniệm chính xác nhất về xếp hạng tín nhiệm cá nhân, xác định rõ ràng vai trò của xếphạng tín nhiệm cá nhân trong việc quản trị rủi ro trong hoạt động của ngân hàng

- Phương pháp phân tích và suy luận : luận văn dựa vào số liệu phân tích được

để đánh giá về thực trạng xếp hạng tín dụng khách hang cá nhân tại Agribank tronggiai đoạn 2011 – 2018, từ đó đưa ra nhận xét về ưu điểm cũng như những mặt hạnchế còn tồn đọng trong hệ thống xếp hạng tín nhiệm cá nhân, từ đó đề xuất giảipháp nhằm giúp Agribank quản trị rủi ro tín dụng tốt hơn

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Dựa vào cơ sở lý thuyết đã được trình bày ở phần trên có thể thấy có rất nhiềutác giả nghiên cứu về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ ở nhiều phạm vi khác nhau.Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu cụ thể nào đi sâu vào nghiên cứu hệ thống xếphạng tín dụng nội bộ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ViệtNam Vì vậy luận văn sẽ:

- Chỉ ra được những mặt còn hạn chế cần phải cải thiện trong hệ thống xếp hạng tín dụng tại Agribank Đề tài tập trung nghiên cứu vào phương pháp tính điểm và xếp hạng, đưa ra hướng kiểm chứng nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của Agribank

- Luận văn mang tính ứng dụng thực tiễn nhằm góp phần hoàn thiện mộttrong các quy trình quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng, đó là hệ

thống

Trang 11

XHTDNB, phù hợp với chính sách tín dụng cũng như định hướng phát triển kinh doanh của Agribank.

- Đề xuất xây dựng hệ thống đánh giá XHTDNB, qua đó không chỉ giúp NHTM có công cụ phê duyệt cấp tín dụng dễ dàng hơn trong việc đánh giá, xét duyệt hồ sơ tín dụng mà còn là công cụ tư vấn, phân loại nợ trung thực hơn, giúp các nhà quản trị NHTM có định hướng chiến lược kinh doanh rõ ràng hơn, áp dụng cho từng đối tượng khách hàng

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Bố cục của đề tài nghiên cứu “ Xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” được chia thành phần mở đầu và bachương với kết cấu chi tiết được xây dựng bao gồm:

Phần mở đầu: các nội dung nhằm sơ lược lý do nghiên cứu, đối tượng và mục tiêu của nghiên cứu, các phương pháp được sử dụng trong

nghiên cứu, ý nghĩa và thực tiễn của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận về xếp hạng tín dụng tại các ngân hàng thương mại và hiệp ước Basel II

Chương 2: Thực trạng xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện việc xếp hạng tín dụng nội bộ

tại Agribank

Trang 12

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 4

LỜI CẢM ƠN 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ 7

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 8

Đặt vấn đề 8

Tính cấp thiết của đề tài: 8

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 9

Mục tiêu tổng quát: 9

Mục tiêu cụ thể: 9

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 9

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN 10

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 10

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HIỆP ƯỚC BASEL II 15

1.1 Những vấn đề cơ bản về xếp hạng tín dụng 15

1.1.1 Khái niệm về xếp hạng tín dụng 15

1.1.2 Vai trò xếp hạng tín dụng tại các NHTM 16

1.1.3 Các phương pháp xếp hạng tín dụng 17

Trang 13

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả XHTD 19

1.2 Ủy ban Basel và các nguyên tắc xếp hạng theo Basel 22

1.2.1 Lịch sử ra đời của ủy ban Basel và các thành viên 22

1.2.2 Các hiệp ước Basel 23

1.2.3 Nội dung – phương pháp xếp hạng tín dụng theo Hiệp ước Basel II 25

1.2.4 Một số khuyến nghị của Ủy ban giám sát Basel 44

1.3 Kinh nghiệm XHTDNB và bài học kinh nghiệm cho Agribank 45

1.3.1 Kinh nghiệm thế giới 45

1.3.2 Kinh nghiệm Việt Nam 50

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Agribank 52

Kết luận chương 1 53

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG 54

2.1 Giới thiệu Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 54

2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành, phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) 54

2.1.2 Mô hình hoạt động, cơ cấu tổ chức của Agribank từ năm 2011 đến nay 58 2.1.3 Một số thành tựu và phần thưởng cao quý 58

2.1.4 Thực trạng hoạt động tín dụng và kết quả hoạt động của Agribank .61

2.2 Thực trạng ứng dụng Basel II trong việc xếp hạng tín dụng tại Agribank 63 2.2.1 Cấu trúc hệ thống xếp hạng tín dụng tại Agribank 65

2.2.2 Chính sách xếp hạng tín dụng tại Agribank 67

2.2.3 Đánh giá thực trạng công tác xếp hạng tín dụng nội bộ tại Agribank 81 Kết luận chương 2 93

Trang 14

CHƯƠNG 3 94

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VIỆC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI AGRIBANK 94

3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 94

3.1.1 Sự cần thiết ứng dụng Basel II trong việc xếp hạng tín dụng 94

3.1.2 Định hướng chiến lược của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (đối với hoạt động quản trị của các NHTM) đến năm 2020 97

3.2 Giải pháp hoàn thiện việc xếp hạng tín dụng nội bộ tại Agribank 99

3.2.1 Nhóm giải pháp dài hạn 99

3.2.2 Nhóm giải pháp ngắn hạn 100

3.3 Một số kiến nghị đối với các cơ quan nhà nước 108

3.3.1 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành hướng dẫn xếp hạng 108

3.3.2 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần nâng cao chất lượng thông tin tín dụng của CIC 109

3.3.3 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần nâng cao khả năng đánh giá và giám sát hệ thống XHTD của các NHTM 110

3.3.4 Nhà nước cần tạo môi trường cho phát triển các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực xếp hạng tín dụng 110

