Trong luận văn tác giả đã tổng hợp nền tảng cơ sở lý thuyết và tiến hành phântích thực trạng tín dụng chính sách đối với cây cà phê tại Ngân hàng Chính sách xã hộichi nhánh tỉnh Lâm Đồng
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tín dụng chính sách cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác vay vốn sảnxuất cây cà phê đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xã hội đối với vùng TâyNguyên nói chung và tỉnh Lâm Đồng nói riêng giúp các hộ nghèo có được các dịch vụ cơbản và chống lại những rủi ro; giúp cải thiện cuộc sống kinh tế của người nghèo Thôngqua đó, người nghèo có khả năng tham gia vào cộng đồng kinh tế và xã hội một cách dễdàng hơn Littefield và Rosenberg (2004) nhận định rằng người nghèo là nhóm đối tượngkhó tiếp cận các dịch vụ tài chính nên các tổ chức tài chính vi mô cung cấp tín dụng chođối tượng này đã giải quyết khoảng trống về nguồn vốn Nhờ vậy, các tổ chức tài chính vi
mô trở thành một tổ chức của hệ thống tài chính chính thức và huy động được nguồn vốnphục vụ cho công tác tín dụng, tăng dần phạm vi và chất lượng phục vụ của mình Về lýthuyết, các nhân tố đều có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng chính sách đối vớicây cà phê, nhưng khi áp dụng vào thực tế, tùy vào từng hoàn cảnh và môi trường hoạtđộng khác nhau mà các nhân tố này có những tác động khác nhau đến mở rộng tín dụngchính sách đối với cây cà phê tại NHCSXH
Với mong muốn nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn về các nhân tố ảnh hưởng đếnhoạt động tín dụng chính sách đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách vay vốnsản xuất cây cà phê cũng như tìm kiếm những giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng
chính sách đối với cây cà phê tại đơn vị, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Tín
dụng đối với cây cà phê tại Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng”.
Trong luận văn tác giả đã tổng hợp nền tảng cơ sở lý thuyết và tiến hành phântích thực trạng tín dụng chính sách đối với cây cà phê tại Ngân hàng Chính sách xã hộichi nhánh tỉnh Lâm Đồng từ năm 2014 đến năm 2016 để nhận diện các nhân tố ảnhhưởng đến hoạt động tín dụng chính sách đối với hộ nghèo và các đối tượng chínhsách vay vốn sản xuất cây cà phê, từ đó làm căn cứ để đưa ra hệ thống các nhóm giảipháp và kiến nghị lên các cấp có thẩm quyền nhằm mở rộng hoạt động tín dụng chínhsách đối với cây cà phê tại Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Lưu Đình Nam
Sinh ngày 12 tháng 7 năm 1978, tại Lâm Đồng
Quê quán: Nhật Quang, Phù Cừ, Hưng Yên
Hiện công tác tại: Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Di Linh
Người hướng d n khoa học: TS Nguyễn Thị Tằm
Tôi xin cam đoan luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sỹtại bất cứ một trường đại học nào; luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tácgiả, nội dung nghiên cứu trong đề tài này là do tác giả tự tìm hiểu, nghiên cứu và thamkhảo dưới sự hướng d n của giảng viên, kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng,trung thực, không sao chép bất kỳ tài liệu nào, không có các nội dung đã được công bốtrước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích d n được d nnguồn đầy đủ trong luận văn; các số liệu, các nguồn trích d n trong luận văn được chúthích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên đây
TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 3 năm 2017
Tác giả
Lưu Đình Nam
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, tôi xin gửi lời cảm ơn và tri ân chân thành đến:
Tiến sĩ Nguyễn Thị Tằm là người hướng d n khoa học cho tôi
Xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu trường Đại học Ngân hàng Thành phố
Hồ Chí Minh, đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tạitrường Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô trong Phòng đào tạo sau đại học đãtrang bị kiến thức cho tôi trong suốt 2 năm học vừa qua
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc, Phòng Kế hoạch – nghiệp
vụ tín dụng, Phòng Kế toán – Ngân quỹ Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnhLâm Đồng đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè là những người luônđộng viên, giúp đỡ tôi trong thời gian vừa qua
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên Lưu Đình Nam
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
LỜI CẢM ƠN v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ vii
PHẦN MỞ ĐẦU viii
Chương 1 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CẢI TẠO, CHĂM SÓC CÀ PHÊ 1
1.1 Lý luận chung về cải tạo, chăm sóc cà phê 1
1.1.1 Khái niệm về cải tạo, chăm sóc cà phê 1
1.1.2 Các quan điểm về cải tạo, chăm sóc cà phê 1
1.2 Vai trò của hoạt động tín dụng chính sách đối với cải tạo chăm sóc cây cà phê 2
1.2.1 Cơ sở lý luận về tín dụng chính sách 2
1.2.1.1.Tín dụng chính sách 2
1.2.1.2 Đặc điểm, bản chất của tín dụng chính sách 4
1.2.1.3 Vai trò của tín dụng chính sách 8
1.2.2 Nội dung của tín dụng chính sách đối với cây cà phê 10
1.2.2.1 Điều kiện vay vốn tín dụng chính sách 10
1.2.2.2 Đối tượng cho vay 11
1.2.2.3 Phương thức cho vay 11
1.2.2.4 Lãi suất cho vay và phí phải trả 13
1.2.2.5 Thời hạn cho vay 14
1.2.2.6 Mức cho vay 15
1.2.2.7 Quy trình cho vay 16
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng chính sách đối với cây cà phê 17
1.2.3.1 Nhóm nhân tố ảnh hưởng từ ngân hàng 17
1.2.3.2 Nhóm nhân tố ảnh hưởng từ hộ sản xuất cà phê 18
1.2.3.3 Nhóm nhân tố về chính sách của Nhà nước 18
1.3 Bài học kinh nghiệm về tín dụng chính sách đối với cây cà phê 19
Trang 51.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 19
1.3.1 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 21
Chương 2 24
THỰC TRẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÂY CÀ PHÊ TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI CHI NHÁNH TỈNH LÂM ĐỒNG 24
2.1 Hiện trạng sản xuất cà phê trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 24
2.1.1 Diện tích trồng cà phê 24
2.1.2 Về năng suất cà phê 25
2.1.3 Về sản lượng cà phê 26
2.2 Thực trạng tín dụng đối với cây cà phê tại Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 - 2016 27
2.2.1 Tổng quan về Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng 27
2.2.1.1 Cơ cấu tổ chức, mạng lưới 27
2.2.1.2 Kết quả hoạt động giai đoạn 2014 – 2016 28
2.2.2 Kết quả đầu tư tín dụng chính sách đối với lĩnh vực cà phê 2014-2016 31
2.2.2.1 Về số lượng khách hàng vay vốn 31
2.2.2.2 Về dư nợ cho vay 32
2.2.2.3 Chất lượng tín dụng cho vay lĩnh vực cà phê 32
2.2.2.4 Thị phần cho vay lĩnh vực cà phê trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 33
2.2.3 Thực trạng về tín dụng chính sách đối với hộ nghèo và các đối tượng chính khác vay vốn sản xuất cà phê giai đoạn 2014 - 2016 33
2.2.3.1 Điều kiện vay vốn tín dụng chính sách 34
2.2.3.2 Về đối tượng cho vay 34
2.2.3.3 Về phương thức cho vay 34
2.2.3.4 Về lãi suất cho vay 36
2.2.3.5 Về thời hạn cho vay 36
2.2.3.6 Về mức cho vay 37
2.3 Các tiêu chí đánh giá tín dụng chính sách tại NHCSXH 37
2.3 Đánh giá kết quả tín dụng chính sách đối với cây cà phê tại Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng 41
2.3.1 Những kết quả đạt được 41
2.3.2 Những tồn tại và hạn chế 42
Trang 62.3.2.1 Xác định nhu cầu vay vốn của hộ sản xuất cà phê 42
2.3.2.2 Huy động vốn 42
2.3.2.3 Năng lực của cán bộ chuyên môn 43
2.3.2.4 Chính sách cho vay 43
2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại 44
2.3.3.1 Nguyên nhân từ phía ngân hàng 44
2.3.3.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng 45
2.3.3.3 Nguyên nhân từ chính sách của Nhà nước 45
Chương 3 47
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÂY CÀ PHÊ TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI CHI NHÁNH TỈNH LÂM ĐỒNG 47
3.1 Căn cứ, định hướng tín dụng đối với cây cà phê trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 47
3.1.1 Căn cứ phát triển ngành cà phê của Lâm Đồng đến năm 2020 47
3.1.2 Định hướng phát triển ngành cà phê của tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020 48
3.1.2.1 Quan điểm phát triển 48
3.1.2.2 Phương hướng và mục tiêu phát triển 48
3.1.2.3 Xây dựng các phương án phát triển cây cà phê 48
3.1.3 Định hướng, mục tiêu cải tạo cà phê trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2016 – 2020 49
3.1.3.1 Mục tiêu tổng quát 49
3.1.3.2 Mục tiêu cụ thể 49
3.1.4 Định hướng của Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng đối với cho vay cây cà phê trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2017 – 2020 52
3.1.4.1 Mục tiêu tổng quát 52
3.1.4.2 Mục tiêu cụ thể 53
3.1.4.3 Định hướng hoạt động 53
3.2 Giải pháp mở rộng tín dụng chính sách đối với cây cà phê tại Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng 54
3.2.1 Hoàn thiện đánh giá nhu cầu vay vốn 54
3.2.2 Tăng cường huy động vốn 54
3.2.3 Nâng cao trình độ năng lực của cán bộ ngân hàng 57
3.2.4 Điều chỉnh chính sách cho vay 58
Trang 73.2.4.1 Với đối tượng vay vốn 58
3.2.4.2 Thời hạn cho vay 58
3.2.4.3 Mức cho vay 58
3.2.5 Giải pháp về quản trị điều hành 59
3.2.5.1 Nâng cao vai trò trách nhiệm của Ban đại diện HĐQT 59
3.2.5.2 Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các tổ chức Hội đoàn thể nhận ủy thác 60
3.2.5.3 Nâng cao chất lượng hoạt động của các Tổ Tiết kiệm và vay vốn 60
3.2.5.3 Tăng cường hoạt động tại các Điểm giao dịch xã 62
3.3 Kiến nghị và đề xuất 62
3.3.1 Đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác chuyên sản xuất cà phê 62
3.3.2 Đối với chính quyền địa phương 63
3.3.3 Đối với Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam 65
3.3.4 Đối với cán bộ Ban giảm nghèo, cán bộ Hội cấp xã 65
3.3.5 Đối với Ban quản lý Tổ tiết kiệm và vay vốn 68
KẾT LUẬN CHUNG 70
Trang 8NS & VSMT
PGD NHCSXHLĐ-TB&XH
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BẢNG
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ HÌNH/BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1
Biểu đồ 2.1
Hình 2.1
