1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng việt nam thực trạng và giải pháp phát triển

140 82 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, thị trường liên ngân hàng không chỉ là một kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ quan trọng của Ngân hàng trung ương NHTƯ, lãi suất hình thành trên thị trường liên ngân hàng được coi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ HOÀNG NGA

Hà Nội – 2012

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Danh mục các ký hiệu viết tắt i

Danh mục các bảng biểu ii

Danh mục các hình vẽ iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về thị trường tiền tệ liên ngân hàng 5

1.1 Một số vấn đề cơ bản về thị trường tiền tệ liên ngân hàng 5

1.1.1 Khái niệm thị trường tiền tệ liên ngân hàng 5

1.1.2 Vai trò, chức năng của thị trường tiền tệ liên ngân hàng 6

1.1.3 Đặc trưng cơ bản của thị trường tiền tệ liên ngân hàng 9

1.1.4 Cấu trúc của thị trường tiền tệ liên ngân hàng 10

1.1.5 Chủ thể tham gia thị trường tiền tệ liên ngân hàng 11

1.1.6 Hoạt động của thị trường tiền tệ liên ngân hàng 15

1.2 Phát triển và điều kiện phát triển thị trường liên ngân hàng quốc gia 23

1.2.1 Phát triển thị trường liên ngân hàng 23

1.2.2 Điều kiện phát triển thị trường liên ngân hàng 24

1.3 Kinh nghiệm phát triển thị trường liên ngân hàng của một số quốc gia trên thế giới và bài học đối với Việt Nam 29

1.3.1 Kinh nghiệm của Mỹ 29

1.3.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản 32

1.3.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc 36

1.3.4 Bài học rút ra đối với Việt Nam 40

Chương 2: Hoạt động của thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam 43

2.1 Quá trình hình thành và phát triển thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam 43

2.1.1 Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam 43

Trang 4

2.1.2 Cấu trúc thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam 48

2.2 Thực trạng thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam 52

2.2.1 Chủ thể và năng lực tham gia trên thị trường liên ngân hàng 52

2.2.2 Các hoạt động trên thị trường liên ngân hàng 53

2.2.3 Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng 66

2.2.4 Mối quan hệ giữa thị trường liên ngân hàng và thị trường tiền tệ, thị trường tín dụng 70

2.3 Đánh giá 73

2.3.1 Những kết quả đạt được 73

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 82

Chương 3: Giải pháp phát triển thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam 95 3.1 Định hướng và mục tiêu phát triển thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam 95

3.1.1 Định hướng phát triển thị trường tiền tệ liên ngân hàng 95

3.1.2 Mục tiêu phát triển thị trường tiền tệ liên ngân hàng 96

3.1.3 Lộ trình phát triển thị trường liên ngân hàng 97

3.2 Giải pháp phát triển thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam 98

3.2.1 Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của thị trường tiền tệ liên ngân hàng 98

3.2.2 Phát triển và hoàn thiện cấu trúc thị trường 101

3.2.3 Nâng cao năng lực của các chủ thể tham gia thị trường liên ngân hàng 108

3.2.4 Hoàn thiện hệ thống thông tin báo cáo, thông tin thị trường 120

3.2.5 Tăng cường và đổi mới hoạt động giám sát thị trường liên ngân hàng 121

KẾT LUẬN 123

TÀI LIỆU THAM KHẢO 124 PHỤ LỤC

Trang 5

i

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

4 GMRA Hợp đồng mua lại chuẩn toàn cầu

7 NHNDTQ Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc

10 NVTTM (OMO) Nghiệp vụ thị trường mở

12 SGDCKHN Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội

14 TTCVGT Thị trường cho vay, gửi tiền

15 TTLNH Thị trường liên ngân hàng

Trang 6

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

1 Bảng 2.1 Doanh số giao dịch cho vay, gửi tiền 2007-2011 55

2 Bảng 2.2 Số lượng thành viên tham gia NVTTM 2007-2011 58

3 Bảng 2.3 Khối lượng giao dịch NVTTM từ 2007-2011 59

Trang 7

iii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

1 Hình 1.1 Cơ chế tác động của Chính sách tiền tệ qua lãi suất 8

2 Hình 1.2 Cấu trúc thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam 11

4 Hình 1.4 Hoạt động của thị trường cho vay, gửi tiền liên ngân hàng 15

5 Hình 1.5 Cơ chế tác động của NVTTM tới dự trữ ngân hàng 19

6 Hình 1.6 Cơ chế tác động của NVTTM qua lãi suất 19

7 Hình 2.1 Hoạt động cho vay, gửi tiền trên TTLNH Việt Nam 54

8 Hình 2.2 Biến động doanh số giao dịch cho vay, gửi tiền 2005-2011 56

9 Hình 2.3 Diễn biến lãi suất giao dịch bình quân qua đêm TTCVGT 2007-2011 66

10 Hình 2.4 Diễn biến lãi suất giao dịch bình quân 1 tuần TTCVGT 2007-2011 67

11 Hình 2.5 Diễn biến lãi suất giao dịch bình quân 1 tháng TTCVGT 2007-2011 68

12 Hình 2.6 Diễn biến lãi suất giao dịch bình quân 6 tháng TTCVGT 2007-2011 69

13 Hình 2.7 Lãi suất qua đêm liên ngân hàng và lãi suất chào mua NVTTM năm 2010 70

14 Hình 2.8 Sơ đồ giao dịch, lưu ký và thanh toán GTCG 76

15 Hình 3.1 Cơ chế điều hành lãi suất trong thời gian tới 103

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường tiền tệ là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính, nơi các công cụ nợ ngắn hạn được giao dịch Là một cấu phần quan trọng của thị trường tiền tệ, thị trường liên ngân hàng (TTLNH) là thị trường hoạt động tích cực nhất, góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn vốn khả dụng và đảm bảo khả năng chi trả cho các ngân hàng Do đó, thị trường liên ngân hàng không chỉ là một kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ quan trọng của Ngân hàng trung ương (NHTƯ), lãi suất hình thành trên thị trường liên ngân hàng được coi là lãi suất tham chiếu cho nền kinh tế mà thị trường này còn là nơi đáp ứng nguồn vốn thanh khoản lớn, kịp thời cho các Tổ chức tín dụng (TCTD)

Với sự bùng nổ của hệ thống các TCTD trong nước, sự tham gia tích cực của các TCTD quốc tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng những năm gần đây, cùng quá trình hội nhập ngày càng sâu với thị trường tài chính quốc tế, thị trường liên ngân hàng Việt Nam đang ngày càng sôi động và đóng một vai trò tích cực trong việc tạo nguồn thanh khoản dồi dào cho các TCTD Một thị trường liên ngân hàng phát triển sẽ giúp các TCTD tận dụng tốt các cơ hội đầu tư trên thị trường và chủ động trong việc điều tiết vốn khả dụng; đồng thời cũng sẽ giúp NHTƯ xử lý nhanh chóng, kịp thời, và có những điều chỉnh chính sách thích hợp với các diễn biến thị trường

Tuy nhiên, thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn phát triển ở trình độ thấp và chưa hoàn thiện; còn nhiều rào cản đối với các giao dịch liên ngân hàng Lãi suất giao dịch liên ngân hàng chưa phát huy hết được vai trò là lãi suất tham chiếu cho nền kinh tế; NHTƯ chưa theo dõi được thông tin thị trường thường xuyên, kịp thời để phục vụ công tác điều hành chính sách tiền tệ; các TCTD cũng chưa có được các thông tin đầy đủ, kịp thời để tạo điều kiện thuận lợi cho việc ra quyết định đầu tư, kinh doanh

Trang 9

2

phù hợp Phát triển thị trường liên ngân hàng là một nhiệm vụ không thể thiếu

để phát triển thị trường tiền tệ nhằm duy trì sự ổn định tài chính và kinh tế vĩ

2 Tình hình nghiên cứu

Liên quan đến thị trường tiền tệ và phát triển thị trường tiện tệ, đã có một số công trình nghiên cứu, các đề tài, đề án có giá trị cao, như:

- Cuốn “Thị trường tiền tệ Việt Nam trong quá trình hội nhập”, năm

2004, của PGS.TS Lê Hoàng Nga

- Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Ngành “Vấn đề phát triển thị trường tài chính: thị trường tiền tệ, tín dụng, tài sản và các mối tương tác với chính sách tiền tệ ở Việt Nam thập kỷ 2001 – 2010”, của PGS.TS Nguyễn Đức Thảo

- Đề án “Phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam”, năm 2010, của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Tuy nhiên, đi sâu vào nghiên cứu thị trường liên ngân hàng một cách

có hệ thống và khoa học thì chưa có nhiều đề tài Hơn nữa, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan quản lý và điều tiết thị trường liên ngân hàng nhưng vấn đề về thông tin và công bố thông tin về thị trường này còn hạn chế;

hệ thống thông tin thị trường cũng chưa phát triển Do đó, khi tiến hành nghiên cứu vấn đề này, học viên gặp khó khăn trong việc tiếp cận một cách có