3.3.5 Nhà nước sớm ban hành các chỉ tiêu trung bình ngành 111

3.3.6 Hoàn thiện chuẩn mực kế toán Việt Nam 111

3.3.7 Quy định về chế độ kiểm toán đối với doanh nghiệp 112

Kết luận chương 3 114

KẾT LUẬN LUẬN VĂN 115

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HIỆP ƯỚC BASEL II

1.1 Những vấn đề cơ bản về xếp hạng tín dụng

1.1.1 Khái niệm về xếp hạng tín dụng

Cho đến nay có nhiều cách định nghĩa về xếp hạng tín dụng, có thể nêu một

số cách định nghĩa như sau:

John Moody’s đưa ra thuật ngữ xếp hạng tín dụng vào năm 1909 trong cuốn

“Cẩm nang chứng khoán đường sắt” khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công

bố bảng xếp hạng tín dụng lần đầu tiên cho 1.500 loại trái phiếu của 250 công tytheo một hệ thống ký hiệu gồm 3 chữ cái A, B, C được xếp lần lượt là

AAA đến C (hiện nay những ký hiệu này đã trở thành chuẩn mực quốc tế

Theo Moody’s thì “Xếp hạng tín dụng là ý kiến về khả năng và sự sẵn sàngcủa một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản nợ nhấtđịnh trong suốt thời hạn tồn tại của khoản nợ”

Theo Bohn, John A viết trong cuốn “Phân tích rủi ro trên các thị trườngđang chuyển đổi” thì “Xếp hạng tín dụng là sự đánh giá về khả năng một nhàphát hành có thể thanh toán đúng hạn cả gốc và lãi đối với một loại chứng khoántrong suốt thời gian tồn tại của nó”

Theo định nghĩa của công ty Merrill Lynch thì “Xếp hạng tín dụng là đánhgiá hiện thời của công ty xếp hạng tín dụng về chất lượng tín dụng của một nhàphát hành chứng khoán nợ, về một khoản nợ nhất định Nói khác đi, đó là cáchđánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng đang được xem xét trong hoàn cảnhhướng về tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng phát hành có thể thanhtoán gốc và lãi đúng hạn”

Trang 16

Từ các định nghĩa trên, thì có thể khái quát xếp hạng tín dụng như sau: Xếphạng tín dụng là đánh giá mức độ rủi ro của một khoản nợ thông qua hệ thốngtiêu chuẩn đánh giá của tổ chức xếp hạng.

1.1.2 Vai trò xếp hạng tín dụng tại các NHTM

1.1.2.1 Với các NHTM

Đánh giá chính xác mức độ rủi ro của người vay:

Việc xếp hạng tín dụng có vai trò quan trọng trong việc đánh giá mức độ rủi

ro của người vay vốn Trước khi cho vay, ngân hàng cũng tiến hành xếp hạng rủi

ro của khách hàng Trên cơ sở kết quả xếp hạng tín dụng, các NHTM sẽ ra quyếtđịnh cho vay hay không Nếu khách được xếp ở mức quá rủi ro, ngân hàngkhông thể chấp nhận được, buộc phải từ chối cấp tín dụng cho khách hàng

(i) Xây dựng chính sách tín dụng phù hợp:

Mỗi NH có khẩu vị rủi ro khác nhau thể hiện qua chính sách tín dụng.Chính sách khách hàng bao gồm: Chính sách tín dụng; Chính sách lãi suất;Chính sách tài sản đảm bảo; Chính sách các loại phí … Các NHTM có chínhsách đó phù hợp với hạng của khách hàng Khách hàng được xếp ở mức rủi rokhách nhau, sẽ phải có mức phí bù rủi ro cũng như tài sản đảm bảo khác nhau.(ii) Dự phòng rủi ro phù hợp

Dựa trên kết quả XHTD khách hàng của hệ thống XHTD nội bộ sẽ làm căn

cứ để tính toán và trích lập dự phòng rủi ro Dự phòng rủi ro sẽ giúp NH tránhđược nguy cơ phá sản

(iii)Là cơ sở để NH xác định mức độ an toàn vốn:

Theo phương pháp quản trị vốn hiện đại, trên cơ sở qui định tại Hiệp ướcBasel, từ việc xếp hạng các NH sẽ tính mức độ rủi ro của tài sản (tài sản có rủiro) và mức vốn tự có, sau đó xác định hệ số vốn tự có/tài sản rủi ro để biết mức

độ đủ vốn của NH

1.1.2.2 Với các cơ quan quản lý

Trang 17

Với các cơ quan quản lý, việc xếp hạng tín dụng có vai trò quan trọng trongviệc đánh giá hệ thống tài chính cững như có biện pháp điều tiết vĩ mô phù hợp.

(i) Là cơ sở để cơ quan nhà nước thiết lập chính sách vĩ mô Đối vớiNHTW, qua thông tin từ XHTD, NHTW có thể đánh giá được chất lượng tài sảncủa các NHTM và có cơ sở thông tin để so sánh mức độ rủi ro theo từng loại đốitượng, vùng kinh tế, ngành kinh tế, lĩnh vực hoạt động, để từ đó có chính sáchtiền tệ, tín dụng thích hợp

( ii) Là cơ sở để cơ quan thanh tra NHTW tiến tới xác định mức độ đủ vốncủa NHTM, từ đó có biện pháp yêu cầu các NHTM tăng mức vốn cho đủ với yêucầu theo chuẩn mực quốc tế

Trên cơ sở năng lực phán đoán của mình, các chuyên gia xếp hạng sẽ đưa ramột mức độ rủi ro với từng khách hàng thể hiện qua bảng xếp hạng tổng hợp củatất cả các khách hàng

Phương pháp phán đoán có những ưu và nhược điểm sau đây:

(i) Ưu điểm:

• Phương pháp này tận dụng được kinh nghiệm và tri thức chuyên sâucủa các chuyên gia trong chuyên ngành của họ Phương pháp có thể xem xétđược các yếu tố định tính trên sự phán đoán của chuyên gia mà ở phương pháp khác không thể có được

Trang 18

• Trong trường hợp việc xếp hạng theo hướng chuyên môn hóa, mỗichuyên gia phân tích một vài nội dung thì kết quả được tập hợp từ nhiều người,nên nó được xem xét trên nhiều phương diện khác nhau, tránh được sự phiến diện, một chiều.

