Quản lý tài chính các doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam trong quy luật phát triển có thể thấy tính tất yếu của việc hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty cổ phần
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
PHAN THỊ HOA
QU¶N Lý TµI CHÝNH T¹I C¤NG TY Cæ PHÇN THIÕT BÞ X¡NG DÇU PETROLIMEX
Chuyªn ngành : QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, các kết quả nghiên cứu trong luận văn là xác thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác trước đó
Tác giả
Phan Thị Hoa
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu và học tập tại Trường đại học kinh tế Đại học Quốc Gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô, em đã nghiên cứu và tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích để vận dụng vào công việc hiện tại nhằm nâng cao trình độ năng lực năng lực của bản thân
Luận văn thạc sĩ “Quản lý tài chính tại Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu
Petrolimex” là kết quả của quá trình nghiên cứu trong những năm học vừa qua
Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới PGS.TS Lê Thị Anh Vân - người
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em về mọi mặt trong quá trình thực hiện luận văn
Em cũng xin cảm ơn các thầy cô đã tham gia giảng dạy, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
Xin cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập và hoàn thành bản luận văn này
Dù đã có nhiều cố gắng nhưng do giới hạn về trình độ nghiên cứu, giới hạn
về tài liệu nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và những người quan tâm
Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2014
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iii
Phần mở đầu: GIỚI THIỆU VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 4
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH 4
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 7
1.2.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp 7
1.2.2 Quản lý tài chính trong doanh nghiệp 13
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 35
2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU 35
2.2.1 Địa điểm thực hiện nghiên cứu 35
2.2.2 Thời gian thực hiện nghiên cứu 35
2.3 CÔNG CỤ ĐƯỢC SỬ DỤNG 36
2.4 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP, TÍNH TOÁN, LỰA CHỌN ĐƠN VỊ PHÂN TÍCH 36
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ XĂNG DẦU PETROLIMEX 37
3.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ XĂNG DẦU PETROLIMEX 37
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Công ty cổ phần Thiết bị xăng dầu Petrolimex 37
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của công ty cổ phần Thiết bị xăng dầu Petrolimex 42
3.1.3 Cơ cấu bộ máy quản lý tài chính của Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex 43
3.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ XĂNG DẦU PETROLIMEX 44
Trang 53.2.1 Tình hình tài chính của Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex 44
3.2.2 Tình hình quản lý tài sản tại Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex 47
3.2.3 Tình hình quản lý nguồn vốn tại Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex 54
3.2.4 Tình hình quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận tại Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex 59
3.2.5 Tình hình quản lý các hoạt động đầu tư tại Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex 66
3.3 ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ XĂNG DẦU PETROLIMEX 68
3.3.1 Đánh giá theo tiêu chí 68
3.3.2 Đánh giá theo nội dung quản lý tài chính 71
Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ XĂNG DẦU PETROLIMEX 76
4.1 ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ XĂNG DẦU PETROLIMEX TRONG THỜI GIAN TỚI 76
4.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ XĂNG DẦU PETROLIMEX 77
4.2.1 Giải pháp hoàn thiện quản lý tài sản 77
4.2.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý vốn 79
4.2.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận 82
4.2.4 Giải pháp hoàn thiện quản lý đầu tư 87
4.2.5 Nhóm giải pháp khác 88
4.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 93
4.3.1 Kiến nghị với Nhà nước 93
4.3.2 Kiến nghị với Tập đoàn xăng dầu Việt Nam 93
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Nhân sự Phòng Tài chính Kế toán Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu
Petrolimex năm 2013 44 Bảng 3.2 Tình hình tài chính của Công ty cổ phần Thiết bị xăng dầu
Petrolimex giai đoạn 2009-2013 45 Bảng 3.3 Công nợ phải thu của công ty giai đoạn 2009-2013 48 Bảng 3.4 Công nợ phải thu khách hàng Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu
Petrolimex năm 2013 49 Bảng 3.5 Hàng tồn kho của Công ty thiết bị xăng dầu Petrolimex giai đoạn
2009-2013 50 Bảng 3.6 Biến động tài sản cố định hữu hình của Công ty cổ phần thiết bị xăng
dầu Petrolimex năm 2013 51 Bảng 3.7 Biến động khấu hao tài sản cố định hữu hình của Công ty cổ phần
thiết bị xăng dầu Petrolimex năm 2013 54 Bảng 3.8 Cơ cấu nguồn vốn của Công ty thiết bị xăng dầu Petrolimex giai đoạn
2009-2013 56 Bảng 3.9 Tỷ suất tự tài trợ của Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex
giai đoạn 2009- 2013 58 Bảng 3.10 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Thiết bị xăng
dầu Petrolimex giai đoạn 2009-2013 61 Bảng 3.11 Chi phí của Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex giai đoạn
2011-2013 63 Bảng 3.12 Hoạt động đầu tư của Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex
giai đoạn 2011-2013 67 Bảng 4.1 Theo dõi tuổi nợ 82 Bảng 4.2 Kế hoạch tài chính các năm 2014, 2015 91
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp 28 Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex 38 Hình 3.2 Cơ cấu theo trình độ của cán bộ công nhân viên Công ty cổ phần thiết
bị xăng dầu Petrolimex 41 Hình 3.3 Cơ cấu theo độ tuổi của cán bộ công nhân viên Công ty cổ phần thiết
bị xăng dầu Petrolimex 41 Hình 3.4 Cơ cấu tổ chức Phòng Tài chính Kế toán Công ty cổ phần thiết bị
xăng dầu Petrolimex 43Hình 3.5 Lợi nhuận của Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex giai
đoạn 2011-2013 65 Hình 3.6 Thị phần của Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex và một số
đối thủ cạnh tranh giai đoạn 2011-2013 68 Hình 3.7 Doanh thu của Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex giai
đoạn 2009-2013 69 Hình 3.8 Lợi nhuận sau thuế của Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex
giai đoạn 2009-2013 70 Hình 3.9 Lợi nhuận trên vốn của Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex
giai đoạn 2009-2013 71 Hình 4.1 Phương án cải tiến quy trình chuyển tiền 80
Trang 9Phần mở đầu GIỚI THIỆU VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần gần đây, do điều kiện chính trị thế giới không ổn định, đặc biệt là tại khu vực Trung Đông, cộng với sự phát triển của một số nền kinh tế lớn trên thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ,và các quyết định của tổ chức OPEC, cầu về dầu mỏ luôn vượt quá cung dẫn đến giá dầu mỏ trên thị trường thế giới liên tục tăng lên
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, kinh tế ngày càng phát triển mở rộng, hội nhập mang tính toàn cầu, cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt, để các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả, phải không ngừng nâng cao vai trò quản
lý, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm , do đó vấn đề hoàn thiện công tác quản
lý tài chính là nội dung cơ bản và là nhu cầu cấp bách đối với các doanh nghiệp cũng như các tổ chức kinh tế Quản lý tài chính các doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam trong quy luật phát triển có thể thấy tính tất yếu của việc hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex, thể hiện qua các khía cạnh chủ yếu sau:
Một là, vai trò, vị trí của quản lý tài chính ngày càng được khẳng định đặc
biệt là trong những đơn vị kinh doanh Cần nhận thức đầy đủ hơn tầm quan trọng của quản lý tài chính, quan tâm đến việc xây dựng và hoàn thiện nó tại đơn vị Hoàn thiện quản lý tài chính được coi là công việc cần thiết, thường xuyên liên tục phải làm không chỉ của các thành viên Tập đoàn xăng dầu Việt Nam mà là của tất cả các
tổ chức, các đơn vị, đây là quy luật tất yếu của quá trình vận động và phát triển
Hai là, kinh doanh trong lĩnh vực xăng dầu ngày càng khó khăn phức tạp, giá
cả trên thị trường liên tục biến động, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt Từ đây nảy sinh rất nhiều vấn đề trên tất cả các lĩnh vực quản lý Những hạn chế của cơ chế quản lý đang cản trở sự phát triển của các DNNN Vì vậy hoàn thiện quản lý tài chính tại các công ty kinh doanh xăng dầu, thiết bị xăng dầu là một yếu tố quan
Trang 10Ba là, định hướng chiến lược phát triển của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam là
trở thành tập đoàn kinh tế mạnh của Nhà nước Muốn trở thành tập đoàn kinh tế, một hãng xăng dầu quốc gia mạnh và năng động thì ngoài vấn đề về vốn, công nghệ bản thân các đơn vị thành viên phải mạnh về tổ chức, về cán bộ, mạnh về quản trị nội bộ, về hệ thống kế toán, về hệ thống các quy chế kiểm soát nội bộ… đặc biệt là vấn đề tài chính và quản lý tài chính Điều này chỉ có thể thực hiện được khi Tập đoàn xăng dầu Việt Nam cũng như các doanh nghiệp thành viên hoàn thiện
cơ chế quản lý tài chính, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý điều hành Do vậy, hoàn thiện công tác quản lý tài chính các doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam nói chung và Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex nói riêng là yêu cầu cấp bách để Tập đoàn thực hiện thành công chiến lược phát triển của mình, tiếp tục phát triển bền vững trong tiến trình hội nhập, chủ động nắm bắt
cơ hội, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, giữ vững là doanh nghiệp chủ đạo của Nhà nước trong kinh doanh xăng dầu
Qua đây có thể thấy, quản lý tài chính có tầm quan trọng rất lớn đối với mỗi doanh nghiệp hoặc tổ chức vì: Quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, tổ chức; Kiểm soát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức
Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex là công ty tự chủ về mặt tài chính Do vậy việc chi tiêu, hạch toán hợp lý, tiết kiệm được đặt lên hàng đầu trong
đó quản lý tài chính tốt, hiệu quả là rất quan trọng Song hệ thống quản lý tài chính tại Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex còn một số bất cập, hạn chế
Chính vì những lý do đó , với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại công ty, học viên ma ̣nh da ̣n
chọn đề tài “Quản lý tài chính tại Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex”
làm đối tươ ̣ng nghiên cứu luâ ̣n văn thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là tìm những giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex
Để đạt mục tiêu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Trang 11- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiê ̣n công tác quản lý tài chính tại Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Quản lý tài chính doanh nghiệp là gì?