Trang 10

3

hệ thống cơ sở lý thuyết cho luận văn cũng như khó khăn trong việc khai thác thông tin của thị trường liên ngân hàng Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các nội dung cơ bản về thị trường tiền tệ liên ngân hàng: khái niệm, vai trò, các đặc trưng cơ bản, cấu trúc và các hoạt động; kinh nghiệm của một số nước như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và một số bài học đối với Việt Nam

- Phân tích thực trạng thị trường liên ngân hàng Việt Nam giai đoạn

2007 – 2011 về khuôn khổ pháp lý, cấu trúc thị trường, các hoạt động nghiệp

vụ của thị trường,…; đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại trong phát triển thị trường liên ngân hàng Việt Nam hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp vĩ mô nhằm hoàn thiện và phát triển thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu thị trường liên ngân hàng trên giác độ các giao dịch bằng đồng bản tệ (Việt Nam đồng) mà không đi sâu phân tích các giao dịch bằng ngoại tệ

- Các số liệu, thông tin chỉ tập trung nghiên cứu cho giai đoạn

2007-2011

- Không đi sâu vào tác nghiệp cụ thể mà chủ yếu là vấn đề quản lý và giám sát thị trường dưới giác độ của NHTƯ, không đi vào hoạt động dưới góc

độ của TCTD

5 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài phương pháp triết học biện chứng và lịch sử thường được dùng trong nghiên cứu khoa học, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh và các công cụ như bảng biểu,

đồ thị để chứng minh làm sáng tỏ các luận cứ được nêu ra

Trang 11

4

6 Đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống lại hoạt động thị trường liên ngân hàng Việt Nam để thấy được thực trạng, yêu cầu và những rào cản đối với việc phát triển thị trường này;

- Đề xuất các mục tiêu rõ ràng và lộ trình trình phát triển của thị trường liên ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020 theo hướng tiếp cận với tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế;

- Đề xuất một số giải pháp cụ thể có tính khả thi và thiết thực nhằm phát triển thị trường liên ngân hàng như:

+ Về pháp lý (áp dụng Quy tắc ứng xử, Hợp đồng repo chuẩn,…); + Lãi suất liên ngân hàng: cải thiện cách thức thu thập, phương pháp xác định, báo cáo, lưu giữ dữ liệu,…;

+ Thiết lập tổ chức hỗ trợ mới và cần thiết cho thị trường theo thông lệ quốc tế như các nhà giao dịch sơ cấp, môi giới tiền tệ, xếp hạng tín nhiệm,

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về thị trường tiền tệ liên ngân hàng Chương 2: Hoạt động của thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam Chương 3: Giải pháp phát triển thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam

Trang 12

5

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ

LIÊN NGÂN HÀNG

1.1 Một số vấn đề cơ bản về thị trường tiền tệ liên ngân hàng

1.1.1 Khái niệm thị trường tiền tệ liên ngân hàng

Trong nền kinh tế thị trường luôn xuất hiện tình trạng có một số người

có cơ hội đầu tư sinh lời trên thị trường nhưng lại thiếu vốn, trong khi đó có một số người để dành được một số vốn nhất định nhưng không tìm được cơ hội đầu tư sinh lời Thị trường tài chính là thị trường trong đó các nguồn lực tài chính được dịch chuyển từ những người thừa vốn sang những người thiếu vốn Thị trường tài chính bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ Thị trường tiền tệ (TTTT) là một bộ phận của thị trường tài chính, nơi thực hiện các giao dịch vốn ngắn hạn (có thời hạn dưới 12 tháng) [10]

Là một cấu phần quan trọng của thị trường tiền tệ, thị trường liên ngân hàng được hiểu là nơi mà các nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các TCTD được đáp ứng Các nhu cầu vốn này tồn tại dưới dạng hoạt động cho vay/gửi tiền liên ngân hàng, mua bán có kỳ hạn giấy tờ có giá (GTCG) liên ngân hàng (hoạt động repos), mua/bán ngoại tệ liên ngân hàng Nhu cầu phát sinh các giao dịch trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng chủ yếu là do sự không ăn khớp giữa nhu cầu chi tiêu thực tế và số tiền dự kiến chi tiêu của các chủ thể tham gia thị trường Thông thường, để giảm thiểu chi phí các TCTD phải dự trữ một khối lượng tiền tệ nhất định để bảo đảm các chi trả trong một thời gian nhất định Tuy nhiên, sự cân bằng này rất dễ bị phá vỡ do nhiều nhân tố tác động trên thị trường Vì vậy, để làm cân bằng tức thời trạng thái của mình tại một thời điểm nhất định, các TCTD thường phải bổ sung thêm nguồn vốn bằng cách đi vay lẫn nhau trên TTLNH Việc vay mượn này có thể giúp các

Trang 13

6

TCTD có thể nhanh chóng huy động được một lượng vốn lớn để đáp ứng những thiếu hụt vốn tạm thời đó Mặt khác, do sự thiếu chính xác của kế hoạch dự trữ dưới tác động của các yếu tố thị trường (dự trữ cao hơn hoặc thấp hơn mức chi tiêu thực tế) mà các TCTD có thể đầu tư số tiền dự trữ vượt

ra thị trường trong một thời gian ngắn để tạo ra thu nhập hoặc có thể bù đắp thiếu hụt bằng cách vay ngắn hạn tạm thời trên thị trường

Ngoài ra, các TCTD có thể bù đắp thiếu hụt vốn tạm thời của mình bằng cách bán đi các tài sản tài chính, tuy nhiên việc này có thể khiến cơ cấu tài sản của TCTD bị thay đổi, làm mất khả năng sinh lời tiềm năng có thể tạo

ra bởi các tài sản tài chính đó Do đó, các TCTD có thể tham gia hoạt động mua, bán có kỳ hạn GTCG (repos) mà kỳ hạn giao dịch dưới 12 tháng trên TTLNH Các giao dịch này thỏa mãn đồng thời nhu cầu vay mượn ngắn hạn giữa các TCTD mà không làm mất đi quyền sở hữu đối với GTCG; và tạo ra một thị trường thứ cấp cho các công cụ nợ, GTCG

1.1.2 Vai trò, chức năng của thị trường tiền tệ liên ngân hàng

- Đảm bảo cân đối, điều hoà khả năng chi trả giữa các ngân hàng Thực tiễn cho thấy thị trường tiền gửi và cho vay giữa các ngân hàng là thị trường hoạt động tích cực nhất, góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn vốn khả dụng

và bảo đảm khả năng chi trả cho các ngân hàng

Thứ nhất, đối với các ngân hàng, TTLNH là thị trường thanh khoản, vì vậy thị trường này sẽ bù đắp những thiếu hụt vốn khả dụng tạm thời của các ngân hàng do dự báo vốn khả dụng chưa chuẩn xác Giao dịch cho vay/đi vay qua đêm là thời hạn lý tưởng để các ngân hàng điều chỉnh vốn khả dụng

Thứ hai, do NHTƯ thực hiện công cụ dự trữ bắt buộc theo phương thức bình quân nên các ngân hàng được sử dụng linh hoạt tiền gửi của mình, miễn

là số dư bình quân của các ngày trong kỳ tối thiểu bằng mức quy định của NHTƯ Các ngân hàng có thể sử dụng tài khoản tiền gửi của mình thấp hơn

Trang 14

7

mức dự trữ tối thiểu mà NHTƯ quy định và những ngày còn lại thì ngân hàng phải vay trên thị trường (hoặc bằng những cách khác) để duy trì số dư vượt quá mức tối thiểu, nhằm đảm bảo dự trữ bình quân không thấp hơn mức quy định Các giao dịch cho vay/đi vay qua đêm trên TTLNH là hình thức phù hợp để bảo đảm mục tiêu duy trì dự trữ bình quân theo quy định

- Lãi suất hình thành trên TTLNH được coi là lãi suất tham chiếu cho nền kinh tế Ví dụ, lãi suất giao dịch bình quân liên ngân hàng tại London (LIBOR) được nhiều ngân hàng tham chiếu để xác định lãi suất giao dịch, lãi suất huy động và lãi suất cho vay, trên cơ sở cộng thêm một biên độ (phản ánh mức độ rủi ro đối với từng đối tượng giao dịch) nhất định Như vậy, nếu NHTƯ kiểm soát được lãi suất TTLNH thì có thể định hướng và kiểm soát được các mức lãi suất khác của nền kinh tế Thị trường này sẽ chuyển các tác động đến các thị trường tài chính khác như thị trường chứng khoán, thị trường ngoại hối ; từ đó tác động đến các thị trường hàng hóa, tài sản và tác động đến nền kinh tế

