Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp trong quản trị RRTD tại chi nhánh nhằm hạn chế RRTD và giảm thiểu nợ xấu cho chi nhánh như: đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của khách hàng nh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN HỒNG THẢO
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI TỔNG CÔNG TY
TÀI CHÍNH CỔ PHẦN DẦU KHÍ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN HỒNG THẢO
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI TỔNG CÔNG TY
TÀI CHÍNH CỔ PHẦN DẦU KHÍ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính và Ngân hàng
Mã số: 60 34 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.NGUYỄN BÌNH GIANG
Hà Nội – 2014
Trang 3Mục lục
Trang
Danh mục các ký hiệu viết tắt……… i
Danh mục các bảng……… ii
Danh mục các hình vẽ……… iii
MỞ ĐẦU……… 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG……… ……… …… 12
1.1 Hoạt động tín dụng của các Tổ chức tín dụng……… 12
1.1.1 Khái quát về các Tổ chức tín dụng 12
1.1.2 Hoạt động tín dụng của các TCTD……… 13
1.2 Quản trị rủi ro tín dụng của các TCTD……… 15
1.2.1 Rủi ro tín dụng của các TCTD……… 15
1.2.2 Quản trị RRTD……… 23
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI TỔNG CÔNG TY TÀI CHÍNH CỔ PHẦN DẦU KHÍ VIỆT NAM……… 37
2.1 Khái quát về Tổng Công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam… 37
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển……… 37
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của PVFC……… 38
2.1.3 Kết quả hoạt động của PVFC trong thời gian gần đây……… 42
2.2 Thực trạng quản trị RRTD tại Tổng Công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam……… 53
Trang 42.2.1 Thực trạng RRTD tại PVFC……… 53
2.2.2 Thực trạng quản trị RRTD tại Tổng Công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam……… 57
2.3 Đánh giá thực trạng quản trị RRTD tại PVFC……… 75
2.3.1 Những kết quả đạt được của hoạt động quản trị RRTD……… 75
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân……… 77
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI PVFC……… 89
3.1 Định hướng hoạt động của PVFC trong thời gian tới……… 89
3.2 Giải pháp tăng cường quản trị RRTD tại PVFC……… 99
3.2.1 Hoàn thiện tổ chức và hoạt động quản trị RRTD……… 99
3.2.2 Tăng cường công tác kiểm soát RRTD……… 104
3.2.3 Tài trợ RRTD……… 109
3.2.4 Các giải pháp hỗ trợ……… 110
3.3 Một số kiến nghị……… 114
3.3.1 Kiến nghị với NHNN Việt Nam……… 114
3.3.2 Đối với Nhà nước, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền……… 117
KẾT LUẬN……… 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 123
Trang 5Danh mục các ký hiệu viết tắt
1 ALCO Ủy ban quản lý Tài sản nợ- Tài sản có
4 BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
13 HOSE Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
24 Seabank Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á
Trang 6Danh mục các bảng
3 Bảng 2.3 Cơ cấu cho vay theo thời gian 48
4 Bảng 2.4 Cơ cấu cho vay theo loại hình cho vay 49
5 Bảng 2.5 Kết quả hoạt động kinh doanh 50
Trang 7Danh mục các hình vẽ
1 Hình 2.1 Cơ cấu dư nợ cho vay theo đơn vị tiền tệ 50
2 Hình 3.1 Mô tả hợp đồng rủi ro tín dụng 107
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cần thiết của đề tài:
Trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam chịu tác động không nhỏ của các biến động kinh tế thế giới và khu vực ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực tài chính ngân hàng
Các tổ chức tín dụng có vai trò quan trọng trong việc điều hòa vốn cho nền kinh tế, là hệ thần kinh của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nền kinh tế chỉ có thể phát triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống các tổ chức tín dụng hoạt động ổn định và có hiệu quả Không thể có tăng trưởng trong khi hệ thống tổ chức và hoạt động của các tổ chức tín dụng yếu kém và lạc hậu Hoạt động tín dụng trong đó nghiệp vụ cho vay là xương sống của hệ thống các tổ chức tín dụng, cụ thể là quá trình huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả của các tổ chức tín dụng sẽ giúp cho các thành phần kinh tế phát triển ổn định và ngược lại
Các tổ chức tín dụng ở Việt Nam gồm nhiều thành phần như các ngân hàng, các tổ chức tài chính phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân Phần lớn chúng hình thành, phát triển chưa lâu và mới nở rộ những năm gần đây Do đó, các tổ chức tín dụng phải cạnh tranh lẫn nhau để giành thị trường trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng Các ngân hàng có thời gian hoạt động dài và uy tín
sẽ có sức cạnh tranh lớn trong hoạt động nhất là hoạt động tín dụng Trong khi đó, các tổ chức tín dụng khác có hoạt động ngân hàng như các tổ chức tín dụng phi ngân hàng nhất là các công ty tài chính ra đời sau ngân hàng và càng phải chịu sức
ép cạnh tranh gay gắt Hoạt động chủ yếu của các công ty tài chính là hoạt động tín
dụng
Trong nền kinh tế đầy biến động rủi ro là điều không thể tránh khỏi đối với
tất cả các thành phần kinh tế Những nguy cơ tiềm ẩn như sự không trung thực của khách hàng, vốn vay bị sử dụng sai mục đích, khách hàng phá sản hay do suy thoái kinh tế đều có thể biến một khoản vay chất lượng cao thành một khoản nợ khó đòi Đó là chưa kể đến những kẽ hở do hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh gây nên
những phiền toái cho khách hàng và các tổ chức tín dụng trong quá trình hoạt động
Trang 9cũng như tạo điều kiện cho những ý đồ xấu của khách hàng hay cán bộ của các tổ
chức tín dụng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của nhà nước Đây là mối đe doạ
mà bất cứ tổ chức tín dụng nào cũng phải đương đầu
Vì vậy, để cạnh tranh được với các ngân hàng, giành được thị trường trong
nền kinh tế hiện nay, các công ty tài chính không chỉ chú trọng mở rộng quy mô và
hoạt động cho vay mà còn phải quan tâm nhiều hơn vấn đề quản trị rủi ro tín dụng
nhằm hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất Nhiệm vụ quan trọng và trọng tâm của
quản lý các công ty tài chính là phải nâng cao chất lượng tín dụng, đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đối với các thành phần kinh tế
Nhận thức rõ được tính cấp bách của vấn đề trên, sau một thời gian nghiên
cứu và tìm hiểu, tôi đã chọn đề tài:
“Quản trị rủi ro tín dụng tại Tổng công ty tài chính cổ phần Dầu Khí Việt Nam”
2 Tình hình nghiên cứu :
Một số nghiên cứu về vấn đề trên :
2.1 Phan Thị Cúc (2009), Quản trị ngân hàng, NXB Giao thông vận tải , Hà
Nội :
Tài liệu cung cấp những kiến thức khái quát về quản trị ngân hàng thương mại : từ tổng quan về quản trị ngân hàng thương mại trong nền kinh tế hội nhập đến những kiến thức về cụ thể về quản trị vốn chủ sở hữu, quản trị tài sản Nợ, Tài sản
Có của ngân hàng thương mại và đặc biệt là quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng Tài liệu đưa ra những mô hình quản trị RRTD đã được áp dụng trong hoạt động ngân hàng và các biện pháp quản trị RRTD đạt hiệu quả
2.2 PGS.TS Phan Thị Thu Hà (2007), Ngân hàng thương mại, NXB Đại
học Kinh tế Quốc Dân:
Tài liệu trình bày các vấn đề cơ bản về quản trị và nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại Cuốn sách được viết dựa trên việc tiếp thu có chọn lọc nhiều sách và tài liệu viết về Ngân hàng thương mại, cũng như chính sách, chế độ và thực tiễn
Trang 10đại, dễ hiểu đối với người đọc Tài liệu gồm 12 chương, mang đến cho người đọc tổng quan về ngân hàng và các dịch vụ ngân hàng; nguồn vốn và quản lý nguồn vốn; tài sản và quản lý tài sản và các hoạt động khác của ngân hàng Tài liệu dành riêng 3 chương để giới thiệu và đi sâu nghiên cứu về hoạt động tín dụng, chính sách tín dụng, các nghiệp vụ tín dụng, RRTD và quản lý RRTD Quản lý RRTD bao gồm: hạn chế các khoản tín dụng có vấn đề, nợ quá hạn, nợ khó đòi bằng cách: thực hiện các quy định về an toàn tín dụng được ghi trong luật các TCTD và trong các nghị định của NHNN; xác định danh mục các khoản tài trợ với các mức rủi ro khác nhau; xây dựng chính sách tín dụng và quy trình phân tích tín dụng; xác định dấu hiệu của các khoản cho vay có vấn đề, giới hạn các khoản tín dụng và đa dạng hóa