(ii) Nhược điểm:

• Phương pháp này không thể loại bỏ hoàn toàn khía cạnh chủ quan củacác chuyên gia trong kết quả đánh giá Yếu tố tâm lý cũng tác động khá nhiềuđến kết quả đánh giá của chuyên gia

• Chi phí đánh giá có thể rất cao khi số lượng người tham gia đông và

số vòng thu thập ý kiến gồm nhiều lần, làm kéo dài thời gian phân tích

1.1.3.2 Phương pháp tính điểm

Phương pháp tính điểm là phương pháp xếp hạng khách hàng dựa trên hệthống điểm số, điểm số càng cao thì mức độ rủi ro càng thấp Để có thể xếp hạngtheo phương pháp này, các NHTM xây dựng một hệ thống điểm chuẩn với nhiềutiêu chí khác nhau tương ứng với các yếu tố tác động đến khả năng trả nợ Mức

độ tác động càng lớn thì trọng số càng cao trong hệ thống xếp hạng

Trên cơ sở hệ thống điểm chuẩn và thực tế dữ liệu của khách hàng mà NH thuthập được, những ngân hàng khi ứng dụng công nghệ thông tin, dùng phươngpháp này sẽ tự động quy điểm cụ thể cho từng loại khách hàng Phương pháp

tính điểm có những ưu và nhược điểm sau đây:

(i) Ưu điểm:

• Tính toán nhanh, ít tốn thời gian và chi phí, chỉ cần cán bộ tín dụngnhập các số liệu về khách hàng, máy tính sẽ tự động tính điểm và cho kết quảphân hạng

• Khách quan, ít chịu ảnh hưởng năng lực, tâm lý của chuyên gia xếp

hạng

Trang 20

• Không loại trừ được trường hợp kết quả sai do có những yếu tố định

tính như tiêu chí trả nợ, năng lực pháp lý, dự báo ngành mà không thể dùng máytính để tính điểm các yếu tố

1.1.3.3 Phương pháp kết hợp

Do hai phương pháp trên có những hạn chế nhất định, do vậy, thực tế cácNHTM áp dụng phương pháp kết hợp, vừa sử dụng phương pháp phán đoán vàphương pháp tính điểm

Phương pháp này được tiến hành như sau:

( i) Trước tiên NH sử dụng phương pháp tính điểm cho từng khách hàng, inkết quả gửi chuyên gia

( ii) Chuyên gia sẽ căn cứ vào kết quả, kiểm tra lại mức độ chính xác củacác tiêu chí, đồng thời sử dụng kỹ năng phán đoán của các chuyên gia để phântích các yếu tố định tính mà phương pháp tính điểm không thể thực hiện được.( iii) Chuyên gia ra quyết định phân hạng và trình cấp có thẩm quyền phêduyệt

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả XHTD

Kết quả việc XHTD chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố sau đây:

1.1.4.1 Cách thức tổ chức xếp hạng

Khâu tổ chức cực kỳ quan trọng trong việc xếp hạng tín dụng Mọi thànhbại đều do khâu tổ chức Thông thường có 2 cách tổ chức xếp hạng tín dụng tạicác NHTM đó là:

( i) Giao cho một người thực hiện với từng khách hàng (nhân viên nàythường là cán bộ tín dụng)

Theo phương pháp này toàn bộ việc xếp hạng với khách hàng do một ngườithực hiện, có thể cán bộ tín dụng nào quản lý khách hàng nào thì xếp hạng vớichính khách hàng được phân công quản lý

Trang 21

Người được giao việc xếp hạng sẽ chuyển giao cho bộ phận tổng hợp để tổng hợp lại kết quả của tất cả khách hàng của NH.

Theo phương pháp này có những ưu và nhược điểm sau:

➢Ưu điểm:

• Nhanh, bởi tự từng cán bộ tín dụng phải xây dựng kế hoạch cá nhân để đảm bảo việc phân loại, xếp hạng theo đúng tiến độ mà NH phân công

• Mặt khác, chính cán bộ tín dụng quản lý khách hàng do vậy am hiểu thực

tế tình hình từng khách hàng cho nên có kết quả chính xác

➢ Nhược điểm:

• Kết quả sẽ phụ thuộc vào năng lực, tâm lý của người xếp hạng

( ii) Chuyên môn hóa

Theo cách thức này việc xếp hạng sẽ được phân công cho nhiều bộ phậnthực hiện Mỗi bộ phận sẽ phân tích một hay vài nội dung trong hệ thống xếphạng sau đó chuyển cho bộ phận tổng hợp

Phương pháp tổ chức này có ưu và nhược điểm như sau:

1.1.4.2 Mức độ đầy đủ thông tin cho việc xếp hạng

Kết quả xếp hạng phụ thuộc vào thông tin mà NH có được, thông tin gồmhai nguồn chính là thông tin sơ cấp và thứ cấp:

( i) Nguồn sơ cấp là loại nguồn mà NH trực tiếp có được như từ kháchhàng, từ hồ sơ lưu trữ

Trang 22

( ii) Nguồn thứ cấp là loại nguồn mà NH phải tổng hợp từ các báo cáo tàichính của khách hàng, báo cáo kinh doanh của khách hàng, từ các số liệu lưu trữtại NH, từ CIC, từ các báo cáo chuyên ngành khác.

