1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng chiến lược phát triển của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thanh bình BCA

120 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Chiến lược phát triển của một tổ chức là xâu chuỗi một loạt những hoạt động được thiết kế nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh lâu dài cho một tổ chức, doanh nghiệp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

LÊ MINH TU ẤN

THANH BÌNH - BCA

LU ẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Hà Nội - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

LÊ MINH TU ẤN

Hà N ội - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự

hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Thu Hoài

Các số liệu và trích dẫn cũng như những kết luận khoa học của luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và khoảng trống trong nghiên cứu 6

1.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6

1.1.2 Các kết quả nghiên cứu chủ yếu và khoảng trống trong nghiên cứu 14

1.2 Cơ sơ lý luận về xây dựng chiến lược phát triển của Doanh nghiệp 15

1.2.1 Chiến lược và cấp độ của chiến lược 15

1.2.2 Quy trình xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp 18

1.2.3 Các nhân tố tác động đến quá trình xây dựng chiến lược của doanh nghiệp 39

1.2.4 Các công cụ phân tích và lựa chọn chiến lược 42

1.3 Kinh nghiệm xây dựng chiến lược phát triển tại một số doanh nghiệp 49

1.3.1 Chiến lược kinh doanh của Công ty xăng dầu Quân đội 49

1.3.2 Chiến lược phát triển của Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel 51

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Công ty TNHH một thành viên Thanh Bình – BCA. 54

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN 55

2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu và xử lí số liệu 55

2.1.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 55

2.1.2 Các bước thực hiện và thu thập số liệu 55

2.1.3 Phương pháp xử lý số liệu 56

Trang 5

2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả, so sánh 57

Chương 3 CÁC CĂN CỨ XÂY DỰNG VÀ ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC 59

3.1 Giới thiệu chung về công ty TNHH MTV Thanh Bình – BCA 59

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Thanh Bình – BCA 59

3.1.2 Mục tiêu hoạt động 60

3.1.3 N gành nghề kinh doanh 60

3.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy 61

3.2 Phân tích quy trình xây dựng chiến lược tại Công ty TNHH MTV Thanh Bình 63

3.2.1 Xác định tầm nhìn, sứ mệnh và mục tiêu chiến lược của Doanh nghiệp 63

3.2.2 Phân tích môi trường bên ngoài doanh nghiệp 64

3.2.3 Phân tích môi trường bên trong nội bộ doanh nghiệp 76

3.2.4 Lựa chọn và quyết định chiến lược 83

3.2.5 Công tác triển khai, thực hiện chiến lược 85

3.2.6 Công tác kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh chiến lược 89

3.3 Đánh giá thành tựu, hạn chế trong việc xây dựng chiến lược tại công ty TNHH một thành viên Thanh Bình- BCA 91

3.3.1 Những điểm mạnh 91

3.3.2 Những hạn chế 92

3.3.3 Nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế nêu trên 92

Chương 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN TẠI CÔNG TY TNHH MTV THANH BÌNH – BCA ĐẾN GIAI ĐOẠN 2025 94

4.1 Định hướng phát triển trong ngành của công ty 94

4.1.1 Định hướng phát triển 94

4.1.2 Mục tiêu cụ thể của công ty 95

4.2 Cơ hội, thách thức của công ty trong thời gian tới 96

4.2.1 Những cơ hội 96

4.2.2 Những thách thức 96

4.3 Giải pháp để hoàn thiện mục tiêu, chiến lược phát triển của công ty 97

Trang 6

4.3.2 Phát triển nguồn nhân lực 100

4.3.3 Thực hiện chiến lược phát triển sản phẩm 106

KẾT LUẬN 108

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 109

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 DN Doanh nghiệp

2 PGS,TS Phó giáo sư, Tiến sỹ

3 SBU Strategic Business Unit ( đơn vị kinh doanh chiến lược)

4 TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 3.1 Cơ cấu lao động tại Công ty TNHH MTV Thanh

Bình – BCA

75

2 Bảng 3.2 Trang thiết bị nhà máy sản xuất E111 77

3 Bảng 3.3 Trang thiết bị tại nhà máy sản xuất E112 78

4 Bảng 3.4 Danh mục các sản phẩm, dịch vụ trực tiếp phục vụ

quốc phòng, an ninh trong giai đoạn 2016 - 2018

79

5 Bảng 3.5 Mô hình phân tích SWOT đối với công ty 82

6 Bảng 4.1 Giá trị doanh thu dự kiến giai đoạn 2019 – 2021 94

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH

Hình 1.5 Các chiến lược kinh doanh theo ma trận Mc.Kinsey 47

Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy hiện nay của Công ty TNHH MTV

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chiến lược phát triển của một tổ chức là xâu chuỗi một loạt những hoạt động được thiết kế nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh lâu dài cho một tổ chức, doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh của mình Một chiến lược tốt sẽ giúp doanh nghiệp xác định được chính xác mục tiêu cần đạt từ đó hoạch định được con đường, phương thức tổ chức và định hướng phân bổ nguồn lực hợp

lý để đạt được mục tiêu lựa chọn

Thực tiễn cũng đã chứng minh, có rất nhiều tổ chức, doanh nghiệp nhờ

có chiến lược phát triển đúng đắn mà đạt được nhiều thành công, vượt qua đối thủ cạnh tranh và tạo vị thế cho minh trên thương trường

Công ty TNHH MTV Thanh Bình – BCA là doanh nghiệp trực tiếp phục

vụ quốc phòng, an ninh, Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, do Bộ Công an quyết định thành lập, Cục Công nghiệp An ninh – Bộ Công An trực tiếp quản

lý, hoạt động theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Với định hướng chiến lược trong vòng 5 năm Công ty phấn đấu trở thành một đơn vị chuyên nghiệp hàng đầu trong các lĩnh vực hoạt động: sản xuất, lắp ráp thiết bị chuyên dụng, cơ khí, vũ khí và công cụ hỗ trợ; nghiên cứu, ứng dụng, triển khai thi công xây lắp, phát triển công nghệ, sản xuất lắp ráp các sản phẩm thuộc lĩnh vực Điện, Điện tử, Viễn thông, Tin học nhằm đáp ứng yêu cầu trang bị phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, theo quy định của nhà nước và Bộ Công an

Hoạt động và phát triển theo tiêu chí “thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, đảm bảo chất lượng sản phẩm và dịch vụ đã cung cấp”, với đội ngũ cán bộ có năng lực và kinh nghiệm, Công ty TNHH MTV Thanh Bình - BCA đã trở thành một trong những đơn vị có uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu

Trang 11

sản xuất và ứng dụng các công nghệ tiên tiến, và đã được Lãnh đạo Bộ, các đơn vị địa phương ghi nhận

Tuy nhiên, do mới được thành lập, Công ty TNHH MTV Thanh Bình - BCA mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn như: Nguồn vốn lưu động ít, khấu hao tài sản lớn (do vốn cố định chủ yếu là nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị

cố định) Nguồn nhân lực mỏng, hạn chế cả về số lượng và chất lượng, hầu hết cán bộ tham gia quản lý và sản xuất kinh doanh đều là các đồng chí từ các Đơn vị trong ngành điều động về Công ty, kiến thức quản lý kinh tế hạn chế, nghiệp vụ kinh doanh không có, không chuyên môn sâu về hoạt động thị trường, chiến lược phát triển chưa rõ ràng, sức cạnh tranh còn yếu với các doanh nghiệp bên ngoài về các lĩnh vực sản phẩm cung ứng thị trường dân sự…qua nhiều lần thay đổi tổ chức, qua nhiều thế hệ lãnh đạo Cùng với tiến trình hội nhập, gia nhập các tổ chức thương mại khu vực và quốc tế của Việt

Nam, thị trường kinh doanh các sản phẩm đặc thù trong và ngoài ngành có sự cạnh tranh gay gắt, bình đẳng từ các doanh nghiệp trong nước và từ các thị trường có nền kỹ thuật tiên tiến trên thế giới

Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết đó, đặt ra cho Công ty TNHH MTV Thanh Bình - BCA cần phải xây dựng và hoàn thiện chiến lược phát triển có tính dài hạn, làm kim chỉ nam cho hoạt động phát triển, gắn với thị trường tiêu thụ để tìm ra cơ hội kinh doanh cho mình, giúp cho Doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn nữa

Do vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Xây dựng chiến lược phát triển của Công ty TNHH MTV Thanh Bình – BCA” làm đề tài nghiên cứu và là luận văn tốt nghiệp

Câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: Công ty TNHH MTV Thanh Bình -

BCA cần làm gì để xây dựng cho mình một chiến lược phát triển phù hợp giai đoạn từ nay đến năm 2025?

