Đối tượng và phạm vi nghiên cứuĐối tượng nghiên cứu: hiệu quả hoạt động, thể hiện ở khả năng ngân hàng sử dụngcác yếu tố đầu vào để tạo đầu ra hiệu quả và các yếu tố vĩ mô và vi mô ảnh h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
VÕ THỊ TUYẾT TRINH
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
VÕ THỊ TUYẾT TRINH
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã ngành: 60.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học: TS.Lê Hồ An Châu
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 3Tóm tắt
Trong nghiên cứu này, tác giả đo lường hiệu quả hoạt động của 28 ngân hàng thươngmại tại Việt Nam dựa trên cách tiếp cận chỉ số Malmquist Phương pháp này bổ sungcho các thước đo truyền thống phổ biến hiện tại như ROA và ROE Kết quả nghiêncứu cho thấy hiệu quả kỹ thuật bình quân của các NHTM trong giai đoạn 2011-2016đạt 0,885 Hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thời kỳ 2011-2016 giảm Tiếpđến, nghiên cứu đo lường các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động thông qua môhình hồi quy Tobit Kết quả ước lượng cho thấy các yếu tố quy mô, rủi ro tín dụng, sởhữu nhà nước, chu kì kinh tế và mua bán sáp nhập có ảnh hưởng có ý nghĩa đến hiệuquả hoạt động ngân hàng
Lời cam đoan
Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đạihọc nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu
là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nộidung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trongluận văn
Lời cám ơn
Tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới TS.Lê Hồ An Châu - hướng dẫn khoa học, các thầy
cô giáo tại trường Đại học Ngân hàng TP.HCM là những người đã giúp đỡ, ủng hộ tôitrong suốt thời gian thực hiện luận văn
Trang 4Mục lục
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Bối cảnh nghiên cứu và tính cấp thiết của đề tài: 1
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Những đóng góp của đề tài 3
1.6 Kết cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
2.1 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động của ngân hàng 4
2.1.1 Khái niệm hiệu quả của ngân hàng thương mại 4
2.1.2 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 5
2.1.2.1 Phương pháp đánh giá truyền thống: 5
2.1.2.2 Phương pháp phân tích hiệu quả biên: cách tiếp cận tham số (SFA) và phi tham số (DEA) 9
2.2 Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động và các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của NHTM 10
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU 17
3.1 Dữ liệu nghiên cứu 17
3.2 Phương pháp nghiên cứu 17
3.2.1 Đo lường hiệu quả hoạt động bằng DEA 17
3.2.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam bằng hồi quy Tobit 23
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Khái quát chung về tình hình hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 29
4.2 Phân tích thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam 35
4.2.1 Đo lường hiệu quả hoạt động bằng DEA 35
4.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam 42 CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Hàm ý chính sách 47
5.2.1 Gợi ý đối với các ngân hàng thương mại 47
5.2.2 Gợi ý chính sách đối với Ngân hàng Nhà nước 49
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 6Danh mục bảng
Bảng 4.1: Mô tả thống kê các biến mô hình DEA 35Bảng 4.2 Hiệu quả kỹ thuật (TE) và hiệu quả kỹ thuật thuần (PE) của toàn bộmẫu và các nhóm ngân hàng thuộc các loại hình sở hữu khác nhau. 36Bảng 4.3: Hiệu quả chi phí thay đổi theo quy mô 37Bảng 4.4: Hiệu quả kỹ thuật không đổi theo quy mô, hiệu quả kỹ thuật thayđổi theo quy mô và hiệu quả quy mô. 38Bảng 4.5 Chỉ số Malmquist bình quân thời kỳ 2011-2016 39Bảng 4.6: Mô tả thống kê các yếu tố mô hình Tobit. 42Bảng 4.7 Kết quả ước lượng mô hình Tobit phân tích các yếu tố tác động đếnhiệu quả hoạt động của các NHTM ở Việt Nam 42
Trang 7Danh mục hình
Hình 3.1 Đường giới hạn khả năng sản xuất ứng với hai hàng hóa H1 và H2
trường hợp tối đa hóa đầu ra. 18
Hình 3.2: Đường PPF trong trường hợp tối thiểu hóa đầu vào. 18
Hình 3.3 Hiệu quả không đổi/thay đổi theo quy mô 19
Hình 3.4 Chỉ số Malmquist TFP đầu ra 21
Hình 4.1: Thị phần huy động và cho vay ước tính đến cuối năm 2016. 29
Hình 4.2: Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế thể hiện tốc độ tăng giảm 30
Hình 4.3: Tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm 2016-2017 31
Hình 4.4: Tỷ giá USD/VND 32
Hình 4.5: Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng theo quý 33
Trang 8CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1 Bối cảnh nghiên cứu và tính cấp thiết của đề tài:
Trong những năm qua, hệ thống ngân hàng đã có những đóng góp quan trọng vàoquá trình đổi mới và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngành Ngân hàng Việt Nam khôngngừng phát triển và từng bước đổi mới, hoàn thiện về mô hình tổ chức, cơ chế hoạtđộng, cũng như công tác quản lý điều hành, công nghệ và dịch vụ ngân hàng; nâng caohiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế trong hoạt động tiền tệ; hệ thống giám sát an toànngày càng hoàn thiện; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng được mở rộng và pháttriển, góp phần thu hút các nguồn lực quốc tế để phát triển kinh tế đất nước, đóng gópquan trọng vào việc kiểm soát lạm phát, “vàng hóa” và “đô la hóa”; ổn định kinh tế vĩ
mô, hỗ trợ phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng, đáp ứng hiệu quả các nhu cầu về vốn,phục vụ sản xuất, kinh doanh; hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng có bước phát triển mạnh mẽ về quy mô và mạnglưới, loại hình sở hữu, công nghệ, dịch vụ, ngày càng thực hiện tốt hơn vai trò huyếtmạch trong nền kinh tế, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội.Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống ngân hàng hiện nay vẫn còn nhiều tồn tại và trởthành thách thức trong thời kỳ hội nhập Với việc ngày càng hội nhập với nền kinh tếthế giới, Việt Nam cam kết cho phép các tổ chức tài chính nước ngoài được cung cấpdịch vụ tài chính, sức ép cạnh tranh từ các ngân hàng nước ngoài đã hiện diện tại ViệtNam ngày càng lớn đặt ra vấn đề cần quan tâm về chất lượng hoạt động của hệ thốngngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạtđộng cần được nhận dạng và đánh giá nhằm tìm ra những giải pháp hoàn thiện và tăngcường hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM giúp cho ngành ngânhàng Việt Nam phát triển nhanh chóng và bền vững, từng bước cạnh tranh và hội nhậpkinh tế quốc tế
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động của cácNHTM, trong thời gian qua đã có một số tác giả trong nước quan tâm nghiên cứu vềvấn đề này Nghiên cứu của Lê Hoàng Nga (2007) chỉ dừng lại ở phân tích định tính,nghiên cứu định lượng của Võ Thành Danh và Liễu Thu Trúc (2012) chưa đề cập đếncác nhân tố tác động nào đến hiệu quả hoạt động và thời gian nghiên cứu khá ngắn từ
2006 – 2009 Nguyễn Quang Khải (2016) sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu(DEA) đánh giá hoạt động của các NHTM Việt Nam, tuy nhiên tác giả chưa đo lường
Trang 9cụ thể mức độ hiệu quả và các nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ hiệu quả Phân tíchcác yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam trong thời
kỳ hội nhập tài chính quốc tế của Trần Huy Hoàng và Nguyễn Hữu Huân (2016) chưađánh giá hiệu quả của việc mua bán và sáp nhập (M&A) lên hiệu quả hoạt động Do đóluận văn này đo lường cụ thể mức độ hiệu quả và các nhân tố nào ảnh hưởng đến mức
độ hiệu quả có xem xét đến tác động của M&A và tác động phi tuyến của quy mô
Qua phân tích ở trên có thể nói, hiện nay việc xem xét một cách tổng thể về hiệuquả hoạt động hiện tại và xác định những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt độngcủa các NHTM ở Việt Nam là quan trọng và có giá trị cho các nhà hoạch định chínhsách, nhà quản trị ngân hàng và nhà đầu tư trong việc ra quyết định nhằm nâng caohiệu quả kinh tế, hiệu quả đầu tư Xuất phát từ những đòi hỏi mang tính khoa học và
thực tiễn đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Hiệu quả hoạt động và các nhân tố ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Việt Nam’’ làm đề tài nghiên cứu.
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
-Đo lường hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Việt Nam từ 2011-2016 và
so sánh sự khác biệt giữa các nhóm NHTM có hình thức sở hữu khác nhau
-Phân tích các yếu tố vĩ mô và đặc thù của ngân hàng tác động đến hiệu quảhoạt động của NHTM Việt Nam giai đoạn 2011 – 2016
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu:
Để làm rõ mục tiêu nghiên cứu của luận văn, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
-Hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2011 – 2016 nhưthế nào? Có sự khác biệt về hiệu quả hoạt động của các nhóm NHTM cóhình thức sở hữu khác nhau hay không?
-Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM ViệtNam?
