1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tăng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh hải dương

111 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 772,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ của Ngân sách nhà nước NSNN là một khâu quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia, biểu hiện các mối quan hệ kinh tế của Nhà nước với các chủ thể khác như: - Quan hệ kin

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ TRUNG THÀNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Những quan điểm đƣợc trình bày trong luận văn là quan điểm cá nhân Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận văn

Đoàn Thị Thủy

Trang 4

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã tận tình giúp đỡ hỗ trợ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn Đoàn Thị Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC HÌNH iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH 4

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trước đây 4

1.1.2 Khoảng trống nghiên cứu 6

1.2 Cơ sở lý luận về Ngân sách Nhà nước 7

1.2.1 Khái niệm về Ngân sách Nhà nước 7

1.2.2 Mối quan hệ của Ngân sách nhà nước 8

1.2.3 Đặc điểm của Ngân sách nhà nước 9

1.2.4 Vai trò của Ngân sách Nhà nước 11

1.2.5 Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước 13

1.3 Thu ngân sách Nhà nước 15

1.3.1 Khái niệm, đặc điểm của thu ngân sách Nhà nước 16

1.3.2 Cơ chế phân chia nguồn thu NSNN 17

1.3.3 Nội dung và hình thức các khoản thu NSNN 18

1.3.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN 22

1.3.5 Chính sách, chế độ thu NSNN 23

1.3.6 Phân định nguồn thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách cấp tỉnh 24

1.3.7 Phân định nguồn thu giữa ngân sách cấp tỉnh và các cấp ngân sách khác 28

1.4 Tăng thu NSNN cấp tỉnh 29

1.4.1 Nội dung chính sách tăng thu NSNN cấp tỉnh 29

1.4.2 Các biện pháp tăng thu NSNN cấp tỉnh 31

1.5 Kinh nghiệm về quản lý thu ngân sách của một số nước và một số vùng của Việt Nam 33

Trang 6

1.5.1 Thái Lan 33

1.5.2 Trung Quốc 34

1.5.3 Vùng đồng bằng sông Hồng 35

1.5.4 Vùng Đồng bằng sông Cửu Long 37

1.5.5 Những bài học kinh nghiệm 38

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 40

2.1 Phương pháp luận chung 40

2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 40

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 40

2.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin 41

2.2.3 Phương pháp chuyên gia và chuyên khảo Error! Bookmark not defined. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 46

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2012-2015 47

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 47

3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 47

3.1.2 Đặc điểm về nguồn lực phát triển kinh tế- xã hội 49

3.2 Thực trạng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2012-2015 trên địa bàn tỉnh 51

3.2.1 Tình hình thực hiện dự toán thu ngân sách trên địa bàn tỉnh 51

3.2.2 Thực trạng các nguồn thu ngân sách trên địa bàn tỉnh 62

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP TĂNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 81

4.1 Mục tiêu của cải cách hệ thống thuế đến năm 2020 của Chính phủ 81

4.1.1 Mục tiêu tổng quát 81

4.1.2 Mục tiêu cụ thể 81

4.2 Mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Hải Dương đến năm 2020 82

4.2.1 Mục tiêu tổng quát 82

4.2.2 Mục tiêu cụ thể 83

Trang 7

4.2.3 Nhiệm vụ trọng tâm năm 2020 83

4.3 Giải pháp tăng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương 84

4.3.1 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và thực hiện chế độ khen thưởng 85

4.3.2 Nâng cao chất lượng công tác lập dự toán thu ngân sách của Tỉnh 86

4.3.3 Tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với các nguồn thu ngân sách trên địa bàn, đặc biệt tập trung cho các khoản thu chiếm tỷ trọng lớn 87

4.3.4 Tăng cường vai trò lãnh đạo của Thành ủy, UBND các cấp đối với ngành thuế; xây dựng, củng cố mối quan hệ giữa ngành thuế với các ngành có liên quan và với UBND các cấp 90

4.3.5 Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách 91

4.3.6 Hoàn thiện và cải tiến công tác tổ chức cán bộ và bộ máy quản lý thu thuế 91

4.3.7 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ đối tượng nộp thuế 92

4.3.8 Kiên trì thực hiện giải pháp cơ bản và lâu dài là đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh trên địa bàn để phát triển kinh tế bền vững nhằm tăng nguồn thu từ nội tại bản thân nền kinh tế, giải pháp cụ thể cho từng ngành 94

4.4 Một số kiến nghị 94

4.4.1 Đối với Chính phủ 95

4.4.2 Đối với các đơn vị cấp Tỉnh, Huyện 95

4.4.3 Đối với Cục thuế, Chi cục thuế trên địa bàn tỉnh Hải Dương 96

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 97

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Tình hình thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn Tỉnh Hải

Dương giai đoạn 2012 – 2015 52

Bảng 3.2: Tình hình thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn 53

Tỉnh Hải Dương năm 2012 53

Bảng 3.3: Tình hình thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn 55

Bảng 3.4: Tình hình thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn Tỉnh Hải Dương năm 2014 58

Bảng 3.5: Tình hình thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn 61

Bảng 3.6: Kết quả thu NSNN tỉnh Hải Dương theo từng khoản mục 62

Bảng 3.7: Thu NSNN trên địa bàn từ hoạt động sản xuất kinh doanh 64

Bảng 3.8: Tốc độ tăng thu NSNN trên địa bàn từ hoạt động sản xuất kinh doanh 65

Bảng 3.9: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa theo thành phần kinh tế ( theo giá 2010) 65

Bảng 3.10: Thu NSNN trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo sắc thuế 70

Bảng 3.11: Tốc độ tăng thu NSNN trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo sắc thuế 71

Bảng 3.12: Đánh giá biến động nguồn thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2012 - 2015 73

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1: Cơ cấu nguồn thu ngân sách giai đoạn 2012-2015 63

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, khi nền kinh tế thị trường càng phát triển thì vị trí và vai trò của tài chính nhà nước ngày càng quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế xã hội Trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ, ngân sách nhà nước được xem là một trong những mắt xích quan trọng của tiến trình đổi mới Vì vậy, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách tài chính quốc gia là một khâu trọng yếu trong việc Nhà nước thực hiện vai trò quản lý xã hội và điều tiết vĩ mô nền kinh tế; trong đó, Quản lý thu Ngân sách nhà nước là một bộ phận rất quan trọng của chính sách tài chính quốc gia Thu NSNN bảo đảm nguồn vốn để thực hiện các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước Vì NSNN được xem là quỹ tiền tệ tập trung quan trọng nhất của Nhà nước và được dùng để giải quyết nhung nhu cầu chung của Nhà nước về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội, hành chính, an ninh

và quốc phòng Xuất phát từ vai trò này, việc tăng thu NSNN là rất cần thiết, được

xem là một nhiệm vụ hàng đầu của hoạt động tài chính vĩ mô

Khi cơ cấu nền kinh tế và cơ chế quản lý thay đổi thì hệ quả tất yếu là chính sách tài chính nói chung và công tác quản lý, điều hành hoạt động thu ngân sách nói riêng cũng phải đổi mới Do vậy, cơ chế quản lý Ngân sách nhà nước của các cấp chính quyền địa phương cũng cần được cải tiến để phù hợp với sự phát triển của nền kinh

tế

Tỉnh Hải Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội

60 km về phía Tây, cách cảng Hải Phòng 45 km về phía Đông, phía Bắc giáp với các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, phía Tây giáp tỉnh Hưng Yên, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình

Đối với tỉnh Hải Dương nói chung, các đơn vị hành chính phát triển tuy chưa đồng đều nhưng các ban lãnh đạo ngành đều có sự quan tâm và cải tiến trong thời gian gần Quản lý thu Ngân sách nhà nước trên điạ bàn, đặc biệt là nguồn thu trong cân đối đã được chú trọng cải tiến Tuy nhiên, việc quản lý còn thiếu tập trung, thống

Trang 12

nhất, không bao quát; tình trạng thất thu Ngân sách còn xảy ra; nhiều nguồn lực tài chính không được động viên vào Ngân sách Nhà nước; chính quyền cấp xã và một

số đơn vị có liên quan còn xem nhẹ công tác thu ngân sách và coi đó là nhiệm vụ của riêng ngành thuế; nguồn thu Ngân sách nhà nước trên địa bàn hàng năm chưa đảm bảo tự cân đối chi Việc phát hiện và nuôi dưỡng các nguồn thu, triển khai các giải pháp tăng thu ngân sách, đặc biệt là nguồn thu trong cân đối ngân sách để ổn định

và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn vẫn còn nhiều bất cập cần được giải quyết Xuất phát từ những điều này, tác giả đã chọn đề tài “Tăng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương” cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Câu hỏi nghiên cứu

- Các chỉ tiêu nào phản ánh tăng thu ngân sách nhà nước?

- Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tăng thu ngân sách?

- Thực trạng thu NSNN trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong thời gian qua như thế nào?

- Phương hướng, giải pháp để nâng cao hiệu quả thu NSNN trên địa bàn tỉnh Hải Dương?

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lý luận về thu Ngân sách nhà nước và trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng thu ngân sách trên địa bàn, đề xuất các giải pháp tăng thu ngân sách ở

tỉnh Hải Dương

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về NSNN, thu ngân sách và cân

đối ngân sách làm cơ sở khoa học cho đề tài luận văn;

- Phân tích đánh giá thực trạng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn nghiên cứu

trong thời kỳ 2012 - 2015;

- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác thu ngân sách và tăng

thu ngân sách tỉnh Hải Dương trong thời kỳ mới đến năm 2020

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 13

* Đối tượng và nội dung nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: Tăng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt độngthu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải

Dương

* Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Địa bàn tỉnh Hải Dương

- Phạm vi thời gian: Phân tích đánh giá thực trạng giai đoạn 2012 – 2015 và đề xuất

giải pháp đến năm 2020

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo, phụ lục và kết luận, luận văn được kết cấu

gồm 4 chương:

- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận về tăng thu

N gân sách Nhà nước cấp tỉnh

- Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu luận văn

- Chương 3: Thực trạng thu Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương

- Chương 4: Giải pháp tăng thu Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trước đây

Nhìn chung, có nhiều các tạp chí, bài nghiên cứu khoa học, hội thảo, luận văn, luận án… tập trung nghiên cứu về tình hình quản lý thu, chi ngân sách nhà nước ở nước

ta

Các nghiên cứu sau khi nghiên cứu về mặt lý luận đã đưa ra được những đóng góp

quan trọng trong việc quản lý thu, chi ngân sách nhà nước

- Đặng Văn Thanh, 2005 Một số vấn đề về quản lý và điều hành NSNN Hà Nội:

Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Tác giả đã phân tích một số vấn đề về quản lý NSNN từ năm 2005 trở về trước, đánh giá những mặt được và những mặt còn hạn chế trong quản lý; đề xuất một số định hướng trong điều hành và quản lý Ngân sách nhà nước hiệu quả trong thời gian tới

- Nguyễn Văn Tranh, 2005 Quản lý thu chi ngân sách ở các tỉnh duyên hải miền Trung Tạp chí thuế, số tháng 3/2005 Bài viết đã làm rõ hệ thống cơ sở lý luận về

thu chi ngân sách nhà nước Đánh giá thực trạng công tác quản lý thu chi ngân sách nhà nước tại các tỉnh duyên hải miền Trung Tác giả đã đưa ra được kết quả, hạn chế và nguyên nhân từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường quản lý thu chi cho các tỉnh duyên hải miền Trung

- Vũ Sỹ Cường, 2013.Giải pháp thu ngân sách nhà nước 2013: nhìn từ bài học

2012 Tạp chí tài chính, ngày 6/3/2013 Bài viết nhìn lại một số nét khái quát về

tình hình thu NSNN năm 2012, đề xuất những bài học và giải pháp cho thực hiện

dự toán thu NSNN năm 2013 Bài viết đã đề xuất một số giải pháp cụ thể về tăng thu Ngân sách năm 2013 của cả nước Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu giải pháp

cụ thể của địa bàn Huyện áp dụng trong thời gian nghiên cứu thực tế

Ngoài ra, còn có các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề này như:

Trang 15

- Đỗ Thị Mai Lan, 2015 Quản lý thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước

Hà Nội Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận văn đã tổng hợp, hệ thống hóa một số nội dung lý luận về quản lý NSNN, chủ yếu tập trung vào quản lý thu NSNN qua kho bạc nhà nước Hà Nội Phân tích được thực trạng, làm rõ những kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế trong việc quản lý thu NSNN qua Kho bạc Nhà nước Hà Nội Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và đánh giá về tình hình quản lý thu NSNN qua Kho bạc Nhà nước Hà Nội, đề tài đã đề xuất

ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu NSNN qua Kho bạc Nhà

nước Hà Nội

- Nguyễn Đắc Thảo, 2013 Giải pháp tăng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh,

Đại học Thái Nguyên

Luận văn góp phần hệ thống hóa được những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về vấn đề NSNN nói chung và việc tăng cường thu NSNN nói riêng Đồng thời đánh giá được thực trạng công tác quản lý thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn vừa qua; chỉ ra những mặt mạnh, những tồn tại và nguyên nhân, là cơ sở cho việc đề xuất giải pháp Các kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các đơn vị liên quan và cơ quan cùng cấp có điều kiện kinh tế- xã hội tương tự và cá nhân có quan tâm, là tài liệu dung trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong nhà trường

- Trần Quốc Vinh, 2009 Đổi mới quản lý ngân sách địa phương các tỉnh cùng Đồng bằng sông Hồng Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê trong quá trình thực hiện Luận văn đã phân tích thực trạng quản lý NSĐP các tỉnh Đồng bằn sông Hồng, nêu bật những thành công trong quản lý NSĐP; phân tích các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong quản lý NSĐP Từ đó tác giả đề ra những giải

Trang 16

pháp cụ thể trong từng lĩnh vực nhằm đổi mới quản lý ngân sách địa phương và những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách

- Văn Tuấn Kiệt, 2008.Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách tỉnh Kiên Giang

Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Luận văn đề cập đến những vấn đề lý luận về ngân sách nhà nước và nội dung hoạt động của nó, xem xét khái quát thực trạng về quản lý ngân sách tại Kiên Giang Từ

đó tìm ra những tồn tại, hạn chế của việc quản lý ngân sách và trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện việc quản lý ngân sách địa phương trong thời gian tới Luận văn đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, làm phương pháp luận nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân sách Đồng thời sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh dựa trên lý thuyết tài chính và số liệu thực tiễn về ngân sách tỉnh Kiên Giang

từ đó làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu

1.1.2 Khoảng trống nghiên cứu

Nội dung các đề tài và bài báo thực hiện về hoạt động thu NSNN đã đưa ra đầy đủ

lý thuyết về Ngân sách và hoạt động thu NSNN, tập trung vào vấn đề nâng cao hiệu quả thu NSNNvà đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu NSNN Các luận văn, đề tài đã đưa ra những kết luận, kiến nghị chủ yếu tập trung vào giải quyết những vấn đề bức xúc, những nhiệm vụ cụ thể của giai đoạn trước năm 2010 Một

số luận văn thông qua mô hình hồi quy cùng với khảo sát thực tế đã đưa ra được các giải pháp có tính thực tế cao và phù hợp với từng địa bàn nghiên cứu Các luận văn

đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những khoảng trống domỗi địa bàn có những đặc thù và đặc điểm riêng biệt phù hợp với từng địa bàn nghiên cứu, nên các giải pháp đưa ra không thể áp dụng một cách đồng nhất Hơn nữa, phần lớn các tác giả đều xuất phát từ mục tiêu tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu của NSNN cho các hoạt động sự nghiệp nên cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu chưa thật sự thoát ra khỏi tư duy bao cấp, chỉ mới nghiên cứu để tháo gỡ

những vấn đề bất cập trong thực tế mà thôi

Trang 17

Mặc dù trong luận văn, tác giả cũng sử dụng các tiêu chí về ngân sách như các luận văn khác nhưng tác giả sẽ khai thác đi sâu vào xác định xu hướng biến động của từng nguồn thu trong cân đối ngân sách nhằm phục vụ cho việc phân tích, đánh giá công tác trong thu ngân sách Đi sâu vào phân tích đánh giá những nguồn thu chủ yếu nổi bật trên địa bàn của tỉnh Từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp trên địa bàn

tỉnh nhằm đạt hiệu quả cao nhất khi áp dụng

1 2 Cơ sở lý luận về Ngân sách Nhà nước

1.2.1 Khái niệm về Ngân sách Nhà nước

NSNN ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, Nhà nước bằng quyền lực chính trị và xuất phát từ nhu cầu về tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đã đặt ra những khoản thu, chi của NSNN Điều này cho thấy chính sự tồn tại của Nhà nước đối với đời sống kinh tế- xã hội là những yếu tố cơ bản quyết định

sự tồn tại và tính chất hoạt động của NSNN Cho đến nay, thuật ngữ NSNN được phổ biến rộng rãi ở mọi quốc gia, tuy nhiên chưa có một khái niệm thống nhất cho NSNN

Ở Việt Nam, Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 được Quốc hội Việt Nam

thông qua ngày 25/06/2015 định nghĩa: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng

và nhiệm vụ của nhà nước”

Bên ngoài, hoạt động của NSNN biểu hiện đa dạng dưới hình thức các khoản thu và các khoản chi tài chính của Nhà nước ở các lĩnh vực hoạt động kinh tế- xã hội Các

khoản thu, chi này được tổng hợp trong một Bảng dự toán thu chi tài chính được

thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Các khoản thu mang tính chất bắt buộc của NSNN là một bộ phận các nguồn tài chính chủ yếu được tạo ra thông qua việc phân phối thu nhập quốc dân được sáng tạo ra trong khu vực sản xuất kinh doanh và các khoản chi chủ yếu của ngân sách mang tính chất cấp phát phục vụ cho đầu tư phát triển và tiêu dùng của xã hội Như vậy, về hình thức có thể hiểu: NSNN

là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước có trong dự toán, đã được cơ quan Nhà

Trang 18

nước có thẩm quyền phê duyệt (Quốc hội) và được thực hiện trong một năm để đảm bảo việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Về nội dung, đằng sau hình thức biểu hiện ra bên ngoài của NSNN là một quỹ tiền

tệ với các khoản thu và các khoản chi của nó, NSNN là hệ thống các quan hệ kinh

tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội để tạo lập và

sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Vậy, về bản chất có thể xác định: NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh

gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định

1.2.2 Mối quan hệ của Ngân sách nhà nước

NSNN là một khâu quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia, biểu hiện các mối quan hệ kinh tế của Nhà nước với các chủ thể khác như:

- Quan hệ kinh tế của NSNN đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp:

Là những quan hệ phát sinh trong quá trình phân phối lại các khoản thu nhập bằng việc NSNN cấp kinh phí cho các đơn vị quản lý Nhà nước Đồng thời, các đơn vị có hoạt động sự nghiệp có các khoản thu phí và lệ phí, nguồn thu này một phần các đơn vị làm nghĩa vụ tài chính đối với NSNN, một phần trang trải các khoản chi tiêu của mình để giảm bớt gánh nặng cho Ngân sách

- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp:

Các quan hệ kinh tế này phát sinh trong quá trình hình thành nguồn thu của Ngân sách dưới hình thức các loại thuế, phí mà doanh nghiệp phải nộp Đồng thời, ngân

sách chi hỗ trợ cho sự phát triển của doanh nghiệp dưới hình thức xây dựng cơ sở

hạ tầng, hỗ trợ vốn…

- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư:

Quan hệ này được thể hiện qua việc một bộ phận dân cư thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước bằng việc nộp các khoản thuế, phí, lệ phí Một bộ phận dân

cư khác nhận từ NSNN các khoản trợ cấp theo chính sách

Trang 19

- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính:

Quan hệ này phát sinh khi Nhà nước tham gia trên thị trường tài chính bằng việc phát hành các loại chứng khoán của kho bạc Nhà nước nhằm huy động vốn của các chủ thể trong xã hội để đáp ứng yêu cầu cân đối vốn của NSNN

- Quan hệ tài chính với Nhà nước khác và các tổ chức quốc tế:

Thông qua các hình thức viện trợ, đầu tư nước ngoài, vay, cho vay…

Các quan hệ tài chính thuộc NSNN có những đặc điểm chung sau đây:

- Việc tạo lập và sử dụng NSNN luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước và việc thực hiện các chức năng của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật

lệ nhất định

- NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước và chứa đựng những lợi ích chung, lợi ích công cộng

- NSNN là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước và được chia làm nhiều quỹ nhỏ,

có tác dụng riêng và chi sau đó NSNN mới được dùng để thực hiện các mục đích đã định trước Đây là nét riêng có của NSNN so với các quỹ tiền tệ khác

- Hoạt động thu, chi NSNN theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu

1.2.3 Đặc điểm của Ngân sách nhà nước

NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy Nhà nước, vừa là công cụ hữu hiệu

để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội nên có những đặc điểm chính sau:

- Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định NSNN là một bộ luật tài chính đặc biệt, bởi lẽ trong NSNN, các chủ thể của

nó được thiết lập dựa vào hệ thống các pháp luật có liên quan như hiến pháp, các luật thuế,… nhưng mặt khác, bản thân NSNN cũng là một bộ luật do Quốc hội quyết định và thông qua hằng năm, mang tính chất áp đặt và bắt buộc các chủ thể kinh tế - xã hội có liên quan phải tuân thủ

- Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước và luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quyết định đến

Trang 20

các khoản thu – chi của NSNN và hoạt động thu – chi này nhằm mục tiêu giúp Nhà nước giải quyết các quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế - xã hội, các tầng lớp dân cư

- Thứ ba, NSNN là một bản dự toán thu chi Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập NSNN và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo Thu, chi NSNN là cơ sở để thực hiện các chính sách của Chính phủ Chính sách nào mà không được dự kiến trong NSNN thì sẽ không được thực hiện Chính vì như vậy mà, việc thông qua NSNN là một sự kiện chính trị quan trọng, nó biểu hiện sự nhất trí trong Quốc hội về chính sách của Nhà nước Quốc hội mà không thông qua NSNN thì điều đó thể hiện sự thất bại của Chính phủ trong việc đề xuất chính sách đó, và có thể gây ra mâu thuẫn về chính trị

- Thứ tư, NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia Hệ thống tài chính quốc gia bao gồm: tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình Trong đó tài chính nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia Tài chính nhà nước tác động đến sự hoạt động và phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội Tài chính nhà nước thực hiện huy động và tập trung một bộ phận nguồn lực tài chính từ các định chế tài chính khác chủ yếu qua thuế và các khoản thu mang tính chất thuế Trên cơ sở nguồn lực huy động được, Chính phủ sử dụng quỹ ngân sách để tiến hành cấp phát kinh phí, tài trợ vốn cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị thuộc khu vực công nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

- Thứ năm, đặc điểm của NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp Trong thời kỳ phong kiến, mô hình ngân sách sơ khai và tuỳ tiện, lẫn lộn giữa ngân khố của Nhà vua với ngân sách của Nhà nước phong kiến Hoạt động thu – chi lúc này mang tính cống nạp – ban phát giữa Nhà vua và các tầng lớp dân cư, quan lại, thương nhân, thợ thuyền và các nước chư hầu (nếu có) Quyền quyết định các khoản thu – chi của ngân sách chủ yếu là do người đứng đầu một nước (nhà vua) quyết định Trong thời

kỳ hiện nay (Nhà nước tư bản chủ nghĩa hoặc Nhà nước xã hội chủ nghĩa), ngân

Trang 21

sách được dự toán, được thảo luận và phê chuẩn bởi cơ quan pháp quyền, quyền quyết định là của toàn dân được thực hiện thông qua Quốc hội NSNN được giới hạn thời gian sử dụng, được quy định nội dung thu - chi, được kiểm soát bởi hệ thống thể chế, báo chí và nhân dân