Trang 12

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm xây dựng chiến lược phát triển

và các giải pháp xây dựng, thực hiện chiến lược phát triển tại Công ty TNHH MTV Thanh Bình - BCA trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về chiến lược, xây dựng chiến lược phát triển của Công ty

- Phân tích, đánh giá thực trạng về hoạt động kinh doanh và môi trường kinh doanh của Công ty TNHH MTV Thanh Bình - BCA

- Đề xuất xây dựng chiến lược và giải pháp thực hiện chiến lược phát triển Công ty TNHH MTV Thanh Bình - BCA

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại của Công ty TNHH MTV Thanh Bình - BCA trong mối quan hệ với các yếu tố nội tại và tác động của môi trường bên ngoài đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

Trang 13

được chiến lược phát triển, nên luận văn tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu các hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại, từ đó xây dựng chiến lược phát triển cho Công ty TNHH MTV Thanh Bình - BCA trong thời gian tới năm 2025 (chưa tập trung vào nội dung đánh giá thực hiện chiến lược phát triển)

4 Những đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu giúp luận văn sẽ có những đóng góp tích cực cho hoạt động thực tiễn của Công ty TNHH MTV Thanh Bình - BCA Cụ thể:

- Nghiên cứu giúp Công ty xác định rõ điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng chiến lược phát triển tại Công ty TNHH MTV Thanh Bình - BCA

- Kết quả nghiên cứu cũng mang lại cái nhìn tổng thể về hoạt động kinh doanh; từ đó giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về nhu cầu của khách hàng để vạch các chiến lược, phương hướng phát triển tối ưu

- Nội dung nghiên cứu trong luận văn có thể làm cơ sở cho nhu cầu nghiên cứu tương tự phục vụ hoạt động kinh doanh tương lai

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu và danh mục các chữ viết tắt, luận văn được kết cấu gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn

về xây dựng chiến lược phát triển của doanh nghiệp

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng xây dựng chiến lược phát triển của Công ty TNHH MTV Thanh Bình - BCA

Chương 4: Giải pháp xây dựng Chiến lược phát triển tại Công ty MTV ThanhBình - BCA

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA

DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và khoảng trống trong nghiên cứu

1.1.1.1 Các nghiên cứu về khái niệm chiến lược

a, Các nghiên cứu ngoài nước

Ngay từ năm 1932, Carl Von Clausewitz (1832), trong cuốn sách nổi

tiếng của mình “Vom Kriege - Trong cuộc chiến” đã định nghĩa chiến lược như là một cách thức để đánh trận và kết thúc cuộc chiến Cuối thế kỷ 19, với

sự phát triển khá phức tạp của xã hội, quan niệm về chiến lược được mở rộng

và bắt đầu được sử dụng trong quản lý và chính sách quốc gia Đến thế kỷ 20, các thuật ngữ “Chiến lược chính” (grand strategy) và “Chiến lược được ưu tiên” (higher strategy) được đề cập đến như là nghệ thuật sử dụng các nguồn tài nguyên cho sự phát triển và để đạt được các mục tiêu cụ thể của quốc gia Michael Porter (1980), trong tác phẩm tiên phong xuất bản năm 1980

“Chiến lược cạnh tranh” của bộ ba cuốn sách: Chiến lược cạnh tranh, Lợi thế

cạnh tranh và Lợi thế cạnh tranh quốc gia, đã chỉ ra phương pháp định nghĩa

lợi thế cạnh tranh theo chi phí và giá tương đối và trình bày một góc nhìn hoàn toàn mới về cách thức tạo và phân chia lợi nhuận Đặc biệt ông đã giới thiệu ba chiến lược cạnh tranh phổ quát là: chi phí thấp, khác biệt hóa và

trọng tâm, chính điều đó đã biến định vị chiến lược trở thành một hoạt động

có cấu trúc

Trong tác phẩm Lợi thế cạnh tranh (competitive advantage), Porter đã bổ sung cho tác phẩm tiên phong “Chiến lược cạnh tranh” nói trên Trong cuốn

Trang 16

sách này, Michael E Porter đã nghiên cứu và khám phá những cơ sở cốt lõi

của lợi thế cạnh tranh của từng doanh nghiệp Lợi thế cạnh tranh biến chiến lược từ một tầm nhìn mang tính vĩ mô trở thành một cấu trúc nhất quán của

những hoạt động bên trong - một phần quan trọng của tư tưởng kinh doanh

quốc tế hiện nay Cấu trúc đó cung cấp những công cụ hữu hiệu để hiểu được ảnh hưởng của chi phí và vị thế tương đối về chi phí của công ty Chuỗi giá trị

của Porter giúp các nhà quản lý phân biệt được những nguồn lực tiềm ẩn của giá trị khách hàng (buyer value) Đó là điều có thể giúp chúng ta đưa ra một

mức giá cao, và đó cũng là lý do tại sao sản phẩm hay dịch vụ này lại có thể thay thế cho sản phẩm, dịch vụ khác

Theo Johnson và Scholes (2000), trong “Chiến lược cạnh tranh của một

tổ chức” thì trong một tổ chức hay một doanh nghiệp: “Chiến lược là việc định hướng và xác định phạm vi hoạt động của một tổ chức trong dài hạn, ở

đó tổ chức phải giành được lợi thế thông qua việc kết hợp các nguồn lực trong

một môi trường nhiều thử thách, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và đáp ứng mong muốn của các tác nhân có liên quan đến tổ chức” Kenichi Ohmae (2013) trong “Tư duy của chiến lược gia” Nxb Lao động

Xã hội, đã xác định mục tiêu của chiến lược là đem lại những điều thuận lợi cho bản thân, tức là chọn đúng nơi để đánh, chọn đúng thời điểm để tiến công hay rút lui, đánh giá và tái đánh giá khi tình huống thay đổi Từ đó, tác giả đưa ra kết luận rằng, phân tích quá trình tư duy biến một vấn đề phức tạp thành nhiều phần nhỏ hơn để hiểu hơn về nó, là bước khởi đầu cốt lõi của tư duy chiến lược, thói quen phân tích sẽ giúp tư duy trở lên linh hoạt và có thể đưa ra phản ứng thực tế trước những tình huống liên tục thay đổi

Joel Ross & Michael Kami (2014), trong bài viết “Thiếu vắng một chiến lược, một tổ chức giống như một con thuyền không có bánh lái” thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển quản trị, đã đề cập đến vai trò của chiến lược

Trang 17

phát triển đối với một tổ chức và đặc biệt là đối với một doanh nghiệp Theo

đó, các doanh nghiệp hiện nay đang cạnh tranh trong một môi trường toàn cầu hóa đầy biến động đòi hỏi phải có một chiến lược phát triển phù hợp để khai thác một cách có hiệu quả những cơ hội và xử lý thỏa đáng với những thách

thức đang đặt ra để bảo đảm đạt tới hiệu quả cao và sự phát triển bền vững Doanh nghiệp cần phải trả lời được các câu hỏi: những cơ hội nào nên được theo đuổi? những lĩnh vực mới nào nên được đầu tư, phát triển? làm gì để có

thể tận dụng và khai thác có hiệu quả những nguồn lực hiện có của công ty? làm gì để công ty có thể phát triển được những năng lực cạnh tranh bền vững trong các lĩnh vực hoạt động của mình và tạo ra sự cộng hưởng trong sự phát triển của toàn bộ tổ chức

b, Nhóm các công trình nghiên cú trong nước:

GS.TS Phan Huy Đường trong cuốn sách “Quản lý công” do Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội (2014, Tái bản: 2016) khi nghiên cứu về quản lý chiến lược trong một tổ chức đã xác định 3 bộ phận quan trọng nhất cấu thành một chiến lược gồm: Thứ nhất là hệ thống quan điểm cơ bản của chiến lược; Thứ hai là hệ thống mục tiêu chiến lược; Thứ ba là hệ thống các giải pháp chiến lược Theo đó:

 Hệ thống quan điểm cơ bản của chiến lược là việc xác định các quan điểm chủ đạo có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra bước ngoặt của con đường phát triển Các quan điểm này vừa có ý nghĩa chỉ đạo xây dựng chiến lược, vừa là tư tưởng và “linh hồn” của chiến lược mà trong từng phần nội dung của chiến lược phải thể hiện và quán triệt Hệ thống quan điểm thể hiện những nét khái quát đặc trưng nhất và có tính nguyên tắc về mô hình phát triển của tổ chức

 Hệ thống mục tiêu chiến lược là các mục tiêu gắn liền với việc giải quyết các vấn đề cơ bản của tổ chức, những mốc mới mà tổ chức cần phải đạt

Trang 18

tới trên con đường phát triển Những mục tiêu tổng quát bao trùm của chiến lược phải chứa đựng nhiều mục tiêu cụ thể

 Hệ thống các giải pháp chiến lược là việc thể hiện sự hướng dẫn về cách thức thực hiện các mục tiêu đề ra, chúng bao gồm các chính sách và biện pháp về cơ cấu và cơ chế vận hành của tổ chức, các giải pháp về khai thác huy động bổ sung và sử dụng hợp lý các nguồn lực phát triền Các giải pháp chính là sự thể hiện tính đột phá của chiến lược

PGS,TS Lê Thế Giới (2012), trong “Giới thiệu về quản trị chiến lược và tuyên bố sứ mệnh” Nhà xuất bản Đại học Đà Nẵng, đã có sự so sánh giữa chiến lược trong lĩnh vực quân sự và lĩnh vực kinh tế Theo đó:

 Trong quân sự, chiến lược dùng để chỉ kỹ năng quản trị để khai thác các lực lượng để đè bẹp đối phương và tạo dựng hệ thống thống trị toàn cục Luận điểm cơ bản của chiến lược là một bên đối phương có thể đè bẹp đối thủ

- thậm chí là đối thủ mạnh hơn, đông hơn - nếu họ có thể dẫn dắt thế trận và đưa đối thủ vào trận địa thuận lợi cho việc triển khai các khả năng của mình Trong bối cảnh cạnh tranh, thuật ngữ “trận địa” của chiến lược quân sự, có thể hiểu như là môi trường trong đó diễn ra hoạt động cạnh tranh

 Chiến lược của một tổ chức, cũng tương tự như chiến lược quân sự ở chỗ nó hướng đến việc đạt được sự phù hợp giữa các năng lực tạo sự khác biệt và môi trường bên ngoài mà tổ chức tham gia cạnh tranh Tuy nhiên, so với chiến lược quân sự, chiến luợc trong lĩnh vực kinh doanh phức tạp hơn Không giống như các xung đột quân sự, cạnh tranh trong kinh doanh không phải lúc nào cũng gây ra kết cục có kẻ thắng người thua Sự ganh đua trong ngành đôi khi có cơ hội để họ cải thiện các sức mạnh và kỹ năng của mình như những mầm mống cạnh tranh Giá trị của các năng lực tạo sự khác biệt đem đến lợi thế cạnh tranh cho tổ chức có thể giảm theo thời gian bởi sự thay đổi môi trường

Trang 19

PGS.TS Ngô Kim Thanh (2012) trong “Quản trị chiến lược” (Tài liệu dành cho đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và

vừa) đã nhấn mạnh vai trò của chiến lược phát triển đối với doanh nghiệp:

 Chiến lược đóng vai trò định hướng hoạt động trong dài hạn của doanh nghiệp và là cơ sở vững chắc cho việc triển khai các hoạt động tác nghiệp

 Chiến lược giúp cho doanh nghiệp nắm bắt và tận dụng các cơ hội kinh doanh, đồng thời có biện pháp chủ động đối phó với những nguy cơ và mối đe dọa trên thương trường

 Chiến lược góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tăng cường vị thế của doanh nghiệp đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển bền vững

 Chiến lược phát triển của tổ chức sẽ tạo ra các căn cứ vững chắc cho việc đề ra cách quyết định phù hợp với sự biến động của thị trường

Trong các giáo trình của các trường đại học kinh tế nước ta như: Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Tài chính, Đại học Đà Nẵng đều cho rằng:

 Chiến lược đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Trong thực tế có rất nhiều công ty nhờ có chiến lược phát triển đúng đắn mà đạt được nhiều thành công, vượt qua đối thủ cạnh tranh và tạo vị thế cho mình trên thương trường

 Chiến lược giúp doanh nghiệp linh hoạt và chủ động để thích ứng với những biến động của thị trường, đồng thời còn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động và phát triển theo đúng hướng

 Chiến lược giúp doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội cũng như các nguy cơ đối với sự phát triển nguồn lực của doanh nghiệp, khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực, phát huy sức mạnh của doanh nghiệp

 Chiến lược tạo ra một quỹ đạo hoạt động cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp liên kết được các cá nhân với các lợi ích khác cùng hướng tới

 một mục đích phát triển doanh nghiệp

Trang 20

 Chiến lược là công cụ cạnh tranh có hiệu quả của doanh nghiệp Trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế hiện nay đã tạo nên sự ảnh hưởng

và phụ thuộc qua lại lẫn nhau giữa các doanh nghiệp Chính quá trình đó đã tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trên thị trường

1.1.1.2 Các nghiên cứu về xây dựng chiến lược phát triển của doanh nghiệp

a) Các nghiên cứu ở nước ngoài

Fred David (2011) trong “Khái luận về quản trị chiến lược” cho rằng:

Quản trị chiến lược là một nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định đan chéo nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được

những mục tiêu đề ra Về thực chất, quản trị chiến lược là phương thức, cách

thức mà doanh nghiệp tổ chức triển khai chiến lược, bao gồm: Phân tích tình

thế hiện tại; Đánh giá các quyết định nhằm đưa chiến lược vào triển khai; Đánh giá hiệu quả thực thi; Điều chỉnh hoặc phát triển chiến lược khi cần thiết Quản trị chiến lược bao gồm tất cả các chức năng cơ bản của quản trị như: hoạch định, tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát

Peter Drucker (2013) trong “Quản trị trong thời kỳ khủng hoảng”, Nxb Lao động Xã hội, đã nêu lên vai trò của quản trị thời khủng hoảng là tập trung hoàn toàn vào các hành động, chiến lược và cơ hội, những điều các nhà quản trị

có thể làm, nên làm và phải làm trong những thời kỳ biến động, khủng hoảng Trong cuốn sách kinh điển này, Peter đã chỉ ra rằng, thời kỳ khủng hoảng là

một thời kỳ nguy hiểm, đáng lo ngại, nhưng lại là cơ hội tuyệt vời cho những ai

hiểu rõ nó, chấp nhận và khai phá những thực tế mà nó mang lại Trong thời kỳ này nếu không có những chiến lược cụ thể, những kế sách hành động rõ ràng, doanh nghiệp sẽ lao đao và có thể rơi vào tình trạng phá sản

Tổ chức giáo dục TOPICA trong bài giảng “Tổng quan về quản trị chiến lược của doanh nghiệp” cho rằng: Mô hình quy trình quản trị chiến lược tổng quát của doanh nghiệp bao gồm 3 giai đoạn: thiết lập, xây dựng (hoạch định) chiến lược, triển khai (thực thi) chiến lược và đánh giá chiến lược

Trang 21

 Giai đoạn hoạch định chiến lược, được hiểu là một quá trình thiết lập tầm nhìn, sứ mạng; thực hiện điều tra nghiên cứu để xác định các cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp; xây dựng các mục tiêu dài hạn và lựa chọn các phương án chiến lược để thực hiện các mục tiêu này

 Giai đoạn thực thi chiến lược: Triển khai chính là giai đoạn chuyển hóa các nội dung chiến lược thành hành động chiến lược Triển khai chiến lược bao gồm những công việc nhằm làm cho chiến lược được thực hiện và đạt được các mục tiêu của tổ chức

