Khi nghiên cứu về rào cản thương mại với tư cách là một công cụ điều chỉnh dòng chảy thương mại quốc tế thì việc vận dụng nó như thế nào để có thể vừa bảo vệ chính đáng các ngành sản xuấ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3M ỤC LỤC
P HẦN MỞ ĐẦU 1
C HƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 7
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 7
1.1.1 KHÁI NIỆM 7
1.1.2 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 7
1.1.2.1 T Ừ PHÍA DOANH NGHIỆP 8
1.1.2.2 T Ừ PHÍA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ NGƯỜI TIÊU DÙNG 8
1.1.2.3 T Ừ PHÍA CHÍNH PHỦ 9
1.1.3 VAI TRÒ VÀ MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 9
1.1.3.1 VAI TRÒ 9
1.1.3.2 M ỤC ĐÍCH SỬ DỤNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 11
1.1.4 MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ RÀO CẢN THƯƠNG MẠI CỦA WTO 13
1.1.4.1 RÀO CẢN THUẾ QUAN (TARIFF BARRIES) 13
1.1.4.2 RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN (NON - TARIFF BARRIERS) 16
1.1.5 SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA XU THẾ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 20
1.1.5.1 VÀI NÉT VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 20
1.1.5.2 TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG SỰ PHÁT TRI ỂN KINH TẾ VÀ VIỆC SỬ DỤNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI TRONG MỖI QUỐC GIA 22
1.2 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG VIỆC SỬ DỤNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM 25
Trang 41.2.1 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG VIỆC SỬ
DỤNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 25
1.2.1.1 KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC 25
1.2.1.2 KINH NGHIỆM CỦA THÁI LAN 34
1.2.2 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 36
C HƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH RÀO CẢN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 39
2.1 T ỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH RÀO CẢN THƯƠNG MẠI TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VI ỆT NAM 39
2.1.1 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 39
2.1.1.1 N HỮNG NỖ LỰC TỰ DO HOÁ ĐƠN PHƯƠNG 39
2.1.1.2 N HỮNG NỖ LỰC TỰ DO HOÁ SONG PHƯƠNG 40
2.1.1.3 TỰ DO HOÁ ĐA PHƯƠNG, THAM GIA CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ KHU VỰC 40
2.1.1.4 T Ự DO HOÁ ĐA PHƯƠNG, THAM GIA CÁC THỂ CHẾ KINH TẾ TOÀN CẦU 41
2.1.2 CÁC GIAI ĐOẠN CẢI CÁCH RÀO CẢN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 42
2.1.2.1 GIAI ĐOẠN ĐẦU CỦA CÔNG CUỘC CẢI CÁCH (1986 - 1995) 42
2.1.2.2 GIAI ĐOẠN HAI CỦA CUỘC CẢI CÁCH (TỪ NĂM 1995 ĐẾN NAY) 43
2.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG HỆ THỐNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 46
2.2.1 RÀO CẢN THUẾ QUAN 46
2.3.1.1 N HỮNG CAM KẾT THUẾ QUAN CỦA VIỆT NAM THEO CEPT 47
2.3.1.2 NỘI DUNG CAM KẾT VỀ THUẾ QUAN TRONG APEC 50
2.3.1.3 NHỮNG CAM KẾT THUẾ QUAN CỦA VIỆT NAM THEO HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ 51
Trang 52.3.1.4 N ỘI DUNG CAM KẾT THUẾ QUAN CỦA VIỆT NAM TRONG WTO
53
2.3.2 HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN 54
2.3.2.1 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỊNH LƯỢNG 54
2.3.2.2 CÁC BIỆN PHÁP TƯƠNG ĐƯƠNG THUẾ QUAN 59
2.3.2.3 CÁC RÀO CẢN KỸ THUẬT 62
2.3.2.4 CÁC BIỆN PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 66
2.3.2.5 CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ THƯƠNG MẠI TẠM THỜI 67
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC RÀO CẢN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 69
2.3.1 NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ 70
2.3.2 NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN 70
2.3.2.1 N HỮNG HẠN CHẾ 71
2.3.2.2 NGUYÊN NHÂN 73
2.3.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI TRONG THỜI GIAN TỚI 74
C HƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH RÀO CẢN THƯƠNG MẠI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 77 3.1 B ỐI CẢNH MỚI VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI VIỆC SỬ DỤNG HỆ THỐNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 77
3.1.1 BỐI CẢNH QUỐC TẾ 77
3.1.2 BỐI CẢNH TRONG NƯỚC 78
3.1.3 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA RÀO CẢN THƯƠNG MẠI TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 79
3.2 QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH RÀO CẢN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 82
3.2.1 CHÍNH SÁCH RÀO CẢN THƯƠNG MẠI PHẢI NHẤT QUÁN, RÕ RÀNG, MINH BẠCH PHÙ HỢP VỚI THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG NƯỚC VÀ THÔNG LỆ QUỐC TẾ 83
Trang 63.2.2 CHỈ ÁP DỤNG CHO MỘT SỐ LĨNH VỰC CHỌN LỌC, BẢO HỘ CHÍNH ĐÁNG SẢN XUẤT TRONG NƯỚC, TRÁNH NHỮNG TÁC
ĐỘNG TIÊU CỰC ĐỐI VỚI XÃ HỘI 843.2.3 PHẢI TẠO ĐIỀU KIỆN VÀ SỨC ÉP NHẰM NÂNG CAO SỨC
CẠNH TRANH CỦA CÁC SẢN PHẨM, DOANH NGHIỆP VÀ CỦA CẢ NỀN KINH TẾ 853.2.4 PHẢI CHÚ TRỌNG ĐẾN LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG, BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ AN SINH XÃ HỘI 86
THỐNG CHÍNH SÁCH VỀ RÀO CẢN THƯƠNG CỦA VIỆT NAM
3.3.1 NÂNG CAO NĂNG LỰC TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ
DỤNG RÀO CẢN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 873.3.2 XÂY DỰNG BỔ SUNG MỘT SỐ RÀO CẢN THƯƠNG MẠI MỚI PHÙ HỢP VỚI THÔNG LỆ KHU VỰC VÀ QUỐC TẾ 913.3.3 RÀ SOÁT VÀ ĐIỀU CHỈNH CẢI CÁCH CÁC RÀO CẢN HIỆN HÀNH 94 3.3.4 TĂNG CƯỜNG SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 943.3.5 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG LUẬT PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 963.3.6 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VƯỢT RÀO CẢN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HOÁ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 97
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
STT T ừ viết tắt Ngh ĩa đầy đủ
1 adb Asia Development Bank Ngân hàng phát tri ển Châu á
2 afta Asean Free Trade Area Khu v ực mậu dịch tự do Asean
3 AIA Asean Investment Area Khu v ực đầu tư Asean
4 Apec Asia Pacific Economic
Cooperation
Di ễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Th¸i B×nh D- ¬ng
5 Asean Association of Southeast
Contract Hợp đồng hợp tác kinh doanh
8 bit Bilateral and (International)
Area Treaty Hiệp định khu vực và song phương
9 Bot Build - Operate - Transfer Xây dựng - Kinh doanh -
Chuy ển giao
10 Bt Build - Transfer Xây d ựng - Chuyển giao
11 BTO Build - Transfer - Operate Xây dựng - Chuyển giao -
Kinh doanh
15 EC European Community Cộng đồng Châu Âu
16 Ecb European Central Bank Ngân hàng Trung ương Châu Âu
17 Eec European Economic
Community Cộng đồng kinh tế Châu Âu
18 Eu European Union Liên minh Châu Âu
20 Eurostat Statistical Office of the
Trang 822 fpi Foreign Portfolio Investment đầu tư gián tiếp nước ngoài
23 GAT General Agreement on
Tariffs Hiệp định thuế quan chung
24 Gdp Gross Domestic Product T ổng sản phẩm quốc nội
25 Gsp Generalized System of
Prefrences Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập
26 iia International Investment
Agreement Hiệp định tự do hoá đầu tư quốc tế
27 IMF International Monetary
28 ipa Investment Promotion
Agency Cơ quan xúc tiến đầu tư
29 jetro Japan External Trade
Organization Tổ chức ngoại thương Nhật Bản
30 jica Japan International
Corporation Agency
C ơ quan Hợp tác quốc tế của Nhật Bản
32 M & a Merger and Acquisition Mua l ại và sáp nhập
33 Mfn Most Favoured Nations Quy ch ế Tối huệ quốc
34 ngo Non - Governmental
Organization Tổ chức phi chính phủ
35 NICs New Industrialized
Countries Các nước công nghiệp mới
36 nies New Industrialized
Economies Các nền kinh tế công nghiệp mới
37 Oda Official Development
Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức
38 Oecd Organization of Economic
Cooperation&Development
T ổ chức hợp tác và phát triển kinh t ế
40 R & d Research and Development Nghiên c ứu và triển khai
41 Sars Severe Acute Respiratory
Trang 943 TNCs Transnational Corporations C«ng ti xuyªn quèc gia
45 Trips Trade related aspects of
Intectual Property rights
Hi ệp định về bảo hộ quyền sở hữu trí tu ệ quốc tế
49 Unctad United Nations Conference
Trade and Development
H ội nghị của Liên hợp quốc về
Th ương mại và Phát triển
50 Undp United Nations
52 USD United State Dollar Đồng Đô la Mĩ
53 vat Value - Added Tax Thu ế giá trị gia tăng
54 vcci Vietnam Chamer of
Commerce and Industry
Phòng Th ương mại và công nghi ệp Việt Nam
55 Wb World Bank Ngân hàng th ế giới
56 WTO World Trade Organization T ổ chức thương mại Thế giới
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
THUẾ QUAN 57
GIẤY PHÉP CỦA BỘ THƯƠNG MẠI (BAN HÀNH KÈM THEO NGHỊ ĐỊNH 12/2006/NĐ- CP NGÀY 23/01/2006 CỦA CHÍNH PHỦ) 58