Trang 101.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: hiệu quả hoạt động, thể hiện ở khả năng ngân hàng sử dụngcác yếu tố đầu vào để tạo đầu ra hiệu quả và các yếu tố vĩ mô và vi mô ảnh hưởng đếnhiệu quả hoạt động này của các NHTM Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: 28 NHTM tại Việt Nam, gồm 3 NHTM nhà nước, 23 NHTM
cổ phần và 2 ngân hàng liên doanh trong giai đoạn nghiên cứu là 6 năm từ năm 2011đến năm 2016
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để phù hợp với nội dung, yêu cầu và mục đích mà luận văn đề ra, luận văn sử dụngphương pháp phân tích định lượng gồm phương pháp DEA và mô hình Tobit để đánhgiá hiệu quả hoạt động và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động củaNHTM tại Việt Nam
Dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua báo cáo của NHNN và báo cáothường niên của 28 NHTM Việt Nam giai đoạn 2011-2016
1.5 Những đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về hiệu quả hoạt động và các yếu
tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu
có chọn lọc một số quan điểm cơ bản của các tác giả trên thế giới qua các công trìnhnghiên cứu thực nghiệm Điểm mới và khác biệt của luận văn này so với các nghiêncứu trước ở Việt Nam là có xem xét đến yếu tố M&A và tác động phi tuyến của quy
mô đến hiệu quả hoạt động ngân hàng
Kết quả nghiên cứu của đề tài chỉ ra những yếu tố nào thật sự tác động đến hiệuquả hoạt động ngân hàng của các NHTM Việt Nam, mức độ tác động của các yếu tố
đó, từ đó giúp các nhà quản trị ngân hàng đề ra các chính sách, chiến lược nhằm nângcao hiệu quả hoạt động tại các NHTM Việt Nam
1.6 Kết cấu của đề tài
Chương 1 Giới thiệu đề tài
Chương 2 Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả hoạt độngcủa ngân hàng
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5 Kết luận và hàm ý chính sách
Trang 11CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động của ngân hàng
2.1.1 Khái niệm hiệu quả của ngân hàng thương mại
Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế,
kỹ thuật, xã hội Theo Samerelson và Nordhaus thì: “hiệu quả sản xuất diễn ra khi xãhội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sản lượnghàng hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất củanó” Thực chất của quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả cácnguồn lực của nền sản xuất xã hội Việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sản xuấttrên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao
Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kếtquả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó Điển hình cho quan điểm này làManfred Kuhn, theo đó: “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theođơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh” Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế
và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các quá trình kinh tế.Quan điểm này chỉ rõ trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất càng cao, doanhnghiệp càng có khả năng tạo ra kết quả cao trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc
độ tăng kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng việc sử dụng các nguồn lực đầu vào Đây làđiều kiện tiên quyết để doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa Do đó xéttrên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vaitrò rất quan trọng trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giảipháp tối ưu nhất, đưa ra phương pháp đúng đắn nhất để đạt được mục tiêu lợi nhuậntối đa Với tư cách là một công cụ đánh giá và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quảkhông chỉ được sử dụng ở giác độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng tổng hợpcác nguồn lực đầu vào trong phạm vi hoạt động của toàn doanh nghiệp, mà còn sửdụng để đánh giá trình độ sử dụng của từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành củadoanh nghiệp Nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là đã nâng cao khả năng sử dụng cácnguồn lực có hạn trong sản xuất, đạt được sự lựa chọn tối ưu Trong điều kiện khanhiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện không thểkhông đặt ra đối với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào
Trang 12Hai tác giả Whohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế Đó làhiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị.Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau “Mối quan hệ tỷ lệ giữa sảnlượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg ) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ laođộng, đơn vị thiết bị, nguyên vật liệu ) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuậthay hiện vật”, “Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinh doanh phải chỉ ra trong điều kiệnthuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế phải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét vềmặt giá trị” và “Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệgiữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào tính bằng tiền” Khái niệm hiệuquả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính là năng suất lao động, máymóc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả củahoạt động quản trị chi phí.
Quan điểm về hiệu quả là đa dạng, tùy theo mục đích nghiên cứu có thể xét hiệuquả theo những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, xuất phát từ những hạn chế về thờigian và nguồn số liệu, do vậy quan điểm về hiệu quả mà luận văn sử dụng để đánh giáhiệu quả hoạt động của các NHTM là dựa trên tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế,thể hiện là khả năng biến các đầu vào thành các đầu ra trong hoạt động kinh doanh củaNHTM
2.1.2 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng
thương mại 2.1.2.1 Phương pháp đánh giá truyền thống:
a, Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời: Các chỉ tiêu quan trọng nhất đo lườngkhả năng sinh lời của ngân hàng được sử dụng hiện nay gồm tỷ lệ thu nhập trên vốnchủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên(NIM), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NOM), tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên(TNHĐB), hệ số thu nhập trên cổ phiếu (EPS)
Mỗi tỷ lệ đo lường khả năng sinh lời được sử dụng trong từng trường hợp khácnhau ROA là một thông số chủ yếu về tính hiệu quả quản lý, chỉ ra khả năng của ngânhàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng Ngược lại,ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng, thể hiệnthu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng Tỷ lệ thu nhập hoạtđộng cận biên, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên là các
Trang 13thước đo tính hiệu quả cũng như khả năng sinh lời Chúng chỉ ra năng lực trong việcduy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu là thu từ các khoản cho vay, đầu tư
và phí dịch vụ) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi,những khoản vay trên thị trường tiền tệ, tiền lương nhân viên và phúc lợi) Tỷ lệ thunhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngânhàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theođuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất Trái lại, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên đolường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi, chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch
vụ với các chi phí ngoài lãi mà ngân hàng phải chịu (gồm tiền lương, chi phí sửa chữa,bảo hành thiết bị, và chi phí tổn thất tín dụng)
Một biện pháp đo lường hiệu quả chỉ tiêu thu nhập truyền thống khác mà các nhàquản lý sử dụng điều hành ngân hàng là chênh lệch lãi suất bình quân (hay chênh lệchlãi suất đầu vào và đầu ra), được tính như sau:
Tỷ lệ chênh lệch lãi suất bình quân = Thu từ lãi/Tổng tài sản sinh lời – Tổng chi phítrả lãi/Tổng nguồn vốn phải trả lãi
Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả đối với hoạt động trung gian của ngân hàng trongquá trình huy động vốn và cho vay, đồng thời nó cũng đo lường cường độ cạnh tranhtrong thị trường ngân hàng Sự cạnh tranh gay gắt có xu hướng thu hẹp mức chênhlệch lãi suất bình quân
Ngoài những chỉ tiêu trên còn có các chỉ tiêu khác như: thu nhập cận biên trướcnhững giao dịch đặc biệt (NRST), tỷ lệ tài sản sinh lời, tỷ lệ sinh lời hoạt động (NPM),
tỷ lệ hiệu quả sư dụng tài sản (AU)… Mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh, các nhàquản lý có thể vận dụng trong những trường hợp riêng cho phù hợp
b, Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro: Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro (rủi ro tín dụng, rủi rothanh khoản, rủi ro lãi suất…) bổ sung cho các chỉ tiêu phản ánh sinh lời nhằm phảnánh đầy đủ kết quả kinh doanh của ngân hàng trong một thời kỳ như:
Trang 14Nếu ngân hàng theo đuổi các khoản đầu tư mạo hiểm, có thể tỷ lệ sinh lời hiện tại
sẽ cao hơn Tuy nhiên, nếu tổn thất xảy ra (thường qua một thời gian nhất định), sinhlời của ngân hàng sẽ giảm sút, thậm chí có thể ngân hàng sẽ bị phá sản Do vậy, thời
kỳ này rủi ro cao có thể gây ra tổn thất kỳ sau, làm giảm khả năng sinh lời kỳ sau Tỷ
lệ Nợ/Vốn chủ sở hữu càng cao, tỷ lệ sinh lời ROE càng lớn, song khả năng chống đỡvới những tổn thất của ngân hàng càng kém Tỷ lệ Tài sản nhạy cảm/Nguồn vốn nhạycảm phản ánh rủi ro lãi suất khi lãi suất thay đổi theo hướng bất lợi cho ngân hàng.Tuy nhiên, khi lãi suất thay đổi theo hướng có lợi hoặc không thay đổi, thu nhập củangân hàng sẽ gia tăng
c, Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng: Điển hình của hoạt động trong ngânhàng là hoạt động tín dụng, chất lượng tín dụng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tốkhác nhau và là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mức độ thích nghi của NHTM với sựthay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của một ngân hàng trong quátrình cạnh tranh để tồn tại Chất lượng tín dụng được đánh giá theo một số chỉ tiêu cơbản sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn: là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của NHTM ởmột thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm Xét về mặt bảnchất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó tính an toàn (khả năng hoàn trả của người vay) làyếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng tín dụng Khi một khoản vaykhông được hoàn trả đúng hẹn như đã cam kết mà không có lý do chính đáng thì nó đã
vi phạm nguyên tắc tín dụng quan trọng nhất của ngân hàng và nó bị chuyển sang nợquá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất thông thường Trong nền kinh tế thị trường, rủi rotrong hoạt động kinh doanh là khách quan, do đó nợ quá hạn của NHTM là tất yếu.Song, nếu một NHTM có nhiều khoản nợ quá hạn sẽ gặp nhiều khó khăn trong kinhdoanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm thu nhập NHTMnào có tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ bị đánh giá là có chất lượng tín dụng thấp Đây là chỉtiêu hiện nay thường được sử dụng khi phân tích đánh giá chất lượng tín dụng củaNHTM
Cơ cấu vốn đầu tư: Một trong các chỉ tiêu khi xem xét và đánh giá chất lượng tíndụng của các NHTM là chỉ tiêu cơ cấu vốn đầu tư Việc phân tích cơ cấu vốn đầu tưchính là việc xem xét đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng đáp ứng củabản thân ngân hàng cũng như đòi hỏi về vốn của nền kinh tế chưa Trên cơ sở đó, các
Trang 15NHTM có thể quyết định quy mô, tỷ trọng đầu tư vào các lĩnh vực một cách hợp lý đểvừa bảo đảm an toàn vốn cho vay vừa có thể thu lợi nhuận cao nhất.
