Chỉ định thầu là một trong những hình thức lựa chọn nhà thầu được đánh giá ưu điểm trong các tình huống cần khắc phục ngay các tình huống khẩn cấp như thiên tai lũ lụt, các gói thầu liên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
TRẦN THÁI TUÂN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC ĐẤU THẦU CẤC DỰ ÁN ĐẦU TƯ Ở BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN, TỔNG
CỤC HẬU CẦN - KỸ THUẬT, BỘ CÔNG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
TRẦN THÁI TUÂN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC ĐẤU THẦU CẤC DỰ ÁN ĐẦU TƯ Ở BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN, TỔNG
CỤC HẬU CẦN - KỸ THUẬT, BỘ CÔNG AN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN TRUNG KIÊN
XÁC NHẬN CỦA
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ CHẤM LUẬN VĂN
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc Gia Hà Nội
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc Gia Hà Nội, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Trung Kiên đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của quý thầy cô và các bạn
Trang 5
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤU THẦU VÀ CHỈ ĐỊNH THẦU 6
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn 6
1.2 Khái quát chung về đấu thầu 8
1.2.1 Khái niệm đấu thầu 8
1.2.2 Vai trò của đấu thầu 8
1.2.3 Hình thức đấu thầu 10
1.2.4 Các phương thức đấu thầu 12
1.3 Quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu 14
1.3.1 Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu 14
1.3.2 Sự cần thiết phải có quản lý nhà nước về đấu thầu 14
1.3.3 Tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về đấu thầu 17
1.3.4 Hình thức quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu 18
1.4 Quản lý nhà nước với hoạt động chỉ định thầu 19
1.4.1 Khái niệm quản lý nhà nước với hoạt động chỉ định thầu 19
1.4.2 Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động chỉ định thầu 21
1.4.3 Các tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về hoạt động chỉ định thầu 27
1.3.4 Hình thức quản lý nhà nước về hoạt động chỉ định thầu 29
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Giới thiệu phương pháp nghiên cứu 31
2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu, tài liệu sơ cấp và thứ cấp 31
2.1 2 Phương pháp xử lý số liệu, tài liệu 32
2.2 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 33
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu: 33
2.2.2 Thời gian thực hiện nghiên cứu: 33
Trang 6CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỈ ĐỊNH THẦU Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ
ÁN, TỔNG CỤC IV, BỘ CÔNG AN 34
3.1 Thực trạng pháp luật quản lý nhà nước về chỉ định thầu 34
3.1.1 Chủ thể có liên quan đến pháp luật quản lý nhà nước về chỉ định thầu 34 3.1.2 Đối tượng của pháp luật quản lý nhà nước về chỉ định thầu 39 3.1.3 Các trường hợp áp dụng pháp luật quản lý nhà nước về chỉ định thầu 41 3.1.4 Quản lý nhà nước về quy trình thực hiện chỉ định thầu 48 3.1.5 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quản lý nhà nước với hoạt động chỉ định thầu 54 3.1.6 Quản lý nhà nước xử lý vi phạm trong hoạt động chỉ định thầu 59
3.2 Thực tiễn quản lý nhà nước với hoạt động chỉ định thầu ở Ban quản lý dự án Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an 59
3.2.1 Hệ thống chính sách quản lý nhà nước với hoạt động chỉ định thầu
từ thực tiễn áp dụng ở Ban quản lý dự án Tổng cục Hậu cần Kỹ thuật, Bộ Công an và một số tồn tại hạn chế 60 3.2.2 Thực trạng quản lý nhà nước với hoạt động chỉ định thầu ở Ban quản lý dự án, Tổng cục Hậu cần Kỹ thuật, Bộ Công an 64 3.2.3 Quản lý nhà nước với quy trình thực hiện Chỉ định thầu tại Bộ Công
an 69
3.3 Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nước với hoạt động chỉ định thầu ở Ban quản lý dự án Tông tục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an 71
3.3.1 Những ưu điểm 71 3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 74
CHƯƠNG 4: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỚI HOẠT ĐỘNG CHỈ ĐỊNH THẦU TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI BAN QLDA, TỔNG CỤC IV, BỘ CÔNG AN 77
Trang 74.1 Kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước với hoạt động chỉ định thầu 77
4.1.1 Hoàn chỉnh hệ thống văn bản đảm bảo tính thống nhất thi hành pháp luật chỉ định thầu 77 4.1.2 Cần điều chỉnh bổ sung quy định pháp luật quy định cụ thể 80 4.1.3 Cần điều chỉnh đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh tăng cường phân cấp: 82 4.1.4 Cần phải điều chỉnh pháp luật chỉ định thầu, cần quy định có sự phối hợp giữa các cơ quan liên ngành: 83 4.1.5 Cần quy định chặt chẽ hơn chế tài xử phạt đối với những hành vi vi phạm pháp luật đấu thầu 84 4.1.6 Xây dựng theo hướng thành lập các trung tâm phụ trách công tác quản lý hoạt động chỉ định thầu 85
4.2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả pháp luật quản lý nhà nước với hoạt động chỉ định thầu 86
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 85 Cục H45 Quản lý xây dựng cơ bản và doanh trại
6 Cục H59 Cục Quản lý Công nghiệp an ninh và Doanh nghiệp
7 Doanh nghiệp an
ninh
Các doanh nghiệp trực thuộc Bộ Quốc phòng; Bộ Công an (quy định chi tiết tại Nghị định số 93/2015/NĐ-CP ngày 15 / 10 / 2015, về
tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh)
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh đất nước ta đang ra sức thi đua phấn đấu hoàn thành các mục tiêu về kinh tế xã hội giai đoạn 2015-2020, Đảng xác định từ đại hội XII đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước Công nghiệp
Bộ Công an với vai trò là nòng cốt thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về an ninh trật tự, an toàn xã hội tại văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII
đề cập đến vai trò quản lý Công nghiệp an ninh Từ nghị quyết trên Đảng ủy CATW, lãnh đạo Bộ yêu cầu quyết tâm xây dựng Đề án phát triển CNAN và
triển khai hiệu quả, có tổ chức chuyên trách về CNAN Cục H59 (Cục quản lý
Công nghiệp an ninh và Doanh nghiệp)-Tổng cục IV-Bộ Công an với vai trò
chức năng là đơn vị tham mưu cho Lãnh đạo Bộ Công an về công tác tổ chức quản lý đấu thầu nói chung và công tác Chỉ định thầu các gói thầu hạng mục đặc thù nói riêng Quản lý tốt công tác chỉ định thầu trong Công an nhân dân góp phần vào thành công của các hạng mục công trình dự án cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách trong hoạt động đầu tư xây dựng trong Công an nhân dân
Trong suốt quá trình hoạt động của mình tập thể Lãnh đạo Cục H59 cùng toàn thể cán bộ chiến sĩ Cục luôn cố gắng với tinh thần chính trị cao nhất hoàn thành nhiệm vụ được giao về công tác quản lý đấu thầu trong Công an
Tuy nhiên ngoài các thành công ban đầu kể trên, đã xuất hiện một số vấn
đề về chính sách trong công tác đấu thầu nói chung và công tác chỉ định thầu nói riêng trong Công an nhân dân Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 hiệu lực từ ngày 01/07/2014 và Nghị định số 63/2014/ND-CP ngày 26/6/2014 hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu mới điều chỉnh các hoạt động đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước bao gồm Bộ Công an
Trang 10Xuất phát từ đặc thù của Bộ Công an các dự án đầu tư xây dựng công trình; Dự án mua sắm trang thiết bị với mục đích phục vụ công tác chiến đấu, huấn luyện, cần đảm bảo tính bí mật Đến 80% các gói thầu tại Bộ Công an được phê duyệt theo hình thức chỉ định thầu cho các hạng mục xây lắp, mua
