Toàn cầu hóa kinh tế hiện nay đang gia tăng mạnh mẽ gắn liền với xu thế khu vực hóa Chương 3 VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TÊ KHU vực VÀ THẾ GIỚIQuan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
TRƯƠNG DUY HÒA
TOÀN CẦU HÓA KINH TÊ VÀ HỘI NHẬP Quốc TÊ
CỦA VIỆT NAMChuyên ngành: Kinh tế chính trị XHCN
Mã số: 50201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Tạ Kim Ngọc, Viện Kinh tế thế giói
OAI HOC QUÔC IỈIA HA N Jt !
TRUNG TÂM THÒNG TIN T>*L:
Trang 2M ỤC LỤC
Trang
C ơ SỞ CỦA TOÀN CẦU HOÁ KINH TẾ 6
1.2 Cơ sở khách quan và những nhân tố thúc đẩy sự gia tăng 11
toàn cầu hóa kinh tế
1.2.1 Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dưới tác 11
động của cách mạng khoa học và công nghệ
1.2.4 Vai trò của một số định chế kinh tế - tài chính toàn cầu 28
và khu vực
1.2.5 Chiến tranh lạnh kết thúc là động lực thúc đẩy toàn cầu 36
hóa kinh tế và hội nhập quốc tế
NHŨNG ĐẶC TRUNG CHỦ YẾU CỦA TOÀN
CẦU HÓA KINH TẾ
2.1 Toàn cầu hóa kinh tế hiện nay là giai đoạn phát triển 38
cao của quốc tế hóa kinh tế
Trang 349535763
69
69
727274
3 }
949495
Toàn cầu hóa kinh tế là một quá trình vận động khách quan của lịch sử bao hàm trong đó đổng thời xu hướng
tự do hóa gắn liền với việc hội nhập kinh tế quốc tế
Toàn cầu hóa kinh tế là một quá trình vừa hợp tác chặt chẽ vừa cạnh tranh với nhau rất quyết liệt
Toàn cầu hóa kinh tê là xu thế khách quan nhưng đang chịu sự chi phối của chủ nghĩa tư bản, đứng đầu là Mỹ
Toàn cầu hóa kinh tế là một quá trình mang tính hai mặt: tích cực và tiêu cực
Toàn cầu hóa kinh tế hiện nay đang gia tăng mạnh mẽ gắn liền với xu thế khu vực hóa
Chương 3
VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TÊ KHU vực VÀ
THẾ GIỚIQuan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề
hội nhập và phát triển
Qúa trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
Những thuận lợi hay là cơ hội của Việt Nam khi tham
gia toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế
Những thành tựu bước đầu của Việt Nam trong tiến
trình hội nhập quốc tế
Những khó khăn thách thức đối với Việt Nam trong tiến
trình toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế
Một số giải pháp góp phần thúc đẩy việc hội nhập vớikhu vực và thế giới của Việt Nam
Cần chủ động hội nhập quốc tế bằng một chương trình
tổng thể với những nội dung và lộ trình hợp lý
Cần tiếp tục đường lối đổi mới theo hướng đạt tiêu chuẩn phổ biến của quốc tế về các thể chế kinh tế thị trường, trước hết là trong các lĩnh vực thương mại, đầu
Trang 43.3.3 Cần tiếp tục đổi mới tiến tới hoàn thiện cơ chế hoạt 96
động kinh tế của bản thân các doanh nghiệp Nhà nước
theo hướng năng động, hiệu quả, tự hạch toán kinh
doanh trên cơ sở lỗ lãi
3.3.4 Đổi mới công tác đào tạo nguồn nhân lực cho phù hợp 98
với thị trường lao động trong nước và quốc tế
3.3.5 Cần có kế hoạch đồng bộ từng bước xây dựng và phát 99
triển các công ty xuyên quốc gia của Việt Nam
3.3.6 Đẩy nhanh việc xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng 99
quan trọng như đường giao thông, hải cảng, sân bay
Trang 5NHŨNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
EX IM B A N K : Ngân hàng xuất nhập khẩu của Mỹ
Trang 6MERCOSUR : Khu vực thương mại tự do Mỹ Latinh
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Ngày nay, thuật ngữ “Toàn cầu hoá kinh tế” và “hội nhập” đã trô nêi khá quen thuộc với bạn đọc trên phạm vi thế giới Trong các chiến lược phá triển của các quốc gia đều nói đến xu thế này Vậy toàn cầu hoá kinh tế là gì
có vai trò như thế nào trong tiến trình phát triển của các quốc gia? Các nướ( nên hay không nên tham gia vào tiến trình này và gia nhập vào xu hưóng đc
ra sao để tránh bị thua thiệt ? Quả thực, đây là những vấn đề lớn, có tínl
chiên lược, mang nhiều nội dung phức tạp liên quan đến chính sách kinh tí
của từng quốc gia
Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của khu vực và thế giới, V vậy không thể đứng ngoài xu hướng toàn cầu hoá kinh tế Tuy nhiên, việc hộ nhập vào toàn cầu hoá kinh tế như thế nào lại là vấn đề không đơn giản Đâ} vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với Việt Nam (và các nước đang phá triển khác), đặc biệt là trong bối cảnh chúng ta đang tích cực hội nhập và liêr kết chặt chẽ với các nước trong khu vực và thế giới theo hướng đa dạng hoá
đa phương hoá, nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá Ví hiện đại hoá đất nước Trên phưcmg diện đó, đề tài nghiên cứu của Luận văr
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng
2 Tình hình nghiên cứu :
Thời gian qua, trên báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng củí nước ta và nước ngoài, giới nghiên cứu và hoạch định chính sách đã bàr không ít đến các khía cạnh khác nhau của toàn cầu hoá kinh tế, chẳng hạn các bài của Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Duy Quý: “Nhìn lại thế kỷ XX và thỉ nhìn sang thế kỷ XXI” đăng trên Tạp chí Cộng sản số 22, tháng 11 - 1999 Giáo sư Tiến sĩ Võ Đại Lược: “Toàn cầu hoá: những tác động và đối sácỉ của Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 1 (22) 1999; Phó giáo sư Tiến sĩ Đỗ Lộc Diệp: “Toàn cầu hoá kinh tế và ý nghĩí của nó”, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 5 - 1999; Phó giáo sư Tiến sĩ Đ( Hoài Nam và Tiến sĩ Trần Đình Thiên: “Xu hướng toàn cầu hoá và tác độn' của nó đến Việt Nam”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 2 (58)
Trang 8Tuy vậy, cho đến nay, chưa có một cuốn sách nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện vể toàn cầu hoá kinh tế, các đặc trung chi phối sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng này, các mặt tích cực và tiêu cực của nó, các giải pháp nào cần có để tham gia vào tiến trình này một cách thích họp nhất.
3 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu của Luận văn nhằm hệ thống hoá những nhân tố làm cơ sở cho toàn cầu hoá kinh tế Qua đó, giúp người đọc hình dung được bức tranh tổng thể về sự phát triển của kinh tế thế giới từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay; đồng thời góp một tiếng nói nhằm giúp Việt Nam hội nhập vào tiến trình khu vưc hoá và toàn cầu hoá kinh tế một cách có lợi nhất
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu tìm hiểu nguồn gốc, bản chất, các đặc trưng CO' bản của toàn cầu hoá kinh tế, các mặt tích cực cũng như tiêu cực của xu hướng này Từ đó, đề xuất một số giải pháp để thúc đẩv hội nhập của Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để đạt mục đích trên, Luận văn sử dụng tổng họp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp duy vật biện chúng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu, phương pháp thống kê học để xử
lý số liệu
6 Đóng góp của Luận văn:
Toàn cầu hóa kinh tế phát triển rầm rộ từ những năm 80 trở lại đây Tuy vậy, đây không phải là hiện tượng mới Các Mác đã tìmg đề cập đến xu hướng tất yếu này trong lý luận của ông Ớ đây, trong Luận văn, người viết
Trang 9+ Thứ ba, trên cơ sở đó, đưa ra một số gợi ý có tính chất tham khảo giúp Việt Nam trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới.
+ Thứ tư, sau khi có được một cái nhìn hệ thống về toàn cầu hoá kinh
tế và hội nhập quốc tế, người viết muốn khẳng định một điều rằng: trong thời đại ngày nay, sức mạnh tổng hợp của từng quốc gia phụ thuộc vào con đường hợp tác kinh tế quốc tế, vì vậy, các nước phải tham gia thị trường thế giới để
bổ sung và hỗ trợ cho nhau, nước nào hội nhập với thế giới một cách thích hợp nhất là nước thu được nhiều lợi ích nhất
7 Kết cấu của Luận văn:
Ngoài Mục lục, Bảng những chữ viết tắt, Lời nói đầu, Kết luận, Phần phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận vãn kết cấu làm 3 chương:
Chưong 1: Cơ sở của toàn cầu hoá kỉnh tế.
Chương 2: Nhũng đặc trưng chủ yếu của toàn cầu hoá kinh tế Chưong 3: Việt Nam hội nhập kinh tê khu vực và thế giới.