1.2.4 Vai trò của Ngân sách Nhà nước

Ngân sách Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Vai trò của ngân sách Nhà nước luôn gắn liền với vai trò của Nhà nước theo từng giai đoạn nhất định Trong nền kinh tế thị trường, có thể nhìn nhận vai trò của NSNN dưới các khía cạnh sau:

1.2.4.1 Huy động các nguồn tài chính của ngân sách Nhà nước để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

Mức động viên các nguồn tài chính từ các chủ thể trong nguồn kinh tế đòi hỏi phải hợp lí nếu mức động viên quá cao hoặc quá thấp thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế,vì vậy cần phải xác định mức huy động vào ngân sách Nhà nước một cách phù hợp với khả năng đóng góp tài chính của các chủ thể trong nền kinh

tế

1.2.4.2 Quản lí điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền

Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà Chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững

Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ

sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, trên cơ

sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh của các Doanh nghiệp) Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình

Trang 22

trạng cạnh tranh không hoàn hảo Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp

lý hơn Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách Nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh

1.2.4.3 NSNN là công cụ định hướng phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế ổn định và bền vững ( vai trò điều tiết trong lĩnh vực kinh tế)

Để định hướng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Nhà nước sử dụng công cụ thuế và chi ngân sách Bằng công cụ thuế một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách, mặt khác Nhà nước sử dụng các loại thuế, các mức thuế khác nhau sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào những vùng những lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng đã định Đồng thời, với các khoản chi phí phát triển kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vào các ngành kinh tế mũi nhọn….Nhà nước có thể tạo điều kiện và hướng dẫn các nguồn vốn đầu tư của

xã hội vào những vùng, lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý

1.2.4.4 NSNN là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát ( vai trò điều tiết trong lĩnh vực thị trường)

Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thị trường là luôn biến động và bị chi phối mạnh

mẽ bởi các quy luật thị trường với các yêu tố cung- cầu, giá cả thường xuyên biến đổi Sự mất cân đối giữa cung- cầu sẽ làm cho giá cả tăng lên hoặc giảm đột biến và gây ra biến động trên thị trường, dẫn đến sự dịch chuyển vốn của các doanh nghiệp

từ ngành này sang ngành khác, từ địa phương này sang địa phương khác Việc dịch chuyển vốn hàng loạt sẽ tác động tiêu cực đến cơ cấu kinh tế, nền kinh tế phát triển không cân đối Do đó, nhà nước phải sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị trường

1.2.4.5.NSNN là công cụ góp phần giải quyết các vấn đề xã hội (vai trò điều tiết trong lĩnh vực xã hội)

Trang 23

Trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của bộ máy Nhà nước, quân đội, công an, y tế,…thể hiện vai trò quan trọng của NSNN đối với các lĩnh vực của toàn xã hội

Ngoài ra, NSNN là công cụ tài chính hữu hiệu được Nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập giữa các bộ phận dân cư, với các sắc thuế như thu nhập lũy tiến, thuế tiêu thụ đặc biệt,… một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách mặt khác lại điều tiết một phần thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao Bên cạnh đó, với các khoản chi của NSNN như chi trợ cấp, chi phúc lợi cho các chương trình phát triển xã hội: Phòng chống dịch bệnh, phổ cập giáo dục tiểu học, dân số và kế hoạch hóa gia đình, …lại

là nguồn bổ sung thu nhập cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp và giải quyết các vấn đề xã hội

Các vai trò trên của NSNN cho thấy tính chất quan trọng của NSNN, với các công

cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế

1.2.5 Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước

1.2.5.1 Sự cần thiết và tác dụng

Chế độ phân cấp và quản lý ngân sách ở nước ta ra đời từ năm 1967, tới nay đã qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử nhất định nhằm giải quyết nhiều vấn đề phát sinh trong quan hệ giữa ngân sách trung ương và chính quyền các cấp trong quản lý ngân sách nhà nước

NSNN được phân cấp quản lý giữa Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương

là tất yếu khách quan khi tổ chức hệ thống NSNN gồm nhiều cấp Điều đó không chỉ bắt nguồn từ cơ chế kinh tế mà còn từ cơ chế phân cấp quản lý về hành chính Mỗi cấp chính quyền đều có nhiệm vụ cần đảm bảo bằng những nguồn tài chính nhất định mà các nhiệm vụ đó mỗi cấp đề xuất và bố chí chi tiêu sẽ hiệu quả hơn là

có sự áp đặt từ trên xuống Mặt khác, xét về yếu tố lịch sử và thực tế hiện nay, trong khi Đảng và Nhà nước ta đang chống tư tưởng địa phương, cục bộ … vẫn cần có chính sách và biện pháp nhằm khuyến khích chính quyền địa phương phát huy tính độc lập, tự chủ, tính chủ động, sáng tạo của địa phương mình trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn Có một số khoản thu như: tiền cho thuê mặt đất,

Trang 24

mặt nước đối với doanh nghiệp, tiền cho thuê và tiền bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước, lệ phí trước bạ, thuế môn bài,…giao cho địa phương quản lý sẽ hiệu quả hơn Phân cấp quản lý NSNN là cách tốt nhất để gắn các hoạt động của NSNN với các hoạt động kinh tế, xã hội một cách cụ thể và thực sự nhằm tập trung đấy đủ và kịp thời, đúng chính sách, chế độ các nguồn tài chính quốc gia và phân phối sử dụng chúng công bằng, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao, phục vụ các mục tiêu, nhiệm

vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Phân cấp quản lý NSNN đúng đắn và hợp

lý không chỉ đảm bảo phương tiện tài chính cho việc duy trì và phát triển hoạt động của các cấp chính quyền ngân sách từ trung ương đến điah phương mà còn tạo điều kiện phát huy được các lợi thế nhiều mặt của từng vùng, từng địa phương trong cả nước Nó cho phép quản lý và kế hoạch hoá NSNN được tốt hơn, điều chỉnh mối quan hệ giữa các cấp chính quyền cũng như quan hệ giữa các cấp ngân sách được tốt hơn để phát huy vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô của NSNN Đồng thời, phân cấp quản lý NSNN còn có tác động thúc đẩy phân cấp quản lý kinh tế, xã hội ngày càng hoàn thiện hơn

Tóm lại phân cấp ngân sách đúng đắn và hợp lý, tức là việc giải quyết mối quan

hệ giữa chính quyền Nhà nước trung ương và các cấp chính quyền địa phương trong việc xử lý các vấn đề hoạt động và điều hành NSNN đúng đắn và hợp lý sẽ là một giải pháp quan trọng trong quản lý NSNN

1.2.5.2 Khái niệm và các nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN

Phân cấp quản lý NSNN là việc giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền Nhà nước về vấn đề liên quan đến việc quản lý và điều hành NSNN

Để chế độ phân cấp quản lý mang lại kết quả tốt cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:

- Một là: phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế, xã hội của đất nước Phân cấp quản

lý kinh tế, xã hội là tiền đề, là điều kiện để thực hiện phân cấp quản lý NSNN Quán triệt nguyên tắc này tạo cơ sở cho việc giải quyết mối quan hệ vật chất giữa các cấp chính quyền qua việc xác định rõ nguồn thu, nhiệm vụ chi của các cấp Thực chất của nguyên tắc này là giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ và quyền lợi, quyền lợi

Trang 25

phải tương xứng với nhiệm vụ được giao Mặt khác, nguyên tắc này còn đảm bảo tính độc lập tương đối trong phân cấp quản lý NSNN ở nước ta