sắm hàng hóa, dịch vụ tư vấn ngoài các hoạt động chỉ định thầu xây dựng thông thường thì các lĩnh vực khác đều mang tính đặc thù cần giữ bí mật như chỉ định thầu mua sắm hàng hóa ( gói thầu mua sắm các dây chuyền sản xuất
vũ khí, công cụ hỗ trợ chiến đấu ), chỉ định thầu tư vấn chuyển giao công nghệ (công nghệ in hộ chiếu điện tử, công nghệ sản xuất súng bắn đạn hơi cay, đạn cao su )
Bản thân tác giả trong quá trình đảm nhiệm vị trí Trưởng Ban quản lý B59-H59-BCA đó nhận thấy một số mâu thuẫn bất hợp lý trong quy định về công tác chỉ định thầu khi áp dụng vào các gói thầu trong CAND Từ lý do trên
tác giả lựa chọn đề tài "Quản lý nhà nước trong lĩnh vực đấu thầu các dự án đầu tư ở Ban quản lý dự án, Tổng cục Hậu cần Kỹ thuật, Bộ Công an ", luận
văn chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật về chỉ định thầu mà không nghiên cứu sâu phân tích về thực trạng các hình thức lựa chọn nhà thầu khác như đấu thầu rộng rãi, chào hàng cạnh tranh
Từ các định hướng trên tác giả tập trung phân tích những ưu điểm, hạn chế, bất hợp lý của Chính sách pháp luật quản lý nhà nước với hoạt động đấu thầu nói chung và chỉ định thầu nói riêng Từ đó kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế chính sách trong công tác quản lý nhà nước với hoạt động đấu thầu tại Ban quản lý dự án Tổng cục Hậu cần Kỹ thuật, Bộ Công an
Trang 112 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 M ục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận về khái niệm; đặc điểm; vai trò của đấu thầu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay Cơ cở lý luận về chính sách quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu nói chung và chỉ định thầu nói riêng
Luật Đấu thầu năm 2013 có hiệu lực thi hành (1/7/2014), được đánh giá cao và nghi nhận rằng, Luật này đã cơ bản tiệm cận với thông lệ quốc tế, phù hợp với tiến trình cải cách lĩnh vực mua sắm công tại Việt Nam
Tuy nhiên, trên thực tế hiệu quả quản lý nhà nước với hoạt động đấu thầu cho xây dựng cơ bản chưa cao, còn xảy ra thất thoát, lãng phí, đặc biệt nghiêm trọng là tham ô tham nhũng từ hoạt động đấu thầu Chỉ định thầu là một trong những hình thức lựa chọn nhà thầu được đánh giá ưu điểm trong các tình huống cần khắc phục ngay các tình huống khẩn cấp như thiên tai lũ lụt, các gói thầu liên quan đến an ninh quốc phòng tuy nhiên ngoài ưu điểm nói trên thực tế hình thức này đang bị lợi dụng thay vì đấu thầu rộng rãi nhiều chủ đầu
tư cố tình bao biện để áp dụng chỉ định thầu dẫn đến chỉ định những nhà thầu không có năng lực kinh nghiệm gây chậm tiến độ, thất thoát VD như các sai phạm liên quan đến hoạt động chỉ định thầu tại Tổng Công ty xây lắp dầu khí PVC làm thua lỗ gần 3.300 tỷ đồng; sai phạm về đấu thầu tại dự án xơ sợi Đình
Vũ, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam thua lỗ gần 10.000 tỷ đồng và rất nhiều sai phạm được Thanh tra chính phủ công bố năm 2016
Luận văn này đi sâu tìm hiểu, phân tích chính sách quản lý nhà nước về hoạt động chỉ định thầu từ thực tiễn bản thân tác giả công tác với cương vị Trưởng ban quản lý dự án 59 của Tổng cục Hậu cần, Kỹ thuật - Bộ Công an, chỉ ra những điểm ưu nhược điểm những thành tựu đạt được cũng như những
bất cập tồn tại từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức chấp hành
Trang 12pháp luật chính sách quản lý nhà nước về hoạt động chỉ định thầu và kiến nghị giải pháp điều chỉnh hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước về lĩnh vực này
2.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về các quy định hiện hành
Phân tích thực trạng những ưu nhược điểm của pháp luật Chỉ định thầu khi áp dụng vào các hoạt động đầu tư trong Công an nhân dân
Từ các ưu nhược điểm, tổng hợp đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật quản lý nhà nước, biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước với hoạt động đấu thầu
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng chỉ định thầu tại Ban Quản lý dự án, Tổng cục Hậu cần -
Kỹ thuật Bộ Công an như thế nào? Quá trình chỉ định thầu có công khai, minh bạch? Có lựa chọn được nhà thầu đủ năng lực thực hiện? Ưu điểm nhược điểm của Chỉ định thầu, nguyên nhân?
- Bằng cách nào để hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà nước đối với hình thức chỉ định thầu?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cá nhân và tổ chức tham gia vào hoạt động chỉ định thầu hoặc có liên quan; Quy định về năng lực; bảo đảm cạnh tranh; quy trình Chỉ định thầu xây dựng trong Công an
4.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá tính hợp
lý của quy định Pháp luật hiện hành về Chỉ định thầu nói chung và Chỉ định thầu xây dựng trong Ban Quản ý dự án, Tổng cục IV, Công an
Với kinh nghiệm thực tiễn đó tham gia quản lý một số dự án trong Công
an nhân dân, tác giả nghiên cứu các vấn đề từ dự án đã tham gia
Trang 13Thời gian nghiên cứu: Đánh giá phân tích từ Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 hiệu lực từ ngày 01/07/2014 và Nghị định số 63/2014/ND-CP ngày 26/6/2014 hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu mới
Số liệu nghiên cứu: trong vòng 10 năm, từ 2005 đến 2015
5 Đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở phân tích thực trạng hiệu quả chính sách quản lý nhà nước tại Ban quản lý dự án Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật, Bộ Công an, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong việc nâng cao hiệu quả công
tác quản lý nhà nước
Kiến nghị những giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước với hoạt động chỉ định thầu, đồng thời kiến nghị những biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước với hoạt động chỉ định thầu tại Ban quản lý dự
án Tổng cục IV, Bộ Công an
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn được chia thành 04 chương như sau:
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤU THẦU VÀ CHỈ ĐỊNH THẦU
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỈ ĐỊNH THẦU Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN, TỔNG CỤC IV, BỘ CÔNG AN
CHƯƠNG 4: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỚI HOẠT ĐỘNG CHỈ ĐỊNH THẦU TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI BAN QLDA, TỔNG CỤC IV, BỘ CÔNG AN
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤU THẦU VÀ CHỈ ĐỊNH THẦU
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn
Vấn đề quản lý nhà nước về đấu thầu, thời gian qua, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này:
”Một số vấn đề về pháp luật đấu thầu quốc tế tại Việt Nam” (Nguyễn
Thái Diễm, 2006) Đồ án tốt nghiệp thạc sỹ Đồ án đã đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về Một số vấn đề lý luận cơ bản về đấu thầu quốc tế Các quy định pháp lý cơ bản hiện hành của Việt Nam về đấu thầu quốc tế trong tương quan
so sánh với một số quy định quốc tế, như về lựa chọn nhà thầu, hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên trong đấu thầu, vi phạm và xử lý vi phạm trong đấu thầu Tổng quan thực trạng thực thi pháp luật về đấu thầu quốc tế tại Việt Nam và một số giải pháp đề xuất: hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về đấu thầu quốc tế, nâng cao năng lực con người
”Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu các dự
án đầu tư bằng vốn nhà nước của Hà Nội” (Phạm Thái Long, 2008), Đồ án tốt
nghiệp thạc sỹ Đồ án đã đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về thực tiễn quản
lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu các dự án đầu tư bằng vốn nhà nước Nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu các dự