Tỷ lệ thanh toán nợ do bán tài sản của người vay: Nếu xét về bản chất tín dụng, thìnguồn trả nợ cho ngân hàng của người vay về nguyên tắc là được trích ra từ phần thunhập do hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng Tuy vậy, có nhiều trường hợp
do sử dụng vốn kém hiệu quả, bị mất vốn (sản xuất kinh doanh thua lỗ, phá sản ) nênngười vay phải bán tài sản (có thể tự nguyện hoặc bắt buộc) để trả nợ ngân hàng Sốtiền bán tài sản có thể đủ để trả nợ, nhưng cũng có thể chỉ trả được một phần nợ vay,song trong trường hợp nào thì vẫn có thể đánh giá là chất lượng tín dụng thấp
Vòng quay vốn tín dụng: đây là một chỉ tiêu thường được các NHTM tính toánhàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụngtrong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, giải quyết hợp lý giữa ba lợi ích: Nhànước, khách hàng và ngân hàng Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tíndụng (thường là một năm) Hệ số này càng tăng phản ánh tình hình tổ chức quản lývốn tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng càng cao
Phân loại tài sản Có: Trong thực tế, việc xem xét phân loại tài sản Có thường đượccác NHTM rất chú ý quan tâm Tài sản Có của ngân hàng là kết quả của việc sử dụngvốn của ngân hàng đó, những tài sản Có đem lại thu nhập, tức là tài sản thu được lãi,giúp cho ngân hàng tạo lợi nhuận Mục đích của việc quản lý tài sản Có của ngân hàng
là nhằm để làm cực đại lợi nhuận của mình, một ngân hàng phải tìm kiếm những lợitức cao nhất có thể có của vốn cho vay và của chứng khoán Đồng thời giảm đến tốithiểu rủi ro và chuẩn bị đầy đủ cho trạng thái thanh khoản bằng cách nắm giữ các tàisản “lỏng”
Tóm lại, trong phân tích hoạt động kinh doanh của các NHTM hiện nay, các tỷ sốtài chính vẫn được sử dụng khá phổ biến vì chúng khá đơn giản và tương đối dễ dàngtính toán dựa trên thông tin được công bố Sinkey (1983) cho rằng phương pháp đolường tốt nhất hiệu quả tổng thể của một công ty hoặc ngân hàng là tỷ số khả năngsinh lời ROE và ROA Mặc dù có lợi thế rõ ràng và được sử dụng rộng rãi, các tỷ sốkhả năng sinh lời này không phải không có những hạn chế Chỉ số ROA và ROE chỉdựa trên một thước đo duy nhất là lợi nhuận hoạt động trong khi đó các khoản chi phí
và các khoản thu không được xem xét đến Ví dụ, các ngân hàng thực hiện các nhiệm
vụ đa chiều, phát sinh các loại chi phí khác nhau và tạo ra các khoản thu khác nhau Vì
Trang 16ROA và ROE đều dựa trên một thước đo duy nhất là lợi nhuận hoạt động, nên chúngchỉ là thước đo một chiều Do đó, có nguy cơ các tỷ số khả năng sinh lời đưa ra tínhiệu sai lệch về năng lực tạo ra lợi nhuận Ngoài ra, ROA và ROE đánh giá về lợinhuận hiện tại, nhưng chúng lại ít hiệu quả trong việc thể hiện hiệu quả của công tácquản lý Ví dụ, hiệu quả hoạt động trong tương lai sẽ được đánh giá tốt hơn nếu đượcxem xét thông qua khả năng các ngân hàng nâng cao năng lực tạo ra lợi nhuận theothời gian so với việc chỉ xem xét mức lợi nhuận trong quá khứ.
Để khắc phục các nhược điểm trong phân tích của các hệ số tài chính này, các nhàkinh tế đã ứng dụng phương pháp phân tích hiệu quả biên để đánh giá hiệu quả hoạtđộng của các ngân hàng, đây là phương pháp hiện đại giúp chúng ta có thể nhìn thấymột bức tranh tổng thể trong hoạt động của các ngân hàng Phần tiếp theo sẽ trình bày
về phương pháp này
2.1.2.2 Phương pháp phân tích hiệu quả biên: cách tiếp cận tham số
(SFA) và phi tham số (DEA)
Phương pháp phân tích hiệu quả biên có thể được chia làm hai nhóm gồm cách tiếpcận tham số và cách tiếp cận phi tham số Cách tiếp cận tham số (SFA) đòi hỏi phải chỉđịnh một dạng hàm cụ thể đối với đường biên hiệu quả, và phân phối phi hiệu quảhoặc sai số ngẫu nhiên Nếu việc chỉ định dạng hàm sai thì kết quả tính toán sẽ ảnhhưởng ngược chiều đến các chỉ số hiệu quả Cách tiếp cận này đòi hỏi người sử dụngphải có kiến thức nhất định về toán học
Mặc dù phương pháp tham số được sử dụng phổ biến, nhưng các phương pháp phitham số cũng đang được sử dụng ngày càng nhiều khi chúng ta không xác định đượcdạng hàm sản xuất Điểm nổi bật của phương pháp tiếp cận phi tham số (DEA) làkhông đòi hỏi phải xác định dạng hàm cụ thể đối với đường biên hiệu quả, các thànhphần bóc tách từ phần dư của ước lượng không nhất thiết phải tuân theo một phân phốithống kê nào, cũng như các ràng buộc về phân phối của các nhân tố phi hiệu quả trong
số liệu như cách tiếp cận tham số, trừ ràng buộc các chỉ số hiệu quả phải nằm giữa 0 và
1, và giả sử không có sai số ngẫu nhiên hoặc sai số phép đo trong số liệu Đường giớihạn biên sản xuất được xây dựng trực tiếp từ dữ liệu quan sát thông qua hệ thốngphương trình tuyến tính vì thế có thể ứng dụng trong những nghiên cứu với số lượngquan sát hạn chế Hơn nữa, ước lượng biên sản xuất dựa trên kết quả hiện có sẽ cho
Trang 17một đường biên gần với thực tế hơn Có thể sử dụng trong trường hợp nhiều sản phẩmđầu ra và nhiều yếu tố đầu vào Có thể sử dụng để ước lượng riêng biệt các loại hiệuquả sản xuất như hiệu quả kỹ thuật thuần, hiệu quả qui mô và hiệu quả phân bổ Tuynhiên, phương pháp DEA cũng có những hạn chế của nó Thứ nhất, kết quả ước lượng(cho phần phi hiệu quả) hoàn toàn phụ thuộc vào đặc điểm thống kê của các quan sát.
Vì vậy, kiểm định thống kê không thể áp dụng được trong phương pháp này Thứ hai,như đã được Sengupta (2002) nêu ra, DEA chỉ xem xét phía cung mà không xem xétphía cầu và những đặc trưng của thị trường Cuối cùng là độ nhạy, Timmer (1971) lậpluận rằng DEA rất nhạy cảm với các quan sát cực trị Tức là khi một doanh nghiệp(hoặc một ngành) hoạt động hiệu quả hơn nhiều so với những doanh nghiệp khác,DEA có thể ước lượng quá cao phần phi hiệu quả của nó Dù có những hạn chế đó,DEA đang ngày càng được sử dụng rộng rãi
2.2 Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động và các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của NHTM
Phương pháp DEA là một phương pháp cơ bản trong ước lượng hàm sản xuất vàhiệu quả kỹ thuật DEA sử dụng mô hình toán tuyến tính và hàm khoảng cách Phươngpháp này xuất phát từ Farell (1957) khi ông đưa ra ý tưởng áp dụng đường giới hạnkhả năng sản xuất (PPF) làm tiêu chí đánh giá hiệu quả tương đối giữa các công tytrong cùng một ngành Tuy nhiên thời điểm sau đó phương pháp này chưa nhận được
sự ủng hộ rộng rãi Cho đến khi, Charnes, Cooper và Rhodes (1978) phát triển thước
đo hiệu quả ra quyết định dựa trên một tập hợp các đơn vị ra quyết định (DMU) vớicác đầu vào và đầu ra, đưa ra khái niệm mới về hiệu quả, giới thiệu một dạng mới củahàm sản xuất và phương pháp ước lượng mới, thì nó thực sự ngày càng được mở rộng
và cho đến nay đã trở thành một ứng dụng lớn trong phân tích kinh tế
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu áp dụng thành công phương pháp DEA đểứng dụng vào phân tích hoạt động của các ngành sản xuất ở các nước phát triển vàđang phát triển Trong lĩnh vực Ngân hàng - Tài chính, phương pháp DEA cũng đãđược sử dụng rộng rãi Một số nghiên cứu áp dụng các chỉ số để kiểm tra những thayđổi trong hiệu quả đầu vào - đầu ra của các tổ chức tài chính nói riêng
Rangan và cộng sự (1988) kiểm tra hiệu quả kỹ thuật của 215 ngân hàng Mỹ cótiền gửi dưới 400 triệu USD trong năm 1986 Sử dụng ba yếu tố đầu vào (lao động,vốn, các quỹ mua lại) và năm yếu tố đầu ra (các khoản vay thương mại và công
Trang 18nghiệp, tiêu dùng, bất động sản, nhu cầu và thời gian các khoản tiền gửi), họ tìm thấyhiệu quả trung bình bằng 70%, ngụ ý rằng các ngân hàng có thể cho kết quả tương tựvới đầu vào ít hơn 30% Phân tách tổng hiệu quả kỹ thuật thành hiệu quả kỹ thuậtthuần là 72% và hiệu quả quy mô là 97%, cho thấy rằng kỹ thuật thuần là không hiệuquả Một phân tích thứ hai cho thấy rằng kích thước ngân hàng ảnh hưởng tích cực đếnhiệu quả trong khi đa dạng hóa sản phẩm ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả.
Ferrier và Lovel (1990) sử dụng cả phương pháp SFA và phương pháp DEA đểđánh giá hiệu quả hoạt động của 575 ngân hàng Mỹ trong năm 1984 Sử dụng ba yếu
tố đầu vào (tổng số nhân viên: chi phí thuê, trang thiết bị máy móc; và chi phí muanguyên, vật liệu) và năm yếu tố đầu ra (số lượng tài khoản tiền gửi không kỳ hạn và có
kỳ hạn, số lượng các khoản cho vay bất động sản, vay trả góp và vay công nghiệp).Theo phương pháp DEA thì phi hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng khoảng 21,6%,còn theo phương pháp SFA thì phi hiệu quả kỹ thuật là 16,04% Nghiên cứu này cũngcho thấy các ngân hàng nhỏ với tổng tài sản dưới 25 triệu USD là những ngân hànghoạt động hiệu quả nhất
Fukuyama (1993) áp dụng phương pháp DEA để ước tính hiệu quả 143 NHTM ởNhật bản vào năm 1991 Sử dụng ba đầu vào (lao động, vốn, quỹ từ khách hàng) vàhai đầu ra (thu từ cho vay, và thu từ các hoạt động khác) Fukuyama kết luận nguyênnhân chính của phi hiệu quả kỹ thuật tổng thể là do phi hiệu quả kỹ thuật thuần
Grabowski và cộng sự (1994) xem xét hiệu quả của một nhóm 670 ngân hàng trongnăm 1979, 1983 và 1987 Sử dụng ba yếu tố đầu vào (lao động, vốn và vốn vay) vànăm yếu tố đầu ra (các khoản vay thương mại và công nghiệp, tiêu dùng, bất động sản;chứng khoán; và tiền gửi không kỳ hạn), kết luận rằng kỹ thuật thuần là nguyên nhânchính của phi hiệu quả kỹ thuật Các ngân hàng có tiền gửi vượt quá 1 tỷ USD có hiệuquả kỹ thuật cao nhất
Miller và Noulas (1996) ứng dụng phương pháp DEA để ước tính hiệu quả của 201ngân hàng lớn của Mỹ trong giai đoạn 1984-1990 phát hiện, thứ nhất, phi hiệu quảtrung bình của 201 ngân hàng khá nhỏ, chỉ khoảng 5% Thứ hai, những ngân hàng quálớn rơi vào vùng giảm hiệu quả theo quy mô Thứ ba, những ngân hàng lớn hơn và lợinhuận nhiều hơn có phi hiệu quả kỹ thuật thuần thấp hơn
Leightner và Lovell (1998) áp dụng chỉ số Malmquist để đánh giá những thay đổitrong tổng năng suất của các ngân hàng Thái Lan trong giai đoạn 1989-1994 Theo
Trang 19phát hiện của họ, đầu tiên, khi hiệu quả hoạt động ngân hàng được đo lường bằng hiệuquả sản xuất, các ngân hàng lớn Thái Lan có xu hướng chiếm ưu thế Thứ hai, khi hiệuquả hoạt động ngân hàng được đo trong điều kiện tăng trưởng thực hiện tốt nhất, cácngân hàng nhỏ nước ngoài chiếm ưu thế Thứ ba, với bất cứ tiêu chuẩn đánh giá nào,các ngân hàng nhỏ Thái Lan và các ngân hàng nhỏ nước ngoài tương đối kém Thứ tư,mặc dù có sự phân tán hiệu năng giữa các lớp ngân hàng, cả hiệu quả hoạt động hàngnăm và tăng trưởng của ngân hàng rất ấn tượng, vượt qua tốc độ tăng trưởng hàng năm8% - 12% của nền kinh tế tổng thể, và góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế TháiLan trong giai đoạn này.