- Hai là: ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn lực cơ bản

để đảm bảo thực hiện các mục tiêu trọng yếu trên phạm vi cả nước Cơ sở của nguyên tắc này xuất phát từ vị trí quan trọng của Nhà nước trung ương trong quản

lý kinh tế, xã hội của cả nước mà Hiến pháp đã quy định và từ tính chất xã hội hoá của nguồn tài chính quốc gia

Nguyên tắc này được thể hiện:

+ Mọi chính sách, chế độ quản lý NSNN được ban hành thống nhất và dựa chủ yếu trên cơ sở quản lý NSTW

+ Ngân sách trung ương chi phối và quản lý các khoản thu, chi lớn trong nền kinh tế

và trong xã hội Điều đó có nghĩa là: các khoản thu chủ yếu có tỷ trọng lớn phải được tập trung vào NSTW, các khoản chi có tác động đến quá trình phát triển kinh

tế, xã hội của cả nước phải do NSTW đảm nhiệm Ngân sách trung ương chi phối hoạt động của NSĐP, đảm bảo tính công bằng giữa các địa phương

- Ba là: phân định rõ nhiệm vụ thu, chi giữa các cấp và ổn định tỷ lệ phần trăm (%)

phân chia các khoản thu, số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được cố định từ 3 đến 5 năm Hàng năm, chỉ xem xét điều chỉnh số bổ sung một phần khi có trượt giá và một phần theo tốc độ tăng trưởng kinh tế Chế độ phân cấp xác định rõ khoản nào NSĐP được thu do NSĐP thu, khoản nào NSĐP phải chi do NSĐP chi Không để tồn tại tình trạng nhập nhằng dẫn đến tư tưởng trông chờ, ỷ lại hoặc lạm thu giữa NSTW và NSĐP Có như vậy mới tạo điều kiện nâng cao tính chủ động cho các địa phương trong bố trí kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội Đồng thời là điều kiện để xác định rõ trách nhiệm của địa phương và trung ương trong quản lý NSNN, tránh co kéo trong xây dựng kế hoạch như trước đây

- Bốn là: đảm bảo công bằng trong phân cấp ngân sách Phân cấp ngân sách phải

căn cứ vào yêu cầu cân đối chung của cả nước, cố gắng hạn chế thấp nhất sự chênh lệch về văn hoá, kinh tế, xã hội giữa các vùng lãnh thổ

1.3 Thu ngân sách Nhà nước

Trang 26

1.3.1 Khái niệm, đặc điểm của thu ngân sách Nhà nước

1.3 1.1 Khái niệm

Để có kinh phí chi cho mọi hoạt động của mình, Nhà nước đã đặt ra các khoản thu (các khoản thuế khóa) do mọi công dân đóng góp để hình thành nên quỹ tiền tệ của mình Thực chất, thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước

Ở Việt Nam, đứng về phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách

mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp

Theo Luật NSNN hiện hành, nội dung các khoản thu NSNN bao gồm:

- Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật;

- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước;

- Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân;

- Các khoản viện trợ;

- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

1.3 1.2 Đặc điểm

Hoạt động thu ngân sách có những đặc điểm cơ bản sau đây:

- Thứ nhất, thu NSNN không thể được tiến hành một cách tùy tiện mà phải được

thực hiện trong khuôn khổ pháp luật Để thực hiện hoạt động thu ngân sách, Nhà nước phải ban hành các văn bản pháp luật quy định vè hình thức cũng như nội dung thu và chỉ được phép thu những khoản đã được luật háo và thực hiện quyền thu đó trong khuôn khổ pháp luật; các cấp, các ngành không được tự ý đặt ra các khoản thu trái pháp luật

Trang 27

- Thứ hai, mọi hoạt động thu NSNN nhằm huy động một bộ phận giá trị sản phẩm

xã hội, vì vậy hoạt động này luôn gắn chặt với thực trạng kinh tế của đất nước, với mức độ phát triển của nền kinh tế Đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định mức động viên vào NSNN thông qua hoạt động thu NSNN Những yếu tố khác có ảnh hưởng nhất định tới mức độ tập trung các nguồn thu vào NSNN, bao gồm tiềm năng

và thực tế khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, chính sách chi tiêu của Chính phủ, quan hện đối ngoại của Nhà nước và bộ máy tổ chức hành thu

- Thứ ba, thu NSNN được thực hiện thông qua hai cơ chế pháp lý điển hình là bắt

buộc và tự nguyện, trong đó cơ chế bắt buộc được áp dụng trong trường hợp Nhà nước tiến hành tập trung các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí vào NSNN còn cơ chế tự nguyện lại được Nhà nước áp dụng trong trường hợp Nhà nước cần huy động các khoản tiền viện trợ của nước ngoài, của các tổ chức quốc tế hay khoản đóng góp tự nguyện khác của công chúng cho Nhà nước

- Thứ tư, chủ thể tham gia vào hoạt động thu NSNN gồm hai nhóm: một chủ thể

đại diện cho Nhà nước trong việc thực hiền quyền thu (gồm các cơ quan Nhà nước như Cơ quan tài chính, cơ quan thuế nhà nước, cơ quan hải quan và các cơ quan khác được Bộ tài chính ủy quyền, Kho bạc nhà nước); một chủ thể đóng góp khoản thu ngân sách theo nghĩa vụ hoặc dựa trên tinh thần tự nguyện( tổ chức và cá nhân

có nghĩa vụ nộp các khoản nộp bắt buộc vào ngân sách hoặc tự nguyện đóng góp tiền của cho Nhà nước)

1.3.2 Cơ chế phân chia nguồn thu NSNN

Việc phân loại các nguồn thu ngân sách có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý,phân tích, đánh giá NSNN Thông qua việc phân loại các khoản thu NSNN, kết quả của từng loại thu được theo dõi, xác định một cách dễ dàng Dựa trên cơ sở tổng số thu NSNN và ảnh hưởng của từng khoản thu đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân, các nhà quản lý có thể phân tích sự tác động của từng nguồn thu tới các hoạt động kinh tế xã hội để từ đó có chính sách điều chỉnh thích hợp

- Căn cứ vào nội dung kinh tế có thể phân các khoản thu NSNN thành các khoản thu mang tính chất thuế (thuế, phí, lệ phí) và các khoản thu không mang tính chất

Trang 28

thuế (thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, thu từ viện trợ của các Chính phủ nước ngoài)

- Căn cứ vào nội dung pháp lý của các khoản thu, thu NSNN được phân làm hai loại: một là các khoản thu mang tính chất bắt buộc như thuế, phí,lệ phí; hai là các khoản thu mang tính chất tự nguyện như thu từ viên trợ, tặng, cho…

- Căn cứ vào mức độ định kỳ, qua đó hoạt động thu được tiến hành, các khoản thu NSNN được chia thành: các khoản thu thường xuyên(thuế và lệ phí) và các khoản thu không thường xuyên( viện trợ, đóng góp tự nguyện từ dân…)

- Căn cứ vào vị trí địa lý nơi phát sinh các nguồn thu, các khoản thu NSNN được chia thành hai nhóm là thu trong nước( thu từ hoạt động kinh doanh và sản xuất tại các khu vực kinh tế, thu từ hoạt động bán và cho thuê tài sản Nhà nước…) và thu nước ngoài ( thu từ trợ giúp của nước ngoài…)

1.3.3 Nội dung và hình thức các khoản thu NSNN

1.3 3.1 Nguồn thu NSNN

Để tồn tại và phát triển, Nhà nước cần tập trung vào tay mình lượng của cải vật chất

dưới dạng tiền tệ nhất định Nhưng lấy nó ở đâu? Từ nguồn nào ?

