Nhiệm vụ cơ bản của đề tài: Để đạt được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ: Xây dựng khái niệm, phân tích đặc điểm cơ bản, chủ thể, cácdạng hoạt động và ý nghĩa của hoạt động xét xử sơ t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM MINH TUYÊN
Trang 3HÀ NỘI - 2019
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn thạc sĩ “Hoạt động xét xử sơ thẩm vu án hình sự theo pháp luật tố tung hình sự Việt Nam” là công trình
nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý
thuyết, khảo sát tình hình thực tiễn và sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Minh Tuyên Các thông tin, số liệu được sử dụng trong Luận văn
là hoàn toàn chính xác và có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2019
Học Viên
Đoàn Thị Hồng
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời
cảm ơn đến TS Phạm Minh Tuyên người đã tận tình hướng dẫn và
giúp tôi đưa ra những ý kiến và định hướng quý báu thực hiện Luận văn.Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp
và gia đình động viên, giúp đỡ tôi học tập và nghiên cứu để hoànthành luận văn này!
Học Viên
Đoàn Thị Hồng
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm, chủ thể, các dạng hoạt động và ý nghĩa của
hoạt động xét sử sơ thẩm vụ án hình sự 7
1.1.1. Khái niệm hoạt động xét sử sơ thẩm vụ án hình sự 7
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động xét xử sơ thẩm Vụ án hình sự 8
1.1.3. Chủ thể hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 11
1.1.4. Các dạng hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 13
1.1.5. Ý nghĩa của hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 15
1.2. Các yếu tố tác động đến hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ………
….19 Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 24
2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 24
2.1.1. Hoạt động trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam 24
2.1.2. Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại phiên tòa 29
2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 36
2.2.1. Thực tiễn áp dụng các quy định về hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở giai đoạn chuẩn bị xét xử . 36
Trang 72.2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định về hoạt động xét xửsơ thẩm vụ án
hình sự tại phiên tòa 39
2.2.3. Nguyên nhân của vướng mắc, hạn chế trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 45
Chương 3 M ỘT SỐ YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 49
3.1 Một số yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 49
3.1.1. Yêu cầu bảo đảm quyền con người 49
3.1.2. Yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 51
3.1.3. Yêu cầu về hội nhập kinh tế, quốc tế 52
3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ……….53
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 53
3.2.2. Giải pháp về con người trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 59
3.2.3. Các giải pháp khác nhằm nâng cao hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 60
KẾT LUẬN 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS : Bộ luật tố tụng hính sự
CHXHCNVN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt NamCQĐT : Cơ quan điều tra
Trang 10án nhân dân.
Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ đó đòi hỏi ngành Tòa án phảinâng cao chất lượng công tác xét xử, trong đó có hoạt động xét xử sơthẩm các vụ án hình sự Trong những năm qua hoạt động xét xử củangành Tòa án đã đạt được những kết quả tích cực Chính sách, phápluật về hình sự và tố tụng hình sự đã từng bước được định hình và hoànthiện, tạo điều kiện cho các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng cóđược môi trường pháp lý thuận lợi để thực hiện chức năng, nhiệm vụcủa mình, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,bảo vệ kịp thời lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chínhđáng của các cá nhân, cơ quan và tổ chức
Hoạt động xét xử sơ thẩm là hoạt quan trọng trong cả quá trìnhgiải quyết vụ án hình sự, bởi xét xử sơ thẩm là giai đoạn tập trung caonhất của việc thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân danh Nhà nướcđịnh tội danh, quyết định hình phạt và giải quyết các vấn đề khác liênquan đến tội phạm Bản án hình sự có hiệu lực không chỉ được coi là
10
Trang 11thời điểm kết thúc một quá trình tố tụng mà là kết quả đánh giá chấtlượng hoạt động tố tụng từ giai đoạn điều tra đến giai đoạn truy tố vàgiai đoạn xét xử Để đảm bảo được chất lượng bản án được đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật đòi hỏi các chủ thể tiến hành tố tụngphải nghiêm chỉnh tuân thủ các quy định trong BLTTHS.
BLTTHS năm 2015 được thông qua và có hiệu lực từ ngày01/01/2018, bên cạnh những quy định mới được sửa đổi, bổ sung gópphần hạn chế những vướng mắc, bất cập từ Bộ luật cũ, đồng thời thểhiện rõ nét trong các quy định góp phần nâng cao chất lượng tranhtụng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hộichủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước Ngoài những kết quả tíchcực đã đạt được, qua nghiên cứu, áp dụng trong thực tiễn cho thấynội dung quy định hoạt động xét xử sơ thẩm đã phát sinh một sốđiểm còn chưa rõ ràng, vướng mắc cần phải có văn bản hướng dẫn đểviệc áp dụng trong thực tiễn được chính xác và thống nhất Xuất phát
từ những lý do trên, học viên đã chọn đề tài: “Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” để làm
để tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hoạt động xét xử sơ thẩm là hoạt động quan trọng của quá trìnhgiải quyết VAHS , vì vậy việc nghiên cứu, phân tích vấn đề này đãđược một số nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Hiệnnay, đã có một số công trình nghiên cứu có giá trị được công bố có thể
kể đến như:
* Sách, báo, tạp chí: Trần Văn Độ (2012), "Một số vấn đề về
hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục xét xử sơthẩm", Tạp chí Kiểm sát; Vũ Gia Lâm (2011), "Hoàn thiện một số quyđịnh về xét xử sơ thẩm hình sự nhằm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc
Trang 12hai cấp xét xử", Tạp chí Toà án nhân dân; Nguyễn Hoài Nam (2010),
"Thực trạng và hướng hoàn thiện chức năng xét xử của Tòa án trong
Bộ luật Tố tụng hình sự", Tạp chí Toà án nhân dân; Đinh Văn Quế(2011), "Phương hướng hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụnghình sự về xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự", Tạp chí Toà án nhân dân
* Luận án tiến sĩ: Lê Xuân Thân (2004), Áp dụng pháp luật trong
hoạt động xét xử của Toà án nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Luận ántiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội;Hoàng Anh Tuyên (2014), Thời hạn tố tụng trong Pháp luật tố tụnghình sự và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học,Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