Hardy và Patti (2001) nghiên cứu 33 ngân hàng tại Pakistan giai đoạn 1981-1997
Sử dụng hai yếu tố đầu vào (lãi và phí/khoản phải trả, chi phí ngoài lãi/khoản phải trả)
và một yếu tố đầu ra (thu nhập từ lãi và phí/tổng thu nhập), họ tìm thấy sự phi hiệu quả
ở những ngân hàng đại chúng so với mẫu tổng thể, ngoài ra không có sự khác biệt về hiệu quả giữa ngân hàng nội địa và ngân hàng nước nước ngoài
Isik và Hassan (2003) phân tích dựa trên chỉ số Malmquist về lĩnh vực ngân hàngThổ Nhĩ Kỳ từ 1981-1990 Bằng cách tách tăng trưởng năng suất thành thay đổi kỹthuật và thay đổi hiệu quả, họ xác định được tăng hiệu quả là nguồn chính của tăngtrưởng năng suất trong hệ thống ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ
Bonin, Hasan và Wachtel (2004) nghiên cứu 225 ngân hàng từ 11 quốc gia giaiđoạn 1996-2000, sử dụng phương pháp SFA với bốn nhân tố đầu ra (tổng tiền gửi, tổng
nợ, tổng tài sản thanh toán và đầu tư) và hai nhân tố đầu vào (chi phí ngoài lãi/tổng tàisản cố định, chi phí lãi/tổng tiền gửi) Kết quả cho thấy các ngân hàng sở hữu nướcngoài có hiệu quả chi phí cao hơn ngân hàng nội địa, không có sự khác biệt giữa ngânhàng thuộc sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước
Olena Havrylchyk (2006) sử dụng phương pháp DEA để ước lượng hiệu quả củacác ngân hàng Ba Lan từ năm 1998 - 2000 Các biến đầu vào được lựa chọn trong môhình là lao động, tài sản cố định và vốn huy động, biến đầu ra là dư nợ và các khoảnđầu tư trái phiếu Kết quả chỉ ra rằng, hiệu quả của các ngân hàng không tăng tronggiai đoạn nghiên cứu Các ngân hàng ngoài có hiệu quả tốt hơn các ngân hàng trongnước Bên cạnh đó, tác giả cũng nước cho thấy chất lượng các khoản vay, trình độnhân viên và mức vốn hóa có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả ngân hàng
Trang 20Chang-Sheng Liao (2009) ước lượng hiệu quả và sự thay đổi hiệu quả của các ngânhàng Đài Loan giai đoạn 2002 - 2004 bằng phương pháp DEA Tác giả sử dụng biếnđầu vào bao gồm chi phí hoạt động, chi phí trả lãi và biến đầu ra bao gồm dư nợ, thunhập lãi và đầu tư Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu suất thay đổi theo quy mô củacác ngân hàng trong nước có xu hướng giảm Các ngân hàng nước ngoài, tuy khônghiệu quả hơn các ngân hàng nội địa nhưng sự tăng trưởng hiệu quả của họ tốt hơn cácngân hàng nội địa Bài nghiên cứu cũng hàm ý rằng, các ngân hàng kém hiệu quả cóthể sử dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.
Barth và cộng sự (2010) nghiên cứu 4.050 ngân hàng trên 72 quốc qua giai đoạn1999-2007, sử dụng phương pháp DEA với bốn đầu vào (tổng tiền gửi và quỹ khác,chi phí nhân công, tài sản cố định, dự phòng rủi ro) và ba đầu ra (tổng dư nợ, lãi từ đầu
tư chứng khoán, thu nhập ngoài lãi) Kết quả thu được hiệu quả hoạt động của cácngân hàng ở quốc gia phát triển cao hơn ở quốc gia thu nhập trung bình và quốc giakém phát triển, sở hữu nhà nước làm giảm hiệu quả hoạt động, những ngân hàng lớnhơn có hiệu quả hoạt động cao hơn, Basel II không có tác động làm tăng hiệu quả và
sự minh bạch của thị trường tài chính có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động củangân hàng
Lee và Kim (2013) dùng chỉ số Malmquist phân tích về hiệu quả hoạt động của cácngân hàng Hàn Quốc từ 2003-2009 Kết quả cho thấy cơ cấu sở hữu là một yếu tốquyết định quan trọng của hiệu quả hoạt động ngân hàng tại Hàn Quốc Các ngân hàngthuộc sở hữu nhà nước tụt hậu rõ ràng so với các ngân hàng thuộc sở hữu tư nhântrong việc thúc đẩy hiệu quả tạo ra lợi nhuận Đồng thời tìm thấy hiệu quả hoạt độngcủa các ngân hàng rất nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh
Gwahula Raphael (2013) đã sử dụng phương pháp DEA để đánh giá hiệu quả hoạtđộng của các NHTM tại Tan ania trong giai đoạn 2005-2011 Tác giả lựa chọn các biếnđầu vào bao gồm: lao động, khấu hao, chi phí hoạt động, chi phí tài chính; biến đầu ra
là dư nợ và giá trị của các khoản đầu tư Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả chungcủa các ngân hàng ở mức thấp, chỉ đạt 53,2%, con số này khá thấp khi so sánh vớitrung bình các ngân hàng trên thế giới Bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, ở nhóm cácngân hàng nghiên cứu có hiệu quả phân bổ nhỏ hơn hiệu quả kỹ thuật, điều này hàm ýrằng các ngân hàng ở Tan ania đã phân bổ nguồn lực đầu vào chưa hợp lý Ngoài ra,kết quả cho thấy quy mô ngân hàng, thu nhập ngoài lãi, tỷ lệ an toàn vốn có
Trang 21tương quan dương với hiệu quả hoạt động, ngược lại nợ xấu có tác động nghịch vớihiệu quả hoạt động.
Lensink và Meesters (2014) nghiên cứu 2.209 ngân hàng trên 110 quốc gia giaiđoạn 1998-2004, sử dụng phương pháp SFA với hai đầu ra (các khoản vay ngân hàngphát hành và chứng khoán nắm giữ) và hai đầu vào (chi phí lãi/tổng tiền gửi và chi phínhân công/tổng tài sản) Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động được xem xétgồm GDP đầu người, lãi suất danh nghĩa, mức độ tập trung, tín dụng cá nhân/GDP, dựphòng rủi ro/tổng dư nợ, thu nhập hoạt động/tổng tài sản Kết quả cho thấy ngân hàng
ởcác nước phát triển có chi phí thấp hơn ở các nước kém phát triển, những ngân hàngquy mô lớn đối mặt với chi phí lớn hơn, những thể chế tốt có hiệu quả kỹ thuật tốt nhờviệc sử dụng công nghệ mới làm tăng hiệu quả hoạt động
Một số tác giả trong nước quan tâm nghiên cứu về vấn đề này, như nghiên cứu củaBùi Duy Phú (2002) đánh giá hiệu quả của NHTM qua hàm sản xuất và hàm chi phí,tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu này là chỉ đơn thuần xác định hàm chi phí và ướclượng trực tiếp hàm chi phí này để tìm các tham số của mô hình, do vậy mà không thểtách được phần phi hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng
Lê Hoàng Nga (2007) nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Việt Nam chỉ dừng lại ở phân tích định tính
Võ Thành Danh và Liễu Thu Trúc (2012) sử dụng hai phương pháp đo lường TFPtheo chỉ số Tornqvist và chỉ số Malmquist, phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanhcủa hệ thống NHTM cổ phần Việt Nam giai đoạn 2006 – 2009 với bốn đầu vào (laođộng, vốn, vốn kinh doanh và chi phí khác), hai đầu ra (thu nhập lãi và thu nhập ngoàilãi) Kết quả cho thấy mức độ phi hiệu quả của các NHTM cổ phần còn tương đối cao,khoảng 7,7% Trong đó, các nhân tố hiệu quả kỹ thuật thuần đóng góp vào hiệu quảhoạt động kinh doanh chung là lớn hơn so với hiệu quả quy mô Tuy nhiên chưa đề cậpđến các nhân tố tác động nào đến hiệu quả hoạt động và thời gian nghiên cứu tươngđối ngắn
Xây dựng mô hình DEA đánh giá hoạt động của các NHTM Việt Nam của NguyễnQuang Khải (2016), mẫu nghiên cứu gồm 20 NHTM trong nước cung cấp bằng chứngchứng minh tính hiệu quả của phương pháp DEA trong nghiên cứu các NHTM tại ViệtNam nhưng chưa đo lường cụ thể mức độ hiệu quả và các nhân tố nào ảnh hưởng đếnmức độ hiệu quả
Trang 22Phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM ViệtNam trong thời kỳ hội nhập tài chính quốc tế của Trần Huy Hoàng và Nguyễn HữuHuân (2016), nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của hệ thốngNHTM Việt Nam trong thời kỳ hội nhập 2005 - 2011 theo phương pháp SFA Kết quảnghiên cứu cho thấy, hiệu quả hoạt động của các NHTM chịu ảnh hưởng bởi hai nhómnhân tố chính Trong đó các nhân tố chủ quan tác động bao gồm: thị phần, rủi ro thanhkhoản, tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài và quy mô của ngân hàng Các nhân tốkhách quan bao gồm: tổng thu nhập quốc nội và lạm phát của nền kinh tế Các nhân tốtác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các NHTM bao gồm: tỷ lệ nắm giữ củanhà đầu tư nước ngoài, quy mô ngân hàng và thị phần của ngân hàng.