Trang 10Chương 1
C ơ SỞ CỦA TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ
1.1 Bản chất của toàn cầu hoá kinh tế
1.1.1 Xét về mặt quan niệm
Toàn cầu hóa kinh tế có phải là một quá trình tất yếu không? Để lý giải điều này, một trong những vấn đề tưởng chừng như đã được giải quyết lại trở thành vấn đề gây tranh luận nhiều nhất: đó là toàn cầu hóa là gì? Chính từ quan niệm khác nhau về toàn cầu hóa mà có nhũng lý giải không giống nhau về cơ sở của toàn cầu hóa, về tính chất tất yếu hay không của toàn cầu hóa
Hiện nay, ngay trong giới học thuật cũng còn dùng khá nhiều khái niệm để cùng chỉ về quá trình toàn cầu hóa Chẳng hạn, trong một số tài liệu,
có người dùng từ “thếgiới hóa”, rồi “quốc tế hóa” và rồi “hội nhập vào nền
kinh tế toàn cầu”, thậm chí có người còn đánh đồng “thế giới hóa”, “toàn cầu
hóa” với các vấn đề mang tính toàn cầu
Loại quan điểm thứ nhất cho rằng, toàn cầu hóa là kết quả của sự phát triển mạnh m ẽ của lực lượng sản xuất, dẫn đến phá vỡ sự biệt lập của các quốc gia, tạo ra sự gắn kết, sự tương tuỳ giữa các quốc gia dân tộc troiìg sụ vận động phát triển Với quan niệm như vậy, thế giới hóa cũng có nghĩa là
toàn cầu hóa và quốc tế hóa đưọ'c xem như giai đoạn trước đó của xu thế toàn cầu hóa Quốc tế hóa, toàn cầu hóa là một quá trình, và vì vậy, nó khác với các vấn đề toàn cầu Tham gia vào quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa chính
là thực hiện việc hội nhập quốc tế
Toàn cầu hóa là một xu hướng bao gồm nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội , là sự gia tăng các mối quan hệ trên các mặt của đời sống xã hội loài người; trong đó, toàn cầu hóa kinh tế vừa là trung tâm vừa là cơ sở và cũng là động lực thúc đẩy các lĩnh vực khác của xu thế toàn cầu hóa nói chung
Trang 11Tuy nhiên, một điều cần thấy là, do thực tế vận động của toàn cầu hóa kinh tế cùng với những hệ quả của nó, nén đã đưa lại những cách lý giải và thái độ không giống nhau đối với xu thế này.
Loại quan điểm thứ hai cho rằng, toàn cầu hoá kinh tế chỉ mới xuất
hiện những năm gần đây, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô cũ và Đông Âu sụp đổ và Mỹ trở thành siêu cường số một trên thế giới Từ đó, người ta
ngầm hiểu với nhau, toàn cầu ìioá kinh tế thực chất là chính sách của Mỹ
nhằm bành trướng quyền lực trên mọi phương diện để thống trị thế giới theo kiểu Mỹ Quan điểm này không chỉ tồn tại ở các nước đang phát triển mà còn
có ỏ' ngay trong lòng các nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Pháp Chúng ta đều biết rằng, sau khi chiến tranh lạnh kết thúc vào cuối những oăm 80, thế giới vận động theo trật tự đa cực với một siêu cường là
Mỹ Với sức mạnh kinh tế, chính trị và quân sự của mình, Mỹ đang đóng vai trò chủ yếu chi phối bàn cờ thế giới Suốt nhũng thập niên sau chiến tranh thê giới thứ hai, kinh tế Mỹ luôn chiếm tới 30% GDP thế giới Trong hơn 108 tháng gần đây, kinh tế Mỹ liên tục đạt mức tăng trưởng trên 3%/năm với tổng sản phẩm quốc nội năm 1999 đạt khoảng hơn 9.000 tỷ USD
Sau khi siêu cường Xô Viết sụp đổ do khuyết tật trong mô hình cũng như sai lầm trong đường lối, Mỹ thực sự trở thành siêu cường duy nhất Mỹ
đã xúc tiến một chiến lược nhằm đề cao vai trò lãnh đạo của mình để thực hiện mưu đồ “không để có bất kỳ nước nào có thể nổi lên thách thức nước Mỹ” Mỹ đang thực hiện cuồng vọng quy tụ toàn thế giới vào vòng ảnh hưởng, chịu sự chỉ huy, điều khiển của mình Với thực lực và ảnh hưởng to lớn, Mỹ đang thao túng các đinh chế kinh tế toàn cầu như WTO, IMF, WB , đòi các quốc gia phải mở rộng cửa thị trường cho hàng hoá Mỹ, tham gia hội nhập vào bàn cờ kinh tế quốc tế theo các luật chơi đã được đinh sẵn xuất phái
từ nhu cầu, lợi ích, quan niệm, chuẩn mực giá trị lối sống Mỹ Vì vậy, khône phải ngẫu nhiên mà người ta đồng nhất “toàn cầu hóa” với “Mỹ hóa”
Thực ra quan điểm này mới chỉ chú ý tới khía cạnh chính trị của toàr cầu hóa kinh tế Đúng là Mỹ đang giữ vai trò bá chủ chi phối phần lớn các
Trang 12hoạt động kinh tế quốc tế, song những nhân tô' nào dẫn đến và cho phép Mj thực hiện vai trò này thì lại chưa có sự quan tâm phân tích thỏa đáng.
Nghiên cứu lịch sử phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa nó chung và nền kinh tế Mỹ nói riêng, ta thấy bản thân các nền kinh tế này cũnị
đã trải qua các thời kỳ bảo hộ cao, chống lại sự xâm nhập từ bên ngoài Thậm chí cho đến nay, các quốc gia tư bản phát triển luôn kêu gọi tự do hóc nền kinh tế toàn cầu, song trên thực tế thì chưa có một quốc gia nào thực SỊ
tự do hóa
Kêu gọi tự do hóa, thâm nhập vào thị trường các nền kinh tế quốc gií dân tộc nhằm tìm kiếm lợi nhuận, rõ ràng có nguồn gốc từ bản chất của nềr sản xuất tư bản chủ nghĩa Sự bành trướng của Mỹ, mà được gọi là Mỹ hóa không những bị phản ứng từ các nước đang phát triển, mà còn bị phản đối tì phía các nước tư bản phát triển, chính là xuất phát từ mục tiêu cạnh tranh lợ ích, muốn phản kháng lại vai trò của Mỹ với tư cách là “trọng tài” trong các cuộc chơi kinh tế, muốn giành giật ảnh hưởng với Mỹ
Loại quan điểm thứ ba cho rằng, xét về mặt thực chất, toàn cầu hóc kinlì tế cố nguồn gốc từ quốc tế hóa Từ các thế kỷ 16 - 17, khi sự phát triểr
của nền sản xuất thủ công đòi hỏi phải mở rộng căn bản các thị trường tiêi thụ sản phẩm và đảm bảo cung cấp nguyên liệu một cách ổn định, thì quí trình quốc tế hóa nền kinh tế thế giới cũng bắt đầu xuất hiện Trong đó các mối quan hệ thương mại trở thành nhân tố căn bản của quá trình tái sản xuất đổng thời thông qua sự phân công lao động quốc tế, tác động mạnh mẽ tới SỊ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu của các nước, theo đà phổ biến củí nền sản xuất công nghiệp, phạm vi của nền kinh tế thế giói cũng được me rộng
Đến thế kỷ 20, sự phát triển theo chiều ngang của quá trình quốc tí hóa các hoạt động kinh tế trên cơ sở thương mại được bổ sung thêm bằní việc xuất khẩu vốn sản xuất và vốn cho vay Các tập đoàn và công ty xuyêi quốc gia lớn cũng đã hình thành Trong nội bộ và bên ngoài các công ty nà'
đã bắt đầu hình thành các quan hệ họp tác sản xuất quốc tế Kể từ đây, qui trình quốc tế hoá đã được thúc đẩy nhanh chóng
Trang 13Vào những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, quá trình quốc tế hóa sản xuất ngày càng phát triển sâu rộng, đạt đến một quy mô mới, lớn hơn và ở một trình độ cao hơn Đó là toàn cầu hóa kinh tế Nói cách khác, toàn cầu hóa kinh tế chính là quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế đã đạt đến trình
độ đưa vào lưu thông kinh tế toàn cầu các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, dựa trên sự phân công lao động toàn cầu, thông qua các loại hình quan
hệ kinh tế khác nhau giữa các nước và do đó khiến cho các nền kinh tế quốc gia xâm nhập và gắn bó chặt chẽ với nhau, chuyển hóa thành nền kinh tế toàn cẩu
Nhu' vậy, toàn cầu hóa kinh tế chính là kết quả của sự phát triển cao độ của quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công quốc tế Đây là một tít yếu khách quan không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ nước nào, kể cả Mỹ Tiến trình toàn cầu hóa kinh tế xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển của thị trường thế giói; từ đó có thể nói, toàn cầu hóa kinh tế chính là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia, khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động và phát triển Sự gia tăng của xu hướng này được thể hiện ở sự mở rộng mức độ và quy mô mậu dịch thế giới, ở sự luân chuyển của các dòng vốn và lao động trên phạm vi toàn cẩu
Nói cách khác, thực chất của toàn cầu hóa kinh tế là tự do hóa kinh tế
và hội nhập quốc tế, mà trước hết là tự do hóa thương mại, tài chính, đầu tư, dịch vụ , là bước nhảy vọt mới về chất của quá trình quốc tế hóa kinh tế, là
sự chuyển hóa nền kinh tế thế giới thành nền kinh tế toàn cầu, phù hợp với trình độ mới của lịch sử phát triển lực lượng sản xuất và sự xã hội hóa của loài người
Thuộc lĩnh vực quan hệ kinh tế quốc tế, toàn cầu hóa kinh tế bị quy định bởi các lợi ích cá nhân, giai cấp, giai tầng, dân tộc, quốc gia và quốc tế của các bên tham gia; chịu sự tác động của quy luật đối sánh lực lưọng vốn
có trong quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng và quan hệ quốc tế nói chung Theo cách nói của Mác và Ảnghen, toàn cầu hóa kinh tế đang đẩy nhanh quá trình làm cho ranh giới giữa quan hệ sản xuất cấp một trong lòng mỗi quốc
Trang 14gia và quan hệ sản xuất phái sinh, tức là quan hệ kinh tế quốc tế, ngày càng
1.1.2 Xét về mặt lịch sử
Toàn cầu hóa kinh tế là kết quả của quá trình quốc tế hóa diễn ra lâu dài kể từ chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do cho đến chủ nghĩa tư bản độc quyền, đế quốc và cuộc khủng hoảng của nó Mác và Ảnghen trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” (1848) đã vạch ra tính quy luật và dự báo triển vọng của toàn cầu hóa tư bản chủ nghĩa từ những điều kiện chủ nghĩa tư bản vừa mói trở thành một hình thái kinh tế - xã hội thống trị Tiếp nối hai ông, trong tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn cao nhất của chủ nshĩa tư bản” Lênin đã làm rõ thêm triển vọng của toàn cầu hóa khi xem xét quá trình chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyển, thời đại thống trị của chủ nghĩa tư bản tài chính
Theo ý của Lênin, chủ nghĩa tư bản đã hình thành thị trường toàn thế giới từ lâu, song chỉ đến giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, nền kinh tế thế giới tư bán chủ nghĩa mà nòng cốt là tư bản tài chính, mới bủa lưới lên đầu bao trùm tất cả các nước, khi mà độc quyền thống trị, bên cạnh thương mại giữa các nước, xuất khẩu tư bản nổi lên hàng đầu, các liên minh độc quyền và các đại cường quốc phân chia thế giới Đến đây, trong một chừng mực nhất định, có thể nói, nền kinh tế toàn cầu tư bản chủ nghĩa đầu tiên đã được hình thành
Nó tồn tại trong những thập niên đầu của giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, song tính toàn cầu của nó còn chưa phát triển mạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, những quan hệ kinh tế giữa các quốc gia còn bị hạn chế, gắn liền với sự tồn tại của hệ thống thuộc địa đóng kín của “mẫu quốc”
Tuy nhiên, kể từ Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), sự hình thành và phát triển của hệ thống XHCN do Liên Xô đứng đầu, cũng như chính sách bao vây, cấm vận chống các nước XHCN do các nước đế quốc thực hiện đã phá vỡ nền kinh tế toàn cầu tư bản chủ nghĩa nàv Từ đó, xuất hiện hai hệ thống kinh tế quốc tế gần như đóng kín và đối chọi với nhau mà một bên là các nước tư bản chủ nghĩa, bên kia là các nước xã hội chủ nghĩa
Trang 15Mặc dù vậy, trong những thời kỳ hòa hoãn và cùng tồn tại hòa bình được xác lập, đã manh nha một nền kinh tế toàn thế giới bao trùm cả hai hệ thống dựa trên những quan hệ kinh tế qua lại, trao đổi, phân công, hợp tác, cạnh tranh chứ không cô lập nhau Trong khi đó, trong phạm vi thế giới tư bản chủ nghĩa, quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế vẫn không ngừng phát triển, và kể từ những năm 1980 trở lại đây, quốc tế hóa kinh tế đã đạt tới đỉnh cao dưới tác động của những thành quả của cách mạng khoa học và công nghệ lần thứ ba, đã khiến cho toàn cầu hóa kinh tế trở thành một đòi hỏi hiện thực mà các nhân tố tác động, thúc đẩy nó sẽ được tiếp tục phân tích kỹ dưới đây.