Các thông tin đầy đủ sẽ giúp cho việc đánh giá tốt hơn, chính xác hơn Cácthông tin mang tính dự báo thường ít được cung cấp bởi các tổ chức chuyênngành, dẫn đến khó cho các NH trong việc đánh giá chính xác mức độ rủi rotrong tương lai

1.1.4.3 Công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin có tác động rất lớn đến việc XHTD tại các NH ở cácgóc độ:

( i) Hỗ trợ lưu trữ, tìm kiếm thông tin cho việc xếp hạng

( ii) Hỗ trợ xếp hạng bởi phần mềm chuyên nghiệp, giảm nhẹ việc xếp hạngthủ công Từ đó tiết kiệm được thời gian và tăng năng suất trong việc xếp hạng

Thông tin đầy đủ sẽ giúp NH đánh giá nhiều mặt về khách hàng, từ đó raquyết định phân hạng tín dụng chắc chắn và chính xác

1.1.4.4 Năng lực nhân viên

Năng lực nhân viên xếp hạng cũng tác động không nhỏ đến kết quả xếphạng XHTD nếu chỉ dựa vào những thông tin, số liệu hiện tại, kết quả trong quákhứ thì chỉ mới xác định được mức độ rủi ro thời điểm hiện tại

Nếu nhân viên có năng lực tốt, có khả năng phán đoán, đánh giá những tácđộng, nhất là yếu tố thiện chí trả nợ hoặc các yếu tố có sự thay đổi trong tươnglai như: các biến số kinh tế vĩ mô, tăng trưởng ngành, hay chu kỳ sản phẩm củadoanh nghiệp, khi đó việc đánh giá sẽ chính xác hơn

1.1.4.5 Hệ thống tiêu chuẩn xếp hạng

Mỗi NH thường cụ thể hóa những tiêu chuẩn xếp hạng của NH Trong mỗi

hệ thống có những tiêu chí đánh giá khác nhau Nếu các tiêu chí được sắp xếpkhoa học, cụ thể hóa sẽ giúp nhân viên xếp hạng dễ dàng đánh giá mức độ rủi ro

Trang 23

Một số NH ngày nay cụ thể hóa bằng hệ thống điểm số với từng tiêu chíkhác nhau, khi đó nhân viên xếp hạng tín dụng chỉ việc căn cứ vào các tiêu chí

và cho mức điểm phù hợp

1.2 Ủy ban Basel và các nguyên tắc xếp hạng theo Basel

1.2.1 Lịch sử ra đời của ủy ban Basel và các thành viên

Tháng 02/1975 cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Basel được tổ chức Ủy banBasel về giám sát nghiệp vụ NH là một ủy ban bao gồm các chuyên gia giám sátcác hoạt động NH, được thành lập bởi các Thống đốc NHTW của nhóm G10 vàocuối năm 1974 Sự ra đời của ủy ban Basel xuất phát từ sau một loạt các cuộckhủng hoảng tiền tệ quốc tế và thị trường NH, trong đó đáng chú ý nhất chính là

sự sụp đổ của NH Herstatt ở Tây Đức lúc bấy giờ

Khi mới thành lập các thành viên Ủy ban bao gồm đại diện cao cấp các cơquan giám sát nghiệp vụ NH và bản thân NHTW của các nước Bỉ, Canada, Pháp,Đức, Ý, Nhật Bản, Luxembourg, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ,Anh và Mỹ Ủy ban tổ chức họp thường niên tại trụ sở NH thanh toán quốc tế tạiWashington hoặc tại Thành phố Basel – Thụy Sĩ Ban thư ký thường trực của Ủyban này cũng có trụ sở làm việc tại thủ đô Washington – Mỹ

Cương lĩnh hoạt động của Ủy ban này là sự yếu kém trong hệ thống NH củamột quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, có thể đe dọa đến sự

ổn định về tài chính trong cả nội bộ quốc gia đó và trên toàn thế giới Nhu cầunâng cao sức mạnh của hệ thống tài chính nhất thiết phải được nhiều quốc gia,nhiều tổ chức tài chính trên thế giới nói chung và Ủy ban Basel về Giám sátnghiệp vụ NH nói riêng đặc biệt quan tâm Ủy ban Basel đã tham gia hoạt độngtrong nhiều năm qua cho quan điểm và sứ mạng này, dưới cả hình thức trực tiếpcũng như gián tiếp, thông qua các mối liên hệ với chuyên gia giám sát nghiệp vụ

NH ở các quốc gia khác nhau trên toàn cầu

Trang 24

Định kỳ từ 3 đến 4 lần mỗi năm Ủy ban Basel tổ chức các cuộc thảo luận vềnhững vấn đề xoay quanh sự hợp tác quốc tế để giảm bớt khoảng cách trongcông tác giám sát hoạt động NH trên toàn thế giới Những vấn đề chính mà cáccuộc họp của ủy ban thường trao đổi đó là:

• Trao đổi thông tin về hoạt động giám sát cấp quốc gia

• Cải thiện hiệu quả kỹ thuật giám sát hoạt động NH quốc tế

• Đặt ra những tiêu chuẩn giám sát tối thiểu trong những lĩnh vực mà

Ủy ban thực sự quan tâm

1.2.2 Các hiệp ước Basel

Cho đến nay Ủy ban Basel đã thông qua các Hiệp ước như sau:

1.2.2.1 Hiệp ước Basel I

Hiệp ước Basel I được ra đời sau cuộc họp của Ủy ban Basel về giám sáthoạt động NH vào tháng 07/1988, trong đó đưa ra các chuẩn mực nguyên tắcquản lý vốn của các NH, hướng dẫn các phương pháp đo lường vốn, đo lườngmức độ rủi ro tài sản NH

Theo đó, Hiệp ước Basel đã chia các nhân tố của vốn bao gồm hai cấp:

• Vốn cấp 1 (Tier 1) gồm có vốn cổ phần thường và các khoảng dự trữ

công khai

• Vốn cấp 2 (Tier 2) gồm các khoảng dự trữ không công khai, giá trịtăng thêm của việc đánh giá lại tài sản, dự phòng chung và dự phòng tổn thất tíndụng, các công cụ nợ cho phép chuyển đổi thành cổ phiếu và các khoản nợ thứcấp

Vốn tự có phải đảm bảo những giới hạn sau:

• Tỷ lệ vốn tự có/Tài sản rủi ro ít nhất phải đạt 8%

• Tổng vốn cấp 2 chỉ được tối đa bằng 100% vốn cấp 1

• Vốn cấp 2 phải nhỏ hơn hoặc bằng 50% vốn cấp 1

Trang 25

• Các khoản dự phòng chung hay dự phòng tổn thất tín dụng được giớihạn tối đa là 1.25% tài sản có rủi ro hoặc trong một số trường hợp đặc biệt có thểlên tới 2.0% của tài sản rủi ro.