Trần Phương Thảo và Lê Nguyễn Quỳnh Hương (2016) nghiên cứu về mối quan hệgiữa loại hình sở hữu và hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Việt Nam Theo đó tácgiả sử dụng phương pháp DEA và SFA trong việc đo lường hiệu quả hoạt động NHTM
và hồi quy Tobit 2 bước để tìm hiểu mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động và loại hình
sở hữu NHTM Kết quả nghiên cứu về 22 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn
2007-2014 phù hợp với lý thuyết về quản trị ngân hàng và minh chứng loại hình sở hữu khácnhau có ảnh hưởng đến hiệu suất hoạt động của ngân hàng Bên cạnh đó, nghiên cứukiểm định giả thuyết “lợi thế sân nhà” và “lợi thế nước ngoài” nhưng không tìm thấybằng chứng về sự tồn tại các giả thuyết này trong lĩnh vực ngân hàng Việt Nam
Phan Thị Hằng Nga, Trần Phương Thanh (2017) nhằm đánh giá hiệu quả hoạt độngcủa NHTM Việt Nam sau sáp nhập, hợp nhất, mua lại Nghiên cứu áp dụng phươngpháp phân tích bao dữ liệu DEA để ước tính hiệu quả hoạt động các ngân hàng ViệtNam sau sáp nhập, hợp nhất với các biến đầu vào: chi phí tiền lương, chi phí trả lãi,các chi phí khác Các biến đầu ra gồm: thu nhập lãi, các khoản thu nhập khác từ hoạtđộng kinh doanh Kết quả cho thấy, phi hiệu quả trung bình của các ngân hàng nghiêncứu giai đoạn 2007 - 2014 khoảng 10,18%, đa số các ngân hàng sau sáp nhập đã tậndụng được quy mô để tăng hiệu quả hoạt động, tuy nhiên các ngân hàng vẫn còn sửdụng lãng phí nguồn lực như chi phí tiền lương, chi phí lãi và chi phí khác Với kết quảnghiên cứu, tác giả đề xuất các khuyến nghị để các ngân hàng sau sáp nhập nâng caohiệu quả hoạt động trong thời gian tới
15
Trang 23Nhìn chung, các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra những yếu tố có tác động đến hiệuquả hoạt động ngân hàng như quy mô, cơ cấu sở hữu, M&A, chu kỳ kinh tế, rủi rothanh khoản, thị phần Qua thực tiễn tổng kết các nghiên cứu ở nước ngoài và trongnước về phân tích các biến số ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM,trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp DEA dựa trên chỉ số Malmquist đểkiểm tra hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2011-2016.Thước đo này kỳ vọng sẽ bổ sung cho các chỉ số tài chính truyền thống và giải quyếtcác hạn chế của chúng Phương pháp chỉ số Malmquist cho phép nhiều đầu vào vànhiều đầu ra vì vậy các loại chi phí và nguồn thu khác nhau được tính đến, thay vì chỉđơn giản là được gộp lại với nhau trong đo lường hiệu quả tạo ra lợi nhuận của cácngân hàng Ngoài ra, thước đo nắm bắt các khía cạnh động của năng lực quản lý tạo ralợi nhuận vì chỉ số Malmquist đánh giá sự thay đổi hiệu quả qua thời gian Điểm mớicủa luận văn này so với các nghiên cứu trước ở Việt Nam là có xem xét đến yếu tốM&A và tác động phi tuyến của quy mô đến hiệu quả hoạt động ngân hàng Đề tàigiúp xác định những yếu tố nào thật sự tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng củacác NHTM Việt Nam, mức độ tác động của các yếu tố đó Từ đó giúp các nhà quản trịngân hàng đề ra các chính sách, chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tại cácNHTM Việt Nam.
Trang 24Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU
3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Tác giả sử dụng hai nguồn để tập hợp dữ liệu Số liệu tài chính và thông tin ngânhàng lấy từ báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán công bố của các NHTM, tốc độtăng trưởng GDP thực được lấy từ dữ liệu IMF
Mẫu được dùng trong bài nghiên cứu là các NHTM tại Việt Nam, chuỗi dữ liệu từnăm 2011-2016 Tác giả loại bỏ các ngân hàng không có sẵn thông tin trong giai đoạnnghiên cứu Cuối cùng, tác giả thu được một bảng gồm 28 NHTM, trong đó bao gồm 3NHTM nhà nước, 23 NHTM cổ phần và 2 ngân hàng liên doanh
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Đo lường hiệu quả hoạt động bằng DEA
Dựa theo Lee và Kim (2013), nghiên cứu xác định một tập hợp bốn yếu tố đầu vàobao gồm chi phí lãi, chi phí hoạt động dịch vụ, chi phí hoạt động và chi phí dự phòngrủi ro Và hai đầu ra là thu nhập lãi và thu nhập hoạt động dịch vụ Thước đo chỉ sốMalmquist tập trung vào khả năng điều hành trong NHTM
Như vậy, đối với ước lượng đường biên hiệu quả, nghiên cứu sử dụng phương phápDEA với thước đo chỉ số Malmquist Trong phương pháp DEA, đường biên hiệu quảđược ước tính bằng phương pháp lập trình tuyến tính phi tham số Để tính toán các chỉ
số, nghiên cứu sử dụng phiên bản DEAP 2.1 (Coelli, 1996)
Phương pháp phân tích đường bao dữ liệu dùng để xây dựng đường giới hạn sảnxuất, được đề xuất đầu tiên bởi Farrell (1957) Farrell (1957) đưa ra ý tưởng đườnggiới hạn khả năng sản xuất (PPF) để đánh giá hiệu quả tương đối giữa các công tytrong cùng một ngành, các công ty đạt đến mức giới hạn sẽ được coi là hiệu quả và cáccông ty không đạt đến đường PPF là kém hiệu quả so với các công ty kia, phân ra hiệuquả thành hai loại, đó là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bố
Trang 25Hình 3.1 Đường giới hạn khả năng sản xuất ứng với hai hàng hóa H1 và H2 trường hợp tối đa hóa đầu ra.
Nguồn: Farrell (1957)Đường PPF cho trường hợp sử dụng 2 yếu tố đầu vào (x1, x2) để sản xuất ra 1 yếu
tố đầu ra (y) với giả định hiệu quả không đổi theo quy mô có thể được biểu diễn làđường đẳng lượng SS’ như trong Hình 2
Hình 3.2: Đường PPF trong trường hợp tối thiểu hóa đầu vào
Nguồn: Farrell (1957)
Trang 26Nếu một DMU sử dụng lượng đầu vào tại điểm P để sản xuất một đơn vị đầu ra, thìtính phi hiệu quả kỹ thuật được xác định bởi khoảng cách QP, là lượng mà tất cả cácđầu vào có thể giảm đi một cách tỷ lệ mà không làm giảm đầu ra Hiệu quả kỹ thuật(TE) được đo bằng tỷ số TEi = 0Q/0P Nó bằng 1 trừ QP/0P, nhận giá trị giữa 0 và 1, làmột thước đo mức độ phi hiệu quả kỹ thuật Khi TE có giá trị bằng 1 thì DMU đạt hiệuquả kỹ thuật toàn bộ Ví dụ, điểm Q là hiệu quả kỹ thuật vì nó nằm trên đường đẳnglượng hiệu quả.
Tỷ số giá đầu vào được biểu thị bằng đường đẳng phí AA’, chúng ta có thể tínhhiệu quả phân bổ Hiệu quả phân bổ (AE) của DMU hoạt động tại P được định nghĩabởi tỷ số: AEi = 0R/0Q Khoảng cách RQ thể hiện lượng giảm trong chi phí sản xuấtnếu sản xuất diễn ra tại điểm Q’ (điểm hiệu quả phân bổ và hiệu quả kỹ thuật) thay vìtại điểm Q (điểm hiệu quả kỹ thuật nhưng không hiệu quả phân bổ)
Hiệu quả kinh tế tổng hợp (EE) được định nghĩa là tỷ số: EEi = 0R/0P
Ta có: TEi x AEi = EEi
Mô hình DEA nguyên thủy được đề xuất bởi Charnes và cộng sự là mô hình có quy
mô không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất Năm 1984, Banker và cộng sự xem xét môhình DEA với giả thiết quy mô ảnh hưởng đến kết quả sản xuất Đường PPF dưới cácđiều kiện về hiệu quả không đổi theo quy mô (CRS) hoặc hiệu quả thay đổi theo quy
mô (VRS):
Hình 3.3 Hiệu quả không đổi/thay đổi theo quy mô
Nguồn: Farrell (1957)
Trang 27Đường CRS không tính đến sự khác biệt về quy mô giữa các DMU mà chỉ đơngiản so sánh các tỷ số hiệu quả giữa việc sử dụng đầu vào xi để tạo ra đầu ra yi Trongkhi đó, đường VRS PPF tính toán đến yếu tố quy mô, VRS có hình dạng như mộtđường bao bao quanh các DMU kém hiệu quả khác.