- Công tác quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Thiết bị xăng dầu Petrolimex hiện nay như thế nào? Còn có những tồn tại gì và nguyên nhân nào dẫn đến những tồn tại?
- Trong thời gian tới, Công ty cổ phần Thiết bị xăng dầu Petrolimex cần thực hiện những giải pháp nào để có thể hoàn thiện công tác quản lý tài chính của mình?
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Quản lý tài chính tại Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Luâ ̣n văn tâ ̣p trung nghiên cứu những nô ̣i dung cơ bản của hoạt động quản lý tài chính tại Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex , bao
gồm: Quản lý tài sản; Quản lý vốn; Quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận; Quản lý
các hoạt động đầu tư
+ Về không gian: Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex
+ Về thờ i gian : Số liê ̣u nghiên cứu đươ ̣c thu thâ ̣p , xử lý và phân tích trong giai đoa ̣n từ 2009 đến 31/12/2013; giải pháp được đề xuất cho những năm tiếp theo
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được trình bày
ở 04 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Thiết bị xăng
dầu Petrolimex
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Thiết
bị xăng dầu Petrolimex
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
Quản lý tài chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quản lý doanh nghiệp Thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh cho thấy, không có một doanh nghiệp nào thành công nếu công tác quản lý tài chính yếu kém, lỏng lẻo
Sự phối hợp nhịp nhàng, ăn ý, hiệu quả trong tất cả các khâu thuộc lĩnh vực quản lý tài chính như lập kế hoạch và sử dụng vốn có hiệu quả; triển khai thực hiện tốt các
dự án sản xuất kinh doanh; luôn cập nhật kịp thời các Nghị định, thông tư về chính sách của nhà nước,theo dõi, đánh giá và điều chỉnh kịp thời kế hoạch tài chính; quản lý vốn, doanh thu, chi phí,công nợ khách hàng; thực hiện báo cáo cho các cấp lãnh đạo….là nhân tố quyết định đến thành công của doanh nghiệp Theo Tổng cục Thống kê, số doanh nghiệp phải phá sản hoặc ngừng hoạt động năm 2013 là 60.737 doanh nghiệp, tăng 11,9% so với năm trước
Trên thế giới đã có rất nhiều vụ bê bối tài chính của các công ty lớn như Enron, Worldcom….đã dẫn các công ty đó đến sự sụp đổ
Gần đây tại Việt Nam nhiều tập đoàn lớn cũng chao đảo tài chính như Vinaline, Ngân hàng ACB
Các cuộc khảo sát doanh nghiệp kinh doanh thất bại cho thấy hầu hết các công ty này (khoảng 60%) cho biết sự thất bại của họ toàn bộ hay phần lớn đều do gặp phải vấn đề quản lý tài chính trong công ty
Trong bối cảnh kinh doanh theo cơ chế thị trường, quá trình sàng lọc và cạnh tranh lẫn nhau giữa các doanh nghiệp là tất yếu xảy ra Để thắng trong cạnh tranh, doanh nghiệp phải hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả
Một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có lợi nhuận là tốt nhưng việc quản
lý tài chính trong doanh nghiệp mới là điều cần thiết hơn cả
Trang 13Chính vì thế, ngày nay tất cả các doanh nghiệp đều phải đặc biệt quan tâm đến công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp mình Quản lý tốt tài chính là chìa khóa dẫn đến sự tồn tại và phát triển công ty Cũng chính sự sống còn của doanh nghiệp mà tài chính doanh nghiệp rất được quan tâm và được chú trọng nghiên cứu bởi nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều tác giả, dưới nhiều góc độ khác nhau
Cụ thể về những quyết định , chế độ như sau:
Bộ Tài chính, (2000), Chế độ mới quản lý tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất
bản Tài chính, Hà Nội
Bộ Tài chính, (2001), Đổi mới cơ chế quản lý tài chính giải pháp quan trọng để
nâng cao hiệu quả đối với doanh nghiệp nhà nước, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội
Bộ Tài chính, (2003), Quyết định 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 về
ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định, Hà Nội
Bộ Tài chính, (2007), Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam ban hành và
công bố theo TT161/2007/TT-BTC ngày 31/12/2007 của Bộ Trưởng Bộ Tài chính,
Hà Nội
Bộ Tài chính, (2013), TT45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 về ban hành chế
độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định của Bộ Trưởng Bộ Tài chính,
Hà Nội
Bộ Thương mại, (2003) Cơ chế kinh doanh xăng dầu trong tình hình mới,
Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội
Chính phủ, (2004), Nghị định 199/2004/NĐ-CP ban hành quy chế quản
lý tài chính công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác, Hà Nội
Luật Doanh nghiệp, (2005), Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội
Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, (2003), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Một số công trình và tài liệu sau:
- Tạ Minh Hùng, 2006, Quản lý tài chính của Công ty Thăng Long - GMT
trong điều kiện hiện nay, thực trạng và giải pháp đổi mới, luận văn thạc sĩ kinh
doanh và quản lý, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 14- Đỗ Thị Huyền Như, 2008, Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính
tại Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội, luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế, Trường Đại
học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội
Luận văn đã làm rõ được một số cơ sở lý luận chung về quản lý tài chính trong các doanh nghiệp như: khái niệm, vai trò và các yếu tố cấu thành của tài chính doanh nghiệp, một số nội dung về quản lý tài chính tại Tổng Công ty cũng như một
số giải pháp, kiến nghị
Bên cạnh đó cũng có một số công trình khoa học đáng chú ý bàn về nội dung
này như: Trịnh Thị Vân Anh, 2009, Công tác quản lý tài chính tại Công ty cổ phần
xây lắp điện I, luận văn thạc kinh tế, Đại học Thương mại Hà Nội Luận văn đã
trình bày cơ sở lý luận chung về quản lý tài tại Luận văn cũng đã phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Công ty cổ phần xây lắp điện I và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại công ty
Những tài liệu này đã nghiên cứu nội dung quản lý tài chính đối với một số nội dung cụ thể trong từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau tuy nhiên cũng chưa đề cập đến quản lý tài chính trong Công ty cổ phần có vốn của nhà nước Một
số luận văn khác có thể kể đến:
Ngô Thắng Lợi, 2004, DNNN trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam,
Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia
Nguyễn Khánh Toàn, 2008, Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với việc
tăng cường quản lý tài chính tại Tổng công ty Khai thác Cảng hàng không Miền Bắc, luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế, Trường Đại học Xây dựng, Hà Nội
Ưu điểm: Luận văn trình bày lý thuyết chung, nhiều công trình nghiên cứu đối với doanh nhiệp có quy mô lớn là các Tổng Công ty, các Tập đoàn kinh tế, rất ít công trình nghiên cứu đối với doanh nghiệp là thành viên của các Tập đoàn, Tổng Công ty
Nhược điểm: Có rất ít công trình nghiên cứu đối với doanh nghiệp là thành viên của các Tập đoàn, Tổng Công ty Do vậy các luận văn trên chưa chỉ ra được các giải pháp đối với các doanh nghiệp với mô hình vừa và nhỏ
Trang 15Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Thiết bị xăng dầu Petrolimex Hơn nữa Công ty cổ phần thiết bị xăng dầu Petrolimex cũng là doanh nghiệp được xếp vào loại nhỏ Vậy nên,
đề tài này có ý nghĩa thiết thực đối với Công ty Thiết bị xăng dầu Petrolimex nói riêng và các công ty xăng dầu có cùng mô hình kinh doanh trực thuộc Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam nói chung