án đầu tư bằng vốn nhà nước của Hà Nội Đưa ra phương hướng, một số giải pháp cơ bản tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu các dự án bằng vốn nhà nước của Hà Nội
”Pháp luật Việt Nam về đấu thầu mua sắm công - hướng hoàn thiện từ kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp” (Lương Thị Thùy Linh, 2013) Đồ án tốt
nghiệp thạc sỹ Đồ án đã đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý đầu thầu mua sắm tài sản công
Trang 15”Hoàn thiện công tác quản lý đấu thầu mua sắm trang thiết bị phương
tiện tại Cục Kế hoạch và Đầu tư- Bộ Công an” (Võ Thị Hồng Long, 2014) Đồ
án tốt nghiệp thạc sỹ Đồ án đã đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý đầu thầu mua sắm trang thiết bị tại Cục Kế hoạch đầu tư - Bộ Công an
”Quản lý đấu thầu mua sắm phương tiện phòng cháy, chữa cháy tại Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ - Bộ Công An” (Đặng Thị Thu Hiền, 2015), Đồ án tốt nghiệp thạc sỹ Đồ án đã đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý đầu thầu mua sắm tại Cục C66, Bộ Công an
Ở các luận văn này, các tác giả đã đề cập đến một số vấn đề lý luận chung của từng lĩnh vực cụ thể trong quản lý nhà nước về đấu thầu, trong đó
có các hoạt động đấu thầu rộng rãi trong nước, quốc tế; đầu thầu hạn chế, chào hàng cạnh tranh ; Đó là những kiến thức mà tác giả có thể tham khảo trong quá trình triển khai nghiên cứu luận văn của mình
Với các hoạt động đấu thầu diễn ra hàng ngày và có rất nhiều tình huống cần xử lý, các đơn vị quản lý dự án, các bên mời thầu còn lúng túng, dẫn đến chất lượng lựa chọn nhà thầu chưa đảm bảo chất lượng, với các hoạt động chỉ định thầu diễn ra thường xuyên,
Từ khảo sát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố nói trên và
từ mục đích nghiên cứu đặt ra, thì câu hỏi: quản lý nhà nước trong lĩnh vực chỉ
định thầu như thế nào cho hiệu quả? Thực trạng chỉ định thầu tại Ban Quản lý
dự án, Tổng cục IV, Bộ Công an diễn ra như thế nào? Vì vậy, với đề tài này, tôi
hy vọng sẽ đóng góp tích cực vào việc nâng cao chất lượng quản lý nhà nước trong lĩnh vực đấu thầu, đặc biệt là công tác chỉ định thầu các gói thầu thuộc dự
án của Ban Quản lý dự án, Tổng cục IV, Bộ Công an
Trang 161.2 Khái quát chung về đấu thầu
1.2.1 Khái niệm đấu thầu
Đấu thầu là một hình thức kinh doanh dựa vào tính chất cạnh tranh công khai của thị trường, không có cạnh tranh thì không có đấu thầu và cũng không cần đến đấu thầu Có thể nói đấu thầu là phương thức giao dich đặc biệt Trong một vụ kinh doanh mua bán hay xây dựng các công trình dân sự có liên quan đến nhiều người, nhiều bên khác nhau thì người ta thường áp dụng hoặc bắt buộc phải áp dụng hình thức đấu thầu cạnh tranh công khai
Từ khi đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế mở cửa so với thế giới thì bắt đầu xuất hiện khái niệm đấu thầu Theo định nghĩa về thuật ngữ “đấu thầu” trong Luật Đấu thầu của Việt Nam thì đó là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án sử dụng vốn nhà nước Kết quả của sự lựa chọn là có hợp đồng được ký kết với các điều khoản quy định chi tiết trách nhiệm của hai bên Một bên là nhà thầu phải thực hiện các nhiệm vụ như nêu trong hồ sơ mời thầu (có thể là dịch vụ tư vấn, cung cấp hàng hoá hoặc chịu trách nhiệm xây dựng một công trình ), một bên là chủ đầu tư có trách nhiệm giám sát, kiểm tra, nghiệm thu và thanh toán tiền Như vậy thực chất của quá trình đấu thầu ở Việt Nam đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước là một quá trình mua sắm- quá trình chi tiêu, sử dụng tiền của Nhà nước Đấu thầu là bắt buộc đối với các hoạt động mua sắm sử dụng vốn do nhà nước quản lý
1.2.2 Vai trò của đấu thầu
* Đối với bên mời thầu- người mua thì đấu thầu mang lại những lợi ích
sau:
- Tiếp cận với các nhà cung cấp mới, tiềm năng Bằng việc tổ chức các cuộc thi cho nhiều nhà thầu tham gia thì bên mời thầu có cơ hội phát hiện ra những nhà cung cấp mới trên thị trường
Trang 17- Phát hiện ra sản phẩm thay thế Những nhà thầu tham gia đấu thầu có thể đưa ra những sản phẩm khác nhau xong vẫn cùng mục đích sử dụng Như vậy, bên mời thầu sẽ biết đến các sản phẩm mới này và có quyết định phù hợp cho việc mua sắm của mình
- Giá mua hợp lý nhất Các nhà thầu khi tham gia đấu thầu đều mong muốn trúng thầu vì vậy họ cạnh tranh với nhau về chất lượng lẫn giá cả Chính sự cạnh tranh này làm cho bên mời thầu lựa chọn được những sản phẩm hợp lý nhất xét từ góc độ mối quan hệ giá cả- chất lượng
* Đối với nhà thầu- người bán thì đấu thầu mang lại những lợi ích sau:
- Tiếp cận với khách hàng mới Với việc tham gia đấu thầu thì nhà thầu
có cơ hội gặp gỡ với khách hàng mới để tìm hiểu nhu cầu mua sắm, đây là yếu tố quan trọng trong hoạt động nghiên cứu thị trường của nhà thầu
- Tiếp cận với đối thủ cạnh tranh Một cuộc đấu thầu có thể có rất nhiều nhà thầu tham gia và bên cạnh đó, cac điều kiện dự thầu của các nhà thầu này lại được thông báo công khai Như vậy đấu thầu đã tạo ra cơ hội cho các nhà thầu gặp gỡ nhau, tìm hiểu điểm mạnh và hạn chế của những đối thủ cạnh tranh để hoàn thiện mình và tìm kiếm cơ hội hợp tác
- Tiếp cận với những quy định về đấu thầu của các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức quản lý vốn khác Đấu thầu là hoạt động mua bán theo những quy định mang tính pháp luật, vì vậy khi tham gia đấu thầu các nhà thầu phải tìm hiểu nắm vững các quy định này
- Hoàn thiện sản phẩm Đứng trước yêu cầu mua sắm của bên mời thầu
về dịch vụ, công trình hay hàng hóa thì nhà thầu sẽ xác định xem sản phẩm của mình có đáp ứng được hay không Qua những lần không trúng thầu nhà thầu sẽ tìm được nguyên nhân thất bại để từ đó hoàn thiện sản phẩm về chất lượng, giá cả, dịch vụ bán hàng
* Đối với nền kinh tế quốc dân
Trang 18- Là một công cụ quan trọng của kinh tế thị trường, giúp người mua (bên mời thầu) và người bán (nhà thầu) gặp nhau thông qua cạnh tranh
- Là một công cụ quan trọng giúp các chính phủ quản lý chi tiêu, sử dụng các nguồn vốn của Nhà nước sao cho có hiệu quả và chống thất thoát, lãng phí Đó là những khoản tiền được chi dùng cho đầu tư phát triển mà có sự tham gia của các tổ chức nhà nước, doanh nghiệp nhà nước ở một mức độ nào
đó, cũng như cho mục tiêu duy trì các hoạt động của bộ máy Nhà nước
- Thúc đẩy chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm giữa các quốc gia, các tổ chức phát triển với các quốc gia đang phát triển Hoạt động đấu thầu không chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp mà được diễn ra trên toàn thế giới Các nhà thầu danh tiếng trên thế giới- họ là những người sẵn sàng và
có khả năng tham gia vào tất cả các hoạt động của các quốc gia, thông qua đó
họ sẵn sàng chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm
- Việc chi tiêu, sử dụng tiền của Nhà nước thông qua đấu thầu sẽ giúp các cơ quan quan lý có điều kiện xem xét, quản lý và đánh giá một cách minh bạch các khoản chi tiêu do quá trình đấu thầu phải tuân thủ các quy trình chặt chẽ với sự tham gia của nhiều bên
- Tạo điều kiện để thúc đẩy tiến trình đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp, cơ chế “xin”, “cho” sang cơ chế cạnh tranh
- Thực hiện dân chủ hóa nền kinh tế, khắc phục những nhược điểm của những thủ tục hành chính nặng nề cản trở sự năng động, sáng tạo
1.2.3 Hình thức đấu thầu
-Đấu thầu rộng rãi: Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không hạn
chế số lượng nhà thầu tham gia Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thời gian dự thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng trước khi phát hành hồ sơ mời thầu Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu
Trang 19được áp dụng trong đấu thầu và là hình thức lựa chọn nhà thầu có tính cạnh tranh cao nhất
- Đấu thầu hạn chế: Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời
thầu mời một số nhà thầu (tối thiểu là 5) có đủ năng lực tham dự Danh sách nhà thầu tham dự phải được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền chấp thuận Hình thức này thường áp dụng với những gói thầu phức tạp về mặt kỹ thuật, lớn về quy mô hoặc điều kiện thực hiện khó khăn
- Chỉ định thầu: Chỉ định thầu là hình thức chọn trực tiếp nhà thầu đáp
ứng yêu cầu của gói thầu để thương thảo hợp đồng
-Chào hàng cạnh tranh: Hình thức này được áp dụng cho những gói thầu
mua sắm hàng hóa có giá trị dưới 2 tỷ đồng Mỗi gói thầu phải có ít nhất 3 chào hàng của 3 nhà thầu khác nhau trên cơ sở yêu cầu chào hàng của Bên mời thầu Việc gửi chào hàng có thể được thực hiện bằng cách gửi trực tiếp, bằng fax, bằng đường bưu điện hoặc bằng các phương tiện khác Gói thầu áp dụng hình thức này thường có sản phẩm cụ thể, đơn vị trúng thầu thường là đơn vị đưa ra giá có giá trị thấp nhất, không thương thảo về giá
- Mua sắm trực tiếp: Được áp dụng trong trường hợp bổ sung hợp đồng
cũ đã thực hiện xong (dưới một năm) hoặc hợp đồng đang thực hiện với điều kiện chủ đầu tư có nhu cầu tăng thêm số lượng hàng hóa hoặc khối lượng công việc mà trước đó đã được tiến hành đấu thầu, nhưng phải đảm bảo không được vượt mức giá hoặc đơn giá trong hợp đồng đã ký trước đó Trước khi ký hợp đồng, nhà thầu phải chứng minh có đủ năng lực về kỹ thuật và tài chính để thực hiện gói thầu
- Tự thực hiện: Hình thức này chỉ được áp dụng đối với các gói thầu mà
chủ đầu tư có đủ năng lực thực hiện trên cơ sở tuân thủ quy định Quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng Các gói thầu có đặc điểm giá trị nhỏ và có tính
Trang 20đặc thù nên không có nhà thầu quan tâm, thời gian thực hiện gián đoạn; tính rủi ro cao hay phải thực hiện gấp,
- Mua sắm đặc biệt: Hình thức này được áp dụng đối với các ngành hết sức
đặc biệt mà nếu không có những quy định riêng thì không thể đấu thầu được
1.2.4 Các phương thức đấu thầu
Theo Luật Đấu thầu ở Việt Nam thì có ba phương thức đấu thầu:
1.2.4.1 Đấu thầu một túi hồ sơ
Phương thức đấu thầu một túi hồ sơ được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC Nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất
về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Việc mở thầu được tiến hành một lần
1.2.4.2 Đấu thầu hai túi hồ sơ
Là phương thức mà nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về giá trong từng túi hồ sơ riêng vào cùng một thời điểm Túi hồ sơ đề xuất kỹ thuật
sẽ được xem xét trước để đánh giá Các nhà thầu đạt số điểm kỹ thuật từ 70% trở lên sẽ được mở tiếp túi hồ sơ đề xuất về giá để đánh giá Phương thức này chỉ được áp dụng đối với đấu thầu tuyển chọn tư vấn
1.2.4.3 Đấu thầu hai giai đoạn
Phương thức này áp dụng cho những trường hợp sau:
* Các gói thầu mua sắm hàng hoá và xây lắp có giá từ 500 tỷ đồng trở lên
* Các gói thầu mua sắm hàng hóa có tính chất lựa chọn công nghệ thiết
bị toàn bộ, phức tạp về công nghệ và kỹ thuật hoặc gói thầu xây lắp đặc biệt phức tạp
* Dự án thực hiện theo Hợp đồng chìa khóa trao tay
Phương thức đấu thầu hai giai đoạn được thực hiện như sau:
- Giai đoạn sơ tuyển lựa chọn nhà thầu
Trang 21+ Tùy theo quy mô, tính chất gói thầu, chủ đầu tư thông báo mời thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc gửi thư mời thầu Chủ đầu tư
có trách nhiệm cung cấp cho các nhà thầu tham dự hồ sơ mời dự thầu bao gồm các thông tin sơ bộ về gói thầu và các nội dung chính của hồ sơ mời dự thầu Nhà thầu tham dự sơ tuyển phải nộp hồ sơ dự thầu kèm theo bảo lãnh dự thầu nhằm bảo đảm nhà thầu đã qua giai đoạn sơ tuyển phải tham dự đấu thầu Mức bảo lãnh dự thầu do chủ đầu tư quyết định nhưng không vượt quá 1% giá gói thầu
+ Tiêu chuẩn đánh giá ở vòng sơ tuyển bao gồm:
* Năng lực kỹ thuật
* Năng lực tài chính
* Kinh nghiệm
- Giai đoạn đấu thầu
+ Chủ đầu tư cung cấp hồ sơ mời đấu thầu cho các nhà thầu được lựa chọn vào giai đoạn đấu thầu Nhà thầu tham dự đấu thầu phải nộp hồ sơ đấu thầu kèm theo bảo lãnh đấu thầu nhằm đảm bảo nhà thầu đàm phán ký kết hợp đồng sau khi được tuyên bố trúng thầu Mức bảo lãnh dự thầu do chủ đầu
tư quyết định nhưng không vượt quá 3% giá gói thầu
+ Tiêu chuẩn đánh giá ở vòng đấu thầu bao gồm:
* Khả năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ
* Tiến độ thực hiện
* Giá dự thầu
* Các điều kiện khác của nhà thầu đề xuất nhằm đạt mục tiêu đầu tư và
hiệu quả cho dự án
Nhà thầu được lựa chọn là nhà thầu có giá dự thầu hợp lý và mang lại hiệu quả cao nhất cho dự án
Trang 221.3 Q uản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu
1.3.1 Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu
Quản lý nhà nước về đấu thầu là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước đối với hoạt động đấu thầu nhằm làm cho hoạt động đấu thầu diễn ra hiệu quả, công bằng, minh bạch và kinh tế nhằm góp phần thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước
1.3.2 S ự cần thiết phải có quản lý nhà nước về đấu thầu
- Đảm bảo cạnh tranh công bằng
Công tác đấu thầu muốn đạt được hiệu quả cần phải đảm bảo được quy luật cạnh tranh theo cơ chế thị trường Có cạnh tranh thì mới có động lực để sáng tạo, cải tiến, kích thích người mua (bên mời thầu) đưa ra các yêu cầu phù hợp (thể hiện trong hồ sơ mời thầu) và người bán (nhà thầu) cạnh tranh với nhau để giành được hợp đồng (bán được hàng) với giá bán cạnh tranh song vẫn bảo đảm chất lượng của hàng hoá, công trình, dịch vụ
Vai trò của cạnh tranh quan trọng như vậy nhưng trong thực tế tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, không đảm bảo sự công bằng giữa các nhà thầu diễn ra phổ biến đòi hỏi phải có sự tham gia của cơ quan nhà nước Với việc ban hành Luật Đấu thầu, cơ quan quản lý đã góp phần hạn chế tình trạng trên, đặc biệt khi quy định về các hành vi bị cấm trong đấu thầu (điều 12 Luật Đấu thầu), về việc phân chia công việc đấu thầu thành các gói thầu phải tính đến khả năng cạnh tranh (điều 6 và điều 18 Luật Đấu thầu), việc đăng tải thông tin(điều 5 Luật đấu thầu), tạo cơ sở pháp lý đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các bên tham gia hoạt động đấu thầu, đảm bảo cho việc cạnh tranh công
bằng, hiệu quả, nâng cao hiệu quả kinh tế
- Đảm bảo công khai, minh bạch trong đấu thầu
Công khai, minh bạch trong đấu thầu vừa là một trong những mục tiêu, vừa là một trong những yêu cầu cần quán triệt Hoạt động đấu thầu chỉ có thể
Trang 23đạt được khi có sự quản lý giám sát của nhà nước bằng việc đưa ra các quy định, luật lệ, và bằng quyền lực tối cao của mình tiến hành công việc kiểm tra giám sát
Công khai trong đấu thầu có thể hiểu là sự không ”che đậy, dấu giếm”, không bí mật vì lợi ích của một cá nhân hoặc tổ chức nào đó mà cần thể hiện, bày tỏ các nội dung thông tin theo quy định cho mọi người liên quan hoặc có quan tâm được biết
Các thông tin liên quan tới việc tham dự thầu, tổ chức các cuộc thầu, thông tin về dự án, thông tin về trao thầu đều phải được thông báo công khai rộng rãi theo quy định
- Đảm bảo công bằng trong đấu thầu
Trong đấu thầu phải hết sức tôn trọng quyền lợi của các bên có liên quan Mọi thành viên từ chủ đầu tư đến các nhà thầu, các tổ chức tư vấn được thuê thực hiện một phần công việc của đấu thầu đều bình đẳng với nhau Vai trò của họ trong hoạt động đấu thầu là rất lớn Mỗi bên có quyền và trách nhiệm của riêng mình Do mỗi bên có những quyền và lợi ích nhất định nên những hành vi gian lận, không lành mạnh rất có thể xảy ra nhằm tư lợi về mình Các chủ thể tham gia hoạt động đấu thầu chỉ có thể yên tâm khi có một