* Luận văn thạc sĩ: Nguyễn Thị Thủy (2014), Mô hình tố tụng
hình sự Việt Nam và vấn đề áp dụng tố tụng tranh tụng, Luận văn thạc
sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Nguyễn Đức Hiệp(2004), Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Toà
án nhân dân ở tỉnh Ninh Bình, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học việnChính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Đặng Văn Hưng (2011), Ápdụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Toà án nhân dântỉnh Hà Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị - Hànhchính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Trần Thị Tuyết Lành (2015),Chất lượng hoạt động xét sơ thẩm các vụ án hình sự của Toà án Quân
sự ở Quân khu 3- Quân đội nhân dân Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luậthọc, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Hoàng HữuQuý (2013), Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sựcủa Toà án Quân sự ở Quân khu 3, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học việnChính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Nguyễn Sỹ Thành (2015),
“Xét xử sơ thẩm theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệuthực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)”.sách “Kỹ năng xét xử các vụ án
Trang 13hình sự theo quy định của BLTTHS 2015” của TS Phạm Minh Tuyên;Luận văn thạc sĩ của Hoàng Ngọc Chiệu “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh”, bảo vệ 2017; Luận văn thạc sĩcủa Nguyễn Thị Hồng Nhung “Chức năng xét xử trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Hà Nội”, bảo vệ 2017
Tuy nhiên việc nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở những vấn đềchung nhất hoặc nghiên cứu dừng lại ở các quy định của BLTTHS năm
2003 liên quan đến hoạt động xét xử sơ thẩm hoặc định hướng sửa đổiBLTTHS 2003, mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực diệntoàn diện và đầy đủ về hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo phápluật tố tụng hinh sự Việt Nam đặc biệt trong giai đoạn BLTTHS 2015 đã
có hiệu lực và được áp dụng hơn 01 năm
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở làm sáng tỏ một cách có hệ thống vấn đề về lý luậnhoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ đó phân tích những mặt tíchcực và những mặt hạn chế trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự Luận văn đề xuất một số yêu cầu cũng như giải pháp nhằm nângcao hiệu quả hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
3.2. Nhiệm vụ cơ bản của đề tài:
Để đạt được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ:
Xây dựng khái niệm, phân tích đặc điểm cơ bản, chủ thể, cácdạng hoạt động và ý nghĩa của hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự,đồng thời phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động xét xử sở thẩm.Bên cạnh đó luận văn còn đi sâu phân tích các quy định của BLTTHSnăm 2015 về hoạt động trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ ánhình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và hoạt động xét xử sơthẩm vụ án hình sự tại phiên tòa Luận văn còn đi vào thực tiễn áp dụng
Trang 14các quy định về hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, những kết quả
đã đạt được và những hạn chế,vướng mắc, trong hoạt động xét xử sơthẩm VAHS Trên cơ sở đó luận văn tìm ra nguyên nhân cho những hạnchế vướng mắc để từ đó luận văn đưa ra các yêu cầu, giải pháp có cơ sởpháp lý và thực tiễn, có tính khả thi nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử
sơ thẩm vụ án hính sự
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sựtheo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về hoạt động xét xử sơ thẩmcác vụ án hình sự trong giai đoạn 2014 đến 2018 trong phạm vi ngànhTòa án
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở vận dụng các phương phápluận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trong bài Luận văn cũng sử dụng những phương pháp nghiêncứu luật học truyền thống như phân tích, phương pháp tổng hợp, sosánh, thống kê, phương pháp lịch sử, tư duy logic, quy nạp, diễn giảinhằm làm sáng tỏ nội dung và phạm vi nghiên cứu của đề tài
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn đề tài tổng hợp những vấn đềkhoa học, cơ sở lý luận trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam vềhoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự; từ đó đánh giTá thực tiễn
áp dụng các quy định của pháp luật Tố tụng hình từ năm 2014 đến năm
2018 Luận văn cũng đưa một số yêu cầu và giải pháp nhằm hoàn thiện
hệ thống quy phạm pháp luật liên quan tới hoạt động xét xử sơ thẩm
Trang 15các vụ án hình sự Những kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng vàomục đích tham khảo trong giảng dạy và học tập các học phần pháp luật
Tố tụng hình sự; tội phạm học
7. Kêt cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mụccác bảng, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục theo 3chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động xét xử sơ thẩm vụ
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, chủ thể, các dạng hoạt động và
ý nghĩa của hoạt động xét sử sơ thẩm vụ án hình sự.
1.1.1. Khái niệm hoạt động xét sử sơ thẩm vụ án hình sự
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xác địnhrất rõ về vị trí, vai trò của TAND trong bộ máy cơ quan nhà nước,Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định “TAND là cơ quanxét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền
tư pháp” Theo đó xét xử là một hoạt động nhân danh quyền lực củaNhà nước do Tòa án thực hiện, nhằm giải quyết những vụ án hình sự(VAHS), dân sự, kinh tế, lao động, hành chính theo quy định của phápluật, và chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, và
là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử
Theo quy định của pháp luật tố tụng, xét xử sơ thẩm VAHS làmột giai đoạn độc lập và đặc biệt quan trọng của quá trình tố tụng hình
sự, được bắt đầu từ thời điểm Tòa án thụ lý hồ sơ vụ án và kết thúc khiTòa án ra bản án Sau khi Cơ quan điều tra đã có bản kết luận điều tra,
và Viện Kiểm sát đã truy tố bị can ra trước tòa bằng bản Cáo trạng trên
cơ sở đó Tòa án được giao thẩm quyền lần đầu tiên đưa VAHS ra xemxét công khai tại phiên tòa
Theo quan điểm của Thạc sĩ Nguyễn Sỹ Thành thì “xét xử sơthẩm vụ án hình sự là giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng hình sự
mà Toà án được giao thẩm quyền, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, lầnđầu tiên đưa vụ án hình sự ra xem xét công khai tại phiên toà, nhằm xácđịnh có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm
Trang 17tội hay không để từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chấtcủa vụ án mà Viện Kiểm sát đã truy tố[33,tr.7].
