1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả kinh tế của cánh đồng một giống lúa LC 212 trên địa bàn thành phố sông công, tỉnh thái nguyên

83 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng hợp ý kiến của các hộ được phỏng vấn về những khó khăn trong sản xuất kinh doanh lúa theo mô hình cánh đồng một giống...57 3.4.. Họ đã thử nghiệm và chấp nhậncác giống mới có hiệu q

Trang 1

ĐÀO THANH GIANG

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁNH ĐỒNG MỘT GIỐNG LÚA LC 212 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên, năm 2020

Trang 2

ĐÀO THANH GIANG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁNH ĐỒNG MỘT GIỐNG LÚA LC 212 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số ngành: 8.62.01.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn đề tài: TS Dương Hoài An

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quảnghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưatừng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đãđược cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõnguồn gốc

Sông Công, ngày 15 tháng 02 năm 2020

Tác giả luận văn

Đào Thanh Giang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đãnhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ,động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng

và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Dương Hoài An đã tận tình hướng dẫn,

dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trìnhhọc tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đàotạo, Khoa Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn – Trường Đại họcNông Lâm đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài vàhoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo UBND thành phố Sông Công, cácđồng chí cán bộ công chức, viên chức Phòng Kinh tế, Chi cục Thống kê,Trung tâm dịch vụ nông nghiệp thành phố Sông Công, UBND phường Phố

Cò, UBND xã Vinh Sơn, UBND phường Cải Đan đã giúp đỡ và tạo điều kiệncho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạomọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôihoàn thành luận văn./

Sông Công, ngày 15 tháng 02 năm 2020

Học viên

Đào Thanh Giang

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu: 3

5 Những đóng góp mới, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

6 Cấu trúc đề tài 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về sản xuất nông nghiệp 5

1.1.2 Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông nghiệp 6

1.1.3 Hiệu quả kinh tế và hướng đến sự phát triển bền vững 8

1.1.4 Mô hình “Cánh đồng một giống” 9

1.1.5 Sản xuất hàng hóa: 12

1.1.6 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế 12

1.2 Cơ sở thực tiễn 14

1.2.1 Các mô hình tại nước ngoài 14

1.2.2 Tổng quan ngành lúa gạo Việt Nam 19

1.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 28

Trang 6

1.4 Bài học kinh nghiệm cho thành phố Sông Công 32

1.5 Giống lúa lai LC 212 35

1.5.1 Nguồn gốc giống: 35

1.5.2 Đặc tính nông học: 35

1.5.3 Hướng dẫn kỹ thuật sản xuất 35

1.6 Giống lúa Khang dân 18 36

1.6.1 Nguồn gốc: 36

1.6.2 Đặc tính nông học: 36

1.6.3 Hướng dẫn kỹ thuật sản xuất 37

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội thành phố Sông Công 38

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 38

2.1.2 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội thành phố Sông Công 42

2.2 Nội dung nghiên cứu 46

2.3 Phương pháp nghiên cứu 47

2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 47

2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 47

2.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin, số liệu 48

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49

3.1 Thực trạng sản xuất kinh doanh lúa lai LC212 và lúa Khang dân 18 trên địa bàn thành phố Sông Công 49

3.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên địa bàn: 49

3.1.2 Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng lúa lai LC212 trên địa bàn thành phố Sông Công trong 3 năm gần đây được nêu trên bảng 3.1 50

3.1.3 Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng lúa Khang dân 18 trên địa bàn thành phố Sông Công trong 3 năm gần đây được nêu trên bảng 3.2 51

Trang 7

3.1.4 Các khoản mục chi phí trung gian trên 01 ha lúa lai LC212 năm 2018

của các hộ điều tra được tổng hợp trên bảng 3.3 52

3.1.5 Các khoản mục chi phí trung gian trên 01 ha lúa Khang dân 18 năm 2018 của các hộ điều tra được tổng hợp trên bảng 3.4 53

3.1.7 Các chỉ tiêu về kết quả và hiệu quả sản xuất lúa Khang dân 18 của các hộ điều tra tính cho 1 ha được tổng hợp trên bảng 3.6 54

3.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa lai LC 212 và lúa Khang dân 18 theo mô hình cánh đồng một giống 55

3.3 Tổng hợp ý kiến của các hộ được phỏng vấn về những khó khăn trong sản xuất kinh doanh lúa theo mô hình cánh đồng một giống 57

3.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất lúa 58

3.5 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả và nhân rộng sản xuất lúa lai LC 212 theo mô hình cánh đồng một giống trên địa bàn thành phố Sông Công 60

3.5.1 Về kỹ thuật 61

3.5.2 Về thông tin thị trường 62

3.5.3 Chính sách tín dụng 62

3.5.4 Xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế 63

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 63

1 KẾT LUẬN 63

2 KHUYẾN NGHỊ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

NSCSXH Ngân sách chính sách xã hội

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Các giống lúa được triển khai tại các vùng ở nước ta (2018) 23Bảng 2.1 Các chỉ tiểu chủ yếu của thành phố Sông Công (2018) 45Bảng 3.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa lai LC212 của

thành phố Sông Công 50Bảng 3.3 Chi phí trung gian trong sản xuất lúa lai LC212 của các hộ

điều tra 52Bảng 3.4 Chi phí trung gian trong sản xuất Khang dân 18 của các hộ điều tra53

Bảng 3.5 Hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa lai LC212 của hộ điều tra 54Bảng 3.6 Hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa Khang dân 18 của hộ điều tra54Bảng 3.7 So sánh hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa lai LC 212 và lúa

Khang dân 18 55Bảng 3.8 Tổng hợp các khó khăn của hộ điều tra trong sản xuất kinh

doanh lúa 57Bảng 3.9 Kết quả xác định các hệ số hồi quy (Coefficients) 58Bảng 3.10 Vị trí quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng 60

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là nước nông nghiệp, hơn 65% dân số sống ở nông thôn (năm2018), vì vậy nông nghiệp, nông thôn và nông dân là vấn đề thời sự luôn đượccác cấp, các ngành quan tâm Chưa bao giờ, vấn đề nông nghiệp và nông thônlại có sức hấp dẫn các nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn như hiện nay

Trong những năm gần đây, với sự tham gia của các nhà khoa học, nhànghiên cứu nông nghiệp đã mang lại cho nền nông nghiệp nước ta có nhữngchuyển biến rõ rệt và tích cực, đây là nền tảng góp phần quan trọng trongchiến lược xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững Với một nước đi lên từnền nông nghiệp nghèo nàn, luôn trong tình trạng thiếu lương thực, chúng ta

đã trở thành một nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về lúa gạo Thành quả nàykhông chỉ nhờ vào chính sách chỉ đạo của Đảng, nhà nước mà còn nhờ vàokhả năng ứng dụng, tìm kiếm kỹ thuật, mô hình sản xuất mới của người nôngdân trên khắp cả nước Người dân Việt Nam đã không ngừng tiếp thu và ứngdụng các loại giống cây trồng, vật nuôi mới Họ đã thử nghiệm và chấp nhậncác giống mới có hiệu quả kinh tế cao, đối với ngành lúa gạo Việt Nam việcđưa nguồn giống mới có hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất theo mô hình sảnxuất tập trung đã giúp cho người nông dân tự tin hơn với sản phẩm của mìnhtrên con đường xuất khẩu lúa gạo trên thế giới

Thái Nguyên là một trong 06 tỉnh miền núi phía Bắc được biết đến nhữngsản phẩm nông nghiệp đặc sản như: Cây chè, lúa gạo, gỗ góp phần không nhỏcho phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh nhà Với tổng diện tích gieo trồng là154.068 ha (theo Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2018), cây lúa đượcxem là cây trồng ngắn ngày chủ lực của tỉnh với diện tích 87.885 ha, sản lượng386.442 tấn, năng suất đạt 54,69 tạ/ha Đối với người dân nơi đây, việc chọngiống lúa vừa thích hợp với điều kiện tự nhiên, vừa đạt hiệu quả

Trang 11

kinh tế cao là một trong những vấn đề khó khăn cho người nông dân trongkhâu chọn giống đề đưa vào sản xuất đại trà.