2.3 ThS Nguyễn Đình Thiện (2013), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Chi nhánh Thăng Long: Thấy gì qua quản lý rủi ro tín dụng, Tạp chí Kinh tế và Dự báo tháng 8/2013:
Tài liệu mang đến người đọc cái nhìn tổng quan thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Thăng Long trong đó tập trung đánh giá tình hình nợ xấu của chi nhánh, nguyên nhân dẫn đến tình hình nợ xấu tăng cao trong những năm gần đây.Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó trước tiên là do mô hình quản trị RRTD còn nhiều bất cập, nghiệp vụ trong quản trị RRTD còn nhiều yếu kém Ngoài ra còn có nguyên nhân từ phía khách hàng và môi trường luật pháp chưa chặt chẽ, còn nhiều kẽ hở tạo cơ hội cho những hành vi lợi dụng gây thất thoát tài sản của Ngân hàng Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp trong quản trị RRTD tại chi nhánh nhằm hạn chế RRTD và giảm thiểu nợ xấu cho chi nhánh như: đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhưng phải đúng quy trình, nguyên tắc; đề xuất mô hình quản trị RRTD mới có thể kết hợp được các thành phần trong Hội đồng xử lý rủi ro, bổ sung bộ phận nghiên cứu thị trường; cần có chiến lược kinh doanh thích hợp, mở rộng mạng lưới khách hàng; xây dựng và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá, thiết lập các chỉ tiêu tín dụng, quản lý hạn mức tín dụng, mở rộng các hình thức đồng tài trợ để giảm thiểu rủi ro; xây dựng và phát triển hệ thống cảnh báo sớm; nâng cao vai trò của công tác
Trang 11kiểm soát nhằm hạn chế RRTD, tăng cường những cán bộ có trình độ, đã qua nghiệp vụ tín dụng để bổ sung cho phòng kiểm soát
2.4 PGS.TS Nguyễn Văn Tiến (2010), Quản trị rủi ro trong kinh doanh
ngân hàng, NXB Thống kê, Hà Nội:
Nội dung quản trị RRTD được giới thiệu chi tiết trong tài liệu Tài liệu giới thiệu tổng quan về tín dụng ngân hàng qua khái niệm tín dụng ngân hàng, đặc điểm tín dụng ngân hàng, vai trò của tín dụng ngân hàng, phân loại tín dụng ngân hàng, các phương thức cho vay, chính sách tín dụng ngân hàng, kiểm tra tín dụng Tiếp
đó, tài liệu cung cấp kiến thức về phân tích tín dụng gồm có phân tích định tính và phân tích định lượng truyền thống gồm 05 nhóm chỉ tiêu: nhóm 1: các chỉ tiêu phản ánh khả năng trả nợ ngắn hạn hay tính thanh khoản của doanh nghiệp, nhóm 2: các chỉ tiêu phản ánh khả năng trả nợ dài hạn hay đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp, nhóm 3: các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả quản lý tài sản của doanh nghiệp, nhóm 4: các chỉ tiêu phản ánh mức sinh lời, nhóm 5: các chỉ tiêu phản ánh giá trị thị trường của doanh nghiệp Bên cạnh đó phân tính định lượng theo các mô hình hiện đại như:
mô hình điểm số Z, mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng, mô hình cấu trúc kỳ hạn RRTD Tài liệu chỉ ra những biểu hiện và các bước xử lý nợ có vấn đề, cụ thể một
số đặc điểm chung cho hầu hết các khoản tín dụng có vấn đề như: sự chậm trễ và bất thường, không có lý do trong việc cung cấp các báo cáo tài chính và trả nợ theo lịch đã thỏa thuận, chậm trễ trong việc liên lạc với cán bộ tín dụng, Các chuyên gia ngân hàng sẽ tìm ra các giải pháp nhằm thu hồi những khoản tín dụng có vấn đề theo một số bước như:luôn đặt mục tiêu tận dụng tối đa các cơ hội để thu hồi đầy đủ
nợ đã cho vay; khẩn trương khám phá và báo cáo kịp thời mọi vấn đề thực chất liên quan đến tín dụng, mọi chậm trễ đều làm cho tình hình tín dụng trở nên xấu hơn; dự tính những nguồn có thể dùng để thu hồi nợ có vấn đề bao gồm nguồn thu từ thanh
lý tài sản và số dư tiền gửi tại ngân hàng; cân nhắc mọi phương án có thể để hoàn thành việc thu hồi nợ có vấn đề, bao gồm cả việc thỏa thuận gia hạn nợ tạm thời nếu khách hàng chỉ gặp khó khăn trước mắt, hoặc tìm kiếm giải pháp nhằm tăng cường
Trang 122.5 NHNN Việt Nam (2009), Sổ tay thanh tra trên cơ sở rủi ro:
Sổ tay thanh tra trên cơ sở rủi ro được ra đời với sự hỗ trợ kỹ thuật của chuyên gia tư vấn của Dự án hợp tác giữa cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Canada (CIDA) và NHNN Trong cuốn sổ tay này, các khái niệm rủi ro được trình bày trên
cơ sở nghiên cứu thông lệ quốc tế và thực trạng Việt Nam Có nhiều cách phân loại các loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng, thực tế hoạt động của các TCTD Việt Nam hiện nay bị chi phối bởi 7 loại rủi ro chính: RRTD, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động, rủi ro danh tiếng, rủi ro chiến lược và rủi ro tuân thủ
Để quản lý được các loại rủi ro, các TCTD phải có một hệ thống quản trị rủi ro hiệu quả Một hệ thống quản lý rủi ro hiệu quả phải có khả năng nhận dạng, đo lường, giám sát/thông tin và kiểm soát/giảm thiểu rủi ro thông qua bốn quy trình: Sự giám sát tích cực của Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban điều hành (BĐH); Đầy
đủ các chính sách, quy trình, thông lệ và các hạn mức; Hệ thống thông tin quản lý (MIS) hiệu quả; và Kiểm soát nội bộ và hoạt động toàn diện của kiểm toán nội bộ
Quản Lý Rủi Ro Của TCTD: Các khái niệm quản lý rủi ro, Các yếu tố quản
lý rủi ro: nhận dạng rủi ro, đo lường và đánh giá rủi ro, giám sát và báo cáo rủi ro, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro; Quy trình quản lý rủi ro trong TCTD: quy trình quản
lý rủi ro phụ thuộc vào quy mô từng TCTD; giám sát của HĐQT và Ban điều hành: nhiệm vụ của Hội đồng quản trị, nhiệm vụ của Ban điều hành; Chính sách, qui trình quản lý và hạn mức rủi ro: chính sách, quy trình quản lý rủi ro, hạn mức rủi ro; Hệ thống thông tin quản lý và giám sát rủi ro; Kiểm soát nội bộ/Kiểm toán nội bộ; Quy trình quản lý rủi ro phải phù hợp với mức độ và độ phức tạp của các hoạt động chịu rủi ro: TCTD quy mô nhỏ (các phương án về một bộ phận kiểm toán nội bộ hoàn chỉnh), TCTD quy mô lớn: Bộ phận quản lý rủi ro
2.6 Ủy ban Basel (2006), Các nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hiệu
qu ả :
+Nguyên tắc chính của Basel I:
- Nguyên tắc chính về quy định mức vốn tối thiểu trong Basel I là gán cho các khoản mục ngoại bảng và nội bảng một trọng số rủi ro mà đó là một hàm của
Trang 13mức rủi ro ước tính, và yêu cầu một mức vốn tương đương với 8% tài sản có trọng
số rủi ro đó
- Sự đổi mới chính của tỷ lệ vốn tối thiểu trong Basel I so với những đổi mới khác mà đã được thử nghiệm trước năm 1988 là nó đã phân biệt các tài sản bởi hàm
rủi ro giả định của chúng và cũng hợp nhất các yêu cầu đối với các khoản mục
ngoại bảng mà đã tăng lên đáng kể trong những năm 80 với sự phát triển của các công cụ phái sinh
- Nghĩa vụ pháp lý duy nhất sẽ làm giảm rủi ro tín dụng thực tế đi kèm với các công cụ phái sinh tài chính bằng cách giảm thiểu trạng thái rủi ro tương lai tiềm tàng (PFE)
+ Sự khác nhau chính giữa Basel I và II:
- Cách tiếp cận chuẩn hóa (SA) là cách tiếp cận gần nhất với cách tiếp cận Basel I
- Điểm mới/khác biệt chủ yếu là các hệ số rủi ro không còn bị quyết định duy nhất bởi đối tượng đi vay (quốc gia, các ngân hàng, doanh nghiệp…) mà chúng còn phụ thuộc vào mức độ rủi ro ước tính của từng đối tượng cụ thể thông qua việc sử dụng các xếp hạng độc lập
2.7 Peter S.Rose (2004), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính,
Hà Nội:
Tài liệu gồm 6 phần và 23 chương mang lại lượng kiến thức khá rộng về hoạt động ngân hàng Các nội dung chính của tài liệu được tác giả nghiên cứu để viết luận án là tổng quan về ngân hàng và các dịch vụ ngân hàng ; quản lý Tài sản-
Nợ : kỹ thuật phòng chống RRTD trong đó có những hợp đồng tín dụng phái sinh của ngân hàng là những công cụ thay thế ngày càng quan trọng cho chứng khoán hóa và bán nợ gồm : hợp đồng trao đổi tín dụng, hợp đồng quyền tín dụng, hợp đồng trao đổi cộng đồng các khoản tín dụng rủi ro, trái phiếu ràng buộc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 14Mục đích của nghiên cứu này là qua trường hợp cụ thể về quản trị rủi ro tín dụng tại Tổng công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam để gợi ý các giải pháp
quản trị rủi ro hoạt động tín dụng có thể áp dụng chung
Đề tài này đặt ra mục tiêu trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây
- Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng là gì?