Trang 11Nếu không kịp cải tạo sẽ ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng sản phẩm càphê và ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định, lâu dài của ngành cà phê Việt Nam nóichung và ngành cà phê tỉnh Lâm Đồng nói riêng Những năm gần đây, người trồng càphê trong tỉnh đã tiến hành cải tạo, thay thế vườn cà phê già cỗi bằng các giống cà phêmới cho năng suất cao, chất lượng tốt theo các phương pháp trồng chăm sóc hoặcghép cải tạo Tuy nhiên, việc cải tạo cà phê vấp phải không ít khó khăn do người trồng
cà phê cần nhất là nhu cầu vốn và kỹ thuật cho các khâu cải tạo đất, cây giống, phânbón, công chăm sóc, rất lớn và thời gian thực hiện phải mất từ 3 đến 5 năm mới chothu nhập
Thêm vào đó, không phải tất cả người trồng cà phê đều có thể tiếp cận được nguồnvốn từ các ngân hàng thương mại nhất là các hộ nghèo và các đối tượng chính sáchkhác do họ không nắm bắt kịp thời các chính sách ưu đãi của nhà nước, tư liệu sảnxuất ít, ít được tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật Hiện nay, Ngân hàng Chínhsách xã hội Việt Nam thực hiện phương pháp quản lý tín dụng đặc thù, riêng có ở ViệtNam Đó là, ngân hàng ủy thác cho 1 số tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương thựchiện một số khâu trong quy trình vay vốn Qua đó vừa giúp ngân hàng xác định đúng
Trang 12đối tượng chính sách, vừa đảm bảo minh bạch, dân chủ, đồng thời giảm chi phí hoạtđộng cho ngân hàng, cũng như chi phí của người vay,…Với cơ chế này, khi vay vốn
từ Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam, người dân nghèo không chỉ được hưởngchính sách ưu đãi cho vay với lãi suất thấp, mà còn được hưởng những chính sách ưuđãi đặc biệt mà không ngân hàng thương mại nào có được
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) chi nhánh tỉnh Lâm Đồng thực hiệnhoạt động tín dụng chính sách đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách kháctrong đó có cho vay vào mục đích cải tạo, chăm sóc cà phê có tỷ trọng đến 60 % tổng
dư nợ Tuy nhiên, mặc dù đã có nhiều giải pháp tích cực trong cung ứng vốn tín dụngngân hàng cho hộ những sản xuất cà phê nhưng hoạt động cho vay này của NHCSXH
những hộ nghèo và các đối tượng chính sách, lượng vốn cho vay và bình quân dư nợđối với mỗi hộ vay còn thấp so với nhu cầu vay vốn để cải tạo, chăm sóc cà phê, diệntích cà phê được vay vốn tín dụng chính sách chỉ đạt 30% so với tổng diện tích cà phê
d n đến diện tích cà phê của những hộ nghèo cho năng suất thấp Ưu đãi lớn nhất khivay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam đối với người dân là vay mà không
muốn vay tại các ngân hàng thương mại, người vay phải thế chấp tài sản để vay vốn,phải cung cấp giấy tờ chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản đem thế chấp, đồngthời phải chứng minh khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ,… Do đó,người dân nghèo, nhất là dân nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, đặc biệt khókhăn thường ít có cơ hội tiếp cận nguồn vốn của các ngân hàng thương mại Do vậy,cách thức cho vay không cần thế chấp chính là ưu đãi lớn nhất mà Ngân hàng Chính
vay vốn tín dụng chính sách của hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác để đầu tưcây cà phê là cấp thiết
Gắn bó với cây cà phê, đời sống của các hộ nghèo và đối tượng chính sách khácđược nâng lên đáng kể, song Lâm Đồng v n là tỉnh nghèo, gồm nhiều dân tộc thiểu sốsinh sống, tỷ lệ hộ nghèo cao, cùng với cơ sở hạ tầng và trình độ phát triển kinh tế yếukém đã làm cho hộ sản xuất đã khó khăn lại càng khó khăn hơn, đặc biệt là các yếu tốnguồn lực, trong đó vốn tín dụng chính sách để phát triển cà phê quy mô hộ gia đình
Trang 13Vốn tín dụng chính sách được xem như là một công cụ mạnh để giúp các hộ sản xuấtthoát khỏi nghèo đói Theo Boucher và CS, (2007) vốn tín dụng ngân hàng do các NHTMcung ứng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tăng năng suất nông nghiệp thông quaviệc đầu tư vào tư liệu sản trong khi đó theo Diagne,A., Zeller, M., & Sharma M (2000)cho rằng vốn tín dụng cũng cho phép các hộ nông dân đầu tư vào cải tiến kỹ thuật và ápdụng công nghệ mới trong nông nghiệp như hạt giống cho năng suất cao, phân bón làmtăng hiệu quả và thu nhập của họ Vì vậy, vốn tín dụng chính sách đóng vai trò quan trọngđối với phát triển sản xuất cà phê Tuy nhiên, việc triển khai và thực hiện các tín dụngchính sách tới các hộ nghèo và các đối tượng chính sách
v n chưa đồng bộ, việc cung ứng vốn tín dụng chính sách chưa kịp thời và chưa đápứng được hết nhu cầu của người nghèo, việc tiếp cận vốn tín dụng chính sách v n gặpnhiều khó khăn Aliou Diagne Manfred Zeller (1999) cho rằng tín dụng có những lợiích thiết thực đối với người nông dân sản xuất nhỏ, có tác động đến phúc lợi và xoáđói giảm nghèo cho người dân nhưng tiếp cận tín dụng không phải là thuốc chữa báchbệnh mà phải có sự kết hợp của nhiều yếu tố
Xuất phát từ những vần đề trên, học viên đã chọn đề tài ““Tín dụng đối với
cây cà phê tại Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng” làm luận
văn tốt nghiệp chương trình cao học, với mong muốn nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn vềhoạt động tín dụng chính sách mà chủ yếu là cho vay hộ nghèo và các đối tượng chínhsách khác vay vốn để nhằm mục đích sử dụng vào việc đầu tư cây cà phê, từ đó chỉ ranhững kết quả cần phát huy, những tồn tại cần khắc phục làm cơ sở để đề xuất nhữnggiải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng chính sách để ngườinghèo và các đối tượng chính sách khác xem cây cà phê là cây chủ lực để phát triểnkinh tế hộ gia đình và vươn lên thoát nghèo bền vững
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Trên cơ sở phân tích thực trạng tín dụng chính sách của NHCSXH Lâm Đồng đốivới hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác sử dụng vào mục đích đầu tư cây càphê trong thời gian qua, đề xuất các giải pháp mở rộng đầu tư tín dụng chính sách củaNHCSXH chi nhánh tỉnh Lâm Đồng đối với cho vay cây cà phê trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
Trang 14- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về tín dụng chính sách đối với hộ nghèo
và các đối tượng chính sách khác vay vốn vào mục đích đầu tư cây cà phê
được các mục tiêu chính như sau:
+ Từ thực trạng hoạt động tín dụng chính sách làm rõ những ưu điểm và hạnchế của tín dụng chính sách đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác vayvốn đầu tư vào cây cà phê
cà phê tại Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng
3 Câu hỏi nghiên cứu
4- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến chính sách cho vay cây cà phê đối vối hộnghèo và các đối tượng chính sách khác?
5- Giải pháp nào để Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng thựchiện có hiệu quả tín dụng chính sách đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sáchkhác trong việc tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để đầu tư cà phê?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
chính sách đối với cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác vay vốn vào mục đích đầu tư cây cà phê
tỉnh Lâm Đồng
Trang 15+Về thời gian: Thực hiện từ năm 2014 đến năm 2016 Mục tiêu định hướng trong giai đoạn 2017 đến 2020.
5 Phương pháp nghiên cứu
chất của tín dụng chính sách, lý luận chung về cải tạo chăm sóc cà phê tiến hànhnghiên cứu, tổng hợp và hệ thống lại từ giáo trình, tạp chí, văn bản hướng d n nghiệp
vụ, website
tại Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng sử dụng các nhóm phươngpháp chính như: phương pháp thống kê, mô tả, vẽ bảng, biểu đồ nhằm phân tích, sosánh, đánh giá, minh họa làm rõ thêm những ảnh hưởng khách quan, chủ quan, kết quảhoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng
Cụ thể:
2015, 2016 của Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng (nguồn số liệuthứ cấp: Báo cáo kết quả hoạt động qua các năm)
đối tượng chính sách khác vay vốn nhằm mục đích cải tạo, chăm sóc cà phê ( nguồn
số liệu thứ cấp: Báo cáo thống kê qua các năm)
Những phân tích trên nhằm làm rõ các vấn đề:
tại Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng trong việc cho vay đối vớicây cà phê của hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác
cần quan tâm khi chuyển tải nguồn vốn tín dụng ưu đãi nhằm đáp ứng đủ nhu cầu cho
hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác vay vốn để đầu tư cây cà phê
6.Nội dung nghiên cứu
Trang 16Các nội dung nghiên cứu bám sát nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu:
chăm sóc cà phê Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng chính sách đối với cho vay cảitạo, chăm sóc cà phê
chế
trong hoạt động tín dụng chính sách đối với cải tạo, chăm sóc cà phê tại Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn 2013 - 2015
Lâm Đồng và các kiến nghị đối với Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam với cáccấp có liên quan nhằm mở rộng tín dụng chính sách đối với cho vay cải tạo, chăm sóc
cà phê trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
nghèo và các đối tượng chính sách khác trong giai đoạn 2014 – 2016
các đối tượng chính sách khác trong việc cho vay sử dụng vốn vào mục đích cải tạo,chăm sóc cà phê tại Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng
8 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến tín dụng chính sách và tíndụng đối với cải tạo, chăm sóc cà phê
Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Jonathan Morduch, Barbara Haley (2002) thông qua công trình “Analysis of the
Effects of Microfinance on Poverty Reduction”đã trình bày những nghiên cứu phân
tích những ảnh hưởng của tài chính vi mô về giảm nghèo; tài chính vi mô đã đượcchứng minh là một công cụ hiệu quả và mạnh mẽ để xóa đói giảm nghèo, giống nhưnhiều công cụ phát triển khác, tuy nhiên nó đã không đủ thâm nhập vào tầng lớp nghèotrong xã hội Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc thiết kế tài chính vi mô, đặc biệt là xóa
Trang 17đói giảm nghèo theo định hướng, dựa trên nhóm tài chính vi mô, tạo ra một thiên vịmong muốn đối với người nghèo Các quy mô khoản vay nhỏ, thiếu tài sản thế chấp,lãi suất cao, thời hạn vay ngắn (quá ngắn cho nhiều loại, đặc biệt là đối với hầu hết cácloại nông sản), gây ra tình trạng thường xuyên trả nợ.