 Giai đoạn đánh giá chiến lược, bao gồm ba hoạt động chính: xem xét lại các yếu tố là cơ sở cho các chiến lược hiện tại; đo lường thành tích và thực hiện các hoạt động điều chỉnh

Frederick W.Gluck và cộng sự (1980) trong “Strategic Management for Competitive Advantage” đã đưa ra các so sánh và mô tả tiến trình phát triển

của việc xây dựng chiến lược đối với một tổ chức, doanh nghiệp Các tác giả

gọi giai đoạn phát triển đầu tiên là lập kế hoạch tài chính sơ đẳng Ở giai đoạn này, mối quan tâm đầu tiên là giải quyết các hạn hẹp về tài chính thông qua

việc kiểm tra tác nghiệp chặt chẽ, lập phân bổ ngân sách hàng năm, tập trung chú ý đến các chức năng hoạt động, tài chính v.v Mục đích của việc lập chiến lược là huy động toàn bộ nguồn lực để xây dựng ưu thế cạnh tranh Lập

kế hoạch chiến lược trả lời bốn câu hỏi cơ bản: (i) Doanh nghiệp/tổ chức đang

ở đâu? (ii) Doanh nghiệp/tổ chức muốn đi đến đâu trong tương lai? (iii) Làm

thế nào để đến đó? (iv) Làm thế nào để đo đạc được sự tiến triển?

Carter McNamara, MBA, Authenticity Consulting, LLC (2008) trong

“Cách viết kế hoạch chiến lược” đã đề cập đến nội dung xây dựng kế hoạch hành động hay chương trình hành động của một chiến lược Theo tác giả, kế

hoạch hành động là việc thận trọng đề ra cách những mục tiêu chiến lược sẽ được thực hiện Kế hoạch hành động thường bao gồm các mục tiêu cụ thể,

Trang 22

hay những kết quả cụ thể cho từng mục tiêu chiến lược Vì vậy, để đạt được

mục tiêu chiến lược thường phải thực hiện một chuỗi các mục tiêu - trong đó

mục tiêu vẫn là mục tiêu chiến lược nhưng quy mô nhỏ hơn

b) Những nghiên cứu ở trong nước

GS.TS Phan Huy Đường trong cuốn sách “Quản lý công” thì: Quản lý chiến lược có thể được xem xét như một hệ thống quản lý gồm ba hệ thống là:

Hoạch định chiến lược; Triển khai chiến lược; Kiểm soát chiến lược Ba nhiệm vụ này có thể được hiểu là ba giai đoạn của một quá trình duy nhất

 Giai đoạn thứ nhất, hoạch định chiến lược - là một quá trình có hệ thống, nhằm xác định các mục tiêu dài hạn cùng các định hướng giải pháp và các nguồn lực cần thiết đảm bảo hoàn thành mục tiêu của tổ chức

 Giai đoạn thứ hai, triển khai chiến lược - chủ yếu liên quan đến việc thực hiện chiến lược thông qua phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Tuy nhiên, giai đoạn này cũng bao gồm những biện pháp bổ sung có liên quan đến nhân lực Không có gì đáng ngạc nhiên khi những biện pháp triển khai quan trọng nhất như phát triển sản phẩm, cắt giảm phương tiện sản xuất, huy động nguồn lực sản xuất từ bên ngoài, tạo dựng các thị trường mới,

 Giai đoạn thứ ba, kiểm soát chiến lược - chức năng kép Thứ nhất, nó cho biết những thông tin phản hồi về việc chiến lược được thực hiện như thế nào Thứ hai, nó kiểm tra những giả thiết hoặc tiền đề quan trọng trong các dự định chiến lược xem có phù hợp với thực tế hay không Nếu có sự khác biệt quá lớn giữa dự định chiến lược và việc triển khai, hoặc nếu những tiền đề trong có chiến lược không đúng với thực tế thì phải xem xét lại quá trình hoạch định và tiến hành hoạch định lại từ đầu

TS Vương Quân Hoàng (2014) trong “Nội dung quản trị chiến lược và

trọng tâm trong thế kỷ XXI” đã trình bày nội dung, tầm quan trọng và đặc biệt

là cách hiểu bản chất, trọng tâm của quản trị chiến lược Theo tác giả, với tên

Trang 23

gọi “quản trị chiến lược” rõ ràng, hai bộ phận hợp thành là “chiến lược” và

“quản trị” hiển nhiên phải đóng vai trò cốt yếu đối với cả việc xác định và

thực thi Trong đó, chiến lược theo cách diễn đạt chân phương nhất là sự xác định 3 yếu tố hợp thành là: Xác định các mục tiêu đủ lớn và dài hạn của tổ

chức; Xác định và lựa chọn hành trình các bước, hành động để tiến hành thực

hiện; Phân bổ nguồn lực cần thiết để hoàn thành các mục tiêu đặt ra

Xây dựng chiến lược là một bộ phận trọng yếu của quản trị chiến lược, là

một tập hợp những quyết định quản trị và hành động hướng tới việc hoàn thành mục tiêu dài hạn Về thực chất, đây là phương thức mà doanh nghiệp tổ

chức triển khai chiến lược, đánh giá hiệu quả thực thi và điều chỉnh hoặc phát triển chiến lược khi cần thiết Quản trị chiến lược được tiến hành tại nhiều cấp khác nhau trong doanh nghiệp như: Cấp doanh nghiệp hay cấp công ty; Cấp

cơ sở hay còn gọi là SBU; và cấp chức năng Có thể hiểu “quản trị chiến lược” bao gồm hai bộ phận hợp thành là “chiến lược” và “quản trị”

a) Các kết quả nghiên cứu chủ yếu

và hành động hướng tới việc hoàn thành mục tiêu dài hạn Về thực chất, đây

là phương thức mà doanh nghiệp triển khai chiến lược, đánh giá hiệu quả thực thi và điều chỉnh chiến lược khi cần thiết

tương ứng với các bước là các nội dung xác định Về hình thức cấu trúc, nhìn chung các bản chiến lược tương đối giống nhau Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp khác nhau, cấu trúc của một bản chiến lược có thể khác nhau Số phần

của một bản chiến lược có thể ít hơn, do sự lồng ghép của các nội dung tương đối giống nhau vào thành một phần để đảm bảo tính logic, đỡ trùng lặp Mặt khác, số phần của một bản chiến lược cũng có thể nhiều hơn, do việc tách các

mục của một phần nào đó nhằm mục đích nhấn mạnh nội dung được tách ra

Trang 24

Về tên gọi các các phần một bản chiến lược cũng có thể khác, tùy theo từng

bộ phận hoặc từng ban soạn thảo chiến lược Về thứ tự của các phần trong cấu trúc của một bản chiến lược cũng có thể thay đổi

b) Khoảng trống nghiên cứu

Các nghiên cứu trên đây cùng với các căn cứ pháp lý là cơ sở để có thể nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ của học viên Tuy nhiên, luận văn cần phải

tiếp tục nghiên cứu làm rõ các vấn đề sau đây:

Một là: phải tiếp tục nghiên cứu cơ sở lý luận để trên cơ sở đó có thể vận

dụng linh hoạt vào việc xây dựng chiến lược phát triển của công ty TNHH MTV Thanh Bình - BCA

Hai là: phải nghiên cứu kinh nghiệm về xây dựng chiến lược của một doanh nghiệp có tính chất hết sức đặc thù như Công ty TNHH MTV Thanh Bình - BCA, trong đó đảm bảo 2 mục tiêu cùng lúc: sản xuất phục vụ ngành

và sản xuất kinh doanh lưỡng dụng đảm bảo có hiệu quả kinh tế

Ba là: phải phân tích môi trường trong nước và quốc tế, nhằm chỉ ra

những cơ hội và thách thức đối với chiến lược phát triển của công ty trong

thời gian tới

Bốn là: Phân tích đánh giá thực trạng của Công ty TNHH MTV Thanh Bình - BCA trên tất cả các khía cạnh: hoạt động kinh doanh, nguồn nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ cấu tổ chức quản lý nhằm chỉ ra những

mặt mạnh và mặt yếu

Năm là: Kết hợp các cơ hội và thách thức với những điểm mạnh và điểm

yếu để hình thành chiến lược phát triển cho công ty giai đoạn tới

1.2 Cơ sơ lý luận về xây dựng chiến lƣợc phát triển của Doanh nghiệp

Khái niệm “chiến lược” có từ thời Hy Lạp cổ đại Những năm trước đây, nhiều công ty có thể thành công khi chỉ chú ý đến những khả năng nội bộ và điều hành công việc hàng ngày là đạt kết quả như mong muốn Nhưng ngày