1.2.2.2 Hiệp ước Basel II

Mặc dù Basel I vẫn còn được nhiều nước áp dụng cho đến ngày nay, nhưngBasel I đã bộc lộ một số nhược điểm Chẳng hạn, trong quy định vốn tối thiểu,Basel I mới chỉ đề cập đến những rủi ro về tín dụng chứ chưa đề cập đến nhữngrủi ro khác như rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường

Chính vì vậy, một số quy định trong Basel I đã không còn phù hợp khi ápdụng tại những NH này, đòi hỏi phải có một sự cải tiến toàn diện trong việc xâydựng các chuẩn mực quốc tế về quản trị rủi ro và giám sát các hoạt động NH.Trước đòi hỏi của xu hướng phát triển này, để đảm bảo an toàn trong hoạt động

NH của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là đối với những tập đoàn NH lớn có phạm

vi hoạt động quốc tế, Basel II đã ra đời

Hiệp ước Basel II thông qua cuối năm 2001, có hiệu lực thi hành vào31/12/2006 Hiệp ước Basel II đưa ra một loạt các phương án lựa chọn, cho phépquyền tự quyết rất lớn trong giám sát hoạt động NH Hiệp ước Basel II bao gồmmột loạt các chuẩn mực giám sát nhằm hoàn thiện các kỹ thuật quản trị rủi ro vàđược cấu trúc theo 3 cấp độ:

• Cấp độ I (Pillar I): Quy định yêu cầu tỷ lệ về vốn tối thiểu đối với rủi

ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động

• Cấp độ II (Pillar II): Đưa ra các hướng dẫn liên quan đến quá trình

Trang 27

rủi ro duy nhất (đó là rủi ro tín dụng).

phương pháp chuẩn hóa

Nguồn: Tác giả so sánh từ 2 Hiệp ước.

1.2.2.3 Hiệp ước Basel III

Các quy định về vốn của Basel I (và Basel II cũng không thay đổi) cónhững điểm chưa chặt chẽ Do vậy đến ngày 16/12/2010 Ủy ban Basel đã thôngqua Hiệp định Basel III Một số điểm mới của Basel III đó là:

• Nâng cao chất lượng vốn, yêu cầu các NH bổ sung thêm vốn cấp 1từ

4% lên 6%, vốn chủ sở hữu yêu cầu chặt chẽ hơn, lên đến 4,5% và yêu cầu các

NH luôn có mức vốn dự trữ đệm (lợi nhuận không chia) để sẵn sàng chuyểnthành vốn chính thức khi gặp rủi ro

• Yêu cầu nâng cao chất lượng tài sản của các NH Những tài sản kémchất lượng sẽ bị loại trừ khỏi vốn của NH theo Basel II (Các khoản đầu tư vượt15% vốn cấp 1 sẽ bị loại trừ khỏi vốn)

• Tăng tỷ lệ thanh khoản, Basel III yêu cầu các NH nắm giữ tài sản có tính thanh khoản cao hơn để sẵn sàng đáp ứng khả năng chi trả

1.2.3 Nội dung – phương pháp xếp hạng tín dụng theo Hiệp ước Basel II

Theo Ủy ban Basel, “rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra sự mất mát do người đivay hoặc đối tác gây ra” Để đo lường và tính toán hệ số rủi ro đối với các khoảnmục tài sản có khi xem xét rủi ro tín dụng, theo Basel II các ngân hàng có thể lựachọn để sử dụng một trong ba phương pháp: Phương pháp chuẩn hóa; Phương

Trang 28

pháp dựa trên xếp hạng nội bộ cơ bản; Và phương pháp dựa trên xếp hạng nội bộnâng cao Cụ thể các phương pháp như sau:

1.2.3.1 Phương pháp chuẩn hóa đánh giá rủi ro tín dụng

Phương pháp chuẩn đánh giá rủi ro tín dụng cơ bản gần giống như phiênbản Basel I, trong đó quy định hệ số rủi ro cố định đối với từng khoản mục tàisản có, khi tài sản đó thỏa mãn được những đặc điểm được mô tả sẽ tương ứngvới một mức rủi ro Tuy nhiên, Basel II bổ sung thêm việc sử dụng phần đánh giáxếp hạng tín nhiệm của các tổ chức độc lập hoặc xếp hạng tín nhiệm nội bộ Mộtđiểm phát triển tương đối quan trọng trong phương pháp này chính là việc mởrộng danh mục các sản phẩm phái sinh dùng để cầm cố, bảo lãnh và cho vay.Đồng thời, Basel II cũng đưa ra một số quy định riêng đối với các hoạt động NHbán lẻ, các khoản phải đòi với doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ (SMEs)

( i) Ủy ban cho phép các NH có thể lựa chọn một trong hai cách tính nhucầu vốn để phòng ngừa rủi ro tín dụng:

• Cách thứ nhất là đo lường rủi ro tín dụng bằng cách sử dụng đánh giá

Trong trường hợp sử dụng đo lường rủi ro tín dụng bằng tổ chức tín nhiệmđộc lập (Định chế đánh giá tín dụng bên ngoài ECAI) thì cơ quan giám sát quốcgia có trách nhiệm trong việc xác định định chế đánh giá có đáp ứng được cáctiêu chí dưới đây hay không

Trang 30

- Tính độc lập: ECAI cần phải là độc lập và cần không phải là đối

tượng cho sức ép chính trị hay kinh tế có thể ảnh hưởng đến sự đánh giá

- Tính rõ ràng: các đánh giá đơn lẻ cần là thích hợp với cả định

chế

nội địa và nước ngoài với lợi ích hợp pháp Phương pháp luận do ECAI sử dụng cần phải thích hợp một cách công khai