- Là thị trường mà NHTƯ có thể sử dụng để điều hành CSTT, là nơi phát đi các tín hiệu cho việc hoạch định CSTT của NHTƯ một cách kịp thời

và chính xác Các thông tin về lãi suất thị trường liên ngân hàng, nhất là lãi suất qua đêm và lãi suất giao dịch bình quân các kỳ hạn ngắn sẽ phản ánh nhiều thông tin về sự thừa thiếu vốn khả dụng của các ngân hàng, từ đó là cơ

sở để NHTƯ nắm bắt một cách nhanh nhạy nhu cầu vốn của nền kinh tế để có thể sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ một cách thích hợp Thông qua TTLNH, NHTƯ có thể:

Thực hiện tác động thông qua cơ chế tác động về lượng: trước tiên ngân hàng trung ương tác động lên dự trữ của hệ thống ngân hàng thông qua hành vi mua bán GTCG trên thị trường mở Sự thay đổi dự trữ của hệ thống ngân hàng sẽ làm thay đổi lượng tiền cơ bản (MB) từ đó sẽ làm thay đổi cung

Trang 15

8

Công cụ CSTT

Dự trữ ngân hàng

Lãi suất LNH

Dư nợ tín dụng Lãi suất thị trường

Giá tài sản Lãi suất thực Tỷ giá

Tài sản tài chính

Tổng cầu AD

tiền (MS) thông qua khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng (m) Sự thay đổi trên sẽ kéo theo sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng và đầu tư của các chủ thể trong xã hội Cơ chế này thường phát huy hiệu quả khi điều kiện thị trường chưa phát triển và quan hệ cung cầu của thị trường bị chi phối mạnh bởi các yếu tố phi lãi suất

Hình 1.1: Cơ chế tác động của Chính sách tiền tệ qua lãi suất

(Nguồn: Giáo trình NHTƯ) Thực hiện tác động thông qua cơ chế tác động về giá (lãi suất): cơ chế tác động về giá là cơ chế chuyển tải tác động của chính sách tiền tệ tới nền kinh tế thông qua phản ứng dây chuyền giữa các mức lãi suất và các loại giá

cả trên thị trường tài chính Quy trình này có thể được chia làm nhiều khâu với các tác nhân tham gia khác nhau Trước tiên, ngân hàng trung ương tác động làm thay đổi dự trữ của hệ thống ngân hàng, từ đó thay đổi lượng cung trên thị trường liên ngân hàng và làm cho lãi suất trên thị trường này thay đổi Với vai trò là giá cả của việc sử dụng vốn trên thị trường liên ngân hàng, khi lãi suất liên ngân hàng thay đổi sẽ dẫn tới chi phí sử dụng vốn của các ngân hàng tăng lên hay giảm đi đáng kể Điều đó sẽ làm lãi suất đầu ra (lãi suất cho

Trang 16

ăn việc làm cho xã hội; khi đầu tư quá “nóng” và không hiệu quả thì lạm phát

sẽ có xu hướng tăng cao Vì vậy, NHTƯ có thể chủ động tác động tới lãi suất TTLNH để tạo ra một hệ thống các chỉ tiêu vĩ mô hợp lý trong từng thời kỳ

Ví dụ, khi nền kinh tế có biểu hiện suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao thì NHTƯ có thể áp dụng CSTT mở rộng và duy trì một mức lãi suất NVTTM thấp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và khi tỷ lệ lạm phát tăng cao thì NHTƯ chủ động thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ đồng thời duy trì lãi suất ở mức cao

1.1.3 Đặc trưng cơ bản của thị trường tiền tệ liên ngân hàng

- Thị trường liên ngân hàng là thị trường bán buôn và có độ an toàn cao vì các chủ thể tham gia thị trường đều là các tổ chức có uy tín (NHTƯ, TCTD, các tổ chức tài chính ) và các giao dịch có thời hạn ngắn nên ít tiềm

ẩn những rủi ro phát sinh Phần lớn các giao dịch trên thị trường cho vay và tiền gửi liên ngân hàng đều không có bảo đảm bằng tài sản và ít có rủi ro xảy

ra

- Thời hạn giao dịch trên TTLNH thường ngắn, từ qua đêm cho đến dưới 1 năm, trong đó thời hạn giao dịch dưới 3 tháng và rất ngắn (cho vay qua đêm) là chủ yếu Tỷ trọng của các giao dịch có thời hạn dưới 3 tháng ở các nước có thị trường phát triển thường chiếm tỷ trọng trên 70%, trong đó giao dịch qua đêm (cho vay/đi vay và các giao dịch Repos) thường chiếm tỷ trọng trên 50% Các giao dịch qua đêm chiếm tỷ trọng lớn, nhằm đáp ứng nhu cầu

Trang 17

10

vốn khả dụng tạm thời của các chủ thể tham gia thị trường, cũng như tận dụng triệt để nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các thành viên Nhiều nước lấy lãi suất cho vay qua đêm (Overnight rate) là chỉ số thước đo phản ánh trạng thái

và mức độ biến động của thị trường

- Thị trường liên ngân hàng là một thị trường phi tập trung, sôi động và mang tính toàn cầu Doanh số hoạt động của thị trường rất lớn Tính toàn cầu của TTLNH rất cao, nó không bó hẹp trong phạm vi một quốc gia hay khu vực mà mang tính quốc tế Các giao dịch TTLNH được diễn ra 24/24 giờ trong một ngày; kinh doanh chênh lệch giá (Abitrage) diễn ra liên tục giữa các thị trường bảo đảm một sự thống nhất tương đối về giá cả giữa các thị trường Mặc dù trên thế giới đã hình thành nên các trung tâm tài chính lớn như New york, London, Tokyo Tuy nhiên, các giao dịch của TTLNH có thể diễn ra mọi lúc, mọi nơi thông qua hệ thống điện thoại và mạng vi tính toàn cầu Sự không phụ thuộc vào không gian và thời gian của các giao dịch tạo nên tính toàn cầu và sự “vô hình” của TTLNH

- Thị trường liên ngân hàng linh hoạt và nhạy cảm: TTLNH rất nhạy cảm trước biến động về kinh tế - chính trị của một quốc gia, khu vực Sự biến động của một thị trường (đặc biệt là các thị trường lớn) sẽ có ảnh hưởng ngay lập tức và lan rộng sang các thị trường khác

1.1.4 Cấu trúc của thị trường tiền tệ liên ngân hàng

Căn cứ vào đối tượng tham gia giao dịch, các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng có thể được phân chia thành: (1) các giao dịch giữa TCTD với nhau thông qua các giao dịch như giao dịch nội tệ liên ngân hàng (cho vay/gửi tiền), giao dịch ngoại tệ liên ngân hàng (mua/bán ngoại tệ) và mua/bán có kỳ hạn GTCG; (2) các giao dịch giữa NHTƯ với TCTD thông qua giao dịch NVTTM

Trang 18

11

Hình 1.2: Cấu trúc thị trường tiền tệ liên ngân hàng

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) Căn cứ vào loại hình giao dịch, các giao dịch trên thị trường có thể phân loại TTLNH thành các thị trường: (1) thị trường nội tệ liên ngân hàng (cho vay/gửi tiền giữa các TCTD); (2) thị trường mua/bán giấy tờ có giá (mua/bán có kỳ hạn GTCG giữa các TCTD với nhau; mua/bán GTCG giữa NHTƯ và các TCTD thông qua NVTTM) và (3) thị trường ngoại tệ liên ngân hàng (mua/bán ngoại tệ giữa các TCTD) Đây là cách phân loại thị trường liên ngân hàng phổ biến nhất hiện nay và cũng là hướng nghiên cứu thị trường liên ngân hàng mà luận văn này hướng tới

1.1.5 Chủ thể tham gia thị trường tiền tệ liên ngân hàng

1.1.5.1 Ngân hàng Trung ương

NHTƯ là một thành viên quan trọng trên TTLNH NHTƯ tham gia TTLNH với tư cách vừa là thành viên của thị trường vừa là người tổ chức, kiểm soát thị trường Với tư cách là thành viên của thị trường, NHTƯ cũng hoạt động như một đối tác của các TCTD, cho vay và đi vay trên TTLNH; tuy

THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG QUỐC GIA

Kinh doanh, Môi giới

Giám sát thị trường

Trang 19

12

nhiên, NHTƯ là một thành viên thị trường đặc biệt, có nhiệm vụ điều hòa nguồn vốn khả dụng của toàn hệ thống TCTD, cung thanh khoản khi các TCTD thiếu nguồn thanh khoản và hút thanh khoản khi nguồn thanh khoản trên thị trường dư thừa Do đó, với vai trò là một thành viên đặc biệt, thông qua việc mua, bán có kỳ hạn các GTCG, NHTƯ dễ dàng “bơm” hoặc “hút” tiền từ lưu thông, từ đó tác động tới lãi suất ngắn hạn trên TTLNH