Sông Công là thành phố trẻ được thành lập năm 1985, với diện tích tựnhiên là 9.837 ha, trong đó diện tích lúa đạt 3.847 ha, sản lượng đạt 19.007tấn, năng suất lúa đạt 49,41 tạ/ha Có nguồn cung cấp nước tưới dồi dào từ HồNúi cốc, đây là điều kiện thuận lợi để canh tác lúa nước Sản lượng lúa SôngCông sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong thành phố mà cung cấpvào các Khu công nghiệp trong và ngoài địa bàn thành phố Vậy với điềukiện tự nhiên, kinh tế xã hội như vậy việc chọn giống lúa cho năng suất cao,chất lượng tốt để đưa vào sản xuất là điều kiện tiên quyết đáp ứng yêu cầu sảnxuất và tiêu thụ trên địa bàn

Việc kịp thời đưa ra những nhận định, đánh giá hiệu quả kinh tế của giốnglúa để người nông dân canh tác tại các cánh đồng một giống là vô cùng quantrọng; việc lựa chọn giống lúa có ảnh hưởng lớn tới năng suất, chất lượng, hiệu

quả kinh tế và đời sống, thu nhập của người dân Do đó đề tài: “Đánh giá

hiệu quả kinh tế của cánh đồng một giống lúa LC 212 trên địa bàn thành phố Sông Công” với mục tiêu đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế của việc

triển khai trồng giống lúa lai LC 212 tại thành phố Sông Công bao gồm tácđộng đến diện tích, năng suất lúa và lựa chọn giống cây trồng thích hợp cóhiệu quả kinh tế cao phù hợp với tình hình biến đổi của khí hậu, là nghiên cứu

có ý nghĩa, mang tính thiết thực đối với các nhà quản lý tại địa phương Đócũng là những đề xuất ban đầu làm tiền đề để ứng dụng nghiên cứu trong cáclĩnh vực, dự án, công trình nghiên cứu khác về giống lúa lai LC 212 tại thànhphố Sông Công và cho các địa phương khác trong cả nước

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Phân tích, so sánh hiệu quả kinh tế của 02 mô hình cánh đồng mộtgiống sử dụng giống lúa lai LC 212 và lúa Khang dân 18 trên địa bàn thành

Trang 12

phố Sông Công Qua đó đưa ra sự đánh giá giúp nông dân định hướng lựachọn mô hình sản xuất phù hợp với mình, và đưa ra một số biện pháp để nôngdân có thể mở rộng và phát triển mô hình hướng đến sự phát triển bền vững.

2.2 Mục tiêu cụ thể

Đề tài thực hiện với các mục tiêu cụ thể như:

- Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình lúa lai LC 212 và mô hình lúaKhang dân 18 Từ đó so sánh giữa 2 mô hình để khẳng định tính hiệu quả của

mô hình lúa lai LC 212

- Phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố chi phí sản xuất đến hiệu quảkinh tế của 2 mô hình

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản và khả thi phù hợp để mô hình có hiệu quả tiếp tục được nhân rộng và phát triển tại địa phương

3 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến sản xuất, kinh doanh 02 loại lúaLC212 và Khang dân 18 tại thành phố Sông Công (diện tích, năng suất, sảnlượng lúa, chi phí sản xuất, giá trị, )

4 Phạm vi nghiên cứu:

- Địa bàn nghiên cứu: phường Phố Cò, phường Cải Đan, xã Vinh Sơn;thành phố Sông Công

- Thời gian nghiên cứu:

Số liệu thứ cấp nghiên cứu từ năm 2016 – 2018

Số liệu sơ cấp khảo sát năm 2018

5 Những đóng góp mới, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Qua nghiên cứu đề tài: Đánh giá hiệu quả kinh tế cánh đồng một giốnglúa lai LC 212 trên địa bàn thành phố Sông Công mang lại ý nghĩa thực tiễnlà: Làm thay đổi tập quán canh tác thuần túy, lạc hậu của nhân dân tại địa bàn;Tập trung được các nguồn lực cho sản xuất như: giống, đất đai, lao động,

Trang 13

6 Cấu trúc đề tài

Đề tài gồm 4 chương:

Chương 1 Cơ sở khoa học của đề tài

Chương 2 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 Kết luận và khuyến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về sản xuất nông nghiệp

- Độc canh: là chỉ trồng một hoặc rất ít loài cây trên 1 khu đất nhằm thucàng nhiều lợi nhuận càng tốt Độc canh thường gây rủi ro về dịch bệnh, thiêntai, có khi những người nông dân phải làm để tự nuôi sống mình trong lúcthiếu vốn, thiếu tư liệu sản xuất,

Những hậu quả chủ yếu của việc trồng độc canh:

+ Dịch bệnh dễ phá hoại khi chỉ canh tác một loại cây vì mỗi loại sâu

có thói quen dinh dưỡng riêng

+ Giảm sút tài nguyên di truyền hạt giống của những giống mới có năng suất cao và giống lai đã được đưa về nông thôn

+ Rủi ro kinh tế lớn khi chỉ trồng một loại cây, nếu sâu bệnh hay thiêntai phá hoại sẽ thất bại hoàn toàn Ngay cả khi được mùa, loại cây trồng đó dễ

bị mất giá do cung thường lớn hơn cầu Độc canh làm cho kinh tế của nông dân không ổn định

- Đa dạng hóa cây trồng trong nông nghiệp: Đa dạng hóa cây trồng là

hệ thống cây trồng được bố trí một cách tối ưu trong một diện tích canh tácphù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của từng vùng nhằm tránh rủi

ro trong sản xuất, thị trường nhằm làm tăng thu nhập cho nông hộ, đồng thờibảo vệ môi truờng tiến đến bảo vệ một nền nông nghiệp bền vững

- Sản xuất: là quá trình sử dụng các yếu tố đầu vào và các nguồn lực cần thiết để tạo ra sản phẩm hàng hoá một cách có hiệu quả nhất

- Kinh tế nông hộ: nông hộ tiến hành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

để phục vụ cuộc sống và người ta gọi đó là kinh tế hộ gia đình Kinh tế hộ giađình là loại hình sản xuất có hiệu quả về kinh tế - xã hội, tồn tại và phát triển

Trang 15

nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Kinh tế hộ phát triển tạo rasản lượng hàng hoá đa dạng, có chất lượng, giá trị ngày càng cao, góp phầntăng thu nhập cho mỗi nông dân, cải thiện đời sống mọi mặt ở nông thôn,cung cấp sản phẩm cho công nghiệp và xuất khẩu, đồng thời thực hiện chuyểndịch cơ cấu kinh tế ngày từ kinh tế nông hộ.

1.1.2 Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông nghiệp

- Cơ cấu sản xuất: là sự sắp xếp duy nhất và ổn định nhất trong hoạtđộng năng động của hộ với điều kiện nhất định về mặt vật lý, sinh học, kinh

tế, phù hợp với với mục tiêu, sở thích và các nguồn tài nguyên Những yếu tốnày phối hợp tác động đến sản phẩm làm ra và phương pháp sản xuất

Nghiên cứu các sản phẩm là để giúp sự phát triển kỹ thuật nông nghiệp

và chuyển giao những kỹ năng này đến nông dân

Khái quát hoá nghiên cứu cơ cấu sản xuất: là hoạt động nhằm sử dụngtài nguyên theo một vùng sinh thái và kinh tế xã hội với sự tác động của conngười để làm ra sản phẩm, chế biến và tiêu thụ Nói cách khác, nghiên cứu cơcấu sản xuất là làm thế nào để tác động và quản lý một hệ thống sản xuất nôngnghiệp mang tính lâu dài, bền vững và cho hiệu quả cao

Bố trí canh tác hợp lý để tối đa hoá việc sử dụng tài nguyên: là cách bốtrí sử dụng tài nguyên theo ưu thế từng vùng sinh thái Trên cơ sở tài nguyên

về đất, nước, sinh học và nguồn lực sẵn có trong vùng sinh thái hoặc một quốcgia Việc nghiên cứu bố trí những mô hình canh tác thích hợp nhằm tối đa hoáviệc sử dụng tài nguyên tại chỗ sao cho lâu bền và mang lại hiệu quả cao làviệc đầu tiên mà ngành nghiên cứu sản xuất phải đặt ra để giải quyết

Tác động những giải pháp kỹ thuật thích hợp trên cơ sở từng mô hìnhsản xuất tại mỗi vùng sao cho phù hợp với điều kiện sản xuất tại địa phươngtrong bối cảnh kinh tế xã hội và tập quán canh tác cũng như môi trường sốngcủa nông dân Để tác động những giải pháp kỹ thuật thích hợp, nhà nghiên

Trang 16

cứu cần biết tổng thể về cơ cấu sản xuất tại đó và sự tác động qua lại củanhững thành phần kỹ thuật trong cùng hệ thống.

Nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo tính lâu bền: Các giải pháp kỹthuật đưa vào phải đảm bảo tăng thu nhập đồng thời có hiệu quả cao về đầu

tư Ngoài ra, điều quan trọng là đảm bảo tính lâu bền về độ phì nhiêu của đấtđai, tài nguyên, khí hậu và môi trường sống tại vùng nghiên cứu

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: là yêu cầu khách quan của sự phát triểnsản xuất xã hội Xem xét lịch sử của nền kinh tế sản xuất tại một vùng, mộtquốc gia hay trên phạm vi toàn thế giới Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là mộtquá trình thay đổi không ngừng về cơ cấu kinh tế Nói cách khác, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế là một quá trình được thực hiện thông qua sự điều chỉnh tănggiảm tốc độ phát triển của các ngành trong vùng Chính phủ và cơ chế thịtrường cùng tham gia vào điều chỉnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế củamột vùng

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là yêu cầu khách quan, do những nhân tốbên trong và bên ngoài của lãnh thổ quy định Các nhân tố đó có thể là tìnhhình chính trị, kỹ thuật sản xuất, sự biến động nguồn lực, những biến đổitrong nền kinh tế và thị trường thế giới, Với những biến đổi thường xuyêncủa những nhân tố bên trong và môi trường bên ngoài thì cần có sự điều chỉnhlinh hoạt cho phù hợp tình hình thực tế tại địa phương

Thực hiện nhiệm vụ chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp rất cần thiết đểthúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định, bền vững trong nền kinh tếthị trường Trong trồng trọt, chuyển dịch cây trồng hợp lý, đưa cây có hiệuquả kinh tế cao phát triển, giảm dần diện tích cây trồng kém hiệu quả Trongchăn nuôi tăng dần chất lượng sản phẩm của gia súc gia cầm, đồng thời tạo

mô hình nuôi thuỷ sản theo hướng triệt để, sử dụng tiết kiệm đất nông nghiệp.Hay nói cách khác, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm tận dụng và

Trang 17

khai thác có hiệu quả những tiềm năng của vùng, đưa nông nghiệp khôngngừng phát triển đúng hướng và hiệu quả.