Trang 11P HẦN MỞ ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thế giới hiện nay, mỗi quốc gia là một chủ thể kinh tế
có chủ quyền độc lập nhưng phụ thuộc nhau về nhiều mặt Nước nghèo phụ thuộc nước giàu về công nghệ, về vốn; ngược lại nước giàu lại phụ thuộc
nước nghèo về nguồn tài nguyên thiên nhiên, về lao động, về thị trường Vì vậy hội nhập kinh tế quốc tế đang được các quốc gia trên thế giới coi là giải pháp tất yếu để thu hẹp khoảng cách và tháo gỡ những khó khăn về tăng
trưởng kinh tế
Hội nhập kinh tế bao hàm rất nhiều nội dung và các mức độ khác nhau,
nhưng tất cả đều nhằm thuận lợi hoá và tự do hoá hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia, góp phần sử dụng các nguồn lực có hiệu quả để phát triển kinh tế Đẩy mạnh tự do hoá thương mại nhằm từng bước cắt giảm và loại bỏ những rào cản thuế quan và rào cản phi thuế quan là một trong những nội dung quan
trọng hàng đầu trong quá trình đàm phán song phương và đa phương Khi tham gia thương mại quốc tế ngoài việc phát huy những thế mạnh nội tại và
tận hưởng những lợi thế từ bên ngoài, các nước cũng sẽ bộc lộ những mặt yếu kém, bất lợi và phải đối mặt với những khó khăn và thách thức từ bên ngoài
Do vậy, các quốc gia thường sử dụng một hệ thống các công cụ được sử dụng
như các “rào cản thương mại” để điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế, thúc đẩy xuất khẩu và bảo vệ sản xuất nội địa Đặc biệt, các nước công nghiệp phát triển, một mặt luôn đi đầu trong việc đòi hỏi đàm phán để mở cửa thị trường và thúc đẩy tự do hoá thương mại, mặt khác lại đưa ra các biện pháp tinh vi hơn, các rào cản phức tạp hơn nhằm tạo ra ưu thế cho họ
Việt Nam, vốn là một nước nghèo và đang phát triển, nguồn lực bên trong tuy phong phú nhưng lại thiếu điều kiện để khai thác Trong những năm qua, nền kinh tế tuy đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao và liên tục, nhưng
chất lượng vẫn còn rất thấp và không bền vững Năng lực cạnh tranh của toàn
bộ nền kinh tế hiện vẫn đứng ở thứ hạng thấp và bấp bênh so với nhiều nước trên thế giới Với chính sách chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trên cơ sở phát
Trang 12huy những thế mạnh về một môi trường chính trị - xã hội ổn định, nguồn nhân
lực dồi dào, vị trí địa lý thuận lợi, Việt Nam đang chứng tỏ là một nền kinh tế
năng động, một thị trường rộng lớn đầy tiềm năng ngày càng có sức hấp dẫn đối với toàn thế giới
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: Hội nhập kinh tế là một bộ phận trong tổng thể đổi mới Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do đó,
cần tỉnh táo khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của nó, tuỳ theo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể, từ đó đề ra kế hoạch và
lộ trình hợp lý, vừa phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển của đất nước,
vừa đáp ứng các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia
Khi nghiên cứu về rào cản thương mại với tư cách là một công cụ điều
chỉnh dòng chảy thương mại quốc tế thì việc vận dụng nó như thế nào để có
thể vừa bảo vệ chính đáng các ngành sản xuất nội địa non trẻ, vẫn tạo điều kiện và sức ép nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm, doanh nghiệp và cả nền kinh tế, phù hợp với thông lệ quốc tế mà không gây ảnh hưởng đến chủ
trương thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Đây cũng là một trong những nội dung mang tính thời sự và hết sức cấp thiết trong tình hình
hiện nay, khi nước ta đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức
thương mại Thế giới (WTO) - ngày 11/01/2007
Với những yêu cầu đặt ra cả về lý luận và thực tiễn, việc tìm hiểu và nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề: “Vận dụng các rào cản thương mại trong
b ối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam” là rất cần thiết và tôi chọn
đó làm đề tài Luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên c ứu
Trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra khẩn trương ở
Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách, cơ quan, ban ngành
đã nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc hình thành và sử dụng hệ thống chính sách rào cản thương mại do những tác động có tính chất hai mặt của nó đến quan hệ thương mại quốc tế Trong những năm gần đây đã
Trang 13có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề trên, trong đó phải kể đến những công trình như :
- Đại học Ngoại thương (2001): “Bảo hộ hợp lý sản xuất và mậu dịch
nông s ản trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế”, Đề tài NCKH
cấp Bộ
- Vụ Kế hoạch thống kê - Bộ Thương mại (2004): “Cơ sở khoa học định
h ướng các biện pháp phi thuế để bảo hộ sản xuất hàng hoá ở Việt Nam trong quá trình h ội nhập kinh tế thương mại thế giới”, Đề tài NCKH cấp Bộ
- Đinh Văn Thành: “Rào cản trong Thương mại quốc tế”, Nxb Thống kê,
Hà Nội, 2005
- Nguyễn Hữu Khải: “Hàng rào phi thuế quan trong chính sách Thương
m ại quốc tế”, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2005
- Nguyễn Xuân Nữ:” Việt Nam cần đa dạng hóa cách tính thuế cho hàng
nh ập khẩu”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 3/2005, Đại học Ngoại thương
Ngoài ra còn có nhiều công trình, bài báo khác liên quan được đăng trên các báo, tạp chí
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề
lý luận và thực tiễn quan trọng về hệ thống rào cản thương mại của Việt Nam
cũng như một số chính sách liên quan đến việc làm thế nào hạn chế, tháo gỡ
và vận dụng chúng Nhưng về cơ bản, những nghiên cứu về các rào cản
thương mại của Việt Nam được xem xét trong chiến lược phát triển kinh tế chung của đất nước Do mục đích, đối tượng, phạm vi và thời điểm nghiên cứu khác nhau, đặc biệt là trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế
quốc tế hiện nay, khi Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO (từ tháng
11/2006) thì sự phù hợp với những quy định cũng như những ưu đãi mà tổ chức này có thể dành cho Việt Nam đối với vấn đề rào cản thương mại đang
là vấn đề nóng bỏng và có tính thời sự cao Vì vậy, với một đề tài nghiên cứu
có tính phổ quát về hệ thống rào cản thương mại cùng với những kiến nghị trong việc xây dựng và sử dụng hiệu quả rào cản thương mại, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước, đồng thời dần khắc phục những
Trang 14bất cập vẫn còn tồn tại trong chính sách thương mại của Việt Nam là điều hết
sức quan trọng và cần thiết
3 M ục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của Luận văn là nghiên cứu mối quan hệ giữa rào cản thương
mại và hội nhập kinh tế quốc tế, làm rõ tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và
những thay đổi trong chính sách rào cản thương mại của Việt Nam Từ đó, đề
xuất một số kiến nghị xây dựng và vận dụng có hiệu quả hệ thống rào cản
thương mại đối với mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu, bảo vệ chính đáng nền sản xuất nội địa, tạo sức ép nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và cả nền kinh tế Đặc biệt, trong thời gian tới Việt Nam phải thực hiện các cam kết trong WTO Để thực hiện được mục tiêu này, tác giả đề ra nhiệm vụ nghiên
cứu của đề tài là:
- Làm rõ một số khía cạnh lý luận về rào cản thương mại trong bối cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế
- Đánh giá thực trạng hệ thống chính sách rào cản thương mại của Việt Nam trong thời gian qua
- Trên cơ sở những phân tích trên, đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện và vận dụng hiệu quả các chính sách rào cản thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- V ề thời gian: Luận văn nghiên cứu hệ thống rào cản thương mại của Việt
Nam từ những năm đổi mới đến nay Đây được coi là mốc thời gian mà Việt Nam có bước chuyển biến về nhiều mặt, ngày càng tham gia sâu rộng vào thương trường và ngoại giao quốc tế
- V ề không gian: Hệ thống rào cản thương mại của Việt Nam
- V ề nội dung: Dưới góc độ kinh tế chính trị, Luận văn nghiên cứu hệ
thống rào cản thương mại như một động thái tất yếu trong xu thế toàn cầu hoá
và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng như hiện nay Luận văn chỉ đưa ra
Trang 15những kiến nghị và giải pháp mang tính vĩ mô, không đi sâu vào những giải pháp nghiệp vụ, tác nghiệp, vận dụng cho một ngành hàng hay lĩnh vực chuyên biệt
5 Ph ương pháp nghiên cứu
Để làm rõ những nội dung cơ bản đã đặt ra của luận văn, trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp: phương pháp kết hợp phân tích
với tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, dự báo trong quá trình nghiên cứu đề tài
6 D ự kiến những đóng góp mới của Luận văn
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về rào cản thương mại trong
thương mại quốc tế
- Tìm hiểu, nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng rào cản thương mại của một