Tóm lai, toàn cầu hóa kinh tế bắt nguồn từ những cơ sỏ' hiện thực khách quan trong đời sống nhân loại mà thực chất của nó là những minh chứng tất yếu cho một quá trình không thể đảo ngược
1.2 Cơ sỏ khách quan và những nhán tô thúc đẩy sự gia tăng toàn cầu hóa kinh tế
1.2.1 Sự phát triển mạnh m ẽ của lực lượng sản xuất dưóỉ tác động của cách mạng khoa học và công nghệ
Lực lượng sản xuất phản ánh trình độ chinh phục tự nhiên của con người, nó biểu hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình tạo ra của cải vật chất
Trong xã hội phong kiến, do lực lượng sản xuất và giao thông kém phát triển cho nên sản xuất và trao đổi chỉ được thực hiện trong phạm vi và quy mô nhỏ.Tính tự cung, tự cấp của sản xuất là đặc trung chủ yếu của phương thức sản xuất phong kiến Tuy vậy, trong thòi đại phong kiến cũng
đã có thông thương vượt biên giới quốc gia nhưng chưa tạo ra những quan hệ phụ thuộc trong phát triển, chưa có thị trường thế giới theo nghĩa hiện đại.Khi nghiên cứu chủ nghĩa tư bản, Mác và Ảnghen đã cho rằng, do sự phát triển của lực lượng sản xuất đã dẫn đến sự phân công lao động sản xuất ngày càng mở rộng, làm cho quá trình sản xuất và tiêu thụ mang tính quốc
tế, gắn bó và phụ thuộc vào nhau Theo Mác và Ảnghen, đại công nghiệp đã
Trang 16tạo ra thị trường thế giới thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương, các dân tộc.
Như vậy^ quốc tế hóa có cơ sở từ chính SƯ phát triển của sản xuất, nó
ra đời và gắn liền vói sự hình thành của thị trường quốc tế Trong những thế
kỷ trước, chính do lực lượng sản xuất phát triển đã làm cho thương mại và đầu tư có tính quốc tế, kéo theo đó là quá trình di dân, lao động và giao dịch tài chính phát triển vượt biên giới quốc gia Các quốc gia thực dân Châu Âu như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp, Anh đã tiến hành khám phá, khai thác và bóc lột thuộc dịa, đóng vai trò chủ yếu trong việc phát triển lực lượng sản xuất
Cho đến giữa thế kỷ 18 cuốc cách mang khoa hoc kỹ thuât lần thứ nhất bùng nổ mà đặc trưng cơ bản của nó là dùng máy móc cơ khí thay thế cho công cụ thủ công, trong đó sự phát minh và ứng dụng rộng rãi máy hơi nước đã có tác dụng then chốt giúp chủ nghĩa tư bản tiến vào giai đoạn dùng máy móc để tiến hành sản xuất lớn Đây là bước đột phá quan trọng đầu tiên trong sự phát triển của lực lượng sản xuất
Đại công nghiệp máy móc đã dẫn đến sự biến đổi to lớn trong cơ cấu ngành nghề sản xuất, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất cũng như nền chính trị - xã hội, dẫn đến sự xác lập chế độ tư bản chủ nghĩa trên phạm vi thế giói, mở đầu thời đại chủ nghĩa tư bản thống trị thế giới.Tuy vậy, trong thời kỳ đầu của quá trình quốc tế hóa, các hoạt độnơ kinh tế giữa các quốc gia mang nặng tính chất phụ thuộc một chiều Các quốc gia thuộc địa kém phát triển thực hiện việc cung cấp nguyên vật liệu cho các quốc gia phát triển cao hơn và thường là các nước thuộc địa phụ thuộc vào chính quốc Mỗi quốc gia phát triển cao hơn đều tìm cách tạo lập cho mình một khu vực thuộc địa và thực hiện bảo hộ trong khu vực đó Do vậy, trên thực tế sản xuất và trao đổi chưa có tính toàn cầu, thế giới bị chia cắt thành nhiều khu vực thuộc địa và phụ thuộc khác nhau chịu ảnh hưởng của từng quốc gia phát triển cao hơn, chủ yếu là Hà Lan, Pháp, Anh Quan
hệ giữa các khu vực này luôn bị kiểm soát và hạn chế nhằm bảo vệ vùng ảnh hưởng và quyền lợi của các cường quốc thực dân
Trang 17Đến giữa thê' kỷ 19, cuốc cách mang khoa hoc kỹ thuât lán thứ hai bùng nổ, tao tiền đề mới cho sự phát triển của lực lượng sản xuất và liên kết quốc tế Sự ứng dụng rộng rãi điện lực và sự phát minh ra động cơ đốt trong giúp cho loài người bước vào thời đại điện khí hóa Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần này đã đẩy quá trình xã hội hóa sản xuất của các nước tư bản chủ nghĩa lên một trình độ cao hơn, quan hệ kinh tế quốc tế được mở rộng nhanh chóng, từ đó thúc đẩy chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự'do cạnh tranh quá độ sang giai đoạn độc quyền, đẩy nhanh quá trình hình thành hệ thống kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa thống nhất Xã hội hóa tư bản phát triển lên một giai đoạn mới - giai đoạn độc quyển, mở đầu thời đại đế quốc chủ nghĩa.
Trong giai đoạn này, do sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, cùng với ý thức độc lập tự chủ của từng quốc gia dân tộc - thuộc địa, đã đưa lại sự phát triển mói của phân công lao động quốc tế Các quốc gia vốn trước đây là thuộc địa và phụ thuộc, sau khi giành được độc lập đã chủ động tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, tạo ra điều kiện mới cho sự phát triển hơn nữa của quá trình quốc tế hóa
Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, gắn liền với sự phát triển mạnh
mẽ của phong trào giải phóng dân tộc là hiện tượng khoa học, kỹ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão, dẫn tới khoa học, công nghệ ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Các phát kiến về khoa học nhanh chóng được áp dụng vào sản xuất đã thúc đẩy phân công lao động phát triển lên một bước mới Quan hệ giữa các quốc gia dân tộc, giữa các nước phát triển và kém phát triển từ đặc trưng phụ thuộc một chiều chuvển dần sang quan hệ tương
hỗ phụ thuộc lẫn nhau
Do sự tác động của các thành tựu khoa học, cồng nghệ và sự xóa bỏ của hệ thống thuộc địa và phụ thuộc, sản xuất có sự phát triển mạnh mẽ dựa trên sự phân công lao động quốc tế mới đã làm gia tăng đáng kể các hoạt động kinh tế quốc tế, thúc đẩy gia tăng xu hướng quốc tế hóa các hoạt động kinh tế
Trang 18Chúng ta đều biết, trước khi bước vào thế kỷ 20, mặc dù khoa học, trí tuệ của loài người đã có sự phát triển đáng kể, nhưng về cơ'bản, con người vẫn chỉ nhận thức và vận dụng những quy luật của giới tự nhiên mà mình quan sát được áp dụng vào hoạt động lao động sản xuất.