Hoạt động xét xử của Tòa án hiểu theo nghĩa chung nhất là “hoạtđộng của các cơ quan và cá nhân được quyền căn cứ vào pháp luật đểxem xét những vấn đề pháp lý và đưa ra những phán quyết có tính bắtbuộc” cụ thể hơn ta có thể hiểu hoạt động xét xử là “hoạt động nhândanh Nhà nước đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp, tính đúngđắn pháp luật hay quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp và mâuthuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau” [33,tr.7]
Như vậy, từ những quan điểm nêu trên có thể đưa ra khái niệmhoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động của Nhà nước do
cơ quan Tòa án thực hiện ở cấp xét xử thứ nhất tiến hành các hoạt động
tố tụng nhằm xem xét và đánh giá, toàn diện các chứng cứ, tài liệu của
vụ án nhằm xác định có hay không có tội phạm, bị cáo có phải là ngườiphạm tội hay không, nếu bị cáo phạm tội thì phạm tội gì, hình phạtđược áp dụng và các vấn đề khác có liên quan đến vụ án được quy địnhtrong Bộ luật hình sự
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động xét xử sơ thẩm Vụ án hình sự
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 thì Tòa án nhân dân là
cơ quan xét xử của nước CHXHCNVN và xét xử sơ thẩm được coi làđỉnh cao của quyền tư pháp bởi lẽ quyền và nghĩa vụ của người tiếnhành tố tụng và người tham gia tố tụng sẽ được thực hiện công khai vàđầy đủ nhất tại phiên tòa
Hoạt động tố tụng hình sự là một trình tự hoạt động của các cơquan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng và những ngườitham gia tố tụng vào quá trình giải quyết một VAHS từ khi khởi tố,điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Trong đó, hoạt động xét
xử là hoạt động mang tính quyết định, theo nguyên tắc suy đoán vô tội
Trang 18“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng
minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tộicủa Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 13 BLTTHS năm 2015)
Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hịnh sự là hoạt động của Tòa án
có thẩm quyền sau khi nghiên cứu toàn diện, khách quan và đầy đủ hồ
sơ vụ án, lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử công khai trước phiên tòahình sự nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người cóphải là người phạm tội hay không để từ đó đưa ra bản án, quyết địnhphù hợp với tính chất của vụ án mà Viện kiểm sát (VKS) đã truy tố
Theo pháp Luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định Tòa ánthực hiện chế độ hai cấp xét xử đó là cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét
xử phúc thẩm trong đó hoạt động xét xử sơ thẩm là cấp xét xử thứnhất, và trong hoạt động xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân phải tuânthủ các nguyên tắc đặc trưng cho hoạt động xét xử như: Nguyên tắcxác định sự thật; Nguyên tắc suy đoán vô tội;Nguyên tắc khi xét xửthẩm phán, hội thẩm nhân dân độc lập, chỉ tuân theo pháp luật: Nguyêntắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số; Nguyên tắc bảo đảmpháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự; nguyên tắc tôn trọng
và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp cá nhân; Nguyêntắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật; Nguyên tắc không ai bịkết án hai lần vì một tội phạm; Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữacủa người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa bị hại,đương sự; Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người có thẩm quyền tiếnhành tố tụng, người tham gia tố tụng; Nguyên tắc thực hiện chế độ xét
xử có Hội thẩm tham gia; Nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, côngbằng, công khai; Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm;Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án Do
đó, xét xử sơ thẩm phải tuân theo các nguyên tắc nêu trên và trình tự
Trang 19thủ tục giải quyết vụ án tại phiên tòa Việc xét xử kết thúc khi ra bản án
để giải quyết nội dung của vụ án và được xác định như một giai đoạnkết thúc quá trình giải quyết vụ án để kết luận một người có tội haykhông có tội, áp dụng hình phạt như thế nào Khi hoạt động xét xử củaTòa án nhân dân cấp sơ thẩm càng khách quan, công bằng và nghiêmminh bao nhiêu thì càng thể hiện được bản chất ưu việt của Nhà nước
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân đảm bảo tối đa cho việc bảo
vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xãhội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của các tổchức, cá nhân
Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được tiến hành chủ yếutại phiên tòa và mang tính công khai
Hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm cũng giốngnhư cấp xét xử khác được tiến hành tại phiên tòa và mang tính côngkhai Phiên tòa xét xử trở thành một thuật ngữ riêng biệt của Tòa ánnhân dân với các nghi thức trang nghiêm, cùng với thủ tục chặt chẽ đãthể hiện được uy quyền của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam Phiên tòa xét xử là nơi diễn ra các hoạt động mang tính tố tụngđặc biệt và phải tuân thủ nghiêm chỉnh nội quy Tại phiên tòa quyền vàlợi ích hợp pháp của con người, của công dân, của Nhà nước xã hội chủnghĩa được bảo vệ Theo quy định của pháp luật tố tụng hiện hành Tòa
án phải xét xử một cách công khai, minh bạch, chỉ những vụ án màtheo quy định đó là bí mật nhà nước hay bí mật của các đương sự theoyêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án mới xét xử không công khai.Pháp luật có quy định bí mật nhà nước, bí mật của đương sự, song cũngkhông quy định trường hợp nào được xử kín, trường hợp nào xử côngkhai, thông thường những trường hợp mà Tòa án quyết định xét xử kínthường là những vụ án liên quan đến hoạt động gián điệp, làm lộ bí mật
Trang 20Nhà nước, hay các vụ án xâm phạm tình dục mà người bị hại là ngườichưa thành niên.
Phiên tòa xét xử của Tòa án cũng là nơi để Tòa án kiểm tra lạimột cách công khai việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tốtụng, người tiến hành tố tụng trước đó đã thực hiện việc công khaitrong hoạt động xét xử vừa thể hiện tính dân chủ của hoạt động xét xửvừa bảo đảm cho nhân dân được tham dự phiên tòa chứng kiến hoạtđộng của Tòa án nói chung và Hội đồng xét xử nói riêng, đề cao đượctinh thần trách nhiệm của những người tham gia tố tụng, góp phần nângcao năng lực trình độ của đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩmphán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Tòa án
Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là biểu hiện thực hiệnchức năng cơ bản trong tố tụng hình sự
Chức năng tố tụng bao gồm ba chức năng: chức năng buộc tội,chức năng bào chữa và chức năng xét xử, trong đó chức năng xét xửđược coi là chức năng trung tâm Chức năng xét xử của Tòa án đượcthực hiện thông qua hoạt động áp dụng pháp luật của Thẩm phán vàHội thẩm theo đóTòa án nhân dân là cơ quan duy nhất thực hiện quyền
tư pháp, thực hiện chức năng xét xử và có quyền ra phán quyết cuốicùng trong hoạt động tố tụng, nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam để xác định xem một người có phạm tội hay không,nếu phạm tội thì là tội gì, được quy định tại điều khoản nào và nếu phải
áp dụng hình phạt thì đó là loại hình phạt gì, mức độ như thế nào chophù hợp
1.1.3. Chủ thể hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiếnlược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định rõ nhiệm vụ của cảicách tư pháp là bảo đảm để Toà án là trung tâm và xét xử là hoạt động
Trang 21trọng tâm Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xácđịnh rất rõ về vị trí, vai trò của TAND trong bộ máy cơ quan nhà nước,Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định “TAND là cơ quanxét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền
tư pháp” Trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Tòa án nhândân mà ở đây là Hội đồng xét xử đóng vai trò điều hành phiên tòa.Trong mỗi phiên tòa thì hội đồng xét xử là những người không thểthiếu dược không những thế, họ chính là những người quyết định đếnmột vụ án có được xử đúng theo pháp luật hay không
Theo quy định tại Điều 254 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quyđịnh về thành phần hội đồng xét xử
“1 Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét
xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thấm.
Đối với vụ án có bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử
sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.
Thành phần hội đồng xét xử được quy định như trên là đáp ứngđược những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là việc xét xử củatòa án có Hội thẩm tham gia, nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xửđộc lập và tuân theo pháp luật và nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể vàquyết định theo đa số
Ngoài thành phần Hội đông xét xử chính thức, tại phiên tòa còn
có thể có Thẩm phán và Hội thẩm dự khuyết để thay thế Thẩm phánhay Hội thẩm khi cần thiết Thành phần Hội đồng xét xử chính thức vàcác thành viên dự khuyết đều phải được ghi vào quyết định đưa vụ án
ra xét xử và phải được công bố trong thủ tục bắt đầu phiên tòa để người
Trang 22tham gia tố tụng, đại diện Viện kiểm sát thực hiện yêu cầu thay đổi theoquy định chung.