Tình hình nghiên cứu trong nước
tác động của Chính phủ đối với chương trình tín dụng tại Việt Nam” đã xem xét mục
tiêu giảm nghèo của NHCSXH và tác động của việc ưu tiên chương trình tín dụng đốivới người nghèo Chương trình được thiết kế để cung cấp cho các hộ nghèo tín dụngvới lãi suất thấp không cần thế chấp Tuy nhiên, mục tiêu của chương trình đã chỉ rarằng: chỉ có 12% các hộ gia đình nghèo ở vùng nông thôn tham gia trong chương trìnhvào năm 2004 Trong khi đó, các hộ không nghèo chiếm 67,1 % của những ngườihưởng lợi Các hộ gia đình nghèo cũng nhận được một lượng nhỏ hơn của tín dụng sovới người không nghèo
- Vũ Văn Thực (2014) trong nghiên cứu “Tín dụng ngân hàng đối với phát triển cây cà phê ở tỉnh Lâm Đồng” đã chỉ ra rằng nguồn vốn tín dụng ngân hàng đóng một vai
trò quan trọng cho phát triển cây cà phê trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Tuy nhiên, để cây càphê phát triển hơn nữa thì rất cần được cung ứng vốn đúng mức, trong khi nguồn vốn tự
có và các nguồn vốn khác còn hạn chế, thì nguồn vốn tín dụng ngân hàng v n là một trongnhững nguồn vốn chủ yếu, quan trọng để cho cây cà phê phát
triển
Như vậy, mặc dù có một số công trình, đề tài nghiên cứu liên quan đến tín dụng
ưu đãi đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác và tín dụng ngân hàng đốivới chăm sóc, cải tạo giống cây cà phê tỉnh Lâm Đồng Tuy nhiên, các công trình trênchưa đề cập đến việc cho vay cải tạo, chăm sóc cà phê đối với hộ nghèo và các đốitượng chính sách khác Do vậy, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ có sự khác biệt vềnội dung, về không gian và thời gian nghiên cứu
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, cấu trúc của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tín dụng chính sách đối với cải tạo, chăm sóc càphê
Trang 18Chương 2: Thực trạng tín dụng đối với cây cà phê tại Ngân hàng Chính sách xãhội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng.
Chương 3: Giải pháp mở rộng tín dụng chính sách đối với cây cà phê tại Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CẢI TẠO, CHĂM SÓC CÀ PHÊ 1.1 Lý luận chung về cải tạo, chăm sóc cà phê
1.1.1 Khái niệm về cải tạo, chăm sóc cà phê
Đời sống của cây cà phê được chia làm 3 thời kỳ: Đầu tiên là thời kỳ sinhtrưởng, nó bắt đầu từ khi hạt cà phê nảy mầm và kết thúc khi cây đã trưởng thành,thời kỳ này kéo dài từ 4 đến 7 năm tùy theo loài cà phê và các điều kiện ngoại cảnh.Thời kỳ thứ hai là thời kỳ sản xuất, đó là thời kỳ dài nhất, có thể kéo dài từ 15 đến 20năm Thời kỳ cuối cùng là thời kỳ suy giảm về sinh lý và thường xuất hiện sau 15 đến
20 năm cho quả Ở thời kỳ này, cây cà phê già cỗi để lộ ra những dấu hiệu rõ rệt về sựsuy giảm sinh lý học: bộ rễ bị suy thoái, thân, cành khô trụi, tán lá thưa thớt, úa vàng
và nhạy cảm với sâu bệnh, quả ít đi và thường rụng non, chất lượng quả thấp, ngườitrồng cà phê cần thực hiện ngay việc chăm sóc, cải tạo giống cà phê Dưới đây là cáckhái niệm về cải tạo, chăm sóc giống cà phê:
- Cải tạo giống cà phê là phương pháp cưa bỏ một phần hoặc toàn bộ cây cà
phê, tận dụng gốc cây cũ để ghép các mầm chồi từ các giống mới có năng suất cao và
chất lượng quả tốt vào các chồi mọc lên từ gốc cũ
- Chăm sóc cà phê là việc hằng năm vào đầu mùa khô phải tiến hành diệt cỏ dại
chung quanh vườn cà phê, làm sạch cỏ thành băng dọc theo hàng cà phê với chiềurộng lớn hơn tán cây cà phê để diệt trừ các loại cỏ lâu năm, có khả năng sinh sản vôtính như cỏ tranh, cỏ gấu có thể dùng hóa chất diệt cỏ có hoạt chất glyphosate nhưRound up, Spark, Nufarm
1.1.2 Các quan điểm về cải tạo, chăm sóc cây cà phê
Trong vườn cà phê thường có một số sâu bệnh gây hại cho bộ rễ cà phê như một
số loại nấm và tuyến trùng Khi cây cà phê đã lớn, có bộ rễ khỏe và phân bố rộng,nhiều tầng ở trong đất do vậy nấm bệnh không hủy hoại được bộ rễ của cây cà phê.Nhưng khi trồng chăm sóc thì bộ rễ của cây con ở năm trồng mới hay ở 2 năm kiếnthiết cơ bản thì nấm bệnh còn lại ở trong đất sẽ tập trung tấn công xâm nhập và pháhủy bộ rễ còn nhỏ bé, yếu ớt của cây cà phê từ phần rễ đuôi chuột trở lên làm cho cây
bị héo, vàng rồi chết một cách nhanh chóng Một số quan điểm về cải tạo, chăm sócgiống cà phê như sau:
Trang 20- Quan điểm thứ nhất là phải thực hiện trồng cây luân canh: Sau khi nhổ bỏ cây,cày bừa, rà rễ, lượm rễ đem đi đốt, tùy theo mật độ tuyến trùng mà thực hiện trồngluân canh với cây trồng khác (cây lương thực, cây thực phẩm) từ 2 đến 3 năm Trongthời gian này sẽ không còn cây ký chủ để ký sinh do vậy nấm bệnh và tuyến trùngkhông còn có điều kiện để sinh sống và tồn tại nữa Sau từ 2 đến 3 năm năm mới đượctrồng mới lại cà phê thì mới an toàn Đây là điều kiện bắt buộc để tránh hậu quả là cácvườn cây cà phê trồng mới lại sẽ bị chết, phải thanh lý vì không có đủ thời gian luâncanh để loại trừ nấm bệnh còn tồn tại ở trong đất.
chế phẩm sinh học để xử lý tuyến trùng nhằm giảm chi phí đầu tư, rút ngắn thời gianđất nghỉ, không gián đoạn thu nhập mà v n đảm bảo an toàn vườn cây trước nguy cơbệnh hại
có tuyến trùng gây bệnh Tuy nhiên, nếu áp dụng đúng quy trình kỹ thuật là phải thựchiện trồng cây luân canh từ 2 đến 3 năm mới bắt đầu trồng lại cà phê thì sẽ ảnh hưởngđến sản lượng cà phê, kim ngạch xuất khẩu và vị thế của cà phê Việt Nam trên thịtrường thế giới Hiện nay trên thị trường đã xuất hiện nhiều chế phẩm sinh học nhưA-H, N-H có thể dùng cho chăm sóc cà phê vừa nâng cao sức đề kháng của cây, vừa
ức chế sự phát triển của mầm bệnh Với biện pháp này sẽ giải được bài toán trước mắttrong chăm sóc vườn cây cà phê già cỗi là giảm chi phí đầu tư, rút ngắn thời gian nghỉcủa đất và không gián đoạn thu nhập cho người trồng cà phê
1.2 Vai trò của hoạt động tín dụng chính sách đối với cây cà phê
1.2.1 Cơ sở lý luận về tín dụng chính sách
1.2.1.1 Tín dụng chính sách
Đối tượng chính sách là những người nghèo, rất nghèo, những người không cóviệc làm, thu nhập thấp hoặc những hộ gia đình có công với cách mạng nhưng gặphoàn cảnh khó khăn, hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa… Các đốitượng chính sách bao gồm:
Trang 21- Hộ gia đình đang sinh sống trong vùng thường xuyên xảy ra thiên tai.
Các đối tượng vay vốn tại NHCSXH chủ yếu là do Chính phủ chỉ định tại mỗichương trình cho vay của NHCSXH theo những tiêu chí cụ thể Mỗi chương trình chovay có quy định rõ đối tượng được vay vốn Cụ thể:
Thủ tướng Chính phủ về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho từng thời kỳ
thương binh, liệt sỹ đều có trong danh sách do cấp xã quản lý theo dõi…
Vì vậy, Chủ tịch UBND cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc phê duyệtdanh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn trên hồ sơ vay vốn của NHCSXH
Trong cuộc sống hàng ngày của các đối tượng chính sách (bao gồm người nghèo
và các đối tượng chính sách khác – thuật ngữ này sẽ được sử dụng trong luận văn), việcrơi vào tình trạng thiếu hụt các khoản tài chính cho các nhu cầu thiết yếu như ăn, ở, đi lại,học hành, việc làm… cho tới các nhu cầu khẩn cấp như bị ốm đau, trộm cắp, thiên taithậm chí là các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, mua nguyên vật liệu, sản xuất kinhdoanh diễn ra thường xuyên Việc thiếu hụt nguồn tài chính tài trợ cho các nhu cầu này làlực cản lớn đối với khả năng xóa đói, giảm nghèo của chính bản thân người nghèo và cácđối tượng chính sách khác cũng như mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội của một quốc gia
Có điều này là vì dù họ có sức lao động, có mong muốn vươn lên nhưng do khó tiếp cậnvới các nguồn lực khiến cho họ rơi vào vòng luẩn quẩn là b y nghèo và những bất bìnhđẳng khác Những hạn chế về khả năng đáp ứng các quy định về vay vốn của TCTD khiếncho các đối tượng chính sách gần như không thể tìm ra nguồn vốn tài chính đáp ứng cácnhu cầu sinh hoạt và sản xuất kinh doanh Gắn kết đặc điểm này cùng với vai trò quantrọng của Nhà nước đối với công tác giảm nghèo d n tới sự cần thiết của Nhà nước trongviệc cung cấp, hỗ trợ cung cấp nguồn tín dụng chính sách cho nhóm đối tượng này Đểthực hiện công cuộc giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội, Nhà nước thường sử dụngcác công cụ tài chính như thu, chi ngân sách để hướng nguồn lực tài chính của Nhà nước
và xã hội một cách có hiệu quả nhất tới người nghèo và các đối tượng chính sách khác,giúp cho họ có thể có vốn để
Trang 22sinh hoạt, sản xuất kinh doanh, từ đó thoát nghèo Trên cơ sở đó, khái niệm tín dụngchính sách cho các đối tượng chính sách có thể được hiểu như sau:
Tín dụng chính sách cho các đối tượng chính sách là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động, cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay vốn với các ưu đãi so với tín dụng thông thường, để phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội.