số nước trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống chính sách rào cản thương mại trong thương mại quốc tế của Việt Nam trong thời gian qua, để từ đó thấy được một số thành công, những hạn chế đang tồn tại và những vấn đề đặt ra trong thời gian tới
- Đề xuất những quan điểm định hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách rào cản thương mại theo hướng nâng cao hiệu
quả sử dụng rào cản trong thương mại quốc tế, từ đó thúc đẩy và nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm các ngành, và cả nền kinh tế Việt Nam
7 K ết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các chữ cái viết tắt và bảng biểu, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Ch ương 1: Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về
s ử dụng hệ thống rào cản thương mại
Ch ương 2: Chính sách rào cản thương mại của Việt Nam trong tiến
trình h ội nhập kinh tế quốc tế
Trang 16Ch ương 3: Quan điểm định hướng và những giải cơ bản nhằm hoàn thi ện chính sách rào cản thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
t ế của Việt Nam
Trang 17C HƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ
1.1 Lý lu ận chung về rào cản thương mại
Rào cản thương mại quốc tế xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực, với các
biện pháp rất đa dạng và tinh vi Có biện pháp tại biên giới, có biện pháp đằng sau biên giới; có biện pháp thuế quan và phi thuế quan; có biện pháp môi trường và vệ sinh dịch tễ; có biện pháp tự vệ đặc biệt và biện pháp tự vệ mang tính tạm thời; có biện pháp chung và biện pháp mang tính chuyên ngành; có
những biện pháp đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; có những biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
Thuật ngữ rào cản thương mại (Barriers to trade) được đề cập chính
thức trong một hiệp định của WTO, đó là Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (Agreement on Technical Barriers to Trade) Trong Hiệp định này, khái niệm rào cản không được định danh một cách chính thống, mà
được thừa nhận như một thoả thuận rằng: “không một nước nào có thể bị
ng ăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo chất lượng hàng hoá
xu ất khẩu của mình, hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khoẻ con người, động
và th ực vật, bảo vệ môi trường hoặc để ngăn ngừa các hoạt động man trá, ở
m ức độ mà nước đó cho là phù hợp và phải đảm bảo rằng các biện pháp này không được tiến hành với cách thức có thể gây ra phân biệt đối xử một cách
tu ỳ tiện hoặc không thể biện minh được giữa các nước, trong các điều kiện
gi ống nhau, hoặc tạo ra các hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, hay nói cách khác ph ải phù hợp với các quy định của hiệp định này” Do đó, theo
cách hiểu chung nhất thì rào cản thương mại là bất kỳ biện pháp hay hành động nào gây cản trở đối với thương mại quốc tế
Rào cản thương mại sẽ đem lại lợi ích cho một nhóm người nhất định nào đó, tuy rằng có thể gây thiệt hại cho một nhóm người khác và thậm chí
Trang 18gây thiệt hại về tổng thể cho một quốc gia Chính vì sự liên quan tới lợi ích
của từng nhóm người khác nhau như vậy nên sự hình thành các loại rào cản cũng liên quan mật thiết với từng nhóm người này cũng như khả năng tác động của họ tới chính sách của Nhà nước Xét trên khía cạnh này, ta thấy nguồn gốc hình thành các loại rào cản trong thương mại quốc tế có thể xuất phát từ một trong 3 chủ thể sau:
1.1.2.1 T ừ phía Doanh nghiệp
Hầu hết các doanh nghiệp của bất kỳ ngành sản xuất kinh doanh nào
cũng muốn được Nhà nước bảo hộ, để hạn chế được sự cạnh tranh của nước ngoài, củng cố vị trí của mình trên thị trường và có khả năng thu được lợi nhuận cao hơn Xuất phát từ lợi ích đó, các doanh nghiệp sẽ tập hợp nhau
dưới danh nghĩa Hiệp hội ngành nghề để tiến hành vận động hành lang đối với Chính phủ, nhằm tác động Chính phủ đưa ra các chính sách rào cản thương
mại có lợi cho mình Các tác động từ phía doanh nghiệp hết sức mạnh mẽ và
có tổ chức, với rất nhiều hình thức khác nhau Trong nhiều trường hợp, với khả năng tài chính của mình, các doanh nghiệp có khả năng tác động rất lớn
tới Nhà nước, thông qua các biện pháp tiêu cực Hoặc nếu không họ sẽ vin vào những lý do có vẻ như rất chính đáng như: ngành công nghiệp non trẻ cần phải được bảo hộ, ngành sản xuất có liên quan đến việc làm của nhiều người lao động, ngành sản phẩm có liên quan đến an ninh quốc gia Dưới tác động
của các doanh nghiệp, Chính phủ có thể sẽ phải đưa ra các rào cản thuế quan hoặc phi thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước
1.1.2.2 T ừ phía người lao động và người tiêu dùng
Một trong những lý do lớn dẫn tới việc hình thành các rào cản là để bảo
vệ người lao động Trước hết là để bảo vệ cho người lao động trong ngành được bảo hộ Người lao động có thể thông qua các nghiệp đoàn để đấu tranh
hoặc đòi hỏi Chính phủ hạn chế sản phẩm, doanh nghiệp và kể cả công nghệ
có năng suất cao thâm nhập vào thị trường nội địa của họ Đây chính là những
lý do mà Chính phủ phải dựng lên rào cản với tên gọi là trách nhiệm xã hội Với người tiêu dùng cũng vậy, họ cũng có những tác động rất lớn đến việc hình thành các rào cản trong thương mại quốc tế, với lý do là để bảo vệ sức khoẻ con người, bảo vệ động thực vật hoặc là bảo vệ môi trường người ta có
Trang 19thể đưa ra các tiêu chuẩn hay quy định kỹ thuật rất cao tới mức cản trở thương
mại, hoặc có thể đưa ra các biện pháp cấm nhập khẩu ngay cả khi nguy cơ chưa được phân tích và xác định một cách khoa học Nhìn chung, dưới tác động của dân chúng, Chính phủ của các nước sẽ phải sử dụng các biện pháp khác nhau để đáp ứng nguyện vọng của họ Trong nhiều trường hợp, các biện pháp được áp dụng sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở thương mại quốc tế
1.1.2.3 T ừ phía Chính phủ
Xuất phát từ những mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và vận động của các nhóm khác nhau, Chính phủ sẽ phải cân nhắc đến lợi ích của từng nhóm cũng như tổng thể để quyết định xem có nên thực thi một rào cản nào đó hay không Quá trình này không phải dễ dàng vì việc tính toán lợi ích và những thiệt hại một cách tổng thể là rất khó khăn đặc biệt
là phải cân nhắc giữa cái trước mắt và cái lâu dài, cũng như phản ứng của các đối tác thương mại và các quốc gia có liên quan Với bất kỳ chính sách rào
cản nào, có thể có lợi cho doanh nghiệp và người lao động trong ngành được
bảo hộ, nhưng lại gây hại cho các ngành khác và cho người tiêu dùng nói chung Tuy nhiên, Chính phủ vẫn phải ra các quyết định dựa trên sự điều hoà
lợi ích một cách hợp lý Ngoài ra, trong nhiều trường hợp luôn có sự cấu kết giữa doanh nghiệp và Nhà nước vì lợi ích của hai phía có sự liên hệ chặt chẽ với nhau, tăng mức độ bảo hộ bằng thuế quan thì thu ngân sách của Nhà nước
sẽ tăng lên trong ngắn hạn Bên cạnh đó còn là sự xoa dịu của Chính phủ với dân chúng bởi các lý do như là đảm bảo về an ninh xã hội, hoặc là để bảo vệ các giá trị văn hoá, đạo đức Do vậy, dù muốn hay không Chính phủ cũng vẫn phải chấp nhận hi sinh một số lợi ích để đạt được những mục tiêu quan trọng hơn trong từng giai đoạn phát triển của quốc gia từ việc tạo nên một hệ
thống rào cản trong quan hệ thương mại quốc tế
1.1.3.1 Vai trò
Rào cản thương mại thường được thể hiện trong các chính sách thương mại hoặc cơ chế quản lý trong tổng thể hệ thống pháp luật của một quốc gia Rào cản có vai trò chủ yếu trong việc tác động vào các dòng chảy thương mại
Trang 20quốc tế để điều chỉnh dòng chảy này theo hướng có lợi nhất, đáp ứng các mục tiêu và yêu cầu xác định của mỗi quốc gia
Trong thương mại quốc tế, rào cản bao gồm nhiều loại khác nhau và mỗi loại lại giữ vai trò nhất định Chẳng hạn, để bảo hộ sản xuất trong nước
người ta có thể sử dụng các biện pháp thuế quan vì thuế quan có ưu điểm là rõ ràng, minh bạch, dễ dự đoán và tạo nguồn thu chắc chắn cho Chính phủ Tuy nhiên, thuế quan lại có nhược điểm là không tạo ra được sự bảo hộ nhanh chóng, mà phải nhờ đến những biện pháp phi thuế quan như cấm nhập khẩu, hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu có khả năng hạn chế nhập khẩu một cách nhanh chóng hơn Mặc khác, một biện pháp phi thuế có thể còn phục vụ cho nhiều mục tiêu khác nhau Tuy vậy, các biện pháp phi thuế quan cũng có
nhược điểm là dễ làm sai lệch các tín hiệu thị trường dẫn tới phân bổ nguồn lực không đúng, còn các biện pháp phi thuế quan lại khó lượng hoá và khó dự đoán, không mang lại nguồn thu cho Chính phủ mà khi thực hiện còn phát sinh thêm các khoản chi phí quản lý
Do các biện pháp thuế quan và phi thuế quan đều có những ưu điểm và
nhược điểm nhất định nên chúng thường được sử dụng đồng thời hay kết hợp