Đối với một vụ án hình sự có bị cáo là người chưa thành niên thìngoài các quy định trên thành phần Hội đồng xét xử còn được quy địnhtại Thông tư liên tịch số: 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH Trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mà có
bị cáo là người chưa thành niên thì trong thành phần Hội đồng xét xửphải có Hội thẩm nhân dân đang hoặc đã là giáo viên hoặc cán bộ Đoànthanh niên
Như vậy từ các quy định trên ta có thể thấy trong một vụ án hình sự
có bị cáo là người chưa thành niên thì thành phần Hội đồng xét xử phảituân theo các quy định tại điều 254 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
và khoản 1 và khoản 2 điều 11 Thông tư liên tịch số: VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH
01/2011/TTLT-Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử do vậy không một cơquan nào, tổ chức nào, hay một cá nhân nào khác ngoài Hội đồng xét
xử của Tòa án nhân dân được phép tiến hành các hoạt động xét xử vànghiêm cấm mọi hành vi của tổ chức, cá nhân can thiệp vào hoạt độngxét xử của Tòa án, việc ban hành bản án, quyết định của Hội đồng xét
xử không chịu sự chi phối, tác động của bất kỳ một nguyên nhânkhách quan nào khác ngoài những quy định của pháp luật Ngoàimệnh lệnh của các quy định pháp luật Hội đồng xét xử không đượcphép xử án theo mệnh lệnh của bất kỳ ai, không áp đặt ý thức chủquan hoặc quan điểm cá nhân của mình vào công tác xét xử
1.1.4. Các dạng hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là là hoạt động của Nhànước do cơ quan Tòa án thực hiện ở cấp xét xử thứ nhất bằng việc ápdụng các quy định pháp luật để tiến hành các hoạt động tố tụng trong
Trang 23giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và các hoạt động xét
xử sơ thẩm tại phiên tòa
Một trong những hoạt động đầu tiên của Tòa án trong xét xử sơthẩm vụ án hình sự là hoạt động nhận hồ sơ và thụ lý vụ án Sau khi hồ
sơ vụ án hình sự từ VKS chuyển sang Tòa án tiến hành kiểm tra danhmục tài liệu có trong hồ sơ trong trường hợp không đầy đủ thì chưanhận hồ sơ và yêu cầu VKS bổ sung tài liệu vật chứng, tiến hành giaocác biên bản hoạt động tố tụng cho những người tham gia tố tụng trong
vụ án Trường hợp hồ sơ đã đầy đủ các thủ tục thì phải lập biên bảngiao nhận và lưu trong hồ sơ vụ án vào sổ thụ lý Trong thời hạn chuẩn
bị xét xử Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa phải cótrách nhiệm nghiên cứu hồ sơ, và thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của Thẩm phán theo quy định của pháp luật
Thẩm phán được phân công giải quyết xét xử vụ án hình sự phảinghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa, giải quyết các khiếu nại
và yêu cầu của những người tham gia tố tụng và tiến hành những việccần thiết cho việc mở phiên tòa
Trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại phiên tòa Tòa
án tiến hành thủ tục bắt đầu phiên tòa trong đó Thẩm phán chủ tọaphiên tòa được phân công xét xử vụ án sẽ tiến hành khai mạc phiên tòa,kiểm tra căn cước những người được triệu tập đến phiên tòa, giải thíchquyền và nghĩa vụ của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,giải quyết việc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên,người giám định, người phiên dịch, thư ký tòa án, giải quyết những vấn
đề về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt Hoạtđộng tiếp theo là xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm với vai trò quantrọng của Hội đồng xét xử trong hoạt động xét hỏi và tổ chức, điềukhiển tranh tụng tại phiên tòa và để phiên tòa đúng với yêu cầu của cải
Trang 24cách tư pháp Sau khi tiến hành xét hỏi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sẽchuyển sang phần tranh luận, qua quá trình tranh luận nếu thấy cónhững vấn đề chưa rõ, cần phải xem xét thêm mới có thể kết luận đượcthì Hội đồng xét xử quyết định trở lại phần xét hỏi, khi đã hỏi rõ nhữngvấn đề cần hỏi thêm Chủ tọa phiên tòa tiếp tục cho tranh luận theo trình
tự chung Sau khi kết thúc phần tranh luận, Chủ tọa phiên tòa hỏi xem
có ai có ý kiến gì thêm không , nếu không có ai trình bày thêm thìtuyên bố kết thúc phần tranh luận và chuyển sang phần nghị án vàtuyên án
1.1.5. Ý nghĩa của hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Trong tố tụng hình sự, hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sựđánh dấu sự kết thúc quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, thể hiệnđỉnh cao quyền tư pháp của Tòa án và có ý nghĩa đặc biệt quan trọngmang tính quyết định trong việc giải quyết đúng đắn, khách quan vụ ánnhằm bảo vệ bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xãhội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân
Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án mang tínhquyền lực Nhà nước, chỉ có Tòa án mới được quyền nhân danh nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiến hành các hoạt động xét xửnhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợppháp của tổ chức, cá nhân Hoạt động xét xử của Tòa án còn có ý nghĩanhư “thành trì cuối cùng” trong việc đảm bảo thực hiện quyền conngười Khi bất công xảy đến, người dân thường cầu viện đến Tòa ánnhư là một “cứu cánh cuối cùng” Thông qua hoạt động xét xử chính là
sự công bằng, khách quan, vô tư và tình người Tòa án là nơi để ngườiyếu thế, thiệt thòi tin tưởng tìm thấy chân lý và lẽ phải
Trang 25Toà án là thiết chế trung tâm của quyền tư pháp do vậy, hoạt độngxét xử sơ thẩm các vụ án hình sự có vị trí và vai trò đặc biệt trong việcbảo vệ pháp luật Bảo vệ pháp luật chính là bảo vệ những giá trị côngbằng, bình đẳng và dân chủ của xã hội, bản chất của pháp luật luôn thểhiện những nguyện vọng, quyền và lợi ích của mọi tầng lớp nhân dântrong xã hội.
Trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sau khi các tài liệu, chứng
cứ mà Cơ quan điều tra (CQĐT), VKS đã thu thập trong quá trình điềutra sẽ được Tòa án thẩm tra công khai lại toàn bộ Đây chính là việctiến hành điều tra công khai một lần nữa tại phiên tòa và có sự tham giaxét hỏi, tranh luận, đối đáp của bên buộc tội, bên gỡ tội cũng như cácchủ thể khác có liên quan nhằm đánh giá lại kết quả của hoạt động điềutra, xem xét lại tính khách quan, hợp pháp và có căn cứ của nhữngchứng cứ tài liệu thu thập được, từ đó HĐXX đưa ra phán quyết mộtcách chính xác đảm bảo quyền lợi cho người bị buộc tội và tính côngbằng xã hội Như vậy, hoạt động xét xử sở thẩm vụ án hình sự mangtính chất công khai, minh bạch, góp phần đảm bảo sự vô tư khách quantrong xét xử và công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong toàn
Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án mang tínhquyền lực Nhà nước, chỉ có Tòa án mới được quyền nhân danh nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiến hành các hoạt động xét xửnhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp
Trang 26pháp của tổ chức, cá nhân Hoạt động xét xử của Tòa án còn có ý nghĩanhư “thành trì cuối cùng” trong việc đảm bảo thực hiện quyền conngười Khi bất công xảy đến, người dân thường cầu viện đến Tòa ánnhư là một “cứu cánh cuối cùng” Thông qua hoạt động xét xử chính là
sự công bằng, khách quan, vô tư và tình người Tòa án là nơi để ngườiyếu thế, thiệt thòi tin tưởng tìm thấy chân lý và lẽ phải
Toà án là thiết chế trung tâm của quyền tư pháp do vậy, hoạt độngxét xử sơ thẩm các vụ án hình sự có vị trí và vai trò đặc biệt trong việcbảo vệ pháp luật
Bảo vệ pháp luật chính là bảo vệ những giá trị công bằng, bìnhđẳng và dân chủ của xã hội, bản chất của pháp luật luôn thể hiện nhữngnguyện vọng, quyền và lợi ích của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hộiHoạt động xét xử sở thẩm các vụ án hình sự còn có ý nghĩa kiểm soát
xã hội Tòa án có quyền nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam, để ra những bản án, quyết định trên cơ sở các chứng cứđược thu thập và kiểm tra công khai tại phiên tòa Thông qua hoạtđộng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Thẩm phán Tòa án có quyền kiếnnghị đối với các Cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện phápcần thiết để khắc phục những nguyên nhân và điều kiện phát sinh tộiphạm tại các cơ quan, tổ chức đó Đây chính là đặc điểm đặc trưngthể hiện vai trò kiểm tra, kiểm soát xã hội
Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có vai trò bảo vệ phápluật Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước được tổ chức
và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật Mọi cơ quan, tổ chứcđều phải tôn trọng và bảo vệ Hiến Pháp, pháp luật Thông qua hoạtđộng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nhằm đưa các hành vi vi phạm phápluật có liên quan đến những con người cụ thể để áp vào các chuẩn mựcpháp luật từ đó đi đến một phán quyết có tính bắt buộc thi hành đối với
Trang 27những người có hành vi phạm tội Mặt khác, Tòa án là một bộ phận cấuthành nên bộ máy Nhà nước được coi là một trong những thiết chếquyền lực của Nhà nước nên quyền hạn, nhiệm vụ và chức năng củaToà án được xác định trong Hiến Pháp và các văn bản pháp luật.Vì thế,hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Toà án phải luôn tuân thủHiến Pháp, pháp luật đặc biệt là tuân thủ các nguyên tắc có tính chấtnền tảng về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước được vận dụngtrong lĩnh vực tư pháp, bao gồm các nguyên tắc đặc thù và có nhữngnguyên tắc Hiến định được quy định trong Hiến Pháp và pháp luật hình
sự, pháp luật tố tụng hình sự
Hoạt động xét xử các vụ án hình sự có ý nghĩa lớn trong bảo đảm
sự công bằng của con người Trong pháp luật Việt Nam quyền được xét
xử công bằng trước tiên được ghi nhận trong Điều 16 Hiến pháp 2013
đó là “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” Với chức năng là Cơ
quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì vấn đềcông bằng trong hoạt động xét xử của Tòa án nói chung và trong hoạtđộng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng có vai trò đặc biệt quantrọng trong một nhà nước Pháp quyền Để bảo đảm sự công bằng củacông dân khi bị đưa ra xét xử, để tránh xét xử oan sai dẫn đến bản án,quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị hủy thì trong hoạt động xét xử sơthẩm các vụ án hình sự Tòa án phải bảo đảm xét xử đúng với nhữnghành vi mà họ gây ra Hiện nay, vấn đề bảo đảm xét xử công bằng tronghoạt động xét xử của Tòa án ngày càng được quan tâm và chú trọng,Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra nhiều đường lối, chính sách về cải cách
tư pháp như Nghị quyết 49 ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiếnlược cải cách Tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết 08-NQ-TW ngày02/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tưpháp thời gian tới
Trang 28Hoạt động xét xử sơ thẩm tại phiên tòa là nơi tốt nhất thực hiệnviệc tuyên truyền, giáo dục pháp luật Thông qua hoạt động xét xử củaTòa án đối với các vụ án hình sự có tác dụng rất quan trọng trong việctuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật Đặc biệt, đối với cácphiên tòa xét xử lưu động thì vai trò tuyên truyền, giáo dục, phổ biếnpháp luật của Hội đồng xét xử càng được coi trọng Tại phiên tòa lưuđộng công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật là phươngpháp dễ hiểu nhất, truyền tải được tới nhiều người, với nhiều lứa tuổi,tầng lớp khác nhau giúp mọi tầng lớp nhân dân hiểu được các quy địnhcấm đoán của pháp luật, giúp người dân nâng cao sự hiểu biết về cácquy định của pháp luật, làm cho người dân hiểu được hành vi của bịcáo là vi phạm pháp luật và phải chịu hình phạt tương xứng với tínhchất, mức độ của hành vi phạm tội đó Từ đó, người dân sẽ có nhữnghành xử chuẩn mực hơn, đúng đắn hơn nếu bản thân mình có rơi vàonhững tình huống tương tự để có cơ sở giáo dục con em mình biết tôntrọng pháp luật, hạn chế tới mức thấp nhất những vi phạm pháp luậttrong cuộc sống hàng ngày.
1.2. Các yếu tố tác động đến xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Hiến pháp 2013 khẳng định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xửduy nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là cơ quanduy nhất có quyền phán quyết cuối cùng trong hoạt động tố tụng Tronghoạt động xét xử Những yếu tố tích cực tác động đến xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ:
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta hiện nayđược ban hành khá đầy đủ, rất nhiều quy định pháp luật mới được sửađổi, bổ sung để phù hợp với tình hình thực tiễn Trong hoạt động xét xửThẩm phán và Hổi thẩm nhân dân căn cứ vào quy định của pháp luật để
Trang 29đưa ra quyết định một người có thực hiện hành vi phạm tội hay không,nếu phạm tội thì phạm vào tội gì, được quy định ở điều khoản nào từ đó
áp dụng hình phạt đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Như vậy, phápluật càng hoàn chỉnh bao nhiêu, các quy định pháp luật càng rõ ràng vàchặt chẽ bấy nhiêu sẽ giúp cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ápdụng đúng và hiệu quả trong việc giải quyết vụ án Vì vậy, pháp luật làyếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc quyết định của Thẩm phán và Hộithẩm nhân dân, Chính vì thế sau khi các văn bản pháp luật được banhành, các quy định mới được sửa đổi, bổ sung đòi hỏi cơ quan có thẩmquyền phải có những hướng dẫn chi tiết và tập huấn cho các cán bộ tưpháp đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán tòa án để nắm bắt kịp thời và ápdụng một cách thống nhất
Ý thức pháp luật và trình độ năng lực của Thẩm phán, Hội thẩm nhân nhân dân:
Có thể nhận định rằng ý thức pháp luật và trình độ chuyên môncủa Thẩm phán tòa án và Hội thẩm nhân dân có tác động rất lớn đếnhoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Một người Thẩm phán và Hộithẩm nhân dân phải là những người hiểu biết am hiểu sâu sắc và toàndiện các quy định của pháp luật, phải thường xuyên, liên tục cập nhật
và tiếp xúc với pháp luật, nghiên cứu và vận dụng linh hoạt các quyđịnh pháp luật để giải quyết vụ án một cách khách quan và đúng đắn.Bên cạnh đó, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải có trình độ nănglực tốt, có bản lĩnh và kỹ năng xét xử, nhìn nhận sự việc một cách tổngquát, nắm vững và hiểu đúng bản chất của các quy định pháp luật.Chính những yếu tố đó góp phần tạo ra cho Thẩm phán và Hội thẩmnhân dân một phong cách làm việc quyết đoán, tự tin, chính xác vàkhoa học để giải quyết vụ án được khách quan và công minh hơn.Ngược lại nếu ý thức pháp luật và nhận thức của Thẩm phán và Hội
Trang 30thẩm nhân dân ở mức độ thấp sẽ dẫn đến việc hiểu không đúng bảnchất các quy định pháp luật, không có kỹ năng xét xử, khi đưa ra phánquyết cuối cùng mà bỏ quên việc xem xét các tình tiết vụ án một cáchkhách quan, toàn diện chỉ xem xét qua loa, hời hợt hay phiến diện sẽdẫn đến oan sai trong xét xử.