Từ định nghĩa tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chínhsách khác, có thể rút ra các điểm cần chú ý như sau [4]:
Thứ nhất, mục tiêu của tín dụng cho các đối tượng chính sách là nhằm giúp cho
họ có vốn để sản xuất, kinh doanh tạo việc làm nâng cao thu nhập Tín dụng chínhsách cho các đối tượng chính sách không vì mục tiêu lợi nhuận, mà vì mục tiêu giảmnghèo, bảo đảm an sinh xã hội
Thứ hai, nguyên tắc tín dụng chính sách phải sử dụng vốn đúng mục đích bảo
đảm hoàn trả được vốn vay (gồm cả gốc l n lãi) cho TCTD đúng thời hạn như đã thỏathuận
Thứ ba, tín dụng chính sách được ưu đãi bao gồm: ưu đãi về điều kiện vay vốn
như tài sản bảo đảm tiền vay, thủ tục và các quy trình giải ngân, ưu đãi về lãi suất vayvốn và thời hạn vay vốn Điều kiện cấp tín dụng cho các đối tượng chính sách phảibảo đảm được tính linh hoạt và phù hợp với hoàn cảnh của họ Các thủ tục vay vốn,các yêu cầu về điều kiện tài chính, và tài sản bảo đảm cần được điều chỉnh linh hoạttrong từng thời điểm, từng mục đích vay vốn, gắn với thực tiễn địa phương và hoàncảnh của người nghèo và các đối tượng chính sách khác để bảo đảm họ có thể tiếp cậnđược vốn vay
Thứ tư, tín dụng chính sách cần hỗ trợ người nghèo và các đối tượng chính
sách về năng lực sản xuất kinh doanh như khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, đào
tạo nghề, chỉ d n các thị trường đầu vào cho sản xuất l n đầu ra cho sản xuất
1.2.1.2 Đặc điểm, bản chất của tín dụng chính sách
Một số đặc điểm nổi bật của tín dụng cho người nghèo và các đối tượng chínhsách khác xuất phát từ đặc điểm của chính họ là cuộc sống sinh hoạt và lao động phầnlớn gắn với hoạt động nông nghiệp có tính mùa vụ cao, đa dạng về đối tượng tài trợ,chi phí giao dịch cao và rủi ro tín dụng cao
Trang 23Thứ nhất, tín dụng đối với các đối tượng chính sách có mối quan hệ gắn bó chặt
chẽ với hoạt động nông nghiệp do đại bộ phận nhóm đối tượng này tập trung tại nôngthôn với nghề nông là chính Thu nhập từ sản xuất, buôn bán nông sản, gia cầm, giasúc… và tiền lương lao động làm thuê là hai bộ phận cấu thành quan trọng trongnguồn thu nhập của người nghèo và các đối tượng chính sách khác tại nông thôn Dosản phẩm từ nông nghiệp có tính chất mùa vụ cao và các khoản thu từ lao động làmthuê không ổn định, nguồn thu nhập, nhu cầu chi tiêu và tất yếu là nhu cầu vay mượncủa họ có mức độ biến động cao, khó dự báo Đặc điểm này còn bị làm trầm trọngthêm do tình trạng mất mùa từ thiên tai, dịch bệnh hoặc những diễn biến bất lợi của giá
cả hàng nông sản, gia cầm, gia súc thường xuyên xuất hiện trong khi mức độ sẵn có vàkhả năng tiếp cận các sản phẩm phòng ngừa rủi ro của nhóm đối tượng này tại nôngthôn là rất hạn chế
Thứ hai, tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chính sách
khác có đặc điểm là khá đa dạng về đối tượng được tài trợ vốn do họ cần được hỗ trợ
về nhiều mặt để có thể vươn lên thoát nghèo Nhu cầu vay vốn của người nghèo vàcác đối tượng chính sách khác phụ thuộc nhiều vào đời sống sinh hoạt và hoạt độngsản xuất kinh doanh nông nghiệp (và các nghề thủ công khác) Các khách hàng khácnhau có các nhu cầu tài trợ khác nhau như cải tạo công trình vệ sinh môi trường, chữabệnh, đi học nghề, đi xuất khẩu lao động cho tới nhu cầu mua vật nuôi, mua cây giống,mua vật tư sản xuất… Ngoài chi cho hoạt động sản xuất, nhu cầu chi tiêu của ngườinghèo và các đối tượng chính sách khác còn bao gồm các khoản đột xuất như ốm đau
và đối phó với thiên tai dịch bệnh Đây không phải là các khoản cho vay truyền thốngcủa ngân hàng nhưng lại rất cần thiết đối với các đối tượng chính sách do nhóm đốitượng này thường dễ bị tổn thương bởi các tác nhân bên ngoài và khả năng tự chốngchọi của họ với các tổn thương kể trên là rất thấp
Thứ ba, chi phí của việc cấp tín dụng chính sách cho các đối tượng chính sách ở
mức cao so với cho vay các đối tượng khác Điều này là do giá trị các khoản tín dụngthường nhỏ, quay vòng nhiều cộng thêm với đặc điểm nhóm đối tượng này nằm phân tántrên một địa bàn rộng, tập trung nhiều ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa nên việcquản lý khoản tín dụng trở nên rất tốn kém, đòi hỏi TCTD phải có một số lượng nhân viên
đủ lớn và dành nhiều nguồn lực tài chính, thời gian để tìm kiếm khách hàng, làm việc vớikhách hàng để thẩm định phương án vay vốn cho tới công tác giám
Trang 24sát sử dụng vốn vay Số lượng khoản tín dụng lớn, sự đa dạng của nhu cầu tín dụng,địa bàn rộng buộc TCTD phải đánh đổi giữa việc giảm thiểu chi phí quản lý tín dụng
và bảo đảm chất lượng tín dụng
Thứ tư, cơ sở dữ liệu về người nghèo và các khoản tín dụng cho người nghèo
và các đối tượng chính sách khác thường thiếu hụt và yếu kém cả về số lượng l n chất
lượng Khả năng tiếp cận với các dịch vụ tài chính như tiền gửi, thanh toán của nhómđối tượng này là rất hạn chế xuất phát từ bản thân nhu cầu và trình độ học vấn của họcũng như mức độ đáp ứng các dịch vụ tài chính của TCTD tại khu vực nông thônthường thấp Tương tự, các thông tin về năng lực pháp lý và tài chính của họ cũng rấtkhó để thu thập và xác minh do cơ sở dữ liệu tại các địa phương (đặc biệt là tại cácvùng hẻo lánh) thường không được lưu trữ đầy đủ và chính xác như các đối tượngkhách hàng doanh nghiệp được đăng ký với cơ quan quản lý của nhà nước Do vậy,tình trạng thông tin bất cân xứng cao hơn so với các đối tượng khách hàng khác củangân hàng
Thứ năm, trình độ quản lý tài chính của người nghèo và các đối tượng chính
sách khác không cao nên việc sử dụng vốn vay sao cho hiệu quả không phải lúc nàocũng đạt được Sự thiếu hiểu biết và không được đào tạo về quản lý tài chính với sốtiền vay được từ TCTD là nguyên nhân d n tới việc nhóm đối tượng có thể không sửdụng số vốn vay được vào đúng mục đích sử dụng vốn ban đầu, hoặc không sử dụngkịp thời khiến cho số vốn vay không được phân bổ phù hợp giữa các đối tượng cầnchi tiêu khác nhau (ví dụ, thay vì giữ một phần vốn vay cho mục đích tài trợ chonguyên vật liệu đầu vào là thức ăn, người nghèo có thể dùng toàn bộ số tiền vay được
để mua con giống…) Ngoài ra, việc chưa làm quen với việc tiết kiệm tiền để trả nợtheo định kỳ khiến cho họ không ngay lập tức có ý thức và khả năng tiết kiệm số tiềntheo định kỳ để trả nợ cho ngân hàng Đây chính là nguyên nhân khiến cho rủi ro đốivới tín dụng cho họ thường cao hơn so với các khách hàng khác Xuất phát từ lý donày, các TCTD khi cho các đối tượng chính sách vay tiền thường yêu cầu họ thực hiệntiết kiệm bắt buộc hoặc tự nguyện để giúp họ làm quen dần với việc quản lý tài chínhcũng như tích lũy tiền để có thể trả nợ khi đến hạn
Thứ sáu, các đối tượng chính sách không sở hữu nhiều tài sản đáp ứng được tiêu
chuẩn thông thường của TCTD về tài sản bảo đảm Hầu hết họ không có tài sản cố định
có giá trị và tính thị trường cao như quyền sử dụng đất, hoặc họ có sở hữu không
Trang 25nhiều nhưng lại gặp những vướng mắc khó giải quyết về thủ tục xác nhận quyền sởhữu diễn ra khá phổ biến tại nông thôn Trong khi đó, các tài sản khác có thể sử dụng
để bảo đảm cho khoản vay mà các TCTD áp dụng cho các đối tượng khách hàng khácnhư sổ tiết kiệm, máy móc, thiết bị… thì các đối tượng chính sách gần như không có.Như vậy, nguồn thu nợ thứ hai của các TCTD trong trường hợp nhóm đối tượng nàykhông trả được nợ đã bị hạn chế đi nhiều
Thứ bảy, tín dụng chính sách cho các đối tượng chính sách không chỉ dừng lại
ở việc cung cấp vốn tín dụng chính sách với ưu đãi cho họ mà còn phải phối hợp với
các nguồn lực của xã hội nói chung và nguồn lực của nhà nước nói riêng để giúp họphát triển toàn diện, qua đó thoát nghèo một cách bền vững Người nghèo rất cần vốntín dụng ưu đãi để có thể đáp ứng thiếu hụt nguồn tài chính cho các nhu cầu sinh hoạt
và sản xuất kinh doanh nhưng họ cũng rất cần những hỗ trợ khác về y tế, văn hóa, giáodục từ phía chính quyền và cộng đồng người dân xung quanh Bên cạnh đó, những hỗtrợ về thị trường, kỹ thuật lao động như trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán… đóng vai tròcực kỳ quan trọng đối với các đối tượng chính sách vay vốn để sản xuất kinh doanh,tạo điều kiện cho họ giảm được những thiệt thòi so với các đối tượng khác trong xãhội Nếu không có những biện pháp hỗ trợ kịp thời và hợp lý, tín dụng chính sách dù
có được đưa tới các đối tượng chính sách cũng khó có thể được họ sử dụng hiệu quả
Thứ tám, tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chính sách
khác thường được triển khai qua hình thức cho vay theo nhóm (group lending) haycho vay gắn kết trách nhiệm (joint - liability) nhằm nâng cao hiệu quả của hợp đồngtín dụng trong trường hợp rủi ro do thông tin bất cân xứng gây ra gia tăng Việc tăngcường giám sát giữa các thành viên trong nhóm vay vốn sẽ làm giảm thiểu rủi ro đạođức (đặc biệt là trong trường hợp cho vay không có tài sản bảo đảm) Do nhóm vayvốn muốn duy trì xác suất không trả được nợ của cả nhóm ở mức thấp nên họ khôngchỉ có ý thức giảm thiểu xác suất không trả được nợ của bản thân họ mà còn cả xácsuất của các thành viên khác trong nhóm Do vậy, họ có xu hướng giám sát việc sửdụng vốn vay của các thành viên khác sao cho hiệu quả nhất, đúng theo các mục đíchđược cam kết với ngân hàng Ngoài ra, các thành viên trong nhóm còn hỗ trợ nhau vềtài chính (cũng như các hỗ trợ xã hội khác) khi một hay một vài thành viên gặp phảikhó khăn về tài chính, ảnh hưởng tới năng lực trả nợ ngân hàng Nói cách khác, chovay theo nhóm sẽ chuyển rủi ro đạo đức mà ngân hàng phải chấp nhận sang cho các
Trang 26thành viên trong nhóm, qua đó giảm thiểu rủi ro tín dụng cho ngân hàng (trong trườnghợp ngân hàng khó giám sát sau giải ngân) và làm giảm phí tổn cho ngân hàng do tiếtkiệm được nguồn lực cho công tác giám sát sau giải ngân Cho vay theo nhóm kết hợpvới yêu cầu các thành viên thực hiện tiết kiệm (tự nguyện hay bắt buộc) có tác dụngkhuyến khích các thành viên hỗ trợ l n nhau khi các thành viên trong nhóm có tráchnhiệm với bản thân và nhóm [4].