Bên cạnh đó, với tư cách là người tổ chức và giám sát thị trường, NHTƯ có nhiệm vụ tạo dựng khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động trên TTLNH; cung cấp cơ sở hạ tầng công nghệ cho thị trường (phần cơ bản hoặc toàn bộ) như hệ thống giao dịch trực tuyến, hệ thống thanh toán bù trừ, thanh toán tổng tức thời,…; quản lý và giám sát thị trường (giao dịch và chủ thể giao dịch) như thiết lập một hệ thống báo cáo đối với các thông tin giao dịch liên ngân hàng, theo dõi và dự báo nguồn vốn khả dụng của hệ thống, cung cấp thông tin về TTLNH kịp thời và đầy đủ tới các thành viên thị trường,… nhằm đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả, đảm bảo an toàn hệ thống; hỗ trợ phát triển thị trường như thúc đẩy và phát triển các cấu phần thị trường nhằm hoàn thiện cấu trúc thị trường

1.1.5.2 Các tổ chức tín dụng

Các TCTD có vai trò rất quan trọng trên TTLNH, là các chủ thể cơ bản của TTLNH, bởi các nhu cầu về vốn thanh khoản ngắn hạn của các TCTD hình thành nên bản chất và cách thức hoạt động của TTLNH

Trước hết, các TCTD vay trên thị trường để bù đắp thiếu hụt thanh khoản tạm thời và thực hiện dự trữ bắt buộc tại NHTƯ; cho vay trên thị trường đối với các TCTD khác thiếu hụt thanh khoản nhằm tạo ra lợi nhuận đối với nguồn vốn khả dụng tạm thời nhàn rỗi Do đó, các TCTD thông qua các giao dịch trên TTLNH giúp luân chuyển nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu

Trang 20

13

Thứ hai, sự tham gia tích cực và đông đảo của các TCTD trên TTLNH giúp tạo ra cơ chế tự giám sát và tạo ra một môi trường cạnh tranh cho các hoạt động của thị trường, giúp xác định lãi suất cạnh tranh trên thị trường

Thứ ba, các TCTD trên TTLNH là chủ thể/đối tượng chịu tác động để NHTƯ sử dụng cho các can thiệp chính sách của mình Thông qua việc tác động tới nguồn vốn thanh khoản của các TCTD và lãi suất trên TTLNH, NHTƯ có thể tác động tới lượng cung tiền và các hoạt động tín dụng của nền kinh tế

1.1.5.3 Các nhà kinh doanh chuyên nghiệp (Dealer) và môi giới (Broker)

Các nhà kinh doanh chuyên nghiệp và các nhà môi giới hình thành trên

cơ sở các giao dịch giữa NHTƯ, TCTD Với vai trò là chất xúc tác, cầu nối và thúc đẩy thị trường, hệ thống các nhà kinh doanh chuyên nghiệp và môi giới

sẽ càng ngày càng thể hiện được vị trí của mình khi TTLNH ngày càng phát triển và tiến gần hơn tới TTLNH quốc tế

Trên TTLNH, các nhà kinh doanh chuyên nghiệp thực hiện kinh doanh chênh lệch giá, đầu cơ và thực hiện các dịch vụ bảo hiểm rủi ro trên thị trường, thông qua việc tham gia các giao dịch Repos, các giao dịch phái sinh giữa các thị trường nhằm tìm kiếm lợi nhuận tối đa Sự hoạt động tích cực của các nhà kinh doanh chuyên nghiệp sẽ là điều kiện để xoá bỏ sự phân cách của thị trường

Một nhà môi giới hoạt động trên TTLNH là người trung gian khớp lệnh giữa người mua và người bán (trong một giao dịch repos, giao dịch ngoại tệ liên ngân hàng), hoặc người vày và người cho vay (trong một giao dịch nội tệ liên ngân hàng) và thu về một khoản phí môi giới Vai trò của nhà môi giới tiền tệ trong một giao dịch tài chính trên TTLNH đơn thuần là người cung cấp dịch vụ, dàn xếp, khớp nối các lệnh gửi tiền, cho vay, mua/bán của khách

Trang 21

an toàn và không làm lộ danh tính của các đối tác tham gia giao dịch

Thông qua hệ thống thông tin liên lạc thường xuyên và các yêu cầu nhận được hàng ngày từ các khách hàng, nhà môi giới tiền tệ cung cấp dịch

vụ xử lý giá cả trên thị trường và tổng hợp được một tập hợp các mức giá cạnh tranh nhất Điều này giúp loại bỏ được việc các bên có nhu cầu phải tham khảo giá với nhiều ngân hàng để định ra được mức giá cạnh tranh nhất (rẻ nhất)

Hình 1.3: Hoạt động môi giới tiền tệ (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Trang 22

15

Bên cạnh đó, sự có mặt của hệ thống môi giới tiền tệ trên TTLNH còn giúp phát huy tác dụng trong việc thực hiện CSTT và vai trò quản lý của NHTƯ Thông qua hệ thống môi giới tiền tệ, NHTƯ có thể nắm bắt thông tin cập nhật về diễn biến lãi suất, cung – cầu vốn,…trên TTLNH Ví dụ, lãi suất trong ngày tăng lên thì NHTƯ có thể tìm hiểu nguyên nhân thay đổi lãi suất một cách nhanh chóng (tại sao? ai là người vay? người mua? ở đâu? ) thông qua các nhà môi giới tiền tệ, nhờ đó, NHTƯ có thể sử dụng những chính sách thích hợp để đảm bảo can thiệp thị trường kịp thời khi cần thiết

1.1.6 Hoạt động của thị trường tiền tệ liên ngân hàng

1.1.6.1 Hoạt động cho vay, gửi tiền trên thị trường liên ngân hàng Thị trường cho vay gửi tiền liên ngân hàng là thị trường nơi mà các TCTD thừa vốn cho vay các TCTD khác trong một khoảng thời gian nhất định, thường là dưới 3 tháng với kỳ hạn qua đêm là chủ yếu Thành phần tham gia các hoạt động này là các TCTD, mà chủ yếu là các ngân hàng thương mại (NHTM)

Hình 1.4: Hoạt động của thị trường cho vay, gửi tiền liên ngân hàng

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) Các ngân hàng bị yêu cầu phải nắm giữa một lượng thích hợp các tài sản thanh khoản, như tiền mặt, để đáp ứng những nhu cầu rút tiền tiềm ẩn của khách hàng và thực hiện dự trữ bắt buộc của NHTƯ Nếu một ngân hàng không đáp ứng được những yêu cầu thanh khoản này, nó sẽ cần phải vay tiền

Thị trường liên ngân hàng

Trang 23

16

trên thị trường liên ngân hàng để bù đắp những thiếu hụt ngắn hạn Trong khi

đó, một số ngân hàng lại có lượng tài sản thanh khoản vượt so với các yêu cầu thanh khoản Những ngân hàng này sẽ thực hiện cho vay trên TTLNH và nhận về một mức lãi suất trên các tài sản đó Xuất phát từ nhu cầu đó, thị trường cho vay, gửi tiền chủ yếu là thị trường bán buôn với thời hạn ngắn

Các khoản cho vay, gửi tiền trên thị trường liên ngân hàng thông thường đều là các khoản vay không có tài sản đảm bảo Do nguồn vốn giao dịch trên thị trường này lớn, lại là những khoản vay không được bảo đảm, các ngân hàng giao dịch trên thị trường này dựa chủ yếu vào uy tín và lòng tin; nên thị trường cho vay, gửi tiền còn được gọi là thị trường thông tin và có độ nhạy cảm rất cao Cũng chính vì lý do đó, phần lớn các giao dịch cho vay, gửi tiền trên TTLNH đều được thực hiện thông qua hoạt động cho vay qua đêm, đây được coi là lựa chọn an toàn nhất cho người cho vay mà vẫn giải quyết được vấn đề thiếu hụt thanh khoản của người đi vay

Lãi suất cho vay gửi tiền liên ngân hàng là mức lãi suất phải trả cho các khoản vay ngắn hạn Mức lãi suất này phụ thuộc vào tính sẵn có của vốn trên TTLNH, các mức lãi suất hiện hành và một số điều khoản cụ thể trong hợp đồng như thời hạn Điều làm nên sự khác biệt chủ yếu giữa TTLNH (thường được coi là thị trường bán buôn) và thị trường bán lẻ (thị trường tín dụng) chính là lãi suất của các khoản vay Khi các ngân hàng tiếp cận được TTLNH cũng có nghĩa là họ có thể tiếp cận được nguồn vốn với chi phí rẻ hơn nhiều

so với chi phí mà người sử dụng cuối cùng trên thị trường tín dụng phải trả

Do đó, bằng việc cho vay những nguồn vốn chi phí thấp trên TTLNH tới khách hàng trên thị trường tín dụng với mức lãi suất cao hơn, các ngân hàng

có thể kiếm được lợi nhuận trong khi vẫn duy trì được hoạt động kinh doanh

Bên cạnh đó, lãi suất cho vay gửi tiền liên ngân hàng với đặc điểm rất nhạy cảm với tình trạng thiếu thanh khoản trên thị trường, đặc biệt là lãi suất