Ý thức chính trị, đạo đức cách mạng và kinh nghiệm thực tiễn của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân:
Việc nhận thức và thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tưtưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa lớn trong việc hình thành lý tưởng sống
và ý thức giác ngộ chính trị của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.Trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự để vụ án giải quyếtkhách quan, trung thực, tránh oan sai, nhầm lẫn đòi hỏi Thẩm phán vàHội thẩm nhân dân phải có bản lĩnh, lập trường tư tưởng chính trị vữngvàng, ý chí và tinh thần sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.Bên cạnh việc rèn luyện ý thức chính trị thì mỗi một Thẩm phán hayHội thẩm nhân dân phải có đạo đức cách mạng tốt Pháp luật và thựctiễn đời sống xã hội đòi hỏi ở người Thẩm phán và Hội thẩm về đạođức phẩm chất và tính trung thành với Tổ quốc, với nhân dân NgườiThẩm phán trong giai đoạn hiện nay cần có đầy đủ các đức tính "Nhân,Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm" cũng như phải gần dân, hiểu dân, giúp dân vàhọc dân như lời Bác Hồ đã dạy Hoạt động xét xử của Tòa án là quátrình "truyền tải quyền lực" nhà nước chứa đựng trong pháp luật vàođời sống xã hội thông qua việc giải quyết các vụ việc cụ thể, liên quantrực tiếp đến quyền và lợi ích thiết thân nhất của con người Do vậy,trong suốt quá trình hoạt động xét xử tại phiên tòa đòi hỏi người Thẩmphán và Hội thẩm Tòa án nhân dân phải nâng cao ý thức pháp luật, ýthức chính trị, đạo đức, lối sống
Trang 31Vốn sống, kinh nghiệm sống cũng là yếu tố ảnh hưởng đến hạtđộng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Việc am hiểu mọi mặt của đời sống
xã hội giúp cho thẩm phán và hội thẩm nhân dân đưa ra những quyếtđịnh áp dụng pháp luật chính xác, hiệu quả và thấu tình đạt lý
Tác động từ báo chí và dư luận xã hội:
Trong bối cảnh đất nước ta hiện nay, báo chí và dư luận xã hộiđóng vai trò quan trọng vào công cuộc quản lý và đổi mới đất nước.Các phương tiện truyền thông và dư luận xã hội tác động không nhỏtrong hoạt động xét xử nói chung và hoạt động xét xử sơ thẩm nóiriêng Công luận và dư luận xã hội góp phần quan trọng trong việc giáodục ý thức tôn trọng pháp luật, ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm.Các phương tiện truyền thông là địa chỉ tin cậy để các đương sự, bị can,
bị cáo và mọi công dân cung cấp thông tin chính xác, kịp thời cho cơquan có thẩm quyền để bảo về quyền và lợi ích của họ khi bị xâmphạm
Nếu báo chí và dư luận xã hội phản ánh đúng đắn các tình tiếtcủa vụ án, nhận định và bình luận một cách khách quan sẽ giúp Thẩmphán Tòa án thuận lợi trong việc xét xử Trường hợp xét xử không tuânthủ quy định pháp luật, không công bằng, nghiêm minh thì báo chí và
dư luận xã hội sẽ là người trọng tài nghiêm khắc lên tiếng, phát hiện vàđòi hỏi công lý phải được thực thi Nhưng nếu báo chí và dư luận xãhội phản ánh tình tiết, sự việc một cách phiến diện, hời hợt và chủ quannếu trường hợp Thẩm phán không có bản lĩnh, không xem xét, nghiêncứu các tình tiết một cách khách quan, toàn diện, sẽ dẫn đến oan sai,làm ảnh hưởng đến hoạt động xét xử
Tác động từ những tiêu cực xã hội:
Trong xã hội hiện nay, tiêu cực xuất hiện ngày càng nhiều, khôngchỉ trong bộ máy nhà nước nói chung mà ngay trong cơ quan tư pháp
Trang 32cũng có phần ảnh hưởng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào độingũ cán bộ, trong đó có Thẩm phán Tòa án Bên cạnh những vị Thẩmphán có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp, trung thực, liêm chính, thìvẫn còn một bộ phận không nhỏ Thẩm phán tòa án có hành vi tham ô,hối lộ “bán linh hồn cho quỷ dữ” chỉ vì lợi danh mà quên đi đạo đức, lẽphải, cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án, làm trật tự và công bằng xã hội
bị đảo lộn, công lý không còn được thực thi Chính những tác động tiêucực đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến phán quyết của Thẩm phán, gâyảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.Bên cạnh những tiêu cực đó là sự tác động từ những nguời thân quen,hay những người có chức vụ quyền hạn Từ xưa cho đến nay, tư tưởng
“một người làm quan cả họ được nhờ” hay “nhất thân nhì quen” đã ănsâu vào trong suy nghĩ và hành động của đa số người dân Việt Nam và
đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động xét xử Nếu Thẩm phán tòa án không
có tư tưởng vững vàng, kiên quyết bảo vệ lẽ phải, không liêm khiết,công tư phân minh rõ ràng thì các phán quyết đưa ra khó đạt đượcchuẩn mực cần thiết Do đó, những tiêu cực xã hội có tác động rấtnghiêm trọng đến hoạt động xét xử, cần phải nhanh chóng đẩy lùi các
tệ nạn xã hội nêu trên để xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vữngmạnh
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, tác giả đã tập trung phân tích để đưa ra nhậnthức chung nhất về hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, chỉ ra cácđặc điểm của hoạt động xét xử sơ thẩm, chủ thể của hoạt động xét xử
sơ thẩm và các dạng hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hính sự từ đó chỉ
ra ý nghĩa của hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Trang 33Bên cạnh đó, trong chương 1 tác giả cũng đã làm sáng tỏ các yếu
tố tác động đến hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ những yếu tốtác động tích cực đến những yếu tố tác động tiêu cực trong hoạt độngxét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
2.1.1. Hoạt động trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Nhận hồ sơ và thụ lý vụ án hình sự
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là bước đầu tiên của giaiđoạn xét xử sơ thẩm đây là thời gian kể từ khi Tòa án nhận hồ sơ và thụlývụ án hình sự đến trước ngày khai mạc phiên tòa Sau khi nhận hồ sơ
vụ án do VKSchuyển đến, Tòa án sẽ tiến hành kiểm tra các tài liệu cótrong hồ sơ, nếu đúng theoquy định của pháp luật thì tiến hành thụ lý
hồ sơ vụ án Sau khi hồ sơ vụ án đãđược thụ lý, Chánh án Toà án phâncông ngay Thẩm phán làm chủ toạ phiên toà Trong giai đoạn nàyThẩm phán được phân công làmchủ tọa phiên tòa cần phải kiểm traxem hồ sơ đã bảo đảm về thủ tục tố tụng và số lượng bút lục theo danhmục thông kê tải liệu có trong hồ sơ
Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự, Thẩm phán chủ tọa phiêntòa phải căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và
Trang 34làm sáng tỏ những vấn đề chứng minh trong vụ án hình sự Khinghiên cứu bất cứ tài liệu chứng cứ nào có trong hồ sơ cũng phảiđánh giá về tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp củachúng.Bên cạnh đó Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa cần đối chiếu cácquy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử, để xem vụ án cóthuộc thẩm quyền xét xử của cấp mình hay không tránh trường hợpxét xử sai thẩm quyền dẫn đến vụ án bị hủy.
Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Theo quy định tại Điều 277 BLTTHS thời hạn chuẩn bị xét xử sơthẩm vụ án hình sự được tính từ ngày Tòa án thụ lý vụ án hình sự “1.Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đốivới tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng,
03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng từ ngày thụ lý vụ án,Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định:
a) Đưa vụ án ra xét xử;
b) Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;
c) Tạm đình chi vụ án hoặc đình chi vụ án
Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định giahạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tộiphạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngàyđoi với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.Việc gia hạn thời hạn, chuẩn bị xét xử phải thông báo ngay cho Việnkiểm sát cùng cấp
Đổi với vụ án được trả lại đề yêu cầu điều tra bổ sung thì trongthời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ, Thẩm phán chủ tọa phiêntòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Trường hợp phục hồi vụ ánthì thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục chung quy định tại Bộ luậtnày kể tư ngày Tòa án ra quyết định phục hồi vụ án; trường hợp vì lý
Trang 35do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mởphiên tòa trong thời hạn 30 ngày”.
Những quyết định của Tòa án trong khi chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Thẩmphán được phân công chủ tọa phiên tòa có thể đưa ra một trong cácquyết định: Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Đình chỉ vụ án; Tạm đình chỉ
vụ án; Áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn không phải làbiện pháp tạm giam; ; Đưa vụ án ra xét
Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung:
Việc quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải đảm bảo đúngtheo quy định tại K1 Điều 280 BLTTHS năm 2015 Những căn cứ đểTòa án ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung đó là:
Khi thấy thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án màkhông thể bổ sung tại phiên tòa được Theo thông tư liên tịch số01/2010/TTLT -VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/08/2010 thì
chứng cứ quan trọng gồm: Chứng cứ để chứng minh về việc có haykhông tội phạm xảy ra, chứng cứ để chứng minh về thời gian, địa điểmhay những tình tiết khác của hành vi phạm tội, chứng cứ để chứngminh ai là người thực hiện hành vi phạm tội, chứng cứ để chứng minh
“có lỗi hay không có lỗi người thực hiện hành vi phạm tội có đủ nănglực trách nhiệm hình sự không, chứng cứ để chứng minh động cơ, mụcđích phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệmhình hay đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo, chứng cứ để chứngminh “tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra vànguyên nhân điều kiện phạm tội hoặc những tình tiết khác liên quanđến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễnhình phạt
Trang 36Khi có căn cứ cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồngphạm khác thì chỉ xác định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong nhữngtrường hợp VKS truy tố về một hay nhiều tội tuy nhiên chứng cứ trong
hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can (bị cáo) đã thực hiện cấu thànhmột hay nhiều tội khác;
Như vậy, trường hợp “có căn cứ cho rằng bị cáo phạm một tộikhác” chỉ áp dụng khi VKS truy tố bị can đối với tội danh nhẹ hơn tộidanh mà bị can đã thực hiện ví dụ: VKS truy tố tội cố ý gây thương tíchnhưng theo hồ sơ vụ án thì hành vi phạm tội của bị cáo phải bị xét xử
về tội giết người Còn trường hợp VKS truy tố bị can về tội nặng hơntội danh mà bị can thực hiện thì Thẩm phán chỉ cần trao đổi với VKS màkhông cần phải trả hồ sơ vì Tòa án có thể xét xử bị cáo bằng một tộidanh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà VKS đã truy tố theo đúng quyđịnh tại điều 298 BLTTHS về giới hạn xét xử
Có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng: Nội dung này cũngđược quy định rất chi tiết tại Điều 4 của thông tư liên tịch số01/2010/TTLT -VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/08/2010 cũngquy định rất chi tiết về những trường hợp được coi là vi phạm nghiêmtrọng thủ tục tố tụng hình sự
Quyết định đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án:
Về tạm đình chỉ vụ án: Tạm đình chỉ vụ án là việc Thẩm phánđược phân công chủ toạ phiên toà tạm thời chưa quyết định đưavụ án raxét xử hoặc đã quyết định đưa vụ án ra xét xử thì tạm dừng việc mởphiên toà
Về việc đình chỉ vụ án hình sự: Đây là một quyết định chấm dứtmọi hoạt động tố tụng đối với vụ án Vụ án đã có quyết định đình chỉthì không được phục hồi điều tra, truy tố hoặc xét xử Trường hợp
Trang 37quyết định đình chỉ vụ án bị phát hiện là trái pháp luật thì sẽ bị huỷtheo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 282 BLTTHS thì Thẩm phánchủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi:
Khi người bị hại rút yêu cầu khởi tố đối với các vụ án khởi tốtheo yêu cầu người bị hại Tại khoản 2 Điều 105 BLHS có quy định “trong trường hợp người có yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mởphiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ” Như vậy, nếu quy địnhnhư bộ luật hình sự năm 1999 sẽ được hiểu là những vụ án khởi tố theoyêu cầu của người bị hại chỉ được đình chỉ khi người có yêu cầu khởi
tố rút yêu cầu khởi tố trước khi mở phiên tòa còn khi đã mở phiên tòa
kể cả sơ thẩm hoặc phúc thẩm mà người bị hại mới rút yêu cầu thì Tòa
án vẫn phải xét xử bình thường Còn khoản 2 điều 155 BLHS 2015 quyđịnh là người yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉđiều này thể hiện rằng trong mọi trường hợp khi người yêu cầu khởi tốrút yêu cầu khởi tố thì kể cả tại phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm vụ
án đều được đình chỉ
Như vậy, K2 Điều 150 BLHS năm 1999 không thể hiện đượctoàn diện ý chí của người bị hại, quy định có phần cứng nhắc và gâybất lợi cho người phạm tội tuy nhiên K2, Điều 155 Bộ luật hình sự