Luận văn định hướng nghiên cứu tổng quan đối với vấn đề quản lý tài chính tại Công ty cổ phần Thiết bị xăng dầu Petrolimex, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại công ty, thúc đẩy sự phát triển bền vững của công ty
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP
1.2.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Theo tác giả Tào Hữu Phùng trong cuốn An ninh tài chính Doanh nghiệp
Nhà Nước trong điều kiện chủ động hội nhập kinh tế Quốc Tế, Nhà xuất bản Chính
trị Quốc Gia, Hà Nội Tài chính doanh nghiệp được quan niệm như sau: Tài chính
doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ Trên bình diện xã hội, tài chính doanh nghiệp biểu hiện là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp
Các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp được hình thành, phân phối và sử dụng cho những mục đích nhất định khi doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh Quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ do phát sinh các luồng tiền tệ đi vào và các luồng tiền tệ đi ra khỏi doanh nghiệp, tạo thành sự vận động của các luồng tài chính của doanh nghiệp
Giáo trình Tài chính doanh nghiệp - Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà
Nội có định nghĩa như sau: “Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ
giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế”
Trang 16Như vậy, về mặt bản chất, tài chính doanh nghiệp phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Các quan hệ kinh tế này gọi là quan hệ tài chính doanh nghiệp Cốt lõi của các quan hệ tài chính doanh nghiệp là các quyết định của doanh nghiệp hướng tới mục tiêu tối đa lợi nhuận và tối thiểu rủi ro kinh doanh
Căn cứ vào phạm vi hoạt động, người ta chia quan hệ tài chính doanh nghiệp thành quan hệ tài chính bên ngoài doanh nghiệp và quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp Quan hệ tài chính bên ngoài doanh nghiệp bao gồm: quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước được thể hiện qua việc Nhà nước cấp vốn cho doanh nghiệp hoạt động (đối với doanh nghiệp nhà nước) và doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như nộp các khoản thuế, lệ phí, ; quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khách như quan hệ về mặt thanh toán trong việc vay vốn, đầu tư vốn, mua hoặc bán tài sản, vật tư, hàng hoá và các dịch vụ khác Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp được thể hiện trong thanh toán tiền lương, tiền công và thực hiện các khoản tiền thưởng, tiền phạt với công nhân viên của doanh nghiệp; quan hệ thanh toán giữa các bộ phận trong doanh nghiệp; việc phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp; việc phân chia lợi tức cho các
cổ đông; việc hình thành các quỹ của doanh nghiệp
Hoạt động của tài chính doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động sản xuất kinh doanh Hoạt động này nhằm thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp: Tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị doanh nghiệp hay mục tiêu tăng trưởng phát triển
Hoạt động tài chính là quá trình tìm tòi, nghiên cứu các nguồn lực nhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực cho một khoảng thời gian đủ dài trong tương lai
Đó chính là việc phát hiện các khả năng đầu tư và quyết định đầu tư dài hạn cho mục đích tăng trưởng không ngừng của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như: tối
đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu hoặc tối thiểu hóa chi phí, song tất cả các
Trang 17mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hoá giá trị tài sản cho các chủ sở hữu Bởi lẽ, một doanh nghiệp phải thuộc về các chủ sở hữu nhất định; chính họ phải nhận thấy giá trị đầu tư của họ tăng lên khi doanh nghiệp đặt ra mục tiêu là tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu Quản lý tài chính doanh nghiệp chính là nhằm thực hiện được mục tiêu đó
Các quyết định tài chính trong doanh nghiệp: Quyết định đầu tư, quyết định huy động vốn, quyết định về phân phối ngân quỹ có mối liên hệ chặt chẽ
Mặc dù còn có những ý kiến khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà chuyên môn thừa nhận những nội dung cơ bản và tính chất đa dạng của hoạt động tài chính trong doanh nghiệp
Từ các nghiên cứu của các nhà khoa học trên có thể khái quát lại khái niệm tài chính doanh nghiệp như sau:
Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá
trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu nhất định
Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận trong hệ thống tài chính, tại đây nguồn tài chính xuất hiện và đồng thời đây cũng là nơi thu hút trở lại phần quan trọng các nguồn tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội, đến sự phát triển hay suy thoái của nền sản xuất
1.2.1.2 Vai trò và chức năng của tài chính doanh nghiệp
a) Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp được ví như những tế bào có khả năng tái tạo, hay còn được coi như “ cái gốc của nền tài chính” Sự phát triển hay suy thoái của sản xuất kinh doanh gắn liền với sự mở rộng hay thu hẹp nguồn lực tài chính Vì vậy vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động, thậm chí có thể
là tiêu cực đối với kinh doanh trước hết phụ thuộc vào khả năng, trình độ của người quản lý; sau đó nó còn phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, phụ thuộc vào cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước
Trang 18Song song với việc chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhà nước đã hoạch định hàng loạt chính sách đổi mới nhằm xác lập cơ chế quản lý năng động như các chính sách khuyến khích đầu tư kinh doanh, mở rộng khuyến khích giao lưu vốn Trong điều kiện như vậy, tài chính doanh nghiệp có vai trò sau:
- Tài chính doanh nghiệp - một công cụ khai thác, thu hút các nguồn tài chính nhằm đảm bảo nhu cầu vốn cho đầu tư kinh doanh
Để thực hiện mọi quá trình sản xuất kinh doanh, trước hết các doanh nghiệp phải có một yếu tố tiền đề - đó là vốn kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường đa thành phần, các doanh nghiệp nhà nước chỉ
là một bộ phận cùng song song tồn tại trong cạnh tranh, cho việc đầu tư phát triển những ngành nghề mới nhằm thu hút được lợi nhuận cao đã trở thành động lực và
là một đòi hỏi bức bách đối với tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, khi đã có nhu cầu về vốn, thì nảy sinh vấn đề cung ứng vốn Trong điều kiện đó, các doanh nghiệp có đầy đủ điều kiện và khả năng để chủ động khai thác thu hút các nguồn vốn trên thị trường nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh và phát triển của mình
- Tài chính doanh nghiệp có vai trò trong việc sử dụng vốn một cách tiết kiệm và hiệu quả
Cũng như đảm bảo vốn, việc tổ chức sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, yêu cầu của các quy luật kinh tế đã đặt ra trước mọi doanh nghiệp những chuẩn mực hết sức khe khắt; sản xuất không phải với bất kỳ giá nào Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được phản ánh bằng các chỉ tiêu giá trị, chỉ tiêu tài chính, bằng các số liệu của kế toán và bảng tổng kết tài sản Với đặc điểm này, người cán bộ tài chính
có khả năng phân tích, giám sát các hoạt động kinh doanh để một mặt phải bảo toàn được vốn, mặt khác phải sử dụng các biện pháp tăng nhanh vòng quay vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốn kinh doanh
- Tài chính doanh nghiệp có vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết sản xuất kinh doanh