Nguồn thu của NSNN là nơi cung cấp số thu cho NSNN thông qua quá trình tác động

vào đối tượng thu để điều tiết một phần của cải về cho Nhà nước

Có rất nhiều loại nguồn thu

- Nếu căn cứ vào sự biểu hiện của nguồn thu, có thể chia ra nguồn thu trực tiếp và

nguồn thu tiềm năng

+ Nguồn thu trực tiếp là nguồn thu đã thể hiện bằng tiền, chỉ cần có một số tác động

nào đó thì sẽ thu được một phần về cho NSNN Ở những biểu hiện cụ thể, thì đó là tiền lương, doanh thu, lợi nhuận, thu nhập doanh nghiệp, vốn, thu nhập cá nhân vv Ở tầm vĩ mô thì nguồn thu thể hiện qua tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP) Thông thường chúng ta hay dùng GDP

+ Nguồn thu tiềm năng là những nguồn thu chưa thể hiện bằng tiền, nhưng có khả năng thành tiền trong một thời gian gần Đó là đất đai, tài nguyên, khoáng sản

Trang 29

Nguồn thu trực tiếp cho phép xác định thu NSNN trong hiện tại, còn nguồn thu tiềm năng cho phép xác định khả năng thu NSNN trong tương lai

- Nếu căn cứ vào mục đích sử dụng các nguồn thu và tính toán mức bội chi ngân sách, có thể phân chia thành nguồn thu trong cân đối và thu ngoài cân đối ngân sách

Thu trong cân đối ngân sách là các khoản thu được đưa vào công thức xác định mức bội chi ngân sách Đây chính là nội dung kinh tế của bội chi ngân sách

Thu trong cân đối ngân sách được hiểu bao gồm các khoản thu vào quỹ ngân sách

mà khoản thu đó không kèm theo, không làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp

Ngoài ra, căn cứ vào nơi phát sinh nguồn thu có thể chia ra: Nguồn thu trong nước

và nguồn thu ngoài nước, nguồn thu theo lĩnh vực (công nghiệp, nông nghiệp, dịch

vụ ), nguồn thu theo thành phần kinh tế

Trong quá trình thu, Nhà nước tập trung được một lượng tiền nhất định vào NSNN Kết quả thu được đó, được gọi là thu nhập NSNN Thu nhập NSNN (hay còn gọi là

số thu NSNN) là mục tiêu của quá trình thu và nó thuộc quyền sở hữu của Nhà

nước

Như vậy, giữa nguồn thu NSNN và thu nhập của NSNN nước có mối quan hệ biện chứng Nguồn thu thể hiện khả năng, còn thu nhập của NSNN thể hiện thực hiện một phần của khả năng Mối quan hệ đó thường được biểu hiện bằng tỷ lệ động

viên của NSNN hay tỷ lệ thu NSNN và được tính bằng công thức:

vĩ mô

1.3.3.2 Các hình thức thu NSNN

Trang 30

Các khoản thu NSNN gồm nhiều loại Theo điều 2 Luật NSNN năm 2015, thu NSNN gồm các khoản thu: thu từ thuế, phí, lệ phí, thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

* Thuế: là nội dung chủ yếu, quan trọng nhất của thu NSNN, ra đời từ rất sớm cùng

với sự ra đời của Nhà nước

- Thuế là hình thức đóng góp theo nghĩa vụ đối với nhà nước được quy định bởi pháp luật do các pháp nhân và thể nhân thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu chi tiêu của nhà nước

- Thuế có các đặc điểm như sau:

+ Thuế là hình thức động viên mang tính chất bắt buộc dựa trên nguyên tắc luật định

+ Thuế là các khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp

+ Thuế là hình thức đóng góp được quy định trước

- Một số yếu tố cấu thành một sắc thuế:

+ Đối tượng nộp thuế: xác định ai là người nộp thuế? cá nhân, tổ chức kinh doanh

+ Thuế suất: là phần thuế phải nộp trên mỗi đơn vị tính của đối tượng đánh thuế

- Có các loại thuế suất như sau: Thuế suất cố định, thuế suất tỷ lệ và thuế suất lũy tiến

+ Thuế suất cố định: là mức thuế được ấn định bằng số tuyệt đối cho các đối tượng tính thuế

+ Thuế suất tỷ lệ: là thuế suất được quy định theo tỷ lệ % trên đối tượng đánh thuế + Thuế suất lũy tiến: là thuế suất tăng dần theo độ lớn của đối tượng đánh thuế, bao gồm 2 loại:

Trang 31

Thuế suất lũy tiến từng phần: là thuế suất tăng theo từng nấc của đối tượng đánh thuế (thuế thu nhập cá nhân)

Thuế suất lũy tiến toàn phần: là thuế suất tăng theo toàn bộ mức tăng của đối tượng đánh thuế

- Đơn vị tính thuế: là đơn vị được dùng làm phương tiện tính toán của đối tượng đánh thuế (VNĐ, kg thóc )

- Giá tính thuế: Là giá cả lưu thông của hàng hóa, tài sản, súc vật làm căn cứ để tính thuế

- Các yếu tố khác: ưu đãi miễn, giảm thuế, thưởng phạt

* Phí và lệ phí: là các khoản thu mang tính bắt buộc nhưng có tính chất đôi giá, có

nghĩa là phí và lệ phí thực chất là các khoản tiền mà dân chúng trả cho Nhà nước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do Nhà nước cung cấp So với thuế, tính pháp lý của phí và lệ phí thấp hơn

- Phí gắn liền với vấn đề thu hồi một phàn hay toàn bộ chi phí đàu tư đối với hàng hóa, dịch vụ công cộng hữu hình

- Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân

* Thu từ các khoản đầu tư vào hoạt động kinh doanh của Nhà nước

Bao gồm:

- Thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế;

- Tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế;

- Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước

* Thu từ bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước

Trang 32

- Thu từ hợp tác lao động với nước ngoài, thực chất của khoản thu này là khoản thu hồi của quốc gia đã bỏ tiền ra để nuôi dưỡng, đào tạo, rèn luyện người lao động

- Các khoản thu khác như: bán tài sản không có người thừa nhận, các khoản viện trợ không hoàn lại, biếu, tặng

* Thu để bù đắp thiếu hụt NSNN:

- Vay trong nước: phát hành các công cụ nợ của Chính phủ

- Vay nước ngoài: thông qua các khoản viện trợ không hoàn lại

1.3.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN

Một vấn đề hết sức quan trọng trong thu NSNN là việc xác định mức động viên và lĩnh vực động viên một cách đúng đắn, hợp lý Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến số thu NSNN mà còn tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển kinh tế xã hội Mức động viên và lĩnh vực động viên lại chịu tác động của nhiều yếu tố kinh tế, chính trị,

xã hội của quốc gia Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN phải kể đến là:

* T hu nhập GDP bình quân đầu người

Là một chỉ tiêu phản ánh khả năng tăng trưởng và phát triển của một quốc gia, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng đầu tư của một nước GDP bình quân đầu người

là một nhân tố khách quan quyết định mức động viên của NSNN, vì vậy khi ấn định mức động viên vào ngân sách, Nhà nước cần cân nhắc chỉ tiêu này

* Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế

Phản ánh hiệu quả đầu tư phát triển kinh tế, quyết định đến việc nâng cao tỷ suất thu NSNN, tỷ suất doanh lợi càng lớn thì nguồn tài chính càng lớn Dựa vào tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế để xác định tỷ suất thu NSNN sẽ tránh được việc động viên vào NSNN gây khó khăn cho hoạt động kinh tế Hiện nay lợi nhuận trong nền kinh tế nước ta đạt thấp, chi phí tiền lương lại cao nên tỷ suất doanh lợi chưa thể cao được

* Tiềm năng đất nước về tài nguyên thiên nhiên

Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên càng lớn càng có ảnh hưởng tới thu NSNN Thực tế cho thấy nếu tỷ trọng của nước nào xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm 20% kim ngạch xuất khẩu trở lên thì tỷ suất thu NSNN sẽ cao và có khả năng tăng

Trang 33

nhanh Nước ta cũng là một nước có khối lượng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản lớn trong tương lai, đó là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến nâng cao tỷ suất thu NSNN

* Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước

- Nhân tố này phụ thuộc vào:

+ Quy mô tổ chức bộ máy Nhà nước và hiệu quả hoạt động của nó;

+ Những nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà nhà nước đảm nhận trong từng thời kỳ; + Chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước

- Khi các nguồn tài trợ khác cho chi phí Nhà nước không có khả năng tăng lên, chi phí Nhà nước lại tăng sẽ làm tăng tỷ suất thu NSNN

* Cách thức tổ chức bộ máy thu nộp NSNN

Tổ chức bộ máy thu nộp gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao chống được thất thu do trốn, lậu thuế sẽ là nhân tố tích cực làm giảm tỷ suất thu NSNN mà vẫn đáp ứng nhu cầu chi tiêu NSNN

=> Tóm lại để có mức thu đúng đắn có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cần phải có sự phân tích đánh giá tỷ mỷ, cụ thể những nhân tố tác động đến nó trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và phải được xem xét một cách toàn diện

1.3.5 Chính sách, chế độ thu NSNN

1.3.5.1 Quan điểm xây dựng chính sách, chế độ thu NSNN

- Phải chú trọng kết hợp tốt việc khai thác, huy động các nguồn tài chính NSNN với việc bồi dưỡng, phát triển các nguồn tài chính

- Phải coi nâng cao năng suất lao động xã hội, năng suất lao động của từng doanh nghiệp và tiết kiệm là con đường cơ bản để tạo vốn, để tăng thu NSNN

- Phải thực hiện toàn dân tạo vốn: Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và dân cư nhằm tăng trưởng kinh tế Không chỉ dựa vào nguồn vốn NSNN mà còn phải dựa vào vốn của doanh nghiệp, vốn tiết kiệm trong dân cư

1.3.5.2 Nguyên tắc xây dựng chính sách, chế độ thu NSNN:

* Nguyên tắc ổn định và lâu dài

- Trong những điều kiện hoạt động bình thường thì phải ổn định mức thu, ổn định các sắc thuế không được gây xáo trộn lớn trong hệ thống thuế; đồng thời tỷ lệ động

Trang 34

viên của nhà nước phải thích hợp, đảm bảo kích thích nền kinh tế tăng trưởng, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu

- Để thực hiện được nguyên tắc này đòi hỏi phải có sự lựa chọn đối tượng tính thuế sao cho đối tượng đó ít có sự biến động

- Ý nghĩa:

+ Thuận lợi cho việc kế hoạch hóa NSNN

+ Tạo điều kiện để kích thích người nộp thuế cải tiến, đảy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh

* Nguyên tắc đảm bảo tính công bằng

- Việc thiết lập hệ thống thuế phải có quan điểm công bằng đối với mọi người chịu thuế, không phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế

- Việc thiết kê hệ thống thuế chủ yếu dựa trên khả năng thu nhập của người chịu thuế Để đảm bảo được nguyên tắc công bằng trong thiết kế hệ thống thuế phải kết hợp giữa sắc thuế trực thu với sắc thuế gián thu

* Nguyên tắc rõ ràng chắc chắn

- Trong thiết kế hệ thống thuế các điều luật của các sắc thuế phải rõ ràng, cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đánh thuế để tránh tình trạng lách luật, trốn thuế Hơn nữa việc sửa chữa, bổ sung các điều khoản trong sắc thuế không phải lúc nào cũng thực hiện được, cho nên các điều khoản trong luật phải bao quát và phù hợp với các hoạt động của nền kinh tế- xã hội

- Ý nghĩa: đảm bảo được nguyên tắc này giúp cho việc tổ chức chấp hành luật thống nhất, tránh được tình trạng lách luật trốn thuế

* Nguyên tắc đơn giản

- Cần hạn chế số lượng thuế suất, xác định rõ mục tiêu chính, không đề ra qúa nhiều mục tiêu trong một sắc thuế

- Có như vậy mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai luật thuế vào thực tiễn, tránh được những tiêu cực trong thuế

1.3.6 Phân định nguồn thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách cấp tỉnh

1.3.6 1 Nguồn thu từ các khoản thu NSTW hưởng 100%

Trang 35

a) Thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu;

b) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;

c) Thuế tiêu thụ đặc biệt, không kể thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản suất trong nước thu vào các mặt hàng bài lá, vàng mã, hàng mã và các dịch vụ kinh doanh vũ trường, mát-xa, ka-ra-ô-kê; kinh doanh gôn (golf) bán thẻ hội viên, vé chơi gôn; kinh doanh ca-si-nô (casino); trò chơi bằng máy giắc-pót (jackpot); kinh doanh vé đặt cược đua ngựa, đua xe;

d) Thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành;

đ) Các khoản thuế và thu khác từ dầu khí phải nộp NSTW theo quy định của Chính phủ;

e) Thu nhập từ vốn góp của Nhà nước, tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi), thu từ quỹ dự trữ nhà

nước;

g) Các khoản do Chính phủ vay; viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ theo quy định của pháp luật; h) Các khoản phí, lệ phí và các khoản thu khác nộp vào NSTW theo quy định của Chính phủ;

i) Thu kết dư NSTW;

k) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

1.3.6.2 Nguồn thu từ các khoản thu ngân sách cấp tỉnh hưởng 100%

a) Tiền cho thuê đất;

b) Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;

c) Lệ phí trước bạ phát sinh trên địa bàn huyện, quận; không kể lệ phí trước bạ nhà, đất;

d) Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;

đ) Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;

e) Các khoản phí, lệ phí và các khoản thu khác nộp vào ngân sách cấp tỉnh theo quy định của Chính phủ;

Trang 36

g) Huy động của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của Chính phủ;

h) Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước cho ngân sách cấp tỉnh;

i) Thu kết dư ngân sách cấp tỉnh;

k) Bổ sung từ NSTW;

l) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

1.3.6.3 Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa NSTW và ngân sách cấp tỉnh

Do điều kiện kinh tế - xã hội, tự nhiên của các địa phương khác nhau, trình độ phát triển không đều, do đó số thu và yêu cầu chi của địa phương cũng không giống nhau Vì vậy, ngoài các khoản thu từng cấp được hưởng 100% nêu trên, Luật ngân sách năm 2015 ở nước ta còn quy định có một số khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách các cấp trung ương và địa phương (tỉnh, thành phố) Các khoản đó là: Thuế giá trị gia tăng (không kể thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu) và thuế giá trị gia tăng thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; Thuế thu nhập doanh nghiệp (không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hoạch toán toàn ngành (theo quy định của Bộ Tài chính) và thuế thu nhập từ các hoạt động xổ số kiến thiết Thuế thu nhập với người có thu nhập cao (không kể các khoản thuế và thu khác từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí, tiền thuê mặt đất, mặt nước); thuế tiêu thu đặc biệt thu từ hàng hoá, dịch vụ trong nước (không kể thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hoạt động xổ số kiến thiết, phí xăng, dầu)

Tỷ lệ phần trăm các khoản thu phân chia chính là cái “van” điều chỉnh nguồn thu giữa các địa phương, bảo đảm sự phát triển hài hoà giữa các địa phương Địa phương nào có điều kiện phát triển kinh tế thuận lợi, có nguồn thu lớn thì tỷ lệ (%) này thấp; ngược lại, địa phương nào kinh tế chậm phát triển, nguồn thu nhỏ thì tỷ lệ này tăng lên Tỷ lệ phân chia này do Chính phủ quyết định cho tất cả các khoản thu phân chia, được xác định riêng từng tỉnh (thành phố)