lẫn nhau Mặc dù thuật ngữ “rào cản” trong thương mại quốc tế không được định danh một cách chính thức trong các điều ước quốc tế, nhưng lại được các Nhà nước hoặc các Chính phủ vận dụng để ban hành thành pháp luật của quốc gia Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia cũng không có quy định chính thức dưới tên gọi rào cản hoặc một hệ thống luật pháp riêng có liên quan đến rào cản mà nó nằm trong nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, thuộc các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau Trong xu thế toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại, hầu hết các nước đều cam kết từng bước dỡ bỏ các rào cản thương mại quốc tế
để thúc đẩy tự do hoá thương mại, nhưng thực tế việc dỡ bỏ lại diễn ra rất
chậm, thậm chí, một số rào cản mới còn được tạo dựng thêm một cách hết sức tinh vi và vẫn rất phổ biến Như vậy, do đặc điểm và trình độ phát triển của các quốc gia còn hết sức khác nhau, nên sẽ không thể bác bỏ ngay được việc
sử dụng các rào cản trong hoạt động thương mại quốc tế Tuy nhiên, việc sử
dụng rào cản như thế nào và ở mức độ nào trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay là một bài toán khó
Trang 21đối với tất cả các quốc gia Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam lại càng cần một lời giải tốt nhất, toàn diện nhất, đem lại nhiều lợi ích cho đất nước mà vẫn đảm bảo tuân thủ “luật chơi” mà WTO đã quy định
1.1.3.2 M ục đích sử dụng rào cản thương mại
Như vậy, khi xem xét về khía cạnh lợi ích, thì sự hình thành các loại rào cản trong thương mại quốc tế xuất phát từ ba chủ thể chính: Từ phía các doanh nghiệp, từ phía Chính phủ, từ phía người lao động và người tiêu dùng Tuy nhiên, Chính phủ còn sử dụng công cụ này xuất phát từ nhiều động cơ và
nhằm tới nhiều mục đích khác nhau, thậm chí còn tạo nên sự phân biệt đối xử giữa các nước khác nhau Cụ thể:
Th ứ nhất: Vì mục đích chính trị
Trong thực tiễn, một số quốc gia sử dụng các biện pháp kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu chính trị, điển hình nhất hiện nay là Mỹ và một số nước Tây Âu Họ có thể cấm vận toàn diện, hoặc cấm vận từng phần đối với hoạt động thương mại quốc tế của một số nước khác, ngược lại họ cũng có thể dành các ưu đãi đặc biệt cho một quốc gia nào đó vì mục đích chính trị Nguyên tắc dành sự ưu đãi cho các nước đang phát triển và các nước kém phát triển cũng được các quốc gia áp dụng rất khác nhau và thường là không phải tất cả các nước thuộc đối tượng trên đều được ưu đãi như nhau Sự ưu đãi không công bằng đó chính là rào cản đối với các nước không được ưu đãi
Th ứ hai: Nhằm bảo vệ người tiêu dùng và người lao động
Để ổn định tình hình xã hội, đặc biệt là nhằm đạt được mục tiêu giảm tỷ
lệ thất nghiệp và tạo việc làm cho lao động trong nước, Chính phủ có thể sử
dụng các biện pháp khác nhau để hạn chế nhập khẩu, thậm chí cả hạn chế
nhập khẩu lao động để bảo vệ việc làm cho người lao động trong nước
Kinh tế càng phát triển thì người tiêu dùng càng đòi hỏi cao hơn về chất
lượng hàng hoá và dịch vụ, người tiêu dùng sẽ quan tâm nhiều hơn đến các
vấn đề sức khoẻ Công nghiệp hoá và toàn cầu hoá làm cho lương thực, thực phẩm có thể được đưa đến mọi nơi trên thế giới Các căn bệnh truyền nhiễm
có thể từ đó mà lây lan ra toàn cầu Bởi vậy, Chính phủ cần có các biện pháp
nhằm tác động tới các sản phẩm nhập khẩu thông qua các quy định về tiêu
Trang 22chuẩn chất lượng sản phẩm, nhãn hiệu, bao bì đóng gói Với các nước công nghiệp phát triển, những quy định trên thường là quá mức cần thiết Nhiều sản phẩm nhập khẩu, chưa đủ bằng chứng khoa học về tác hại của chúng đối với
người tiêu dùng nhưng vẫn có thể bị cấm
Th ứ ba: Nhằm khuyến khích các lợi ích của quốc gia
- Do yêu cầu của chiến lược phát triển các ngành sản xuất nội địa, có thể dành ưu tiên hơn cho các nhà sản xuất trong nước Vì vậy, Chính phủ ở
mỗi quốc gia thường đưa ra các biện pháp nhằm cản trở tạm thời đối với doanh nghiệp nước ngoài Ở hầu hết các nước phát triển, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp thường được bảo hộ cao nhất bởi tầm quan trọng của an ninh
lương thực, thực phẩm an toàn và việc làm trong ngành nông nghiệp Việc sử
dụng trợ cấp và hạn chế nhập khẩu hàng nông sản nước ngoài là các biện pháp thường được áp dụng
- Chính phủ các nước muốn tạo dựng và khai thác các ngành sản xuất trong nước mà lợi thế cạnh tranh quốc gia có thể thu được, thì chính sách thương mại của Chính phủ sẽ phải trợ giúp các công ty của họ trong những ngành nhất định để giành được lợi thế cạnh tranh trên thị trường Các biện pháp trợ cấp xuất khẩu sẽ được áp dụng Ngược lại, Chính phủ các nước nhập khẩu lại phải sử dụng các biện pháp để hạn chế nhập khẩu, thậm chí cả các
biện pháp trả đũa
- Chính sách thương mại có thể được xây dựng với các mục tiêu nhằm
tạo dựng thị trường và các đối tác thương mại có tính chất chiến lược Các khoản ưu đãi có thể dành cho một nước nào đó nhưng lại trở thành rào cản đối
với nước khác bất chấp cả các nguyên tắc trong khuôn khổ WTO
- Vì các lợi của ích quốc gia liên quan đến việc duy trì văn hoá và giữ gìn bản sắc dân tộc, qua đó các sản phẩm văn hoá là rất quan trọng Sự phát triển của công nghệ viễn thông toàn cầu đe doạ bản sắc văn hoá dân tộc, buộc các Chính phủ hạn chế nội dung nước ngoài và sở hữu nước ngoài trong lĩnh vực này
Th ứ tư: Nhằm đáp lại các hành động thương mại không bình đẳng
Hầu hết mọi người đều cho rằng sẽ chẳng có ý nghĩa gì đối với một
Trang 23quốc gia cho phép tự do thương mại nếu các quốc gia khác bảo vệ một cách tích cực các ngành công nghiệp của chính họ Các Chính phủ thường đe doạ đóng các cảng đối với tàu thuyền của quốc gia khác hoặc áp mức thuế rất cao đối với các hàng hoá của những quốc gia này nếu họ có bằng chứng thể hiện các hoạt động thương mại đó là không bình đẳng Nói cách khác, nếu một Chính phủ cho rằng một quốc gia khác “đang chơi không bình đẳng”, họ sẽ đe doạ trả đũa trừ khi đạt được những thoả thuận nhất định Những biện pháp này
thường được gọi là các biện pháp phòng vệ hoặc trả đũa
Th ứ năm: Nhằm bảo vệ an ninh và môi trường quốc gia
Vấn đề an ninh quốc gia luôn đòi hỏi phải sử dụng các biện pháp cấm
nhập khẩu đối với một số mặt hàng hoá liên quan như vũ khí, chất nổ, máy móc thiết bị chuyên dùng cho việc in tiền, các thiết bị thu phát các tín hiệu vệ tinh, và một số ngành sản xuất khác cũng cần phải sử dụng các biện pháp
kiểm soát rất nghiêm ngặt
Ngày nay, cùng với vấn đề phát triển thương mại, các quốc gia đều rất quan tâm đến mục tiêu bảo vệ môi trường, tuy rằng mức độ quan tâm và các biện pháp cũng có sự khác nhau Chính vì vậy mà các quy định về môi trường
cũng có sự khác nhau và đã trở thành rào cản trong thương mại quốc tế
Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization - WTO) là tổ
chức quốc tế tiến bộ mang lại những quyền lợi to lớn cho các nước thành viên
WTO được thành lập ngày 15/4/1994 tại Ma rốc, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1995 trên cơ sở kế thừa Tổ chức hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) WTO có chức năng giám sát và giải quyết các tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên dựa trên các quy tắc thương mại, đồng thời có quyền ban hành các biện pháp trừng phạt đối với các thành viên không tuân theo luật lệ
Sau đây là một số quy định chung về rào cản thương mại của WTO, trên cơ sở đó cung cấp những thông tin trung thực và quan trọng cho việc hoạch định chính sách của các quốc gia khi tham gia vào thương mại quốc tế
1.1.4.1 Rào c ản thuế quan (Tariff Barries)
Trang 24Thuế quan được áp dụng trước hết là nhằm phát triển và bảo hộ sản
xuất trong nước, sau đó là góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách và hướng dẫn tiêu dùng trong nước Đối với mỗi mặt hàng tuỳ theo mức thuế suất mà
lượng hoá mức độ bảo hộ Với mục tiêu thúc đẩy quá trình tự do hoá thương
mại, thông qua các vòng đàm phán, WTO luôn kêu gọi các nước cắt giảm thuế quan Nhưng do xuất phát điểm về mặt kinh tế giữa các thành viên của WTO là khác nhau nên Tổ chức này vẫn thừa nhận và cho phép sử dụng thuế quan để điều chỉnh quan hệ thương mại giữa các nước với nhau bởi tính rõ ràng, minh bạch, dễ dự đoán của nó Tuy nhiên, các nước phải cam kết ràng buộc với một mức thuế trần nhất định và phải có lịch trình cắt giảm
Các quy định của WTO không đề cập một cách cụ thể rằng các nước
phải sử dụng loại thuế nào, cho nên trong thực tiễn thương mại quốc tế có nhiều loại thuế và mức thuế khác nhau được sử dụng Dưới đây là một số loại thuế phổ biến:
Thu ế phần trăm: Được tính là theo tỷ lệ phần trăm giá trị giao dịch của
hàng hoá nhập khẩu Hiện nay, đây là loại thuế được sử dụng rộng rãi nhất
Thuế phi phần trăm: Bao gồm: Thuế tuyệt đối (thuế xác định bằng một
khoản cố định trên một đơn vị hàng nhập khẩu) và thuế tổng hợp (là sự kết hợp giữa thuế phần trăm và thuế tuyệt đối)
Thu ế quan đặc thù: Bao gồm nhiều loại như: Hạn ngạch thuế quan, thuế
đối kháng, thuế chống bán phá giá, thuế thời vụ và thuế bổ sung