Để nông nghiệp đảm đương vai trò cơ sở của mình trong tiến trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá kinh tế nông nghiệp nông thôn Thực hiện chuyểnđổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn có hiệu quả cần phải dựa trên nhữngquan điểm sau:

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải nhằm mục đích pháttriển sản xuất hiệu quả, nâng cao năng suất hàng hoá

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm khai thác tốt nhất lợi thế so sánh, nâng cao hiệu quả kinh tế

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm đẩy mạnh phát triểnnền nông nghiệp bền vững, khai thác tài nguyên phải bảo vệ sinh thái và đảmbảo về mặt hiệu quả kinh tế xã hội

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải gắn liền với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1.1.3 Hiệu quả kinh tế và hướng đến sự phát triển bền vững

- Hiệu quả: là việc xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các nguồn lựcsao cho đạt kết quả cao nhất Hiệu quả bao gồm ba yếu tố: (1) sử dụng tối ưucác nguồn lực, (2) sản xuất với chi phí thấp nhất, (3) sản xuất để đáp ứng nhucầu của con người

Muốn đạt hiệu quả sản xuất cần quan tâm một số vấn đề sau:

+ Hiệu quả kinh tế: tiêu chí về hiệu quả kinh tế thực ra là giá trị, nghĩa

là khi sự thay đổi làm tăng giá trị thì sự thay đổi đó có hiệu quả và ngược lạithì không có hiệu quả

+ Hiệu quả kỹ thuật: hiệu quả là việc tạo ra một số lượng sản phẩmnhất định từ việc sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất Nó được xem là mộtthành phần của hiệu quả kinh tế Bởi vì muốn đạt được hiệu quả kinh tế thìtrước hết phải đạt được hiệu quả kỹ thuật

Trang 18

- Hướng đến sự phát triển bền vững: nông nghiệp bền vững là vấn đềthời sự được nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau quan tâmnhư: nông học, sinh thái học, xã hội học, Hiện có nhiều định nghĩa khácnhau về nông nghiệp bền vững, trong đó đáng quan tâm là định nghĩa của tổchức sinh thái và môi trường thế giới bởi nó có tính tổng hợp và khái quátcao: “Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thoả mãn được các yêu cầucủa thế hệ hiện nay, mà không giảm khả năng ấy đối với các thế hệ sau” Điều

đó có nghĩa là, nền nông nghiệp không những cho phép các thế hệ hiện naykhai thác tài nguyên thiên nhiên vì lợi ích của họ mà còn duy trì được khảnăng ấy cho các thế hệ mai sau Cũng có ý kiến cho rằng, sự bền vững của hệthống nông nghiệp là khả năng duy trì hay tăng thêm năng suất và sản lượngnông sản trong một thời gian dài mà không ảnh hưởng điều kiện sinh thái

Tài nguyên nông nghiệp chủ yếu là đất đai, nó vừa là sản phẩm của tựnhiên vừa là sản phẩm của lao động, nhiệm vụ cơ bản của nông nghiệp bềnvững là quản lý tốt đất đai: sử dụng hợp lý, bảo vệ và không ngừng bồi dưỡngđất đai, làm cho đất đai ngày càng màu mỡ Nhưng để đáp ứng yêu cầu cuộcsống, tình trạng khai thác quá mức làm cho đất sản xuất nông nghiệp ngàycàng kém màu mỡ, bên cạnh đó việc áp dụng biện pháp canh tác phù hợp làhết sức quan trọng, có thể đáp ứng yêu cầu cuộc sống, có thể vừa sử dụng vừaquan tâm đến việc cải thiện quỹ đất

1.1.4 Mô hình “Cánh đồng một giống”

a Khái niệm

“Cánh đồng một giống” là hình thức tổ chức lại sản xuất trên cơ sở liênkết giữa nông dân và doanh nghiệp, tập hợp những nông dân nhỏ lẻ lại hìnhthành một diện tích chung, lớn, tạo điều kiện áp dụng những kỹ thuật mới vàgiải quyết đầu ra ổn định và có lợi nhuận cho nông dân

Tuy nhiên, thực tế cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa rõ ràng và

Trang 19

Ta có thể hiểu một cách đơn giản “Cánh đồng một giống” là nhữngcánh đồng có diện tích lớn Toàn bộ phần diện tích trên có thể thuộc quyền sửdụng của một chủ (doanh nghiệp) hoặc nhiều chủ (nông dân) Nhưng toàn bộhoạt động sản xuất trên cánh đồng đều thuộc một quy trình chung Sản phẩmđược tạo ra từ cánh đồng được tiêu thụ trên thị trường với một thương hiệuchung, chất lượng và số lượng sản phẩm được đảm bảo bởi nhà sản xuất.

b Đặc điểm của mô hình

Như cách tiếp cận ở phần khái niệm, ta thấy mô hình “Cánh đồng mộtgiống” có các đặc điểm sau:

- Diện tích lớn:

Đây là điểm đặc trưng nhất của mô hình “Cánh đồng một giống” Đặcđiểm này kế thừa từ một số mô hình nông nghiệp khác như hợp tác xã nôngnghiệp hay nông trường quốc doanh, và một số mô hình nông nghiệp pháttriển ở nước ngoài Diện tích lớn là cần thiết đối với mô hình “Cánh đồng mộtgiống” để có thể cơ giới hóa các hoạt động trên cánh đồng, áp dụng các kĩthuật mới vào sản xuất, sản xuất theo quy trình và quan trọng là để tiết kiệmchi phí dựa trên tính kinh tế nhờ quy mô

Thế nhưng trong bối cảnh đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra một cáchtràn lan như hiện nay, diện tích đất nông nghiệp đang bị thu hẹp và chia nhỏ.Điều này làm cho việc hình thành những cánh đồng lớn càng trở nên khó khănhơn

- Quy trình đồng bộ:

Mô hình “Cánh đồng một giống” cần sản xuất ra sản phẩm số lượng lớn

và có chung một tiêu chuẩn chất lượng, vì thế mọi hoạt động của cánh đồngcần được chuẩn hóa và thực hiện theo một quy trình chung Với một quy trìnhđồng bộ như vậy, các hoạt động của cánh đồng từ sản xuất, quy trình kĩ thuật,quản lý, thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm được thực hiện một

Trang 20

cách tốt hơn và nông dân có điều kiện để học hỏi kinh nghiệm và nâng caotrình độ của mình.

- Sự liên kết:

Đây là đặc điểm nổi bật, làm cho mô hình “Cánh đồng một giống” khácbiệt so với các mô hình khác đã có trong quá khứ Sự liên kết ở đây chỉ mốiquan hệ tương hỗ giữa người sản xuất, nhà khoa học, cơ quan quản lý, vàdoanh nghiệp Tất cả họ đều có chung một sự quan tâm “Làm thế nào để đạthiệu quả cao nhất ?” Trong mô hình “Cánh đồng một giống”, người sản xuất(nông dân) nhận được sự hỗ trợ của nhà khoa học trong ứng dụng khoa học kĩthuật vào quy trình sản xuất, người nông dân hỗ trợ nhà khoa học điều kiệntiếp xúc thực tiễn Nhà quản lý với vai trò là người hoạch định chính sách tạođiều kiện tốt nhất để cho mô hình hoạt động và phát triển, tạo điều kiện chocác mối quan hệ phát triển, đảm bảo quyền lợi của các bên Doanh nghiệptrong mô hình “Cánh đồng một giống” đảm bảo vốn cho mô hình hoạt động,

hỗ trợ quản lý, và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường

c Tác động của mô hình “Cánh đồng một giống” đến sự phát triển sảnxuất nông nghiệp

Cần phải nhìn thấy được những tác động của mô hình “Cánh đồng mộtgiống” đối với sản xuất nông nghiệp để có thể áp dụng được mô hình này mộtcách thành công

Thứ nhất, mô hình cánh đồng một giống có tác động trong việc tăngnăng suất và tổng sản lượng nông nghiệp, hướng tới hình thành ngành sảnxuất hàng hóa nông nghiệp quy mô lớn

Thứ hai, “Cánh đồng một giống” giúp cải thiện chất lượng và hình ảnhcủa sản phẩm nông nghiệp và người sản xuất là nông dân

Thứ ba, tạo điều kiện cho sự phát triển khoa học kĩ thuật trong nông nghiệp.Thứ tư, cắt giảm chi phí sản xuất nông nghiệp, giảm giá thành sản phẩm