1.2.1.3 Vai trò của tín dụng chính sách
Thông qua tín dụng chính sách, người nghèo và các đối tượng chính sách khác
sẽ giải quyết được khó khăn về nguồn lực tài chính, vốn dĩ luôn cản trở họ trong đờisống sinh hoạt cũng như lao động Cũng nhờ tín dụng mà các đối tượng chính sách sẽđược tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản khác như y tế, văn hóa, giáo dục… đểcùng với các chính sách khác của Nhà nước và chính sự nỗ lực của bản thân để nhanhchóng thoát nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội Cụ thể:
Thứ nhất, tín dụng giúp các đối tượng chính sách vượt qua những yếu tố đã cản
trở họ với công cuộc thoát nghèo, thoát khỏi những khó khăn thường nhật trong cuộcsống sinh hoạt và lao động Một trong những nguyên nhân căn bản d n tới nghèo đói làngười nghèo và các đối tượng chính sách khác không có năng lực lao động hoặc cónăng lực lao động nhưng không có đủ nguồn lực cần thiết để lao động Ở khía cạnhthứ nhất, tín dụng chính sách giúp họ chữa trị bệnh tật hoặc được tham gia các chươngtrình giáo dục, đào tạo để có năng lực lao động, qua đó có được việc làm, tránh đượctình trạng thất nghiệp, cải thiện thu nhập và xa hơn là thoát nghèo Ở khía cạnh thứhai, nhờ có tín dụng chính sách mà họ có thể đầu tư cơ sở sản xuất, trang thiết bị laođộng, mua các nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất, được trang bị các công cụ laođộng cần thiết, họ sẽ tập trung vào làm việc, nâng cao năng suất lao động, từ đó cảithiện đời sống
Thứ hai, tín dụng chính sách giúp các đối tượng chính sách không phải vay từ các
tổ chức, cá nhân cho vay nặng lãi với mức lãi suất quá cao so với khả năng tài chính củamình Không tiếp cận được với nguồn tín dụng thương mại đòi hỏi các yêu cầu khắt khe
về hồ sơ pháp lý, năng lực tài chính, tài sản bảo đảm… khiến người nghèo và các đốitượng chính sách khác phải vay với lãi suất cao từ các tổ chức, cá nhân trên địa bàn địaphương, góp phần tạo điều kiện cho thị trường tín dụng phi chính thức này phát triển Vay
nợ với lãi suất cao hơn nhiều so với mức sinh lời tạo ra từ lao
Trang 27động đặt ra áp lực trả nợ lớn cho nhóm đối tượng này và xa hơn là khiến cho họ ngàycàng gặp khó khăn hơn về tài chính, chứ không thực sự giúp họ vượt qua khó khăn.Tín dụng chính sách với những ưu đãi về mặt lãi suất (thấp hơn lãi suất thị trường) và
đi kèm là các ưu đãi khác về thời hạn trả nợ, phương thức trả nợ… giúp cho các đốitượng chính sách cân bằng được mức sinh lời trong các hoạt động sản xuất kinhdoanh, giúp họ không phải tìm đến với các khoản tín dụng nặng lãi
Thứ ba, tín dụng chính sách giúp các đối tượng chính sách nâng cao được khả
năng tiếp cận thị trường Thông qua việc tiếp cận được vốn tín dụng, họ sẽ thay đổiđược những nhận thức về và thực tiễn hành động của họ với thị trường Người nghèo
và các đối tượng chính sách biết cách xây dựng và triển khai một kế hoạch kinh doanh(dù ở mức độ đơn giản nhất), biết sử dụng đồng vốn vay được để mua các trang thiết
bị hay nguyên vật liệu trên thị trường, biết quản lý tài chính qua việc tiết kiệm định kỳ
để tích lũy cho cuộc sống của bản thân họ và trả nợ ngân hàng… Xa hơn, họ có thểtiếp cận với các kỹ thuật sản xuất, tích lũy được kinh nghiệm trong quản lý kinh tế,bảo đảm cho họ không chỉ thoát nghèo mà còn thoát nghèo một cách bền vững
Thứ tư, tín dụng chính sách giúp các đối tượng chính sách nâng cao được đời
sống văn hóa, góp phần giải quyết những bất ổn trong đời sống của họ Nhờ có tíndụng, họ có thể tập trung lao động với năng suất lao động cao hơn và dành được thờigian để tham gia vào các sự kiện, chương trình văn hóa xã hội tại địa bàn địa phương.Nhờ đó, đời sống tinh thần của họ sẽ được cải thiện, là một trong những yếu tố để bảođảm người nghèo thực sự thoát nghèo, những đối tượng chính sách khác như ngườikhông người nương tựa, người cô đơn, người già, người bị bệnh hiểm nghèo… sẽcảm thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn chứ không chỉ dựa trên xem xét khía cạnh tàichính Tín dụng chính sách cho phép các đối tượng chính sách cho con cái đi học,được đi đào tạo nghề và đi làm thay vì không được tiếp cận với kiến thức, hay bị thấtnghiệp sẽ giúp giảm thiểu các tệ nạn xã hội luôn đeo bám họ
Thứ năm, tín dụng chính sách giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông
thôn, góp phần thực hiện phân công lại lao động xã hội Đại bộ phận người nghèo vàcác đối tượng chính sách khác sống ở nông thôn với nền sản xuất nông nghiệp là chủyếu nhưng họ là đối tượng ít được tiếp cận các biện pháp khoa học kỹ thuật mới vàosản xuất, khiến cho năng suất lao động trong lĩnh vực nông nghiệp không ở mức cao
Để có thể áp dụng được việc chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng hiện đại,
Trang 28chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, đưa các loại giống mới có năng suất cao vào sản xuấttrên phạm vi rộng đòi hỏi phải có một nguồn lực tài chính lớn thực hiện song song vớicác chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư Nói một cách khác, cầnnhiều giải pháp được thực hiện đồng bộ để các chương trình cải cách kinh tế tại lĩnhvực nông nghiệp, nông thôn được diễn ra hiệu quả Nhờ vậy, những người nghèo cóđược việc làm phù hợp với khả năng của mình, đưa kinh tế nông nghiệp nông thônphát triển, và thông qua đó, quay lại giúp cho cuộc sống của người nghèo được cảithiện hơn Ngoài ra, tín dụng còn có tác dụng giúp cho người nghèo và các đối tượngchính sách đa dạng hóa được các nguồn thu nhập khi ngoài công việc chính là trồngtrọt, chăn nuôi, họ còn có thể làm các công việc khác để gia tăng thu nhập sau khiđược đào tạo nghề.