- Sự minh bạch: ECAI cần minh bạch các thông tin: phương pháp luận

của mô hình bao gồm định nghĩa khung trả nợ, giới hạn thời gian

- Các nguồn lực: ECAI cần có nguồn lực hiệu quả để thực hiện

đánh

giá tín dụng chất lượng cao, nguồn lực cho phép hợp đồng trọng yếu liên tục.Nói chung, việc xác định hệ số rủi ro đối với các khoản mục trong và ngoàibảng cân đối kế toán theo quy định của Basel II, đặc biệt là khi sử dụng phươngpháp chuẩn để đánh giá rủi ro tín dụng thì phụ thuộc nhiều vào kết quả xếp hạngtín nhiệm nội bộ và xếp hạng tín nhiệm của tổ chức độc lập Các chuẩn mực theoquy định từ điều khoản 50 đến điều khoản 210 của bản Basel II đầy đủ năm 2006hướng dẫn rất chi tiết và cụ thể cho phần đánh giá xếp hạng tín nhiệm đối vớitừng khoản mục cũng như đối với phần đánh giá trong ngắn hạn và trong dàihạn Để có thể xây dựng một tổ chức xếp hạng tín nhiệm có uy tín hoặc pháttriển bộ phận xếp hạng tín nhiệm trong nội bộ của mình, các NH, các cơ quangiám sát nhà nước cần tham khảo rất kỹ những điều khoản này

1.2.3.2 Phương pháp đánh giá rủi ro tín dụng – Cách tiếp cận cơ sở đánh giá nội bộ (IRB) và IRB nâng cao

Các ngân hàng khi thỏa mãn các điều kiện tối thiểu về vốn và các yêu cầuminh bạch có thể được ngân hàng trung ương cho phép đánh giá rủi ro tín dụngnội bộ Cách tiếp cận IRB được dựa trên các đo lường tổn thất không kỳ vọng(UL) và tổn thất kỳ vọng (EL)

( i) Cách phân loại rủi ro của Hiệp ước Basel II

Trang 32

rãi với các đặc trưng rủi ro ràng buộc khác nhau như: chính quyền, ngân hàng, công ty, bán lẻ và vốn tự có.

- Đối với rủi ro công ty.

Các hướng dẫn về rủi ro này được nêu từ mục 218-228, có thể sơ lược ởmột số điểm sau đây:

Tại mục 218 đã được định nghĩa rủi ro công ty là nghĩa vụ trả nợ của công

ty, của liên hiệp hoặc quyền sở hữu Các ngân hàng được phép phân tích riêngcác nhiễm rủi ro theo các chủ thể nhỏ và vừa

Theo mục 219 bản Hiệp ước, trong phạm vi loại tài sản có, công ty có 5 loạiphụ của cho vay, cụ thể được nhận dạng:

• Tài trợ dự án,

• Tài trợ theo đối tượng,

• Tài trợ tiêu dùng, (cho vay ngắn cho các dự trữ tồn kho, phải thu của hàng tiêu dùng được trao đổi buôn bán)

• Bất động sản tạo ra thu nhập,

• Bất động sản biến động cao

- Đối với các rủi ro bán lẻ.

Theo khoản mục 211 loại này bao hàm tất cả các rủi ro đáp ứng các tiêu chísau:

+ Các nhiễm rủi ro theo các cá nhân như: thẻ tín dụng, các khoản cho vay

kỳ hạn cá nhân, thu mua

+ Các khoản cho vay cầm cố nhà ở

+ Các khoản cho vay mở rộng đến các DN nhỏ

Theo khoản mục 213, trong phạm vi phân loại tài sản bán lẻ, các ngân hàngyêu cầu được nhận dạng một cách riêng biệt 3 nhóm phụ của nhiễm rủi ro bán lẻ:a/ các nhiễm rủi ro có đảo đảm bằng các tài sản, b/ các nhiễm rủi ro có đủ điềukiện, c/ các nhiễm rủi ro bán lẻ khác

- Đối với các rủi ro chính quyền.

Trang 33

Theo khoản mục 230 bản Hiệp ước, loại tài sản này bao hàm các nhiễm rủi

ro theo các đối tác được đối xử như cấp chính quyền theo cách tiếp cận chuẩnhóa Điều này bao gồm các chính quyền và ngân hàng trung ương của họ Cácquyền đòi đối với các chủ thể khu vực công (PSE) nhất định được nhận dạng nhưchính quyền trong cách tiếp cận chuẩn hóa

- Đối với các rủi ro ngân hàng.

Cũng theo khoản mục 230, rủi ro ngân hàng bao hàm các nhiễm rủi ro theocác ngân hàng và các công ty chứng khoán Các nhiễm rủi ro ngân hàng cũngbao gồm các quyền đối với các chủ thể khu vực công (PSE) nội địa mà được đối

xử giống như các quyền đòi đối với các ngân hàng theo cách tiếp cận tiêu chuẩnhóa và các ngân hàng phát triển đa năng (MDBS) không đáp ứng được các tiêuchí đối với trọng số 0% theo cách tiếp cận chuẩn hóa

- Các rủi ro vốn tự có.

Basel II coi rủi ro từ các khoản đầu tư là các rủi ro vốn tự có, vì với cáckhoản đầu tư khi có rủi ro, sẽ ảnh hưởng trực tiếp ngay đến vốn tự có của ngânhàng

Mục 235 của Basel II quy định, các khoản đầu tư mang lại lợi ích quan hệtrực tiếp và gián tiếp dù biểu quyết hay không Các khoản đầu tư cho công tyđược xem xét là nhiễm rủi ro vốn tự có nếu đáp ứng đủ các yêu cầu dưới đây:

+ Nó không có khả năng hoàn trả lại

+ Nó không bao hàm nghĩa vụ của người phát hành

+ Nó chuyển nhượng quyền đòi còn lại về các tài sản hoặc thu nhập của người phát hành

Cách tiếp cận cơ bản và nâng cao.