Trang 21

1.1.5 Sản xuất hàng hóa:

- Sản xuất hàng hóa: Là sản xuất ra những sản phẩm để có thể đưa rathị trường để buôn bán Hay nói một cách khác, sản xuất hàng hóa là một cáchthức tổ chức sản xuất mà trong đó các sản phẩm làm ra dùng để đáp ứng nhucầu tiêu dùng của một bộ phận hoặc đa số bộ phận người dân sử dụng, chứkhông phải để đáp ứng cho chính người trực tiếp sản xuất ra hàng hóa

- Sản xuất hàng hóa có đặc trưng cơ bản sau:

Sản xuất hàng hóa là để trao đổi mua, bán: Sản xuất hàng hóa là kiểu

tổ chức kinh tế đối lập với sản xuất tự cung, tự cấp trong thời kỳ đầu của lịch

sử loài người Cụ thể, trong sản xuất hàng hóa sản phẩm được tạo ra để đápứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi mua, bán

Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính xã hội: Tính chất tư nhân thể hiện ở việc đặc tính sản phẩm được quyết định

bởi cá nhân người làm ra nó hoặc người trực tiếp sở hữu tư liệu sản xuất trêndanh nghĩa Tính chất xã hội được thể hiện qua việc sản phẩm tạo ra đáp ứng chonhu cầu của những người khác trong xã hội Tính chất tư nhân đó có thể phù hợphoặc không phù hợp với tính chất xã hội Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản

xuất hàng hóa (Wikipedia: Sản xuất hàng hóa-2013)

1.1.6 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế

a Khái niệm: Hiệu quả kinh tế trong Nông nghiệp là tổng hợp hao phí về

lao động và lao động vật chất hóa để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp Nó thểhiện bằng cách so sánh kết quả sản xuất đạt được với khối lượng chi phí lao động

và chi phí vật chất bỏ ra Lúc đó ta phải tính đến việc sử dụng đất đai và nguồn

dự trữ vật chất, lao động, hay nguồn tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp (vốnsản xuất, vốn lao động, vốn đất đai) Nghĩa là tiết kiệm tối đa các chi phí mà thựcchất là hao phí lao động để tạo ra một đơn vị sản phẩm

b Các chỉ tiêu tính toán kết quả, hiệu quả kinh tế

- Giá trị sản xuất (GTSX): là giá trị thành tiền từ sản lượng sản phẩmvới đơn giá sản phẩm đó (thu nhập của nông hộ được tạo ra từ sản xuất lúa)

Giá trị sản xuất = Sản lượng x Đơn giá

Trang 22

- Chi phí trung gian (CPTG): là toàn bộ số tiền chi ra cho hoạt độngcanh tác để tạo ra sản phẩm nông nghiệp bao gồm chi phí lao động, chi phí vậtchất và chi phí khác.

Chi phí trung gian = Chi phí lao động + Chi phí vật chất + Chi phí khác

- Thu nhập hỗn hợp (TNHH): là phần thu nhập thuần túy bao gồm cả công lao động của hộ gia đình tham gia sản xuất

Thu nhập hỗn hợp = Giá trị sản xuất - Chi phí trung gian

-Giá trị sản xuất/Chi phí trung gian (GTSX/CPTG): Tỷ số này cho biết

cứ một đồng bỏ ra cho chi phí trung gian thì sẽ thu được bao nhiêu đồng giátrị sản lượng

- Thu nhập hỗn hợp/Chi phí trung gian (TNHH/CPTG): Tỷ số này chobiết cứ một đồng bỏ ra cho chi phí trung gian thì sẽ thu được bao nhiêu đồngthu nhập hỗn hợp

- Thu nhập hỗn hợp/Giá trị sản xuất (TNHH/GTSX): Tỷ số này cho ta biết một đồng giá trị sản xuất thì tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập

- Mô hình hàm Cobb Douglas được sử dụng để phân tích các yếu tốảnh hưởng và ước lượng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến với hiệu quảsản xuất kinh doanh của các nông hộ dựa trên số liệu thu thập qua điều trathực tế

Có các biến độc lập được đưa vào mô hình thể hiện các yếu tố đầu vàođược sử dụng cho sản xuất của các hộ, biến phụ thuộc là thu nhập hỗn hợp đạtđược trên 1 đơn vị diện tích

Mô hình được thiết lập sau khi logarit như sau:

LnY = P0 + P1LnX1 + P2LnX2 + P3LnX3 + p4LnX4 + p5LnX5 +p6LnX6 + p7LnX7 + P8LnX8 + + PnLnXn

Trong đó:

Y: Thu nhập hỗn hợp trên 1 đơn vị diện tích

Trang 23

X1: Diện tích canh tác; X2: Chi phí giống; X3: Chi phí phân bón; X4:Chi phí cơ giới hóa; X5: Chi phí thuốc BVTV; X6: Chi phí Lao động phânbón; X7: Chi phí Trình độ học vấn; X8: Kinh nghiệm; Xn:

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Các mô hình tại nước ngoài

- Mô hình hợp tác xã nông nghiệp tại Đức

Cộng hòa liên bang Đức có một nền kinh tế phát triển và ngành nôngnghiệp Đức cũng vậy Không có lợi thế về diện tích đất như ở Mỹ hay ở cácnước Tây Âu khác, đa phần các chủ trang trại của Đức sở hữu phần diện tích

từ 1 đến 50 ha Với mô hình hợp tác xã nông nghiệp, các nông dân, chủ trangtrại tại Đức có thể khắc phục được yếu điểm này của mình Mô hình hợp tác

xã nông nghiệp tại Đức hay cụ thể là các hợp tác xã trồng trọt và chăn nuôi,cung cấp cho người nông dân rất nhiều thứ để hỗ trợ sản xuất như dịch vụ tưvấn, hỗ trợ kĩ thuật, công nghệ mới (giống cây trồng, vật nuôi, phân bón…),nhà kho, máy móc và cả dịch vụ tài chính, thương hiệu Điều này làm cho cáchợp tác xã hoạt động có hiệu quả Tiêu chí của các hợp tác xã này là giảm chiphí nhờ tính kinh tế nhờ quy mô, từ đó đem lại cho người nông dân lợi nhuậnlớn hơn Về mặt chính sách, vì các hợp tác xã nông nghiệp tại Đức được tạođiều kiện và không bị phân biệt với doanh nghiệp tư nhân nên họ hoàn toàn cókhả năng vay vốn mà không bị bất kì cản trở hay ràng buộc nào Mọi hoạtđộng trong quản lý, điều hành đều hướng tới làm sao cho minh bạch và hiệuquả nhất Chính vì thế, các hợp tác xã nông nghiệp tại Đức nhận được sự ủng

hộ của người nông dân và thu hút nhiều người tham gia (Tài liệu của Phạm Quang Vinh-Giám đốc dự án hỗ trợ phát triển HTX tại Việt Nam của DGRV)

- Mô hình trang trại gia đình tại Mỹ

So với các quốc gia khác, nước Mỹ có lợi thế rất lớn cho sản xuất nôngnghiệp như diện tích lớn, đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa… Sản xuất nôngnghiệp đã góp phần giúp cho nước Mỹ có diện mạo của ngày hôm nay

Trang 24

Hiện nay tại Mỹ, sản xuất nông nghiệp hầu như được thực hiện trong cáctrang trại rộng lớn Những trang trại tại Mỹ có thể thuộc sở hữu của một giađình, của một doanh nghiệp hay của nhiều người cùng góp lại Những trangtrại khổng lồ này đã tạo ra những vùng sản xuất nông nghiệp lớn cho nước

Mỹ Việc áp dụng khoa học kĩ thuật, cải tiến máy móc… khiến sản lượngnông nghiệp của Mỹ tăng nhanh Và biến ngành nông nghiệp thành một ngànhkinh doanh thực sự Tuy nhiên, tại Mỹ, người sản xuất nông nghiệp lại phảiđối mặt với một khó khăn, đó là sản xuất dư thừa Năng suất cao làm cho sảnlượng nông nghiệp của Mỹ không ngừng tăng lên, nhưng lợi nhuận lại chẳngđược bao nhiêu, do giá thấp Với chính sách cắt giảm trợ cấp cho nôngnghiệp, các nhà sản xuất nông nghiệp tại Mỹ cần phải thay đổi chiến lược sản

xuất và kinh doanh để có thể cải thiện tình hình (Hội làm vườn Việt Nam vacvina.org.vn)

Sản xuất rượu nho ở Pháp

Tại các vùng trồng nho ở Pháp, như vùng Bordeaux và nhiều vùngkhác, các nhà sản xuất, tổ chức sản xuất của người dân như HTX, hiệp hội,đều thống nhất thực hiện hành động tập thể chung về qui hoạch vùng sản xuất,qui trình sản xuất (giống, kĩ thuật sản xuất ), quy trình thu hoạch, quy trìnhchế biến, đóng gói và thương hiệu trên thị trường Những quy trình đó, saukhi được các tổ chức của nông dân thống nhất, đề xuất lên các cơ quan Nhànước, được công nhận, sẽ trở thành công cụ có tính pháp lí để kiểm soát cáchành động tập thể của nông dân, doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh Các

cơ quan nhà nước cũng thực hiện kiểm tra, giám sát theo các cam kết củanông dân Trong các yếu tố liên kết hành động tập thể, đôi khi nhà nước cũngkhuyến khích các tổ chức nông dân áp dụng các tiêu chuẩn môi trường, sinhthái, đây cũng là cách thức để áp dụng chính sách mới trong sản xuất nông

nghiệp (Nguồn: Cánh đồng mẫu lớn: lý luận và tiếp cận thực tiễn trên thế

Trang 25

giới và Việt Nam - TS Vũ Trọng Bình, Ths Đặng Đức Chiến Viện Chính sách

và Chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn)