Thứ sáu, tín dụng chính sách đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo đảm an
sinh xã hội của bất kỳ Nhà nước nào Dù ở giai đoạn phát triển nào, các đối tượngchính sách luôn tồn tại, là một bộ phận với một tỷ lệ nhất định trong xã hội luôn gặpphải những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày Hướng tới một xã hội phát triển,công bằng, các quốc gia luôn phải có những chính sách ưu đãi đối với các đối tượngnày, trong đó có việc phân bổ các nguồn lực tài chính trong xã hội để mang lại những
ưu đãi trong việc tiếp cận và sử dụng nguồn vốn này Một chính sách tín dụng hợp lý,được triển khai kịp thời và đồng bộ với các chính sách hỗ trợ khác sẽ giúp ngườinghèo và các đối tượng chính sách khác vượt qua những khó khăn trong cuộc sống
1.2.2 Nội dung của tín dụng chính sách đối với cây cà phê
1.2.2.1 Điều kiện vay vốn tín dụng chính sách
Để giúp cho việc đảm bảo các nguyên tắc vay vốn, ngân hàng chỉ xem xét chovay khi khách hàng thoả mãn một số điều kiện vay nhất định
hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự, mục đích vay vốn và sử dụng vốn vay phảihợp pháp của hộ sản xuất cà phê
Vốn tự có của hộ và Khả năng hoàn trả nợ vay ngân hàng
+ Vốn tự có của hộ sản xuất cà phê chủ yếu là công lao động, trong đó, laođộng gia đình chiếm tỷ trọng lớn; giá trị chi phí sản xuất cà phê tự lực khác như chi
Trang 29phí cơ giới, vận chuyển, chăm sóc và bảo vệ thực vật… Vốn tự có của hộ sản xuất cà phê còn là vốn tích lũy bằng tiền hoặc cà phê nhân dự trữ.
hộ sản xuất cà phê phải đảm bảo tính khả thi
1.2.2.2 Đối tượng cho vay
Đối tượng được vay vốn tín dụng chính sách là các hộ nghèo, hộ cận nghèo vàcác đối tượng chính sách khác vay vốn để sản xuất kinh doanh dịch vụ trong các lĩnhvực nông, lâm, ngư nghiệp mở mang ngành nghề tạo công ăn việc làm thông qua các
tổ chức (Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên) thành lập
Hộ gia đình, hộ cá nhân vay thông qua tổ vay vốn phải tham gia và là thành viên Tổ
TK & VV của một trong các Hội nhận ủy thác đã nêu trên và phải thực hiện quy ướccủa tổ vay vốn Tổ vay vốn phải được sự đồng ý của chính quyền xã và phải có Banquản lý tổ điều hành cũng như những quy ước trong quá trình hoạt động
Cà phê là cây trồng đòi hỏi cao về kỹ thuật canh tác, hoạt động sản xuất cà phêkéo dài trong cả một năm, do đó phải có nguồn vốn lớn và sẵn sàng đáp ứng kịp thời.Trên thực tế ở nông thôn, quan hệ vay mượn ngoài thị trường tồn tại dưới nhiều hìnhthức; tuy nhiên cùng với mức lãi suất “cắt cổ”, khả năng đáp ứng vốn với số lượng lớn
và ổn định của tín dụng không chính thống cho cả một vùng chuyên canh cà phê làkhông thể thực hiện được, nên hộ sản xuất cà phê thiếu vốn phải tìm đến ngân hàng.Với chức năng và quy mô hoạt động của NHCSXH, tín dụng chính sách có thể đápứng một phần nhu cầu vốn để hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác sản xuất càphê thực hiện tất cả các hoạt động sản xuất với lượng vốn tối đa và bất kỳ thời điểmnào trong mùa vụ sản xuất cà phê
1.2.2.3 Phương thức cho vay
Hiện nay, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam thực hiện phương pháp quản
lý tín dụng đặc thù, riêng chỉ có ở Việt Nam Đó là, Ngân hàng ủy thác cho một số tổchức chính trị - xã hội tại địa phương thực hiện một số khâu trong quy trình vay vốn.Qua đó, vừa giúp ngân hàng xác định đúng đối tượng chính sách, vừa đảm bảo minhbạch, dân chủ, đồng thời giảm chi phí hoạt động cho ngân hàng, cũng như chi phí củangười vay,…Với cơ chế này, khi vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam,
hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác không chỉ được hưởng chính sách ưu đãi
Trang 30cho vay với lãi suất thấp, mà còn được hưởng những chính sách ưu đãi đặc biệt màkhông ngân hàng thương mại nào có được.
Cụ thể, ưu đãi lớn nhất khi vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Namđối với người dân là vay mà không phải thế chấp tài sản Bởi muốn vay tại các ngânhàng thương mại, người vay phải thế chấp tài sản để vay vốn, phải cung cấp giấy tờchứng minh quyền sở hữu đối với tài sản đem thế chấp, đồng thời phải chứng minhkhả năng tổ chức sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ,… Do đó, hộ nghèo và các đốitượng chính sách khác, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng khó khăn,đặc biệt khó khăn thường ít có cơ hội tiếp cận nguồn vốn của các ngân hàng thươngmại Do vậy, cách thức cho vay không cần thế chấp chính là ưu đãi lớn nhất mà Ngânhàng Chính sách xã hội dành cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác
Theo Nghị định 78/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về tíndụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác thì NHCSXH ngoài việc chovay trực tiếp đối với một số dự án, còn lại chủ yếu là cho vay uỷ thác qua các tổ chứctín dụng và các tổ chức chính trị xã hội Riêng đối với cho vay hộ nghèo NHCSXHthực hiện phương thức cho vay uỷ thác qua các tổ chức tín dụng và các tổ chức chínhtrị xã hội
Cho vay ủy thác là việc NHCSXH ký kết các văn bản thỏa thuận, hợp đồng ủy tháccho vay hộ nghèo với các tổ chức tín dụng Theo phương thức này NHCSXH giao vốncho các tổ chức tín dụng để họ thực hiện giải ngân cho các hộ nghèo vay vốn theo đúngquy định của NHCSXH và tổ chức tín dụng được hưởng phí ủy thác do NHCSXH trả cho
họ Loại hình uỷ thác cho vay này gọi là uỷ thác toàn phần Trong thực tế trước đây khi
NHCSXH chưa ra đời thì Ngân hàng Phục vụ người nghèo Việt Nam do bộ máy biên chếquá nhỏ bé không thể trực tiếp quản lý được nên đã thực hiện phương thức uỷ thác chovay hộ nghèo toàn phần cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.Phương thức cho vay này có ưu điểm là khắc phục được tình trạng quá tải của Ngân hàngPhục vụ người nghèo do màng lưới định biên ít không thể trực tiếp quản lý được nhưng
nó cũng bộc lộ nhiều tồn tại hạn chế đó là: Ngân hàng uỷ thác không quản lý được vốncho nên việc giải ngân vốn đến tay người nghèo được, nay không hoàn toàn phụ thuộcvào Ngân hàng nhận uỷ thác d n đến nhiều khi vốn tồn đọng rất lớn gây lãng phí vốn, mộttồn tại nữa là chất lượng hiệu quả
Trang 31tín dụng thấp, nợ quá hạn, nợ xấu chiếm tỷ lệ cao và phí ủy thác lớn, gây tốn kém chongân sách Nhà nước.
Từ khi được thành lập theo Quyết định số: 131/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 củaThủ tướng Chính phủ, NHCSXH đã tập trung nghiên cứu và chuyển dần việc uỷ tháccho vay hộ nghèo toàn phần qua các tổ chức tín dụng sang hình thức cho vay uỷ thácbán phần qua các tổ chức chính trị xã hội
Cho vay hộ nghèo ủy thác bán phần qua các tổ chức chính trị xã hội là việcNHCSXH ủy quyền cho các tổ chức chính trị xã hội thực hiện một số công việc (côngđoạn) trong quy trình nghiệp vụ cho vay hộ nghèo của NHCSXH và các tổ chức chínhtrị xã hội được NHCSXH trả một khoản phí ủy thác theo các văn bản thoả thuận vàhợp đồng uỷ thác đã được hai bên ký kết Cho vay ủy thác bán phần qua các tổ chứcchính trị xã hội có những ưu điểm rõ rệt, nó khắc phục được những tồn tại, hạn chếcủa phương thức cho vay ủy thác toàn phần qua các tổ chức tín dụng đó là: NHCSXHtrực tiếp quản lý nguồn vốn, quản lý dư nợ nên chủ động trong quá trình cho vaykhông để tồn đọng lãng phí vốn, với phương thức cho vay này hiệu quả tín dụng hộnghèo được nâng cao rõ rệt, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu rất thấp Đồng thời phương thứccho vay này tiết kiệm được chi phí (phí ủy thác) cho Ngân sách Nhà nước góp phầnthực hiện tốt công tác xã hội hoá tín dụng chính sách đối với hộ nghèo, huy động đượcsức mạnh tổng hợp của toàn xã hội vào công cuộc xoá đói giảm nghèo
1.2.2.4 Lãi suất cho vay và phí phải trả
Lãi suất cho vay không chỉ là công cụ các tổ chức tín dụng sử dụng để bảo đảmlợi nhuận mà còn duy trì khả năng cạnh tranh cũng như điều tiết quy mô tín dụng Quy
mô tín dụng không chỉ ở mức tổng thể toàn tổ chức mà còn đối với từng ngành nghề,trong từng thời điểm để có thể khuyến khích hoặc hạn chế cho vay một hoặc một vàilĩnh vực Thông thường, lãi suất cho vay được hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu
về vốn và theo nguyên tắc bảo đảm trang trải chi phí huy động, chi phí hoạt động, bùđắp rủi ro và duy trì lợi nhuận phù hợp
Đối với tổ chức tín dụng cấp tín dụng chính sách, lãi suất cho vay thường theo quyđịnh của Nhà nước để bảo đảm khách hàng là các đối tượng chính sách nhận được ưu đãi
và có thể tận dụng tốt các ưu đãi này Ngoài ra, Nhà nước thường quy định các tổ chứctín dụng không được thu phí với nhóm đối tượng chính sách, khiến cho nguồn thu nhậpcủa tổ chức bị hạn chế rất nhiều Để bảo đảm tính bền vững cho hoạt động tín
Trang 32dụng chính sách và sự phát triển bền vững của tổ chức tín dụng, Nhà nước phải sửdụng nguồn lực tài chính để cấp bù chênh lệch lãi suất và chi trả một phần hoặc toàn
bộ các loại phí tổn cho hoạt động của tổ chức tín dụng Mức lãi suất cho vay cũngthường được duy trì ổn định trong một thời gian dài chứ ít khi được điều chỉnh theodiễn biến cung cầu vốn trên thị trường nhằm bảo đảm người nghèo và các đối tượngchính sách chỉ phải chi trả một mức lãi suất ổn định
Với một khoản cho vay thương mại, ngoài lãi suất, khách hàng còn phải chi trảnhững khoản phí khác nhau như phí duy trì hạn mức, phí định giá tài sản bảo đảm…,nhưng đối với người nghèo, ngoài lãi suất, họ không phải chi trả các khoản phí khác,
kể cả giấy tờ in phục vụ cho việc vay vốn đều được miễn phí
1.2.2.5 Thời hạn cho vay
Nói chung, thời hạn cho vay hộ sản xuất cà phê tương ứng với các thể loại chovay gắn với đối tượng vay vốn như sau:
dựng cơ bản trên 12 tháng đến dưới 5 năm; cho vay trồng mới cà phê trên 12 thángđến 3 năm;
dựng cơ bản trên 5 năm
Thời hạn cho vay được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay và đến khikhách hàng trả hết nợ gốc l n lãi đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Đối vớicho vay đối tượng chính sách, thời hạn cho vay cũng được quy định trên cơ sở khảnăng hoàn trả của khách hàng Người nghèo có nguồn thu nhập không ổn định nênthời hạn cho vay quá chặt chẽ sẽ khiến cho khả năng tích lũy và trả nợ tổ chức tín dụng
bị suy giảm mạnh
Vì vậy, việc quy định thời hạn trả nợ của khách hàng cần được tính toán saocho phù hợp với dòng tiền thu nhập mà người nghèo có được, nó không chỉ tính đếndòng tiền sản xuất kinh doanh mà còn tính đến các nguồn thu nhập khác và các khoảnchi cho tiêu dùng, sinh hoạt đời thường Kỳ hạn trả lãi có thể được quy định ngắnnhằm khuyến khích người nghèo và các đối tượng chính sách có ý thức tiết kiệm định
kỳ, từ đó duy trì một khoản tiền nhỏ hàng tháng (hoặc hàng tuần) để trả nợ tổ chức tín
Trang 33dụng, không gây ra tình trạng sử dụng cho mục đích khác và không kiểm soát được sốtiền phải trả nợ tổ chức khi đến hạn.