Trang 24

17

qua đêm nên thường được các NHTƯ can thiệp để giữ ở một mức gần với mức lãi suất mục tiêu của mình Do đó, khi thực hiện các giao dịch qua đêm các ngân hàng thường tham chiếu các mức lãi suất quan trọng do NHTƯ công

bố, như Lãi suất quỹ liên bang (The Federal Funds rate) ở Mỹ, lãi suất tái chiết khấu (The main refinancing rate) trong khu vực đồng tiền chung Châu

Âu, lãi suất nguồn vốn qua đêm ngắn hạn (The overnight call rate) ở Nhật Bản, và Bank rate ở Anh,…

Các TCTD cho vay, gửi tiền lẫn nhau trên TTLNH căn cứ vào xếp hạng nội bộ để cấp hạn mức giao dịch cho đối tác hoặc là quan hệ tín chấp (cho vay không có tài sản đảm bảo) Khi các TCTD có nhu cầu vay mượn vốn trên TTLNH họ có thể thực hiện tìm kiếm đối tác qua điện thoại, telex hoặc qua hệ thống máy tính được nối mạng với nhau; hoặc thông qua các nhà môi giới tiền tệ trên thị trường – những người sẽ giúp cho nhu cầu cho vay và đi vay của những người thừa vốn và thiếu vốn có thể gặp nhau nhanh nhất với mức giá tốt nhất Sau khi tìm kiếm được nguồn vốn phù hợp, các giao dịch liên ngân hàng được xác nhận và được thực hiện (chuyển tiền/thanh toán) thông qua Hệ thống thanh toán tổng tức thời (Real – time gross settlement system) Hệ thống này sẽ do NHTƯ vận hành hoặc một công ty con thuộc NHTƯ vận hành

Như đã đề cập ở trên, do lãi suất cho vay, gửi tiền liên ngân hàng, đặc biệt là lãi suất qua đêm thường rất nhạy cảm với những biến động của thị trường; đồng thời, TTLNH là thị trường bán buôn vốn nên NHTƯ các nước luôn giám sát chặt chẽ thị trường này để có những can thiệp kịp thời tới thị trường này Nhằm giám sát được các giao dịch cho vay, gửi tiền liên ngân hàng NHTƯ có thể thiết lập một hệ thống báo cáo đầy đủ kịp thời, quản lý các luồng vốn luân chuyển qua hệ thống thanh toán, tìm kiếm thông tin từ các nhà môi giới, Thông qua đó, NHTƯ có thể thực hiện các chế tài (được quy

Trang 25

1.1.6.2 Nghiệp vụ thị trường mở (Open Market Operations)

Xét về hình thức, thị trường mở là thị trường giao dịch các chứng khoán nợ ngắn hạn và dài hạn Tuy nhiên, khác với các khái niệm có phạm vi

và loại hình công cụ giao dịch rõ ràng như thị trường chứng khoán hay thị trường ngoại hối, thị trường mở ở các nước khác nhau về phạm vi, loại hình công cụ giao dịch và thời hạn của các công cụ giao dịch trên thị trường

Khái niệm thị trường mở gắn liền với khái niệm “nghiệp vụ thị trường mở” (Open Market Operations - OMO) Theo nghĩa gốc, cụm từ nghiệp vụ thị trường mở chỉ các hoạt động mua bán chứng khoán của NHTƯ trên thị trường mở Thông qua các hành vi mua bán này, NHTƯ có thể tác động trực tiếp đến dự trữ của hệ thống ngân hàng và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường từ đó có thể ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng thông qua tác động cả

về giá và lượng Xuất phát từ mục tiêu mong muốn của NHTƯ là cung ứng thêm lượng tiền ra ngoài lưu thông hay hút bớt dự trữ về thì nghiệp vụ tương ứng của NHTƯ có thể là mua hay bán các loại giấy tờ có giá đối với các thành viên còn lại của thị trường

Trang 26

19

Hình 1.5: Cơ chế tác động của NVTTM tới dự trữ ngân hàng

(Nguồn: Giáo trình NHTƯ)

Hình 1.6: Cơ chế tác động của NVTTM qua lãi suất

(Nguồn: Giáo trình NHTƯ)

Có 02 loại nghiệp vụ thị trường mở đó là nghiệp vụ mua bán hẳn và nghiệp vụ mua bán có kỳ hạn GTCG Các giao dịch mua bán hẳn là giao dịch trong đó ngân hàng trung ương mua bán các loại GTCG theo phương thức mua đứt, bán đứt trên cơ sở giá thị trường, kèm theo việc chuyển giao hẳn quyền sở hữu GTCG Do ảnh hưởng dài hạn của các giao dịch này đối với dự trữ của các ngân hàng và tác động kém linh hoạt của nó tới tính thanh khoản của toàn hệ thống mà nghiệp vụ này thường ít được sử dụng Ngược lại, nghiệp vụ mua bán có kỳ hạn GTCG là các giao dịch trong đó ngân hàng trung ương mua, bán GTCG trong một thời hạn nhất định, đi kèm với một cam kết bán hoặc mua lại các GTCG vào một thời điểm xác định trong tương lai Sự chênh lệch giá bán giữa hai thời điểm chính là lãi suất của giao dịch mua, bán có kỳ hạn Do những ưu điểm nổi bật của các giao dịch này, đây là công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu những ảnh hưởng không dự tính trước đến dự trữ của các ngân hàng, chi phí thấp, tác động ngắn hạn và

NHTƯ

bán

GTCG

Dự trữ ngân hàng giảm

Dự trữ mở rộng cho vay giảm

Khối lượng tín dụng giảm

Cung tiền giảm

Cung của quỹ cho vay giảm

Lãi suất ngắn hạn tăng

Lãi suất thị trường tăngGiá GTCG

giảm trường tăng Lãi suất thị

Trang 27

Các loại hàng hóa được phép giao dịch trên thị trường mở rất phong phú về loại hình cũng như kỳ hạn Tùy đặc điểm và độ “mở” của thị trường

mở của từng quốc gia mà mỗi NHTƯ sẽ chấp nhận mua hoặc bán các loại GTCG khác nhau Có thể kể đến các loại GTCG tiêu biểu như tín phiếu kho bạc (Treasury Bills), chứng chỉ tiền gửi (Negotiable Certificate Deposits), thương phiếu (Commercial Paper), trái phiếu chính phủ (Treasury Bond) và nhiều loại GTCG khác Tuy nhiên các loại GTCG này đều đảm bảo được các tiêu chuẩn để một loại GTCG có thể trở thành hàng hóa giao dịch trên thị trường mở như phải có tính lỏng cao, dễ dàng giao dịch được trên thị trường

mà không phải điều chỉnh lớn về giá; có rủi ro tín dụng thấp – được đánh giá bằng uy tín, xếp hạng của chủ thể phát hành GTCG đó; và ở một số quốc gia còn quy định điều kiện về thời hạn của GTCG, như chỉ chấp nhận GTCG ngắn hạn,…

Trang 28

21

Tương tự với hàng hóa, các thành viên tham gia nghiệp vụ thị trường

mở cũng rất đông đảo, phong phú với nhiều mục đích khác nhau, tùy theo đặc điểm kinh tế xã hội của từng nước

NHTƯ tham gia thị trường mở với tư cách là người chỉ đạo thị trường thông qua việc mua bán các GTCG nhằm cung cấp cho hệ thống ngân hàng khả năng thanh toán cần thiết phù hợp với nhu cầu về vốn cho nền kinh tế

Các đối tác của NHTƯ trên thị trường mở bao gồm:

- Các ngân hàng thương mại tham gia thị trường nhằm điều hòa mức dự trữ để duy trì và đảm bảo khả năng thanh toán hoặc cho vay nguồn vốn dư thừa để kiếm lời hoặc thực hiện nghiệp vụ môi giới, kinh doanh chứng khoán

để thu lợi nhuận;

- Các tổ chức tài chính phi ngân hàng như các công ty bảo hiểm, công

ty tài chính, quỹ đầu tư coi thị trường mở là nơi tìm kiếm thu nhập thông qua sử dụng vốn nhàn rỗi để mua, bán các loại GTCG với các kỳ hạn khác nhau;

- Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lớn thường nắm giữ một lượng lớn các thương phiếu, tín phiếu, trái phiếu và thường có nhu cầu bán các chứng khoán này để đổi ra tiền mặt phục vụ cho công việc sản xuất kinh doanh;

- Các công ty môi giới tham gia vào thị trường mở với tư cách là những trung gian trong việc mua bán GTCG giữa ngân hàng trung ương với các đối tác nhằm hưởng chênh lệch giá và phí môi giới

1.1.6.3 Hoạt động mua bán có kỳ hạn giấy tờ có giá (repos) giữa các

tổ chức tín dụng

Mua bán có kỳ hạn là một công cụ trên thị trường tiền tệ, nó cho phép thực hiện các khoản đi vay và cho vay ngắn hạn có tài sản đảm bảo thông qua các hoạt động bán/mua lại các GTCG và công cụ nợ trên thị trường tiền tệ