2015 lại thể hiện được ý chí của người bị hại trong suốt quá trình tốtụng, phù hợp với nguyên tắc xử lý của BLHS
Quyết định đưa vụ án ra xét xử:
Đây là văn bản pháp lý quan trọng trong quá trình giải quyết vụán.Việc đưa vụ án hình sự ra xét xử sơ thẩm còn là kết quả của giaiđoạn chuẩn bị xét xử để xem xét về thực chất vụ án Việc đưa vụ ánhình sự ra xét xử phải được thể hiện bằng một quyết định đưa vụ ánhình sự ra xét xử Trên cơ sở của Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì
Trang 38Tòa án với Hội đồng xét xử theo quy định sẽ điều hành phiên tòa theocác trình tự như: Thủ tục bắt đầu phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thựchành quyền công tố tại phiên tòa công bố bản Cáo trạng, phần thẩm vấn
và tranh tụng tại phiên tòa
2.1.2. Hoạt động xét xử sơ thẩm vu án hình sự tại phiên tòa
Thứ nhất, quy định chung về thủ tục tố tụng tại phiên tòa:
Theo tinh thần Nghị quyết số 08/TW ngày 02/01/2002 và nghịquyết số 49/TW ngày 0206/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cảicách tư pháp, thì Tòa án được xác định là trung tâm và xét xử được coi
là hoạt động trọng tâm Để một phiên tòa hình sự đảm tính chất tranhtụng thì vai trò của chủ tọa phiên tòa có thể nói là rất quan trọng Theoquy định của BLTTHS năm 2015 thì chủ tọa phiên tòa vừa là người tiếnhành tố tụng đồng thời là người điều khiển toàn bộ hoạt động tố tụngtại phiên tòa của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tốtụng K1,Điều 254 BLTTHS năm 2015 quy định về thành phần Hội đồngxét xử như sau:
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm.Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩmkhi vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp hay có bị cáo phạm tội
mà mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình
Thành phần Hội đồng xét xử được quy định như trên là đáp ứngđược những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Trong suốt cả quátrình hoạt động xét xử tại phiên tòa đòi hỏi người Thẩm phán và Hộithẩm Tòa án nhân dân phải tuân thủ nghiêm ngặt các bước tiến hành tốtụng bên cạnh đó người Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải có ýthức pháp luật, ý thức chính trị, đạo đức, kinh nghiệm sốngđiều nàygiúp cho việc nghiên cứu, xem xét, đánh giá các tình tiết, các chứng cứcủa vụ việc càng chi tiết, khách quan, và vô tư
Trang 39Ngoài thành phần Hội đồng xét xử ra tại phiên Tòa xét xử sơthẩm vụ án hình sự còn có những người tiến hành tố tụng khác nhưKiểm sát viên và Thư ký phiên tòa.
Với tư cách là người tiến hành tố tụng tại phiên Tòa xét xử sơthẩm vụ án hình sự, với chức năng thực hành quyền công tố tại phiêntòa Kiểm sát viên có những nhiệm vụ và quyền hạn như:
Công bố bản cáo trạng, trong trường hợp xét xử bình thườnghoặc công bố quyết định truy tố trong trường hợp xét xử theo thủ tụcrút gọn, có quyền đưa ra những chứng cứ nhằm buộc tội đối với bị cáotại phiên tòa
Trong giai đoạn xét hỏi, kiểm sát viên tự mình hoặc theo yêu cầucủa Chủ tọa phiên tòa, sẽ tham gia xét hỏi hoặc có những hoạt động khácnhư xem xét vật chứng, đề nghị xem xét tại chỗ nhằm làm rõ thêm nộidung của bản Cáo trạng`
Trong giai đoạn tranh tụng Kiểm sát viên có trách nhiệm công bốbản luận tội, tham gia tranh luận đối đáp trở lại với các quan điểm củangười bào chữa và những người tham gia tố tụng khác Dựa trên kếtquả tranh luận, Kiểm sát viên có quyền rút một phần hoặc toàn bộ bảncáo trạng, kết luận về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Cáotrạng đã truy tố trước đó Hoặc có thể kiến nghị để kháng nghị đối vớibản án của Tòa án trong trường hợp thấy có oan sai, sai hoặc bỏ lọt tộiphạm và người phạm tội
Đối với Thư ký Tòa án: Thư ký Tòa án là một trong những ngườitiến hành tố tụng có những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể theo quy địnhcủa BLTTHS khi được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án hình
sự Thư ký tòa án có nhiệm vụ thực hiện các công việc liên quan đếnviệc hỗ trợ điều hành phiên tòa xét xử, hỗ trợ các hoạt động tố tụngthuộc thẩm quyền của Tòa án bên cạnh đó Thư ký tòa án còn có nhiệm
Trang 40vụ, quyền hạn như kiểm tra sự có mặt, vắng mặt của những người thamgia tố tụng được triệu tập đến phiên Tòa Nếu có người tham gia tốtụng được triệu tập đến phiên Tòa mà vắng mặt thì cần làm rõ lý do vìsao họ vắng mặt; phổ biến nội quy của phiên tòa; ghi biên bản phiêntòa; tiến hành các hoạt động tố tụng khác theo sự phân công của Chánhán.
Bên cạnh những người tiến hành tố tụng, trong hoạt động xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự còn có những người tham gia tố tụng:
Bộ luật hình sự năm 2003 chỉ quy định về từng chủ thể được xácđịnh là người là người tham gia tố tụng mà không có điều luật quy địnhdiện những người tham gia tố tụng điều này cũng gây khó khăn trongthực tế áp dụng Do vậy BLTTHS năm 2015 đã bổ sung điều luật quyđịnh về diện những người tham gia tố tụng Điều 55BLTTHS năm 2015quy định NTGTT gồm 20 chủ thể:
Những người tham gia tố tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự:Người tham gia tố tụng là bị cáo: Theo quy định tại K1 điều 61
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 “Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã
bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử Quyền và nghĩa vụ của bị cáo làpháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật củapháp nhân theo quy định của Bộ luật này” Sự có mặt của bị cáo tạiphiên tòa là bắt buộc nhằm tạo điều kiện cho bị cáo được trình bày mộtcách công khai những hành vi phạm tội của mình hoặc công khai đưa
ra các tài liệu chứng cứ để tự bào chữa cho mình Bên cạnh đó sự cómặt của bị cáo tại phiên tòa cũng bảo đảm cho Hội đồng xét xử có căn
cứ xác định được chính xác, khách quan vụ án, tránh xét xử oan người vôtội và không để lọt tội phạm
Người tham gia tố tụng là người bào chữa: Theo quy định tại điều
72 BLTTHS 2015, thì “Người bào chữa là người được người bị buộc