- Tổng công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam thực hiện những biện pháp nào trong quản trị rủi ro tín dụng?
- Kết quả đạt được tại Tổng công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam?
- Kiến nghị để tăng cường công tác quản trị RRTD tại Tổng công ty tài chính
cổ phần Dầu khí Việt Nam trong các năm tới sau khi chuyển đổi mô hình sang ngân hàng, hợp nhất giữa Tổng công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam và Ngân hàng TMCP Phương Tây thành Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn tại Tổng công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam trong thời gian từ 2009 đến 2012
* Đề xuất, kiến nghị cho PVFC trong 3 năm đầu sau khi hợp nhất
5 Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận:
* Cách tiếp cận định tính
Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận dựa trên tổng quan lý thuyết chung
về hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại các TCTD Sau
đó đi vào thực tiễn tình hình hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng và các phương pháp quản trị rủi ro tín dụng tại PVFC Trong khi đi sâu nghiên cứu tình hình thực tiễn tại PVFC, dựa trên các số liệu từ báo cáo tài chính đã kiểm toán, các số liệu từ báo cáo tình hình hoạt động của PVFC gửi NHNN, tác giả phân tích, so sánh và đưa ra đánh giá về tình hình hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng của PVFC Bên cạnh đó, dựa trên quy trình tín dụng, phương pháp xếp hạng tín dụng và cách tiếp cận chung đối với quản trị rủi ro tín dụng của PVFC đang thực hiện để có thể hiểu được các vấn đề
Trang 15trong quản trị rủi ro tín dụng của PVFC và từ đó đã đề xuất những thay đổi phù hợp
và hoàn thiện hơn các phương pháp đang được áp dụng tại PVFC
* Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê khám phá
Chương 1 : Sử dụng phương pháp tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu tham khảo để đưa những khái niệm cơ bản về hoạt động của TCTD, rủi ro tín dụng, nguyên nhân rủi ro tín dụng, cách thức quản trị rủi ro tín dụng
Chương 2 :Sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, thống kê mô tả trong chương 2 để nêu bật tình hình thực tiễn về hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng và cách thức quản trị rủi ro tín dụng tại PVFC Biểu diễn dữ liệu bằng các đồ thị và biểu đồ kết hợp với phân tích số liệu nhằm mô tả dữ liệu hoặc giúp so sánh dữ liệu giữa các thời kỳ để đánh giá tình hình hoạt động nói chung của PVFC và tình hình chất lượng tín dụng tại PVFC qua các năm
Chương 3: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại PVFC
6 N hững đóng góp mới của luận văn
- Trên cơ sở phân tích tình hình hoạt động tín dụng của Tổng Công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam, luận văn nêu ra những dấu hiệu nhận biết sớm các khoản nợ có vấn đề, tìm ra các nguyên nhân để từ đó kiến nghị các giải pháp có hiệu quả và khả thi Chi tiết việc phân tích và đánh giá những dấu hiệu RRTD và giải pháp quản trị RRTD được nêu luận án Tác giả xin khái quát những nội dung chính và đóng góp của luận án như sau :
+ Dấu hiệu nhận biết sớm các khoản nợ có vấn đề :
Biểu hiện quan trọng nhất tình hình RRTD của một TCTD nói chung và của PVFC nói riêng là chất lượng tín dụng của TCTD đó Chất lượng tín dụng được đánh giá trên một số các chỉ tiêu như : tình hình nợ quá hạn, tình hình nợ xấu, tình hình trích lập dự phòng RRTD ; Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng rủi ro tín dụng; Nợ cần chú ý có nguy cơ chuyển thành nợ xấu; Nợ không có tài sản đảm bảo có dấu hiệu chuyển thành nợ xấu
Trang 16Bên cạnh đó, còn một số chỉ tiêu khác như tổng dư nợ cấp tín dụng/tổng nguồn vốn huy động, hệ số thu nợ cũng được kết hợp để đánh giá tình hình tín dụng
và chất lượng tín dụng
+ Những nguyên nhân dẫn đến RRTD : nguyên nhân dẫn đên RRTD có nhiều nhưng cần tìm hiểu những nguyên nhân chính gây ra nguy cơ RRTD để có những biện pháp hạn chế RRTD và giải pháp quản trị RRTD có hiệu quả như mong đợi Các nguyên nhân dẫn đến RRTD gồm cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan như : môi trường kinh tế không ổn định; môi trường pháp lý chưa thuận lợi; hiệu quả của thanh tra, kiểm tra, giám sát NHNN chưa cao; hệ thống thông tin quản lý còn bất cập; RRTD đến từ phía khách hàng, RRTD đến từ phía TCTD + Sau khi nghiên cứu các nguyên nhân dẫn đến RRTD, cần thiết phải đi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị RRTD để tìm ra các giải pháp khắc phục các nhân tố tác động chính yếu dẫn đến không đạt được hiệu quả trong công tác quản trị RRTD nhằm tăng cường quản trị RRTD tại PVFC Các nhân
tố ảnh hưởng tới công tác quản trị RRTD như: các nhân tố khách quan: môi trường pháp lý, môi trường tự nhiên; các nhân tố chủ quan: chính sách quản trị RRTD, chất lượng của công tác thẩm định, công tác tổ chức hoạt động quản trị RRTD, chất lượng của đội ngũ nhân sự; nhân tố khác
+ Các giải pháp quản trị RRTD được đưa ra đối với PVFC sau khi đã nghiên cứu từ lý thuyết và thực tiễn hoạt động tín dụng, tình hình chất lượng tín dụng, thực tiễn quản trị RRTD, những hạn chế trong quản trị RRTD tại PVFC như: hoàn thiện
tổ chức và hoạt động quản trị RRTD: kiện toàn tổ chức và hoạt động của Ủy ban quản trị rủi ro, bổ sung nhân sự các cấp, hoàn thiện chính sách, trình tự quản trị RRTD, xây dựng hoàn thiện mô hình quản trị RRTD, bổ sung một số nội dung trên
mô hình hệ thống phân quyền hạn mức, cập nhật hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ; tăng cường công tác kiểm soát RRTD; tài trợ RRTD: tăng cường xử lý nợ xấu, tăng cường công tác quản lý TSĐB, đa dạng hóa đầu tư và cho vay đồng tài trợ với các TCTD khác; các giải pháp hỗ trợ: nâng cao chất lượng thông tin tín dụng và chất
Trang 17lượng hệ thống công nghệ thông tin phục vụ công tác quản trị RRTD, nâng cao trình độ nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng
7 B ố cục của luận văn
Nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng tại các TCTD
Chương 1 gồm 2 phần chính :
Phần 1 : Tìm hiểu về hoạt động tín dụng của TCTD : trong đó trước tiên tìm hiểu về TCTD và hoạt động chính của TCTD, sau đó tìm hiểu về hoạt động tín dụng của TCTD
Phần 2 : Tìm hiểu về quản trị RRTD gồm 02 phần : RRTD của các TCTD và Quản trị RRTD
Chương 2 Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Tổng Công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam
Chương 2 gồm 3 phần chính :
Phần 1 : Khái quát về PVFC, gồm 3 nội dung chính : giới thiệu quá trình hình thành và phát triển của PVFC ; cơ cấu tổ chức và hoạt động của PVFC ; Kết quả hoạt động của PVFC trong đó tập trung đến kết quả hoạt động tín dụng
Phần 2 : Tìm hiểu về thực trạng quản trị RRTD tại PVFC, gồm 2 nội dung chính: nội dung thực trạng RRTD tại PVFC , trong đó phân tích tình hình chất lượng dư nợ cho vay, tỷ lệ tổng dư nợ cho vay trên tổng nguồn vốn và hệ số thu nợ nhưng tập trung nhiều vào tình hình chất lượng dư nợ cho vay Nội dung thực trạng quản trị RRTD tại PVFC : mục đích nghiên cứu phương thức quản trị RRTD tại PVFC trên một số phương diện như : xây dựng cơ cấu tổ chức hoạt động tín dụng,
cơ chế phân cấp ủy quyền trong phê duyệt tín dụng, hệ thống các công cụ đo lường
và định lượng RRTD tại PVFC và các biện pháp quản trị RRTD