Trang 25

nay, điều đó là không đủ, vì hầu hết các công ty phải đối phó với những môi trường đang ngày càng biến động, phức tạp và đe dọa nhiều hơn Do đó, sự thích ứng của công ty vào môi trường là một trong những yếu tố thiết yếu cho

sự thành công Thuật ngữ “chiến lược phát triển “được sử dụng phổ biến trong thời gian gần đây và khái niệm về chiến lược phát triển đã được nhiều học giả như Alfred Chandler, Fred R David đưa ra với nhiều cách tiếp cận khác nhau Tổng hợp lại thì bản chất của chiến lược phát triển chính là:

“sự lựa chọn tối ưu việc phối hợp giữa các biện pháp (sử dụng sức mạnh của doanh nghiệp) với thời gian (thời cơ, thách thức), với không gian (lĩnh vực và địa bàn hoạt động) theo sự phân tích môi trường kinh doanh và khả năng nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được những mục tiêu cơ bản lâu dài phù hợp với khuynh hướng của doanh nghiệp”

Chiến lược là một kế hoạch, trong đó phải bao gồm:

a Những mục tiêu cơ bản, dài hạn (3 năm, 5 năm, 10 năm,…), chỉ rõ những định hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai

b Những chính sách lớn, quan trọng nhằm thu hút các nguồn lực, phân

bổ và sử dụng tối ưu các nguồn lực đó

c Các quyết định về những phương hướng và biện pháp chủ yếu phải thực hiện để đạt được những mục tiêu đó

Tất cả những nội dung trên phải được xây dựng trong khuôn khổ môi trường sôi động và những biến cố bên ngoài đã được dự đoán trước

Tính định hướng của chiến lược nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục, vững chắc trong môi trường kinh doanh thường xuyên biến động Các quyết định chiến lược nhất thiết phải được đưa ra từ cấp lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp mới có thể đảm bảo tính chuẩn xác của các quyết định dài hạn (về sản phẩm, thị trường, đầu tư, đào tạo…) với sự bí mật về thông tin và mang tính cạnh tranh trên thị trường

Trang 26

Chiến lược luôn có tư tưởng tấn công để giành ưu thế trên thị trường Chiến lược phải được hoạch định và thực thi trên cơ sở nhận thức đúng đắn các cơ hội kinh doanh và nhận thức được lợi thế so sánh của doanh nghiệp so với các đối thủ mới có thể thu được thành công lớn nhất trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Căn cứ vào mức độ quản trị chiến lược thì có thể chia chiến lược phát triển thành 3 cấp chiến lược: Chiến lược cấp Công ty; Chiến lược cấp kinh doanh; Chiến lược cấp chức năng

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội được lập dựa trên mong muốn và ý chí của mọi người dân một quốc gia, chiến lược phát triển kinh tế xã hội được thiết lập trên cơ sở tình hình trong nước và bối cảnh quốc tế Qua phân tích những cơ hội và thách thức đối với quá trình phát triển của đất nước để xác định quan điểm, định hướng, mục tiêu, giải pháp phát triển

Căn cứ vào mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội, chiến lược kinh doanh được chia thành 2 loại:

Chiến lược cấp công ty là một kiểu mẫu của các quyết định trong một công ty, nó xác định và vạch rõ mục đích, các mục tiêu của công ty, xác định các mục tiêu kinh doanh mà công ty theo đuổi, tạo ra các chính sách và kế hoạch cơ bản để đạt được mục tiêu của công ty

Chiến lược công ty đề ra nhằm xác định các hoạt động kinh doanh mà trong đó công ty sẽ cạnh tranh và phân phối các nguồn lực giữa các hoạt động kinh doanh đó

1.2.1.2 Chiến lược cấp kinh doanh

Chiến lược kinh doanh được hoạch định nhằm xác định việc lựa chọn sản phẩm hoặc dạng cụ thể thị trường cho hoạt động kinh doanh riêng trong nội bộ công ty, và nó xác định xem công ty sẽ cạnh tranh như thế nào với một

Trang 27

hoạt động kinh doanh cùng với vị trí đã biết của bản thân công ty, giữa người cạnh tranh của nó

Chiến lược cấp các đơn vị kinh doanh của doanh nghiệp xác định cách thức mỗi đơn vị kinh doanh sẽ cố gắng hoàn thành mục tiêu của nó để đóng góp vào việc hoàn thành vào mục tiêu cấp công ty Nếu như công ty là đơn ngành thì chiến lược cấp đơn vị kinh doanh có thể được coi là chiến lược cấp công ty

Chiến lược cấp chức năng liên quan tới việc từng bộ phận trong doanh nghiệp sẽ được tổ chức như thế nào để thực hiện được phương hướng chiến

lược ở cấp độ doanh nghiệp và đơn vị kinh doanh Bởi vậy, chiến lược theo chức năng tập trung vào các vấn đề về nguồn lực, quá trình xử lý và con người… Giám đốc các bộ phận chức năng có trách nhiệm quản trị chiến lược theo chức năng được phân công

Chiến lược được hiểu như là một kết quả của một quá trình xây dựng hợp lý được dàn xếp một cách cẩn thận Xây dựng chiến lược là việc dự kiến

triển khai chiến lược để đạt được sự phù hợp giữa môi trường bên ngoài (cơ hội và rủi ro) với những khả năng về nguồn lực (mạnh hay yếu) bên trong của một tổ chức

Cho đến nay, các nhà khoa học quản trị, khoa học chiến lược và các nhà

quản trị đã đề nghị rất nhiều các mô hình xây dựng chiến lược Trong mỗi mô

hình có một khuôn khổ cho toàn bộ quá trình quản trị chiến lược Tuy nhiên, xây dựng chiến lược phải đảm bảo đạt được các yêu cầu sau:

- Xác định rõ được mục tiêu cơ bản cần phải đạt được trong từng thời kỳ

và cần phải được quán triệt ở mọi cấp, mọi lĩnh vực hoạt động trong doanh

Trang 28

nghiệp (vì chiến lược có tác động bao trùm lên mọi hoạt động của doanh nghiệp) tránh mâu thuẫn nhau

- Đảm bảo huy động tối đa và kết hợp tối ưu việc khai thác, sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp nhằm phát huy được lợi thế, tận dụng được các cơ hội để giành ưu thế trong cạnh tranh nhờ kết hợp những yếu tố bên trong và bên ngoài

- Chiến lược kinh doanh được phản ánh như một quá trình liên tục từ việc xây dựng chiến lược đến thực hiện, kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh chiến lược

- Chiến lược phải được lập ra trong thời gian tương đối dài, thường từ 3 năm trở lên

Quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp được thực

hiện theo sơ đồ dưới đây:

Hình 1.1:Quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh

Trang 29

Bước 1: Xác định tầm nhìn, sứ mệnh và mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp

 Tầm nhìn: là thông điệp cụ thể hóa sứ mệnh thành một mục tiêu tổng quát, tạo niềm tin vào tương lai của doanh nghiệp

- Sứ mệnh: nêu rõ lý do tồn tại của doanh nghiệp và chỉ ra các việc cần làm Sứ mệnh là mục đích hoặc lý do mà một tổ chức tồn tại Một tuyên bố sứ mệnh liên quan đến việc những câu hỏi cơ bản như: Chúng ta kinh doanh cái gì? Chúng ta là ai? Chúng ta quan tâm đến cái gì? Chúng ta định làm gì? Sứ mệnh có thể mô tả theo khía cạnh về nhu cầu khách hàng mà nó muốn thỏa mãn, hàng hóa hoặc dịch vụ cung cấp hoặc thị trường mà tổ chức đang theo đuổi hoặc định theo đuổi trong tương lai