Hiệu quả kỹ thuật của việc sử dụng yếu tố đầu vào x để thu được yếu tố đầu ra y cóthể được đo lường theo công thức:
(3.1)Công thức (3.1) áp dụng trong trường hợp chỉ có 1 biến đầu vào và 1 biến đầu ra.Khi áp dụng cho DMU có k yếu tố đầu vào và sản xuất ra m kết quả đầu ra, thì cầnphải dựa trên giá cả pi và wj của các yếu tố đầu vào/đầu ra đó để tính toán:
(3.2)Tuy nhiên, việc xác định giá cả của từng yếu tố đầu vào/đầu ra thường rất phức tạp,nhất là trong những lĩnh vực như tài chính ngân hàng Trong trường hợp này, có thể giảthiết là mỗi DMU sẽ sử dụng những trọng số nhất định um và vk sao cho điểm hiệu quả
TE là cao nhất, nói cách khác, um và vk là những trọng số giúp cho DMU đó tiến gầnđến đường giới hạn nhất Chúng còn được gọi là “giá ẩn” vì mặc dù chúng không phải
là giá cả thực nhưng lại đóng vai trò như giá cả trong việc tính toán hiệu quả kỹ thuậtTE
Với bài toán có n DMU, mỗi DMU sử dụng k yếu tố đầu vào xk để tạo ra m yếu tốđầu ra ym, hiệu quả TE0 của một DMU0 bất kỳ sẽ được tính toán như sau:
Maxu,vTE0 (3.3)Trong đó:
(điểm hiệu quả của DMU0)
um, vk ≥ 0
(điểm hiệu quả của tất cả các DMU khôngvượt quá 1, tức là không vượt quá khỏiđường PPF)
(các “giá ẩn” là không âm)
Trang 28Phương pháp DEA chỉ cho phép đánh giá hiệu quả tương đối của các DMU đượcđánh giá, tức là hiệu quả giữa chúng so với nhau Mức độ hiệu quả của các DMU đượcxác định bởi vị trí của nó so với đường giới hạn hiệu quả trong một không gian đachiều của đầu vào/đầu ra.
Các phương pháp tối ưu hóa tuyến tính phi tham số được áp dụng để giải quyếtcông thức (3.3), ứng với giả thiết hiệu quả không đổi theo quy mô (CRS), hiệu quảthay đổi theo quy mô (VRS) Đến nay, đã có khá nhiều mô hình DEA được phát triểnnhư Malmquist DEA, network DEA, SBM DEA,… , nhưng bản chất vẫn dựa trên môhình cơ bản của công thức (3.3)
Bên cạnh việc tính toán hiệu quả kỹ thuật tại một thời điểm nhất định, việc tínhtoán hiệu quả theo thời gian cũng rất quan trọng So sánh các mức hiệu quả giữa cácgiai đoạn khác nhau giúp các nhà nghiên cứu có cái nhìn rõ nét hơn về sự thay đổi củahiệu quả theo thời gian, từ đó có thể đánh giá về những thay đổi trong các giai đoạn đó
có tác động thế nào tới hiệu quả, cũng như có thể phần nào dự báo được biến động củahiệu quả trong tương lai Tính toán sự thay đổi của năng suất tổng hợp theo thời giantheo chỉ số Malmquist nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu nói trên
Fare và cộng sự (1994) đưa ra mô hình xác định mức thay đổi của năng suất tổnghợp theo thời gian trong đó một DMU bất kỳ sẽ được nghiên cứu tại hai thời điểmkhác nhau t và t+1 (tương ứng với hai đường giới hạn khác nhau) rồi so sánh sự thayđổi về năng suất tổng hợp của DMU đó (Hình 3.4)
Hình 3.4 Chỉ số Malmquist TFP đầu ra
Nguồn: Fare và đồng sự (1994)
Trang 29Trong phương pháp chỉ số Malmquist, một mẫu các DMU được lựa chọn để xâydựng đường biên hiệu quả sử dụng tổ hợp đầu vào - đầu ra của các DMU mẫu, và đokhoảng cách giữa quan sát cụ thể bất kỳ tới đường biên Định nghĩa các hàm khoảngcách tại t, Dt0, như sau:
(3.4)Với Tt là hàm kỹ thuật được định nghĩa là Tt = Xt, Yt, Xt tạo ra Yt tại thời điểm t
Xt là véc tơ các yếu tố đầu vào tại t và Yt là véc tơ các yếu tố đầu ra tại t Dt0 ≤ 1 và Xt,
Yt nằm trên đường biên khi Dt0 = 1
Sử dụng hàm khoảng cách đầu ra trên, chỉ số Malmquist cho 1 DMU giữa t và t+1như sau:
(3.5)Một giá trị của M0 lớn hơn 1 cho thấy sự cải thiện về hiệu quả đầu vào - đầu ra từthời kỳ t đến thời điểm t + 1, và một giá trị nhỏ hơn 1 đại diện cho một sự suy giảmhiệu quả đầu vào - đầu ra
Hiệu quả của một DMU có thể không hoàn toàn được điều khiển bởi những tiến bộtrong công nghệ sản xuất, mà còn bởi khả năng mỗi DMU theo kịp với các đơn vị thựchiện tốt nhất hiện có Để biểu thị điều này, phương trình (3.5) được viết lại theo Fare
và cộng sự (1994) như sau:
(3.6)Phương trình (3.6) cho thấy chỉ số Malmquist có thể được chia thành hai thànhphần cơ bản:
TFPCH = (EFCH) × [TECHCH]
Nếu áp dụng cho trường hợp hiệu quả thay đổi theo quy mô (VRS), ta có:
EFCH = PECH x SECH
Tổng quát: TFPCH = (PECH × SECH) × [TECHCH]
Trang 30Trong đó:
TFPCH: Mức thay đổi của năng suất nhân tố tổng hợp (Chỉ số Malmquist)
EFCH: Mức thay đổi của hiệu quả kỹ thuật (trong điều kiện CRS)
PECH: Mức thay đổi của hiệu quả kỹ thuật thuần (trong điều kiện VRS)
SECH: Mức thay đổi của hiệu quả quy mô (trong điều kiện VRS)
TECHCH: Mức thay đổi của công nghệ hay đường giới hạn
Như vậy, khi m0 hay TFPCH > 1, năng suất tổng hợp của DMU có sự gia tăng tạithời điểm t+1 so với tại thời điểm t Nếu m0 < 1, ta nói năng suất tổng hợp của DMU
bị suy giảm trong gian đoạn từ t đến t+1
Xác định yếu tố đầu vào – đầu ra:
Trong các tài liệu hiện có, có ba cách tiếp cận khác nhau: phương pháp trung gian,phương pháp tiếp cận chi phí sử dụng, và phương pháp sản xuất Tuy nhiên, cách tiếpcận của Lee và Kim (2013) khác với ba phương pháp tiếp cận hiện tại, họ không đặcbiệt quan tâm trong việc xác định các sản phẩm của ngân hàng và đo lường hiệu quảsản xuất cho phù hợp Họ chủ yếu tạo ra thước đo hiệu quả tạo ra lợi nhuận - hiệu quảcủa các ngân hàng trong việc chuyển đổi các chi phí khác nhau thành các thu nhậpkhác nhau - song song với các tỷ số khả năng sinh lời hiện có (ROA và ROE)
3.2.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các
NHTM Việt Nam bằng hồi quy Tobit
Mô hình tác giả đưa ra để kiểm định yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động ngânhàng dựa vào nghiên cứu của Lee và Kim (2013) như sau:
Efficiencyit = 0+1ASSETit+2ASSET2it+3RISKit+4GOVERNMENTit+
5FOREIGNit + 6GDPGRt + 7GOVERNMENTit x GDPGRt +
8FOREIGNit x GDPGRt + 9M&Ait + it (3.7)Trong đó:
Efficiencyit là hiệu quả hoạt động của ngân hàng i tại thời điểm
t; ASSETit đại diện quy mô biểu thị bằng logarit tổng tài sản;
RISKit đại diện rủi ro tín dụng được đo bằng tỷ lệ cho vay trên tiền gửi;
GOVERNMENTit là biến sở hữu nhà nước, bằng 1 nếu chính phủ hoặc một cơquan chính phủ là cổ đông chi phối lớn nhất trong số các cổ đông với một tỷ lệ cổ phần hơn 10% trong ngân hàng i tại thời điểm t, và bằng 0 nếu ngược lại;
Trang 31FOREIGNit là biến sở hữu nước ngoài, bằng 1 nếu kiểm soát quản lý của ngânhàng i thuộc về một quỹ mua lại nước ngoài tại thời điểm t, và bằng 0 nếu ngược lại;GDPGRt biểu thị tốc độ tăng trưởng GDP thực của Việt Nam tại thời điểm t;
M&Ait là biến giả M&A, bằng 1 nếu ngân hàng i tham gia vào một giao dịch M&Atại thời điểm t, và bằng 0 nếu ngược lại;
và it = vi + uit là các sai số, trong đó vi đại diện cho tác động của ngân hàng cụ thểkhông được quan sát, và uit là sai số riêng
Phân tích ảnh hưởng cụ thể của các biến độc lập như sau:
Quy mô Trong hoạt động, ngân hàng thể hiện tính hiệu quả kinh tế theo quy mô,
các ngân hàng lớn có thể hiệu quả hơn trong việc cải thiện hiệu quả quản lý Berger vàMester (1997), Hughes và Mester (1998) tìm thấy tính kinh tế theo quy mô trongngành ngân hàng Mỹ Trong ngành ngân hàng, kích thước lớn hơn cho thấy khả năng
đa dạng hóa được cải thiện như danh mục khoản vay và cơ sở tiền gửi khách hàng, rủi
ro ít hơn và do đó tiết kiệm chi phí trong việc quản lý rủi ro và chi phí phát tín hiệu rabên ngoài (Diamond, 1984) Tất nhiên, một ngân hàng lớn hơn, đa dạng hóa hơn có thểkhông ít rủi ro hơn Nó có thể nhận nhiều rủi ro hơn làm giảm chất lượng tài sản, chấtlượng tài sản giảm đòi hòi nhiều nguồn lực hơn để quản lý rủi ro giá tăng, chi phí tăngthêm cho các nguồn lực này làm giảm tính kinh tế nhờ quy mô Do đó, nếu các ngânhàng lớn phản ứng với một chi phí cận biên rủi ro giảm bằng cách nhận và quản lýnhiều rủi ro hơn, họ có thể có hiệu quả không đổi hoặc thậm chí giảm bởi những tốnkém từ thêm rủi ro Drake và Hall (2003) tìm thấy sự phi hiệu quả kinh tế theo quy mô