Trang 19Khác với nền kinh tế tập trung, trong nền kinh tế thị trường các quan hệ tài chính doanh nghiệp được mở ra trên một phạm vi rộng lớn Đó là những quan hệ với hệ thống ngân hàng thương mại, với các tổ chức tài chính trung gian khác, các thành viên góp vốn đầu tư liên doanh và những quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp Những quan hệ tài chính trên đây chỉ có thể được diễn ra khi cả hai bên cùng có lợi và trong khuôn khổ của pháp luật Dựa vào khả năng này, nhà quản
lý có thể sử dụng các công cụ tài chính như đầu tư, xác định lãi suất, tiền lương, tiền thưởng để kích thích tăng năng suất lao động, kích thích tiêu dùng, kích thích thu hút vốn nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh
- Tài chính doanh nghiệp là công cụ quan trọng để kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tình hình tài chính doanh nghiệp là tấm gương phản ánh trung thực nhất mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, Thông qua các chỉ tiêu tài chính như: hệ số nợ, hiệu suất và hiệu quả sử dụng vốn, cơ cấu các thành phần vốn có thể dễ dàng nhận biết chính xác thực trạng tốt, xấu trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh
Để sử dụng có hiệu quả công cụ kiểm tra tài chính, đòi hỏi nhà quản lý doanh nghiệp cần tổ chức tốt công tác hạch toán kế toán, hạch toán thống kê, xây dựnghệ thống các chỉ tiêu phân tích tài chính và duy trì nề nếp chế độ phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp
b) Chức năng của tài chính doanh nghiệp
- Xác định và tổ chức các nguồn vốn nhằm bảo đảm nhu cầu sử dụng vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để thực hiện sản xuất kinh doanh trong điều kiện của cơ chế thị trường có hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp phải có vốn và có phương án tạo lập, huy động vốn cụ thể
Thứ nhất, phải xác định nhu cầu vốn (vốn cố định và vốn lưu động) cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh
Thứ hai, phải xem xét khả năng đáp ứng nhu cầu vốn và các giải pháp huy động vốn:
Trang 20+ Nếu nhu cầu lớn hơn khả năng thì doanh nghiệp phải huy động thêm vốn, tìm kiếm mọi nguồn tài trợ với chi phí sử dụng vốn thấp nhưng vẫn bảo đảm có hiệu quả
+ Nếu khả năng lớn hơn nhu cầu thì doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất,
mở rộng thị trường hoặc có thể tham gia vào thị trường tài chính như đầu tư chứng khoán, cho thuê tài sản, góp vốn liên doanh
Thứ ba, phải lựa chọn nguồn vốn và phương thức thanh toán các nguồn vốn sao cho chi phí doanh nghiệp phải trả là thấp nhất trong khoảng thời gian hợp lý
- Chức năng phân phối thu nhập của doanh nghiệp
Chức năng phân phối biểu hiện ở việc phân phối thu nhập của doanh nghiệp
từ doanh thu bán hàng và thu nhập từ các hoạt động khác Nhìn chung, các doanh nghiệp phân phối như sau:
+ Bù đắp các yếu tố đầu vào đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh như chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí vật tư, chi phí cho lao động và các chi phí khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (nếu có lãi)
+ Phần lợi nhuận còn lại sẽ phân phối như sau: Bù đắp các chi phí không được trừ; Chia lãi cho đối tác góp vốn, chi trả cổ tức cho các cổ đông; Phân phối lợi nhuận sau thuế vào các quỹ của doanh nghiệp
- Chức năng giám đốc đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
Giám đốc tài chính là việc thực hiện kiểm tra, kiểm soát quá trình tạo lập và
sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Việc thực hiện chức năng này thông qua các chỉ tiêu tài chính để kiểm soát tình hình đảm bảo vốn cho sản xuất - kinh doanh
và hiệu quả sử dụng vốn cho sản xuất - kinh doanh Cụ thể qua tỷ trọng, cơ cấu nguồn huy động, việc sử dụng nguồn vốn huy động, việc tính toán các yếu tố chi phí vào giá thành và chi phí lưu thông, việc thanh toán các khoản công nợ với ngân sách, với người bán, với tín dụng ngân hàng, với công nhân viên và kiểm tra việc chấp hành kỷ luật tài chính, kỷ luật thanh toán, kỷ luật tín dụng của doanh nghiệp Trên cơ sở đó giúp cho chủ thể quản lý phát hiện những khâu mất cân đối, những sơ
hở trong công tác điều hành, quản lý kinh doanh để có quyết định ngăn chặn kịp
Trang 21thời các khả năng tổn thất có thể xảy ra, nhằm duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Đặc điểm của chức năng giám đốc tài chính là toàn diện
và thường xuyên trong quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1.3 Các nguồn tài chính doanh nghiệp
Nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp là những nguồn lực tài chính có trong nền kinh tế, được doanh nghiệp huy động, khai thác bằng nhiều phương pháp, hình thức, cơ chế khác nhau, để đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động kinh doanh trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp Bao gồm:
Căn cứ vào phạm vi tài trợ gồm có:
- Nguồn vốn bên trong: Chủ yếu trích lập từ lợi nhuận có được từ kết quả kinh doanh của doanh nghiệp;
- Nguồn vốn bên ngoài: Bao gồm nguồn vốn liên doanh, liên kết, phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu, tín dụng ngân hàng…
Căn cứ vào thời gian tài trợ gồm có:
- Nguồn vốn tài trợ ngắn hạn: Bao gồm tín dụng thương mại, các khoản chiếm dụng về tiền lương, tiền thuế, tín dụng ngắn hạn ngân hàng và các khoản phải trả khác…;
- Nguồn vốn dài hạn: Bao gồm tín dụng ngân hàng dài hạn, phát hành trái phiếu, huy động vốn góp cổ phần, liên doanh, bổ sung từ lợi nhuận…
Căn cứ vào tính chất kinh tế gồm có:
- Nguồn vốn chủ sở hữu
- Nguồn vốn đi vay
- Nguồn vốn chiếm dụng
1.2.2 Quản lý tài chính trong doanh nghiệp
1.2.2.1 Khái niệm quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Theo học thuyết về quản lý của các nhà quản trị học hiện đại như: Taylor, Herry Fayol, Harold Koontz,… có thể khái quát: quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo yêu cầu của chủ thể quản lý tới đối tượng của quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong môi trường biến đổi
Theo học thuyết quản lý tài chính của mình, Ezara Solomon,1963 The theory
Trang 22financial management New York and London Columbia University Press
cho rằng: “Quản lý tài chính là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình
trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm mạnh điểm yếu của nó và lập các
kế hoạch hành động, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tài sản cố định và nhu cầu nhân công trong tương lai nhằm đạt được mục tiêu cụ thể tăng giá trị cho đơn
vị đó” 1
Quản lý tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính của doanh nghiệp, đó là tối đa hoá giá trị cho chủ doanh nghiệp hay là tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Quản lý tài chính là một trong các chức năng cơ bản của quản lý doanh nghiệp Chức năng quản lý tài chính có mối liên hệ mật thiết với các chức năng khác trong doanh nghiệp như: chức năng quản lý sản xuất, chức năng quản lý marketing, chức năng quản lý nguồn nhân lực
Quản lý tài chính doanh nghiệp bao gồm các hoạt động liên quan đến đầu tư, tài trợ và quản lý tài sản theo mục tiêu chung của công ty Vì vậy, chức năng quyết định của quản lý tài chính có thể chia thành ba nhóm: quyết định đầu tư, tài trợ và quản lý tài sản, trong đó quyết định đầu tư là quyết định quan trọng nhất trong ba quyết định căn bản theo mục tiêu tạo giá trị cho các cổ đông
Như vậy, “Quản lý tài chính doanh nghiệp là các hoạt động nhằm phối trí
các dòng tiền tệ trong doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Quản lý tài chính bao gồm các hoạt động làm cho luồng tiền tệ của công ty phù hợp trực tiếp với các kế hoạch.”