Tuy nhiên, việc điều chỉnh kỳ hạn nợ có thể diễn ra khá thường xuyên đối vớicác tổ chức tín dụng cấp tín dụng chính sách Nếu không có biện pháp quản trị nguồnvốn và tín dụng một cách khôn ngoan, tổ chức tín dụng sẽ bị rơi vào tình trạng nợ quáhạn gia tăng và mất thanh khoản Đơn cử, khi xảy ra thiên tai, việc thu hoạch củangười nghèo tại các vùng nông thôn có thể bị dời lại một khoảng thời gian, hoặc trongkhi giá bán sản phẩm đang thấp, người nghèo có thể chủ động tích trữ chờ thời điểmđược giá để bán, hay do họ phát sinh nhu cầu chi tiêu đột xuất sẽ khiến do dòng tiềncủa người nghèo không đủ để trả cho tổ chức tín dụng Với đặc điểm này, việc điềuchỉnh kỳ hạn nợ, trong vòng một khoảng thời gian ngắn (dựa trên kỳ hạn vay ban đầu)
có thể giúp người nghèo và các đối tượng chính sách tận dụng được những cơ hội trênthị trường, hoặc giải quyết những khó khăn tạm thời về dòng tiền để chi trả vốn vaycho tổ chức tín dụng Tổ chức tín dụng có thể áp dụng phương thức trả nợ theo trả góphàng tháng nhằm giúp người vay biết tiết kiệm để trả nợ dần, hạn chế việc trả nợ vàomột thời điểm gây khó khăn cho họ và bản thân ngân hàng cũng có nguồn vốn để quayvòng cho vay tiếp
1.2.2.6 Mức cho vay
Để thực hiện tăng trưởng tín dụng an toàn trong phạm vi năng lực, ngân hàng
ấn định quy mô tín dụng của toàn bộ tổ chức, của từng chi nhánh và kế đến là từngPhòng giao dịch cung cấp cho khách hàng trong một giai đoạn nhất định, thường làmột năm Mức cho vay tối đa được tính toán trên cơ sở nhu cầu vốn của khách hàng làcác đối tượng chính sách, khả năng huy động vốn của ngân hàng, khả năng kiểm soátchất lượng tín dụng của tổ chức và chi nhánh Ngoài quy định hạn mức theo khía cạnhđịa lý, các ngân hàng còn tính toán mức tăng trưởng tín dụng cho các ngành nghề,hoặc các chương trình tín dụng đối với các đối tượng chính sách
Các mức giới hạn cho vay không chỉ dừng lại ở tầm vĩ mô mà còn ở tầm vi môđối với khách hàng như mức cho vay tối đa đối với một khách hàng vay vốn, mức chovay tối đa so với giá trị tài sản bảo đảm, mức cho vay tối đa đối với một nhóm kháchhàng có liên quan, mức cho vay tối đa đối với một số lĩnh vực, mức cho vay tối đa sửdụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn… Cấp tín dụng cho đối tượng chínhsách tuy không phải quan tâm tới hết các mức giới hạn trên như các ngân hàng cấp tín
Trang 34dụng cho khách hàng thông thường nhưng cũng phải xét đến mức cho vay tối đa đốivới một khách hàng theo một chương trình, với tổng thể tất cả các chương trình kháchhàng được vay, hay mức cho vay đối với một địa phương, một lĩnh vực.
Quy mô vốn vay tối đa trên một khách hàng cũng không thể quá lớn mặc dù nóđáp ứng được nhu cầu của khách hàng vì nếu như vậy, nhiều khách hàng khác sẽkhông có điều kiện tiếp cận tín dụng và phạm vi ảnh hưởng của chính sách tín dụng bịhạn chế đi nhiều Ngoài ra, người nghèo và các đối tượng chính sách có ít kinhnghiệm quản lý tài chính, nếu phải quản lý một số tiền lớn sẽ có thể d n tới tình trạngvượt quá khả năng của họ và gây ra những rủi ro cho ngân hàng
1.2.2.7 Quy trình cho vay
Quy trình cho vay là trình tự các bước thực hiện quá trình cho vay của ngânhàng, kể từ khi nhận được nhu cầu vay vốn đến khi giải ngân, thu hồi vốn vay Hoạtđộng cho vay hộ sản xuất cà phê của ngân hàng tuân thủ theo quy trình cho vay chungnhư tất cả các đối tượng vay vốn khác
Quy trình cho vay thể hiện trách nhiệm của từng bộ phận trong bộ máy ngânhàng, đảm bảo không bị chồng chéo trong quá trình xử lý, giải quyết cho vay; đồngthời, đảm bảo việc vận hành quy trình hoạt động cho vay theo đúng trình tự, đồng bộ.Kèm theo các bước thực hiện quy trình cho vay là các thủ tục hồ sơ giấy tờ vay vốn;
do đó, cải tiến quy trình cho vay, vừa đảm bảo chặt chẽ về mặt pháp lý, vừa thuận lợicho ngân hàng l n hộ sản xuất cà phê, là một trong những việc làm cần thiết ở môitrường nông thôn hiện nay
Biểu đồ 1.1 Biểu đồ cho vay tại NHCSXH
Hộ nghèo
Trang 36Bước 1: Khi có nhu cầu vay vốn, người vay viết Giấy đề nghị vay vốn (m u số
01/TD), gửi cho Tổ TK&VV
Bước 2: Tổ TK&VV cùng tổ chức chính trị - xã hội tổ chức họp để bình xét
những hộ nghèo đủ điều kiện vay vốn, lập danh sách m u 03/TD trình UBND cấp xãxác nhận là đối tượng được vay và cư trú hợp pháp tại xã
Bước 3: Tổ TK&VV gửi hồ sơ đề nghị vay vốn tới Ngân hàng.
Bước 4: Ngân hàng phê duyệt cho vay và thông báo tới UBND cấp xã (m u
04/TD)
Bước 5: UBND cấp xã thông báo cho tổ chức chính trị - xã hội cấp xã.
Bước 6: Tổ chức chính trị - xã hội cấp xã thông báo cho Tổ TK&VV.
Bước 7: Tổ TK&VV thông báo cho tổ viên/hộ gia đình vay vốn biết danh sách
hộ được vay, thời gian và địa điểm giải ngân
Bước 8: Ngân hàng tiến hành giải ngân đến người vay.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng chính sách đối với cây cà phê
1.2.3.1 Nhóm nhân tố ảnh hưởng từ ngân hàng
Kết quả thực hiện giải pháp tín dụng chịu ảnh hưởng lớn từ nhiều nhân tố từphía ngân hàng, trong đó có một số tác động từ nguồn vốn của ngân hàng Tuy nhiên,với góc độ nghiên cứu cấp chi nhánh của NHCSXH, với ưu thế của hệ thống tổ chức
bộ máy, nguồn vốn cho vay có thể được chia sẻ trong nội bộ Do đó, các nhóm nhân tốảnh hưởng đến kết quả thực hiện tín dụng chính sách đối với hộ nghèo và các đốitượng chính sách sản xuất cà phê từ phía ngân hàng chủ yếu là các nhân tố sau đây:
a Năng lực của cán bộ ngân hàng
Năng lực của cán bộ ngân hàng, đặc biệt là cán bộ trực tiếp làm công tác cho vay
hộ sản xuất cà phê là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay hộ sảnxuất cà phê Năng lực của cán bộ ngân hàng ngoài việc đánh giá bằng trình độ chuyênmôn còn được đánh giá bằng trách nhiệm phục vụ trong công việc Trong nhiều trườnghợp nhân viên ngân hàng đóng vai trò là người tư vấn giúp đỡ cho hộ sản xuất cà phêtrong quá trình lập hồ sơ thủ tục vay vốn, hồ sơ đảm bảo tài sản nợ vay, kể cả việc tư vấncho quá trình hoạt động sản xuất, quản lý vốn của hộ sản xuất cà phê
b Chính sách cho vay của ngân hàng
Trang 37Cho vay của ngân hàng trên thực tiễn luôn thay đổi để thích ứng với tình hìnhhoạt động trong từng thời kỳ, nhằm đạt mục tiêu an toàn, hiệu quả và phù hợp với tìnhhình thị trường Trong các nội dung của tín dụng chính sách, lãi suất và phương thứccho vay là những nhân tố tác động mạnh đến kết quả hoạt động cho vay.
1.2.3.2 Nhóm nhân tố ảnh hưởng từ hộ sản xuất cà
phê a Năng lực từ chủ hộ
Trình độ quản lý vốn của hộ sản xuất cà phê ảnh hưởng đến chất lượng vốn tíndụng ngân hàng Ranh giới sử dụng vốn vay cho mục đích sản xuất và mục đích tiêudùng của kinh tế hộ gia đình ở nông thôn khó phân định nếu hộ sản xuất cà phê yếukém về trình độ quản lý vốn vay ngân hàng Nhiều trường hợp hộ sản xuất cà phê sửdụng vốn vay với mục đích sản xuất kinh doanh sang mục đích tiêu dùng để chấtlượng nâng cao đời sống, d n đến kết quả sản xuất không đạt được như dự tính, gâykhó khăn về tài chính khi hoàn trả nợ vay ngân hàng, gây ra rủi ro cho vốn tín dụngngân hàng
b Sự tham gia của hộ đối với các tổ chức liên kết
Khởi đầu của quá trình liên kết sản xuất chính là việc tổ chức liên kết hộ sảnxuất cà phê với nhau thành Tổ hợp tác, phát triển cao hơn là hình thức tổ chức sản xuất
cà phê theo mô hình Hợp tác xã Tiến tới liên kết với các doanh nghiệp cung cấp sảnphẩm vật tư nông nghiệp đầu vào cho sản xuất cà phê, liên kết với doanh nghiệp kinhdoanh mua bán cà phê Nếu thực hiện liên kết chặt chẽ sẽ hạn chế được nhiều rủi rocho ngành sản xuất cà phê trong nền kinh tế thị trường và nâng cao chất lượng tíndụng do ngân hàng triển khai được quy trình khép kín khi cho vay, thu nợ vốn tíndụng
1.2.3.3 Nhóm nhân tố về chính sách của Nhà nước
Các chính sách kinh tế là những tác động ở tầm vĩ mô đối với hoạt động nôngnghiệp, nông thôn Nếu có chính sách tín dụng đúng đắn, sẽ hỗ trợ cho sản xuất nôngnghiệp ngày càng phát triển và ngược lại nó sẽ là vật kìm hãm đối với sản xuất Chínhsách của Chính phủ ảnh hưởng trực tiếp đến ngành cà phê bao gồm: Chính sách quyhoạch cây cà phê, hỗ trợ lãi suất, chính sách trợ giá, chính sách tỷ giá hỗ trợ cho cácdoanh nghiệp sản xuất cà phê, chính sách hạn mức tín dụng, chính sách giảm tổn thấtsau thu hoạch…Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay, việc ban hành các chính
Trang 38sách phù hợp giúp nâng cao năng lực sản xuất và năng lực tham gia chuỗi giá trị toàncầu của sản phẩm cà phê, tạo nền tảng nâng cao lợi thế cạnh tranh.