ở các ngân hàng lớn nhất của Nhật Bản, quy mô lớn làm giảm sút hiệu quả hoạt độngcủa ngân hàng do các vấn đề phối hợp trong tổ chức Ngoài tính kinh tế theo quy mô,Flamini và cộng sự (2009) sử dụng logarit tổng tài sản và bình phương logarit tổng tàisản đại diện cho quy mô chô rằng quy mô phát tín hiệu về rủi ro của ngân hàng Chínhphủ ít cho phép các ngân hàng lớn sụp đổ, cách tiếp cận rủi ro dự đoán rằng các ngânhàng lớn hơn sẽ đòi hỏi lợi nhuận thấp hơn (ví dụ như thông qua hạ lãi suất tính chokhách hàng vay) Tuy nhiên, nếu các ngân hàng lớn chiếm thị phần trong nước lớn vàhoạt động trong một môi trường phi cạnh tranh, lãi suất cho vay có thể vẫn cao (trongkhi lãi suất huy động thấp hơn vì chúng được coi là an toàn hơn) do đó có thể hưởnglợi nhuận cao hơn Các bằng chứng hiện có cũng cho thấy khả năng có một mối quan
hệ phi tuyến giữa quy mô ngân hàng và hiệu quả hoạt động Để xem xét quan hệ phi
Trang 32tuyến tính, luận văn đưa vào biến đại diện cho quy mô ngân hàng bao gồm tổng tài sản
và bình phương tổng tài sản trong kiểm định Hiện nay, các ngân hàng ở Việt Nam sovới các ngân hàng ở các nước trong khu vực và trên thế giới được xếp vào loại vừa vànhỏ Như vậy, luận văn kỳ vọng hiệu quả hoạt động của ngân hàng sẽ được cải thiệnnếu quy mô tăng
Rủi ro tín dụng Yếu tố nội bộ tiếp theo được xem xét trong phân tích thực nghiệm
là rủi ro tín dụng Luận văn sử dụng tỷ lệ cho vay trên tiền gửi để đo lường rủi ro tíndụng Flamini và cộng sự (2009) lập luận rằng tỷ lệ này cung cấp một thước đo dự báo
sự vỡ nợ và suy giảm chất lượng tài sản trong tương lai
Sở hữu nhà nước Đặc điểm tiếp theo được xem xét trong mô hình phân tích các
yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động ngân hàng là cơ cấu sở hữu Trong thực tế, cácnghiên cứu trước đây cho thấy rằng cơ cấu sở hữu có thể là một yếu tố nội bộ quantrọng ảnh hưởng hiệu quả hoạt động ngân hàng Quan điểm phát triển cho thấy rằngtrong một số quốc gia thể chế kinh tế không phát triển tốt, sở hữu nhà nước đối với cácngành kinh tế chiến lược như ngân hàng là cần thiết để bắt đầu bước nhảy phát triển vềtài chính, kinh tế, tăng trưởng Theo quan điểm chính trị, các chính phủ có được sựkiểm soát ngân hàng để cung cấp việc làm và đem lại lợi ích cho những người ủng hộ,đóng góp và hối lộ Sở hữu nhà nước nhiều hơn ở các nước có hệ thống tài chính vàcác quyền tài sản kém phát triển (La Porta và cộng sự, 2002) Flamini và cộng sự(2009) lập luận các ngân hàng công có thể có những mục tiêu khác hơn là lợi nhuậnhoặc giá trị tối đa hóa Short (1979) đưa ra bằng chứng xuyên quốc gia rằng sở hữunhà nước rõ ràng làm giảm lợi nhuận ngân hàng Barth và cộng sự (2004) cũng chothấy mối tương quan âm giữa sở hữu nhà nước (các ngân hàng có tỉ lệ sở hữu nhà nước
từ 50% trở lên) và hiệu quả ngân hàng dựa trên cơ sở dữ liệu bao gồm 107 quốc gia
Sở hữu của nhà nước liên quan đến các chính sách hạn chế hoạt động của ngân hàng,giảm cạnh tranh, rào cản hội nhập tài chính quốc tế như cấm vay nước ngoài và cản trở
sự giám sát của khu vực tư Tuy nhiên, một số kết quả thực nghiệm đặt ra câu hỏi liệu
có tồn tại một khoảng cách thực sự có ý nghĩa trong hoạt động của các ngân hàngthuộc sở hữu nhà nước (Bourke, 1989; Bonin và cộng sự, 2004; Bhaumik và Dimova,2004) Molyneux và Thornton (1992) thậm chí cung cấp bằng chứng xuyên quốc gia
về mối tương quan dương giữa sở hữu nhà nước và lợi nhuận ngân hàng Các
Trang 33ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước được xem xét trong mẫu gồm BIDV, Vietinbank vàVietcombank với tỷ lệ sở hữu nhà nước trên 50%.
Sở hữu nước ngoài Một dạng khác thu hút nhiều sự chú ý trong các nghiên cứu về
hiệu quả hoạt động của ngân hàng là nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, các bằngchứng hiện có liên quan đến sở hữu nước ngoài có nhiều mâu thuẫn Ví dụ, Sturm vàWilliams (2004) thấy rằng các ngân hàng nước ngoài nhìn chung hiệu quả hơn so vớicác ngân hàng trong nước khi xem xét ở các ngân hàng Úc Flamini và cộng sự (2009)cho rằng các nước đang phát triển, các ngân hàng nước ngoài có thể có lợi thế về côngnghệ và hiệu quả Nếu những lợi thế này bù đắp những bất lợi về thông tin so với cácngân hàng trong nước, khả năng sinh lời có thể cao hơn ở các ngân hàng nước ngoài,đặc biệt là nếu không hoạt động trong một môi trường cạnh tranh và có thể chuyểnnhững lợi thế này thành lợi nhuận Ngoài ra, các điều khoản của các khoản vay của họnhìn chung là ngắn, không quá sáu tháng và thường ít hơn một năm để giảm rủi rothanh toán, sự thận trọng này tăng cơ hội tạo ra lợi nhuận Ngược lại, Hasan và Hunter(1996), Mahajan và cộng sự (1996), và Chang và cộng sự (1998) kết luận rằng cácngân hàng nước ngoài có hiệu quả chi phí kém hơn so với các ngân hàng Mỹ trongnước Demirguc-Kunt và Hui inga (1999) và Claessens và cộng sự (2001) cho rằng tácđộng của sở hữu nước ngoài sẽ khác nhau tùy theo mức độ phát triển kinh tế của nướcchủ nhà Về lợi nhuận, các ngân hàng nước ngoài sẽ tốt hơn các ngân hàng trong nước
ởcác nước đang phát triển, nhưng tụt hậu so với các ngân hàng trong nước ở các nướccông nghiệp hóa Choi và Hasan (2005) cung cấp bằng chứng về tác động có lợi của sởhữu nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng của Hàn Quốc, họ thấy có tương quan dươngmạnh mẽ về mặt thống kê giữa tỷ lệ sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động ngânhàng Tuy nhiên, trong việc xác định sở hữu nước ngoài, các tác giả bao gồm tất cả cácnhà đầu tư nước ngoài kể cả cổ đông thiểu số, người không kiểm soát quản lý ngânhàng Nghiên cứu này, theo Lee và Kim (2013), chỉ xem xét các cổ đông nước ngoài
có cổ phần chi phối Do các ngân hàng nước ngoài không công bố thông tin báo cáo tàichính, nghiên cứu chỉ đem vào mô hình hai ngân hàng liên doanh có công bố số liệukiểm toán là Indochina và Publicbank
Chu kỳ kinh tế Sang yếu tố bên ngoài, nghiên cứu kiểm soát tác động của biến
động kinh tế vĩ mô trong mô hình Chu kỳ kinh tế có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạtđộng của ngân hàng Trong một cuộc suy thoái kinh tế, cho vay ngân hàng có nhiều
Trang 34khả năng chậm lại, chất lượng của các khoản nợ xấu đi và rủi ro vỡ nợ gia tăng do đólàm giảm lợi nhuận của ngân hàng Demirgüç-Kunt và Huizinga (1998) tìm thấy tươngquan dương giữa lợi nhuận ngân hàng và chu kỳ kinh doanh Bikker và Hu (2002) vàFlamini và cộng sự (2009) cũng cung cấp bằng chứng thực nghiệm hỗ trợ chu kỳ lợinhuận của ngân hàng Nghiên cứu sử dụng tăng trưởng GDP đại diện cho các hiệu ứngđầu ra theo chu kỳ Trong mô hình, tỷ lệ tăng trưởng GDP được xem xét tương tác vớibiến giả sở hữu để xác định xem độ nhạy của hiệu quả hoạt động ngân hàng theo chu
kỳ kinh doanh khác nhau như thế nào tùy thuộc vào cơ cấu sở hữu của chúng
Sáp nhập và mua lại Cuối cùng, một biến giả được đưa vào để kiểm soát hiệu ứng
sáp nhập và mua lại Theo hiểu biết truyền thống, sáp nhập có thể và đã thành côngtrong việc cải thiện tỷ lệ chi phí và hiệu quả chi phí đối với một số doanh nghiệp Tuynhiên, các nghiên cứu khoa học không tìm thấy sự cải thiện này, tính trên trung bình,cho dù xét đơn giản khi so sánh tỷ lệ kế toán trước và sau khi sáp nhập, hoặc phức tạphơn khi các phân tích sử dụng các hàm chi phí biên (Berg, 1992; Berger và Humphrey,1992b; Rhoades, 1993; Peristiani 1996; DeYoung, 1997b) Mặc dù nhiều vụ sáp nhập
đã khá thành công trong việc cải thiện chi phí hoạt động, nhiều vụ khác có tỷ lệ chi phíhoặc hiệu quả chi phí giảm, vì vậy tính trên trung bình không có cải thiện có ý nghĩa.Tuy nhiên, ngoại lệ có thể xảy ra nếu tồn tại điều kiện tiên quyết đáng tin cậy để nângcao hiệu quả chi phí Đầu tiên, một sáp nhập thành công nếu mức độ chồng chéo thịtrường địa phương cao giữa các đơn vị sáp nhập bởi sáp nhập loại trừ các khoản chitrùng lặp cho các chi nhánh và hoạt động văn phòng Thứ hai, sáp nhập sẽ thành cônghơn khi công ty mua lại có hiệu quả chi phí cao hơn so với các công ty được mua lại,bởi đội ngũ quản lý cấp trên sẽ được nắm quyền kiểm soát và sử dụng khả năng củamình để cải thiện công ty kém hiệu quả (Berger và Humphrey, 1992b) Akhavein,Berger và Humphrey (1997) cho thấy hiệu quả lợi nhuận cải thiện đáng kể từ sự sápnhập của các ngân hàng lớn Ngân hàng sáp nhập có xu hướng chuyển danh mục của