+ Hạn ngạch thuế quan: Là một biện pháp quản lý nhập khẩu với hai
mức thuế suất áp dụng Hàng hoá trong hạn ngạch thuế quan thì được áp mức thuế suất thấp còn hàng hoá ngoài hạn ngạch thuế quan thì phải chịu mức thuế suất cao hơn Biện pháp này chỉ được sử dụng đối với các sản phẩm nông nghiệp (quy định tại Phụ lục I, Hiệp định Nông nghiệp) Theo Hiệp định nông nghiệp, các thành viên không được áp dụng các biện pháp phi thuế quan đối
với nông sản
+ Thuế đối kháng: Hay còn gọi là thuế chống trợ cấp xuất khẩu Đây là
một khoản thuế đặc biệt đánh vào sản phẩm nhập khẩu để bù lại việc nhà sản
xuất và xuất khẩu sản phẩm đó được Chính phủ nước xuất khẩu trợ cấp
Trang 25+ Thuế chống bán phá giá: Là loại thuế quan đặc biệt được áp dụng để
ngăn chặn và đối phó với hàng nhập khẩu được bán phá giá vào thị trường nội địa tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh
+ Thuế thời vụ: Là loại thuế với mức thuế suất khác nhau cho cùng một
loại sản phẩm Thông thường được áp dụng cho mặt hàng nông sản, khi vào
thời vụ thu hoạch trong nước thì áp dụng mức thuế suất cao nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, khi hết thời vụ thì trở lại mức thuế bình thường
+ Thuế bổ sung: Là một loại thuế được đặt ra để thực hiện biện pháp tự
vệ trong trường hợp khẩn cấp Các Chính phủ có thể áp dụng thuế bổ xung cao hơn mức thuế thông thường nếu như khối lượng hàng nhập khẩu của sản
phẩm đó tăng lên quá cao gây ảnh hưởng nghiêm trọng hoặc có nguy cơ làm
mất đi một ngành sản xuất nào đó trong nước
Ngoài ra, trong Biểu thuế xuất, nhập khẩu của các nước thường có nhiều loại thuế cụ thể khác nhau cho cùng một loại sản phẩm do mức độ “ưu đãi” đối với các nước là khác nhau quyết định Nếu hàng hoá của một nước nào đó phải chịu thuế suất kém ưu đãi hơn so với nước khác thì chính điều đó
sẽ trở thành rào cản thuế quan Hiện có một số loại thuế cụ thể được áp dụng trong thương mại quốc tế như sau:
+ Thuế phi tối huệ quốc (Non - MFN): Đây là mức thuế cao nhất mà các nước áp dụng đối với những nước chưa phải là thành viên của WTO và
chưa ký kết hiệp định thương mại song phương với nhau Thuế này có thể
nằm trong khoảng từ 20 - 110%
+ Thuế tối huệ quốc (MFN): Là loại thuế mà các nước thành viên WTO áp dụng cho những nước thành viên khác hoặc theo các Hiệp định song phương về ưu đãi thuế quan Đây là loại thuế có mức thuế suất thấp hơn nhiều
so với thuế suất thông thường
+ Thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP): là loại thuế ưu đãi cho một số hàng hoá nhập khẩu từ các nước đang phát triển được các nước công nghiệp phát triển cho hưởng GSP Mức thuế này thấp hơn mức thuế tối huệ quốc
+ Thuế áp dụng đối với các khu vực thương mại tự do: Đây là loại thuế
có mức thuế suất thấp nhất hoặc có thể bằng không đối với nhiều mặt hàng
Trang 26Hiện tại có rất nhiều khu vực tự do đã được hình thành và trong các Hiệp định này thuế suất là rất thấp hoặc bằng không (tức là ưu đãi về thuế rất cao)
+ Các loại thuế quan ưu đãi khác: Đây là những ưu đãi thuế quan đặc biệt, được áp dụng trong các trường hợp các nước ký kết các hiệp định chuyên ngành với nhau như: Hiệp định thương mại mua bán máy bay dân dụng; hiệp
định thương mại các sản phẩm dược, ô tô,
1.1.4.2 Rào c ản phi thuế quan (Non - Tariff Barriers)
a Các bi ện pháp hạn chế định lƣợng (Quantitative Restrictions): Là
những quy định của các quốc gia về số lượng hoặc giá trị hàng hoá được xuất đi
hoặc nhập về từ một thị trường nào đó Đây là nhóm biện pháp mang tính đặc thù chủ quan nhất tác động đến thương mại quốc tế, do vậy nhóm rào cản này được WTO quy định khá chặt chẽ Theo quy định thì ngoài thuế quan, thuế nội địa và các loại chi phí khác, các thành viên không được tạo ra hay duy trì những biện pháp như hạn ngạch, giấp phép hay các biện pháp khác nhằm hạn chế số lượng nhập khẩu từ các thành viên khác hoặc hạn chế số lượng xuất khẩu tới các thành viên khác Trong nhóm này gồm một số biện pháp cơ bản sau đây:
C ấm xuất khẩu, nhập khẩu: Đây là biện pháp mang tính bảo hộ cao, gây
ra hạn chế lớn nhất đối với thương mại quốc tế Do đó, nói chung WTO không cho phép các nước thành viên được sử dụng biện pháp này Tuy nhiên, do trình độ phát triển giữa các nước thành viên không đồng đều nên các quốc gia vẫn tiến hành các biện pháp cấm xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở không phân biệt đối xử, trong một số trường hợp đặc biệt như cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia, bảo vệ đạo đức xã hội, con người, động thực vật, tài sản quốc gia được quy định cụ thể tại Điều XXI của Hiệp định chung về thuế quan năm 1994, (GATT/1994)
H ạn ngạch (Quota): Đây là biện pháp hạn chế về số lượng hoặc giá trị
hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu từ một thị trường nào đó trong một thời gian
nhất định Điều XI - GATT/1994 quy định các nước không được sử dụng biện pháp này, vì nó làm ảnh hưởng nhiều tới thương mại quốc tế Biện pháp này được quy định nghiêm ngặt hơn thuế quan Tuy nhiên, tại Điều XVIII - GATT/1994, WTO vẫn cho phép được áp dụng hạn ngạch trong những trường
hợp đặc biệt:
Trang 27+ Nhằm hạn chế tạm thời, ngăn ngừa, khắc phục sự khan hiếm trầm
trọng về lương thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác;
+ Nhằm bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán của nước mình, khi sự thâm hụt nghiêm trọng về dự trữ ngoại tệ, hoặc có số dự trữ quá ít, cần thiết phải nâng mức dự trữ lên một mức hợp lý;
+ Các nước đang phát triển có thể áp dụng hạn chế số lượng trong chương trình trợ giúp cuả Chính phủ về đẩy mạnh phát triển kinh tế, hoặc hạn
chế để bảo vệ cho một số ngành công nghiệp;
+ Ngoài ra còn được áp dụng trong các trường hợp như: Bảo vệ đạo đức
xã hội, bảo vệ sức khoẻ con người, bảo vệ động thực vật quý hiếm, xuất nhập
khẩu vàng bạc, tài sản quốc gia liên quan đến văn hoá nghệ thuật, lịch sử, khảo cổ, tài nguyên thiên nhiên khan hiếm
Khi sử dụng hạn ngạch, WTO yêu cầu các quốc gia thành viên phải thực
hiện các điều kiện kèm theo như việc hạn chế sản xuất hay tiêu dùng trong nước, cam kết không làm ảnh hưởng tới lợi ích của các thành viên khác, đồng thời phải
dần dần nới lỏng biện pháp này khi kinh tế đã khôi phục, sau đó dỡ bỏ hoàn toàn
nhằm thực hiện nguyên tắc chung của WTO Do tính pháp lý không cao và thời gian thông thường chỉ một năm trở lại, nên khi tiến hành áp dụng hạn ngạch, các quốc gia phải thông báo thời gian cụ thể và các thay đổi nếu có
Gi ấy phép nhập khẩu (Import Licences): Các thủ tục cấp giấy phép
nhập khẩu không minh bạch hoặc chậm trễ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến dòng chảy thương mại, vì vậy Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu (ILP)
của WTO đã đặt ra những yêu cầu:
+ Chế độ cấp và quản lý giấy phép không được gây phiền toái;
+ Nội dung giấy phép và thủ tục cấp cần phải minh bạch, rõ ràng và có
thể dự đoán trước (tính khả đóan);
+ Bảo vệ những nhà nhập khẩu và nhà cung cấp nước ngoài khỏi bị chậm trễ không cần thiết do những quyết định độc đoán;
+ Các thủ tục hành chính để thực hiện chế độ cấp phép không được bóp méo thương mại do sử dụng không thích hợp các thủ tục đó Các quy tắc đối với thủ tục cấp phép nhập khẩu phải được áp dụng trung lập và được quản lý
Trang 28theo một cách thức công bằng và hợp lý;
Hiệp định ILP quy định các nước thành viên phải công bố công khai tất
cả những quy định về thủ tục cấp phép nhập khẩu, để các nhà nhập khẩu, xuất khẩu và Chính Phủ của họ có thể hiểu biết một cách đầy đủ nhất Quy định này nhằm làm minh bạch tất cả các tiêu chí khi tham gia cấp hạn ngạch, đảm
từ chối do những biến cố nhỏ như sai sót về giá trị, số lượng, hay trọng lượng
Những quy định đó nhằm hạn chế bớt những khó khăn, phiền toái đối với những doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Điều này rất hay xảy ra ở các nước chậm và đang phát triển
b Các bi ện pháp tương đương thuế quan ( Para - Tariff Measures)
Các biện pháp tương đương thuế quan là các biện pháp làm tăng giá hàng nhập khẩu theo cách tương tự như thuế quan Cách quản lý này có thể có
những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới giá của hàng xuất, nhập khẩu nhằm những mục tiêu đựơc xác định như là: Để duy trì mức giá của hàng sản xuất trong nước khi giá của hàng nhập khẩu thấp hơn giá nội địa của hàng hoá cùng loại ở một mức nhất định, hoặc nhằm mục đích ấn định giá trong nước
của một mặt hàng nào đó khi giá cả trên thị trường trong và ngoài nước có những biến động bất lợi, từ đó có thể triệt tiêu được những tác động tiêu cực gây ra bởi hoạt động ngoại thương bất bình đẳng Với mỗi biện pháp này WTO cũng đưa ra những quy định cụ thể:
Ph ương pháp xác định trị giá hải quan (Custom Valuation): Tại Điều 7,