cơ quan quyền lực, không vì mục tiêu lợi nhuận đứng ra giám sát thị trường nhằm hạn chế tối đa những hành vi tiêu cực, tạo ra khuôn khổ pháp lý để các bên làm theo Chủ đầu tư không được phép cho rằng mình là người có quyền cao nhất muốn làm gì thì làm, muốn cho ai trúng thầu thì cho Nhà thầu không được lợi dụng quan hệ thân thiết, hoặc những tác động vật chất đối với các thành viên tổ chuyên gia đấu thầu để làm sai lệch kết quả đấu thầu theo hướng
có lợi cho mình Người có thẩm quyền phê duyệt các nội dung quan trọng trong đấu thầu phải thực hiện theo quy định mà không thể dùng ảnh hưởng cá nhân để phê duyệt tạo thuận lợi cho một hoặc một số cá nhân, tổ chức có lợi
Trang 24ích liên quan Còn đối với chủ đầu tư phải có trách nhiệm lập HSMT bảo đảm công bằng, không được tạo lợi thế cho một hoặc một số cá nhân, hạn chế sự tham gia của các nhà thầu khác Khi HSMT đã được phê duyệt thì CĐT, BMT, tổ chuyên gia phải thực hiện theo đúng các nội dung nêu trong HSMT, không được thiên vị, đối xử bất công với bất kỳ nhà thầu nào Ngoài ra, mọi thông tin liên quan đến quá trình tổ chức đấu thầu đều phải được công khai theo quy định đến tất các nhà thầu để có cơ hội tiếp cận như nhau trong quá trình tham gia đấu thầu
- Đảm bảo hiệu quả của công tác đấu thầu
Hiệu quả của công tác đấu thầu chính là việc sử dụng một cách có hiệu nguồn tiền của Nhà nước Việc sử dụng các nguồn tiền của Nhà nước có thể mang lại hiệu quả ngắn hạn cho dự án và hiệu quả dài hạn về kinh tế - xã hội Hiệu quả ngắn hạn là các gói thầu đều được thực hiện bảo đảm chất lượng trong phạm vi nguồn ngân sách dự kiến sẽ bảo đảm được tính khả thi của dự án
Hiệu quả dài hạn về mặt kinh tế có thể dễ dàng nhìn nhận và đánh giá thông qua chất lượng hàng hoá, công trình, dịch vụ ứng với số tiền bỏ ra và chính các công trình, nhà máy, dịch vụ, các chính sách được tạo lập sẽ có tác động tạo ra các nguồn thu mới, các giá trị thặng dư cho đất nước
Khi không có sự can thiệp của Nhà nước thì hiệu quả khó mà đạt được khi mỗi chủ thể tham gia đấu thầu theo cách của riêng mình và tìm cách để tư lợi cho mình Không có những quy định mang tính pháp lý hoạt động đấu thầu sẽ diễn ra lộn xộn, gây thất thoát lãng phí tài sản của nhà nước, ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của nền kinh tế
- Phòng, chống tham nhũng trong đấu thầu
Mục tiêu tiếp theo của đấu thầu là loại trừ tham nhũng Đây là mục tiêu vừa có tính lâu dài, vừa có tính cấp bách trước mắt vì Việt nam đã ký vào
Trang 25công ước quốc tế về chống tham nhũng Có thể nói rằng, tham nhũng là một trong những căn bệnh dễ có nguy cơ nảy sinh trong quá trình mua sắm công
vì công quỹ, tài sản là của Nhà nước, của chung, thuộc sở hữu toàn dân, đặc biệt trong lĩnh vực xây lắp, xây dựng giao thông, lĩnh vực mua sắm công có lượng vốn đầu tư thường rất lớn
1.3.3 Tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về đấu thầu
Quản lý nhà nước về đấu thầu là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước đối với hoạt động đấu thầu nhằm làm cho hoạt động đấu thầu diễn ra hiệu quả, công bằng, minh bạch và kinh tế nhằm góp phần thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước
Trong đó, các mục tiêu đảm bảo cạnh tranh, hiệu quả, tiến độ, đúng pháp luật, công bằng, minh bạch, hài hòa các lợi ích phải gắn liền với đảm bảo hiệu quả đầu tư nguồn vốn từ ngân sách nhà nước
gồm: Tiêu chí hiệu lực, tiêu chí hiệu quả, tiêu chí phù hợp, tiêu chí công bằng Thứ nhất, tiêu chí hiệu lực: “Hiệu lực quản lý nhà nước là một phạm trù
xã hội chỉ mức độ pháp luật được tuân thủ và mức độ hiện thực quyền lực chỉ huy và phục tùng trong mối quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản
lý trong những điều kiện lịch sử nhất định” Do vậy, Hiệu lực quản lý nhà nước về đấu thầu chỉ mức độ tuân thủ pháp luật, chấp hành mọi chỉ đạo từ các
cơ quan quản lý nhà nước; đồng thời, biểu hiện mức độ hiện thực quyền lực Nhà nước của các cơ quan QLNN và uy tín của các cơ quan QLNN đối với các hoạt động đấu thầu
Đánh giá hiệu lực quản lý nhà nước qua mức độ tuân thủ các quy định pháp luật: Xem xét mức độ tuân thủ về đối tượng và cá nhân liên quan đến hoạt động đấu thầu
Trang 26Thứ hai, tiêu chí hiệu quả: Hiệu quả là chỉ tiêu phản ánh với hoạt động đấu thầu ở tất cả các khâu có liên quan mật thiết với nhau Hiệu quả quản lý nhà nước được đánh giá bằng mức độ đạt được của nội dung quản lý nhà nước với quy trình đấu thầu đã đặt ra
Thứ ba, tiêu chí phù hợp: Tiêu chí phù hợp trong QLNN về đấu thầu
bao gồm: Sự phù hợp của các mục tiêu định hướng; các quy định của pháp luật có nội dung bên trong phù hợp nhau, phù hợp trong quy định pháp luật giữa các hình thức lựa chọn nhà thầu, sự phù hợp giữa luật với các văn bản hướng dẫn thực hiện các hình thức lựa chọn nhà thầu, sự phù hợp về nội dung, phương thức, hình thức, kiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình tổ chức đấu thầu
Thứ tư, tiêu chí công bằng: Tiêu chí công bằng trong QLNN về đấu thầu
đòi hỏi sự cân đối về quyền và nghĩa vụ giữa các cá nhân đối tượng có liên quan trong hoạt động đấu thầu Việc đảm bảo công bằng, lợi ích cho các cá nhân đối tượng liên quan và lợi ích chung của nền kinh tế là yếu tố quan trọng thúc đẩy hoạt động đấu thầu triển khai một cách minh bạch khách quan công bằng cho tất cá các bên
1.3.4 Hình thức quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu
Nhà nước thực hiện quản lý hoạt động về đấu thầu chủ yếu bằng pháp luật Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường, vận động dưới sự chi phối của các quy luật kinh tế thị trường trong môi trường cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, thực hiện sự quản lý của mình đối với xã hội nói chung, nền kinh tế quốc dân nói riêng chủ yếu bằng pháp luật và theo pháp luật và hoạt động đấu thầu cũng không nằm ngoài sự quản
lý đó Với hình thức quản lý này, các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền như Chính phủ, Thủ tưởng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, bộ cơ quan ngang
bộ và UBND các cấp sẽ sử dụng các văn bản pháp quy, các quy định của
Trang 27mình để quản lý hoạt động liên quan đến công tác đấu thầu nhằm để hoạt động đấu thầu đi đúng hướng và kịp thời phát hiện các sai sót, vi phạm để điều chỉnh
1.4 Quản lý nhà nước với hoạt động chỉ định thầu
1.4.1 Khái niệm quản lý nhà nước với hoạt động chỉ định thầu
Hình thức lựa chọn nhà thầu bằng chỉ định thầu được thực hiện trong môi trường xác định Môi trường chỉ định thầu bao gồm tập hợp các yếu tố có tác động, chi phối hình thức chỉ định thầu, VD trong đó có pháp luật về đấu thầu trong hoạt động xây dựng; Pháp luật về xây dựng; Pháp luật về Tài chính; Pháp luật về Phòng cháy chữa cháy Trong bối cảnh đất nước ta đang tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu cơ bản đưa nước ta thành nước công nghiệp vào năm 2020 Để hoàn thành sứ mệnh đó nhu cầu về xây dựng cơ sở hạ tầng, điện đường trường trạm, các công trình dân sự, công nghiệp được đầu tư
từ nguồn vốn Ngân sách nhà nước, hay nguồn vốn xã hội hóa (có một phần nhỏ vốn ngân sách) từ nguồn vốn vay ODA, nguồn đầu tư nước ngoài FDI trong đó có các dự án gói thầu đặc thù cần triển khai trong tình huống khẩn cấp, gói thầu cần giữ bí mật đảm bảo an ninh chính trị, quốc gia chính