- Trồng rau ở Phillipines

Trường hợp tổ chức nông dân nhỏ trồng rau của NorminVeggies ởPhillipines Đây là tổ chức của nông dân thành lập với mong muốn là nơingười nông dân có thể cất lên tiếng nói của mình, là nơi chia sẻ mối quan tâm,

cơ hội cũng như hiểu rõ hơn về ngành sản xuất rau để có cơ hội gia tăng thunhập và cũng là nơi đại diện để đối thoại với chính phủ và những tổ chứckhác Normin Veggies là tổ chức phi lợi nhuận, cung cấp dịch vụ cho cácthành viên là những nông dân độc lập, nông dân nhỏ, các quỹ phát triển, cáctrang trại, người cung cấp đầu vào và cung cấp dịch vụ, đơn vị thuộc chínhquyền địa phương Để kết nối với thị trường, NorminVeggies lập ra các nhómlàm thương mại cho từng sản phẩm (tổng cộng có 12 nhóm) Nhóm này baogồm khoảng từ 5-10 người, đứng đầu là một nông dân giỏi, có trách nhiệm lập

kế hoạch marketing cho sản phẩm của khoảng 18 nông dân độc lập và 60nông dân nhỏ Sự gắn kết của nông dân thể hiện ở cam kết cung cấp sản phẩm

và thỏa thuận về khối lượng cung cấp, kế hoạch phân phối, tuân thủ theo chấtlượng chung, thực hành sản xuất, quản lý thu hoạch và sau thu hoạch Nhómnày bản thân nó đã là một tổ chức có mục tiêu hướng đến thị trường và là hệthống quản lý trong đó yêu cầu thành viên bảo vệ uy tín của nhóm trên thịtrường Nhóm là chiến lược giúp nông dân phản ứng nhanh nhạy với thịtrường và tiếp cận với thị trường có giá trị cao hơn Những nhóm được tổchức như này mang lại lợi ích như: i) đạt tính kinh tế theo quy mô và khảnăng cung cấp sản phẩm với số lượng lớn và chi phí giao dịch nhỏ hơn; ii)tiếp cận thị trường tốt; iii) giao dịch với nhà cung cấp dịch vụ; iv) liên kết cóhiệu quả với chính phủ và tổ chức tư nhân Các nhóm này được điều phốichung bởi Normincorp, một đơn vị có trách nhiệm kết nối các cluster này vớithị trường Normicorp thu phí tính trên giá trị sản phẩm được giao dịch để duy

Trang 26

trì hoạt động Normicorp tham gia giám sát để đảm bảo kế hoạch sản xuất đápứng được kế hoạch marketing, giám sát chất lượng sản phẩm, quản lý sau thuhoạch và giám sát hoạt động phân loại, vận chuyển, thu gom Trong mô hìnhnày, chính phủ và các nhà tài trợ tư nhân hỗ trợ về tập huấn, công nghệ vàphát triển sản phẩm/thị trường, cung cấp khoản tín dụng cho đầu tư vào côngnghệ của NorminVeggies, cũng như các hỗ trợ nhằm duy trì khả năng đáp ứngthị trường của nông dân và giữ được vị thế trên thị trường Bài học thành côngcủa NorminVeggies là: i) nó hoạt động như một tổ chức hỗ trợ thành viên tiếpcận với những nguồn lực mà chỉ thành viên mới có được như đào tạo, nângcấp kỹ thuật và hỗ trợ tiếp cận thị trường; ii) giao dịch minh bạch củng cốniềm tin sự tin tưởng giữa các thành viên; iii) sự chia sẻ giữa các thành viên

về công nghệ, kiến thức, đóng gói và các kỹ năng khác để tham gia thị trường;iv) khả năng thích ứng của NorminVeggies và Normincorp trước sự biến độngcủa thị trường một cách khá linh hoạt Đó là do sự liên lạc cởi mở và minhbạch giữa các thành viên; v) năng lực lãnh đạo của cán bộ nòng cốt (Nguồn: Cánh đồng mẫu lớn: lý luận và tiếp cận thực tiễn trên thế giới và Việt Nam -

TS Vũ Trọng Bình, Ths Đặng Đức Chiến Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn)

- Sản xuất lúa ở Malaysia:

Sản xuất lúa ở Malaysia trước đây cũng gặp tình trạng đất nhỏ lẻ vàmanh mún, bình quân 0,1 - 0,5 ha/hộ Công cuộc thay đổi để cải thiện năngsuất lúa gạo ở Malaysia được thực 7 từng bước qua nhiều năm bằng cách tácđộng vào nhiều lĩnh vực khác nhau Chính phủ xây dựng cơ sở hạ tầng baogồm hệ thống kênh mương thủy lợi, đường cho máy móc vào ruộng, đườnggiao thông cho đi lại và vận chuyển sản phẩm phục vụ cho quá trình cơ giớihóa sản xuất và dồn điền đổi thửa Cơ sở hạ tầng được cải thiện dần nhằmthích nghi với sự cải tiến về công nghệ, như máy móc lớn hơn, công nghệ gieo

Trang 27

dụng máy móc vào làm đất và vận chuyển nhằm giảm thiểu sử dụng lao động

và cắt giảm chi phí Các nhà máy chế biến được xây dựng gần các khu sảnxuất nhằm dễ dàng vận chuyển và giảm chi phí Có ba hình thức Malaysia sửdụng để tăng quy mô diện tích của các đơn vị sản xuất lúa đó là: i) doanhnghiệp thuê những mảnh đất nhỏ của nông dân và làm tất cả các khâu; ii) cácHTX và tổ chức của nông dân đứng ra tổ chức canh tác trên mảnh ruộng lớnhoặc iii) doanh nghiệp thương mại phát triển và quản lý các cánh đồng rộng

có nhiều mảnh lớn hoặc mảnh liền thửa Xu hướng dồn ruộng đất thành mảnhlớn ở Malaysia, ngoài những lý do về giảm chi phí và tăng năng suất lúa, còn

lý do khác là áp lực về lao động nông nghiệp ngày càng ít đi, trong khi đất lúa

bị chuyển đổi mục đích sử dụng sang cây trồng có lợi nhuận lớn hơn Mô hìnhtiêu biểu sản xuất lúa trên quy mô lớn của Maylaysia là ở Seberang Perakđược quản lý bởi Federal Land Consolidation and Rehabilitation Authority(FELCRA) trong khuôn khổ một dự án của chính phủ với Ngân hàng thế giới.Trong vùng sản xuất này, mỗi hộ được nhận một diện tích như nhau là 1,2 hatrồng lúa và 1,2 ha trồng cọ Các hoạt động đều được làm bằng máy và đượcthuê từ bên ngoài Các hoạt động được điều phối bởi FELCRA nhằm đảm bảotính thống nhất và kịp thời vụ Nông dân tham gia với tư cách là người laođộng nhận lương và được chia lợi tức Mô hình ở Seberang Perak được nhânrộng ra nhiều vùng khác nhau do các công ty tư nhân thực hiện Từ kinhnghiệm của Malaysia có thể rút ra một số bài học: i) chính phủ đứng ra quyhoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng cho “cánh đồng lớn” Cơ sở hạ tầng luônluôn được cải thiện và nâng cấp để đáp ứng những thay đổi trong sản xuất; ii)

áp dụng công nghệ và máy móc hiện đại để nâng cao năng suất lao động, năngsuất sản phẩm và giảm chi phí; iii) hoạt động sản xuất do một cơ quan quản lýnhằm đảm bảo tính thống nhất và kịp thời vụ; iv) dồn ruộng đất để tăng quy

mô sản xuất và tổ chức lại thành ô thửa thuận tiện cho sử dụng máy móc

(Nguồn: Cánh đồng mẫu lớn: lý luận và tiếp cận thực tiễn trên thế

Trang 28

giới và Việt Nam - TS Vũ Trọng Bình, Ths Đặng Đức Chiến Viện Chính sách

và Chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn)

1.2.2 Tổng quan ngành lúa gạo Việt Nam

a Sản lượng và năng suất

Ngành lúa gạo Việt Nam là một trong những ngành kinh tế thành côngnhất của Việt Nam xét về tăng trưởng sản lượng Từ một nước thiếu lươngthực vào cuối những năm 1980, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạohàng đầu trên thế giới Nguyên nhân chính là Việt Nam có năng suất ngànhlúa gạo khá cao Theo Bộ NNPTNT, năng suất lúa năm 2014 của Việt Namđạt 57,6 tạ/ha, cao nhất trong khu vực Đông Nam Á Tốc độ tăng sản lượnglúa của Việt Nam là khá cao, đạt 1,04% trong giai đoạn 2010-2017