Việc quản lý tài chính bao gồm việc lập các kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn, đồng thời quản lý có hiệu quả vốn hoạt động thực của Công ty Đây là công việc rất quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp bởi vì nó ảnh hưởng đến cách thức và phương thức mà nhà quản lý thu hút vốn đầu tư để thành lập, duy trì
và mở rộng công việc kinh doanh
Trang 231.2.2.2 Mục tiêu và tiêu chí đánh giá quản lý tài chính trong doanh nghiệp
a) Mục tiêu của quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Quản lý tài chính luôn giữ vị trí trọng yếu trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp Nó quyết định khả năng cạnh tranh, sự thành bại của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh Đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, trong điều kiện cạnh tranh đang diễn ra khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, quản lý tài chính trở lên quan trọng hơn bao giờ hết Bất kỳ ai liên kết, hợp tác với doanh nghiệp cũng sẽ được hưởng lợi nếu như quản lý tài chính của doanh nghiệp có hiệu quả; ngược lại họ sẽ bị thua thiệt khi quản lý tài chính kém hiệu quả
Quản lý tài chính là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với mọi hoạt động khác của doanh nghiệp Quản lý tài chính tốt có thể khắc phục được những khiếm khuyết trong các lĩnh vực khác Một quyết định tài chính không được cân nhắc, hoạch định kỹ lưỡng có thể gây nên tổn thất khôn lường cho doanh nghiệp và cho nền kinh tế Hơn nữa, do doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường nhất định nên các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Bởi vậy, quản lý tài chính doanh nghiệp tốt có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính quốc gia Quản lý tài chính doanh nghiệp có những mục tiêu chủ yếu sau:
- Huy động và đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Điều này trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn
các nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ và tiếp đó phải lựa chọn các phương pháp và hình thức thích hợp huy động vốn từ bên trong và bên ngoài đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp
- Tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và hiệu quả Việc huy động vốn
kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp có thể nắm bắt được các cơ hội kinh doanh Mặt khác việc huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể giảm bớt và tránh được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây
Trang 24
ra đồng thời giảm bớt được nhu cầu vay vốn, từ đó giảm được các khoản tiền trả lãi vay Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp cùng với việc sử dụng các hình thức thưởng phạt vật chất một cách hợp lý sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy người lao động gắn bó với doanh nghiệp từ đó nâng cao năng suất lao động, cải tiến kỹ thuật, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Giám sát, kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình
tài chính và thực hiện các chỉ tiêu tài chính, lãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá tổng hợp và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện được kịp thời những tồn tại hay khó khăn vướng mắc trong kinh doanh, từ đó có thể đưa ra các quyết định để điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh
b) Tiêu chí đánh giá quản lý tài chính trong doanh nghiệp
- Thị phần chiếm lĩnh
Thị phần của doanh nghiệp so với các đối thủ khác nói lên sức mạnh mà doanh nghiệp có thể giành được trong cạnh tranh Để so sánh về mặt quy mô kinh doanh và vị thế trên thị trường, thì việc so sánh thị phần các sản phẩm dịch vụ chính của doanh nghiệp là chỉ tiêu quan trọng mà doanh nghiệp cần phải so sánh, phân tích, đánh giá Thị phần của doanh nghiệp thường được xác định về mặt hiện vật (khối lượng sản phẩm) và về mặt giá trị (doanh thu)
- Đảm bảo tính đầy đủ, kịp thời của các nguồn vốn kinh doanh
Tiêu chí này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp phải cân đối được các nguồn thu, chi tài chính sao cho đảm bảo mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư của doanh nghiệp được thực hiện một cách trôi chảy, liền mạch, hiệu quả cao
- Chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp
Các chỉ tiêu này phản ánh kết quả đầu ra của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp
Trang 25Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động phi tài chính khác của doanh nghiệp
Lợi nhuận của doanh nghiệp là số tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí
mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó Đây là kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp để đánh giá hiệu quả toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Lợi nhuận được coi là đòn bẩy kinh tế quan trọng, đảm bảo tình hình tài chính của doanh nghiệp được vững chắc Tuy nhiên, không thể coi lợi nhuận là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá toàn bộ hoạt động của các doanh nghiệp
1.2.2.3 Nguyên tắc quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Hoạt động tài chính của các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế căn bản là giống nhau nên nguyên tắc quản lý tài chính đều có thể áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp Tuy nhiên, giữa các doanh nghiệp khác nhau cũng có sự khác biệt nhất định nên khi áp dụng nguyên tắc quản lý tài chính phải gắn với những điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp
- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật, chính sách, quy định của nhà nước: đây là
nguyên tắc đầu tiên và cơ bản nhất mà mọi tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế đều phải tuân thủ Theo đó, mọi hoạt động tài chính của doanh nghiệp đều phải chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật
- Nguyên tắc đánh đổi rủi ro và lợi nhuận: Quản lý tài chính phải được dựa
trên quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận Nhà đầu tư có thể lựa chọn những đầu tư khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro mà họ chấp nhận và lợi nhuận kỳ vọng mà họ mong muốn Khi họ bỏ tiền vào những dự án có mức độ rủi ro cao, họ hy vọng dự
án đem lại lợi nhuận kỳ vọng cao
- Nguyên tắc giá trị thời gian của tiền: Để đo lường giá trị tài sản của chủ sở
hữu, cần sử dụng giá trị thời gian của tiền, tức là phải đưa lợi ích và chi phí của dự
án về một thời điểm, thường là thời điểm hiện tại Theo quan điểm của nhà đầu tư,
Trang 26dự án được chấp nhận khi lợi ích lớn hơn chi phí Trong trường hợp này, chi phí cơ hội của vốn được đề cập như là tỷ lệ chiết khấu
- Nguyên tắc chi trả: Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần bảo
đảm mức ngân quỹ tối thiểu để thực hiện chi trả Do vậy, điều đáng quan tâm ở các doanh nghiệp là các dòng tiền chứ không phải lợi nhuận kế toán Dòng tiền ra và dòng tiền vào được tái đầu tư phản ánh tính chất thời gian của lợi nhuận và chi phí Không những thế khi đưa ra các quyết định kinh doanh, nhà doanh nghiệp cần tính đến dòng tiền tăng thêm, đặc biệt cần tính đến các dòng tiền sau thuế
- Nguyên tắc sinh lợi: Nguyên tắc quan trọng đối với nhà quản lý tài chính
không chỉ là đánh giá các dòng tiền mà dự án đem lại mà còn là tạo ra các dòng tiền, tức là tìm kiếm các dự án sinh lợi
- Nguyên tắc gắn kết lợi ích của nhà quản lý với lợi ích của cổ đông: Nhà
quản lý tài chính chịu trách nhiệm phân tích, kế hoạch hóa tài chính, quản lý ngân quỹ, chi tiêu cho đầu tư và kiểm soát Do đó, nhà quản lý tài chính thường giữ vị trí cao trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp và thẩm quyền tài chính ít khi được phân quyền hoặc uỷ quyển cho cấp dưới
Ngoài ra trong quản lý tài chính nói chung và quản lý tài chính doanh nghiệp nói riêng phải chú ý đến nguyên tắc hành vi đạo đức và trách nhiệm đối với xã hội 1.2.2.4 Nội dung quản lý tài chính trong doanh nghiệp
a) Quản lý tài sản
Trong các doanh nghiệp, việc quản lý tài sản bao gồm 2 nội dung cơ bản là
quản lý tài sản ngắn hạn và quản lý tài sản dài hạn
- Quản lý tài sản ngắn hạn:
Tài sản ngắn hạn thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các
bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho Quản lý, sử dụng hợp lý các loại tài sản ngắn hạn có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp Việc quản lý tài sản ngắn hạn tập trung trên ba nội dung sau đây:
Trang 27Thứ nhất, quản lý dự trữ, tồn kho
Trong quá trình luân chuyển của tài sản lưu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì việc dự trữ vật tư, hàng hoá là nhu cầu cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp Hàng hoá tồn kho có ba loại: Nguyên liệu thô phục
vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, sản phẩm dở dang và thành phẩm Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không thể sản xuất đến đâu mua nguyên liệu đến đó mà cần phải có nguyên vật liệu dự trữ Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vai trò rất lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành được bình thường Dự trữ hàng hóa thành phẩm nhằm đảm bảo quá trình phân phối hàng hóa cho khách hàng đều đặn Nếu doanh nghiệp dự trữ quá lớn
sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn Còn nếu dự trữ quá ít sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn gây ra hàng loạt các hậu quả tiếp theo
Thứ hai, quản lý tiền mặt và các chứng chỉ có giá trị tương đương tiền
Quản lý tiền mặt là quản lý tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển Trong kinh doanh, doanh nghiệp cần một lượng tiền mặt và phải dùng nó
để trả cho các khoản thanh toán thường xuyên Trong thực tiễn của các doanh nghiệp, rất hiếm khi mà lượng tiền vào, ra của doanh nghiệp lại đều đặn Bằng việc nghiên cứu và phân tích thực tiễn, các nhà kinh tế học đã đưa ra mức dự trữ tiền mặt
dự kiến dao động trong một khoảng nhất định, tức là lượng tiền dự trữ của doanh nghiệp cần biến thiên từ cận thấp nhất đến giới hạn cao nhất
Khoảng dao động của lượng tiền mặt dự kiến phụ thuộc vào ba yếu tố cơ bản sau: i) mức dao động của thu chi ngân quỹ hàng ngày lớn hay nhỏ Sự dao động này được thể hiện ở phương sai của thu chi ngân quỹ Phương sai của thu chi ngân quỹ
là tổng các bình phương (độ chênh lệch) của thu chi ngân quỹ thực tế càng có xu hướng khác biệt so với chi phí bình quân Khi đó doanh nghiệp cũng sẽ quy định khoảng dao động tiền mặt cao; ii) chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán Khi chi phí này lớn người ta muốn giữ tiền mặt nhiều hơn khi đó khoảng dao động của tiền mặt cũng lớn; iii) lãi suất càng cao các doanh nghiệp sẽ giữ lại ít tiền và do vậy khoảng dao động tiền mặt sẽ giảm xuống
Trang 28Thứ ba, quản lý các khoản phải thu
Trong mỗi doanh nghiệp, các khoản phải thu bao gồm: Phải thu từ khách
hàng, trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, phải thu tạm ứng và phải thu khác
Phải thu từ khách hàng là những khoản nợ có nguồn gốc từ việc bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ, các khoản chiết khấu thanh toán
Phải thu nội bộ là các khoản phải thu giữa các đơn vị nội bộ doanh nghiệp
Để thắng lợi trong cạnh tranh trên thị trường, các doanh nghiệp có thể sử dụng chiến lược về chất lượng sản phẩm, về quảng cáo, về giá cả, về dịch vụ giao hàng và các dịch vụ sau khi mua bán hàng là một việc không thể thiếu Tín dụng thương mại có thể được sử dụng như một phương thức Phương thức này làm cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, ổn định và phát triển, đứng vững trên thị trường nhưng cũng có thể đem đến những rủi ro lớn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Điều đó được thể hiện trên những nét cơ bản sau: i) tín dụng thương mại tác động đến doanh thu bán hàng Do được trả tiền chậm nên sẽ có nhiều người mua hàng hoá của doanh nghiệp hơn từ đó làm doanh thu tăng Khi cấp tín dụng thương mại cho khách hàng thì tất nhiên doanh nghiệp bị chậm trễ trong việc trả tiền cho nhà cung cấp, ảnh hưởng đến việc định giá bán hàng hoá dịch vụ; ii) tín dụng thương mại làm giảm được chi phí tồn kho của hàng hoá; iii) tín dụng thương mại làm cho tài sản cố định được sử dụng có hiệu quả hơn và hạn chế phần nào về hao mòn vô hình; iv) khi cấp tín dụng thương mại cho khách hàng có thể làm tăng chi phí trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; v) tín dụng thương mại làm tăng chi phí đòi nợ, chi phí trả cho nguồn tài trợ để bù đắp sự thiếu hụt ngân quỹ Thời hạn cấp tín dụng càng dài thì chi phí ròng càng lớn
Xác suất không trả tiền của người mua làm cho lợi nhuận bị giảm nếu thời hạn cấp tín dụng càng dài thì rủi ro càng lớn
Với những tác động nêu trên buộc các nhà quản lý phải so sánh giữa thu nhập và chi phí tăng thêm từ đó để quyết định có nên áp dụng tín dụng thương mại đối với khách hàng hay không
Để quản lý tốt công nợ đòi hỏi doanh nghiệp phải có các quy định cụ thể về quản lý công nợ, quy định về thanh toán, đối chiếu thường xuyên giữa các bộ phận
Trang 29có phát sinh công nợ trong doanh nghiệp Đồng thời phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện tại đơn vị
- Quản lý tài sản cố định và khấu hao tài sản cố định:
+ Quản lý tài sản cố định:
Để nghiên cứu đầy đủ bản chất kinh tế và vị trí của tài sản cố định của doanh nghiệp, cần đặt nó trong mối quan hệ với tư liệu sản xuất Tư liệu sản xuất gồm có hai bộ phận cấu thành là tư liệu lao động và đối tượng lao động Tài sản cố định là một bộ phận của tư liệu lao động; còn đối tượng lao động là những vật thể hay các yếu tố vật chất chịu tác động của lao động bao gồm các nguyên, nhiên vật liệu … được sử dụng trong quá trình sản xuất
+ Quản lý khấu hao tài sản cố định:
Trong quá trình sử dụng, xét về mặt hình thái vật chất và về giá trị, các TSCĐ bị hao mòn dần Sự suy giảm năng lực sản xuất và hiệu năng hoạt động là một quy luật hoàn toàn tự nhiên Việc TSCĐ bị giảm sút giá trị như vậy được gọi là hao mòn TSCĐ
Hao mòn TSCĐ là sự giảm dần giá trị sử dụng và giá trị của TSCĐ do tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ kỹ thuật trong quá trình hoạt động của TSCĐ Do vậy, để thu hồi lại giá trị của TSCĐ do sự hao mòn trên cần phải tiến hành khấu hao TSCĐ
Khấu hao TSCĐ là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong thời gian sử dụng của TSCĐ
Theo Quyết định số 206/2003/QĐ- BTC ngày 12/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính có nêu:
Thời gian sử dụng TSCĐ là thời gian doanh nghiệp dự tính sử dụng TSCĐ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc xác định theo số lượng, khối lượng sản phẩm dự kiến sản xuất được từ việc sử dụng TSCĐ theo quy định hiện hành, ở điều kiện bình thường phù hợp với các thông số kinh tế - kỹ thuật của TSCĐ và các yếu
tố khác có liên quan đến sự hoạt động của TSCĐ [4]
Một số phương pháp khấu hao TSCĐ gồm: Phương pháp khấu hao đường thẳng; phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh; phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm
Trang 30Theo quy định hiện hành, phương pháp khấu hao đường thẳng cho phép các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả kinh tế cao được khấu hao nhanh nhưng tối đa không quá 2 lần mức khấu hao quy định để nhanh chóng đổi mới công nghệ
Việc áp dụng phương pháp và thời gian khấu hao có quan hệ trực tiếp đến hạch toán và xác định thu nhập doanh nghiệp Trong một thời kỳ xác định, nếu thời gian khấu hao nhanh sẽ dẫn đến tăng tương đối chi phí sản xuất và giảm lợi nhuận trước thuế Do vậy, mỗi doanh nghiệp căn cứ vào tình hình thực tế kinh doanh, khả năng về tài chính để lựa chọn phương pháp khấu hao cho phù hợp và phải đăng ký với cơ quan thuế quản lý trực tiếp về phương pháp khấu hao, thời gian khấu hao TSCĐ Phương pháp khấu hao áp dụng cho từng TSCĐ mà doanh nghiệp đã lựa chọn phải được đăng ký thực hiện nhất quán trong suốt quá trình sử dụng TSCĐ đó
Quá trình thực hiện khấu hao TSCĐ, số tiền khấu hao được cộng dồn lại gọi
là số khấu hao luỹ kế, số khấu hao luỹ kế hình thành quỹ khấu hao
Tuy nhiên đến ngày 25/4/2013 Bộ tài chính có thông tư hướng dẫn số 45/2013/TT-BTC quy định sửa đổi về tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định hữu hình là: Nguyên giá phải có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên
b) Quản lý nguồn vốn (nguồn tài trợ)
Tài trợ là tổng hợp các phương pháp, hình thức nhằm tổ chức vốn cho các hoạt động đầu tư và các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn tài trợ là điều kiện không thể thiếu để một doanh nghiệp được thành lập và tiến hành sản xuất kinh doanh Vì vậy, vấn đề quản lý nguồn tài trợ của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong quản lý tài chính của doanh nghiệp Tuy nhiên, trong quản lý nguồn tài trợ ở doanh nghiệp cần tập trung đến các hình thức huy động vốn và thiết lập cơ cấu
vốn phù hợp Trong mọi doanh nghiệp, nguồn tài trợ đều bao gồm hai bộ phận: Vốn
chủ sở hữu và nợ phải trả
- Vốn chủ sở hữu: Bao gồm vốn do chủ sở hữu đóng góp theo điều lệ khi mới thành lập doanh nghiệp, vốn góp tăng vốn điều lệ, và vốn tăng trưởng từ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 31Đối với mỗi loại hình kinh doanh, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận chủ yếu: i) vốn góp ban đầu; ii) lợi nhuận không chia, (thặng dư vốn cổ phần); iii) tăng vốn góp bằng phát hành cổ phiếu mới
- Vốn vay (Nợ phải trả): Để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất- kinh doanh, doanh nghiệp có thể sử dụng vay nợ từ các nguồn: tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, thuê mua tài chính và vay thông qua phát hành trái phiếu
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp và đặc điểm cụ thể về nhu cầu vốn và tình hình thị trường vốn, mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương thức huy động vốn khác nhau Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp được đa dạng hoá nhằm khai thác mọi nguồn tài trợ trong nền kinh tế
Trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, với sự phát triển của thị trường tài chính, các doanh nghiệp có thể khai thác những nguồn vốn vay khá đa dạng như sau: i) vay vốn từ các ngân hàng thương mại (thường gọi là tín dụng ngân hàng); ii) vốn vay của các tổ chức phi ngân hàng như: các công ty tài chính, tín dụng thuê mua, vay nước ngoài, vay của cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp; iii) vốn huy động thông qua hình thức tín dụng thương mại, tức là nợ thương mại giữa các công ty, các doanh nghiệp; iv) nhận vốn góp liên doanh, liên kết