Trang 29

22

Trên TTLNH, khi một TCTD nắm giữ GTCG có nhu cầu vay mượn trên thị trường có thể tìm đến một giao dịch repo Trong giao dịch này, TCTD nắm giữ GTCG sẽ bán GTCG cho một TCTD khác và nhận về một khoản tiền (bằng giá mua); đồng thời với một cam kết sau một thời hạn nhất định (thời hạn repo) sẽ mua lại GTCG đó với một mức giá (giá mua lại) đã được thỏa thuận trước – tức là đến ngày đáo hạn của hợp đồng repo, TCTD đó phải hoàn trả tiền và lãi cho TCTD đối tác bằng cách mua lại GTCG đã bán với giá mua lại Giá mua lại của GTCG bằng giá mua cộng với lãi suất repo Lãi suất repo

là lãi suất cho khoản quỹ chuyển từ người cho vay sang người cho vay; lãi suất repo bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như uy tín tín dụng của người vay, tính thanh khoản của GTCG và lãi suất của các công cụ thị trường khác Với phương diện là một công cụ giao dịch trên TTLNH giúp các TCTD điều hòa trạng thái thanh khoản ngắn hạn, kỳ hạn giao dịch repo cũng thường là ngắn hạn, với các thời hạn chủ yếu và lý tưởng là từ 3 tháng trở xuống

Có thể thấy, về bản chất hoạt động mua bán có kỳ hạn GTCG giữa các TCTD thực chất là các khoản cho vay ngắn hạn có đảm bảo bằng GTCG Chính vì vậy, lãi suất của các khoản vay này thường sẽ thấp hơn hoạt động cho vay thông thường trên TTLNH Các loại GTCG được sử dụng để làm repo giữa các TCTD rất phong phú, nhưng được sử dụng nhiều nhất là trái phiếu chính phủ, do có độ an toàn cao và biến động giá ít Các chủ thể tham gia hoạt động này thường ký với nhau một hợp đồng khung (gọi là hợp đồng khung chuẩn – Master repurchase agreement) với những quy định, quy tắc chung áp dụng cho tất cả các lần giao dịch Mỗi lần giao dịch, các chủ thể chỉ cần ký với nhau các hợp đồng chi tiết, chỉ bao gồm các nội dung của lần giao dịch đó như khối lượng, lãi suất, kỳ hạn

Giao dịch repo được thừa nhận là một công cụ hữu ích trên TTLNH của các nước vì nó giúp điều chỉnh trôi chảy vốn khả dụng giữa các thành

Trang 30

23

viên Tại hầu hết các thị trường tài chính phát triển, giao dịch repo luôn giữ vai trò là một công cụ phổ biến và linh hoạt nhất, với khối lượng giao dịch chiếm tỷ trọng lớn trong các giao dịch chứng khoán Việc tách bạch thông tin

về khối lượng, quy mô, kỳ hạn của các giao dịch repo cần phải được cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách để giám sát sự phát triển của thị trường Việc theo dõi, giám sát đầy đủ các thông tin về giao dịch repo là rất cần thiết

vì nó giúp ngăn ngừa tình trạng thổi phồng mức vốn khả dụng của các TCTD, hoặc thổi phồng giá, hoặc đưa các chứng khoán thiếu tin cậy ra khỏi bảng cân đối tài sản

1.1.6.4 Hoạt động mua bán ngoại tệ liên ngân hàng

Các TCTD tham gia các hoạt động mua bán ngoại tệ liên ngân hàng chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản các loại ngoại tệ ngoài Việt Nam đồng (VND)

1.2 Phát triển và điều kiện phát triển thị trường liên ngân hàng quốc gia

1.2.1 Phát triển thị trường liên ngân hàng

Thị trường tiền tệ nói chung và thị trường liên ngân hàng nói riêng của mỗi quốc gia, khu vực đều có lịch sử hình thành, phát triển và có những quan điểm phát triển khác nhau Tuy nhiên, tựu chung lại việc phát triển TTLNH đều phải đạt được các tiêu chí sau:

- Phát triển một hệ thống thể chế, khuôn khổ pháp lý đầy đủ cho việc hình thành và phát triển của thị trường liên ngân hàng, thông qua một hệ thống pháp lý từ cao đến thấp từ luật, nghị định cho đến các thông tư, quyết định, quy trình,…

- Phát triển một cấu trúc thị trường hoàn thiện, như: có sự tham gia đầy

đủ và tích cực của tất cả các chủ thể (NHTƯ, TCTD, các nhà kinh doanh sơ cấp, hệ thống môi giới tiền tệ,…); các thị trường bộ phận hoàn thiện và hoạt động hiệu quả, phát huy được vai trò của mình;…

Trang 31

24

- Phát triển năng lực hoạt động của thị trường: năng lực (quản lý và kinh doanh) của các chủ thể tốt; sự liên kết giữa các thị trường bộ phận phải chặt chẽ; hệ thống công nghệ của thị trường hiện đại, an toàn, hiệu quả; các giao dịch nghiệp vụ của thị trường diễn ra sôi động, phong phú; thị trường liên ngân hàng có khả năng kết nối cao với các thị trường khác trong nước và thị trường tài chính quốc tế

- Phát triển các hoạt động hỗ trợ thị trường: tổ chức được một hệ thống giao dịch dựa trên nền tảng công nghệ thông tin cho thị trường; hệ thống thông tin thị trường kịp thời, phong phú, chính xác; đảm bảo nguồn vốn để hỗ trợ thiết lập và vận hành các hệ thống công nghệ của thị trường (giao dịch, thống kê, thông tin,…), chủ yếu là từ ngân sách nhà nước và có thể huy động thêm các nguồn vốn khác như vốn vay, vốn tài trợ,…

1.2.2 Điều kiện phát triển thị trường liên ngân hàng

1.2.2.1 Điều kiện kinh tế vĩ mô

Điều kiện kinh tế vĩ mô thay đổi ảnh hưởng đến cung – cầu thanh khoản của các TCTD; ảnh hưởng đến định hướng và những quyết định chính sách của NHTƯ từ đó tác động đến thị trường liên ngân hàng khi các chủ thể đưa ra các quyết định để phản ứng với những thay đổi trong kinh tế vĩ mô

Trong giai đoạn kinh tế bùng nổ, nhu cầu vốn tín dụng của nền kinh tế lớn cần sự tài trợ vốn của các kênh tín dụng, trong đó có hệ thống ngân hàng; đồng thời, các dịch vụ và hoạt động ngân hàng cũng trở nên sôi động hơn nhằm phục vụ nhu cầu của nền kinh tế; khi đó các TCTD phải hoạt động tích cực hơn trên các thị trường, trong đó có TTLNH nhằm huy động đủ vốn phục

vụ nền kinh tế, tăng vòng quay của dòng vốn để tối đa hóa khả năng và lợi nhuận thu được

Tuy nhiên, khi lạm phát tăng cao, với nhiệm vụ ổn định giá trị đồng tiền, NHTƯ sẽ phải đưa ra các biện pháp và công cụ can thiệp nhằm ổn định

Trang 32

25

lạm phát, hút tiền trong lưu thông qua NVTTM, thắt chặt các quy định trên TTLNH, tác động đẩy lãi suất TTLNH lên cao…để giảm lượng vốn tín dụng trên thị trường và tăng lãi suất; bên cạnh đó, lạm phát tăng cao làm tăng chi phí vốn trên TTLNH; tất cả các phản ứng này sẽ tác động làm giảm giao dịch, giảm sự sôi động của TTLNH

Như vậy nếu nền kinh tế vĩ mô không ổn định sẽ kéo theo sự trồi/sụt không ổn định của TTLNH hay khi có những thay đổi đột ngột khiến các chủ thể trên TTLNH không kịp phản ứng để có những thay đổi hợp lý sẽ dẫn đến một thị trường không hiệu quả Do đó, điều kiện trước hết để phát triển TTLNH quốc gia là phải có nền kinh tế vĩ mô ổn định, có một định hướng phát triển rõ ràng, đồng bộ

1.2.2.2 Điều kiện thị trường

a) Cung cầu thanh khoản:

Tương quan cung – cầu về vốn thanh khoản quyết định trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng tại bất cứ thời điểm nào Khi nhu cầu về thanh khoản của ngân hàng vượt quá cung thanh khoản, ngân hàng đứng trước tình trạng thâm hụt thanh khoản, nhà quản trị ngân hàng phải quyết định xem vốn thanh khoản bổ sung sẽ được huy động ở đâu và vào lúc nào Ngược lại, nếu tại một thời điểm nào đó, tổng cung thanh khoản vượt quá tổng cầu thanh khoản, tình trạng thặng dư thanh khoản xuất hiện và nhà quản trị ngân hàng phải xem xét việc đầu tư có hiệu quả các khoản thặng dư vốn thanh khoản này cho tới khi chúng cần được sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tương lai Các ngân hàng có thể ứng phó với tình trạng thiếu hụt hay dư thừa thanh khoản thông qua TTLNH