Đối với các tài sản đã bao hàm trong cấu trúc khung IRB, có 3 cấu phần chủ chốt

+ Cấu trúc phần rủi ro

+ Các hàm số trọng số rủi ro

Trang 34

+ Các yêu cầu vốn tối

thiểu Đối với nhiều tài sản

+ Theo cách tiếp cận cơ bản như là nguyên tắc chung, các NH cung cấp các

xác lập riêng của họ về xác suất rủi ro (PD) và dựa vào các xác lập giám sát đối với các cấu phần rủi ro khác

+ Theo cách tiếp cận nâng cao, các NH cung cấp nhiều hơn các xác lậpriêng của họ về PD, LGD, EAD và sự tính toán riêng của họ về M (kỳ hạn cóhiệu quả) tùy thuộc theo việc đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu

Theo cách tiếp cận cơ bản, các NH cần phải cung cấp xác lập riêng của họ

về PD có sự kết hợp với từng loại cấp độ người vay của ngân hàng nhưng cầnphải sử dụng các xác lập giám sát đối với các cấu phần rủi ro tương ứng khác.Các cấu phần rủi ro tương ứng khác là LGD, EAD và M

(i) Với các loại rủi ro công ty, chính quyền và ngân hàng

Theo cách tiếp cận nâng cao, các NH phải tính toán kỳ hạn hiệu quả

(M) và cung cấp các xác lập riêng của họ về PD, LGD, và EAD

(ii) Các loại rủi ro bán lẻ

Các NH phải cung cấp các xác lập riêng của ngân hàng về PD, LGD

và EAD Ở đây không ngoại lệ giữa cách tiếp cận cơ bản và nâng cao với cácloại tài sản vay

(iii)Các rủi ro vốn tự có

Có 2 cách tiếp cận để tính các tài sản có rủi ro so sánh với các rủi ro vốn tự

có được ghi trong sổ sách: Các tiếp cận cơ sở thị trường và cách tiếp cậnPD/LGD

Điều kiện xếp hạng tín dụng theo phương pháp IRB

Để có thể tiếp cận các đánh giá IRB, Hiệp ước đã qui định các ngân hàng phải thỏa mãn 12 nội dung cơ bản như sau:

(1) Kết cấu của các yêu cầu tối thiểu

Trang 35

Tại mục 388 qui định: Để hợp lệ đối với cách tiếp cận IRB, ngân hàng cầnphải trình diễn cho tổ chức giám sát của NH rằng NH đáp ứng đủ các yêu cầu tốithiểu nhất định tại điểm khởi đầu và trên cơ sở liên tục Nhiều yêu cầu trong cácyêu cầu đó là hình thức của các mục tiêu mà các hệ thống đánh giá rủi ro đủ điềukiện của NH cần phải thực hiện Trọng tâm là khả năng của ngân hàng để phânhạng thứ bậc và rủi ro chất lượng trong dạng nhất quán, chắc chắn và phù hợp.

Ủy ban công nhận có sự khác biệt trong các thị trường, các phương phápluận đánh giá, các sản phẩm ngân hàng, và các thực tiễn đòi hỏi ngân hàng

(2) Sự tuân thủ các yêu cầu tối thiểu

Để là hợp lệ đối với cách tiếp cận IRB, ngân hàng cần phải trình diễn cho tổchức giám sát của ngân hàng đáp ứng các yêu cầu IRB trong tài liệu này, tạiđiểm khởi đầu và trên cơ sở liên tục Các thực hành quản lý rủi ro tín dụng chungcủa các ngân hàng cũng cần phải nhất quán với các hướng dẫn thực hành tiếnhóa chắc chắn do Ủy ban và các tổ chức giám sát quốc gia phát hành

(3) Thiết kế hệ thống tự đánh giá

Theo mục 394, thuật ngữ hệ thống tự đánh giá bao gồm tất cả các phươngpháp, các quá trình và sự thu thập số liệu và các hệ thống tin học hỗ trợ cho đánhgiá rủi ro tín dụng Sự đánh giá về việc đánh giá rủi ro nội bộ và sự lượng hóa về

sự không trả nợ và các xác lập tổn thất

Trong phạm vi từng loại tài sản, NH có thể áp dụng phương pháp luận hệthống đánh giá đa năng (Ví dụ NH cải biến hệ thống đánh giá cho các ngành vàphân đoạn thị trường)

a) Kích cỡ đánh giá

- Tiêu chuẩn đánh giá rủi ro với công ty, chính quyền, NH

Hệ thống đánh giá rủi ro IRB đủ chuẩn phải có 2 chiều riêng biệt và khác nhau: (i) rủi ro người vay không trả nợ, và (ii) các yếu tố giao dịch cụ thể

Trang 36

+ Theo mục 397, rủi ro người vay không trả được nợ, các rủi ro tách biệtđối với cùng một người vay cần phải ấn định cho cùng một cấp độ người vay bấtchấp bất kỳ những khác biệt trong bản chất của từng giao dịch cụ thể.

+ Theo điều 398, rủi ro yếu tố giao dịch cụ thể cần phản ánh yếu tố đặc biệtnhư sự thế chấp, tính cao cấp, dạng sản phẩm

- Tiêu chuẩn đánh giá đối với các rủi ro bán lẻ

Các rủi ro bán lẻ cũng cần định hướng đánh giá theo cả hai rủi ro người vay

và rủi ro giao dịch Các ngân hàng cần phải ấn định từng nhiễm rủi ro thành từngmảng đặc biệt

Theo mục 402 qui định đối với từng người, phần rủi ro các ngân hàng cầnphải xác lập PD, LGD và EAD các mảng, phần đa dạng có thể chia xẻ các xáclập PD, LGD, EAD tương đồng Tối thiểu các ngân hàng cần phải xem xét cácđộng lực rủi ro dưới đây khi ấn định các rủi ro vào mảng, phần

+ Các đặc trưng rủi ro người vay (dạng người vay, các đặc trưng nhân chủng học: tuổi, nghề nghiệp,…)

+ Các đặc trưng rủi ro giao dịch (bao gồm các sản phẩm, dạng thế chấp, mùa vụ,…)

+ Các NH cần phải nhận dạng rủi ro, tách riêng rủi ro đúng hạn, không đúng hạn

b) Cơ cấu đánh giá

- Các tiêu chuẩn rủi ro công ty, chính quyền và NH

Theo mục 403, các NH cần phải có sự phân bổ đầy đủ về các nhiễm rủi roxuyên suốt các cấp độ, không có những sự tập trung hóa các mức trên cả haiphương diện ngân hàng đánh giá người vay và đánh giá qui mô

Để đạt mục tiêu trên các ngân hàng tối thiểu 7 cấp độ người vay đối vớikhách hàng trả nợ và một cấp độ đối với khách hàng không trả nợ

Trang 37

Cấp độ người vay theo mục 405 định nghĩa là sự đánh giá rủi ro người vaytheo cơ sở sự sắp đặt xác định và khác nhau về các tiêu chí đánh giá mà từ đó cácxác lập về PD được suy ra.