Trong các nguồn vốn kể trên, nguồn vốn tín dụng ngân hàng giữ vị trí quan trọng nhất Tính đa dạng, mức độ an toàn, thuận lợi và hiệu quả cao đã làm cho nguồn vốn tín dụng ngân hàng chiếm vị trí quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Ngoài ra các doanh nghiệp khó vay vốn ngân hàng để mở rộng sản xuất, thường khai thác nguồn vốn tín dụng thương mại hay còn gọi là tín dụng của người cung cấp Nguồn vốn này hình thành một cách tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm Nguồn vốn tín dụng thương mại có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ với các doanh nghiệp mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế
Nguồn vốn thuê mua (leasing) cũng đang được nhiều doanh nghiệp lựa chọn trong việc tài trợ cho các nhu cầu vốn đầu tư thiết bị, máy móc
Trang 32Riêng nguồn vốn bán trái phiếu chỉ có thể tiếp cận đối với các doanh nghiệp lớn, hoạt động có uy tín và thủ tục phức tạp hơn
Chi phí của việc sử dụng các nguồn vốn thể hiện qua lãi suất (hoặc chi phí) của khoản vốn nhận được Đó là chi phí lãi vay và các chi phí giao dịch được tính vào giá thành sản phẩm hay dịch vụ Khi mua bán hàng hoá trả chậm, chi phí này
có thể “ẩn” dưới hình thức thay đổi mức giá tuỳ thuộc quan hệ và thoả thuận cụ thể giữa các bên Trong xu hướng hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các hình thức tín dụng ngày càng được đa dạng hoá và linh hoạt hơn; do đó các doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội để lựa chọn nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp
c) Quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận
Doanh thu và chi phí trong doanh nghiệp giúp chúng ta xác định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Doanh thu và chi phí được phản ánh trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và được sử dụng để xác định kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Thu, chi phản ánh các luồng tiền vào, luồng tiền ra của doanh nghiệp thường trong thời kỳ ngắn; từng kỳ, từng tháng và cho biết khả năng thanh toán đích thực hay khả năng chi trả của doanh nghiệp Các khoản thu và các khoản chi được thể hiện trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ (ngân quỹ) Đây là cơ sở quan trọng để nhà quản lý xây dựng kế hoạch tiền mặt của doanh nghiệp
Nghiên cứu doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong doanh nghiệp là tiền đề để
dự đoán và xác định được quy mô các dòng tiền trong tương lai làm căn cứ tính toán thời gian thu hồi vốn đầu tư, giá trị hiện tại ròng, tỷ lệ nội hoàn để ra quyết định đầu tư dài hạn trong doanh nghiệp
Nghiên cứu doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong doanh nghiệp còn giúp nhà quản lý tài chính và các cơ quan liên quan lập và hiểu các báo cáo tài chính doanh nghiệp, nhận biết được mối liên hệ giữa các báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bảng cân đối kế toán - những căn cứ để phân tích tài chính doanh nghiệp
Trang 33- Quản lý doanh thu:
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp Căn cứ vào nguồn hình thành, doanh thu của doanh nghiệp bao gồm:
+ Doanh thu từ hoạt động kinh doanh: Là toàn bộ tiền bán sản phẩm hàng hoá, cung ứng dịch vụ sau khi trừ khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại được khách hàng chấp thuận thanh toán (không phân biệt đã thu tiền hay chưa)
+ Doanh thu hoạt động tài chính: Bao gồm các khoản thu nhập từ hoạt động đầu tư tài chính như: Từ các hoạt động liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần, lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay, thu từ hoạt động mua bán chứng khoán (công trái, trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu) ; Từ hoạt động nhượng bán ngoại tệ hoặc thu nhập về chênh lệch tỷ giá nghiệp vụ ngoại tệ theo quy định của chế độ tài chính; Hoàn nhập số dư khoản dự phòng giảm giá chứng khoán; Tiền cho thuê tài sản đối với doanh nghiệp cho thuê tài sản không phải là hoạt động kinh doanh thường xuyên
+ Doanh thu khác: Thu từ tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia
Doanh thu của doanh nghiệp được ghi nhận khi đồng thời thoả mãn tất cả các điệu kiện sau:
+ Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền
sở hữu sản phẩm/hàng hoá hoặc hoàn thành cung cấp dịch vụ cho người mua;
+ Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá;
+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
+ Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ;
+ Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ
Trang 34- Quản lý chi phí:
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của các yếu tố tiêu hao phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ xác định Về bản chất, chi phí phản ánh sự tiêu hao, sự phí tổn của các yếu tố hữu hình và vô hình dưới hình thức tiêu hao lao động sống và lao động quá khứ trong một thời kỳ kế toán xác định
Trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp cần chú trọng hoàn thiện các quy định, các nguyên tắc hạch toán chi phí Số liệu và thông tin báo cáo sai lệch có thể dẫn đến quyết định sai lệch Một trong những nguyên nhân thường gây ra sai sót trong kế toán chi phí đó là sự lẫn lộn giữa chi phí bằng tiền và luồng tiền ra (chi trả) của doanh nghiệp trong kỳ Các khoản tiền chi trả của doanh nghiệp phản ánh quy
mô luồng tiền ra khỏi doanh nghiệp nhưng đó không phải là con số chi phí của doanh nghiệp
Có thể sử dụng các tiêu thức khác nhau để phân loại chi phí của doanh nghiệp Sự lựa chọn tiêu thức phân tích chi phí phụ thuộc mục đích, phạm vi hoặc góc độ nghiên cứu Theo nội dung kinh tế, các khoản chi phí bao gồm:
+ Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh: Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm các chi phí có liên quan đến quá trình hoạt động sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh có thể được phân loại theo nội dung kinh tế như sau: chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu; chi phí khấu hao TSCĐ; chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương; chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn; chi phí dịch vụ mua ngoài; chi phí bằng tiền khác
+ Chi phí hoạt động tài chính: Là các khoản chi phí đầu tư tài chính ra ngoài doanh nghiệp nhằm mục đích sử dụng hợp lý các nguồn vốn tăng thêm thu nhập và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp: Chi phí liên doanh liên kết, chi phí thuê tài sản, chi phí vay nợ, chi phí mua bán chứng khoán
Trang 35+ Chi phí hoạt động khác: Đây là các chi phí hợp lý, hợp pháp không thuộc chi phí sản xuất- kinhdoanh và chi phí hoạt động tài chính
- Quản lý lợi nhuận:
Lợi nhuận trước thuế hay thu nhập trước thuế của doanh nghiệp được hiểu là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra để đạt được doanh thu đó Lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu tài chính quan trọng nhất phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận
từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ các hoạt động khác
Trong thực tế, việc xác định đúng số lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp cũng rất phức tạp, nó bắt nguồn từ những khó khăn trong việc xác định đúng doanh thu và chi phí Việc hạch toán đúng, hợp lý và đầy đủ đối với cả hai chỉ tiêu doanh thu và chi phí là một vấn đề không đơn giản ngay cả với những nước có hệ thống kế toán tài chính khá hoàn chỉnh
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển được hay không phụ thuộc rất lớn vào việc doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay không Lợi nhuận là một chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp, là nguồn quan trọng để doanh nghiệp thực hiện tái đầu tư mở rộng sản xuất Trên phạm vi toàn xã hội, lợi nhuận là nguồn để thực hiện tái sản xuất xã hội Tuy vậy, lợi nhuận không phải là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lượng hoạt động của doanh nghiệp Bởi vì, lợi nhuận là chỉ tiêu tài chính cuối cùng nên nó chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố chủ quan, khách quan Do vậy, để đánh giá chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp, người ta phải kết hợp chỉ tiêu lợi nhuận với các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản;
Trang 36- Mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp có thể
khái quát qua hình sau:
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp
Nguồn: Học viên tự tổng hợp
Hình 1.1 cho thấy quy mô của doanh nghiệp phụ thuộc vào quy mô của tổng doanh thu gộp và trị giá của các khoản giảm trừ phải loại trừ ra khỏi doanh thu Tuy nhiên kết quả cuối cùng mà chủ sở hữu doanh nghiệp quan tâm lại là lợi nhuận sau thuế Do vậy, nội dung cơ bản của quản lý tài chính là phải tối ưu hóa các quan hệ giữa doanh thu- chi phí- lợi nhuận để doanh nghiệp đạt mục tiêu tài chính cao nhất
d) Quản lý các hoạt động đầu tư
Đầu tư là hoạt động quyết định sự phát triển và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp Trong hoạt động đầu tư, doanh nghiệp bỏ vốn dài hạn nhằm hình thành và bổ sung những tài sản cần thiết để thực hiện những mục tiêu kinh doanh nhằm thu được lợi nhuận dài hạn Hoạt động này được thể hiện tập trung thông qua việc thực hiện các dự án đầu tư