Hiệp định về trị giá hải quan đã nêu rõ: “Trị giá hải quan là trị giá của hàng hoá xuất nhập khẩu được xác định theo mục đích quản lý hải quan, là một trong những căn cứ cơ bản để tính thuế hải quan và các thuế khác” Tại hiệp định này WTO cho phép một số cách xác định trị giá hải quan là: Xác định trị giá giao dịch, trị giá khấu trừ, trị giá tính toán, đồng thời quy định thêm cả phương pháp dự phòng (Fall - back method) như là một biện pháp mở rộng
Trang 29bằng việc kết hợp các phương pháp một cách phù hợp, nhằm tránh việc định giá hải quan một cách tuỳ tiện sẽ bóp méo hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá Như vậy, hiệp định này được ký kết giữa các nước thành viên
nhằm mục đích bảo đảm giá trị hàng hoá nhập khẩu được xác định một cách khách quan và công bằng, phát huy tác động tích cực tới các ràng buộc thuế
đã đạt được trong các vòng đàm phán GATT/WTO
Các bi ện pháp liên quan đến doanh nghiệp: Trên thương trường thường
có nhiều doanh nghiệp tham gia vào quá trình lưu thông, phân phối, có nguồn gốc sở hữu từ nhiều thành phần kinh tế khác nhau, có thể là công ty nhà nước,
tư nhân, cổ phần, hoặc có vốn đầu tư nước ngoài Trong số các doanh nghiệp này, doanh nghiệp nhà nước thường được hưởng nhiều ưu đãi hơn, do
vậy gây nên sự cạnh tranh không bình đẳng Do đó, tại Điều XVII- GATT/1994, quy định: “Các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu, được Nhà nước ban cho những đặc quyền nhất định (doanh nghiệp thương
mại nhà nước) có thể gây ra những cản trở lớn tới thương mại quốc tế”
Các thành viên WTO phải cam kết các hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp thương mại nhà nước phù hợp với các nguyên tắc chung về đối xử không phân biệt với các doanh nghiệp tư nhân và phải tiến hành các hoạt động mua bán hàng hoá chỉ dựa trên tiêu chí thương mại Đồng thời phải dành cho các doanh nghiệp của các thành viên khác những cơ hội thích hợp tham gia cạnh tranh trong việc mua bán hàng hoá phù hợp với thông lệ kinh doanh chung Các thành viên có nghĩa vụ thông báo cho WTO về các doanh nghiệp thương mại nhà nước của họ
Các biện pháp kỹ thuật (Technical Measures): WTO yêu cầu các quy
định về tiêu chuẩn, kỹ thuật cũng như những thủ tục xác định sự phù hợp với các quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn này không được tạo ra các trở ngại không cần thiết đối với thương mại quốc tế, phải đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử và đãi ngộ quốc gia, phải minh bạch và tiến tới sự hài hoà Nhưng các thành viên có thể đưa ra các biện pháp cần thiết để bảo vệ môi trường, sức khoẻ con người, động thực vật, ngăn ngừa các hành động xấu mà nước đó cho là thích hợp, với điều kiện là các biện pháp đó không được áp dụng theo cách
thức tạo ra sự phân biệt đối xử tuỳ tiện, hay hạn chế vô lý đối với thương mại
Trang 30quốc tế
WTO yêu cầu các thành viên tích cực soạn thảo các tiêu chuẩn và tham gia vào Tổ chức tiêu chuẩn đo lường quốc tế như ISO (International Standard Organization) Trong trường hợp các quốc gia không có các tiêu chuẩn quốc
tế hoặc không thể áp dụng các tiêu chuẩn này vì lý do gây phương hại tới lợi ích quốc gia, thì các quốc gia phải sớm công bố trên báo chí hoặc sẵn sàng cung cấp thông tin chi tiết giúp các nước khác biết các tiêu chuẩn mà nước mình áp dụng Mặt khác phải gửi thông báo cho ban thư ký WTO biết về hệ thống tiêu chuẩn và phải giải trình mục đích mà nước mình áp dụng
Đối với thủ tục đánh giá sự phù hợp với các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật, Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) yêu cầu các nước thành viên phải tuân thủ các nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) và Đối xử quốc gia (National Treatment - NT) về thủ tục đánh giá sự phù hợp đối
với các sản phẩm sản xuất tại lãnh thổ nước khác Về phương pháp kiểm tra
và trình tự quản lý sản phẩm không quá phức tạp hay chậm hơn với các sản phẩm cùng loại của nước mình và của nước khác Các điều kiện ưu đãi, mức phí kiểm nghiệm sản phẩm giữa các nước là phải tương đương nhau, không gây khó khăn về địa điểm, thông tin và biện pháp tiến hành thủ tục đánh giá
sự phù hợp, thậm chí phải giữ bí mật tài liệu kiểm nghiệm sản phẩm nhập khẩu như giữ bí mật tài liệu kiểm nghiệm của sản phẩm trong nước
1.1.5.1 Vài nét v ề hội nhập kinh tế quốc tế
* Định nghĩa
Hội nhập kinh tế quốc tế (International Economic Integration) là quá trình trong đó hai hay nhiều chính phủ ký với nhau các hiệp định để tạo nên khuôn khổ pháp lý chung cho sự phối hợp và điều chỉnh quan hệ kinh tế giữa các nước Quá trình này được sử dụng với ý nghĩa là quá trình gắn kết nền kinh tế và thị trường của một quốc gia với nền kinh tế và thị trường khu vực
và thế giới thông qua các biện pháp tự do hoá và mở cửa thị trường trên các
cấp độ đơn phương, song phương, và đa phương
Trang 31Hội nhập kinh tế quốc tế bao hàm nhiều nội dung rộng hơn và cao hơn
tự do hoá thương mại, là sự phối hợp giữa hai hay nhiều Nhà nước độc lập, có chủ quyền Bởi vậy, nó thường chịu sự tác động và điều tiết bởi các chính sách của các chính phủ thành viên Nền kinh tế các nước thành viên không
giống nhau cả về thể chế lẫn cơ cấu kinh tế - xã hội, cho nên quá trình hội nhập kinh tế quốc tế bổ sung và tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển một cách thuận lợi hơn
Hội nhập kinh tế luôn là một hành động tự giác và tích cực của các thành viên nhằm phối hợp và điều chỉnh các chương trình phát triển kinh tế với những thoả thuận có đi có lại của các nước thành viên Nó là bước quá độ trong quá trình vận động của nền kinh tế thế giới theo xu hướng toàn cầu hoá
* Các c ấp độ hội nhập
Khi nghiên cứu về cấp độ hay là mức độ của hội nhập kinh tế quốc tế, cho đến nay, có thể phân chia làm năm cấp độ từ thấp đến cao như sau:
- Khu v ực mậu dịch tự do (Free Trade Area - FTA): Khu vực mậu dịch
tự do là giai đoạn thấp nhất của tiến trình hội nhập kinh tế Giai đoạn này, các
nền kinh tế thành viên tiến hành giảm và loại bỏ dần các hàng rào thuế quan, các hạn chế định lượng và các biện pháp phi thuế trong thương mại nội khối Tuy nhiên, họ vẫn độc lập thực hiện thuế quan đối với các nước ngoại khối
Ví dụ, một số các FTA như là: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu
(EFTA)
- Liên minh thu ế quan (Customs Union): Liên minh thuế quan là giai
đoạn tiếp theo trong tiến trình hội nhập, tham gia vào liên minh thuế quan, các thành viên ngoài việc hoàn tất việc loại bỏ thuế quan và các hạn chế về số lượng trong thương mại nội khối, còn phải cùng nhau thực hiện một chính sách thuế quan chung đối với các nước ngoại khối Ví dụ như: Liên minh thuế quan Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC), Liên minh thuế quan Trung Phi
(UDEAC)
- Thị trường chung (Common Market): Thị trường chung là liên minh
thuế quan cộng thêm với việc bãi bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển các
Trang 32yếu tố sản xuất khác như vốn và lao động Như vậy, trong một thị trường chung không những hàng hoá, dịch vụ mà hầu hết các nguồn lực khác đều được tự do lưu chuyển giữa các thành viên Ví dụ: Cộng đồng kinh tế Châu Âu
trước đây, Thị trường chung Trung Mỹ, Thị trường chung các nước vùng
Caribê
- Liên minh kinh t ế (Economic Union): Liên minh kinh tế là mô hình
hội nhập ở giai đoạn cao dựa trên cơ sở mô hình thị trường chung cộng thêm
việc phối hợp các chính sách kinh tế giữa các nước thành viên như là: ấn định một tỷ giá hối đoái cố định trong một thời gian dài giữa các nước trong liên minh với nhau, lập ra một cơ quan duy nhất có trách nhiệm chung Ví dụ như:
Liên minh Châu Âu (EU)
- Liên minh kinh t ế toàn diện (Comprehensive Economic Union): Liên
minh kinh tế toàn diện là quá trình cuối cùng của quá trình hội nhập Các thành viên thống nhất về chính trị và các lĩnh vực kinh tế: Cùng nhau xây
dựng một chính sách phát triển kinh tế chung cho toàn liên minh; xây dựng một chính sách đối ngoại chung; hình thành một đồng tiền chung thay thế cho các đồng tiền riêng của từng quốc gia thành viên, quy định chính sách lưu thông tiền tệ thống nhất cho toàn liên minh; xây dựng một ngân hàng trung ương chung thay thế cho các ngân hàng trung ương của các nước thành viên, xây dựng một chính sách quan hệ tài chính, đối ngoại chung của liên minh với các nước ngoài liên minh và với các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế Như vậy, ở giai đoạn này, quyền lực quốc gia ở các lĩnh vực trên được chuyển giao cho một cơ chế cộng đồng Hiện nay, trên thế giới mới chỉ có một Liên minh Châu Âu (EU) đang tiến hành xây dựng một liên minh kinh tế toàn diện như vậy
1.1.5.2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế trong sự phát triển kinh tế và
vi ệc sử dụng rào cản thương mại trong mỗi quốc gia
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế là một đòi hỏi khách quan Nó không chỉ có vai trò tích cực mà còn có cả tác động tiêu cực đối với sự phát triển