là cơ sở cho sự ra đời pháp luật về chỉ định thầu
Thực tiễn cho thấy trong công tác tổ chức chỉ định thầu các gói thầu của dự án từ nguồn Ngân sách nhà nước, hoặc công tư, nguồn ODA các Quốc gia đều chú trọng đến việc minh bạch hóa quy trình thực hiện, tăng cường công tác quản lý giám sát, nhằm đảm bảo và nâng cao hiệu quả các gói thầu, trong đó công việc được đặc biệt coi trọng là xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật về chỉ định thầu
Quy phạm pháp luật về chỉ định thầu có tính khái quát vì nó là tập hợp các quy tắc, quy định chung, dùng để áp dụng trong tất cả các hoạt động lựa
Trang 28chọn nhà thầu bằng hình thức chỉ định thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của mình trong cả một quy trình tổ chức thực hiện chỉ định thầu Đồng thời cũng rất cụ thể, bởi nó là khuân mẫu, chuẩn mực quy định cụ thể để điều chỉnh các mối quan hệ trong hoạt động chỉ định thầu
Về lí luận từ quan điểm hệ thống có thể xem xét khái niệm về pháp luật chỉ định thầu theo hai mức độ: Nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng, pháp luật chỉ định thầu bao gồm tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và thực hiện chỉ định thầu Trong chỉ định thầu phát sinh nhiều quan hệ tại các giai đoạn khác nhau, trong đó cơ bản phải kể đến là:
+ Quan hệ giữa nhà nước và Bộ chủ quản hoặc đơn vị được trực tiếp giao quản lý tổ chức chỉ định thầu gói thầu;
+ Quan hệ giữa Bộ ngành chủ quan và chủ đầu tư, nhà thầu;
+ Quan hệ giữa chủ đầu tư và nhà thầu được xét duyệt đề nghị phê duyệt chỉ định thầu;
+ Quan hệ giữa chủ đầu tư với các đơn vị đầu mối chuyên ngành quản
lý nhà nước về kế hoạch đầu tư, xây dựng cơ bản;
Theo nghĩa hẹp, đối tượng điều chỉnh của pháp luật chỉ định thầu là các
tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến quy trình chỉ định thầu có sử dụng nguồn vốn ngân sách, vốn của doanh nghiệp nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án Ngoài ra, đối tượng điều chỉnh của pháp luật chỉ định thầu là các tổ chức, cá nhân không thuộc phạm vi điều chỉnh nêu trên nhưng lựa chọn áp dụng pháp luật chỉ định thầu thì phải tuân thủ các quy định có liên quan của pháp luật chỉ định thầu Từ phân tích ở trên, có thể định nghĩa:
Trang 29Quản lý nhà nước với hoạt động chỉ định thầu là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện chỉ định thầu
Với cách hiểu về pháp luật chỉ định thầu như đã phân tích ở trên thì pháp luật chỉ định thầu là một bộ phận của Luật Đấu thầu và có mối liên hệ chặt chẽ với một số văn bản pháp luật khác, bởi chỉ định thầu là một hoạt động đặc thù liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống
1.4.2 N ội dung quản lý nhà nước về hoạt động chỉ định thầu
Pháp luật chỉ định thầu quy định những vấn đề pháp lý cho hoạt động chỉ định thầu như chuẩn bị chỉ định thầu, tổ chức chỉ định thầu, đánh giá, thẩm định phê duyệt kết quả chỉ định thầu, thương thảo ký hợp đồng triển khai Với chức năng cơ bản là đảm bảo an toàn pháp lý cho hoạt động chỉ định thầu, pháp luật chỉ định thầu có nội dung chủ yếu quy định về những vấn
đề sau:
a Ch ủ thể có liên quan đến hoạt động chỉ định thầu;
Một trong những đặc trưng của quan hệ pháp luật đấu thầu nói chung
và quan hệ pháp luật chỉ định thầu nói riêng là tính xác định về cơ cấu chủ thể Xuất phát từ tính chất của hoạt động đấu thầu quy định quản lý nhà nước
về đấu thầu; trách nhiệm của các bên có liên quan và quy trình thực hiện chỉ định thầu, để bảo vệ lợi ích của nhà nước, các tổ chức cá nhân tham gia, pháp luật chỉ định thầu xây dựng quy định những chủ thể được tham gia vào quan
hệ chỉ định thầu và những điều kiện cần đáp ứng để tham gia quan hệ đó Các chủ thể đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định để tham gia quan hệ chỉ định thầu được xác định là đảm bảo năng lực kinh nghiệm Chủ thể cơ bản của quan hệ pháp luật chỉ định thầu là "Chủ đầu tư hoặc cơ quan được giao quản lý gói thầu" và "Nhà thầu" bao gồm:
* Chủ đầu tư:
Trang 30Là tổ chức sở hữu vốn hoặc tổ chức đƣợc giao thay mặt chủ sở hữu vốn, tổ chức vay vốn trực tiếp quản lý quá trình thực hiện dự án Chủ đầu tƣ
là chủ thể đóng vai trò trung tâm điều phối hoạt động của các bên liên quan trong suốt quá trình chỉ định thầu Chủ đầu tƣ sẽ quyết định tự mình đứng ra
tổ chức đấu thầu hoặc ủy quyền cho một pháp nhân đại diện đứng ra tổ chức đấu thầu
Tùy thuộc vào điều kiện năng lực, tổ chức bộ máy của mình, nếu đảm bảo năng lực kinh nghiệm tự tổ chức thực hiện chỉ định thầu, chủ đầu tƣ thành lập:
+ Bên mời thầu: là tổ chức có đủ năng lực và kinh nghiệp đƣợc chủ đầu
tƣ sử dụng ủy quyền , thay mặt chủ đầu tƣ trực tiếp thực hiện quy trình chỉ định thầu
+ Tổ chuyên gia: Đƣợc bên mời thầu thành lập với chức năng nhiệm vụ giúp bên mời thầu đánh giá hồ sơ đề xuất của nhà thầu tham gia chỉ định thầu
+ Phòng ban, cá nhân tham gia công tác thẩm định kết quả đánh giá HSĐX của tổ chuyên gia làm cơ sở trình chủ đầu tƣ phê duyệt kết quả chỉ định thầu: Nếu đảm bảo năng lực kinh nghiệm chủ đầu tƣ có thể giao trực tiếp cho cá nhân hoặc phòng ban có chức năng làm công tác thẩm định báo cáo đánh giá HSĐX này
* Nhà thầu:
Nhà thầu trong hoạt động chỉ định thầu là: cá nhân, tổ chức kinh tế có
đủ tƣ cách pháp nhân, năng lực và kinh nghiệm đã đƣợc chủ đầu tƣ xác định
là đáp ứng các quy định nói trên để tham gia chỉ định thầu Nhà thầu trong hoạt động chỉ định thầu có thể là cá nhân hoặc tổ chức
b Đối tượng của quản lý nhà nước về hoạt động chỉ định thầu
Đối tƣợng điều chỉnh của pháp luật chỉ định thầu là các quan hệ trong hoạt động chỉ định thầu Bản chất của quan hệ chỉ định thầu là một loại quan
hệ xã hội, phát sinh trong quá trình tổ chức chỉ định thầu Quan hệ chỉ định
Trang 31thầu diễn ra giữa các chủ thể trong quá trình đánh giá năng lực nhà thầu để được ghi nhận là đảm bảo năng lực kinh nghiệm tham gia vào quá trình chỉ định thầu Các quan hệ này khi được điều chỉnh bởi pháp luật thì trở thành quan hệ pháp luật chỉ định thầu
Vậy đối tượng của pháp luật chỉ định thầu là các tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia vào công tác chỉ định thầu xây dựng, mua sắm thiết bị, dịch vụ
tư vấn, dịch vụ công hoặc có liên quan đến hoạt động chỉ định thầu như: Chủ đầu tư dự án đầu tư phát triển sử dụng vốn nhà nước của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập có sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật
Ngoài ra với trường hợp gói thầu chỉ định thầu từ nguồn vốn vay ưu đãi ODA, FDI theo thông lệ quốc tế, bên cho vay sẽ giới thiệu chỉ định thầu trực tiếp cá nhân tổ chức trong và ngoài nước do bên cho vay xác định là đủ năng lực kinh nghiệm để thực hiện gói thầu
c Qu ản lý nhà nước với các trường hợp áp dụng hình thức chỉ định thầu
Trong quá trình thực hiện pháp luật chỉ định thầu, các chủ thể phải tôn trọng và tuân thủ các nguyên tắc cơ bản về điều kiện để áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu bằng hình thức chỉ định thầu, đúng như bản chất của hình thức này là trong tình huống khẩn cấp chủ đầu tư trong thời gian ngắn nhất xác định ngay được nhà thầu để tổ chức ký hợp đồng triển khai nhanh công việc bảo đảm thời gian lựa chọn nhà thầu; giá gói thầu; nhanh chóng hoàn thành gói thầu như: Trong các tình huống khẩn cấp cần khắc phục ngay hậu quả do thiên tai, dịch bệnh, các trường hợp bất khả kháng; Trong tình huống bất ngờ cần triển khai nhằm mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia, biên giới quốc gia,
Trang 32hải đảo; Cần mua sắm hàng hóa khẩn cấp để hỗ trợ nhân dân, cứu đói, phòng ngừa trừ dịch bệnh