Khi cầu thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng lớn, nguồn cung khan hiếm sẽ khiến cho nguồn vốn trên TTLNH trở nên đắt đỏ, lãi suất trên TTLNH tăng và rủi ro bởi các TCTD chấp nhận trả giá cao là các TCTD đang

Trang 33

26

gặp vấn đề lớn về thanh khoản Ngược lại khi nguồn cung thanh khoản trở nên dồi dào, nguồn vốn trở nên rẻ hơn, lãi suất TTLNH giảm và tăng tính linh hoạt trong tiếp cận vốn của các TCTD

b) Mức độ cạnh tranh trên thị trường tiền tệ:

Một thị trường tiền tệ phát triển năng động với mức độ cạnh tranh cao

sẽ phản ứng một cách mau lẹ, linh hoạt với những thay đổi từ cơ chế, chính sách của cơ quan quản lý Ngược lại, sự độc quyền sẽ làm ngăn cản hoặc giảm tốc độ ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến lãi suất liên ngân hàng và ảnh hưởng của lãi suất liên ngân hàng đến lãi suất thị trường thông qua sự chi phối của một số ngân hàng lớn Để có được điều kiện này, đòi hỏi trước hết phải có một khung pháp lý đầy đủ, chặt chẽ, công bằng để tạo khuôn khổ hoạt động cho các giao dịch thị trường, đảm bảo lợi ích cho tất cả các bên tham gia giao dịch; cần thiết phải để cho thị trường phát triển theo quy luật khách quan của nó, tránh những can thiệp mang tính áp đặt, mệnh lệnh khiến thị trường bị bóp méo; đồng thời, các thành viên tham gia thị trường phải ý thức được về những lợi ích lâu dài, vì sự phát triển chung của toàn thị trường

c) Tính liên kết giữa các thị trường trong thị trường tài chính:

Tính liên kết giữa các thị trường tài chính quyết định khả năng lưu thông luồng vốn, hàng hóa giữa các thị trường này Tính liên kết giữa các thị trường trong thị trường tài chính cao sẽ giúp tăng tính thanh khoản cho các thị trường bộ phận nói chung và thị trường liên ngân hàng nói riêng do luồng vốn giữa các thị trường các này có thể dễ dàng luân chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu; đồng thời các công cụ tài chính cũng dễ dàng được mua, bán, chuyển đổi trên các thị trường giúp tăng nguồn cung tài sản thanh khoản cho thị trường liên ngân hàng Ngược lại, một sự liên kết yếu hoặc có sự cản trở giữa các thị trường sẽ hạn chế việc tạo thanh khoản cho các thị trường bộ phận trong thị trường tài chính

Trang 34

27

d) Khả năng dự báo, khả năng quản trị nguồn vốn của các TCTD: Việc dự báo và quản trị nguồn vốn của các TCTD chính xác và hiệu quả sẽ giúp các TCTD có những quyết định đúng trên thị trường, giúp TTLNH hoạt động mềm dẻo, linh hoạt, tránh tình trạng căng thẳng vốn quá mức và những diễn biến lãi suất cục bộ và mang tính thời điểm Do đó, đây là một điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển của TTLNH Khả năng dự báo, khả năng quản trị vốn tốt của một TCTD được tạo ra từ trình độ của đội ngũ nhân viên, quản lý tốt, có trình độ; từ việc xây dựng chiến lược kinh doanh rõ ràng, chặt chẽ; từ một hệ thống thông tin thị trường đầy đủ phong phú; từ điều kiện công nghệ hiện đại, các mô hình dự báo tiên tiến, hiệu quả,

hỗ trợ đắc lực cho hoạt động quản trị

đ) Chính sách tiền tệ của NHTƯ:

Các chính sách nới lỏng hay thắt chặt tiền tệ của NHTƯ trước hết ảnh hưởng đến nguồn cung trên thị trường liên ngân hàng thông qua nghiệp vụ thị trường mở Đồng thời, định hướng chính sách tiền tệ còn ảnh hưởng đến dự trữ bắt buộc của các ngân hàng, lãi suất trên thị trường và các quy định tuân thủ đối với các TCTD từ đó mở rộng hay thu hẹp hoạt động trên TTLNH Do

đó, một hệ thống chính sách tiền tệ linh hoạt, hiệu quả, các quyết định chính sách đúng đắn sẽ có tác động rất lớn giúp thúc đẩy sự phát triển của TTLNH

e) Hoạt động quản lý và giám sát thị trường liên ngân hàng của Ngân hàng Trung ương:

Bất cứ một xã hội, một thị trường nào muốn hoạt động có trật tự, có khuôn khổ và để có thể phát triển lành mạnh được đều cần phải có một cơ quan quản lý Một TTLNH có hoạt động an toàn, bình đẳng và hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động quản lý và giám sát thị trường của NHTƯ, đó là:

Trang 35

28

- Tạo ra khuôn khổ pháp lý hoạt động cho thị trường Chỉ có NHTƯ với vai trò quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng và là ngân hàng của các ngân hàng mới đủ khả năng, thẩm quyền và các công cụ pháp lý trong tay để xây dựng, ban hành các quy định cho hoạt động của TTLNH Bằng việc tạo dựng nên khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động TTLNH, NHTƯ sẽ thể hiện được quan điểm của mình trong việc cho phép/không cho phép, khuyến khích/không khuyến khích đối với loại hình giao dịch hay các loại hình thành viên tham gia trên TTLNH; đồng thời, sẽ thể hiện được quan điểm quản lý của NHTƯ đối với các giao dịch trên thị trường bằng các quy định trao quyền

cụ thể cho NHTƯ trong quản lý các hoạt động thị trường Tất cả các quy định của NHTƯ ban hành trước hết là để đảm bảo an toàn cho các hoạt động TTLNH, đảm bảo lợi ích hợp pháp của tất cả các bên tham gia; do đó, xây dựng được một khuôn khổ pháp lý chặt chẽ, đầy đủ và hiệu quả sẽ giúp tăng cường và phát huy được vai trò giám sát và quản lý hoạt động TTLNH của NHTƯ

- Cấp phép, đưa ra các điều kiện cho các thành viên (TCTD), các nhà kinh doanh sơ cấp, môi giới tiền tệ,…được tham gia TTLNH

- Tổ chức hệ thống giao dịch ứng dụng công nghệ thông tin (fax, telex, máy tính,…) cho thị trường, thiết lập hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống báo cáo nhằm nắm bắt và theo dõi tình hình thị trường nhằm đảm bảo thị trường hoạt động đúng quy định, theo khuôn khổ và thực hiện can thiệp thị trường đúng lúc

- Thực hiện chức năng thanh tra, giám sát đối với hoạt động ngân hàng nói chung và các hoạt động trên TTLNH nói riêng

1.2.2.3 Điều kiện kỹ thuật

- Công nghệ thông tin: sự phát triển và bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã tạo ra những thay đổi lớn giúp thúc đẩy sự phát triển của

Trang 36

29

hoạt động ngân hàng Đặc biệt, với TTLNH là một thị trường giao dịch vốn lớn, với kỳ hạn ngắn và đòi hỏi độ tin cậy cao thì sự hỗ trợ của các ứng dụng công nghệ thông tin là rất quan trọng Trước hết, ứng dụng công nghệ cải thiện khả năng dự báo thanh khoản của các TCTD, NHTƯ được kịp thời và chính xác hơn bằng các phần mềm quản lý, mô hình dự báo,…Bên cạnh đó, công nghệ thông tin còn giúp tăng khả năng kết nối giữa các đối tác, giữa các thị trường, tăng khả năng cập nhật thông tin, quản lý thông tin giúp thị trường hoạt động nhanh chóng và hiệu quả Nền tảng công nghệ thông tin hơn bao giờ hết còn giúp tạo ra môi trường giao dịch, hệ thống thanh toán nhanh chóng, thuận tiện, chính xác nhằm tối thiểu hóa các rủi ro, tăng cường bảo mật thông tin và đảm bảo công bằng trong các giao dịch Ngoài ra, ứng dụng công nghệ thông tin còn giúp tạo ra các sản phẩm giao dịch mới cho TTLNH, tăng cơ hội tìm kiếm lợi nhuận cho các thành viên tham gia thị trường

- Các tổ chức chuyên nghiệp: tuy là những thành phần hỗ trợ cho thị trường nhưng hoạt động của các tổ chức chuyên nghiệp là không thể thiếu cho một TTLNH phát triển Do đó, năng lực, trình độ của các thành viên khác như các công ty môi giới tiền tệ sẽ góp phần làm thúc đẩy hay hạn chế sự phát triển của TTLNH Hoạt động môi giới tiền tệ trên thị trường tốt và hiệu quả sẽ giúp cho cung – cầu trên TTLNH gặp nhau với các mức giá tốt nhất