Bước sang thế kỷ 20, đặc biệt là từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai,con người không chỉ dừng lại ở những hoạt động khám phá tự nhiên trong tầm quan sát, mà đã có các khám phá mới trong thế giới vi mô và vĩ mô bằng các thiết bị nghiên cứu và thực nghiệm khoa học tinh vi hiện đại Đáng chú ý nhất trong số các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại là kỹ thuật điện
tử, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ hàng không vũ trụ Đây chính là cuốc cách mang khoa hoc, công nghê lán thứ ba mà đặc trưng cơ bản của nó là sự phát triển và ứng dụng rộng rãi các kỹ thuật nguyên tử, điện tử - tin học, sinh học vào sản xuất, dẫn tới khoa học công nghệ trở thành lượng sản xuất trực tiếp, mở đầu thời đại tự động hoá toàn bộ
Kỹ thuât điên tử: Đây là ngành cơ sở của kỹ thuật thông tin, có tính quyết định của cách mạng khoa học và công nghệ, là ngành phát triển nhanh nhất, có ứng dụng rộng rãi nhất trong số các ngành khoa học - công nghệ mũi nhọn hiện nay Thành tựu nổi bật nhất của kỹ thuật điện tử biểu hiện ở việc phát minh và ứng dụng rộng rãi máy vi tính điện tử Máy vi tính điện tử
là một trong số các phát minh khoa học vĩ đại nhất của thế kỷ 20, giúp con
người từ những việc đơn giản như xử lý văn bản, vẽ tranh, làm báo đến
những việc phức tạp như thiết kế máy bay, tàu thuỷ, thậm chí cả việc thửnghiệm các vụ nổ nguyên tử bằng siêu máy tính
Hiện nay ở một số nước, người ta đã bắt đầu nghiên cứu chế tạo máy tính sinh học Máy tính sinh học là sử dụng các phân tử protein trong sản xuất kỹ thuật tin học để chế tạo ra phiến vi điện tử sinh vật Mạch vi điện tử sinh vật có ưu điểm là ít nóng, ít hao mòn, không bị nhiễu tín hiệu lại có tính năng vừa tự xử lý, vừa tự phục hồi và có tốc độ tính toán cực nhanh.Ngoài máy tính sinh học ra, các loại máy tính mô phỏng bộ óc người, máy tính quang học cũng đang trong quá trình nghiên cứu chế tạo Tuy mới
Trang 19trải qua chìmg nửa thế kỷ phát triển nhưng triển vọng của máy vi tính điện tử
là vô cùng to lớn, 'bởi lẽ khả năng trợ giúp con người của máy vi tính là vô hạn
Công nghê thông tin: Nếu kỹ thuật điện tử là cơ sở của kỹ thuật thông tin thì kỹ thuật thông tin là bộ phận mấu chốt của công nghệ tin học ngày nay Thông tin là hệ thống thần kinh của xã hội hiện đại Có thể nói, cuộc sống và sản xuất của xã hội hiện đại không thể phát triển nếu thiếu sự phát triển của công nghệ thông tin
Do sự phát triển và kết họp của công nghệ vi điện tử và các ngành khoa học công nghệ mới như công nghệ vi sóng, công nghệ sợi quang, công nghệ vệ tinh giúp cho các biện pháp thông tin hiện đại ngày một gia tăng Ngày nay các biện pháp thông tin hiện đại như thông tin vi sóng, thông tin sợi quang, thông tin vệ tinh, thông tin di động kỹ thuật số đã làm cho việc chuyển thông tin không những có dung lượng lớn, chất lượng tốt, diện phủ rộng, nhanh chóng linh hoạt, an toàn đáng tin cậy với nhiều hình thức và chức năng mói như máy Fax, máy điện thoại truyền hình, truyền hình hội nghị, điện thoại phiên dịch , mà còn được đổi mới liên tục từng ngày từng giờ
Hiện nay thông tin sợi quang đang ngày càng trở thành trụ cột chủ yếu của thông tin hiện đại hoá, với chỉ một sợi cáp quang là có thể làm cho mấy trăm ngàn điện thoại hoặc mấy chục kênh vô tuyến truyền hình đồng thời được chuyển đến những nơi cách xa hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn cây số
Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin đang ngày càng phục
vụ tốt hơn cho sự phát triển kinh tế - xã hội Hiện tại, với việc xuất hiện hệ thống thông tin cao tốc, mạng Internet con người có thể biết được mọi việc đang xẩy ra ở mọi ngóc ngách trên thế giới, có thể làm việc tại nhà trong căn
hộ điện tử của mình mà không phải đến cơ quan, văn phòng
Công nghè vât liêu mỏi: Công nghệ vật liệu mới là công nghệ thông qua các phương pháp khoa học để chế tạo ra các vật liệu mới thay thế cho các vật liệu thiên nhiên Sự xuất hiện của các loại vật liệu mới không những
Trang 20làm giảm bớt sự phụ thuộc của con người vào thiên nhiên, mà còn làm cho việc nghiên cứu chế tạo và phát triển các loại sản phẩm có trình độ khoa học công nghệ cao đã trở thành hiện thực Chẳng hạn, vật liệu siêu dẫn là loại vật liệu mới không thể thiếu trong việc chế tạo máy gia tốc hiệu năng cao và các thiết bị phản ứng nhiệt hạch có điều khiển; gốm tinh chất là loại vật liệu mới đang tiến gần tới giai đoạn sử dụng rộng rãi vì có độ bền lớn, khó phân huỷ, cường độ cao,' tỷ trọng nhỏ, là thứ vật liệu mới rất cần cho nhu cầu phát triển nguyên liệu năng lượng mới Hiện nay, nhu cầu vật liệu mới của Mỹ tăng từ
243 tỷ USD năm 1970 lên tới 379 tỷ USD năm 2000; Nhật Bản từ 2,2 tỷ USD năm 1981 lên tới 24 tỷ USD năm 2000
Công nghê sinh hoc: Công nghệ sinh học xuất hiện từ những năm 50 của thế kỷ 20 và ngày nay đã có những tiến bộ vượt bậc Nó là sản phẩm kết hợp của khoa học về sự sống và khoa học kỹ thuật hiện đại, cho phép con người làm chủ và điểu khiển được một số quá trình sinh học đối với các vật thể sống, đồng thời tạo ra các chế phẩm mới, các giống vật nuôi có đặc tính tốt phục vụ cho lợi ích của con người
Công nghệ sinh học đang được nghiên cứu và phát triển hiện nay chủ yếu là công nghệ gien, dung họp tế bào, môi tế bào, phản ứng sinh vật, công nghệ gây men, công nghệ sinh sản vô tính
Công nghệ sinh học đã hình thành một nghề mới ở các nước tư bản phát triển với các công ty chuyên kinh doanh công nghệ sinh học đã lên tới hàng ngàn cơ sở Theo một số tính toán, năm 2000 giá trị sản lượng do các nước trên thế giới sử dụng công nghệ sinh học sản xuất ra đạt tới gần 100 tỷ USD
Công nghé hàng không vũ tru: Công nghệ hàng không vũ trụ bao gồm việc nghiên cứu và chế tạo các máy bay hiện đại và các thiết bị máy móc cho việc bay vào vũ tại như vệ tinh nhân tạo, tàu vũ trụ chở người, các trạm không gian, tên lửa vũ trụ, việc phóng vệ tinh liên lạc viễn thông, thương mại, dự báo thời tiết
Về mặt thông tin, truyền dẫn, việc sử dụng kỹ thuật không gian là vô cùng quan trọng Mặt khác, do khoảng khôns vũ trụ có những điều kiện hết
Trang 21sức đặc biệt như độ chân không gần như tuyệt đối, trọng lực cực nhỏ, vô trùng , nên có thể chế tạo tại đó những sản phẩm mà trên mặt đất không thể chế tạo nổi như dược phẩm có độ sạch cao, vật liệu siêu dẫn, tinh thể thuần khiết, thép xốp có thể nổi trên mặt nước Người ta tính toán rằng, trong những năm tới, có thể tiếp nhận một khối lượng lớn năng lượng mặt trời ỏ' các trạm không gian rồi chuyển nó thành điện năng vô tuyến, thu về trái đất, rồi lại chuyển nó thành sức điện; và như vậy, có thể có được một nguồn năng lượng vô tận, tinh khiết và hoàn toàn không gây ô nhiễm.
Hiện nay, các cường quốc hàng đầu trong lĩnh vực hàng không vũ trụ như Mỹ, Nga, Tây Âu, Nhật Bản đang cùng nhau xây dựng trạm vũ trụ quốc tế Anpha trị giá 60 tỷ USD để phục vụ cho nhiều mục đích của con người trên trái đất
Như vậy, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ lần thứ ba mà đại diện
là những lĩnh vực mũi nhọn trên đây đã đưa lại những biến đổi to lớn và sâu sắc về co' cấu kinh tế - xã hội của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia công nghiệp phát triển Căn cứ vào thực tế này, nhiều người cho rằng, hiện nay các nước tư bản phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Đức đã chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin, xã hội hậu công nghiệp hay “nền kinh tế tri thức”
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ lần này đã làm cho khoa học và công nghệ trở thành nhân tố trực tiếp quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất Điều này được biểu hiện chủ yếu trên các mặt sau đây:
- Các ngành công nghiệp mới dựa trên cơ sở khoa học - kỹ thuật - công nghệ hiện đại ra đời và phát triển rất nhanh, trở thành những ngành sản xuất tiên phong, chủ đạo của sự phát triển kinh tế - xã hội
- Nhờ khoa học, công nghệ hiện đại, các ngành công nghiệp truyền thống mà phần lớn là những ngành công nghiệp cơ sở vốn không thể thiếu đối với tái sản xuất xã hội, đã được cải tạo không ngừng, khiến năng suất lao động được tăng lên liên tục
ĐAI HOC QUỐC GIA hí MÕ'
Trang 22- Cơ cấu ngành nghề sản xuất thay đổi, chuyển dịch nâng cấp lên mội trình độ mới phù họp với nền sản xuất hiện đại có nội dung kỹ thuật cao hàm lượng trí tuệ lớn.