Ngoại trừ những dự án gói thầu có tính chất đặc thù được Thủ tướng chính phủ phê duyệt như gói thầu cần đảm bảo yếu tố bí mật; gói thầu liên quan đến an ninh quốc gia chủ đầu tư chỉ được áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu bằng hình thức chỉ định thầu khi gói thầu thỏa mãn điều kiện về tình huống được áp dụng hoặc đáp ứng hạn mức được áp dụng theo quy định của luật định
d Qu ản lý nhà nước về quy trình chỉ định thầu
Trong quy trình thực hiện chỉ định thầu, điều quan trọng là các bước trình tự để thực hiện, đó là căn cứ để chủ đầu tư hoặc cơ quan được giao trực
tiếp quản lý gói thầu xác định được nhà thầu có đủ năng lực kinh nghiệm để thực hiện gói thầu, với nhà thầu là các tiêu chí, yêu cầu cần thực hiện để chứng minh có đủ năng lực kinh nghiệm, cũng như giá trị thực hiện để trúng chỉ định thầu
Về quy trình thực hiện chỉ định thầu các quốc gia trên thế giới có quy định khác nhau, tùy thuộc vào tính chất kỹ thuật gói thầu, cũng như mặt bằng phát triển của các tổ chức kinh tế tham gia vào chỉ định thầu có thể yêu cầu khác nhưng về cơ bản quy trình thực hiện chỉ định thầu có các bước cơ bản như:
+ Bước 1: Chuẩn bị đấu thầu
+ Bước 2: Tổ chức đấu thầu
+ Bước 3: Đánh giá hồ sơ đề xuất
+ Bước 4: Thẩm định HSĐX làm cơ sở trình người có thẩm quyền phê duyệt kết quả chỉ định thầu
+ Bước 5: Thông báo kết quả chỉ định thầu
+ Bước 6: Thương thảo hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp đồng
Trang 33đ Quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hoạt động chỉ định thầu
* Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư
- Quyền của chủ đầu tư:
+ Do tính chất của hình thức chỉ định thầu, chủ đầu tư xác định chỉ một nhà thầu đảm bảo năng lực, kinh nghiệm thực hiện gói thầu chi định thầu xây dựng vào để tiến hành thương thảo hoặc chỉ một nhà thầu nhận HSYC gói thầu
+ Quyền không chấp nhận hợp đồng do nhà thầu ký không đúng thẩm quyền, do nhà thầu cố ý xác lập, thực hiện nội dung công việc của hợp đồng vượt quá thẩm quyền cho phép
+ Quyền yêu cầu nhà thầu cung cấp thông tin liên quan đến việc thực hiện công việc xây dựng trong hợp đồng đã ký; Quyền đưa ra những chỉ dẫn
và yêu cầu nhà thầu phải tuân thủ những chỉ dẫn đó
- Nghĩa vụ của chủ đầu tư
+ Chủ đầu tư phải thông báo cho nhà thầu về kết quả chỉ định thầu và việc thương thảo ký hợp đồng triển khai
+ Nghĩa vụ cung cấp tài sản, tài liệu, thông tin cần thiết để nhà thầu thực hiện công việc được giao
+ Nghĩa vụ trả thù lao và các chi phí hợp lý khác cho nhà thầu
* Quyền và nghĩa vụ của nhà thầu
Theo Luật Thương mại 2005 do quan hệ giữa bên đại diện và bên giao đại diện (bản chất ở đây là quan hệ giữa chủ đầu tư và nhà thầu) được thiết lập thông qua hợp đồng nên các quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định thông qua các điều khoản của hợp đồng, ngoài ra còn có các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác)
- Nghĩa vụ của chủ nhà thầu:
Theo luật thương mại, bên đại diện hay nhà thầu có các nghĩa vụ sau: + Thực hiện hoạt động thương mại với danh nghĩa và lợi ích của chủ đầu tư, phải tuân thủ nguyên tắc thực hiện hợp đồng trung thực, hoàn thành
Trang 34công việc được giao theo đúng thiết kế kỹ thuật gói thầu đã được cấp thẩm quyền của chủ đầu tư phê duyệt, bảo đảm tiến độ, chất lượng công trình, thực hiện theo tinh thần hợp tác, bảo đảm tin cậy lẫn nhau
+ Nhà thầu có nghĩa thường xuyên thông báo cho bên giao đại diện về kết quả thực hiện công việc được giao
+ Nhà thầu phải tuân thủ chặt chẽ những chỉ dẫn của chủ đầu tư nếu chỉ dẫn đó không vi phạm quy định của pháp luật Nghĩa vụ này đòi hỏi trong phạm
vi công việc được giao nhà thầu phải tuân theo mọi chỉ dẫn của chủ đầu tư
+ Bảo quản tài liệu, tài sản của mình hoặc được chủ đầu tư giao để thực hiện hoạt động chỉ định thâu xây dựng được giao
+ Không được tiết lộ hoặc cung cấp cho người khác các bí mật đến nội dung công việc được giao theo thỏa thuận đã ký trong hợp đồng
- Quyền của nhà thầu:
+ Quyền hưởng thù lao: Nhà thầu được hưởng thù lao đối với với hợp đồng đã giao kết, trong thực tiễn trong hoạt động xây dựng các bên có thỏa thuận phương pháp xác định thù lao, thời gian thanh toán thù lao, hồ sơ thanh toán thù lao theo điều kiện cụ thể của hợp đồng
+ Quyền yêu cầu thanh toán các chi phí Trong hợp đồng chỉ định thầu , ngoài các quy định của pháp luật các bên có quyền thỏa thuận về nghĩa vụ thanh toán các chi phí phát sinh liên quan hợp lý đến việc thực hiện hợp đồng đã ký
+ Quyền được cầm giữ tài sản, tài liệu được giao Đây thực chất là một quyền phát sinh từ quyền hưởng thù lao và thanh toán các chi phí hợp lý đến hạn, để đảm bảo cho các quyền này được thực hiện, nhà thầu có quyền cầm giữ tài sản, tài liệu được giao trong quá trình thực hiện hoạt động đại diện được giao
e X ử lý vi phạm trong hoạt động chỉ định thầu
Vi phạm pháp luật trong hoạt động chỉ định thầu khi các chủ thể trong quá trình thực hiện chỉ định thầu do vô ý hoặc cố ý câu kết làm trái các quy
Trang 35định về quản lý nhà nước với hoạt động chỉ định thầu xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước hoặc một trong các bên tham gia hoạt động chỉ định thầu nhằm trục lợi, hay vì động cơ cá nhân làm méo mó sai lệch bản chất chỉ định thầu, ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công trình thì phải bị xử lý theo quy định của pháp luật chỉ định thầu nói riêng và pháp luật Việt Nam nói chung
Tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về hoạt động chỉ định thầu và quy định khác của pháp luật có liên quan thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị
xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Trường hợp đối với cán bộ công chức có hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu còn bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức
1.4 3 Các tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về hoạt động chỉ định thầu
Đánh giá kết quả quản lý nhà nước về hoạt động chỉ định thầu là một trong những nội dung quan trọng đối với quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu Mục đích đánh giá này để xác định kết quả thực hiện nội dung quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước về hoạt động Chỉ định thầu có những tiêu chí cơ bản sau đây mà pháp luật về đấu thầu chỉ định thầu quy định như sau:
(1) Tiêu chí coi trọng hiệu quả
Có thể nói đây là nguyên tắc tiên quyết, một gói thầu được chỉ định thầu có nghĩa công trình, dự án đó được thực hiện trong tình huống khẩn cấp,
vì những lý do bất khả kháng phải mang lại những ý nghĩa, hiệu quả nào đó Tuy nhiên khác với các hình thức đấu thầu khác, chỉ định thầu phải đảm bảo được các yếu tố về thời gian thi công, giá gói thầu, chất lượng gói thầu
(2) Tiêu chí dữ liệu đầy đủ
Trang 36Chỉ định thầu là cả một quá trình phải trải qua nhiều giai đoạn, giai đoạn trước làm tiền đề cho giai đoạn sau, các giai đoạn liên quan mật thiết với nhau Do vậy các giai đoạn của chỉ định thầu phải được chuẩn bị hết sức cẩn thận, đầy đủ, VD với nhà thầu xây dựng do liên quan nhiều tới các công trình qui mô lớn và đòi hỏi cao về kỹ thuật và công nghệ Mỗi giai đoạn đòi hỏi các bên phải cung cấp những thông tin, dữ liệu cụ thể Những dữ liệu này là cơ sở đánh giá hồ sơ dự thầu Dữ liệu đưa ra không đầy đủ, chuẩn xác gây ra những hậu quả khó lường như: Hoãn tổ chức đấu thầu để bổ sung, đấu thầu lại hay hủy bỏ gây lãng phí Việc thực hiện nghiêm túc nguyên tắc này góp phần đảm bảo thành công của đấu thầu xây dựng
(3) Tiêu chí đánh giá khách quan