44.963

Hình 1.1 Diện tích và sản lượng lúa nước ta, giai đoạn 2010-2017

(Nguồn số liệu theo Niên giám thống kê Việt Nam 2017, NXB Thống kê, 2018)

Trong 8 năm qua diện tích canh tác và sản lượng lúa của Việt Nam đều tăng

từ năm 2010 đến 2015 do vậy cho sản lượng tăng hàng năm từ 40 triệutấn lên trên 45 triệu tấn/năm Tuy nhiên, năm 2017 diện tích đất lúa giảm đi,

Trang 29

chung sản lượng lúa vẫn tăng Đây là kết quả của việc thâm canh, tăng vụ và

sử dụng các giống cho sản lượng cao Hình 1Error! Reference source not

found 1: cho thấy sản lượng gạo của Việt Nam đã tăng hơn một triệu tấn

trong 7 năm qua trong khi diện tích canh tác tăng thêm khoảng 220 nghìn hanhờ tăng vụ Về năng suất, trung bình giai đoạn 2010 - 2017 Việt Nam đạt5,47 tấn/ha, cao hơn so với nhiều nước trồng lúa khác Đương nhiên, chúng takhó có thể vừa có năng suất cao vừa có chất lượng cao

Theo Niên giám thống kê 2018, diện tích đất trồng lúa ở khu vựcĐBSCL chiếm hơn 50% tổng diện tích lúa trên cả nước Số hộ trồng lúa ở khuvực ĐBSCL chỉ chiếm 16% trong tổng số hộ trồng lúa trên cả nước nhưng sảnxuất hơn một nửa tổng sản lượng lúa Diện tích đất trồng lúa bình quân mỗi

hộ ở khu vực ĐBSCL là khoảng 1,29 ha, cao hơn nhiều so với mức trung bìnhcủa cả nước là khoảng 0,44 ha Khoảng 47% số hộ trên cả nước có diện tíchđất trồng lúa dưới 0,2 ha Tỉ lệ này ở khu vực đồng bằng sông Hồng là 63%,trong khi ở khu vực ĐBSCL chỉ là khoảng 8% Khoảng 55% số hộ ở ĐBSCL

có diện tích đất trồng lúa dao động từ 0,5 đến 2 ha, tỉ lệ này ở ĐBSH chỉkhoảng 2% và trên cả nước là khoảng 13% Số hộ có diện tích đất trên 2 hachủ yếu tập trung ở ĐBSCL, chiếm khoảng 14% Năm 2018, tỉnh TháiNguyên triển khai gieo cấy lúa đạt 70,7 nghìn ha, năng suất đạt 54,5 tạ/ha, sảnlượng đạt 384,86 nghìn tấn

Với quy mô đất canh tác nhỏ như vậy, điều khó tránh khỏi là năng suấtyếu tố tổng hợp ngày càng giảm và sản lượng tăng chủ yếu nhờ thâm canh,tăng sử dụng các yếu tố đầu vào, nhất là phân bón Điều này dẫn đến thu nhậpthấp cho nông dân trồng lúa, nhất là khi so với các ngành nông nghiệp khác vàtoàn bộ nền kinh tế

b Thách thức đối với ngành lúa gạo

Hiện nay, ngành lúa gạo Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều tháchthức do những đặc điểm riêng của mình Cụ thể là:

Trang 30

Thứ nhất, quy mô sản xuất lúa gạo nói riêng và nông nghiệp nói chung

ở Việt Nam rất nhỏ Theo số liệu của Tổng cục thống kê (2012), năm 2011Việt Nam có 8,8 triệu hộ nông dân, trong đó 53% hộ nông dân có đất canh tácdưới 0,5 ha, và 30,4% số hộ có đất canh tác từ 0,5 đến dưới 2 ha Riêng vềtrồng lúa, 85% hộ trồng lúa có diện tích sản xuất dưới 0,5ha (Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn 2015) Quy mô nhỏ khiến khó cải thiện được năngsuất và thu nhập của người nông dân Ước tính với diện tích 0,5 ha một hộ giađình chỉ có thể đạt thu nhập trung bình là 3,9 triệu đồng/người/năm (tỉnh AnGiang, năm 2013), thấp hơn mức chuẩn nghèo nông thôn (1) Đã bắt đầu xuấthiện hiện tượng nông dân bỏ nghề trồng lúa để kiếm việc làm khác cho thunhập cao hơn trên diện rộng (Nguyễn Thế Tràm 2015)

Thứ hai, hiện tượng biến đổi khí hậu đã tác động nặng nề và ngày càng

mạnh hơn đến sản xuất lúa gạo do nước biển dâng, hạn hán và lũ lụt Trongnửa đầu năm 2016, lần đầu tiên sản xuất nông nghiệp của Việt Nam tăngtrưởng âm kể từ khi đổi mới Ngoài lý do thảm họa môi trường do nhà máythép Formosa gây ra ở Hà Tĩnh, ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long vàhạn hán ở miền Trung và Tây Nguyên là nguyên nhân trực tiếp gây ra điềunày Hơn nữa, nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp đang giảm dần do cácnước thượng nguồn xây đập thủy điện Vấn đề thiếu nước có ảnh hưởng lớnđối với đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của Việt Nam 62% lượng nướccủa Việt Nam được sản sinh từ nước ngoài Riêng hệ thống sông Cửu Longcon số này là 81% (2)

Thứ ba, sản xuất lúa gạo Việt Nam đang chú trọng về lượng, chưa chú

trọng về chất, do đó năng suất lao động thấp Nhiều hộ nông dân trồng giốngIR50404, một giống lúa có sản lượng cao nhưng chất lượng thấp Họ trồng

1 Ấp Bắc, “Người trồng lúa nếu lãi 50% vẫn nghèo”, xem ngày 9/11/2016 tại

Trang 31

giống này cũng là vì chi phí sản xuất thấp, tỷ lệ thu hồi sau xay xát cao hơn 1-2%

so với các loại lúa khác Nhiều khi do nhu cầu dễ dãi của một số thị trường xuấtkhẩu, nhất là thị trường Trung Quốc, gạo IR50404 vẫn bán được giá tốt và chỉthấp hơn một mức nhỏ so với gạo thơm hạt dài (Nguyễn et al 2013)

Thứ tư, các nhà sản xuất lúa gạo đang sử dụng quá nhiều loại giống

khác nhau với chất lượng khác nhau Viện lúa Đồng bằng Sông Cửu Long chobiết họ đã lai tạo ra 161 giống lúa khác nhau và nông dân thực tế sử dụng mấychục loại giống khác nhau Thực tế, trong một vụ nông dân ở đồng bằng sôngCửu Long sử dụng 45 - 50 giống lúa khác nhau Tuy giống lúa thơm ngàycàng được sử dụng nhiều hơn, vẫn có quá nhiều loại giống được sử dụng vàcho ra các loại gạo có chất lượng rất khác nhau Điều này là khác biệt vớiThái Lan nơi nông dân phần lớn chỉ trồng 3 loại lúa thơm có chất lượng khátương đồng Do đó chất lượng gạo của Việt Nam thấp và không đồng đều,nhiều giống gạo trộn lẫn, kích thước và chất lượng không đồng nhất Gạo xuấtkhẩu của Việt Nam thường có nhiều giống gạo trộn lẫn, kích thước và chấtlượng không đồng nhất Do đó, giá gạo của Việt Nam trên thị trường thế giớiluôn thấp hơn giá gạo của Thái Lan

Thứ năm, sản xuất lúa gạo ở Việt Nam sử dụng rất nhiều phân bón và

thuốc trừ sâu Đồng thời, cường độ canh tác cao, từ 2 đến 3 vụ một năm.Nguy cơ suy thoái đất và ô nhiễm môi trường là rất lớn Tính bền vững củasản xuất lúa gạo đang là một câu hỏi lớn Hiện nay, nhiều nguồn nước ở nôngthôn đã bị ô nhiễm khiến cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm cả trồng lúa, bịthiệt hại đáng kể

e Cơ cấu giống lúa

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các giống lúa do ViệtNam chọn tạo đã được chuyển giao và ứng dụng trên phạm vi cả nước đạt 4,6triệu ha, chiếm 59% diện tích lúa cả nước

Trang 32

Bảng 1.1 Các giống lúa được triển khai tại các vùng ở nước ta (2018)

Đồng bằng sông OM 5451, OM 6162, OM 576, các giống lúa

Cửu Long

24, OM 18, OM 9577

2 Nam Trung bộ IR 17494; Khang dân 18; MTL 48; TH 85; Ai

32; TH 330; OM 576; OMCS 96; TH 6; TH 41

San ưu 63; Khang dân 18; IR 17494; IR 1820;

3 Bắc Trung bộ IR 38; X 21; X 23; Nhị ưu 63 và 838; Nếp Iri

352; Q5, Bắc thơm, Đài thơm

Khang dân 18; IR 8423; Thiên ưu 8, Nhị ưu

4 Đồng bằng Bắc bộ 838; Bao thai; San ưu 63; Q 5; Nhị ưu 63; Nếp

Iri 352; BC 15; LC 212; LC 25; J 02; BắcThơm; Đài Thơm;

(Nguồn: Báo cáo cơ cấu giống lúa được triển khai tại các địa phương năm

và 30,4% số hộ có đất canh tác từ 0,5 đến dưới 2 ha Riêng về trồng lúa, 85%

hộ trồng lúa có diện tích sản xuất dưới 0,5ha (Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn 2015) Như vậy, có rất nhiều nhà sản xuất nhỏ lẻ Do hạ tầng kémphát triển và sản lượng nhỏ, họ thường gặp bất lợi trong việc tiếp thị sản phẩmcủa mình Chúng ta có thể hiểu tại sao hộ nông dân thường chịu nhiều rủi ro

Trang 33

Bên cạnh các hộ gia đình, một số công ty cũng trực tiếp tham gia trồnglúa hoặc hợp tác với các hộ gia đình trồng lúa để tạo nguồn cung cấp lúa gạocho mình Nhiều mô hình liên kết giữa công ty thương mại và nông dân đãhình thành và đang mở rộng, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long Các môhình hợp tác, liên kết phổ biến là: (i) doanh nghiệp cung cấp giống, vật tư,hướng dẫn kỹ thuật và bao tiêu sản phẩn; (ii) doanh nghiệp và nông dân thỏathuận tiêu thụ lúa gạo, nông dân tự lo vật tư và lựa chọn giống.