- Phán công lao động phát triển cả về chiều rộng lăn chiều sâu Chuyên môn hóa chi tiết trong từng ngành sản xuất, phân công chuyên môn hóa chi tiết giữa các ngành, phán công liên kết chuyên môn hóa giữa các nước Trong nhiều ngành sản xuất đã xuất hiện các dây chuyền sản xuất quốc tế
- Tái sản xuất mở rộng ngày càng phát triển theo chiều sâu lấy đầu tu cho khoa học, công nghệ làm động lực chính để nâng cao chất lượng lac động, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm Điều này đã dẫn đến một thực tế là: tốc độ tăng trưởng cao của các nước ngày nay không phải do tăng lao động và đầu tư đầu vào quyết định, mà là
do năng suất lao động tăng với nhịp độ cao quyết định
Việc chuyển sang mô hình phát triển theo chiều sâu trước hết phản ánh
sự thích ứng của con người trước những bước tiến không ngừng của cách mạng khoa học, công nghệ; đồng thời sự phát triển theo chiều sâu, đến lượt
nó, lại trực tiếp thúc đẩy tiến bộ khoa học, công nghệ nói riêng, và lực lượna sản xuất nói chung, phát triển mạnh mẽ
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển (G7) đang không ngừng đầu tư nhằm nâng cao trình độ khoa học
và công nghệ; bởi lẽ việc chiếm lĩnh đỉnh cao của khoa học, công nghệ không những hỗ trợ đắc lực cho tăng trưởng kinh tế, mà còn giúp họ làm tăng nhanh các phương tiện sản xuất hiện đại, những tri thức và hiểu biết CC giá trị, năng lực và mức độ thành thạo kỹ thuật, phương pháp tổ chức và quản
lỷ sản xuất xã hội có hiệu quả
Tóm lai, dưới tác động của cách mạng khoa học và công nghệ, lực lượng sản xuất đã liên tục phát triển và đạt đến quy mô và trình độ như hiện nay, đang trực tiếp tác động đến mọi ngành kinh tế quốc dân, và lực lượng sản xuất hiện vẫn đang tiếp tục phát triển không ngừng, có ảnh hưởng càns
về sau càng to lớn hơn đối với các nền kinh tế - xã hội của thế giới Đâ) chính là một trong số các tiền đề làm cho quá trình quốc tế hóa sản xuấl
Trang 23ngày càng gia tăng mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy xu hướng toàn cầu hóa kinh
1.2.2 Sự phát triển mạnh m ẽ của kỉnh tế thị trường
Kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ là một trong những điều kiện cơ bản dẫn tới xu hướng toàn cầu hóa kinh tế Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế phát triển đã hàng trăm năm nay với bản chất cốt lõi là mọi chủ thể tham gia trên thị trường đều được tự do cạnh tranh và phát triển trong khuôn khổ của luật pháp nhà nước
Trong kinh tế thị trường, cơ chế thị trường đóng vai trò quan trọng
trong mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia thị trường Đó là cơ chế vận động của nền sản xuất hàng hóa trong lịch sử Giống như cơ chế tự nhiên, cơ chế thị trường đã tạo ra trong nền sản xuất xã hội những hình thức sản xuất, lưu thông hàng hóa ngày một hoàn thiện bằng cách đào thải, loại bỏ những hình thức lỗi thời, yếu kém, gạn lọc và giữ lại những hình thức phù họp với
sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Nhờ đó, nền sản xuất xã hội ngày càng được tổ chức hợp lý và hiệu quả lao động ngày càng được nâng cao hơn
Cơ chế thị trường là sự thể hiện của quy luật giá trị ra bề mặt của nền sản xuất xã hội Quy luật giá trị được xem như là trung tâm điều chỉnh kinh
tế vô hình nhưng đầy quyền lực và hiện thực Tính hiện thực của nó mà bất
kỳ một chủ thể thị trường nào cũng cảm thấy được là ở những tín hiệu và mệnh lệnh mà nó phát ra trên thị trường, trong đó giá cả thị trường được xem như là công cụ điều chỉnh kinh tế chủ yếu của cơ chế thị trường
Có thể nói rằng, thế giới chưa có quốc gia nào phát triển mà lại không dựa trên nền kinh tế thị trường Kinh tế thị trường ngày nay phát triển đa dạng, nhiều kiểu, nhiều mức độ Kinh tế thị trường tự do kiểu Mỹ coi trọng kinh tế tư nhân, trong đó các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia đóng vai trò thống trị; đây cũng là nền kinh tế thị trường cổ vũ lớn nhất cho tự do hóa thương mại, đầu tư và bản quyền của các sản phẩm trí tuệ Trong nền kinh tế
Mỹ, Nhà nước chỉ can thiệp bằng luật pháp Kinh tế thị trường kiểu Bắc Âu chú trọng nhiều tới sự bình đẳng kinh tế và các phúc lợi xã hội Kinh tế thị
Trang 24trường kiểu Nhật Bản, Hàn Quốc rất coi trọng các kế hoạch kinh tế và sự can thiệp của Nhà nước khi cần thiết Kinh tế thị trường kiểu Trung Quốc và Việt Nam lấy các doanh nghiệp Nhà nước làm thành phần chủ đạo của nền kinh tế quốc dân phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Có thể nói, sự phát triển kinh tế thị trường đa dạng, nhiều màu, nhiều
vẻ là cơ sở thúc đẩy, mở lộng xu hướng toàn cầu hóa Với nền kinh tế thị trường, việc tham gia, hội nhập quốc tế là điều đương nhiên đối với mọi quốc gia Cơ chế thị trường trên phạm vi quốc tế mở ra khả năng to lớn cho việc phát triển thương mại và đầu tư quốc tế, đồng thời góp phần đẩy mạnh quá trình toàn cầu hóa các thị trường tài chính
Cho tới đầu những năm 80 của thế kỷ 20, vãn còn khoảng 80% dân số
thế giới sống trong những nước có sự cách biệt ồ các mức độ khác nhau với
thị trường thế giới Sự kiện Trang Quốc mở cửa kinh tế vào tháng 12 năm
1978, sau đó là Ân Độ và nhiều nước ở Mỹ La tinh, rồi đến Liên Xô cũ và
các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Việt Nam cũng đã mở cửa, xây
dựng và phát triển kinh tế thị tnrờng với những đặc trưng khác nhau càng chứng tỏ rằng, kinh tế thị trường có sức hút kỳ lạ và là mô hình phát triển kinh tế phù họp nhất, ít nhất là ở thời đại hiện nay, đối với tất cả mọi quốc gia dân tộc Đó là giai đoạn phát triển không thể bỏ qua trước khi tiến tới một giai đoạn phát triển cao hơn với các cung bậc khác nhau
Có thể nói rằng, ngày nay nền kinh tế thế giới thống nhất ở cơ chế vận hành: cơ chế thị trường Đây chính là cơ sở cho sự gia tăng của xu thế toàn cầu hóa kinh tế
Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường đã kéo theo xu hướng tự
do hóa trong phát triển kinh tế, làm cho các nền kinh tế ngày càng gắn bó chặt chẽ, xâm nhập và giao thoa với nhau Có thể khẳng định rằng, ngày nay không có một nền kinh tế thị trường dân tộc thuần khiết Kinh tế thị trường càng phát triển thì sự giao thoa, xâm nhập lẫn nhau giữa các nền kinh tế càng gia tăng Chẳng hạn, cho đến năm 1988, Nhật Bản đã chiếm tới 35,5% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế Mỹ, còn Châu Âu chiếm 19,3%- Ngay như Nhật Bản, một quốc gia công nghiệp phát triển vốn vẫn thường hạn chế
Trang 25đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế mình, thì đến năm 1999, tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài cững đã chiếm tới 24% tổng vốn đầu tư vào các doanh nghiệp Nhật Bản, so với 10% trong những thập niên trước đây.
Các nền kinh tế hiện nay đang nằm trong thời kỳ chuyển đổi như Liên
Xô cũ, Đông Âu, Trang quốc, Việt Nam đều rất coi trọng vai trò của kinh
tế thị trường và đầu tư nước ngoài, và xem mở cửa và hội nhập kinh tế như là một trong những cứu cánh để thoát khỏi sự yếu kém về kinh tế
Như vậy, có thể kết luận rằng, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường là điều kiện tất yếu dẫn dắt các quốc gia dân tộc tiến tới sự hợp tác về kinh tế trên quy mô toàn cầu
1.2.3 Sự phát triển mạnh m ẽ của các công ty xuyẻìi quốc gia
Công ty xuyên quốc gia (TNC) là những tập đoàn kinh tế khổng lồ quản lý các tài sản như nhà máy, hầm mỏ, cửa hàng, siêu thị và các thứ tương
tự ở hai hay nhiều nước; có thực lực kinh tế to lớn và có nguồn vốn nhiều khi lớn hơn cả tổng GDP của một quốc gia nhỏ hoặc trung bình Mô hình kinh tế thị trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty xuyên quốc gia phất
triển mạnh mẽ (Xem Bảng 1 dưới đây).
Trang 26Bans 11 Những công ty xuyên quốc gia hàng đầu thế giói có tổng mức doanh số lớn hơn GDP tại nhiều nước trong năm 1997.