họ từ mua chứng khoán thành các khoản vay, điều này làm tăng hiệu quả lợi nhuận vìcác khoản vay tạo ra nhiều giá trị hơn (và rủi ro thường là nhiều hơn) so với muachứng khoán Sự thay đổi này xảy ra bởi các ngân hàng sáp nhập có thể đa dạng hóarủi ro tốt hơn so với quản lý trước đó, cho phép tỷ lệ cho vay/tài sản cao hơn với cùngmột số tiền vốn (Benston, Hunter và Wall, 1995; Hughes, Lang, Mester và Moon,1996) Trong giai đoạn 2011-2016, hệ thống ngân hàng Việt Nam bao gồm các thương
Trang 35vụ NHTMCP Sài Gòn sáp nhập với NHTMCP Tín Nghĩa và Đệ Nhất năm 2011,LienvietPostBank sáp nhập công ty Tiết kiệm Liên Việt và SHB sáp nhập HBB năm
2012, HDBank sáp nhập Đại Á và Công ty Tài chính Việt Société Générale năm 2013,PVcombank là kết quả hợp nhất giữa ngân hàng Phương Tây và Tổng công ty tài chính
cổ phần Dầu khí Việt Nam năm 2013, NHTMCP Xây Dựng là kết quả sáp nhập giữaNHTMCP Đại Tín và Tập đoàn Thiên Thanh năm 2013, Maritimebank sáp nhập MDB,Sacombank sáp nhập Phương Nam và BIDV sáp nhập MHB vào năm 2015
Trang 36CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Khái quát chung về tình hình hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay
Cho đến nay, hệ thống các NHTM Việt Nam đã có sự phát triển khá mạnh mẽ
Hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay bao gồm 4 NHTM nhà nước, 1 ngân hàngchính sách, 1 ngân hàng phát triển, 31 NHTM cổ phần Ngoài ra, còn có 61 ngânhàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoàitại Việt Nam và 2 ngân hàng liên doanh Những NHTM trong nước hiện đang nắmgiữ khoảng hơn 90% thị phần (cả huy động và cho vay), trong đó riêng các NHTMnhà nước chiếm ưu thế
Hình 4.1: Thị phần huy động và cho vay ước tính đến cuối năm 2016
Nguồn: Ủy ban giám sát tài chính quốc gia (đơn vị:%) Hệ thống NHTM Việt Nam cómạng lưới chi nhánh rộng khắp tại các tỉnh thành trong cả nước với hơn 10 nghìn điểmgiao dịch, trong đó dẫn đầu là Agribank và LienVietPostBank, đây là điều kiện thuận
lợi để các ngân hàng tăng cường khả nănghuy động vốn và mở rộng tín dụng tại các khu vực tiềm năng
Năm 2016, ngành ngân hàng đã cơ bản hoàn thành các mục tiêu kế hoạch, ổn địnhkinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an toàn hệ thống; tổng phương tiệnthanh toán tăng phù hợp; nâng cao vị thế đồng Việt Nam, tiếp tục giảm tình trạng đô-lahóa, vàng hóa trong nền kinh tế; đẩy mạnh việc xử lý nợ xấu theo cơ chế thị trường
Hệ thống các TCTD nói chung đạt tỷ lệ an toàn vốn 13% và đáp ứng đầy đủ các tỷ lệ
Trang 37về khả năng chi trả và tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn theo quy định;giữ lãi suất cho vay trung dài hạn dưới 10% và nợ xấu còn dưới 3% Lạm phát cơ bảnđược kiểm soát ổn định và cả năm đạt 1,87%, góp phần quan trọng trong việc thựchiện kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả năm là 4,74%, đạt mục tiêu dưới 5% củaQuốc hội đề ra Thanh khoản của hệ thống được bảo đảm và có dư thừa, thị trường liênngân hàng hoạt động thông suốt.
Về tín dụng, các ngân hàng đã có nhiều nỗ lực cải thiện điều kiện tín dụng theohướng thuận lợi về thủ tục, áp dụng lãi suất cả huy động và cho vay linh hoạt và giảmdần, phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, hướng mạnh và cân đối hơnvào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các ngành, lĩnh vực ưu tiên của Chínhphủ Đến ngày 29/12/2016, tín dụng tăng 18,71% so với cuối năm 2015 Cơ cấu tíndụng diễn biến tích cực theo hướng mở rộng tín dụng tập trung chủ yếu cho lĩnh vựcsản xuất kinh doanh, tín dụng đối với lĩnh vực đầu tư, kinh doanh bất động sản chậmlại Tín dụng VND tăng cao trong khi tín dụng ngoại tệ tăng thấp, phù hợp với chủtrương chống đô-la hóa của Chính phủ Tín dụng năm 2017 tiếp tục tăng trưởng tíchcực Ước tính đến hết tháng 6/2017, tín dụng tăng gần 8% so với cuối năm 2016 (cùng
kỳ năm 2016 tăng 8,4%) Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn thay đổi theo hướng giảm tỷtrọng trung dài hạn và tăng tỷ trọng ngắn hạn
Hình 4.2: Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế thể hiện tốc độ tăng giảm
Nguồn: NHNN
Trang 38Hình 4.3: Tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm 2016-2017
Nguồn: NHNN
Về huy động, được đẩy mạnh ngay từ đầu năm 2016 và duy trì tốc độ cao hơn tíndụng trong cả 11 tháng Tính đến ngày 21/11/2016, huy động vốn trên thị trường 1 đạt15,32% ytd, tăng gấp 1,5 lần so với cùng kỳ (11,14% ytd) Đặc trưng của huy độngtrong năm 2016 là (1) huy động tập trung ở các TCTD có tỷ lệ LDR cao Lượng huyđộng tăng thêm tại riêng 2 ngân hàng CTG và BID đã chiếm 35% tổng lượng tăng toàn
hệ thống; (2) huy động tăng mạnh ở các kỳ hạn dài; (3) nhu cầu huy động tăng cao tạo
xu hướng cạnh tranh lãi suất giữa các ngân hàng trong cả năm
Về lãi suất, năm 2016, NHNN đã thực hiện đồng bộ các giải pháp giảm lãi suất chovay, hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế Mặt bằng lãi suất huyđộng sau khi tăng 0,2-0,3%/năm trong 3 tháng đầu năm thì từ tháng 4 đã ổn định, đặcbiệt giữa tháng 4 và từ cuối tháng 9-2016, một số TCTD đã giảm 0,3-0,5%/năm lãisuất huy động, giảm khoảng 0,5-1%/năm lãi suất cho vay đối với sản xuất kinh doanh,lĩnh vực ưu tiên Lãi suất cho vay hiện phổ biến khoảng 6-9%/năm đối với kỳ hạnngắn và 9-11%/năm đối với trung và dài hạn
Chính sách tỷ giá trung tâm lần đầu được áp dụng từ 4/1/2016 đến nay đang pháthuy tác dụng tích cực trong ổn định tỷ giá, cho phép tỷ giá phản ứng linh hoạt, kịp thời
Trang 39hơn với diễn biến trong nước và quốc tế; giúp hạn chế các cú sốc bên ngoài và giảmtâm lý găm giữ ngoại tệ, hỗ trợ cho sự ổn định của tỷ giá và thị trường ngoại tệ Tỷ giáUSD/VND tại các NHTM và trên thị trường tự do tiếp tục có xu hướng giảm so vớiđầu năm Tính đến ngày 20/06/2017, tỷ giá NHTM xoay quanh mức 22.726đồng/USD, giảm 0,17% so với đầu năm Tỷ giá thị trường tự do hiện bám khá sát với
tỷ giá của các NHTM, giao dịch ở mức 22.735 đồng/USD, giảm 1,65% so với đầunăm
Hình 4.4: Tỷ giá USD/VND
Lộ trình tái cơ cấu các TCTD đang được tiếp tục triển khai theo kế hoạch, giảm sốlượng các TCTD dưới chuẩn và cải thiện từng bước chất lượng, sức cạnh tranh toàn hệthống và từng tổ chức thành viên
Các TCTD từng bước áp dụng chuẩn mực quản trị theo thông lệ quốc tế, hiệu quảhoạt động được nâng lên, chất lượng tín dụng được cải thiện; ổn định tâm lý người gửitiền, nhà đầu tư Số liệu giám sát của NHNN và nợ xấu của các TCTD đã được minhbạch và cập nhật đầy đủ hơn Các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã nghiêm
Trang 40túc chấp hành các quy định về lãi suất huy động, đặc biệt là huy động USD; chủ độngtăng dư nợ tín dụng và cung cấp các dịch vụ mới, mở rộng thị phần; Đặc biệt, với mức
độ tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng ngày càng cao theo nội dung AEC và cácFTA đang và sẽ triển khai có sự tham gia của Việt Nam, các NHTM đang và sẽ cóthêm cơ hội phát triển các dịch vụ ngân hàng và cả áp lực mở rộng và đa dạng hóa sảnphẩm, lĩnh vực và quy mô kinh doanh, gia tăng các hoạt động M&A, tìm kiếm các đốitác mới, phù hợp trong và ngoài nước, khu vực, cũng như chủ động có kịch bản, chiếnlược, bước đi cụ thể và xây dựng văn hóa kinh doanh dài hạn, chuyên nghiệp, chấtlượng và hiệu quả cao hơn
Với việc triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, công tác thanh tra, giám sát vàtái cơ cấu, xử lý nợ xấu đạt được những kết quả tích cực Các ngân hàng yếu kém đượckiểm soát, tái cơ cấu, giám sát chặt chẽ hoạt động; các tồn tại, yếu kém tiếp tục đượcchấn chỉnh, xử lý dứt điểm Nợ xấu được giữ ổn định ở mức dưới 3%, đến 30/11/2016,
tỷ lệ nợ xấu ước tính còn khoảng 2,46% Từ đầu năm 2016 đến hết ngày 30/11/2016,VAMC đã thực hiện mua 839 khoản nợ, với tổng dư nợ gốc là 23.283 tỷ đồng, giá mua
nợ là 22.483 tỷ đồng
Hình 4.5: Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng theo quý
Nguồn: NHNN.Theo báo cáo tình hình kinh tế năm 2016 và dự báo năm 2017 của Ủy ban Giám sátTài chính Quốc gia, tỷ lệ nợ xấu bình quân toàn hệ thống theo báo cáo của các TCTDgiảm nhẹ từ 2,9% năm 2015 xuống 2.8% Trong năm 2016, hệ thống TCTD đã xử lýkhoảng 95 ngàn tỷ đồng nợ xấu, trong đó qua thu hồi nợ, bán tài sản bảo đảm chiếmkhoảng 52,6% tổng giá trị nợ xấu được xử lý, bằng nguồn dự phòng rủi ro chiếm