1.3 Kinh nghiệm phát triển thị trường liên ngân hàng của một số quốc gia trên thế giới và bài học đối với Việt Nam

1.3.1 Kinh nghiệm của Mỹ

a) Các giao dịch cho vay, gửi tiền giữa các ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng của Mỹ

Giao dịch trên TTLNH là giao dịch vay mượn giữa các ngân hàng có tài khoản tiền gửi tại Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) Việc vay mượn sẽ được thực hiện trên tài khoản tiền gửi đó Các giao dịch vay mượn lẫn nhau nhằm

Trang 37

30

bù đắp ngay tức thời các nhu cầu thanh khoản, thanh toán của các ngân hàng,

do đó kỳ hạn giao dịch chủ yếu là qua đêm

Lãi suất giao dịch liên ngân hàng (lãi suất cho vay qua đêm) chính là lãi suất mục tiêu của Fed Fed dùng NVTTM để tác động vào lãi suất liên ngân hàng nhằm đạt lãi suất mục tiêu

Đến cuối ngày giao dịch, các ngân hàng sẽ báo cáo Fed khối lượng giao dịch và lãi suất bình quân liên ngân hàng Theo đó, cuối ngày ngân hàng trung ương sẽ có lãi suất mục tiêu của thị trường Lãi suất này không được công bố

ra thị trường và là căn cứ để Fed quyết định khối lượng, lãi suất NVTTM thực hiện vào sáng hôm sau

Fed không theo dõi các giao dịch trên TTLNH của từng thành viên mà hàng tuần sẽ xem xét bảng cân đối kế toán của từng ngân hàng để đánh giá mức độ vay mượn của từng ngân hàng

Nếu hai ngân hàng vay mượn lẫn nhau mà không thông qua tài khoản tiền gửi tại Fed thì không được coi là giao dịch liên ngân hàng mà chỉ được coi là các giao dịch vay, gửi đối với một khách hàng thông thường và vẫn phải đảm bảo các tỷ lệ như đối với khách hàng là tổ chức, cá nhân khác

Hoạt động cho vay, gửi tiền giữa các ngân hàng diễn ra ở thị trường phi tập trung; các ngân hàng không giao dịch trực tiếp với nhau mà thông qua các nhà môi giới độc lập Khi đó, chỉ có Fed và môi giới mới có được các thông tin về nhu cầu của từng thành viên; các ngân hàng chỉ biết được thông tin về doanh số, giá chào mua, chào bán

Hiện tại, Fed thu thập thông tin về doanh số và lãi suất liên ngân hàng thông qua các nhà môi giới trên thị trường Hết ngày giao dịch, các môi giới tập hợp các thông tin về giao dịch trong ngày và tính ra lãi suất bình quân Ngày hôm sau, lãi suất giao dịch bình quân này được công bố trên các phương tiện thông tin

Trang 38

31

Quản lý lãi suất: Fed quy định lãi suất trần (tương tự như lãi suất tái chiết khấu) và lãi suất sàn (lãi suất tiền gửi của các ngân hàng tại NHTƯ) Nếu lãi suất thị trường quá cao, Fed sẽ cung tiền qua NVTTM, từ đó lãi suất thị trường sẽ tự động điều chỉnh

b) Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của Mỹ:

NVTTM tại Mỹ được Fed thực hiện cùng với những nhà giao dịch sơ cấp Các TCTD khác sẽ thực hiện đặt nhu cầu vốn của mình với các nhà giao dịch sơ cấp này

Hàng ngày, Fed dựa vào lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng để xác định việc cung tiền ra lưu thông hay hút tiền về dựa trên việc so sánh lãi suất giao dịch bình quân liên ngân hàng với lãi suất mục tiêu của Fed Nếu lãi suất liên ngân hàng cao hơn lãi suất mục tiêu thì Fed sẽ cung tiền ra lưu thông để giúp bình ổn lãi suất liên ngân hàng

Có khoảng 16-30 nhà giao dịch sơ cấp được tham gia NVTTM Số lượng nhà giao dịch sơ cấp thay đổi theo thời kỳ Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, do một số tổ chức tài chính lớn bị phá sản, số lượng nhà giao dịch sơ cấp đã giảm nhiều so với trước đây Việc lựa chọn một nhà giao dịch sơ cấp được thực hiện khi một nhà giao dịch sơ cấp bị phá sản hay không đáp ứng được những tiêu chuẩn của Fed Nhà giao dịch sơ cấp có thể

là ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, công ty chứng khoán hay ngân hàng nước ngoài, đảm bảo các tiêu chí sau:

+ Có lịch sử về tuân thủ các yêu cầu về vốn, tỷ lệ an toàn tối thiểu; + Có lịch sử về việc nắm giữ khối lượng lớn và đa dạng các loại trái phiếu Chính phủ;

+ Tham gia tích cực trong hoạt động đấu thầu trái phiếu Chính phủ, có thể đấu thầu với mức giá cạnh tranh và khối lượng lớn;

+ Có danh mục khách hàng tốt;

Trang 39

Cơ sở để Fed xác định lượng tiền cung ứng/thu về qua nghiệp vụ thị trường mở: lượng dự trữ dư thừa của các ngân hàng tại Fed, sự chênh lệch giữa lãi suất bình quân liên ngân hàng và lãi suất mục tiêu của Fed

Tần suất thực hiện NVTTM: hàng ngày

Hàng hóa: Fed chấp nhận các loại GTCG do Chính phủ phát hành làm tài sản bảo đảm trong nghiệp vụ thị trường mở Tuy nhiên, trong cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua, danh mục GTCG được mở rộng hơn đến các loại GTCG do chính quyền địa phương, doanh nghiệp phát hành

1.3.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản

a) Các giao dịch cho vay, gửi tiền giữa các ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng của Nhật Bản

TTLNH của Nhật chỉ tập trung ở các trung tâm tài chính lớn như Tokyo, Osaka và Nagoya, bao gồm 3 bộ phận:

- Thị trường giao dịch vốn ngắn hạn (Call market): Là thị trường giao dịch đồng bản tệ giữa các ngân hàng và các định chế tài chính khác nhằm bảo đảm khả năng thanh khoản Đây là bộ phận chủ yếu của TTLNH Nhật Bản

Kỳ hạn giao dịch từ qua đêm đến 1 năm theo hai hình thức chủ yếu:

+ Cho vay không có bảo đảm: Được thực hiện từ năm 1985 Các thành viên căn cứ vào mức độ tín nhiệm để cung cấp hạn mức tín dụng cho đối tác Hình thức giao dịch này chủ yếu thực hiện thông qua các công ty môi giới

Trang 40

33

+ Cho vay có bảo đảm: Được thực hiện từ năm 1902 Tổ chức kinh doanh chuyên nghiệp vay tiền từ người cho vay và cho vay lại đối với người vay Để tránh rủi ro, các giao dịch thực hiện chuyển các tài sản thế chấp qua

hệ thống tài khoản mở tại trung tâm tài sản thế chấp và hệ thống thanh toán và ghi sổ trái phiếu Chính phủ

- Thị trường chiết khấu tín phiếu: Là thị trường mua, bán tín phiếu giữa các ngân hàng và định chế tài chính

- Thị trường giao dịch ngoại tệ Tokyo: Là thị trường kinh doanh về tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền trên thế giới và giữa các thị trường

TTLNH Nhật Bản hoạt động an toàn và ổn định vì thành viên thị trường giới hạn là các tổ chức tài chính, các nhà đầu tư kinh doanh chuyên nghiệp Bên cạnh đó, NHTƯ Nhật Bản luôn kiểm soát nhằm bảo đảm ổn định thị trường

Thành viên tham gia TTLNH gồm NHTƯ Nhật Bản, các TCTD, các công ty tài chính, bảo hiểm, chứng khoán, công ty tín thác, quỹ tín dụng, các công ty môi giới và kinh doanh tiền tệ chuyên nghiệp

Giao dịch trên thị trường được thực hiện dưới hai hình thức trực tiếp và gián tiếp thông qua môi giới Thông thường, hoạt động vay mượn được thực hiện qua các công ty môi giới (đặc biệt là cho vay không có bảo đảm) Hoạt động mua, bán GTCG thường được thực hiện trực tiếp qua hệ thống giao dịch điện tử Có nhiều loại phương tiện để thực hiện giao dịch, trong đó, điện thoại chiếm ưu thế chủ yếu Về nguyên tắc, việc thanh toán đều thực hiện qua tài khoản của thành viên tại NHTƯ Nhật Bản và sử dụng hệ thống NHTƯ Nhật Bản net

Hệ thống môi giới của Nhật Bản ra đời khá sớm (từ 1901) và có vai trò rất quan trọng trên thị trường tài chính Năm 1963, Nhật Bản có 6 Công ty môi giới (gọi là Tanshi company) và tồn tại đến năm 2001 thì sáp nhập lại còn

Ngày đăng: 02/10/2020, 22:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w