Trang 27Chúng ta biết rằng, với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất trong chủ nghĩa tư bản tất yếu dẫn đến sự tập trung sản xuất và dẫn đến độc quyền Trong lịch sử của nền sản xuất thế giới, vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, các
tổ chức kinh tế độc quyền đã bắt đầu ngự trị trên thế giới Tuy nhiên, vào lúc
đó những mầm mống thực sự của các cồng ty xuyên quốc gia vẫn chưa xuâ't hiện
Vào nửa sau của thế kỷ 20, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ lần thứ 3, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển liên tục và
sự bành trướng quyền lực ngày càng mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia Điều này vừa phản ảnh đặc điểm của quá trình quốc tế hóa, vừa là nhân
tố thúc đẩy quấ trình này gia tăng mạnh mẽ lên một bước mới nhờ vào vai trò hoạt động của các công ty xuyên quốc gia Nói đúng hon, trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế, các công ty xuyên quốc gia đóng vai trò then chốt.Các công ty xuyên quốc gia thực hiện chiến lược kinh doanh toàn cầu với ưu thế to lớn là tiến hành họp lý hơn việc phân bổ các nguồn lực trên phạm vi toàn cầu, thực hiện cách quản lý kinh doanh một cách khoa học, từ
đó giảm ở mức tối đa giá thành sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế Cuối những năm 50, các công ty lớn của Mỹ đi đẩu trong việc vượt ra ngoài biên giới quốc gia, thực hiện kinh doanh xuyên quốc gia
và trở thành các công ty xuyên quốc gia đầu tiên của thế giới Sau đó các công ty lớn của Tây Âu cũng bắt đầu trở thành các công ty xuyên quốc gia Cuối những năm 70, các công ty lớn của Nhật Bản cũng đi ra thế giới Những năm 80, một số công ty lớn của các nước và vùng lãnh thổ mới công nghiệp hóa và một số nước đang phát triển có trình độ công nghiệp tương đối cao như ấ Độ, Brazil cũng bắt đầu chen chân vào hàng ngũ các công ty xuyên quốc gia Số công ty xuyên quốc gia cũng tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ 20
Theo thống kê của Liên Họp Quốc, đầu những năm 70, toàn thế giới
có hơn 7.000 cồng ty xuyên quốc gia với hơn 27.000 chi nhánh tại nước ngoài Năm 1980 có hơn 12.000 công ty xuyên quốc gia với 122.000 chi
nhánh ở nước ngoài Năm 1989, số công ty xuyên quốc gia đã đạt tới con số
35.000 với 150.000 chi nhánh Năm 1996, toàn thế giới có 44.000 cônơ tvo
Trang 28xuyên quốc gia với 280.000 công ty con của chúng, chiếm khoảng 40% GDP thế giới, 50% kim ngạch mậu dịch toàn cầu Đến những tháng đầu năm
2000, số công ty xuyên quốc gia đã lên tới 60.000 với 500.000 chi nhánh trên khắp các lục địa, chiếm 70% GDP của toàn thế giới; trong đó, số công ty xuyên quốc gia của các nước công nghiệp phát triển là 49.000, của các nước đang phát triển là 11.000 Đây quả thực là một kỷ lục phát triển đáng ngạc nhiên
Với một mạng lưới rộng khắp như vậy, hoạt động của các công ty xuyên quốc gia thực sự tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế toàn cầu Chúng kéo theo các nền kinh tế quốc gia vào vòng chu chuyển của mạng lưới công
ty Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia kiểm soát khoảng 80% công nghệ mới, 40% nhập khẩu, 60% xuất khẩu, 90% đầu tư trực tiếp nước ngoài và sử' dụng khoảng 35 triệu lao động Khoảng 500 công ty xuyên quốc gia lớn khiểm soát tới 25% tổng sản phẩm thế giới và giá trị trao đổi của chúng tương đương ắ giá trị thương mại toàn cầu Tỷ trọng đóng góp của các công
ty xuyên quốc gia trong công nghiệp thế giới là 23% trong năm 1971, năm
1980 tăng lên 28%, đến thập niên 90 đã vượt 30% Mỗi công ty xuyên quốc gia cỡ lớn đều tạo ra một mạng lưới kinh doanh lấy công ty mẹ làm trang tâm, rồi mở rông ra toàn cầu hàng trăm, hàng ngàn mạng lưới như vậy đan dệt lại thành mạng lưới kinh tế toàn cầu khổng lồ, bao trùm tất cả các khu vực, các nước
Phần lớn các công ty xuyên quốc gia hàng đầu thế giới là của các nước công nghiệp phát triển (Mỹ, Nhật Bản, Anh, Pháp Đức, Italia, Canada), nhưng cũng có nhiều công ty trong số đó thuộc về các nước đang phát triển
như Hàn Quốc, Brazil, Argentina, Mexico, Malaysia, Venezuela (Xem Bdn.o
2_dưới đây)
Trang 29Bans 2: Một số công ty xuyên quốc gia hàng đầu thế giới:
T ê n c ô n g ty Tổng
giá trị tãỉ sản (tỷ USD)
Tài sàn ờ nước ngoài trong tổng giá trị lài sàn (%)
giá trị tài sàn (tỳ USD)
Tài sàn ờ nước ngoái (rong tỏng giá trị tàl sàn (%)
Trang 30Sự phát triển mạnh mẽ của các còng ty xuyên quốc gia trôn địa phận toàn cầu đã tạo ra mạng lưới liên kết kinh tế quốc tế Các quốc gia có thể tham gia vào dây chuyền sản xuất quốc tế và cũng vì vậy mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển, giữa các công ty xuyên quốc gia và các nước đang phát triển ngày càng gia tăng Chẳng hạn, công ty Boeing của Mỹ đã sử dụng tới 600 công ty ở nhiều nưóc khác nhau để cùng thực hiện sản xuất các bộ phận của máy bay Boeing.
Quy mô kinh doanh, mức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các công
ty xuyên quốc gia không ngừng được tăng cường và mở rộng Theo số liệu thống kê, phần chủ yếu của đầu tư ra nước ngoài trên thế giới được thực hiện qua kênh của các công ty xuyên quốc gia Năm 1997, các công ty xuyên quốc gia trên thế giới đã thực hiện 424 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài (FD I) Năm 1999 tổng vốn FDI trên toàn thế giới là 644 tỷ USD trên phạm
vi hơn 100 quốc gia, tức là tăng 36,6% so với năm 1997 Trong đó mức FDI qua kênh các công ty xuyên quốc gia đổ vào các nền kinh tế trong năm 1999 đạt khoảng 441 tỷ USD, riêng FDI của các công tv xuyên quốc gia đổ vào các nước đang phát triển là 165 tỷ USD Trung Quốc và Brazil là hai nước đang phát triển nhận được nhiều vốn FDI từ các công ty xuyên quốc gia nhất, chỉ đứng sau Mỹ và Anh về thứ hạng tiếp nhận FDI Chẳng hạn, năm 1998, vốn FDI vào Trung Qliốc đạt 45,5 tỷ USD
Việc gia tăng mạnh mẽ vốn FDI của các công ty xuyên quốc gia vào các nền kinh tế, nhất là vào các nước đang phát triển, có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của thế giới theo hướng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu
Các công ty xuyên quốc gia đã có những đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng thương mại quốc tế Trong hơn một thập niên gần đây, giá trị thương mại của các công ty xuyên quốc gia trên thế giới đã tăng lên một cách mạnh mẽ, từ 2.426 tỷ USD năm 1982, lên đến 6.412 tỷ USD năm
1994, tức là tăng lên 2,6 lần Đáng chú ý là mức tăng giá trị thương mại của
các chi nhánh công ty xuyên quốc gia ở khu vực Đông Nam Á đạt mức cao
nhất, từ 193 tỷ USD lên tới 871 tỷ USD trong cùng thời gian nói trên
Trang 31Một điều cần thấy là các công ty xuyên quốc gia đã và đang đóng vai trò rất lớn trong việc tăng mức xuất khẩu của các nước đang phát triển, thực chất là đang đẩy mạnh tiến trình hội nhập của các nền kinh tế này vào nền kinh tế thế giới Trong hơn một thập niên trở lại đây, xuất khẩu của các chi nhánh công ty xuyên quốc gia ở các nước đang phát triển gia tăng mạnh, đặc
biệt là b một số quốc gia thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Chẳng hạn, ở Singapore xuất khẩu của các chi nhánh công ty xuyên quốc gia ở quốc đảo này chiếm tới 90% tổng giá trị xuất khẩu hàng chế tạo, ở Malaysia khoảng 50%, ở Philippines 50%.
Ngay ở Việt Nam, mức đóng góp vào xuất khẩu của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong những năm qua cũng tăng đáng kể Theo báo Đầu tư số 513 ra ngày 17/1/2000, tính từ khi có đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đến tháng 8/1999, mức xuất khẩu của khu vực có vốn FDI là 5.387 triệu USD, trong đó các năm có mức đạt cao là năm 1997 với 1.790 triệu USD; năm 1998 đạt 1.983 triệu USD; riêng 8 tháng đầu năm 1999 đạt 1.598 triệu USD
Việc gia tăng các hoạt động của các công ty xuyên quốc gia ở các nước đang phát triển còn đóng góp phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ quản lý và chuyển giao các công nghệ hiện đại Đây cũng là những mặt rất quan trọng để các quốc gia đang phát triển nâng cao trình độ phát triển kinh tế của mình, từng bước rút ngắn khoảng cách với các nước công nghiệp của thế giới
Những năm cuối cùng của thế kỷ 20, các công công ty xuyên quốc gia đang tiến hành thực hiện các liên minh, liên kết chiến lược kiểu mới Đứng trước sức ép cạnh tranh, làn sóng tự do hóa và sự mở ngỏ các lĩnh vực đầu tư mới, ngày càng có nhiều xí nghiệp kể cả các xí nghiệp của các nước đang phát triển, đã áp dụng các biện pháp tham dự vào hoạt động kinh tế toàn cầu hóa, thông qua nhiều hình thức để kết thành liên minh
Một trong số các hình thức đó là việc sáp nhập, thôn tính hay mua lại các cơ sở sản xuất thuộc các lĩnh vực khác nhau như tài chính ngân hàng, bưu chính viễn thông, ô tô, xe máy, điện tử, tin học, hàng không vũ trụ, dầu
Trang 32khí nhằm bảo vệ, củng cố và tăng cường năng lực cạnh tranh của các công
ty xuyên quốc gia, mở rộng cơ sở sản xuất, mỏ' rộng thị trường và tăng đầu tư chiều sâu bằng khoa học và công nghệ cao
Từ năm 1988 đến năm 1995, giá trị thôn tính và mua lại có tính xuyên quốc gia toàn cầu đạt mức 229 tỷ USD Năm 1996 có 45 vụ thôn tính, sáp nhập xuyên quốc gia có quy mô trên 1 tỷ USD/vụ Bước sang năm 1999, giá trị các vụ sáp nhập trị giá hàng tỷ USD đã không còn gây ngạc nhiên cho bất
kỳ ai nữa Đỉnh điểm trong năm 1999 là kế hoạch hình thành tập đoàn tài chính ngân hàng lớn nhất thế giới của ngân hàng công nghiệp Nhật Bản (Industrial Bank of Japan) với ngân hàng Dai - Ichi Kango và ngân hàng Fuji cũng của Nhạt Bản với tổng giá trị tài sản lên tới 1,3 nghìn tỷ USD Đây là vụ sáp nhập có giá trị tài sản lớn nhất từ trước đến nay
Rõ ràng, trong giai đoạn phát triển hiện tại của nền kinh tế thế giới,
mở rộng năng lực cạnh tranh tài chính là mục tiêu hàng đầu của các vụ sáp nhập và thôn tính lẫn nhau giữa các công ty xuyên quốc gia ở các nước công nghiệp phát triển nhằm đạt được những thành tựu lớn hơn về mẫu mã, chất lượng, chi phí và giá cả của những mặt hàng và dịch vụ do họ sản xuất và cung cấp Đây cũng chính là điều kiện thúc đẩy han nữa xu hướng toàn cầu hóa kinh tế
1.2.4 Vai trò của một số định chế kinh tế - tài chính toàn cầu và khu vực
Các định chế kinh tế - tài chính toàn cầu và khu vực ra đòi nhằm đáp ứng đòi hỏi của xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa kinh tế Sự tồn tại và hoạt động của các định chế kinh tế - tài chính toàn cầu và khu vực, đến lượt chúng, lại góp phần thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của xu thế toàn cầu hóa kinh tế
Trong số các tổ chức kinh tế - tài chính toàn cầu và khu vực phải kể đến Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Chãu Á (ADB), Liên minh Châu
Âu (EU), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC)
Trang 33Với các mục tiêu, chức năng của mình các tổ chức kinh tế - tài chính toàn cầu vấ khu vực đã tham gia vào việc thúc đẩy các hoạt động kinh tế quốc tế, điều phối và quản lý các hoạt động này Cho dù tính hiệu quả của các tổ chức trên đây còn được đánh giá khác nhau xuất phát từ quan điểm lợi ích quốc gia, song không ai không thừa nhận sự cần thiết và vai trò của chúng, thậm chí còn đặt ra yêu cầu về hoàn thiện cơ cấu tổ chức, đổi mới nguyên tắc hoạt động của các tổ chức này.