Tổng doanh thu của doanh nghiệp
Doanh thu từ
SXKD
Doanh thu từ hoạt động
tài chính Doanh thu hoạt động khác
Các khoản giảm trừ Doanh thu thuần
Chi phí và thuế Lợi nhuận ròng
Trang 37Để có thể đáp ứng mục tiêu tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu, doanh nghiệp cần có chiến lược trong việc tìm kiếm và lựa chọn các dự án đầu tư Nếu không có những ý tưởng kinh doanh mới và dự án đầu tư mới, doanh nghiệp sẽ khó phát triển dài hạn, đặc biệt là trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay Phát triển những sản phẩm mới, kéo dài tuổi thọ cho sản phẩm cũ hay làm tăng khả năng thu lợi của sản phẩm hiện có đều cần các hoạt động đầu tư
Tuỳ theo các mục đích khác nhau, có thể phân loại đầu tư của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau
Theo cơ cấu tài sản đầu tư Có thể phân loại đầu tư của doanh nghiệp thành: Đầu tư tài sản cố định, đầu tư tài sản lưu động, đầu tư tài sản tài chính
Theo mục đích đầu tư Có thể phân loại đầu tư thành: Đầu tư tăng năng lực sản xuất, đầu tư đổi mới sản phẩm, đầu tư đổi mới thiết bị, đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, đầu tư mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Quản lý hoạt động đầu tư là việc phân tích, ra các quyết định và thực hiện quyết định lựa chọn các phương án đầu tư của doanh nghiệp nhằm đạt lợi nhuận tương lai lớn nhất
Đặc điểm của quản lý đầu tư là các phân tích tính toán để ra quyết định đầu
tư phải dựa trên cơ sở đánh giá các dòng tiền kỳ vọng vào và ra (doanh thu và chi phí) gắn với yếu tố thời giá tiền tệ
1.2.2.5 Các nhân tố tác động đến quản lý tài chính trong doanh nghiệp
a) Nhóm nhân tố thuộc môi trường vĩ mô
- Pháp luật, chính sách, quy định của nhà nước: Là hệ thống các chủ trương,
chính sách, pháp luật có tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trên cơ sở pháp luật kinh tế và các biện pháp kinh tế, Nhà nước tạo môi trường điều hành cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch vĩ mô Với bất kỳ sự thay đổi nào trong chế độ chính sách hiện hành đều có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp Ta dễ nhận thấy rằng, nếu như các chính sách của Nhà nước hợp lý, mang tính tích cực
Trang 38cởi mở sẽ giúp cho các doanh nghiệp dễ ràng hơn trong việc kinh doanh, nền kinh
tế sẽ ổn định Ngược lại, khi đường lối chính sách của Nhà nước thay đổi không hợp lý hoặc có những sự mất ổn định trong đời sống chính trị, các doanh nghiệp có thể sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn đối với sản xuất tiêu thụ sản phẩm, và vì vậy cũng ảnh hưởng tới quản lý tài chính của doanh nghiệp Sự tăng, giảm lãi suất và giá cổ phiếu cũng ảnh hưởng tới sự chi phí tài chính và sự hấp dẫn của các hình thức tài trợ khác nhau Mức lãi suất cũng là một yếu tố đo lường khả năng huy đông vốn vay Sự tăng hay giảm thuế cũng ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình kinh doanh, tới khả năng tiếp tục đầu tư hay rút khỏi đầu tư
- Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội: Là tác động của các yếu tố như tăng
trưởng kinh tế, thu nhập quốc dân, lạm phát, thất nghiệp, lãi suất, tỷ giá hối đoái, đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chẳng hạn, do nền kinh tế có mức lạm phát quá lớn cũng như những thay đổi chính sách của Ngân hàng trung ương về lãi suất, tỷ giá, dẫn đến sức mua của đồng tiền giảm sút và sự mất ổn định về giá
cả, các doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Đối với các nước có nền kinh tế mở thì biến động của thị trường thương mại và thị trường tài chính quốc tế sẽ có tác động mạnh mẽ đặc biệt là đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, liên doanh hay có liên quan về nguyên liệu có nguồn gốc nước ngoài Một minh chứng rõ ràng về ảnh hưởng loại này là phản ứng tác động dây chuyền của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam á đối với hàng loạt các doanh nghiệp của các nước trong khu vực như Thái Lan, Hàn Quốc, Philippin, Malaysia, trong đó có các tập đoàn lớn như Daewoo, Samsung, Kia,
Sự ổn định hay không ổn định của nền kinh tế, của thị trường có ảnh hưởng trực tiếp tới mức doanh thu của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu về vốn của doanh nghiệp Những biến động của nền kinh tế có thể gây nên những rủi ro trong kinh doanh mà các nhà quản trị tài chính phải lường trước, những rủi ro đó có ảnh hưởng tới các khoản chi phí về đầu tư, chi phí trả lãi hay tiền thuê nhà xưởng, máy móc thiết bị hay nguồn tài trợ cho việc mở rộng sản xuất hay việc tăng tài sản
Trang 39- Sự tiến bộ của kỹ thuật, công nghệ: Sự tiến bộ kỹ thuật và công nghệ đòi
hỏi doanh nghiệp phải ra sức cải tiến kỹ thuật, quản lý, xem xét và đánh giá lại toàn
bộ tình hình tài chính, khả năng thích ứng với thị trường, từ đó đề ra những chính sách thích hợp cho doanh nghiệp
- Hội nhập kinh tế quốc tế: Nền kinh tế nước ta đang là nền kinh tế thị
trường Toàn cầu hoá kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu thế tất yếu của thời đại Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế đó Chúng ta hiện đã là thành viên của ASEAN, AFTA, APEC, WTO, cũng như các DNNN khác Đã đến lúc các công
ty nhà nước kinh doanh xăng dầu phải thực hiện sự đổi mới và cải cách mạnh mẽ trước khi các doanh nghiệp xăng dầu nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Để đứng vững trong môi trường cạnh tranh, thích ứng được với các điều kiện kinh doanh mang tính quốc tế, ngay từ bây giờ hoàn thiện, tăng cường công tác quản lý tài chính nói riêng và công tác quản lý nói chung tại các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu là bước đi cần thiết đầu trong tiến trình đổi mới và hội nhập
b) Nhóm nhân tố bên thuộc môi trường ngành
- Đối thủ cạnh tranh: Sự cạnh tranh sản phẩm đang sản suất và các sản phẩm
tương lai giữa các doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến kinh tế, tài chính của doanh nghiệp và có liên quan chặt chẽ đến khả năng tài trợ để doanh nghiệp tồn tại và tăng trưởng trong một nền kinh tế luôn luôn biến đổi và người giám đốc tài chính phải chịu trách nhiệm về việc cho doanh nghiệp hoạt động khi cần thiết
- Nhà cung ứng: Nếu quá trình tiêu thụ hàng hóa được coi là yếu tố quan
trọng nhất quyết định sự sống còn của doanh nghiệp thì quá trình mua các yếu tố đầu vào là cơ sở cho sự tồn tại và ổn định của doanh nghiệp Trong điều kiện môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh nghiệp muốn đứng vững mở rộng thị trường, tăng doanh thu và lợi nhuận thì phải đáp ứng hàng hóa và dịch vụ đầu đủ số lượng, đảm bảo chất lượng, kịp về thời gian Muốn vậy, doanh nghiệp phải có nguồn đầu vào ổn định, hợp lý từ các nhà cung ứng
Để không bị rơi vào tình trạng bất hợp lý, lúc thì dự trữ quá nhiều dẫn đến ứ đọng, lúc thì thiếu nguồn hàng, nguồn vốn khan hiếm, doanh nghiệp phải nghiên
Trang 40cứu phân tích quá trình quản lý mua hàng và dự trữ sao cho hiệu quả, giảm thiếu những rủi ro không đáng có cho doanh nghiệp
- Khách hàng của doanh nghiệp: Khách hàng của doanh nghiệp cũng là một
trong những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp Doanh nghiệp muốn bán được hàng hóa, dịch vụ để thu được lợi nhuận thì doanh nghiệp phải lấy khách hàng là mục tiêu cuối cùng mà doanh nghiệp hướng tới Tuy nhiên, khách hàng của doanh nghiệp rất đa dạng, mỗi nhóm khách hàng lại
có những đòi hỏi riêng, yêu cầu riêng, nhưng doanh nghiệp không thể đáp ứng hết tất cả các đòi hỏi này của khách hàng trong điều kiện hạn chế về nguồn lực Chính
vì vậy, ra quyết định đầu tư đúng đắn là nhiệm vụ quan trọng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cũng như đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp
c) Nhóm nhân tố thuộc doanh nghiệp
- Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh: Đặc điểm kinh tế và kỹ
thuật của ngành kinh doanh có ảnh hưởng không nhỏ tới quản trị tài chính doanh nghiệp Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm về mặt kinh tế và kỹ thuật khác nhau Những ảnh hưởng đó thể hiện:
+ Ảnh hưởng của tính chất ngành kinh doanh:
Ảnh hưởng này thể hiện trong thành phần và cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới quy mô của vốn sản xuất kinh doanh, cũng như tỷ lệ thích ứng để hình thành và sử dụng chúng, do đó ảnh hưởng tới tốc độ luân chuyển vốn (vốn cố định và vốn lưu động) ảnh hưởng tới phương pháp đầu tư, thể thức thanh toán chi trả
+ Ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh:
Tính thời vụ và chu kỳ sản xuất có ảnh hưởng trước hết đến nhu cầu vốn sử dụng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm Những doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ ngắn thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường không có biến động lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, điều đó giúp cho doanh nghiệp dễ dàng đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi bằng tiền; cũng như trong việc tổ chức đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh Những doanh nghiệp sản