của nền kinh tế thế giới nói chung và các quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng Nói cách khác, đối với mỗi quốc gia hội nhập kinh tế vừa tạo ra những cơ hội để phát triển, đồng thời vừa đặt ra những khó khăn và thách thức cần phải vượt
Trang 33qua
* H ội nhập tạo ra những cơ hội phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia
Th ứ nhất, tăng khả năng tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ của mỗi quốc gia
nhờ mở rộng các thị trường ngoài nước, và làm cho mỗi nước có khả năng
tiếp cận các nguồn hàng , dịch vụ đa dạng, phong phú với giá cạnh tranh của các nước khác nhau trên thế giới, đặc biệt là máy móc, trang thiết bị kỹ thuật cao cấp và các yếu tố đầu vào Điều đó có nghĩa là hội nhập kinh tế quốc tế sẽ thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển Do vậy, góp phần nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần của dân chúng
Th ứ hai, tăng khả năng thu hút vốn đầu tư của nước ngoài bao gồm cả
vốn vay, ODA, và FDI cũng như các công nghệ cao nhờ việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh như một hệ quả tất yếu của quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế Đồng thời, hội nhập kinh tế quốc tế còn tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư ở mỗi nước đầu tư ra nước ngoài
Th ứ ba, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đầu tư của mỗi nước
theo hướng chuyên môn hoá sản xuất, giúp khai thác tối đa lợi thế so sánh của
mỗi nước, thúc đẩy giao lưu và trao đổi khoa học, kinh nghiệm quản lý, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá và doanh nghiệp của mỗi quốc gia Đây là cơ sở cho việc thúc đẩy quan hệ kinh tế song phương và đa phương phát triển lâu dài và vững chắc
Th ứ tư, thúc đẩy quá trình đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế, chính
trị, xã hội ở mỗi quốc gia Do đó, tạo ra khả năng thuận lợi cho việc xích lại
gần nhau về trình độ phát triển, cơ cấu tổ chức, hệ thống luật pháp, năng lực
quản lý Từ đó góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế giữa các nước, cải thiện khả năng bảo đảm an ninh quốc phòng ở mỗi quốc gia
Th ứ năm, trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ và các mâu thuẫn thương
mại có xu hướng ngày càng gia tăng và trở nên gay gắt, hội nhập kinh tế khu
vực và song phương đang dỡ bỏ dần các rào cản về thuế quan, phi thuế quan giữa các thành viên, tạo nên khuôn khổ kinh tế và pháp lý phù hợp với tiến trình tự do hoá đa phương, góp phần phát triển hệ thống thương mại đa
phương cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Trang 34* H ội nhập kinh tế đặt ra những thách thức trong phát triển kinh tế
và vi ệc sử dụng rào cản thương mại ở mỗi quốc gia
Th ứ nhất, mở cửa đồng nghĩa với sự cạnh tranh gay gắt giữa hàng hoá
và doanh nghiệp của mỗi quốc gia Điều đó dẫn đến nguy cơ phá sản trong
những ngành kinh tế và doanh ngiệp làm ăn kém hiệu quả, khả năng cạnh tranh thấp Từ đó có thể gây xáo trộn về công ăn việc làm của nhiều người lao động, dễ dẫn đến bất ổn định về chính trị và xã hội
Th ứ hai, dỡ bỏ hàng rào thuế quan có nghĩa là quốc gia sẽ mất đi một
nguồn thu ngân sách, nhất là đối với các nước đang phát triển mà thuế quan là một bộ phận quan trọng của ngân sách Nhà nước
Th ứ ba, việc tiến hành cải cách và điều chỉnh cơ cấu kinh tế trước áp
lực hội nhập đòi hỏi phải có một nguồn tài lực và vật lực rất lớn mà không dễ
gì một nước, nhất là những nước đang và kém phát triển , có thể đáp ứng được
Th ứ tư, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, có sự khác biệt về
trình độ giữa các thành viên, nên dễ tạo ra nguy cơ khiến cho các nền kinh tế đang phát triển phải phụ thuộc nhiều vào một số trung tâm kinh tế chủ chốt về
thị trường, công nghệ, vốn Và hậu quả là làm giảm khả năng độc lập của các quốc gia này trong việc hoạch định chính sách đối với nhiều vấn đề kinh tế và chính trị mang tính quốc gia và quốc tế, gây ra nhiều khó khăn và phức tạp trong việc bảo đảm an ninh
Th ứ năm, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các giá trị đạo đức,
văn hoá truyền thống dễ bị xói mòn trước những cám dỗ từ bên ngoài đưa vào,
do đó tạo điều kiện dễ dàng hơn cho sự lan toả của một số hành động xấu, mang tính độc hại như khủng bố, mại dâm, bệnh dịch, tội phạm xuyên quốc gia
Th ứ sáu, trong phạm vi toàn cầu, hội nhập kinh tế khu vực và song
phương có thể dẫn tới mâu thuẫn giữa các khối kinh tế - mậu dịch với nhau, giữa các nước trong khối và ngoài khối, và do vậy, rất dễ dẫn đến tình trạng
thị trường thế giới bị chia cắt và ngăn cản quá trình tự do hoá đa phương, làm
chậm lại tiến trình toàn cầu hoá
Trang 35Hội nhập kinh tế quốc tế không những tạo điều kiện thuận lợi cho các
quốc gia phát huy thế mạnh và tận hưởng những lợi thế từ thị trường thế giới,
mà đồng thời còn bộc lộ ngay những mặt yếu kém và bất lợi của mình Trong
bối cảnh đó, các nước đều duy trì các rào cản thương mại nhằm bảo vệ sản
xuất nội địa hoặc để thực hiện các mục tiêu theo hướng có lợi nhất cho quốc gia mình Mức độ cần thiết và những lý do sâu xa dẫn đến việc bảo hộ sản xuất nội địa của từng quốc gia cũng khác nhau, đối tượng bảo hộ cũng khác nhau, từ đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu về rào cản thương mại một cách toàn
diện là một nhiệm vụ cần thiết và chính đáng, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế như Việt Nam hiện nay
1.2 Kinh nghi ệm của một số quốc gia trong việc sử dụng rào
c ản thương mại và bài học đối với Việt Nam
1.2.1.1 Kinh nghi ệm của Trung Quốc
Trung Quốc hiện đứng đầu thế giới về dân số, đứng thứ 2 về tiềm lực quân sự, đứng thứ 6 về GDP, tương đương với khoảng 10% GDP của Mỹ Nếu tính GDP trên cơ sở sức mua thực tế thì GDP của Trung Quốc sẽ đứng
thứ hai, sau Mỹ, và tương đương với 50% GDP của Mỹ Một đặc điểm hết sức
nổi bật của nền kinh tế Trung Quốc là tăng trưởng với tốc độ liên tục cao nhất thế giới (đạt từ 7 - 10%)
Từ năm 1979, Trung Quốc đã bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa ra bên ngoài theo phương châm thử nghiệm trước và áp dụng rộng rãi sau Quá trình mở cửa được thực hiện theo cách thức từ điểm thành đường, từ đường thành hình Việc xây dựng và hoàn thiện chính sách thương mại ở Trung
Quốc tuân thủ theo một lộ trình sau:
+ Giai đoạn 1: Từ năm 1979 đến năm 1985, phát triển thương mại theo định hướng thay thế nhập khẩu
+ Giai đoạn 2: Từ năm 1986 đến năm 1992, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
+ Giai đoạn 3: Từ năm 1992 đến năm 2000, thực hiện định hướng xuất
Trang 36khẩu bằng các kế hoạch đặc biệt cho từng ngành, áp dụng cộng nghệ tiên tiến
để nâng cao tỷ trọng sản phẩm xuất khẩu sử dụng công nghệ cao
+ Giai đoạn 4: Từ năm 2001 đến nay, thực hiện phát triển nền kinh tế
mở theo yêu cầu và cam kết khi gia nhập WTO
Với lộ trình được xác định, Trung Quốc đã xây dựng và sử dụng hàng loạt các chính sách và biện pháp khác nhau và được nhiều chuyên gia đánh giá là các rào cản gồm nhiều lớp nhằm hạn chế sự thâm nhập tự do của hàng hoá nước ngoài vào thị trường trong nước Điển hình là các loại rào cản sau:
a Quy ền kinh doanh xuất nhập khẩu
Trước khi tiến hành chính sách mở cửa (trước năm 1979), Chính phủ
kiểm soát tất cả các hoạt động ngoại thương Đầu những năm 1980, chỉ có các công ty được chỉ định mới có quyền tiến hành các hoạt động ngoại thương Từ giữa những năm 1980 đến giữa những năm 1990, mặc dù quyền tham gia thương mại quốc tế được phân theo cấp độ, nhưng Chính phủ vẫn thực hiện hệ
thống kiểm tra và phê chuẩn nghiêm ngặt Đến cuối năm 1997, Chính phủ cho phép các đơn vị trong các đặc khu kinh tế thực hiện thí điểm đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu Từ ngày 01/01/1999, Trung Quốc cho phép các công
ty lớn thực hiện theo hệ thống đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu Đồng thời, Trung Quốc cho phép các viện nghiên cứu khoa học của Nhà nước, của tập thể và của các công ty công nghệ cao, công nghệ mới được đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu Đến 11/12/2001, Trung Quốc gia nhập WTO và quyền kinh doanh xuất nhập khẩu đã được mở rộng hơn Tuy nhiên, trong quy chế
về xuất nhập khẩu mới được ban hành sau đó, Trung Quốc vẫn quy định một
số nhóm mặt hàng do doanh nghiệp nhà nước được chỉ định thực hiện và một
số mặt hàng xuất khẩu do doanh nghiệp được chỉ định làm đầu mối
b Rào c ản thuế quan
Từ khi bắt đầu mở cửa, thuế quan của Trung Quốc chủ yếu dựa trên các nguyên tắc sau:
Đối với các loại động thực vật, phân bón, quặng thương phẩm, thuốc, các dụng cụ tinh xảo, dụng cụ máy móc thiết yếu và thực phẩm cần thiết cho xây dựng và đời sống nhân dân và không được sản xuất ở Trung Quốc hoặc Trung Quốc cung cấp được ít thì thuế nhập khẩu thấp hoặc bằng không
Trang 37Thuế nhập khẩu các nguyên liệu thô sẽ thấp hơn thuế nhập khẩu các sản