1.2.4.1 Tổ chức thươrig mai T hế giới (WTO):
Có thể khẳng định rằng, WTO là một tổ chức kinh tế toàn cẩu có vai trò hàng đầu trong việc'thúc đẩy sự phát triển của xu hướng toàn cầu hóa kinh tế Tiền thân của WTO là Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) ra đời năm 1947 như một họp đồng quốc tế định ra luật lệ cho mậu dịch thế giới, chủ yếu là để ký kết các hiệp định giảm thuế quan và những hạn chế khác đối với các sản phẩm chế tạo của các nước đã công nghiệp hóa.Cùng vói sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, vai trò của các quốc gia đang phát triển tăng lên, những quy định của GATT ngày càng bộc lộ những bất hợp lý Trước tình hình đó, ngày 1/1/1995 WTO ra đời thay cho GATT Nhìn chung, WTO có chức năng điều hành và thực thi các hiệp định thương mại đa phương và hiệp định giữa một số bên cấu thành WTO
Tổ chức WTO hoạt động với tính chất một diễn đàn cho các cuộc thương lượng mậu dịch đa phương, tìm kiếm các giải pháp xử lý tranh chấp thương mại giữa các bên, giám sát các chính sách thương mại quốc gia, hợp tác với các thiết chế quốc tế khác có liên quan tới việc hoạch đinh chính sách kinh tế toàn cầu
Với các chức năng như trên, suốt trong thời gian tồn tại của mình GATT/WTO đã có những đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy quá trình tự
do hóa toàn cầu Tất nhiên, lợi ích kinh tế của quá trình này đối với các quốc gia, cũng như luật chơi của GATT/ WTO còn có nhiều vấn đề cần phải bàn cãi, tranh luận, chẳng hạn như nhiều người cho rằng WTO chỉ làm lợi cho các nước giàu, còn các nước nghèo thì hứng chịu nhiều thua thiệt do phải chấp hành các luật lệ khắt khe của WTO; song trên thực tế, dường như tất cả
Trang 34các quốc gia kể cả phát triển và đang phát triển, đều muốn trở thành thành viên của tổ chức quan trọng này.
Không chỉ thông qua các hoạt động điều phối hệ thống mậu dịch thế giới để thúc đẩy mạnh quá trình tự do hóa, mà bản thân các quy định của WTO về điều kiện gia nhập tổ chức này cũng bắt buộc các quốc gia ứng cử viên phải điều chỉnh tiến trình hội nhập cho phù hợp
WTO quy định các nước muốn gia nhập phải thực hiện toàn bộ các nghĩa vụ pháp lý theo các hiệp định hiện có của WTO, và vì vậy, các quốc gia đó cần phải điều chỉnh những quy định, luật lệ quốc gia cho phù họp với thông lệ chung của quốc -tế, tất nhiên theo những lộ trình phù hợp với quy đinh của WTO Bên cạnh đó, các quốc gia muốn tham gia vào WTO phải cam kết mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ Những quy định này, trên thực tế, đã thúc đẩy các quốc gia tham gia vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế.Nhìn lại chặng đường phát triển của GATT/WTO, chúng ta đều phải thừa nhận rằng, tổ chức này đã có những đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy quá trình tự do hóa nền kinh tế toàn cầu Nếu trong thời kỳ đầu của GATT, mức thuế bình quân của các nước phát triển là 44%, thì sau một thời gian, chẳng hạn đến năm 1979, mức thuế đó đã giảm xuống đáng kể, đối với
EU còn 7%, Nhật Bản 10%, Mỹ 13% Cho tới vòng đàm phán Tokvo (1985)
đã có 90 nước tham gia vào GATT, và theo quy định của Hiệp định Tokyo, năm 1988, mức thuế bình quân của Mỹ giảm xuống tới 4,73%, EƯ 3,9%, Nhật Bản 4,85%
Tính tới nay, đã có 135 quốc gia là thành viên của WTO Hiện tại, một
số quốc gia nhu' Trung Quốc, Nga, Việt Nam đang tích cực xúc tiến quá trình gia nhập WTO
1.2.4.2 Quỹ tiền tê guốc tế (IMF):
Tháng 7 năm 1944, các nước tham gia Hội nghị tiền tệ - tài chính quốc
tế tại Bretton- Woods (Mỹ) đã nhất trí những nguyên tắc của chế độ tiền tệ quốc tế mới, đó là chế độ bản vị vàng và hối đoái dựa trên đồng đô la Mỹ Một tổ chức tài chính - tín dụng quốc tế cũng được nhất trí thành lập để điều khiển các nguyên tắc của chế độ tiền tệ này, đó là Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
Trang 35Ngày 1/3/1947, IMF chính thức bước vào hoạt động Hiện nay, IMF ỉà tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế quan trọng vào loại bậc nhất.
Thời gian đầu thành viên của IMF chỉ là phần lớn các nước đã trực tiếp
ký Hiệp định tiền tệ Bretton-Woods, đến nay IMF đã có trên 170 nước tham gia
Các hoạt động của IMF được tiến hành dựa vào các nguồn tài chính của nó, bao gồm vốn góp của các nước thành viên theo điều lệ của quỹ và vốn tích luỹ hàng năm
Tuỳ theo tiềm lực kinh tế - tài chính mà mỗi nước thành viên phải góp vào quỹ một số vốn nhất định Phần vốn góp của mỗi nước vào quỹ sẽ quyết định đến số lượng phiếu bầu của nước đó, đồng thời cũng xác định những quyền lợi của nước thành viên trong việc sử dụng nguồn vốn của quỹ Vốn góp của các nước thành viên sau mỗi thời kỳ nhất định lại được điều chỉnh Hiện nay, theo quy định, cứ sau 3 năm thì vốn điều lệ của quỹ lại được điều chỉnh lại Mỹ là nước đóng góp nhiều nhất cho quỹ này, từ 18 đến 23%, vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên là tại các diễn đàn của IMF, tiếng nói của
Mỹ có ý nghĩa quyết định trong các khoản cho vay của Quỹ
Trong lĩnh vực tiền tệ, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của IMF được xác định ngay từ khi mới thành lập là duy trì chế độ tỷ giá cố định giữa đồng
đô la Mỹ với các đồng tiền của các nước thành viên và thực thi các biện pháp
để giữ vững giá vàng chính thức trong giao dịch giữa các ngân hàng Trans ương theo những nguyên tắc của chế độ tiền tệ Bretton-Woods IMF đã có nhiều cố gắng nỗ lực trong lĩnh vực này nhưng đã không thành công Sau hai lần đổng USD bị phá giá vào tháng 12/1971 và tháng 2/1973, với tổng mức phá giá cả hai lần là 17,89%, thì chế độ tỷ giá cố định coi như bị phá sản, giá vàng chính thức không duy trì được IMF đành phải từ bỏ sự can thiệp của mình vào chính sách tỷ giá của các nước thành viên, để các nước tự chọn chế
độ tỷ giá thích hợp cho mình theo cơ chế linh hoạt gắn với các diễn biến trên thị trường
Trang 36Mục tiêu quan trọng khác của IMF là tạo điều kiện cho thương mại quốc tế phất triển thuận lợi, giúp các nước thành viên tham gia tích cực vào quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa kinh tế.
Trong lĩnh vực tín dụng, hoạt động của IMF có ý nghĩa thiết thực đối với các nước thành viên IMF đã hỗ trợ tín dụng cho các nước thành viên nhằm triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục thâm hụt trong cán cân thanh toán quốc tế, giải quyết những khó khăn tài chính bất thường xảy ra do ảnh hưởng của thiên tai, khủng hoảng kinh tế , hoặc giúp
ổn định giá những mặt hàng nguyên, nhiên liệu chiến lược Chẳng hạn, các khoản hỗ trợ tín dụng khổng lồ của IMF dành cho Mexico nhằm khắc phục khủng hoảng kinh tế năm 1994, cho Thái lan, Indonesia và Hàn quốc để khắc phục cơn bão táp tài chính - tiền tệ Đông Á năm 1997, cho Liên xô cũ và Đông Âu trong chuyển đổi kinh tế đều được đánh giá là tích cực
Tuy có nhiều vấn đề còn phải được tiếp tục bàn cãi và tranh luận, nhưng những gì mà IMF làm được từ khi thành lập tới nay đều đã mang lại những lợi ích nhất định và nhận được sự ủng hộ và đánh giá khách quan của các nước thành viên IMF và các nước được IMF cho vay
Có thể khẳng đinh rằng, IMF là một tổ chức tài chính - tiền tệ có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa kinh
tế nửa sau thế kỷ 20 tới nay
1.2.4.3 Ngân hàng thế giới (WB):
Ngân hàng thế giới là một nhóm tổ chức tài chính quốc tế bao gồm:
- Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế (International Bank for Reconstruction and Development - IBRD);
- Công ty Tài chính quốc tế (Intemationl Finance Corporation - IFC );
- Hiệp hội phát triển quốc tế (International Development’s Association -IDA);
- Cơ quan đảm bảo đầu tư đa phương (Multilateral Investment Guarantee Agency - MIGA)
Trang 37* Nsân hang tái thiết và pìiát triển CỊUÔC tế IBRD được thành lập cùng
lúc với IMF dựa trên cơ sỏ' Hiệp đinh Tiền tệ quốc tế Bretton - Woods năm
1944 Tháng 6 năm 1946, IBRD mới chính thức đi vào hoạt động Mục đích thành lập IBRD là nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn để tái thiết và phát triển tại các nước thành viên vào thời kỳ sau đại chiến thế giới thứ hai
Lúc đầu hoạt động của IBRD chủ yếu tập trung tài trợ cho các nước thuộc khu vực Châu Âu, về sau chuyển dần sang hướng trợ giúp cho sự phát
triển kinh tế ở các nước đang phát triển.