Phần 3 : Đánh giá thực trạng quản trị RRTD tại PVFC: gồm 2 nội dung chính : nội dung đánh giá những kết quả đạt được của hoạt động quản trị RRTD với mục đích chỉ ra những mặt đã làm được của PVFC và cần phải phát huy trong hoạt
Trang 18nguyên nhân của hạn chế Mục đích của việc đánh giá những hạn chế trong hoạt động quản trị RRTD và tìm ra được nguyên nhân gây ra hạn chế là điều mà quản trị RRTD tại PVFC chú trọng và có ý nghĩa lớn trong hoạt động quản trị RRTD tại PVFC
Chương 3 Một số giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Tổng Công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam
Chương 3 gồm 3 phần chính: phần 1: định hướng hoạt động của PVFC trong thời gian tới khi hợp nhất và chuyển đổi mô hình hoạt động sang NHTM cổ phần; phần 2: đưa ra một số giải pháp tăng cường quản trị RRTD tại PVFC như hoàn thiện tổ chức và hoạt động quản trị RRTD, tăng cường công tác kiểm soát RRTD, tài trợ RRTD, một số giải pháp hỗ trợ; phần 3: đưa ra một số kiến nghị đối với NHNN Việt Nam và đối với Nhà nước, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền
Trang 19Chương 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC
TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1.1 Hoạt động tín dụng của các Tổ chức tín dụng
1.1.1 Khái quát về các Tổ chức tín dụng
1.1.1.1 Khái niệm về Tổ chức tín dụng
Theo Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 Luật số 47/2010/QH12 (sau đây viết tắt là Luật TCTD năm 2010) [21]:
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động
ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân [21]
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một
hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các TCTD, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác.[21]
1.1.1.2 Các hoạt động chính của TCTD
Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một
số các nghiệp vụ sau đây:
- Nhận tiền gửi;
- Cấp tín dụng;
- Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản
- Môi giới tiền tệ;
- Tài khoản thanh toán;
- Sản phẩm phái sinh;
Trang 201.1.2 Hoạt động tín dụng của các TCTD
1.1.2.1 K hái niệm:
Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay theo nguyên tắc có hoàn trả và có lãi suất Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán Để đảm bảo an toàn và khả năng sinh lời của đồng tiền cho vay thì hoạt động tín dụng phải thực hiện trên các nguyên tắc cơ bản như sau:
- Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời gian xác định
- Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thoả thuận với bên cho vay, không trái với các quy định của pháp luật
- TCTD tài trợ dựa trên phương án hoặc dự án có hiệu quả
1.1.2.2 Phân loại hoạt động tín dụng
a Căn cứ vào thời hạn cho vay:
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn không quá 12 tháng (1
năm) Tín dụng ngắn hạn được sử dụng để bổ sung vốn lưu động và các nhu cầu thiếu hụt tạm thời về vốn của các chủ thể vay vốn [4,6]
- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm,
khoản tín dụng trung hạn thường được sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn thực hiện các dự án cải tạo tài sản cố định, cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, nói chung là đầu tư theo chiều sâu.[4,6]
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 5 năm, khoản tín dụng
dài hạn thường được sử dụng để đầu tư xây dựng các công trình mới.[4,6]
b C ăn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay:
- Tín dụng cho sản xuất, lưu thông hàng hóa: là loại tín dụng được cung cấp
cho các nhà sản xuất và kinh doanh hàng hóa Nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh để dự trữ nguyên vật liệu, chi phí sản xuất hoặc đáp ứng nhu cầu thiếu vốn trong quan hệ thanh toán giữa các chủ thể kinh tế.[12]
Trang 21- Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng được sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn
phục vụ đời sống và thường được thu hồi dần từ nguồn thu nhập của cá nhân vay
vốn.[12]
- Tín dụng cho mua bán bất động sản: là loại tín dụng cung cấp nguồn vốn
phục vụ cho việc đầu tư xây dựng bất động sản để bán, cho thuê, cho thuê mua của khách hàng với mức lãi suất, thời gian vay và loại tiền cho vay đa dạng.[12]
c Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
- Tín dụng có bảo đảm: là loại tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của chủ thể
vay vốn được bảo đảm bằng tài sản của chủ thể vay vốn, tài sản hình thành từ vốn vay hoặc bảo đảm bằng uy tín và năng lực tài chính của bên thứ ba.[5]
- Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng mà theo đó TCTD
chủ động lựa chọn khách hàng để cho vay trên cơ sở khách hàng có tín nhiệm với TCTD, có năng lực tài chính và có phương án, dự án khả thi có khả năng hoàn trả
nợ vay.[5]
d Theo phương thức cấp tín dụng:
- Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.[21,6]
- Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công
cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.[21,6]
- Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác
đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán.[21,6]
- Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng
thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán
Trang 22- Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết
với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD theo thỏa thuận.[21,6]
- Cho thuê tài chính: là việc TCTD bỏ tiền mua sắm tài sản cho khách hàng
thuê Sau một thời gian nhất định khách hàng phải trả cả gốc lẫn lãi cho TCTD Tài
sản cho thuê thường là tài sản cố định Vì vậy, cho thuê tài chính được xếp vào tín dụng trung dài hạn.[21,6]
1.2 Qu ản trị rủi ro tín dụng của các TCTD
1.2.1 R ủi ro tín dụng của các TCTD
1.2.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng (RRTD) là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của TCTD, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả
nợ không đúng hạn cho TCTD
Căn cứ vào khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro theo Quyết định số 493 /2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN thì “RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.” [7]
Trang 23quan RRTD có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ Do vậy, các TCTD luôn dự kiến trước RRTD trong chiến lược kinh doanh của mình
1.2.1.3 Biểu hiện của rủi ro tín dụng
* TCTD có thể xác định RRTD trên nhiều tiêu chí như:
- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ;
- Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu;
- Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng rủi ro tín dụng;
- Nợ cần chú ý có nguy cơ chuyển thành nợ xấu;
- Nợ không có tài sản đảm bảo có dấu hiệu chuyển thành nợ xấu;
* Ngoài ra, các TCTD còn sử dụng một số chỉ tiêu để đánh giá RRTD như:
- Hệ số rủi ro tín dụng:
Hệ số RRTD = Tổng dư nợ cho vay/ Tổng tài sản có
Hệ số này cho ta thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản có, khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn nhưng đồng thời rủi ro tín dụng cũng rất cao Thông thường, tổng dư nợ cho vay của TCTD được chia thành 3 nhóm: Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng xấu; Nhóm
dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng tốt; Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng trung bình
- Chỉ tiêu dư nợ trên vốn huy động:
Chỉ tiêu này có ý nghĩa là có bao nhiêu đồng vốn huy động tham gia vào dư
nợ Chỉ tiêu này lớn chứng tỏ vốn huy động tham gia vào dư nợ ít, khả năng huy động vốn của TCTD chưa được tốt
Dư nợ trên vốn huy động = Dư nợ/ Vốn huy động
- Chỉ tiêu hệ số thu nợ:
Trang 24Hệ số thu nợ cao cho thấy công tác thu nợ đang tiến triển tốt, RRTD thấp Chỉ tiêu này còn biểu hiện khả năng thu hồi nợ của TCTD từ việc cho khách hàng vay
Hệ số thu nợ = Doanh số thu nợ/ Doanh số cho vay
1.2.1.4 Phân loại rủi ro tín dụng
Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, RRTD phân chia thành các loại sau:
- Rủi ro giao dịch (Transaction risk): là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay
+ Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề
- Rủi ro danh mục (Porfolio risk): là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
+ Rủi ro nội tại (Intrinsic risk): xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng
có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh
tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
Trang 25+ Rủi ro tập trung (Concentration risk) là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
1.2.1.5 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
Quan hệ tín dụng giữa khách hàng và các TCTD chịu ảnh hưởng của môi trường kinh doanh RRTD xuất phát từ môi trường kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan RRTD xuất phát từ khách hàng và TCTD được gọi là rủi
ro do nguyên nhân chủ quan
Những nguyên nhân chính dẫn đến RRTD như:
a Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định:
+ Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới:
Nền kinh tế Việt Nam còn phụ thuộc quá nhiều vào nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp như nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu, dầu thô, may mặc, vốn nhạy cảm với thời tiết và giá cả thế giới nên rất dễ chịu tác động và tổn thương khi kinh tế thế giới có dấu hiệu xấu đi
Những biến động và thách thức của kinh tế toàn cầu đã và đang tác động đến kinh tế trong nước trên các mặt chủ yếu như tăng trưởng kinh tế trong nước suy giảm (tăng trưởng GDP năm 2012 của Việt Nam chỉ ở mức 5,03%); nhu cầu nước ngoài giảm (đặc biệt cầu của Khu vực đồng Euro, Mỹ) sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến
hoạt động xuất khẩu của Việt Nam, các dòng vốn FDI và ODA vào Việt Nam
Thương mại toàn cầu tăng trưởng chậm và xu hướng tăng cường các rào cản thương mại tại các thị trường xuất khẩu chủ lực (Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản) sẽ tạo nhiều khó khăn cho xuất khẩu của Việt Nam
+ Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế:
Trang 26Quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập kinh tế quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra môi trường cạnh tranh gay gắt khiến hầu hết các doanh nghiệp là khách hàng của TCTD phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, các TCTD cũng chịu sự cạnh tranh quyết liệt lẫn nhau để giành thị trường cũng khiến cho các TCTD trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ được các TCTD mạnh thu hút trong đó có các ngân hàng nước ngoài
+ Sự gia tăng của hàng nhập lậu:
Hiện nay, các nhà quản lý và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng nội địa đang phải đối mặt với hàng nhập lậu gia tăng
Các doanh nghiệp sản xuất trong nước lẫn các đơn vị kinh doanh hàng nhập khẩu chính ngạch, một trong số những điều khiến các doanh nghiệp đau đầu hiện nay là việc một số người tiêu dùng biết đó là hàng nhập lậu nhưng vẫn tiếp tay tiêu thụ để được giá rẻ Chính sự gia tăng của hàng nhập lậu dẫn đến tình trạng khó khăn của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng trong nước và các TCTD cho các
doanh nghiệp này vay vốn
b Môi trường pháp lý chưa thuận lợi
Môi trường pháp lý hiện còn nhiều chồng chéo, bất cập luôn có khả năng gây
ra những rủi ro khó lường cho các TCTD
Hiện nay, văn bản hướng dẫn của nhà nước trong hoạt động ngân hàng nhiều, nhưng vẫn thiếu; hoạt động của các TCTD phải tuân thủ quá nhiều quy định của pháp luật của các ngành khác, bởi nghiệp vụ ngân hàng liên quan đến hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề Trong khi đó, hệ thống pháp luật còn chồng chéo, mâu thuẫn, chậm được hướng dẫn cụ thể… Do đó, các ngân hàng cần hiểu rõ những vướng mắc pháp lý trong thực tiễn triển khai, từ đó có thể phòng tránh rủi ro và tìm giải pháp khắc phục, bởi việc kiến nghị hoàn thiện pháp luật tốn rất nhiều thời gian, trong khi hoạt động kinh doanh phát sinh hàng ngày Trong đó có những nội dung
Trang 27nảy sinh nhiều vướng mắc như giấy phép hoạt động, lãi suất huy động, việc đảo nợ, vấn đề bảo lãnh, giới hạn dư nợ cấp tín dụng, mua cổ phần của ngân hàng khác…
c Hiệu quả thanh tra, kiểm tra, giám sát của NHNN chưa cao
Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng
và đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng.Năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh mới phát sinh và công nghệ trong hoạt động của các TCTD Thanh tra ngân hàng chưa nắm bắt và theo kịp Nhiều trường hợp các sai phạm của các TCTD chưa được thanh tra NHNN cảnh báo, có biện pháp ngăn chặn từ đầu hoặc có cảnh báo nhưng chưa có biện pháp xử lý quyết liệt, dẫn đến khi hậu quả nặng nề đã xảy
ra rồi mới can thiệp Năng lực thanh tra, giám sát của NHNN trong một thời gian
dài còn hạn chế, chưa phát huy hiệu lực, hiệu quả trong việc phát hiện, ngăn chặn và
xử lý kịp thời các vi phạm và rủi ro trong hoạt động tín dụng của các TCTD, nhất là các vi phạm quy định về hạn chế cấp tín dụng và việc đầu tư quá mức vào một số lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao
d Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập
Các công ty định mức tín nhiệm mới ra đời và hoạt động còn thiếu chuyên
nghiệp, gặp nhiều khó khăn trong hoạt động Có thể kế đến như: công ty cổ phần xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp Việt Nam (CRV); Trung tâm thông tin tín dụng (CIC- thuộc NHNN) và Trung tâm đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp (CRVC- thuộc Công ty Phần mềm và Truyền thông VASC …) Một số hoạt động đánh giá tín nhiệm từ CIC hay của một số doanh nghiệp đều hết sức sơ sài và không đủ sức tin cậy cho giới đầu tư, thậm chí một số hoạt động còn gây tác hại cho thị trường tài chính hoặc làm cho nhà đầu tư nhỏ lẻ và dân chúng hiểu nhầm Để đánh giá năng lực tài chính của một tổ chức, những người đi đánh giá phải thật sự giỏi, có kinh nghiệm quốc tế, khách quan độc lập, không vụ lợi và không thỏa hiệp với doanh nghiệp (chính là tổ chức đi thuê và trả tiền dịch vụ)
Trang 28+ Sử dụng vốn vay sai mục đích:
Trong quá trình vay vốn, nếu khách hàng không trung thực và cố tình che giấu TCTD cho vay để sử dụng vốn sai mục đích so với phương án vay vốn ban đầu, cố ý lừa đảo TCTD sẽ dẫn đến RRTD Việc sử dụng vốn sai mục đích gây ra hậu quả tổn thất vốn cho các TCTD, ảnh hưởng đến uy tín của TCTD
+ Khả năng quản lý kinh doanh kém:
Khi các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để mở rộng quy mô kinh doanh,
đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào hệ thống quản lý, bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực để quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả Quy mô kinh doanh mở rộng nhưng khả năng quản lý không theo kịp dễ dẫn đến nguy cơ không kiểm soát hoặc kiểm soát hoạt động kinh doanh không thường xuyên là nguyên nhân dẫn đến phá sản phương án kinh doanh ban đầu đã đề ra hoặc không thực hiện được phương án vay vốn ban đầu
+ Tình hình tài chính của khách hàng yếu kém, thiếu minh bạch:
Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn chủ sở hữu cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam Tình hình ghi chép sổ sách kế toán chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho TCTD còn mang nặng tính hình thức Đa số các báo cáo tài chính của khách hàng không được kiểm toán hoặc được kiểm toán nhưng chất lượng không cao do được các tổ chức kiểm toán không uy tín thực hiện
f Rủi ro do nguyên nhân từ phía TCTD:
+ Đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng còn thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn:
Một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng tín dụng là đạo đức và năng lực của cán bộ làm công tác tín dụng Dù trình độ chuyên môn của các
Trang 29cán bộ làm công tác tín dụng có tốt nhưng không có đạo đức thì nguy cơ RRTD xảy
ra rất lớn
+ Thiếu giám sát và kiểm tra sau cho vay không thường xuyên:
TCTD thường chú trọng đến công tác thẩm định trước khi cho vay hơn là kiểm tra sau cho vay đối với khách hàng Theo dõi khoản nợ là một trong những việc quan trọng mà các TCTD phải chú trọng Việc theo dõi khoản vay của khách hàng sau giải ngân một cách thường xuyên giúp cho việc quản lý vốn của các TCTD có được sử dụng đúng mục đích theo hợp đồng với khách hàng hay không Bên cạnh đó, việc làm này còn giúp cho các TCTD phát hiện và ngăn chặn kịp thời nếu xảy ra trường hợp khách hàng sử dụng vốn sai mục đích như các TCTD có thể ngừng giải ngân hoặc có biện pháp thu hồi nợ trước hạn,… Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua các TCTD chưa thật sự chú trọng đến công tác kiểm tra, giám sát vốn sau cho vay do một phần tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của cán bộ tín dụng, hơn nữa khi đã được TCTD cho vay vốn, khách hàng thường chậm trễ trong việc cung cấp hóa đơn chứng từ và những tài liệu chứng minh mục đích sử dụng vốn cho TCTD
+ Sự hợp tác giữa các TCTD còn lỏng lẻo:
Việc phối hợp trao đổi thông tin giữa các TCTD về khách hàng vay vốn là việc nên làm khi khách hàng có dư nợ tại nhiều TCTD RRTD là không thể tránh khỏi do đó các TCTD cần hợp tác với nhau để hạn chế RRTD Sự hợp tác nảy sinh
do nhu cầu quản lý RRTD đối với một khách hàng khi khách hàng này vay tại nhiều TCTD Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng được định lượng bằng con số tương đối nhưng có giới hạn tối đa Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều TCTD cùng cho vay một khách hàng nhưng vượt quá giới hạn tối đa này thì RRTD có thể xảy ra đối với tất cả các TCTD đã cho vay
1.2.1.6 Tác động của RRTD đến hoạt động của TCTD và nền kinh tế xã hội
Trang 30a Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của TCTD
Khi RRTD xảy ra, TCTD không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng TCTD phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này sẽ làm cho TCTD mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho TCTD kinh doanh không hiệu quả, chi phí của TCTD tăng lên so với dự kiến
Nếu một khoản vay nào đó bị mất khả năng thu hồi thì TCTD phải sử dụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền, đến một chừng mực nào đấy, TCTD không có đủ nguồn vốn để trả cho người gửi tiền thì TCTD sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến nguy cơ gặp rủi ro thanh khoản Và kết quả là làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy tín, sức cạnh tranh giảm không những trong thị trường nội địa mà còn lan rộng ra các nước, kết quả kinh doanh của ngân hàng ngày càng xấu có thể dẫn TCTD đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời
b Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội
Khi một TCTD gặp phải RRTD hay bị phá sản thì ảnh hưởng tâm lý đến người gửi tiền ở các TCTD khác có thể gây ra tình trạng kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các TCTD khác, làm cho toàn bộ hệ thống TCTD gặp phải khó khăn
RRTD của một TCTD xảy ra ở mức độ khác nhau: ở mức độ thấp là TCTD
bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, phải trích lập thêm chi phí dự phòng RRTD, ở mức độ cao hơn khi TCTD không thu được vốn và lãi, nợ không có khả năng thu hồi với tỷ lệ cao dẫn đến TCTD bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, TCTD sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nến kinh tế nói chung và hệ thống TCTD nói riêng
1.2.2 Quản trị RRTD
1.2.2.1 Khái niệm và mục tiêu về quản trị RRTD
a Khái niệm quản trị RRTD:
Trang 31Trong lĩnh vực ngân hàng, RRTD là điều không thể tránh khỏi Việc chấp nhận và quản lý RRTD là nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh ngân hàng Tuy nhiên, các loại RRTD chấp nhận được phải được TCTD tín đến trong chiến lược kinh doanh của mình và cần được hiểu thấu đáo, được đo lường, được kiểm soát và nằm trong phạm vi khả năng sẵn sàng ứng phó với những bất lợi có thể chấp nhận được của TCTD
Quản trị RRTD là quá trình TCTD tác động đến hoạt động tín dụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa việc không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay hoặc thu gốc và lãi đúng hạn
b Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng:
- Đảm bảo an toàn cho hoạt động của TCTD
- Góp phần gia tăng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng của TCTD, nếu quản lý
và đánh giá tốt rủi ro
1.2.2.2 Sự cần thiết của quản trị RRTD
Để hạn chế những rủi ro phải làm tốt từ khâu phòng ngừa cho đến khâu giải quyết hậu quả do rủi ro gây ra, cụ thể như:
- Dự báo, phát hiện rủi ro tiềm ẩn: phát hiện những biến cố không có lợi, ngăn chặn các tình huống không có lợi đã và đang xảy ra và có thể lan ra phạm vi rộng Giải quyết hậu quả rủi ro để hạn chế các thiệt hại đối với tài sản và thu nhập của TCTD Đây là quá trình logic chặt chẽ Do đó, cần có quản trị để đảm bảo tính thống nhất
- Phòng chống rủi ro được thực hiện bởi các nhân viên, cán bộ lãnh đạo TCTD Trong TCTD, nhân viên có thể có suy nghĩ và hành động khác, có thể trái ngược hoặc cản trở nhau Vì thế cần có quản trị để mọi người hành động một cách thống nhất
Trang 32- Quản trị đề ra những mục tiêu cụ thể giúp TCTD đi đúng hướng Phải có kế hoạch hành động cụ thể và hiệu quả phù hợp với mục tiêu đề ra
1.2.2.3 Nhiệm vụ của quản trị RRTD
Đối với hầu hết các TCTD, RRTD là rủi ro chính trong các loại rủi ro, và việc quản lý rủi ro này là một cách hiệu quả là vô cùng quan trọng đối với an toàn
và lành mạn của TCTD Bời vì, RRTD tồn tại trong cả nội bảng và ngoại bang, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất là TCTD vừa phải thực hiện việc kiểm soát rủi ro này để nhận dạng một cách chính xác nguồn trả nợ và khả năng trả nợ của người vay ngay tại giai đoạn đầu tiên của giao dịch tín dụng, vừa phải đánh giá các giai đoạn tiếp theo cho đến khi đáo hạn hoặc kết thúc giao dịch Việc đánh giá khả năng và mức độ sẵn sàng trả nợ của người vay hoặc việc thực hiện theo hợp đồng