Trang 37

Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu (và bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới) được ổn định từ 3-5 năm (gọi là thời kỳ ổn định ngân sách) Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương được sử dụng nguồn tăng thu ngân sách hàng năm (phần ngân sách địa phương được hưởng) để chi cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách tại địa phương, thực hiện giảm dần số bổ sung ngân sách từ cấp trên hoặc tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết thu nộp về ngân sách cấp trên (đối với các địa phương có điều tiết ngân sách về cấp trên) Các khoản thu phân chia giữa ngân sách tỉnh (thành phố) với ngân sách huyện (thị

xã, thành phố trực thuộc tỉnh) gồm: Thuế chuyển quyền sử dụng đất; thuế nhà đất; thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; lệ phí trước bạ nhà đất

HĐND cấp tỉnh quyết định nguồn thu cho các cấp chính quyền huyện, xã theo nguyên tắc phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế; phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể; phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi ổn định theo thời gian của thời kỳ

ổn định ngân sách Kết thúc mỗi thời kỳ ổn định ngân sách sẽ có sự điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) và bảo đảm yêu cầu sau:

- Gắn với nhiệm vụ và khả năng quản lý của từng cấp, hạn chế việc bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới; khuyến khích các cấp tăng cường quản lý thu, chống thất thu, hạn chế phân chia nguồn thu quy mô nhỏ cho nhiều cấp

- Ngân sách xã, thị trấn được hưởng tối thiểu 70% đối với 5 khoản thu: Thuế chuyển quyền sử dụng đất; thuế nhà đất; thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; lệ phí trước bạ nhà đất

- Ngân sách thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh được hưởng tối thiểu 50% khoản thu

lệ phí trước bạ (không kể lệ phí trước bạ nhà đất)

Như vậy, Luật ngân sách năm 2015 một mặt khẳng định quyền của HĐND cấp tỉnh quyết định nguồn thu ngân sách của cấp huyện, xã, mặt khác lại mở rộng nguồn thu tối thiểu là 70% (5 nguồn thu) và cấp huyện được hưởng 50% nguồn thu lệ phí trước bạ (Luật ngân sách năm 1996 chưa quy định như vậy)

Trang 38

Luật ngân sách năm 2015 quy định các tỷ lệ 70% và 50% chỉ là tỷ lệ phần trăm tối thiểu, HĐND tỉnh vẫn là cơ quan quy định nguồn thu và tỷ lệ phân chia Tỷ lệ phân chia của trung ương cho tỉnh và tỉnh với cấp huyện được thực hiện theo nguyên tắc: Mỗi địa phương có một tỷ lệ thống nhất cho các khoản thu phân chia (tỷ lệ thống nhất cho các khoản thu thuộc diện phân chia) Tỷ lệ này được tính theo công thức dưới đây và thông báo cho các địa phương vào năm đầu thời kỳ ổn định

Trong đó:

* A là tổng số chi ngân sách địa phương (không bao gồm số bổ sung)

* B là tổng số các khoản thu ngân sách địa phương được hưởng 100% (không bao gồm số bổ sung)

* C là tổng số các khoản thu được phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương

- Nếu A-B<C thì địa phương được giữ lại tỷ lệ % đó cho ngân sách địa phương, phần còn lại được điều tiết về cho ngân sách trung ương

- Nếu A-B>C thì tỷ lệ % chỉ được tính bằng 100% và phần chênh lệch C) sẽ được cấp bổ sung thêm từ ngân sách trung ương

(A-B Nếu A-B=C thì tỷ lệ % là 100% và địa phương tự cân đối

1.3.7 Phân định nguồn thu giữa ngân sách cấp tỉnh và các cấp ngân sách khác

Các khoản ngân sách cấp huyện thu 100%:

- Thuế môn bài, trừ thuế môn bài thu từ các cá nhân và nhóm kinh doanh nhỏ ở xã, thị trấn;

- Thuế sát sinh thu từ các doanh nghiệp giết mổ gia súc trên địa bàn phường;

- Các khoản phí, lệ phí từ các hoạt động do các cơ quan thuộc cấp huyện quản lý;

- Tiền thu từ hoạt động sự nghiệp của các đơn vị do cấp huyện quản lý;

- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho cấp huyện theo quy định của pháp luật;

- Đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của Chính phủ;

Tỷ lệ phần trăm (%) = A - B x 100%

C

Trang 39

- Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước cho ngân sách cấp huyện;

- Thu kết dư ngân sách cấp huyện;

- Bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh;

- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa NSTW vàngân sách cấp tỉnh theo quy định Việc phân cấp cụ thể các khoản thu này cho ngân sáchcác cấp chính quyền địa phương do cấp tỉnh quy định trong phạm vi tỉnh được phân cấp

Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách xã, thị trấn:

- Thuế chuyển quyền sử dụng đất;

- Thuế nhà, đất;

- Tiền sử dụng đất

Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách xã, thị trấn, phường:

- Thuế sử dụng đất nông nghiệp;

- Thuế tài nguyên;

- Lệ phí trước bạ nhà, đất;

- Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản suất trong nước thu vào các mặt hàng bài lá, vàng

mã, hàng mã và các dịch vụ kinh doanh vũ trường, mát-xa, ka-ra-ô-kê; kinh doanh gôn bán thẻ hội viên, vé chơi gôn; kinh doanh ca-si-nô; trò chơi bằng máy giắc-pót; kinh doanh vé đặt cược đua ngựa, đua xe

Ngoài ra, đối với thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh được phân chia với ngân sách cấp tỉnh theo tỷ lệ phần trăm (%) khoản thu lệ phí trước bạ, không kể lệ phí trước bạ nhà, đất phát sinh trên địa bàn và được lập thành quỹ đầu tư theo quy định của Chính phủ

1.4 Tăng thu NSNN cấp tỉnh

1.4.1 Nội dung chính sách tăng thu NSNN cấp tỉnh

Trang 40

- Thứ nhất, chính sách tăng thu ngân sách là một bộ phận trong quản lý kinh tế nói chung và tài chính nói riêng Việc tăng hay giảm ở một lĩnh vực nào đó được thực hiện theo chiến lược phát triển kinh tế, tài chính vĩ mô Một khi chính sách thu ngân sách thay đổi thì lập tức cơ cấu kinh tế dù ít hay nhiều cũng có sự chuyển dịch do đối tượng thu ngân sách rất đa dạng và đặc biệt nhạy cảm với các chính sách thu ( thuế,phí,lệ phí….)

- Thứ hai, các chính sách tăng thu của ngân sách có tác động đến các chính sách quản lý kinh tế, tài chính khác Dường như vị trí này trùng lặp với vị trí trên nhưng

nó hoàn toàn khác Các chính sách kinh tế, tài chính khác ở đây thuộc lĩnh vực ngoài ngân sách (kinh tế, tài chính của tổ chức, doanh nghiệp nên NSNN có thể can thiệp sâu vào doanh nghiệp)

- Thứ ba, các chính sách thu phải góp phần vào khuyến khích và phát triển sản xuất kinh doanh, mở rộng lưu thông hàng hóa và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế Việc đánh thuế có những tác động rất nhạy cảm đến các đối tượng trong nền kinh tế Việc thu thuế là có giới hạn, nghĩa là thu từ thuế chỉ đạt được hết hiệu quả tối đa tại một điểm thuế suất nào đó Khi Chính phủ cứ tăng thuế để tăng nguồn thu thì sẽ có những tác động tiêu cực, làm trì trệ tình hình sản xuất; bên cạnh đó còn xuất hiện hiện tượng trốn thuế, phát sinh tiêu cực…

- Thứ tư, chính sách phải đảm bảo tập trung quản lý vốn hợp lý nguồn thu cho ngân sách, đồng thời đảm bảo mức sống hợp lý cho các đối tượng dân cư dưới tác động của chính sách thu Theo quy định của Nhà nước, tất cả các khoản thu đều được tập trung vào kho bạc nhà nước cùng với sự phối hợp của cơ quan tài chính, thuế và hải quan

- Thứ năm, chính sách thu phải đảm bảo công bằng xã hội, công bằng cho các tầng lớp dân cư Ở dây bao gồm cả công bằng theo chiều dọc và công bằng theo chiều ngang

Ngày đăng: 02/10/2020, 22:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w