Hoạt động của IBRD chủ yếu dựa vào vốn đóng góp của các nước thành viên, vốn đi vay và nguồn vốn tích luỹ của mình EBRD chủ yếu đi vay vốn để cho vay lại IBRD vay vốn trên các thị trưòng tín dụng quốc tế thông qua phát hành trái phiếu
* Côns ty tài chính quốc t ế IFC được thành ỉập vào năm 1956 như là
một chi nhánh của IBRD IFC có chức năng chủ yếu là khuyến khích sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở các nước đang phát triển IFC thực hiện các chương trình tài trợ tín dụng cho các công ty tư nhân và các xí nghiệp công
cộng ở các nước, đồng thời còn góp vốn và hỗ trợ cho các công ty này tvong
việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu
Nguồn vốn của IFC chủ yếu là dựa vào nhũng khoản đóng góp của các nước thành viên, cũng như tín dạng của IBRD và lợi nhuận tích luỹ của công
ty Những năm gần đây, IFC còn tham gia vào các thị trường tín dụng quốc
tế với mục đích thu hút thêm các nguồn vốn để hoạt động
* Hiêp hôi phát triển guốc tế IDA được thành lập vào năm 1960 với
chức năng chủ yếu là tài trợ cho các nước thuộc diện nghèo nhất trong số các nước đang phát triển Các nước thành viên IDA rihận được tài trợ tín dụng của IDA với các điều kiện rất ưu đãi như không phải trả lãi suất, thời hạn vay dài, và thời gian ân hạn lâu hơn so với các khoản tín dụng của EBRD và IFC
Như đã trình bày ở trên, WB bao gồm nhiều tổ chức nhưng được một
ban lãnh đạo thống nhất quản lý và điều hành Hội đồng thống đốc là cơ quan cao nhất của WB Người điều hành các hoạt động thưcmg xuyên của
WB là Chủ tịch WB được bầu với nhiệm kỳ 5 năm
Trang 38Trong nhiều năm qua, WB đã có vai trò to lớn trong việc cung cấp tín dụng cho nhiều nước khác nhau nhằm giúp nâng cao cơ sở hạ tầng kinh tế, thúc đẩy mối liên kết kinh tế giữa các nước, các tổ chức quốc tế, tạo tiền đề cho tự do hóa thương mại phát triển thuận lợi, từ đó tăng cường xu thế quốc
tế hóa và thúc đẩy mạnh mẽ trào lưu toàn cầu hóa kinh tế
1.2.4.4 Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) :
Tháng 3 năm 1964, các nước tham dự Hội nghị của ủy ban kinh tế Liên Hiệp Quốc về Châu Á và Viễn Đông (ECAFE) tổ chức tại Teheran (Iran) đã thông qua quyết định thành lập ADB Ngày 28/8/19$6, ADB chính thức được thành lập với 31 nước thành viên tham gia góp vốn ADB chính thức triển khai các nghiệp vụ của mình từ ngày 19/12/1966
Thành viên của ADB ngoài những nước thuộc khu vực Châu Á, còn có các nước phát triển ở Châu Mỹ, Châu Âu như Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Bỉ,
Hà Lan, Italia, Liên bang Đức, Thuỵ Điển
Mục đích của ADB là thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển ở Châu Á và Viễn Đông, khuyếnh khích các hoạt động họp tác kinh tế giữa các nước trong khu vực Để thực hiện mục tiêu này, ADB đã thực hiện các chương trình khuyếnh khích đầu tư tư nhân vào các nước đang phát triển trong khu vực Châu Á và Viễn Đông; đồng thời dùng các nguồn vốn của mình để tài trợ cho phát triển kinh tế, ưu tiên tài trợ và giúp đỡ kỹ thuật cho các dự án, các chương trình phát triển kinh tế, kể cả các dự án đặc biệt
Với mục tiêu và chương trình hoạt động như trên, ADB đã giúp tăng cường mối liên kết kinh tế giữa các nước đang phát triển với nhau, giữa các nước đang phát triển với các tổ chức tài chính - tín dụng quốc tế, từ đó đẩy mạnh xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa kinh tế
Tóm lại, các tổ chức tài chính - tiền tệ - tín dụng lớn như IMF, WB, ADB đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế thế giới theo xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa Các tổ chức này tha-.-i gia tích cực vào việc điều chỉnh quan hệ tài chính - tiền tệ giữa các quốc gia thành
Trang 39viên và thực hiện cho vay để hỗ trợ quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các nước đang phát triển Nếu như WB cho vay theo các dự án và chương trình phát triển dài hạn, thì IMF lại chủ yếu cho các nước bị thâm hụt cán cân thanh toán vay ngắn hạn và trang hạn, còn ADB thì hướng các hoạt động của mình vào việc hỗ trợ cho các dự án phát triển kinh tế ở khu vực Châu Á và Viễn Đông.
Xung quanh cơ chế điều phối việc tài trợ và cho vay của IMF, WB và ADB cũng còn nhiều ý kiến khác nhau, trong đó nhiều người cho rằng, để được hưởng những khoản tiền cho vay và tài trợ từ các tổ chức trên, nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển, phải thực hiện không ít các điều kiện
và ràng buộc mà nhiều khi là bất lợi và bất bình đẳng đối với các nước đó Hiện nay có nhiều ý kiến, đặc biệt là từ phía các nước đang phát triển, đòi hỏi phải thay đổi mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của các tổ chức này, tạo điều kiện bình đẳng và thuận lợi hơn cho các quốc gia tiếp cận các nguồn vốn tài chính để giúp khắc phục tình trạng lạc hậu và nghèo đói ở các nước
Á, Phi và Mỹ La tinh
Trên thực tế, các tổ chức tài chính trên đây chịu không ít sự chi phối của các nước tư bản phát triển, đặc biệt là Mỹ; do đó, các điều kiện đặt ra khi cho vay khó có thể tránh khỏi những áp lực nhất định, nhất là những nước như Việt Nam đang xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mặc dù vậy, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của nguồn vốn từ các tổ chức này, nhất là trong điều kiện các nước đang phát triển nói chung
và Việt Nam nói riêng đang thiếu vốn nghiêm trọng
Rõ ràng, tác động tích cực của các dòng vốn từ phía IMF, WB đối với
sự phát triển của các quốc gia là không thể phủ nhận Chẳng hạn, nếu không
có sự trợ giúp kịp thời của hai tổ chức tài chính này thì Mexico khó mà qua nổi cơn khủng hoảng kinh tế năm 1994, cũng như Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc và một số nước khác cũng khó mà phục hồi nhanh chóng sau cơn khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Á năm 1997
Trang 401.2.4.5 Các tổ chức kinh tế khu vực khác:
Cùng với các tổ chức tài chính tiền tệ mang tính toàn cầu trên đây, các
tổ chức kinh tế khu vực như Liên minh Châu Âu (EU), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC)-.cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế Vai trò, tác động và ảnh hưởng của các tổ chức khu vực này rất khác nhau do trình độ phát triển không giống nhau của các nước thành viên, do mức độ gắn kết và mục tiêu hoạt động Tác động của các tổ chức kinh tế khu vực này thể hiện trên hai hướng chính:Thứ nhất, việc tham gia vào các tổ chức này cho phép các quốc gia được hưởng những ưu đãi của hoạt động kinh doaah khu vực; thúc đẩy các quốc gia trong khu vực tiến đến những chuẩn mực chung trong quá trinh sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Trên cơ sở các thỏa thuận họp tác song phương và
đa phương đã làm tăng lên sự gắn bó, tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh
tế, và về thực chất, điều này thúc đẩy sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc trong nội bộ tổ chức kinh tế khu vực
Thứ hai, hoạt động của các tổ chức này từ thấp đến cao sẽ đẩy tới việc hình thành một thị trường thống nhất trong khu vực, buộc các quốc gia tham gia phải có lịch trình hội nhập tích cực để hòa đổng vào khu vực
Nói tóm lại, các tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực vừa là kết quà, vừa là động lực của quá trình toàn cầu hoá kinh tế Thiếu vắng các tổ chức này thì quá trình toàn cầu hoá kinh tế sẽ diễn ra một cách tự phát và tất nhiên
là chậm chạp Thực tế của quá trình quốc tế hoá ở những thời kỳ đầu đã cho
thấy rõ điều đó Cùng với các nhân tố như đã trình bày, chúng ta thấy, các tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực đã góp phần quan trọng thúc đẩy xu thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới phát triển lên một bước mới về chất, đặc biệt
là từ cuối những năm 70 trở lại đây, mà chúng ta gọi là toàn cầu hoá kinh tế
1.2.5 Chiến tranh lạnh kết thúc là động lực thúc đẩy toàn cầu hoá kinh tế
và hội nhập quốc tế
Vào cuối những năm 80 của thế kỷ 20, chiến tranh lạnh mà thực chất
là sự đối đầu về chính trị và chạy đua vũ trang giữa hai siêu cường đứng đầu