đã thuận là trọng tâm của việc đánh giá mức độ tín nhiệm của người vay đó
1.2.2.4 Một số phương pháp lượng hóa và đánh giá rủi ro tín dụng
RRTD được thể hiện cơ bản nhất là do khả năng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên việc đánh giá mức độ tín nhiệm của người vay là vô cùng quan trọng để
đo lường mức độ rủi ro Việc này được thực hiện thông qua việc sử dụng cả hai phương pháp: các chỉ số định lượng như các hệ số và các xu hướng để đánh giá tình hình tài chính và các yếu tố định tính thu thập được thông qua kiến thức của TCTD
và kinh nghiệm giải quyết đối với những người vay trong quá khứ Các ví dụ về tiêu chí định tính bao gồm việc đánh giá chất lượng của đội ngũ quản lý của khách hàng vay, hoặc vị thế của khách hàng đó trong một lĩnh vực và mức độ cạnh tranh dự tính
TCTD luôn phải sử dụng cả các yếu tố định tính và định lượng trong việc đánh giá mức độ tín nhiệm của người vay, tuy nhiên, việc cân bằng giữa hai phương pháp này sẽ khác nhau đáng kể phụ thuộc vào các tiêu chí phân tích của chính TCTD và các loại hình tín dụng mở rộng Không tính đến sự cân bằng giữa các yếu
tố định tính và định lượng, việc đánh giá cần phải được ghi chép vào hồ sơ, và bất
Trang 33cứ phương pháp nào được sử dụng đều phải hỗ trợ một cách hợp lý cho việc quyết định mở rộng tín dụng và chấp nhận rủi ro
* Mô hình định tính về RRTD:
Đối với mỗi khoản vay, TCTD đặt ra câu hỏi trước khi tiếp cận với bất kỳ một khách hàng nào có nhu cầu vay vốn là liệu khách hàng có thiện chí và khả năng trả nợ khi đến hạn khoản vay hay không Để trả lời câu hỏi này, các TCTD cần xem xét và đánh giá trên các tiêu chí sau đối với khách hàng vay vốn:
- Tư cách người vay: cán bộ tín dụng cần làm rõ mục đích và nhu cầu vay vốn của khách hàng, mục đích đó có phù hợp với chính sách tín dụng đang áp dụng tại TCTD và phù hợp với kế hoạch sản xuất, kinh doanh, nhu cầu thực tế của khách hàng hay không? Đối với các khách hàng cũ cần xem xét về lịch sử đi vay
và trả nợ của khách hàng, đối với khách hàng mới cần tìm hiểu thông tin của khách hàng qua các tổ chức có đánh giá chất lượng tín dụng như trung tâm thông tin tín dụng, từ các TCTD khác và từ cơ quan thông tin đại chúng,…
- Năng lực của người đi vay: xem xét năng lực pháp lý và năng lực hành vi dân sự của người đi vay, nếu người đi vay đại diện cho tổ chức thì xem xét việc đại diện đấy có hợp pháp không
- Thu nhập của người đi vay: xác định nguồn trả nợ của khách hàng như nguồn trả nợ từ doanh thu bán hàng hay lương hàng tháng,… Cần đánh giá và xem xét nguồn thu nhập phải rõ ràng, tham khảo từ nhiều nguồn thông tin không chỉ dựa trên thông tin do khách hàng cung cấp
- Bảo đảm tiền vay: Đây là điều kiện để các TCTD cấp tín dụng và là nguồn tài sản thứ hai của khách hàng để có thể trả nợ cho TCTD khi nguồn thu nhập chính để trả nợ không đủ hoặc không thực hiện được
- Các điều kiện khác: Các TCTD quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng của từng thời kỳ
Trang 34- Kiểm soát: Trong hoạt động quản trị RRTD, các TCTD cần theo dõi và kiểm soát khoản vay từ khi bắt đầu phát sinh cho đến khi kết thúc do trong quá trình thực hiện cấp tín dụng, việc cấp tín dụng còn chịu sự ảnh hưởng của sự thay đổi về pháp luật
Việc sử dụng mô hình định tính tương đối đơn giản, do đó có hạn chế là mô hình định tính phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo, kỹ năng và trình độ phân tích của cán bộ tín dụng
* Lượng hóa RRTD:
a Xây dựng Hệ thống xếp hạng rủi ro nội bộ:
Các hệ thống xếp hạng rủi ro nội bộ là một trong những công cụ quan trọng nhất mà người quản trị tín dụng phải có để quản trị và kiểm soát RRTD
“Nội bộ” nghĩa là TCTD phải xây dựng và phát triển một quy trình và phương pháp của mình trong việc xếp hạng để đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng Các xếp hạng này có thể lập dưới dạng số, ký tự hoặc điểm trong mô hình chấm điểm Tuy nhiên, đối với phương pháp được chọn, xếp hạng này có thể phân biệt người vay bằng cách dự tính về việc hoàn trả nợ của họ Các hệ thống xếp hạng rủi ro không được quá phức tạp để có hiệu quả và cần phải phù hợp với chức năng quản trị rủi ro, khả năng đo lường rủi ro của TCTD TCTD nhỏ hơn có thể dựa chủ yếu vào các nhân tố lịch sử như tình hình nợ quá hạn để đánh giá chất lượng của người thực hiện nghĩa vụ và chất lượng danh mục tín dụng, trong khi các TCTD lớn hơn hoặc phức tạp hơn có thể sử dụng mô hình thống kê chuẩn để xác định mức độ tín nhiệm của người vay
Khi TCTD chưa phát triển được hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ hoặc chưa nhận được sự phê chuẩn để sử dụng hệ thống này, NHNN sẽ xếp hạng một
số khoản mục tài sản có chất lượng thấp và tài sản bị suy giảm giá trị, các khoản mục ngoại bảng như quy định tại Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 quyết định của Thống đốc NHNN ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng
Trang 35của TCTD (sau đây viết tắt là Quyết định 493) Nhiều TCTD vẫn sử dụng phương pháp xếp loại như theo Quyết định 493 cho đến khi hệ thống xếp hạng nội bộ được hoàn thiện và đưa vào thực hiện Các phân loại và tỷ lệ dự phòng cụ thể theo Quyết định 493 và quy định sửa đổi 493 như sau:
Đây là mô hình do nhà kinh tế học Hoa Kỳ Edward I Altman, giảng viên trường đại học New York thiết lập Mô hình này xây dựng để xác định hệ số nguy
cơ phá sản (Z-Score) giúp các nhà quản trị RRTD có thể đánh giá rủi ro tốt hơn, thậm chí có thể dự đoán được nguy cơ phá sản của doanh nghiệp trong tương lai gần Do đó, có thể dùng để cho điểm tín dụng đối với cá doanh nghiệp vay vốn:
Công thức tính hệ số nguy cơ phá sản:
Trang 36 A4 = (Giá thị trường của cổ phiếu*Số lượng cổ phiếu lưu hành)/Tổng nợ
A5 = Hiệu quả sử dụng tài sản
Chú thích:
Vốn lưu động = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
Hiệu quả sử dụng tài sản = Doanh thu/Tổng tài sản
Sau khi đã tính toán được hệ số nguy cơ phá sản rồi, các nhà đầu tư sẽ đối chiếu với các giá trị sau:
Nếu Z-Score ≥ 2.99 thì doanh nghiệp có tài chính lành mạnh
Nếu 1.81<Z-Score<2.99 thì doanh nghiệp không có vấn đề trong
ngắn hạn, tuy nhiên cần phải xem xét điều kiện tài chính một cách thận trọng
nếu Z-Score ≤ 1.81 thì doanh nghiệp có vấn đề nghiêm trọng về tài
chính
- Ưu điểm của mô hình này là kỹ thuật đo lường RRTD tương đối đơn giản
- Nhược điểm của mô hình này chỉ cho phép phân loại nhóm khách hàng vay có rủi ro và không có rủi ro
1.2.2.5 Phương pháp quản trị RRTD:
a Giám sát của Hội đồng quản trị đối với RRTD
Mức độ phức tạp và quy mô của việc quản trị RRTD trong hầu hết các TCTD đòi hỏi Hội đồng quản trị (HĐQT) phải thiết lập ủy ban tín dụng để tập trung vào quản trị RRTD và báo cáo, đưa ra các kiến nghị cho HĐQT Bất kể là trách nhiệm được phân bổ cho một ủy ban HĐQT hay là trách nhiệm của cả HĐQT thì việc giám sát RRTD cần nhiều thời gian và nỗ lực của HĐQT
Trang 37HĐQT thiết lập chính sách có tính chiến lược về RRTD của TCTD Thông qua chiến lược tín dụng, HĐQT đưa ra các yêu cầu rõ ràng về:
- Trách nhiệm giám sát các danh mục có RRTD;
- Các loại cho vay, cam kết, bảo lãnh… mà TCTD sẽ cấp hoặc không cấp cho khách hàng;