phẩm thành phẩm hoặc bán thành phẩm Đối với các nguyên liệu liệu thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và không thể tăng năng suất nhanh thì thậm chí thuế suất còn thấp hơn
Nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, thuế suất áp dụng đối với thiết bị, dụng cụ, và linh kiện máy móc sẽ thấp hơn so với thuế suất áp dụng đối với máy móc hoàn chỉnh Mức thuế nhập khẩu đối với những sản
phẩm có thể sản xuất trong nước và hàng hoá xa xỉ phẩm sẽ tương đối cao
hơn Mức thuế nhập khẩu đối với những sản phẩm có thể sản xuất được trong nước và vẫn cần được bảo hộ sẽ cao hơn nhiều
Nhằm khuyến khích xuất khẩu, hầu hết các hàng hoá xuất khẩu được
miễn thuế xuất khẩu Về mức thuế quan trung bình thì mức thuế quan danh nghĩa tiếp tục giảm xuống trong suốt hai thập kỷ qua, thuế quan danh nghĩa đầu những năm 90 là 42,5% đến năm 2001 đã giảm xuống còn 15,2%
Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc tiếp tục cải cách hệ thống thuế quan và các biện pháp quản lý:
Th ứ nhất, Trung Quốc từng bước giảm mức thuế quan theo các cam
kết, mức thuế quan của Trung Quốc sẽ được giảm theo mức trung bình của các nước đang phát triển và mức thuế nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp sẽ
là 10% hoặc trong khoảng đó
Thứ hai, Trung Quốc đã có sự chuẩn bị về luật pháp để thực hiện đầy
đủ các quy tắc về định giá hải quan và cũng đã tập trung nghiên cứu các biện pháp tiến hành cụ thể
Th ứ ba, Trung Quốc đã công bố biểu thuế xuất nhập khẩu mới bao gồm
4 mức: tối huệ quốc, thuế khu vực hợp tác, thuế ưu đãi đặc biệt và thuế suất phổ thông
c H ạn ngạch và giấy phép nhập khẩu
Biện pháp phi thuế quan ngày càng giảm dần và trở nên chuẩn tắc ở Trung Quốc Từ năm 1992 - 2002, số mặt hàng thuộc diện phải xin phép xuất
nhập khẩu và hàng hoá thuộc hạn ngạch nhập khẩu đã được giảm đến hơn một
nửa Chính phủ Trung Quốc vẫn đang tiếp tục áp dụng cơ chế phân phối theo nguyên tắc thị trường trong các quy định về hạn ngạch nhập khẩu
Trang 38Từ năm 1993, Trung Quốc đã cải tổ hệ thống quản lý nhập khẩu theo các thông lệ quốc tế và kể từ đó hạn ngạch nhập khẩu chỉ áp dụng cho các loại hàng hoá có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu ngành công nghiệp và nhập
khẩu Với tư cách là một biện pháp hành chính chủ yếu, biện pháp phi thuế quan có thể bảo vệ ngành công nghiệp trong nước ở mức độ nào đó và là hiện thân của chính sách công nghiệp quốc gia và kế hoạch phát triển kinh doanh
Kể từ đó, biện pháp phi thuế quan đã giảm theo từng năm
d Định giá hải quan
Về định giá hải quan, nếu cơ quan hải quan định giá tuỳ ý thì trật tự thương mại sẽ bị phá vỡ Nguyên tắc cơ bản của việc định giá hải quan ở Trung Quốc là ưu tiên áp dụng giá giao dịch thực tế ghi trên hợp đồng nhập
khẩu và tiến hành điều chỉnh trên cơ sở giá giao dịch thực tế này, sau đó giá giao dịch sẽ được áp dụng để tính thuế Nếu cơ quan hải quan không thể xác định được giá giao dịch thực tế thì có thể áp dụng giá thay thế Ngoài ra, cơ quan hải quan có thể khẳng định giá theo hợp đồng bằng việc sử dụng giá xây dựng hoặc tái đầu tư Đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm được các doanh nghiệp nhập khẩu thì cơ quan hải quan vẫn có thể tiếp tục
khảo sát và kiểm tra giá sau khi hoàn thành thủ tục nhập khẩu
e Các bi ện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
Đối với các biện pháp đầu tư liên quan đến hoạt động thương mại, Trung Quốc đang bãi bỏ và dừng áp dụng biện pháp áp đặt đối với thương
mại Năm 2001, Quốc vụ viện đã quyết định sửa đổi Luật doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Trong luật này, hầu hết các biện pháp hạn chế đầu tư liên quan đến thương mại đã được xoá bỏ Trong quy định hướng dẫn đầu tư nước ngoài
và danh mục đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp mới được ban hành và sửa đổi, danh mục lĩnh vực khuyến khích được mở rộng và danh mục không khuyến khích bị thu hẹp Những quy định trên mở rộng ra các lĩnh vực
như ngân hàng, bảo hiểm, kinh doanh, ngoại thương, du lịch, giao thông vận tải, kế toán, kiểm toán, luật và các lĩnh vực dịch vụ khác, đồng thời, hạn chế
tỷ lệ góp vốn của người nước ngoài trong một số lĩnh vực cũng được nới lỏng
hơn Năm 2002, Trung Quốc đã thu hút đầu tư nước ngoài ở mức cao, gần 50
tỷ USD, lần đầu tiên trở thành nước thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất thế
Trang 39giới Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2001, tổng vốn đầu tư nước ngoài đã
thực hiện là 400 tỷ USD Cùng với việc Trung Quốc mở cửa thương mại dịch
vụ thì một số lĩnh vực dịch vụ khác như hoạt động thương mại, ngoại thương,
viễn thông, tài chính, bảo hiểm cũng là những điểm nóng thu hút đầu tư nước ngoài Các công ty đa quốc gia lớn cũng quan tâm đầu tư vào Trung Quốc Hiện đã có hơn 400 trong số 500 công ty được đánh giá là hàng đầu trên thế giới đầu tư vào Trung Quốc và gần 400 trung tâm nghiên cứu và triển khai
cũng đã được thiết lập tại Trung Quốc
f Chính sách ngo ại hối
Kiểm soát ngoại hối và chính sách tỷ giá cũng là một trong những rào
cản trong thương mại quốc tế của Trung Quốc Trước năm 1978, các giao dịch ngoại hối gần như bị hạn chế bởi chính quyền Trung ương Trong đó, Chính phủ thâu tóm toàn bộ nguồn ngoại hối và độc quyền quyết định việc phân chia Còn mọi doanh nghiệp và cá nhân không được phép tích trữ hay trao đổi ngoại hối một cách tự do
Từ năm 1979, chính quyền đã quyết định cho phép doanh nghiệp được phép giữ lại một phần ngoại tệ thu được từ xuất khẩu Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp đã có khoản thu bằng ngoại tệ và được sử dụng khoản ngoại tệ này theo nhu cầu Năm 1986, Trung Quốc quyết định cải tổ hơn nữa thông qua việc cho phép các doanh nghiệp giữ lại các khoản ngoại tệ chưa dùng đến
hoặc trao đổi với các doanh nghiệp khác có nhu cầu về ngoại tệ Chính sách giữ lại ngoại tệ được coi là thành công trong việc thúc đẩy xuất khẩu nhưng
nó cũng gây ra một số khó khăn liên quan đến nhập khẩu hàng hoá Năm
1994, Trung Quốc bắt đầu thực hiện việc chuyển đổi đồng tiền trong tài khoản vãng lai và đã hoàn thành quá trình này trong vòng hai năm tiếp theo Với bước cải tổ này, Trung Quốc không chỉ thoát khỏi những rắc rối của chính sách giữ lại ngoại tệ, giải quyết được vấn đề hệ thống hai tỷ giá mà còn được các tổ chức quốc tế đánh giá tốt về việc tiếp tục dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan
Chính sách tỷ giá của Trung Quốc có sự thay đổi từ những năm 1980 và đầu những năm 1990, đồng nhân dân tệ (NDT) được gắn với đồng đô la Hoa
Kỳ (USD) Do lạm phát diễn ra liên tục và khả năng cạnh tranh quốc tế suy
Trang 40giảm, NDT đã trải qua những thời kỳ mất giá hai năm một lần (đầu tiên từ 2,80 NDT/USD lên 3,70 NDT/USD vào tháng 7/1986, sau đó lên 4,72 NDT/USD vào tháng 12/1989 và cuối cùng là 5,22 NDT/USD vào tháng 11/1990) Kể từ tháng 4/1991, NDT mất giá thường xuyên hơn nhưng với
mức độ ít hơn Đến cuối năm 1993, tỷ giá là 5,70 NDT/USD Năm 1994, cùng với việc xoá bỏ thị trường ngoại hối chợ đen, Trung Quốc đã thống nhất
tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường, đồng thời bắt đầu thực hiện cơ chế
tỷ giá thống nhất và thả lỏng theo thị trường, và điều này đã khiến cho đồng NDT mất giá đến mức 8,70 NDT/USD Đến nay, đồng NDT lại có giá cao so với đồng USD gây cản trở cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài vào Trung
Quốc và nhập khẩu hàng hoá trở nên đắt đỏ hơn
g Cá c bi ện pháp kỹ thuật
Trung Quốc áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật khác nhau nhằm quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu như: Luật kiểm dịch động thực vật xuất nhập cảnh; Quy định về kiểm nghiệm, kiểm dịch hàng xuất nhập khẩu
Trong đó có 4 nội dung đáng lưu ý là:
Hàng mi ễn kiểm nghiệm, kiểm dịch phải đạt tiêu chuẩn theo quy định:
Doanh nghiệp sản xuất phải có hệ thống chất lượng hoàn thiện và nó phải có
sự giám sát, đồng ý của Cục kiểm nghiệm nhà nước và được cơ quan kiểm tra chất lượng có thẩm quyền cấp chứng nhận Doanh nghiệp sản xuất phải có sự
chấp nhận của Uỷ ban về tiêu chuẩn theo ISO 9000; Chất lượng hàng miễn
kiểm phải ổn định lâu dài Tỷ lệ hợp cách xuất khẩu phải đạt 100% liên tục trong 3 năm
Hàng liên quan đến an toàn vệ sinh và có yêu cầu đặc biệt bắt buộc
ph ải kiểm nghiệm, kiểm dịch: Gồm có những mặt hàng như: Lương thực, thực
phẩm, mỹ phẩm, đồ chơi, đồ điện, những hàng hoá rời, hàng dễ biến chất
Quy định về chế độ cấp giấy phép an toàn chất lượng hàng nhập khẩu:
Hàng liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ môi trường, bảo hộ lao động khi nhập khẩu vào Trung Quốc phải thực hiện chế độ giấy phép an toàn
chất lượng nhập khẩu Hàng nhập khẩu nằm trong danh mục bắt buộc phải có
giấy phép, khi chưa được cấp giấy phép an toàn chất lượng thì không được