Định nghĩa cấp độ cần phải bao gồm cả hai sự mô tả về cấp độ của rủi rokhông trả được nợ đặc trưng cho người vay được ấn định cấp độ và các tiêu chíđược sử dụng để phân biệt mức độ về rủi ro tín dụng

Theo mục 406, các NH với các danh mục khoản vay tập trung hóa trongmột phân đoạn thị trường và một dây rủi ro không trả nợ nào đó cần phải có đủcác cấp độ trong phạm vi dãy đó để tránh những sự tập trung hóa thái quá củanhững người vay trong những cấp độ nào đó

Mục 407 qui định các NH phải có số lượng đủ các cấp độ năng lực để tránhviệc nhóm các năng lực với các LGD giao động rộng vào một cấp độ đơn lẻ.Mục 408 qui định các NH sử dụng các tiêu chí quan sát xoắn với các loạitài sản SL (cho vay chuyên môn hóa) cần phải có tối thiểu bốn cấp độ người vaytrả nợ và một cấp độ cho người vay không trả nợ

- Các tiêu chuẩn với các rủi ro bán lẻ

Mục 409 qui định các NH phải có khả năng cung cấp các giải pháp lượnghóa về các đặc trưng tổn thất (PD, LGD và EAD) đối với các mảng đó … cầnphải có sự phân bổ đầy đủ về những người vay và các nhiễm rủi ro xuyên suốtcác mảng Một mảng phần đơn lẻ cần phải không bao gồm sự tập trung hóa tháiquá về tổng nhiễm rủi ro bán lẻ của NH

c) Các tiêu chí đánh giá

- Điều 410 qui định các NH phải có định nghĩa cách đánh giá cụ thể.Các quá trình và các tiêu chí để ấn định các nhiễm rủi ro theo các cấp độ từngphạm vi hệ thống đánh giá Các định nghĩa đánh giá và tiêu chí đánh giá phải rõràng, trực quan, phải chi tiết, rõ ràng để cho phép phía thứ 3 hiểu (như bộ phậnkiểm soát nội bộ, bộ phận ngang đồng cấp hoặc tổ chức giám sát)

Trang 38

- Việc đánh giá người vay cần phải thể hiện sự đánh giá của ngân hàng

về khả năng và sự mong muốn về người vay phải thực hiện theo hợp đồng cho

dù điều kiện kinh tế bất lợi hoặc việc xảy ra các sự cố không kỳ vọng

d) Giới hạn đánh giá ấn định

Mặc dù giới hạn được sử dụng trong sự xác lập PD là 1 năm, các NH được

kỳ vọng sử dụng giới hạn thời gian hơn trong các ấn định đánh giá

e) Sử dụng các mô hình

- Tại điều 417 Hiệp định qui định áp dụng mô hình thống kê và cácphương pháp cơ học khác để ấn định các cách đánh giá người vay hoặc năng lựctrong các xác lập PD, LGD, EAD Các mô hình chấm điểm tín dụng và các quitrình đánh giá cơ học khác, nhìn chung chỉ sử dụng tập hợp con số về các thôngtin thích hợp

- NH cần phải có một quá trình thích đáng để hiệu chỉnh các đầu vào sốliệu vào trong mô hình thống kê không trả nợ hoặc dự báo tổn thất mà bao gồm

sự đánh giá về tính chính xác, tính đầy đủ và tính phù hợp của các số liệu, đặctrưng cho sự ấn định đánh giá được phê duyệt

f) Tư liệu về thiết kế hệ thống đánh giá

- Điều 420, nếu NH dùng các mô hình thống kê trong quá trình đánh giá, NH cần phải văn bản hóa các phương pháp luận của ngân hàng

Trang 40

Từ mục 422 đến mục 437 của Hiệp định đã qui định về hoạt động hệ thốngđánh giá gồm mức bao trùm, tính liên hợp, sự ghi đè, duy trì số liệu kiểm nghiệmsức căng Có thể sơ lược một số điểm chính như sau:

Đối với các rủi ro cần phải được gắn với đánh giá năng lực như là một phầncủa quá trình phê duyệt khoản vay

Từng chủ thể pháp lý riêng biệt mà theo đó ngân hàng bị nhiễm rủi ro cầnphải được đánh giá riêng biệt Ngân hàng cần phải có chính sách được tổ chứcgiám sát của NH chấp thuận

Ấn định các đánh giá và kiểm tra đánh giá định kỳ cần phải được hoànthành hoặc được phê duyệt bởi bên mà không trực tiếp hưởng lợi từ sự mở rộngtín dụng Các quá trình hoạt động đó cần phải được văn bản hóa trong các quitrình của NH và được kết hợp vào trong các chính sách của NH Các chính sáchtín dụng và qui trình ký duyệt cần phải tái cưỡng chế và nuôi dưỡng sự độc lậpcủa quá trình đánh giá

Những người vay rủi ro cao hơn hoặc các nhiễm rủi ro có vấn đề cần phải

là đối tượng kiểm tra thường xuyên hơn

Ngân hàng cần phải thu thập và lưu trữ số liệu về những người vay và đặctrưng năng lực chủ chốt để cung cấp sự hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình quản lý

và đo lường rủi ro

(5) Điều hành và giám sát hoạt động

a) Điều hành ngân hàng

Tất cả các quá trình đánh giá và xác lập cần phải được phê duyệt bởi bangiám đốc ngân hàng hoặc một ủy ban đã thiết kế trong ngân hàng và quản lý caocấp

Cấp quản lý cấp cao cũng cần phải có hiểu biết tốt về thiết kế và hoạt độngcủa hệ thống đánh giá Cấp quản lý và nhân viên trong các chức năng kiểm tratín dụng cần phải gặp gỡ thường xuyên để trao đổi tình hình của quá trình đánhgiá

Ngày đăng: 04/10/2020, 10:32

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w