- Người vay, khách hàng mà TCTD muốn quan hệ hoặc không muốn quan
hệ, những hoạt động kinh doanh mà TCTD muốn thực hiện hoặc không muốn thực hiện;
- Mức độ chấp nhận rủi ro thường thể hiện: các tài sản đảm bảo có thể chấp nhận được; giới hạn cho vay tối đa trên giá trị tài sản đảm bảo; mức tín dụng tối đa; kỳ hạn tín dụng tối đa,…
Thông qua trách nhiệm phê chuẩn chỉ tiêu hoạt động hàng năm, HĐQT cũng phải thiết lập các mức lợi nhuận kỳ vọng cho từng hoạt động của TCTD Chiến lược tín dụng cũng nên đưa ra hạn mức về RRTD cho một khách hàng hoặc một đối tác, cho một nhóm khách hàng liên quan, cho một ngành hoặc một khu vực địa lý hay một quốc gia Việc tập trung tín dụng hoặc các hạn mức rủi ro lớn cần phải được thiết lập theo tỷ lệ % so với với của TCTD HĐQT cần phải rà soát việc tuân thủ các hạn mức mà TCTD đưa ra cũng như việc tuân thủ các giới hạn
an toàn mà NHNN quy định
b Các chính sách, thủ tục, hạn mức quản trị RRTD
TCTD phải chịu trách nhiệm thực hiện chiến lược RRTD, xây dựng các chính sách, thủ tục, hạn mức RRTD và quản lý RRTD trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của TCTD có trạng thái RRTD cao có thể bao gồm mọi loại cho vay, cam kết, bảo lãnh, hợp đồng, đầu tư, phải đòi các TCTD khác
Từng loại sản phẩm mới phải được đánh giá và được Chủ tịch HĐQT phê chuẩn trước khi đưa sản phẩm đó ra phục vụ công chúng
Trang 38Các chính sách và thủ tục nên bao gồm các tiêu chí cấp hoặc phê duyệt tín dụng được xác định rõ ràng Những tiêu chí này phải chỉ rõ các tiêu chuẩn của TCTD đối với sự tăng cường hiểu biết về người vay, mục đích và cơ cấu của khoản tín dụng và các phân tích về mức độ tín nhiệm của người vay bao gồm cả các nguồn trả nợ
Chính sách và thủ tục bảo lãnh tín dụng phải bảo đảm rằng tất cả các tài liệu cần thiết đều được khách hàng cung cấp, các thông tin quan trọng được kiểm tra và phải hoàn thiện một bản phân tích chi tiết về năng lực và mức độ sẵn sàng hoàn trả nợ của người vay và tỷ suất lợi nhuận của từng khoản tín dụng trước khi giao dịch tín dụng được thực hiện hoặc nguồn vốn được giải ngân
Các chính sách đối với lĩnh vực cho vay cần phải thường xuyên chỉ rõ các tiêu chuẩn và định giá đối với tài sản thế chấp, bao gồm cả trường hợp tình hình kinh tế xấu Điều này là rất quan trọng trong trường hợp tài sản thế chấp không có tính thanh khoản và hàng năm cần phải định giá lại tài sản thế chấp Tùy vào loại tài sản thế chấp mà TCTD tiến hành định giá có thể thường xuyên hơn trong một năm như tài sản thế chấp là chứng khoán thì TCTD thường định lại lại thường xuyên hơn chứ không định giá hàng năm, tùy thuộc vào mức độ, kỳ hạn và tình trạng rủi ro
c Hệ thống thông tin quản lý và quản trị tín dụng
- Quản trị tín dụng là tên gọi của một nhóm công việc về giám sát RRTD liên tục Nó khác với việc giám sát định kỳ của HĐQT hoặc Ủy ban tín dụng ở chỗ quản trị tín dụng là một chức năng hàng ngày trong TCTD
Quản trị tín dụng bao gồm quy trình cấp tín dụng, lập và lưu trữ hồ sơ tài liệu, dịch vụ tín dụng, giám sát và báo cáo, trích lập dự phòng và dự trữ, xử lý khách hàng vay có vấn đề và điều phối các hành động khắc phục (tái cho vay, thu hồi nợ, phát mại tài sản thế chấp) Phần lớn những trách nhiệm này được quy định trong các chính sách và thủ tục của TCTD, quản trị tín dụng hỗ trợ cho việc đảm bảo thực hiện quy trình
Trang 39Cơ cấu của bộ phận quản trị tín dụng do HĐQT và Ban điều hành quyết định thông qua chiến lược, chính sách và các quyết định tổ chức khác và cơ cấu này ở các TCTD là khác nhau Bao gồm các luồng báo cáo, trách nhiệm và chức danh của các bộ phận chức năng tín dụng
Trong bộ phận quản trị tín dụng, các nhiệm vụ cần phải được phân tách để đảm bảo rằng không có người nào có khả năng kiểm soát tất cả các mặt của một giao dịch
- Đánh giá chất lượng tín dụng: Việc phân tích rủi ro đối với những khoản cho vay phải tuân theo các quy trình tiêu chuẩn hóa để đảm bảo rằng mỗi khoản tín dụng phải được xếp hạng và định giá thích hợp Rủi ro cao hơn phái có mức thu nhập cao hơn và TCTD phải định giá rủi ro phù hợp với mức độ rủi ro
- Các yêu cầu về hồ sơ và lưu trữ tài liệu: TCTD có chính sách, thủ tục, thông lệ rõ ràng, phù hợp nhằm đảm bảo rằng các hồ sơ tín dụng được lưu trữ đầy
đủ và hoàn thiện trước khi khoản vay được chấp thuận và giải ngân Bên cạnh đó, phải có các quy trình để cập nhật các hồ sơ, từ đó TCTD có những thông tin cập nhật và chính xác về điều kiện tài chính, khả năng hoàn trả, giá trị tài sản thế chấp, hoặc công việc kinh doanh của người vay
- Các bảo cáo và quy trình để giám sát liên tục các trạng thái chứa đựng RRTD:
Một hệ thống thông tin quản lý hiệu quả, chính xác và kịp thời là một yếu
tố cần thiết đối với việc quản trị tín dụng hiệu quả Lãnh đạo TCTD cần có một hệ thống để giám sát thành phần và chất lượng tổng thể của danh mục tín dụng cũng như các xu hướng của chúng
Các TCTD phải có hệ thống thông tin và kỹ thuật phân tích cho phép lãnh đạo TCTD đo lường được RRTD tiềm ẩn trong các hoạt động nội bảng và ngoại bảng cân đối Hệ thống thông tin quản lý cung cấp thông tin đầy đủ về kết cấu của danh mục tín dụng trong đó bao gồm việc nhận dạng tập trung rủi ro Các loại
Trang 40tùy thuộc vào số lượng các yếu tố nhưng cần thiết báo cáo chuẩn Các báo cáo cần chính xác và cung cấp kịp thời cho lãnh đạo TCTD những thông tin cần thiết
Danh mục các báo cáo mà TCTD thường sử dụng để quản trị RRTD: Báo cáo phân loại tín dụng nội bộ; Báo cáo dự phòng chung và dự phòng cụ thể; Các báo cáo ở cấp độ danh mục chỉ rõ trạng thái rủi ro tổng thể thông qua việc xếp hạng cũng như phân loại tín dụng theo ngành, địa lý, theo loại tiền tệ,…nếu những trạng thái rủi ro này lớn so với tổng tài sản, vốn hoặc thu nhập; Các báo cáo về khoản tín dụng quá hạn trong việc trả gốc hoặc lãi; Báo cáo tóm tắt về khoản cho vay; Báo cáo về những khách hàng có vấn đề và chiến lược xử lý của TCTD,
d Kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ và rà soát tín dụng nội bộ
- TCTD phải thành lập một hệ thống độc lập, đánh giá thường xuyên quy trình quản lý RRTD của TCTD và các kết quả của những đợt kiểm tra này cần được thông báo trực tiếp đến HĐQT, Ban điều hành của TCTD
Quy trình giám sát tín dụng cần có một hệ thống nhận dạng sớm những vấn
đề nảy sinh của TCTD để có những quyết định chủ động Khi các khoản tín dụng cho khách hàng có dấu hiệu yếu kém có thể nhận định qua hoạt động kinh doanh xấu, thường trả nợ muộn và hay bị ảnh hưởng xấu bởi thiên tai, những thay đổi ngoài dự tính trong chính sách của chính phủ hoặc tình hình kinh tế suy yếu
- Đối với RRTD, kiểm soát nội bộ tiêu chuẩn thường được bộ phận rà soát tín dụng nội bộ hỗ trợ một cách có hiệu quả Mục đích chính của bộ phận rà soát tín dụng nội bộ là thực hiện kiểm tra các khía cạnh chính của quy trình cấp, giám sát và quản lý tín dụng Bộ phận rà soát tín dụng nội bộ nằm ngoài bộ phận cấp và giám sát tín dụng thông thường, bộ phận này phải có kênh báo cáo độc lập với các
bộ phận khác mà thực hiện việc cho vay và quản lý tín dụng trong TCTD
Bộ phận rà soát tín dụng báo cáo cho HĐTD và Ủy ban tín dụng hoặc ủy ban kiểm soát, nhân viên của bộ phận này phải hiểu về chính sách, thủ tục và hạn mức, có kỹ năng đánh giá và phân tích tín dụng tốt