Đây là nguyên tắc quan trọng trong chỉ định thầu nói chung cũng như trong đấu thầu XDCB nói riêng Nguyên tắc này đòi hỏi phải được thực hiện xuyên suốt quy trình chỉ định thầu từ việc đánh giá hồ sơ đề xuất phải đảm bảo sự bình đẳng, những tiêu chuẩn đánh giá cũng phải đuợc ghi rõ ràng, cụ thể trong hồ sơ yêu cầu Nguyên tắc này cũng yêu cầu HSYC phải đuợc đánh giá khách quan bởi một tổ chuyên gia có đầy đủ năng lực, phẩm chất Kết quả đánh giá HSĐX cũng phải được công khai và giải thích lý do các nhà thầu vì sao hồ sơ của họ đuợc lựa chọn hoặc bị loại để hạn chế tranh chấp phát sinh
(4) Tiêu chí trách nhiệm phân minh
Nguyên tắc này được thực hiện xuyên suốt trong quá trình chỉ định thầu, được ghi nhận rõ ràng trong hợp đồng Trên thực tế, các bên khi tham gia vào qua hệ chỉ định thầukhông chỉ liên quan đến nhau về quyền lợi mà còn cả nghĩa vụ, họ luôn nhận thức được trách nhiệm của mình trong cả quá trình Nguyên tắc này đảm bảo sự nghiêm túc trong chỉ định thầu, hạn chế được những tiêu cực có thể xảy ra, đem lại những hiệu quả cao nhất
(5) Tiêu chí bảo lãnh thích đáng
Trang 37Có thể nói đây là nguyên tắc đặc thù của chỉ định thầu Chỉ định thầu bao giờ cũng có bảo lãnh dự thầu, khoản tiền bảo lãnh đó được coi như một phần của hồ sơ đề xuất, HSĐX không có bảo lãnh sẽ không được chấp nhận
Vì hình thức chỉ định thâu chi có 1 nhà thầu tham gia, hạn chế những rủi ro trong ứng xử của nhà thầu, loại bỏ ngay nhà thầu không có ý định nghiêm túc
(6) Tiêu chí tôn trọng các điều ước quốc tế
Khi tiến hành chỉ định thầu các gói thầu từ nguồn vốn vay ODA, FDI có liên quan đến các điều ước quốc tế mà chúng ta đã tham gia thì áp dụng điều ước đó Nếu khi thực hiện các văn bản, thỏa thuận đã kí sử dụng vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế hoặc của nước ngoài mà có quy định liên quan đến chỉ định thầunhưng khác với quy định của pháp luật Việt Nam thì áp
dụng theo văn bản, thỏa thuận đã ký giữa các bên
1.3.4 Hình thức quản lý nhà nước về hoạt động chỉ định thầu
Nhà nước thực hiện quản lý nhà nước hoạt động về chỉ định thầu chủ yếu bằng pháp luật
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường, vận động dưới sự chi phối của các quy luật kinh tế thị trường trong môi trường cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, thực hiện sự quản lý của mình đối với xã hội nói chung, nền kinh tế quốc dân nói riêng chủ yếu bằng pháp luật và theo pháp luật và hoạt động đấu thầu cũng không nằm ngoài sự quản lý
đó Với hình thức quản lý này, các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền như Chính phủ, Thủ tưởng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, bộ cơ quan ngang bộ và UBND các cấp sẽ sử dụng các văn bản pháp quy, các quy định của mình để quản lý hoạt động liên quan đến công tác đấu thầu nhằm để hoạt động đấu thầu đi đúng hướng và kịp thời phát hiện các sai sót, vi phạm để điều chỉnh
Trang 381.3.4.1 Ưu điểm
- Các quyết định đưa ra có tính thực thi cao bởi nó dựa trên cơ sở là hệ thống các văn bản pháp quy mang tính bắt buộc đối với tất cả các thành viên tham gia
- Đảm bảo được sự chặt chẽ, công bằng của các chủ thể trước pháp luật Thông qua việc áp dụng quy định hiện hành, các chủ thể đều cảm thấy công bằng vì pháp luật được xây dựng trên nguyện vọng của số đông
- Với việc quản lý bằng pháp luật, tính rõ ràng, minh bạch và công khai được bảo đảm Đồng thời, giúp cơ quan quản lý dễ dàng phát hiện và xử lý các sai phạm xảy ra trong hoạt động đấu thầu
1.3.4.2 Nhược điểm
- Hình thức quản lý bằng pháp luật làm giảm tính năng động và sáng tạo của thị trường bởi pháp luật thường không theo kịp được mọi tình huống xảy ra trong thực tế Có những tình huống đôi khi không được hoặc chưa được để cập đến trong các văn bản pháp quy Các cơ quan quản lý do đó sẽ rất khó để xử lý tốt các tình huống Tổn thất xảy ra là điều không thể tránh khỏi
- Hình thức quản lý bằng pháp luật có tính ỳ rất cao do các thủ tục hành chính rườm rà và sự lạc hậu của các văn bản pháp quy so với tình hình thực tế
từ đó làm giảm hiệu quả và tính sáng tạo của thị trường
- Hoạt động quản lý bằng pháp luật sẽ tiêu tốn một phần ngân sách nhà nước bởi đây là hoạt động mang tính hành chính
Trang 39CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Giới thiệu phương pháp nghiên cứu
Với câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu, tài liệu sơ cấp và thứ cấp
* Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp được học viên thực hiện trong
năm từ 2005 - 2015 khi tiến hành trực tiếp thu thập, trao đổi với lãnh đạo và cán bộ trực tiếp triển khai dự án để tìm hiểu thực trạng công tác chỉ định thầu Số liệu thu thập được là căn cứ quan trọng để tác giả đưa ra các điểm mạnh, điểm còn hạn chế trong quản lý nhà nước về chỉ định thầu của Ban Quản lý dự án
* Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp được tiến hành dựa vào:
- Nghiên cứu các sách đã xuất bản; các luận văn sau đại học đã được bảo
vệ có liên quan đến đề tài luận văn Trên cơ sở đó, học viên tham khảo xây dựng khung lý luận của luận văn ở chương 1
- Nghiên cứu các văn bản của Nhà nước liên quan đến quản lý nhà nước
về đấu thầu; các tài liệu của Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Cục Cảnh sát PCCC
và cứu nạn, cứu hộ ; một số tài liệu của các đơn vị trong và ngoài ngành Công
an, để làm cơ sở xây dựng nội dung chương 3: đánh giá thực trạng và chương 4: đề xuất giải pháp của luận văn
- Trực tiếp nghiên cứu cơ sở dữ liệu từ các báo cáo tháng, quý, năm của Ban Quản lý dự án, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an Các số liệu thu thập được từ các tài liệu này được học viên sử dụng khi phân tích thực trạng quản lý nhà nước về đấu thầu của Ban Quản lý dự án; đồng thời, làm cơ sở để
đề xuất các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chỉ định thầu tại Ban Quản lý dự án, Tổng cục IV, Bộ Công an
Trang 40* Phương pháp quan sát:
Tác giả sử dụng phương pháp này để có nhận biết thêm các thông tin về quá trình quản lý nhà nước về đấu thầu của đơn vị
2.1.2 Phương pháp xử lý số liệu, tài liệu
*Phương pháp nghiên cứu tài liệu, số liệu thứ cấp
Nhằm thực hiện luận văn, tác giả thực hiện nghiên cứu các tài liệu về cơ
sở lý luận về quản lý nhà nước về đâu thầu trong tổ chức; các tài liệu và số liệu
mô tả hoạt động quản lý nhà nước về đấu thầu và chỉ định thầu của Ban quản lý
dự án; từ đó mô tả thực trạng quản lý nhà nước về chỉ định thầu Phương pháp này giúp tác giả có thể thực hiện các nội dung nghiên cứu ở chương 1, 3 và 4 của luận văn
* Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp này được sử dụng tại chương 3 của luận văn, để mô tả địa
bàn nghiên cứu, thực trạng quản lý nhà nước về chỉ định thầu của Ban Quản lý
dự án, Tổng cục IV, Bộ Công an Bằng phương pháp này, tác giả luận văn có thể mô tả được thực trạng quản lý nhà nước về đấu thầu và chỉ định thầu của đơn vị, những thuận lợi và khó khăn trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhân lực thời gian từ năm 2005 đến năm 2015
* Phương pháp phân tích - tổng hợp
Đây là phương pháp được sử dụng trong toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận văn Để phân tích thông tin, dữ liệu, luận văn sử dụng các phương pháp sau:
+ Phân tích thống kê mô tả: được áp dụng để phân tích thực trạng quản
lý nhà nước về đấu thầu và chỉ định thầu tại chương 3 của luận văn
+ Phân tích thống kê so sánh: được sử dụng để so sánh các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý về đấu thầu và chỉ định thầu qua các năm nhằm đánh giá