Hiện nay việc liên kết giữa các công ty và người nông dân để hìnhthành cánh đồng lớn là một hình thức tổ chức sản xuất có lợi cho các bên.Việc tham gia cánh đồng một giống giúp nông dân cắt giảm chi phí sản xuất,

có nguồn cung nguyên vật liệu chất lượng tốt và có sự đảm bảo về tiêu thụ sảnphẩm với mức giá hợp lý hơn Tuy nhiên, mô hình cánh đồng lớn này vẫn là

số ít so với phương thức canh tác hộ đơn lẻ phổ biến trên toàn quốc

Hợp tác xã trồng lúa vẫn tồn tại với số lượng nhỏ hơn rất nhiều so vớithời kỳ kế hoạch hóa tập trung Mô hình hợp tác xã hiện nay đã thay đổi cơbản so với trước đây, thể hiện nhu cầu hợp tác của nông dân để khắc phục cáckhó khăn của hộ nông dân riêng lẻ Tuy nhiên, các hợp tác xã vẫn chưa đủ lớn

về phạm vi, quy mô và đủ mạnh trong việc đại diện, bảo vệ quyền lợi củangười nông dân trong chuỗi giá trị lúa gạo Một số hợp tác xã đã đổi mới cáchình thức kinh doanh và đạt được hiệu quả cao nhưng vẫn là số nhỏ trong cấutrúc thị trường lúa gạo

- Thu mua và chế biến

Sản xuất lúa gạo thương mại của Việt Nam chủ yếu tập trung ở vùng đồngbằng sông Cửu Long nơi giao thông có nhiều khó khăn do nhiều kênh, rạch vàsông ngòi Do đặc điểm tự nhiên này, nông dân trồng lúa phải phụ thuộc vào cácthương lái vì họ có phương tiện vận tải đường thủy lớn để thu gom lúa về cácnhà máy xay xát, chế biến Một cách tự nhiên, việc thu mua lúa gạo của thươnglái có tính chất độc quyền và người nông dân gặp bất lợi trong

Trang 34

thương lượng giá cả Bên cạnh đó, giữa thương lái và nông dân còn có quan

hệ tín dụng trong đó nông dân phụ thuộc vào nguồn cung cấp vật tư nôngnghiệp từ thương lái Do đó, việc nông dân bị ép giá khi mặt bằng giá giảm vàkhông được hưởng lợi từ giá lúa tăng là chuyện dễ hiểu Việc lựa chọn giốnglúa cũng phụ thuộc vào việc thương lái chấp nhận mua giống lúa nào

Đối với một số hộ trồng lúa có thỏa thuận, liên kết với các công tythương mại, họ sẽ bán lúa cho các công ty theo thỏa thuận và giá thị trường tạithời điểm bán Đối với các hộ nông dân có liên kết với doanh nghiệp, việc thumua lúa gạo được thực hiện thông qua hợp đồng nông sản (doanh nghiệp đầu

tư vùng lúa chuyên canh - xuất khẩu) với các hình thức: (i) hộ sản xuất sửdụng giống, phân bón và tuân thủ qui trình sản xuất của doanh nghiệp hoặc(ii) doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm, nông dân tự lựa chọn kỹthuật sản xuất Chính quyền địa phương đóng vai trò phổ biến thông tin, vậnđộng tham gia cơ chế hợp tác và trung gian giải quyết các vấn đề phát sinh.Theo hình thức này, doanh nghiệp cam kết thu mua lúa với mức giá cao hơnmột mức nhất định so với giá thị trường Thời điểm thu hoạch và mức giáthỏa thuận được thống nhất trước giữa hai bên Sau khi thu mua, doanhnghiệp sẽ trừ các khoản tạm ứng trước và thanh toán phần tiền còn lại TạiĐBSCL, mô hình cánh đồng lớn (CĐL) của Công ty Bảo vệ Thực vật AnGiang là mô hình liên kết chuỗi giá trị tương đối hoàn chỉnh, cho phép ngườidân được quyền đưa ra những lựa chọn có lợi nhất cho mình Công ty chophép người dân được lựa chọn hoặc là bán luôn cho công ty, hoặc được ký gửitrong kho của doanh nghiệp để chờ khi nào giá lúa lên có thể bán Công tycũng cho phép nông dân bán lúa ra ngoài thị trường nếu như giá thị trườngcao hơn giá thu mua của công ty

Tuy nhiên, phần lớn các hộ nông dân không tham gia thỏa thuận, liên kếtvới công ty thương mại và bán lúa cho thương lái Hầu hết các hộ khi thu hoạch

Trang 35

kênh môi giới hoặc đài báo Thông thường, họ phải gặt và bán lúa trong một khung thời gian ngắn do tác động của thời tiết và thiếu kho chứa đủ lớn và đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật Điều này càng khiến họ phụ thuộc hơn vào thương lái.

Trong toàn bộ chuỗi giá trị xuất khẩu, thương lái là tác nhân đóng vaitrò rất quan trọng trong việc kết nối từ người sản xuất lúa đến nhà xuất khẩu,

và có hoạt động trải dài nhất trong chuỗi Hình 1.3 cho thấy có đến 93% lúagạo tại ĐBSCL được thu gom bởi các thương lái Sau đó, các thương lái sẽbán đứt khoảng 13% lúa cho các nhà máy xay xát; 69% sẽ được họ mang đixay xát rồi bán cho các nhà máy lau bóng/xuất khẩu; 11% số lúa được thươnglái bán cho các nhà bán buôn/bán lẻ trong nước sau khi đã được xay xát

Hình 1.2 Sơ đồ chuỗi giá trị lúa gạo ĐBSCL

Nguồn: Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Sơn (2011)

Ở công đoạn xay xát có hai nhóm nhà máy, thứ nhất là xát gạo và thứhai là đánh bóng gạo Các nhà máy xay xát phần lớn đều được bố trí gần nơisản xuất và dọc theo các tuyến đường thủy để thuận tiện cho việc vận chuyểnlúa gạo Theo quy định của Nghị định 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuấtkhẩu gạo, các công ty xuất khẩu gạo phải có nhà máy xay xát Do đó, nhiều

Trang 36

công ty xuất khẩu gạo đã đầu tư nhiều hơn cho hệ thống sấy và xay xát Nhìnchung số lượng nhà máy xay xát ở là khá lớn và thường hoạt động dưới côngsuất thiết kế (Nguyễn Công Thành và cộng sự 2013).

c)Phân phối trong nước

Phân phối gạo trên thị trường trong nước vẫn chủ yếu do các cá nhân

và doanh nghiệp tư nhân trong nước đảm nhiệm Bên cạnh một lực lượng bán

lẻ gạo ở quy mô cá nhân hoặc hộ gia đình, nhiều công ty tư nhân trong nướctham gia thị trường này Tìm kiếm nhanh trên trang vàng(www.trangvangvietnam.com) cho thấy riêng thành phố Hồ Chí Minh có hơn

80 công ty hoạt động trong lĩnh vực gạo

Bán lẻ truyền thống vẫn là kênh phân phối chính với 84% lượng gạotiêu thụ trong khi bán lẻ hiện đại (siêu thị, cửa hành tiện ích) chỉ chiếm chưađến 1% lượng gạo (Hình 1.4) Có nhiều lý do giải thích điều này, ví dụ nhưgiá, khoảng cách đến siêu thị, số lựa chọn Một lý do khác là siêu thị có xuhướng đòi tăng chiết khấu hoặc chỉ bán loại gạo có chiết khấu cao, hạn chếlựa chọn của người tiêu dùng trong siêu thị

Hình 1.3 Cơ cấu thị trường phân phối gạo nội địa

Nguồn: Đào Thế Anh và cộng sự (2014)

Ngoài chi phí cao, thuế VAT cũng là một khó khăn cho kênh phân phối

Trang 37

nộp 5% thuế VAT trong khi các kênh phân phối truyền thống nằm ngoài khuvực kinh tế chính thức và không phải nộp mức thuế này.