- Mục tiêu chiến lược: chỉ rõ những nhiệm vụ của doanh nghiệp, những gì mà doanh nghiệp hy vọng sẽ đạt được trong phạm vi dài hạn và trung hạn Mục tiêu là kết quả mà tổ chức hoặc doanh nghiệp mong muốn đạt được trong kỳ hạn ngắn hoặc dài

- Xét các mục tiêu chiến lược để đánh giá xem các yếu tố môi trường trong quá trình soạn thảo chiến lược đến khi triển khai thực hiện có phù hợp không, nếu còn tương đồng thì điều chỉnh nội dung chiến lược, nếu không tương đồng thì phải điều chỉnh mục tiêu

- Thiết lập các mục tiêu hàng năm: Mục tiêu hàng năm là những cái mốc

mà các doanh nghiệp phải đạt được để đạt tới mục tiêu dài hạn Mục tiêu hàng năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thực hiện chiến lược chung vì nó:

 Là cơ sở để phân phối các nguồn lực trong quá trình thực hiện chiến lược

 Là cơ sở để đánh giá mức độ hoàn thành công việc của các quản trị viên

 Là công cụ quan trọng để kiểm soát tiến trình thực hiện chiến lược nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn đã đề ra

 Là căn cứ ưu tiên của tổ chức, của bộ phận, của phòng ban

Các mục tiêu hàng năm nên đo lường một cách phù hợp, hợp lý có

Trang 30

tính thách thức, rõ ràng được phổ biến trong tổ chức Xác định trong khoảng thời gian phù hợp và kèm theo cơ chế thưởng phạt tương ứng

- Thiết lập các chính sách hướng dẫn việc thực hiện chiến lược: Chính sách là những nguyên tắc chỉ đạo, những phương pháp thủ tục, quy tắc hình thức và những công việc hành chính được thiết lập để hỗ trợ và thúc đẩy theo các mục tiêu đề ra Trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh, các nhà quản trị cần chú trọng các mục tiêu tăng trưởng (nhanh, ổn định hoặc suy giảm) vì nó gắn liền với các giải pháp chiến lược Từ các mục tiêu tăng trưởng, nhà quản trị các cấp sẽ xác định các mục tiêu dài hạn, ngắn hạn cho toàn bộ tổ chức, cũng như các bộ phận chức năng (theo chu kỳ quyết định quản trị)

Yêu cầu của việc xác định mục tiêu là: Cụ thể, có khả năng đo lường, có tính khả thi, linh hoạt, thống nhất và hợp lý Sở dĩ phải có các yêu cầu trên và xác định mục tiêu là để đạt được theo thời gian Tuỳ theo loại mục tiêu định lượng hay định tính, nhà quản trị sẽ xác định phù hợp các yêu cầu Để có thể hoàn thiện việc quản trị chiến lược kinh doanh, hiện nay nhiều công ty ở các nước phát triển đã thực hiện việc quản trị theo mục tiêu (MBO - Management

by Objectives), MBO là cách thức quản lý có hiệu quả, phân định rõ vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn trong cơ cấu tổ chức, mọi người có trách nhiệm với công việc của mình và đây là biện pháp kiểm tra có hiệu quả

Bước 2: Phân tích môi trường bên ngoài doanh nghiệp

Mục tiêu của phân tích môi trường bên ngoài là nhận thức các cơ hội và nguy cơ từ môi trường bên ngoài của tổ chức Bao gồm việc phân tích môi trường vĩ mô và môi trường ngành mà doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh Việc đánh giá môi trường ngành cũng có ý nghĩa là đánh giá các tác động của toàn cầu hóa đến phạm vi của ngành, xem ngành đó cơ những lợi thế gì

Trang 31

 Phân tích môi trường vĩ mô:

Các doanh nghiệp phải có những kiến thức nhất định về kinh tế Các kiến thức về kinh tế sẽ giúp các nhà quản lý, kinh doanh xác định được: những ảnh hưởng của doanh nghiệp đối với nền kinh tế quốc gia, đồng thời thấy được ảnh hưởng của những chính sách kinh tế của quốc gia và quốc tế đối với một doanh nghiệp Tính ổn định về kinh tế, trước hết và chủ yếu là ổn định nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát Đây là điều các doanh nghiệp hết sức quan tâm vì nó liên quan trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Môi trường kinh tế đặc trưng bởi một loạt các yếu tố như:

- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cao sẽ làm phát sinh thêm các nhu cầu mới cho sự phát triển các ngành kinh tế (cơ hội) Nhưng mối đe dọa mới là xuất hiện thêm đối thủ cạnh tranh Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao kéo theo ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản lớn Điều đó đồng nghĩa với nguồn vốn đầu tư cho việc tư vấn xây dựng điện tăng lên và dẫn đến các công ty tư vấn có nhiều khả năng tìm kiếm được nhiều nguồn việc mới

- Tỷ lệ lạm phát tăng làm ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi, đến hiệu quả của đầu tư, gây bất lợi cho doanh nghiệp hay cơ hội mới?

- Tỷ lệ thất nghiệp tăng tạo cho doanh nghiệp cơ hội thuê lao động rẻ hay mối đe dọa của các dịch vụ cạnh tranh xuất hiện?

- Sự ổn định của đồng tiền, tỷ giá đe doạ gì hay tạo cơ hội gì cho doanh nghiệp?

- Xu hướng và thực tế đầu tư nước ngoài tăng lên (hoặc ngược lại) tạo

cơ hội gì, đe doạ gì đối với doanh nghiệp?

- Thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người tăng (hoặc giảm)

có mối đe doạ nào, có cơ hội thuận lợi nào đối với công ty?

Trang 32

Thứ hai, Phân tích sự ảnh hưởng của các sự kiện chính trị, pháp lý

Môi trường chính trị có vai trò quan trọng trong kinh doanh Tính ổn định về chính trị của một quốc gia sẽ là một yếu tố thuận lợi cho doanh nghiệp trong các hoạt động sản xuất kinh doanh Người ta có thể dự báo nhu cầu, khả năng thực hiện những phương án trong tương lai tương đối ổn định, chính xác Sự ổn định hay không ổn định về chính trị, sự thay đổi luật pháp và chính sách quản lý vĩ mô có thể gây sức ép (nguy cơ) hay tạo cơ hội cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả hơn Phải nhận thức được những cơ hội hay nguy cơ đôi với từng sự thay đổi

Thứ ba, Phân tích sự ảnh hưởng của các điều kiện văn hóa - xã hội

Khi thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi, hoặc khi trình độ dân trí nâng cao thì doanh nghiệp sẽ thế nào? Những nguy cơ đe doạ, những cơ hội nào để nắm bắt? Nhiệm vụ của nhà quản lý, nhà hoạt động chiến lược phải phân tích kịp thời cả những thay đổi này, có như vậy thông tin mới đầy đủ và có hệ thống giúp cho hoạch định chiến lược có căn cứ toàn diện hơn Do đó, cần phải phân tích rộng rãi các yếu tố văn hóa - xã hội nhằm nhận biết các cơ hội

và nguy cơ có thể xảy ra

Các điều kiện văn hóa - xã hội như dân số, tỷ lệ tăng dân số, cơ cấu dân

cư, tôn giáo, chuẩn mực đạo đức, thị hiếu, trình độ dân trí đều có tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Ngày nay tác động của điều kiện tự nhiên đối với các quyết sách của doanh nghiệp từ lâu đã được thừa nhận Các yếu tố tự nhiên như khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, nguồn năng lượng, môi trường tự nhiên được coi như là yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của nhiều ngành và nhiều doanh nghiệp Đặc biệt ngày nay các luật lệ, dư luận xã hội ngày càng đòi hỏi nghiêm ngặt về các chuẩn mực môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển của

Trang 33

doanh nghiệp với sự phát triển bền vững của nền kinh tế Tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, vấn đề về ô nhiễm môi trường, thiếu năng lượng, lãng phí tài nguyên thiên nhiên cùng với nhu cầu ngày càng lớn đối với các nguồn lực có hạn khiến cho các doanh nghiệp phải thay đổi các quyết định và biện pháp, đồng thời định hướng thay thế nguồn nhiên liệu, tiết kiệm và sử dụng có hiệu qủa nguồn tài nguyên thiên nhiên của nền kinh tế