Vì vậy đối với sản xuất cà phê của các hộ nghèo và các đối tượng chính sáchkhác sản xuất cần có những chính sách tín dụng cho phù hợp để phát huy tiềm năng,lợi thế của khu vực đặc biệt là cây cà phê, góp phần đáng kể vào chuyển dịch cơ cấukinh tế, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội,nâng cao đời sống nhân dân và từng bước thay đổi bộ mặt nông thôn
1.3 Bài học kinh nghiệm về tín dụng chính sách đối với cây cà phê
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
Brazil là quốc gia mà nông dân sử dụng công cụ quản trị rủi ro dựa vào thị trườngnhiều nhất Điều này có thể do: Thứ nhất, nông trại quy mô vừa và đồn điền lớn chiếmphần lớn thị phần sản xuất Brazil có 221.000 nông trại (trong đó có 30% nông trại cóquy mô trên 10ha) và 70 hợp tác xã Ngoài ra, nước này có khoảng 1.500 doanhnghiệp rang xay, 9 nhà máy sản xuất cà phê hòa tan và 200 công ty xuất khẩu cà phê.Trong khi đó, quy mô trang trại cà phê ở VN phần lớn (hơn 80%) từ 0,2-2ha [5], [7].Người sản xuất nông nghiệp nhận tín dụng ngân hàng dựa vào tài sản thế chấp là
mùa vụ trong tương lai Tại Brazil có một hệ thống giúp đảm bảo mối liên hệ chặt chẽgiữa người cho vay và người phát hành CPR, trong đó họ chia sẻ kiến thức về các giaodịch, sản lượng thu hoạch trung bình trong các vùng, sản lượng tiềm năng Hệ thống nàycho phép người cho vay có cơ hội theo dõi tình trạng của sản lượng thu hoạch trongtương lai Tài sản thế chấp và đất đai được đăng ký với tên của người sở hữu thông quađăng ký CPR và có sự giám sát hoặc của tổ chức độc lập hoặc người cho vay Giám sátchặt chẽ bắt buộc thực hiện tại các giai đoạn sản xuất Các cuộc khảo sát trước khi gieohạt, các cuộc viếng thăm hàng tháng, và kiểm tra liên tục trong suốt thời gian thu hoạch đểchắc chắn rằng không xảy ra sai sót nào Theo Bộ Nông nghiệp Brazil, Chính phủ sẽ chocác hộ nông dân trồng cà phê vay 2,1 tỷ reais (tương đương với 1,14 tỷ đô la) để trangtrải chi phí cho thu hoạch và sửa sang lại nhà kho Trong đó tổng lượng cho vay sẽ thấphơn so với mức 2,16 tỷ reais đã được hỗ trợ vụ trước nữa, đây là vụ giống như vụ này,tức là sản lượng sẽ cao hơn theo như chu kỳ 2 năm 1 lần của Brazil, nước sản xuất cà phêđứng đầu thế giới Những người nông dân cho biết chi phí cho thu hoạch sẽ tăng mạnhtrong năm nay, một phần là do nhân công đang
Trang 39ngày một khó kiếm khiến giá nhân công tăng cao Điều này đã khiến cho rất nhiều hộnông dân phải thuê máy để làm công việc thu hoạch Tuy nhiên, đây lại là vùng đất đồinúi khiến cho việc sử dụng máy cũng gặp nhiều khó khăn Chính phủ đã giải ngânbằng tiền mặt và quỹ này được lấy tên Funcafe, với sự giám sát của bang Banco doBrazil và một số ngân hàng tư nhân khác và yêu cầu một thể chế tiền lãi thích hợp ápdụng cho số tiền giải ngân lần này Các ngân hàng giải ngân tiền mặt thông qua các chinhánh của mình theo cách giống như các ngân hàng cho vay bình thường.
sản lượng cà phê của Ấn Độ đạt 5,7 triệu bao (mỗi bao 60 kg), đứng hàng thứ 7 trênthế giới về sản lượng Để giúp nông dân trồng lại các vườn cà phê thay thế các vườn
cà phê già cỗi, Chính phủ Ấn Độ đã tài trợ cho ngành cà phê một khoản ngân sách lớntới 1 tỷ rupi Ấn Độ (1USD= 48,96 rupi Ấn Độ) trong kế hoạch 5 năm từ 2011 đến
2016 với diện tích là 42.000 ha Cục cà phê Ấn Độ hỗ trợ 40% chi phí cải tạo cho các
hộ nông dân có diện tích dưới 2 ha, 30% cho hộ có từ 2-10 ha và 25% cho hộ có trên
trồng cà phê, xét về sản lượng, niên vụ cà phê 2016-2017 Colombia đã đạt 7,9 triệu
bao, đứng hàng thứ 3 trên thế giới, nhưng nếu xét về chủng loại cà phê, thì Colombia
là nước đứng thứ 2 trên thế giới về sản lượng cà phê Arabica, chỉ sau Brazin Liênđoàn những người trồng cà phê Colombia đang thực hiện chương trình đổi mới cácvườn cà phê già cỗi Người ta chủ trương mỗi hộ trồng cà phê đổi mới 20% diện tích
cà phê của mình, toàn ngành sẽ đổi mới 300.000 ha cà phê đã già cỗi Thông qua quỹ
cà phê để hỗ trợ tiền phân bón cho cà phê với mức 7 USD/cây Ngân hàng thì tạo điềukiện thuận lợi cung cấp tài chính cho người trồng cà phê và được Chính phủ chi trả
40% giá trị khoản nợ, còn lãi suất tiền vay được quỹ cà phê hỗ trợ [8].
thành lập quỹ 140 triệu USD để tái canh 30.000 ha cà phê với lãi suất 3%/năm cho 3
năm đầu, thấp hơn nhiều so với lãi suất thương mại [8].
Arabica chất lượng cao, bên cạnh nguồn vốn tín dụng trị giá 1 tỷ Lempiras có sẵn,nhằm tiếp tục hỗ trợ tài chính để người trồng cà phê chống lại sự tác hại của bệnh nấm
gỉ sắt, Chính phủ Mỹ đã cung cấp một ngân khoản trị giá 12 triệu USD (tương đương
Trang 40250 triệu Lempiras) dưới hình thức tín dụng để khởi động chương trình thay mới
vườn cây cà phê, một bước cần thiết trong cuộc chiến chống bệnh nấm gỉ sắt [8].
giới,
Indonesia có điều kiện diện tích và thổ nhưỡng thuận lợi cho cây cà phê, song mới chỉđạt năng suất trung bình khoảng 1 tấn/ha, thấp hơn rất nhiều so với Việt Nam với 4tấn/ha Indonesia là nước xuất khẩu cà phê Robusta đứng thứ hai trên thế giới sau ViệtNam Hai nước Việt Nam và Indonesia chiếm tới 60% sản lượng cà phê Robusta củathế giới Hiện nay, các sản phẩm cho vay trong nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là chovay hộ sản xuất rất đa dạng Phương thức tiếp cận vốn bao gồm cả chính thức từ cácNHTM và hình thức khác, trong đó các món cho vay nhỏ - không yêu cầu tài sản thếchấp – ngày càng có xu hướng tăng lên Các hộ tự làm kinh doanh rất muốn tiếp cậnvới hình thức tín dụng ngân hàng tuy nhiên việc tiếp cận v n còn hạn chế, có lẽ vì chiphí giao dịch lớn Hình thức tín dụng nhỏ v n chưa đến được với những người nghèotrong xã hội vì điều kiện tiếp cận của họ gặp nhiều khó khăn hơn so với những người
có thu nhập cao [3], [4]
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và tỉnh Lâm Đồng
Từ nghiên cứu kinh nghiệm về tín dụng chính sách trong nông nghiệp nôngthôn và đặc biệt là trong lĩnh vực cà phê, đối với Việt Nam đã rút ra một số bài họckinh nghiệm sau: Việc tiếp cận vốn tín dụng chính sách của các hộ sản xuất trong nôngnghiệp nông thôn còn gặp nhiều khó khăn, vì vậy phải có quy trình đơn giản và cụ thể.Ngân hàng Chính sách xã hội cần nghiên cứu các sản phẩm tín dụng phù hợp với đặcthù của địa bàn Tây Nguyên, thiết kế các sản phẩm tín dụng phù hợp với tính chất mùa
vụ của cây cà phê, các sản phẩm tín dụng theo chuỗi giá trị, giống mô hình củaIndonesia Cần tăng cường thêm nguồn vốn, đặc biệt là vốn vay ưu đãi để đầu tưtrong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, tích cực tìm kiếm các nguồn vốn tín dụng ưuđãi nước ngoài, như nguồn vốn từ IMF, WB, ADB Trong đó dành nguồn vốn ưu đãicho sản xuất cà phê lâu dài như giảm tổn thất sau thu hoạch, xây dựng sân phơi, nhàkho, máy móc thiết bị, chăm sóc vườn cà phê già cỗi… Tiếp tục mở rộng mạng lướiđến những vùng sâu, vùng xa nhằm tạo điều kiện cho hộ nghèo và các đối tượng chínhsách tiếp cận với nguồn vốn chính thức an toàn và chi phí thấp nhất
Việc cung ứng vốn tín dụng chính sách phải kết hợp với chính sách phát triển càphê bền vững, trong đó, ở những nơi có điều kiện cần quan tâm và tiến đến khuyến