d) Thị trường xuất khẩu gạo

Trước khi có Nghị định 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo,

cả nước có hơn 200 doanh nghiệp xuất khẩu gạo Hiện tại số lượng doanhnghiệp tham gia xuất khẩu gạo vào khoảng hơn 100 đơn vị3 Mặc dù doanhnghiệp tư nhân ngày càng tham gia nhiều hơn vào thị trường, xuất khẩu gạotập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp nhà nước như VINAFOOD I,VINAFOOD II và các doanh nghiệp nhà nước cấp địa phương, ví dụ nhưCông ty TNHH một thành viên Cờ Đỏ, tỉnh Long An Năm 2008, 10 doanhnghiệp xuất khẩu lớn nhất chiếm 70% tổng lượng gạo xuất khẩu của ViệtNam Riêng VINAFOOD I và VINAFOOD II đã chiếm tỷ trọng khoảng 40%,

và cao hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp còn lại (Oxfam 2013)

Các doanh nghiệp nhà nước xuất khẩu gạo chiếm tỷ trọng lớn chủ yếu

là nhờ các hợp đồng chính phủ hay còn gọi là các hợp đồng tập trung Cáchợp đồng này thường được giao cho Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA)quản lý và phân bổ cho các thành viên của hiệp hội Trong khi đó các DNNNnhư VINAFOOD I và VINAFOOD II là những doanh nghiệp đứng đầu VFA

và thông thường lãnh đạo của các công ty này cũng là chủ tịch của VFA Cácdoanh nghiệp này chủ yếu tham gia các khâu cuối của hoạt động xuất khẩu vàdựa nhiều vào hợp đồng liên chính phủ (Bộ NN-PTNT, 2015) Mặc dù nhữngnăm gần đây vai trò của các hợp đồng tập trung ngày càng giảm, các hợpđồng này là chỗ dựa quan trọng để các doanh nghiệp này chiếm được ưu thếtrên thị trường xuất khẩu gạo

1.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Thực chất mô hình cánh đồng mẫu lớn đã được áp dụng ở Việt namdưới nhiều tiếp cận, cách gọi khác nhau Nhưng trong sản xuất lúa, cánh đồng

3 Thời báo kinh tế Sài Gòn, “37 doanh nghiệp có thể sẽ không được xuất khẩu gạo”, xem tại

http://www.thesaigontimes.vn/130469/37-doanh-nghiep-co-the-se-khong-duoc-xuat-khau-gao.html

Trang 38

mẫu lớn được thực hiện nổi bật là Công ty Bảo vệ thực vật An Giang TheoPGS.TS Vũ Trọng Khải, vụ Đông Xuân 2010 – 2011, 1.200 ha của hơn 400

hộ nông dân ở huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã trở thành vùng sản xuấtlúa nguyên liệu cho nhà máy chế biến của công ty cổ phần BVTV An Giang,đạt năng suất 9 – 11 tấn/ ha gieo trồng, với giá thành sản xuất: 2.200 đ/kg lúa,giá bán cho nhà máy là 6.000đ/kg Nông dân lãi từ 38 triệu đến 44 triệu đồng/

ha gieo trồng Cũng cần phải nói rằng, gạo xuất khẩu của Việt Nam hiện nayđược chế biến theo quy trình ngược: xay lúa thành gạo rồi mới sấy gạo Do

đó, tỷ lệ gạo/ lúa chỉ đạt 50 – 52% Trong khi đó theo quy trình thuận: sấy lúarồi mới xay xát thành gạo như nhà máy của công ty đã làm, tỷ lệ gạo/lúa đạt

62 – 64% Trong các lĩnh vực sản xuất khác, như Thủy sản, mô hình cánhđồng mẫu lớn cũng đã được nhiều công ty áp dụng trong liên kết với nông dântrong sản xuất, cung ứng và quản lí chất lượng sản phẩm Trong chăn nuôi,những nguyên tắc của cánh đồng lớn, cũng được áp dụng để các chủ trang trạicùng chăn nuôi theo một qui trình sản xuất chung, có kế hoạch bán sản phẩm,chất lượng sản phẩm đồng đều như CP đã làm Trong khi xây dựng nhữngcánh đồng lớn, liên kết giữa nông dân để bền vững và thành công cần chú ýđến các khía cạnh sau: i) những thành viên trong nhóm liên kết cần có sựtương đồng về nguồn lực sản xuất, kiến thức và định hướng thị trường; ii) sựtin tưởng và vốn xã hội từ bên trong; iii) thị trường có nhu cầu về số lượng vàchất lượng của sản phẩm mà cá nhân không thể đáp ứng được; iv) có tiềmnăng kinh tế quy mô trong sản xuất, chế biến, marketing và mua sắm; v) lợiích do liên kết mang lại lớn hơn chi phí bỏ ra, bao gồm cả thời gian đầu tư Đểliên kết nông dân - doanh nghiệp hiệu quả, cần phải đáp ứng được những yếu

tố sau đây: i) mối quan hệ có lợi cho cả đôi bên: sự tin tưởng, chia sẻ tầm nhìndài hạn và sự tôn trọng lẫn nhau là cơ sở cho sự bền vững; ii) chia sẻ, chuyểngiao kiến thức: thông tin minh bạch và chia sẻ kịp thời giúp các bên phản ứng

Trang 39

lượng: các bên hiểu đúng và thực hiện tốt tiêu chuẩn chất lượng của sảnphẩm Doanh nghiệp cần phải giúp đỡ nông dân thực hiện những tiêu chuẩnnày; iv) cung cấp dịch vụ đi kèm: thường xuyên và có chất lượng không thuphí dịch vụ nhằm đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng là đặc điểm quan trọng củaliên kết hiệu quả; v) luân chuyển tài chính: doanh nghiệp hỗ trợ nông dân vềmặt tài chính dưới nhiều dạng khác nhau để hỗ trợ hoạt động sản xuất củanông dân.

Mô hình cánh đồng một giống, hay cánh đồng mẫu lớn là cụ thể hóachủ trương xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn tiêu thụ sản phẩmvới quy mô nhỏ phù hợp với vùng Trung du, miền núi Ban đầu Thủ tướngchính phủ ban hành Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủtướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoáthông qua hợp đồng Năm 2013, Chính phủ tiếp tục triển khai Quyết định số62/2013/QĐ-TTg ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ vềchính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụnông sản, xây dựng cánh đồng lớn và Ngày 5/7/2018, Chính phủ đã ban hànhNghị định số 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác,liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Theo Nghị định,hợp tác, liên kết gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp (liên kết) làviệc thỏa thuận, tự nguyện cùng đầu tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nôngnghiệp của nông dân, cá nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp (gọi chung là các bêntham gia liên kết) để nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm nôngnghiệp

Xây dựng cánh đồng lớn cũng là một giải pháp quan trọng lâu dài gópphần tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bềnvững được nêu trong Nghị quyết số 21/2011/QH13 ngày 26 tháng 11 năm

2011 của Quốc hội Vì vậy, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủtrương mở rộng phong trào xây dựng “Cánh đồng lớn” trở đang trở thành

Trang 40

phong trào triển khai trên cả nước, không chỉ trên cây lúa mà các cây trồngkhác theo Thông tư số 15/2014/TT-BNNPTNT ngày 29/4/2014 của Bộ trưởng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện chính sáchkhuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản,xây dựng cánh đồng lớn

Cánh đồng lớn hay cánh đồng một giống là cách thức tổ chức sản xuấttrên cơ sở hợp tác, liên kết giữa người nông dân với tổ chức đại diện của nôngdân trong sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản trên cùng địa bàn, cóquy mô ruộng đất lớn, với mục đích tạo ra sản lượng nông sản hàng hoá tậptrung, chất lượng cao, trở thành hàng hóa nông sản bán ra thị trường nhằmnâng cao hiệu quả sản xuất và giảm chi phí, tăng thu nhập cho nông dân

Tiếp cận về cánh đồng một giống thường được thực hiện bắt đầu bằngxác định các tiêu chí giống, tập quán canh tác, thời tiết, khí hậu và thị trườngyêu cầu hoặc chính phủ quy định như về chất lượng sản phẩm, môi trường, kỹthuật canh tác, kế hoạch sản xuất… để làm cơ sở xây dựng và nhân rộng môhình tạo tiền đề cho xây dựng mô hình cánh đồng lớn trong tương lai

Một số mô hình cánh đồng một giống đã được thực hiện tại các tỉnhphía Bắc và đã đạt được những thành công nhất định như: mô hình sản xuấtlúa ở Thái Bình, Nam Định, Hà Giang, Bắc Giang; mô hình cánh đồng mộtgiống khoai tây ở Bắc Giang, Bắc Ninh; mô hình cánh đồng một giống ngô ởThái Nguyên, Bắc Giang

Ở Thái Nguyên, mô hình cánh đồng một giống phát triển mạnh trongnhững năm trở lại đây Các mô hình được triển khai chủ yếu tập trung ở cácgiống lúa, ngô, khoai tây, sắn, đậu tương được triển khai trong toàn tỉnh.Hiện nay, mô hình cánh đồng một lúa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên phát triểnrất nhanh dựa trên những điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai, tập quán canhtác mà mỗi địa phương sẽ áp dụng mô hình cánh đồng một giống đối với

Ngày đăng: 03/10/2020, 15:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w