Ngày nay những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và áp dụng công nghệ tiến bộ, đặc biệt là các ngành công nghệ cao vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh đang là yếu tố ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của ngành và các doanh nghiệp Việc sử dụng công nghệ cao vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như là những thế mạnh quan trọng nhằm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Bên cạnh đó sự phát triển của công nghệ cũng làm thay đổi cả phương thức kinh doanh mua bán thông thường Đó là người bán

và người mua có thể ở cách xa nhau nhưng vẫn thực hiện các hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa và dịch vụ với thời gian ngắn nhất Vì vậy, để hạn chế nguy cơ tụt hậu về công nghệ và chớp cơ hội trong kinh doanh các doanh nghiệp phải thường xuyên đánh giá hiệu quả công nghệ đang sử dụng, theo dõi sát sao sự phát triển của công nghệ và thị trường công nghệ

 Phân tích môi trường ngành

Môi trường ngành bao gồm tất cả các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định của doanh nghiệp trong một ngành… Theo Michael E Porter(1990), điểm cốt yếu khi xây dựng chiến lược cạnh tranh là phải biết xem xét một công ty trong tương quan với môi trường hoạt động của công ty

ấy Ông đã đưa ra một kỹ thuật phân tích sâu hơn tính chất động của môi trường cạnh tranh, mục đích là đưa ra những vận dụng chiến lược đặc biệt thích ứng cho từng trường hợp cụ thể Ông cho rằng: "Môi trường kinh doanh luôn luôn có 5 yếu tố tác động đến hoạt động của doanh nghiệp"

Trang 34

Những công ty khi mới bước vào một ngành nghề sẽ đem theo mình những khả năng mới, một khát khao muốn đoạt một phần thị trường và có nhiều nguồn lực lớn Kết quả là có thể hạ giá bán sản phẩm hoặc làm tăng chi phí sản xuất của các nhà sản xuất hiện tại dẫn đến giảm mức sinh lợi của ngành Những người mới nhập ngành ở đây không chỉ là những công ty mới hoàn toàn được tạo ra mà còn có những công ty đa dạng hóa các mặt hàng của mình thông qua hình thức mua lại một công ty khác để xâm nhập một ngành nghề từ những thị trường khác Mối đe dọa xâm nhập vào ngành nghề tùy thuộc ở những rào cản xâm nhập hiện có, cùng với những phản ứng từ những công ty đang cạnh tranh nhau mà một công ty sắp xâm nhập có thể tiên lượng

Có sáu rào cản chính đối với việc xâm nhập một ngành nghề: Tăng hiệu quả kinh tế do quy mô lớn; Khác biệt hóa sản phẩm; Yêu cầu về vốn; Phí tổn chuyển đổi; Tiếp cận với các kênh phân phối; Chính sách của chính phủ Việc các công ty hiện có phản ứng mạnh mẽ đối với những đối thủ mới vào ngành cũng làm cho việc xâm nhập bị cản trở rất nhiều Điều kiện xâm nhập vào một ngành nghề có thể được tóm tắt bằng một khái niệm lý thuyết quan trọng

được gọi là cái giá phải trả cho những cản trở xâm nhập: cấu trúc giá cả và

những yếu tố có liên quan như chất lượng sản phẩm và dịch vụ đang chiếm ưu thế làm cho những cái lợi có thể thu được (còn ở dạng tiềm ẩn) do xâm nhập thị trường (được các công ty muốn xâm nhập thị trường tiên lượng trước) ngang bằng với những phí tổn thấy trước phải trả giá cho việc vượt qua những rào cản xâm nhập thị trường và nguy cơ bị trả đũa Do vậy, để đảm bảo an toàn và tạo khả năng sinh lời trong kinh doanh, doanh nghiệp cần có biện pháp để phản ứng Các biện pháp thường được sử dụng là: Mưu kế, liên kết với tất cả các đối thủ cạnh tranh để bảo vệ thị trường, tạo ra hàng rào cản trở xâm nhập

Trang 35

Một là, Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành

Trong một ngành sản xuất, các doanh nghiệp thường cạnh tranh với nhau

về chất lượng sản phẩm, giá bán, thương hiệu, công tác Marketing, tiềm lực tài chính, năng lực quản lý, tổ chức.… điều đó làm cho chất lượng sản phẩm thường xuyên được cải tiến, giá sản phẩm có xu hướng giảm dần, thời gian cung cấp sản phẩm ngày càng nhanh… Ngoài ra một số hình thức cạnh tranh, đặc biệt là cạnh tranh giá cả, thường không ổn định và rất có thể sẽ làm cho cả ngành phải chịu thiệt về mặt lợi nhuận Do đó khi xem xét về đối thủ cạnh tranh trong ngành chúng ta cần phải xem xét hai vấn đề sau:

Thứ nhất: Cường độ cạnh tranh trong ngành phụ thuộc vào rất nhiều yếu

 Sự khác biệt về mức độ phức tạp giữa các đối thủ cạnh tranh

 Những hàng rào cản trở rút lui khỏi ngành

Thứ hai: Phân tích đối thủ cạnh tranh trực tiếp

Trước hết chúng ta nhận biết được các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của mình là ai? Thông thường chúng ta nhận biết các đối thủ cạnh tranh trực tiếp qua các tín hiệu trên thị trường Sau khi nhận biết được các đối thủ cạnh tranh trực tiếp, ta sẽ phân tích các mặt mạnh, mặt yếu của các đối thủ cạnh tranh, phân tích mục đích cần đạt được của họ là gì? Phân tích chiến lược của họ, tiềm năng có thể khai thác của họ

Cụ thể ta cần đi sâu phân tích những khả năng sau của đối thủ:

Trang 36

 Khả năng tăng trưởng của đối thủ cạnh tranh hiện nay quy mô sản xuất là lớn hay nhỏ?

 Khả năng thích nghi?

 Khả năng phản ứng, khả năng đối phó với tình hình?

 Khả năng chịu đựng, kiên trì?

Sự am hiểu về các đối thủ cạnh tranh trực tiếp có tầm quan trọng đến mức có thể cho phép đề ra các thủ thuật phân tích đối thủ cạnh tranh, duy trì các hồ sơ về đối thủ và từ đó có cách ứng xử cho phù hợp

Các doanh nghiệp cung cấp các yếu tố sản xuất đầu vào cho doanh nghiệp như máy móc, thiết bị, vật tư, dịch vụ tư vấn thiết kế, dịch vụ vận chuyển… trong quá trình hoạt động kinh doanh nhà cung cấp có thể tác động một lực mặc cả nhất định đối với các bên tham gia trong ngành nghề bằng cách đe dọa tăng giá bán sản phẩm, giảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ hoặc thay đổi các điều kiện bán hàng, thanh toán Một nhóm những nhà cung ứng

sẽ có một sức mạnh mặc cả nếu có những điều kiện sau đây xảy ra:

 Nhóm này chỉ do một vài công ty thống trị và tập trung hóa cao hơn ngành nghề mà nhóm này bán hàng

 Nhóm này không chịu sức ép của các sản phẩm thay thế

 Sản phẩm, dịch vụ của nhà cung ứng là yếu tố đầu vào quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của người mua

Vì vậy để đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra ổn định, liên tục doanh nghiệp cần phải có mối quan hệ với các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào như vật tư, thiết bị, lao động và tài chính Doanh nghiệp nên có quan hệ lâu dài ổn định với các nhà cung cấp

Khách hàng là những người mua sản phẩm của doanh nghiệp, là nhân

Trang 37

tố quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kinh doanh phải đảm bảo lợi ích cho khách hàng và bằng nhiều cách để làm thỏa mãn mức cao nhất nhu cầu của khách hàng nhằm kéo khách hàng về với doanh nghiệp mình Tuy nhiên, trong khi mua hàng, khách hàng cũng thường sử dụng quyền được thương thuyết của mình để đưa ra những đòi hỏi bất lợi cho doanh nghiệp về giá mua, điều kiện giao hàng, điều kiện thanh toán, chất lượng sản phẩm, hậu mãi…trong các tình huống như: Khách hàng độc quyền mua sản phẩm của doanh nghiệp, khách hàng mua khối lượng lớn, khách hàng quen sản phẩm, không được phân phối trong các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, không có điều kiện ràng buộc; khách hàng có quá đủ thông tin; khách hàng có đủ khả năng khép kín sản xuất…tạo ra sức ép làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Vì vậy có thể nói khách hàng đem đến cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp nhưng cũng có thể lấy đi lợi nhuận của doanh nghiệp

Tuy nhiên, doanh nghiệp không phải ở thế thụ động mà cần phải tác động đến khách hàng, giữ mối quan hệ tốt với họ thông qua giá cả, chất lượng, giao nhận, dịch vụ sau bán của sản phẩm hoặc dịch vụ Từ đó, coi khách hàng như là người cộng tác với doanh nghiệp, cung cấp thông tin cần thiết cho doanh nghiệp

Bốn là, Sức ép của những sản phẩm thay thế

Sản phẩm thay thế là sản phẩm khác có thể thoả mãn nhu cầu của khách hàng nhưng lại có đặc trưng tương tự khác Những sản phẩm thay thế ấy làm giảm mức lợi nhuận tiềm ẩn của một ngành nghề, làm hạn chế thị trường bằng cách áp đặt một mức trần đối với những mức giá mà những công ty trong ngành nghề ấy có thể đưa ra trong phạm vi có thể thu được lợi nhuận Do vậy doanh nghiệp cần chú ý đến nhu cầu, giá cả của sản phẩm thay thế và đặc biệt phải biết vận dụng công nghệ mới vào sản phẩm của mình

Để đánh giá sức ép này người ta thường sử dụng chỉ tiêu thời gian của

Trang 38

một vòng đời công nghệ Nếu vòng đời công nghệ càng ngắn thì sức ép cạnh tranh của các sản phẩm thay thế càng lớn Đe dọa này đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự phân tích, theo dõi thường xuyên những tiến bộ kỹ thuật - công nghệ, trong đó liên quan trực tiếp là đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm

Bước 3: Phân tích môi trường bên trong doanh nghiệp

Phân tích bên trong nhằm tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp Chúng ta xác định cách thức công ty đạt đến lợi thế cạnh tranh, vai trò của các năng lực khác biệt, các nguồn lực và khả năng tạo dựng và duy trì bền vững lợi thế cạnh tranh cho công ty Từ đó yêu cầu công ty phải đạt được một cách vượt trội về hiệu quả, chất lượng, cải tiến và trách nhiệm với khách hàng Phân tích nội bộ doanh nghiệp hay còn gọi là những nhân tố phát sinh từ trong nội bộ của doanh nghiệp và do doanh nghiệp có thể chi phối, thường được coi là khả năng của doanh nghiệp Khi xem xét các yếu tố bên trong nghĩa là xem xét dây chuyền giá trị của doanh nghiệp Doanh nghiệp kinh doanh là một công cụ tổ chức để chuyển đổi nguyên vật liệu thành sản phẩm, dịch vụ để bán Dây chuyền giá trị của doanh nghiệp là một công cụ khái niệm để xác định nhiều hoạt động liên quan đến quá trình này

Nhân lực là lực lượng lao động sáng tạo của doanh nghiệp Toàn bộ lực lượng lao động của doanh nghiệp bao gồm cả lao động quản trị, lao động nghiên cứu và phát triển, lao động kỹ thuật trực tiếp tham gia vào các quá trình sản xuất Đây là nhân tố tác động rất mạnh và mang tính chất quyết định đến mọi hoạt động, thành công của doanh nghiệp Chính vì vậy, các doanh nghiệp thường rất chú trọng trong việc đảm bảo số lượng, chất lượng và cơ cấu của các loại lao động Nội dung quá trình phân tích về nguồn nhân lực của doanh nghiệp gồm thông tin về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, tay nghề, các chính sách nhân sự của doanh nghiệp, năng lực, mức độ quan tâm

Trang 39

và trình độ của ban lãnh đạo cao nhất về nguồn nhân lực hiện tại mà còn là những dự báo tương lai về quy mô, đặc điểm của thị trường lao động gắn với lực lượng lao động, thông tin về năng lực và chi phí kinh doanh sử dụng lao động Tuy nhiên các thông tin cần thu thập để hoạch định chiến lược không

chỉ là các thông tin về nguồn nhân lực hiện tại mà còn các thông tin về dự báo nguồn nhân lực trong tương lai cho hoạt động của doanh nghiệp

Hai là, Phân tích khả năng sản xuất, nghiên cứu và phát triển

Sản xuất là một trong những hoạt động chính yếu của doanh nghiệp gắn liền với việc tạo ra sản phẩm Nhân tố này tác động trực tiếp đến chi phí kinh doanh cũng như thời hạn sản xuất và đáp ứng về sản phẩm Đây là một trong các điều kiện không thể thiếu để tạo ra các lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.Việc sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng tương đối cao với giá thành tương đối thấp sẽ tạo thế lực cho doanh nghiệp trên thị trường, bảo đảm

an toàn trong kinh doanh vì: sản phẩm dễ bán hơn, tiết kiệm nguồn tài chính, tạo được thái độ tích cực trong nhân viên Các nội dung cần chú ý khi phân tích yếu tố sản xuất là quy mô, cơ cấu trình độ kỹ thuật sản xuất, khả năng sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường, năng lực sản xuất, giá cả và mức độ cung ứng nguyên vật liệu, mức độ quay vòng hàng tồn kho, sự bố trí các phương tiện sản xuất, hiệu năng và phí tổn của thiết bị, chi phí và khả năng công nghệ

so với toàn ngành và các đối thủ cạnh tranh…

Nghiên cứu và phát triển nhằm mục đích sáng tạo sản phẩm (dịch vụ) mới và khác biệt hóa sản phẩm, sáng tạo cải tiến công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật, sáng tạo vật liệu mới… tạo ra lợi thế so sánh và cạnh tranh Khi nghiên cứu và phát triển doanh nghiệp cần chú ý: Quy mô và tiềm năng của các cơ sở nghiên cứu và phát triển, các nguồn tài chính và vật chất giành cho nghiên cứu và phát triển, kết quả của bộ phận này (số lượng sản phẩm mới, số lượng công nghệ mới đã đưa vào ứng dụng) các phương pháp công nghệ đã nắm

Trang 40

vững, môi trường làm việc của nhóm nghiên cứu, tính chất sáng tạo và khả năng bảo vệ những phát minh sáng kiến

Tình hình tài chính tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh trong các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp Chức năng của bộ phận tài chính bao gồm việc phân tích lập kế hoạch và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tài chính và tình hình tài chính của doanh nghiệp Bộ phận tài chính có ảnh hưởng sâu rộng trong toàn doanh nghiệp Khi phân tích các yếu tố tài chính kế toán, nhà quản trị cần chú trọng những nội dung: nhu cầu về vốn; khả năng huy động vốn ngắn hạn và dài hạn; tổng nguồn vốn của doanh nghiệp; tính linh hoạt của cơ cấu vốn đầu tư; khả năng tận dụng các chiến lược tài chính; khả năng kiểm soát giảm giá thành; hệ thống kế toán có hiệu quả và phục vụ cho việc lập kế hoạch giá thành, kế hoạch tài chính và lợi nhuận Ngoài ra nhà quản trị phải cần đánh giá mức độ chính xác của các chỉ tiêu, số liệu thống kê, tổng hợp, quá trình sử dụng số liệu của các bộ phận liên quan, các qui trình và qui định tài chính của doanh nghiệp bảo đảm hoạt động sản xuất kinh doanh theo luật định, chính xác, hiệu quả, nhanh chóng

Bốn là, Phân tích hoạt động Marketing

Mục tiêu của công tác Marketing là thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn của khách hàng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, đảm bảo cung cấp sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ ổn định với chất lượng theo yêu cầu sản xuất và giá cả phù hợp giúp doanh nghiệp dành ưu thế trong cạnh tranh và đạt được lợi nhuận cao trong dài hạn Nội dung cụ thể của hoạt động Marketing phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp Thông tin về Marketing bao gồm các thông tin thường xuyên như dự báo thị trường và nhu cầu, số lượng hàng bán ra, doanh thu, thị phần, giá cả, phân phối, chi phí cho hoạt động quảng cáo hay các thông tin đột xuất như tính hấp dẫn của ngành,

Ngày đăng: 02/10/2020, 22:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm