Như vậy, phân tích tình hình tài chính không những cung cấp thông tin quan trọng nhất cho chủ doanh nghiệp trong việc đánh giá những tiềm lực vốn có của doanh nghiệp, xem xét khả năng và
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3MỤC LỤC
Lời mở đầu … 1
Chương 1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về phân tích tình hình tài chính tại các doanh nghiệp: 6
1.1 Khái niệm, ý nghĩa của phân tích tài chính: 6
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính: 6
1.1.2 Ý nghĩa của phân tích tài chính: 6
1.1.2.1 Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: 6
1.1.2.2 Đối với các nhà đầu tư: 7
1.1.2.3 Đối với các chủ nợ: 8
1.1.2.4 Đối với người lao động: 8
1.1.2.5 Đối với các cơ quan nhà nước: 9
1.2 Tài liệu và các phương pháp phân tích tài chính: 9
1.2.1 Tài liệu sử dụng trong phân tích tình hình tài chính Công ty: 9
1.2.2 Các phương pháp sử dụng trong phân tích tình hình tài chính: 13
1.2.2.1 Phương pháp so sánh: 13
1.2.2.2 Phương pháp phân tích nhân tố 14
1.2.2.3 Phương pháp dự đoán 15
1.3 Các tiêu chí đánh giá tình hình tài chính: 15
1.3.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính Công ty: 15
1.3.1.1 Biến động của tài sản, nguồn vốn: 15
1.3.1.2 Doanh thu, chi phí, lợi nhuận: 16
1.3.1.3 Biến động của dòng tiền: 16
1.3.2 Các nhóm hệ số tài chính: 18
1.3.2.1 Khả năng thanh toán: 18
1.3.2.2 Hiệu quả sử dụng tài sản: 21
1.3.2.3 Đòn bẩy tài chính: 23
1.3.2.4 Khả năng sinh lời: 25
1.3.2.5 Nhóm các hệ số thị trường: 27
Trang 41.3.2.6 Đánh giá rủi ro phá sản (hệ số phá sản Z ): 27
1.3.2.7 Dự báo về tăng trưởng: 28
Chương 2 Thực trạng tình hình tài chính của Tổng công ty Cổ phần Phân bón & Hóa chất Dầu khí: 29
2.1 Khái quát về công ty: 29
2.1.1 Lịch sử hình thành: 29
2.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức: 30
2.1.3 Các lĩnh vực kinh doanh của công ty: 32
2.2 Phân tích thực trạng tình hình tài chính của Tổng Công ty Cổ phần Phân bón & Hóa chất Dầu khí ( sau đây gọi là Tổng công ty): 33
2.2.1 Đánh giá khái quát: 33
2.2.2 Phân tích các nhóm hệ số: 49
Chương 3 Đánh giá và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính tại Tổng công ty Cổ phần Phân bón & Hóa chất Dầu khí: 71
3.1 Đánh giá chung Định hướng, mục tiêu phát triển của Tổng công ty: 71
3.1.1 Về ưu điểm:Quan điểm: 71
3.1.2 Về các hạn chế:Chiến lược phát triển: 72
3.2 Định hướng, phát triển của Tổng công ty: 73
3.2.1 Quan điểm mục tiêu: Mục tiêu tổng quát: 73
3.2.2 Chiến lược phát triển 73
3.3 Các giải pháp: 74
3.3.1 Uư tiên đầu tư cho nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường 74
3.3.2 Huy động các nguồn vốn với chi phí thấp nhất: 75
3.3.3 Dự báo và lập kế hoạch tài chính dài hạn để sử dụng vốn và đầu tư hiệu quả: 76
3.3.4 Tăng cường đầu tư tài chính ngắn hạn để giải quyết ứ đọng lượng tiến khá lớn: 76
3.3.5 Tăng giá trị cổ phiếu DPM trên thị trường chứng khoán: 77
Trang 53.4 Kiến nghị 77
3.4.1 Kiến nghị với Nhà nước: 77
3.4.2 Kiến nghị với công ty : 78
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….80
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển sang nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội trong việc phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên, trong quá trình đó, nền kinh tế nước ta cũng phải đối mặt với không ít những khó khăn và thách thức, các doanh nghiệp phải kinh doanh trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt Đứng trước những thử thách đó, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn, quản lý và sử dụng tốt nguồn tài nguyên vật chất cũng như nhân lực của mình là một yêu cầu cấp bách đối với các doanh nghiệp Vì vậy, đểtồn tại và phát triển, các doanh nghiệp cần chủ động về hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) nói chung và hoạt động tài chính nói riêng Bởi vậy, chủ doanh nghiệp phải có những đối sách thích hợp, nhằm tạo ra nguồn tài chính đáp ứng cho yêu cầu sản xuất kinh doanh
có hiệu quả của doanh nghiệp Nếu việc cung ứng sản xuất và tiêu thụ được tiến hành bình thường, đúng tiến độ sẽ là tiền đề đảm bảo cho hoạt động tài chính có hiệu quả và ngược lại việc tổ chức huy động nguồn vốn kịp thời, việc quản lý phân phối và sử dụng các nguồn vốn hợp lý sẽ tạo điều kiện tối đa cho hoạt động SXKD được tiến hành liên tục và có lợi nhuận cao Do đó, để đáp ứng một phần yêu cầu mang tính chiến lược của mình các doanh nghiệp cần tiến hành định kỳ phân tích, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính Từ đó, phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt hạn chế của hoạt động tài chính của doanh nghiệp, tìm ra những nguyên nhân cơ bản đã ảnh hưởng đến các mặt này và đề xuất được các biện pháp cần thiết để cải tiến hoạt động tài chính tạo tiền đề để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh
Như vậy, phân tích tình hình tài chính không những cung cấp thông tin quan trọng nhất cho chủ doanh nghiệp trong việc đánh giá những tiềm lực vốn có của doanh nghiệp, xem xét khả năng và thế mạnh trong sản xuất kinh doanh, mà còn thông qua
đó xác định được xu hướng phát triển của doanh nghiệp, tìm ra những bước đi vững chắc, hiệu quả trong một tương lai gần Việc phân tích tài chính là một công cụ quan
Trang 7trọngvà hữu ích cho công tác quản lý của chủ Công ty nói riêng và hoạt động sản xuất kinh doanhcủa Côngty nói chung
Nhận thức được tầm quan trọng đó, tôi đã chọn đề tài “Phân tích tình hình tài chính tại Tổng Công ty Cổ phần Phân bón & Hóa chất Dầu khí” làm chủ đề nghiên cứu cho Luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
- Về cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp đã được trình bày trong rất nhiều tài liệu ở cả trong và ngoài nước Ở đây, tôi chỉ xin đơn cử một số tài liệu tiêu biểu:
Nguyễn Đức Dũng: Phân tích báo cáo tài chính và định giá trị doanh nghiệp, NXB Thống kê, 2009, Hà Nội ;
Nguyễn Minh Kiều: Tài chính doanh nghiệp căn bản, NXB Thống kê, 2010,
Trang 8Luận văn này sẽ kế thừa, hệ thống hoá và sử dụng các cơ sở lý luận này để làm
cơ sở khi phân tích tình hình tài chính tại Tổng Công ty trên
Về phân tích báo cáo tài chính của Tổng Công ty Cổ phần Phân bón & Hóa chất Dầu khí đã có một số công ty chứng khoán và tư vấn tài chính thực hiện phân tích và đưa ra các đánh giá Các bản phân tích và đánh giá này đã đưa ra được những
ưu điểm và hạn chế trong hoạt động tài chính của công ty và là những thông tin cần thiết cho các đối tượng bên trong và ngoài công ty
Tuy nhiên trong các phân tích này, một số vấn đề như chi phí vốn của công ty, giá trị kinh tế gia tăng, giá trị thị trường gia tăng, mô hình điểm Z, các yếu tố tác động phi tài chính và tốc độ tăng trưởng bền vững chưa được nhắc đến Đồng thời, hầu hết các phân tích trên đều đứng trên quan điểm thực tiễn phục vụ cho các nhà đầu tư chứng khoán, nên tính học thuật và lý luận chưa được khai thác Mặt khác, tính so sánh chưa có nên chưa thấy hết được những đặc điểm riêng có (cả mặt thành công lẫn tồn tại) của doanh nghiệp này chưa được làm nổi bật Chính vì vậy, trong quá trình nghiên cứu và phân tích tình hình tài chính của Tổng Công ty Cổ phần Phân bón & Hóa chất Dầu khí, Luận văn sẽ cố gắng bổ sung thêm các khung lý thuyết để nâng cao tính học thuật, sử dụng thêm các phương pháp đối chiếu, so sánh để làm nổi bật tính đặc thù của Tổng Công ty, sử dụng thêm các tiêu chí nói trên và các thông tin về báo cáo tài chính mới nhất của công ty trong thời gian tới, để cho đánh giá tổng quát hơn về hoạt động tài chính của công ty và đó là một việc làm cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu: Phân tích tình hình tài chính Tông Công ty Cổ phần Phân bón & Hoá chất Dầu khí để tìm ra được những ưu điểm và phát hiện những nhược điểm và tồn tại của công tác này, từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý tài chính và kinh doanh tại Tổng Công ty này
Trang 93.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, Luận văn sẽ giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản sau:
- Cơ sở lý luận và thực tiễn cơ bản cho việc phân tích hoạt động tài chính tại Tổng Công ty Cổ phần Phân bón & Hoá chất Dầu khí là gì?
- Hoạt động tài chính tại Tổng công ty này đã đạt được những thành công gì và còn vướng phải những khó khăn và tồn tại gì, tại sao?
- Để nâng cao hiệu qủa của hoạt động tài chính nói riêng và hoạt động kinh doanh nói chung, Tổng Công ty và các tổ chức có liên quan cần thực thi những giải pháp gì ?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là hoạt động tài chính của Tổng Công ty Cổ phần Phân bón & Hóa chất Dầu khí
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Phân tích toàn bộ tình hình tài chính của Tổng Công
ty Cổ phần Phân bón & Hóa chất Dầu khí trong giai đoạn từ 2009 đến nay trong đó tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản, từ đó có thể phản ánh đựơc toàn bộ thực trạng tình tài chính trong giai đoạn 2009-2011
5 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp thu thập số liệu, thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh và đối chiếu, và phương pháp lấy ý kiến chuyên gia có liên quanđể nghiên cứu nhằm đạt được mục tiêu của đề tài
Các số liệu trong luận văn dựa trên các Báo cáo tài chính hàng năm của Tổng Công ty Cổ phần Phân bón & Hóa chất Dầu khí; các bài viết được đăng trên các tạp chí, các báo; sách; luận án; các báo cáo hàng năm của Bộ Tài chính; và các trang Web
Trang 106 Những đóng góp mới của luận văn:
- Luận văn sẽ hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về phân tích tài chính tại các doanh nghiệp và xây dựng khung phân tích áp dụng vào phân tích tình hình tài chính của Tổng Công ty Cổ phần Phân bón & Hóa chất Dầu khí;
- Trình bày và phân tích thực trạng tài chính của Tổng Công ty Cổ phần Phân bón & Hóa chất Dầu khí và tìm ra các ưu điểm, hạn chế trong hoạt động tài chính của Tổng công ty trên cũng như các nguyên nhân của chúng;
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm giúp Tổng công ty có thể nâng cao được hiệu quả của hoạt động quản lý tài chính của mình
7 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành
3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tình hình tài chính tại các doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng tình hình tài chính Tổng Công ty Cổ phần Phân bón
& Hóa chất Dầu khí
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính của Tổng Công ty Cổ phần Phân bón & Hóa chất Dầu khí
Trang 11CHƯƠNG 1
CHÍNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm, ý nghĩa của phân tích tài chính:
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính:
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là quá trình thu thập thông tin, xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ của công
ty, giữa đơn vị và các chỉ tiêu bình quân ngành để từ đó có thể xác định được thực trạng tài chính và tiên đoán cho tương lai và xu hướng, tiềm năng kinh tế của công ty Qua đó người sử dụng thông tin có thể đánh giá đúng thực trạng tài chính của công ty, xác định chính xác hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai và triển vọng của công ty từ đó người sử dụng thông tin có thể dự báo và đưa ra các quyết định tài chính, quyết định tài trợ và quyết định đầu tư
Mỗi đối tượng khác nhau sẽ quan tâm tới các nội dung tài chính khác nhau của doanh nghiệp Tuy nhiên, về cơ bản, quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp gồm các bước: thu thập thông tin; xử lý thông tin; dự báo và đưa ra quyết định tài chính 1.1.2 Ý nghĩa của phân tích tài chính:
Thông tin về tình hình tài chính rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghịêp
và cũng là nguồn thông tin quan trọng đối với người ngoài doanh nghiệp Mục đích của phân tích tình hình tài chính là giúp người sử dụng thông tin đánh giá chính xác sức mạnh tài chính, khả năng sinh lãi và triển vọng của doanh nghiệp Phân tích báo cáo tài chính nhằm đạt được các mục đích sau:
1.1.2.1 Đối với nhà quản lý doanh nghiệp
Nhà quản lý doanh nghiệp bao giờ cũng đứng trước nhiều quyết định khác nhau,
do đó mà quan tâm đến kết quả phân tích thông qua các báo cáo tài chính của doanh nghiệp dưới nhiều góc độ khác nhau phù hợp với lĩnh vực và cương vị đưa ra quyết
Trang 12định để một khi quyết định được đưa ra là tối ưu hơn cả Đối với nhà quản lý thì phân tích tài chính nhằm đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp, đó là cơ sở định hướng các quyết định của Ban tổng giám đốc, dự báo tài chính về kế hoạch đầu tư, ngân quỹ và kiểm soát các hoạt động quản lý Phân tích tài chính đối với nhà quản lý có phần thuận lợi được gọi là phân tích tài chính nội bộ chứ không phải là phân tích tài chính ngoài doanh nghiệp
Do vậy, các nhà quản lý dễ dàng nắm bắt, hiểu rõ về tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng như các hoạt động khác từ đó có quyết định đúng đắn Khi đó, phân tích tài chính phục vụ các mục tiêu sau:
- Thứ nhất, tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đã qua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, rủi ro tài chính trong doanh nghiệp
- Thứ hai, hướng các quyết định của Ban giám đốc theo chiều hướng phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp như quyết định về đầu tư, phân phối lợi nhuận…
- Thứ ba, đó là cơ sở cho những dự đoán tài chính ngắn, trung và dài hạn
- Thứ tư, phân tích tài chính đối với nhà quản lý là một công cụ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động, quản lý trong doanh nghiệp
Tóm lại, phân tích tài chính làm nổi bật điều quan trọng của dự báo tài chính,
mà dự báo là nền tảng của hoạt động quản lý, làm sáng tỏ không chỉ chính sách tài chính mà còn làm rõ các chính sách chung trong doanh nghiệp
1.1.2.2 Đối với các nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người giao vốn của mình cho người khác quản lý và như vậy họ luôn dứng trước những rủi ro Thu nhập của các nhà đầu tư là tiền lời được chia và thặng dư giá trị của vốn Hai yếu tố này phần lớn ảnh hưởng của lợi nhuận thu được ở đơn vị mình giao vốn Vì vậy, cần đánh giá khả năng hoạt động và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mình có ý định đầu tư Câu hỏi chủ yếu được đặt ra là tiền
Trang 13lời bình quân cho một suất đầu tư là bao nhiêu? Phải mất bao lâu mới thu hồi đủ vốn? Tuy nhiên, những dự đoán đặt ra có khoảng cách khá xa so với tiền lời thực sự bởi chính sách phân phối lợi nhuận của nơi nhận đầu tư và các ảnh hưởng của thị trường
về các yếu tố như lạm phát, chính trị, văn hoá, chính sách Nhà nước nhiều khi không thể dự đoán chính xác được Khi đó, phân tích tài chính doanh nghiệp là để đánh giá doanh nghiệp, các nhà đầu tư quan tâm đến việc nghiên cứu các báo biểu tài chính, khả năng sinh lời, chính sách phân phối lợi nhuận, phân tích rủi ro tài chính trong kinh doanh để lựa chọn hướng đầu tư, cơ cấu đầu tư, nơi đầu tư
mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền Song việc tài trợ bằng hình thức gì đi nữa thì các chủ nợ đều quan tâm rằng việc hoàn trả cả vốn lẫn lãi có đúng thời hạn không, khả năng sinh lời của doanh nghiệp, vay nợ từ những người cung cấp nào và khả năng trả nợ trong hiện tại và trong tương lai Từ đó, các chủ nợ mới quyết định có nên cho doanh nghiệp vay với cơ cấu vốn như thế nào, thời hạn trong bao lâu
1.1.2.4 Đối với người lao động
Lương là nguồn thu nhập chính thể hiện giá trị sức lao động mà những người lao động bỏ ra, là nguồn tiền giúp cho họ có thể tái sản xuất và nuôi sống gia đình Bên cạnh đó, đối với những doanh nghiệp cổ phần những người lao động cũng có thể trở thành những cổ đông nếu họ có tiền mua và nắm giữ cổ phiếu Do đó, họ quan tâm
Trang 14đến tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua chính sách phân phối thu nhập, các khoản đóng góp của họ đối với doanh nghiệp, quỹ phúc lợi, quỹ trợ cấp ốm đau, thất nghiệp, chính sách cổ tức, khả năng sinh lời của doanh nghiệp Từ đó, người lao động
có thể yên tâm lao động và sáng tạo, sử dụng đồng vốn nhàn rỗi của mình để tăng thêm thu nhập
1.1.2.5 Đối với các cơ quan nhà nước
Với tư cách là các cơ quan nhà nước có liên quan bao gồm kiểm toán nhà nước,
cơ quan thuế, cơ quan thống kê là những cơ quan trực tiếp quản lý và giám sát tình hình hoạt động của doanh nghiệp qua các báo cáo tài chính gửi lên Đây là một trong những đối tượng rất quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp, vì các cơ quan này đại diện cho Nhà nước thực hiện nhiệm vụ điều tiết vĩ mô Bất cứ doanh nghiệp nào tiến hành một hoạt động kinh doanh phải đăng ký và phải tuân thủ theo pháp luật hiện hành để trở thành một đơn vị làm ăn lành mạnh, hiệu quả Do đó, các cơ quan nhà nước có liên quan bằng cách đọc những kết quả đạt được, những mặt còn yếu kém qua các phần trong báo cáo tài chính có cái nhìn vừa tổng quan, vừa cụ thể về hoạt động của doanh nghiệp xem xét doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả không, có tuân thủ pháp luật không…để đưa ra quyết định quản lý phù hợp
1.2 Tài liệu và các phương pháp phân tích tài chính
1.2.1 Tài liệu sử dụng trong phân tích tình hình tài chính Công ty:
Tài liệu quan trọng nhất để sử dụng trong phân tích tình hình tài chính của công
ty đó là báo cáo tài chính, mà hệ thống báo các tài chính của công ty ở các thời kỳ được quy định chủ yếu là:
a) Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tổng hợp, phản ánh toàn bộ tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định theo kết cấu: vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn kinh doanh Kết cấu của bảng được chia thành 2 phần: Tài sản và nguồn vốn
Trang 15Phần tài sản: Phản ánh toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Phần tài sản được phân thành: Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn; Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo Các chỉ tiêu này thể hiện trách nhiệm pháp lý đối với tài sản doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng ở doanh nghiệp Phần nguồn vốn được chia thành: Nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu
Bảng cân đối kế toán do vậy là nguồn thông tin quan trọng cho công tác phân tích tài chính, nó giúp đánh giá được khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán, năng lực hoạt động, tài sản hiện có và nguồn hình thành nó, cơ cấu vốn của doanh nghiệp
b) Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tổng hợp cho biết tình hình tài chính doanh nghiệp tại những thời kỳ nhất định Đó là kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của toàn doanh nghiệp, kết quả hoạt động theo từng loại hoạt động kinh doanh (sản xuất kinh doanh, đầu tư tài chính, hoạt động bất thường) Ngoài ra, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh còn cho biết tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh đó Báo cáo kết quả kinh doanh cho ta biết mức lãi,
lỗ của doanh nghiệp bằng cách lấy tất cả các khoản tạo nên doanh thu trừ đi chi phí kinh doanh tương ứng nó có ý nghĩa quan trọng đến chính sách cổ tức, trích lập các quỹ như khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ trợ cấp, quỹ đầu tư phát triển Các chỉ tiêu trong báo cáo còn là tiền đề để dự đoán và xác định được quy mô dòng tiền trong tương lai, làm căn cứ tính toán thời gian thu hồi vốn đầu tư, giá trị hiện tại ròng để ra quyết định đầu tư dài hạn trong doanh nghiệp
Trang 16
c) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính mà doanh nghiệp cần lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin của doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến các luồng tiền vào, ra trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ, đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp trong từng thời kỳ Những luồng tiền vào ra của tiền và các khoản coi như là tiền được tổng hợp và chia thành 3 nhóm:
- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh
- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư
- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính
Trên cơ sở đó, nhà phân tích thực hiện cân đối ngân quỹ với số dư ngân quỹ đầu
kỳ để xác định số dư ngân quỹ cuối kỳ Từ đó, có thể thiết lập mức dự phòng tối thiểu cho doanh nghiệp đảm bảo khả năng chi trả
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có mối liên hệ chặt chẽ với bảng cân đối kế toán và bảng kết quả kinh doanh trong phân tích tài chính Đây là cơ sở quan trọng để nhà quản lý xây dựng kế hoạch quản lý tiền mặt
d) Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính là báo cáo tài chính tổng hợp được sử dụng để giải thích và bổ sung các thông tin về tình hình sản xuất, kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo khác không thể trình bày rõ ràng, cụ thể và chi tiết được
Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp; Nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp áp dụng; Giải thích
và thuyết minh tình hình kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phương hướng sản xuất kinh doanh trong kỳ tới; Các kiến nghị của doanh nghiệp
* Ngoài ra việc phân tích tài chính không chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu những báo biểu tài chính mà phải tập hợp đầy đủ các thông tin liên quan đến tình hình tài chính doanh nghiệp, như các thông tin về kinh tế, tiền tệ, thuế khoá của quốc gia và
Trang 17quốc tế, các thông tin về kinh tế, các thông tin về pháp lý, về kinh tế đối với doanh nghiệp Việc quyết định đều gắn với môi trường xung quanh Có thể kể tới một số yếu
tố khách quan tác động tới doanh nghiệp và những thông tin liên quan đến các yếu tố này cũng phải luôn được thường xuyên cập nhật:
- Doanh nghiệp luôn phải đối đầu với công nghệ Sự phát triển của công nghệ góp phần làm thay đổi phương thức sản xuất, góp phần làm thay đổi trong quản lý doanh nghiệp dẫn tới các quyết định tài chính cũng phải thay đổi theo
- Doanh nghiệp luôn là đối tượng quản lý của các cơ quan nhà nước Mọi hoạt động của doanh nghiệp bị điều tiết và chi phối bởi cơ chế quản lý tài chính, hệ thống luật, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ngành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Một sự thay đổi nhỏ về chính sách, chuẩn mực đều có thể dẫn đến quyết định tài chính là đúng đắn hay sai lầm
- Kinh doanh luôn gắn liền với rủi ro đặc biệt trong nền kinh tế thị trường rủi ro tài chính luôn tiềm ẩn, đòi hỏi các doanh nghiệp dự tính mức rủi ro có thể chịu đựng được qua các quyết định tài chính để có biện pháp phòng ngừa vì rủi ro rất đa dạng và phức tạp, nó có thể làm cho doanh nghiệp phá sản, giải thể
- Doanh nghiệp với sức ép của thị trường cạnh tranh, những đòi hỏi về chất lượng, mẫu mã, chủng loại, giá cả hàng hoá, chất lượng dịch vụ ngày càng cao hơn, tinh tế hơn của khách hàng đòi hỏi doanh nghiệp cần có những thông tin nắm bắt thị hiếu của khách hàng để thay đổi chính sách sản phẩm, đảm bảo sản xuất kinh doanh
có hiệu quả
- Doanh nghiệp phải đáp ứng được đòi hỏi của các đối tác về mức vốn sở hữu trong cơ cấu vốn Sự tăng, giảm vốn chủ sở hữu có tác động đáng kể tới hoạt động doanh nghiệp, đặc biệt trong các điều kiện kinh tế khác nhau
- Doanh nghiệp muốn hoạt động kinh doanh tốt phải luôn đặt các hoạt động của mình trong mối liên hệ chung của ngành Đặc điểm ngành kinh doanh liên quan đến :
+ Tính chất của các sản phẩm
Trang 18+ Quy trình kỹ thuật áp dụng
+ Cơ cấu sản xuất công nghiệp nặng hoặc công nghiệp nhẹ những cơ cấu sản xuất này có tác động tới khả năng sinh lời, vòng quay vốn dự trữ phương tiện tiền tệ…
1.2.2 Các phương pháp sử dụng trong phân tích tình hình tài chính:
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng tiền dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tài chính doanh nghiệp ở quá khứ, hiện tại và dự đoán tài chính doanh nghiệp trong tương lai, giúp các đối tượng đưa ra quyết định kinh tế phù hợp với mục tiêu mong muốn
1.2.2.1.Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong phân tích kinh tế nói chung và phân tích tài chính nói riêng, được áp dụng từ khâu đầu đến khâu cuối của quá trình phân tích: từ khi sưu tầm tài liệu đến khi kết thúc phân tích Khi sử dụng phương pháp so sánh cần chú ý đến điều kiện so sánh, tiêu thức so sánh và kỹ thuật so sánh
Về điều kiện so sánh:
- Phải tồn tại ít nhất 2 đại lượng hoặc hai chỉ tiêu
- Các đại lượng, chỉ tiêu phải thống nhất về nội dung và phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường
Tuy nhiên, người ta có thể so sánh giữa các đại lượng có quan hệ chặt chẽ với nhau để hình thành chỉ tiêu nghiên cứu về một vấn đề nào đó
Về tiêu thức so sánh: Tuỳ thuộc mục đích của cuộc phân tích, người ta có thể lựa chọn một trong các tiêu thức sau đây:
- Để đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu đặt ra: tiến hành so sánh tài liệu thực
tế đạt được với tài liệu kế hoạch, dự đoán hoặc định mức
Trang 19- Để xác định xu hướng cũng như tốc độ phát triển: tiến hành so sánh giữa số liệu thực tế kỳ này với thực tế kỳ trước
- Để xác định vị trí cũng như sức mạnh của doanh nghiệp: tiến hành so sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác cùng loại hình kinh doanh hoặc giá trị trung bình của ngành kinh doanh
Số liệu của một kỳ được chọn làm căn cứ so sánh được gọi là gốc so sánh
Về kỹ thuật so sánh: thường sử dụng các kỹ thuật so sánh sau đây:
- So sánh về số tuyệt đối: là việc xác định chênh lệch giữa trị số của chỉ tiêu kỳ phân tích với trị số của chỉ tiêu kỳ gốc Kết quả so sánh cho thấy sự biến động về số tuyệt đối của hiện tượng đang nghiên cứu
- So sánh bằng số tương đối: là xác định số % tăng giảm giữa thực tế so với kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích, cũng có khi là tỷ trọng của một hiện tượng kinh tế trong tổng thể quy mô chung được xác định
1.2.2.2 Phương pháp phân tích nhân tố
Là phương pháp phân tích và xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích, sau đó xem xét tính chất ảnh hưởng của từng nhân tố, những nguyên nhân dẫn đến sự biến động của từng nhân tố và xu thế nhân tố trong tương lai
sẽ vận động như thế nào Tùy thuộc mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích, người ta có thể chia thành phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp số chênh lệch, phương pháp hiệu số tỷ lệ, phương pháp cân đối để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố:
- Phương pháp thay thế liên hoàn: là phương pháp dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích khi các nhân tố có quan hệ với chỉ tiêu phân tích thể hiện dưới dạng phương trình tích hoặc thương
- Phương pháp số chênh lệch và phương pháp hiệu số tỷ lệ: là hệ quả của thay thế liên hoàn áp dụng trong trường hợp mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các nhân tố ảnh hưởng thể hiện dưới dạng tích đơn thuần
Trang 20- Phương pháp cân đối: cũng dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân
tố đến chỉ tiêu phân tích khi chỉ tiêu phân tích có mối quan hệ với các nhân tố thể hiện dưới dạng phương trình tổng hiệu Để xác định mức độ ảnh hưởng của một nhân tố nào đó người ta chỉ việc xác định chênh lệch giữa thực tế so với kỳ gốc của nhân tố
đó
1.2.2.3 Phương pháp dự đoán
Là phương pháp được sử dụng để ước tính các chỉ tiêu kinh tế trong tương lai Tùy thuộc vào mối quan hệ cũng như dự đoán tình hình kinh tế xã hội tác động đến doanh nghiệp mà sử dụng các phương pháp khác nhau Thường người ta sử dụng phương pháp hồi quy, toán xác suất, toán tài chính và các phương pháp phân tích chuyên dụng như phân tích dòng tiền, phân tích hòa vốn, phân tích lãi gộp, lãi thuần, lãi đầu tư, phân tích dãy thời gian Các phương pháp này có tác dụng quan trọng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế cũng như lựa chọn các phương án đầu tư hoặc kinh doanh
1.3 Các tiêu chí đánh giá tình hình tài chính
1.3.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính Công ty
1.3.1.1 Biến động của tài sản, nguồn vốn:
a) Đánh giá khái quát sự biến động về tài sản và nguồn vốn:
So sánh tổng tài sản giữa cuối năm và đầu năm, đồng thời so sánh giá trị
và tỷ trọng của các bộ phận cấu thành tài sản (tài sảnA, B) giữa cuối năm và đầu năm để đánh giá sự biến động về quy mô doanh nghiệp và những nguyên nhân ban đầu làm ảnh hưởng đến tình hình trên
So sánh tổng nguồn vốn và các bộ phận cấu thành nguồn vốn ( nguồn vốn A,B) giữa cuốí năm và đầu năm để đánh giá mức độ huy động vốn đảm bảo cho sản xuất kinh doanh và những nguyên nhân ban đầu ảnh hưởng đến tình hình trên
b).Phân tích tính cân đối giữa tài sản và nguồn vốn:
Trang 21Tìm hiểu mối liên hệ:
* Tài sản ngắn hạn + Nợ ngắn hạn + % Vốn chủ sở hữu
* Tài sản dài hạn + Nợ dài hạn + % Vốn chủ sở hữu Mối liên hệ trên sẽ mất cân bằng khi:
- Nợ ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn
- Nợ dài hạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn
- Vốn chủ sở hữu tài trợ cho toàn bộ tài sản
- Nợ ngắn hạn & nợ dài hạn tài trợ cho tài sản
1.3.1.2 Doanh thu, chi phí, lợi nhuận
1.3.1.3 Biến động của dòng tiền
a) Mục đích: phân tích dòng tiền là cách cơ bản chỉ ra luồng tiền dịch chuyển của dòng tiền Chúng được sử dụng để trình bày xem tiền đã được sử dụng như thế nào trong quá khứ và một báo cáo như vậy có thể được làm ra để chứng minh các quỹ sẽ được sử dụng như thế nào trong tương lai
b) Khái quát về phương pháp:
Sơ đồ dưới đây sẽ chỉ ra chu kỳ của dòng tiền tham gia kinh doanh của các doanh nghiệp:
Tiền mặt > Các khoản phải trả > Mua sắm NVL > Quá trình sản xuất > Thành phẩm tồn kho > Thêm lợi nhuận gộp > Các khoản phải thu > Tiền mặt
Khi phân tích dòng tiền của doanh nghiệp, ta đi phân tích các hệ số sau:
- Hệ số dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh so với tổng dòng tiền vào: Lưu chuyển thuần từ hoạt động kinh doanh dương (thu > chi) thể hiện công ty làm ăn có hiệu quả, có khả năng trả ngay các khoản nợ đến hạn
- Hệ số dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh cho biết tỷ lệ tạo ra nguồn tiền vào
từ hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp Thông thường nếu doanh nghiệp không có những biến động tài chính đặc biệt thì tỷ lệ này khá cao (khoảng 80%), đây
Trang 22là nguồn tiền chủ yếu dùng trang trải cho hoạt động đầu tư dài hạn, trả lãi vay, nợ gốc,
cổ tức
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh bao gồm các khoản mục sau:
Lợi nhuận ròng: (Lãi +, Lỗ -)
Khấu hao cơ bản (Lãi +, Lỗ -)
Chi phí trả lãi vay (+)
Tăng giảm nhu cầu vốn lưu động (Tăng -, giảm +)
{
- Hệ số dòng tiền từ hoạt động đầu tư so với tổng dòng tiền vào: Lưu chuyển thuần từ hoạt động đầu tư dương (thu > chi) thể hiện quy mô của doanh nghiệp bị thu hẹp Vì số tiền thu được từ khấu hao, bán tài sản cố định sẽ lớn hơn số tiền mua sắm tài sản cố định khác
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư bao gồm các khoản mục sau:
Chi đầu tư TSCĐ (-)
Vốn lưu động ban đầu (-)
Chi góp vốn kinh doanh (-)
Thu từ góp vốn kinh doanh (+)
Giá trị thu hồi:
Giá trị thanh lý TSCĐ (+)
Vốn lưu động thu hồi cuối kỳ (+)
- Hệ số dòng tiền vào từ hoạt động tài chính so với tổng dòng tiền vào: Lưu chuyển thuần từ hoạt động tài chính dương thể hiện lượng vốn cung ứng từ bên ngoài tăng Điều này thể hiện tiền tạo ra từ hoạt động tài chính là do sự tài trợ từ bên ngoài và doanh nghiệp có thể phải phụ thuộc vào các nguồn vốn từ bên ngoài
Hoạt động tài chính là những nghiệp vụ làm thay đổi cơ cấu tài chính của doanh nghiệp Cụ thể: tăng, giảm các khoản vay; tăng giảm vốn chủ sở hữu khi huy động, phát hành cổ phiếu; mua lại trái phiếu, cổ phiếu; trả cổ tức, lợi nhuận giữ lại
Trang 23Nếu lưu chuyển từ hoạt động kinh doanh không đủ cho hoạt động đầu tư buộc doanh nghiệp phải điều phối dòng tiền từ hoạt động tài chính Đó có thể là một khoản vay sẽ được tăng lên, phát hành thêm cổ phiếu hay là sự giảm đi hoặc thậm chí ngưng trả các khoản cổ tức
Dòng tiền từ hoạt động tài chính bao gồm các khoản mục sau:
Chi cổ tức, quỹ phúc lợi, khen thưởng (-)
Sức mạnh của doanh nghiệp thể hiện trước hết ở khả năng tạo tiền từ hoạt động kinh doanh, không phải tiền tạo ra từ hoạt động đầu tư hay tài chính, đây chính là việc xác định mức độ ổn định của một doanh nghiệp
1.3.2 Các nhóm hệ số tài chính
1.3.2.1 Khả năng thanh toán:
a) Nhóm hệ số khả năng thanh khoản ngắn hạn:
Nhóm hệ số khả năng thanh khoản ngắn hạn phản ánh khả năng chuyển đổi các tài sản ngắn hạn thành tiền để thanh toán các khoản nợ vay ngắn hạn Một hạn chế của
hệ số thanh toán nợ ngắn hạn là trong nhiều trường hợp doanh nghiệp tuy có hệ số thanh toán nợ ngắn hạn cao nhưng vẫn không hoàn trả được các khoản nợ đến hạn do hàng tồn kho và các khoản phải thu có tính thanh khoản kém nên chưa chuyển hoá được thành tiền Để khắc phục hạn chế của hệ số thanh toán nợ ngắn hạn, có thể sử dụng các hệ số thanh toán nhanh hoặc hệ số thanh toán ngay, hai hệ số này phản ánh khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp sau khi đã loại bỏ các tài sản kém thanh khoản như hàng tồn kho và phải thu ngắn hạn
Trang 24Thông thường các hệ số thanh khoản ngắn hạn cao đem lại sự an toàn cho doanh nghiệp Tuy nhiên, đôi khi hệ số thanh khoản cao có thể do doanh nghiệp đầu tư quá mức cần thiết vào tài sản ngắn hạn và không mang lại hiệu quả Do vậy, các hệ số này cần được so sánh với chỉ tiêu trung bình ngành và căn cứ vào tính chất ngành nghề kinh doanh Mặt khác, các hệ số này cũng cần được xem xét trong mối quan hệ với các hệ số năng lực hoạt động tài sản như vòng quay hàng tồn kho và phải thu Cụ thể,
hệ số vòng quay khoản phải thu và hàng tồn kho thấp hạn chế khả năng thanh khoản
do hàng tồn kho không thể tiêu thụ và các khoản phải thu không thể thu hồi không đem lại nguồn tiền giúp doanh nghiệp hoàn trả các khoản nợ
Hệ số thanh toán ngắn hạn: được xác định dựa vào thông tin từ bảng cân đối tài sản bằng cách lấy giá trị của tài sản ngắn hạn chia cho giá trị nợ ngắn hạn phải trả, phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng cách sử dụng các tài sản ngắn hạn
Hệ số thanh toán ngắn hạn càng lớn chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng tốt, song khả năng sinh lời của tài sản lại kém do doanh nghiệp phải đánh đổi giữa khả năng thanh toán với khả năng sinh lời nhằm tránh rủi ro phá sản doanh nghiệp
Hệ số thanh toán nhanh: khi xác định hệ số thanh toán ngắn hạn, ngoài tiền mặt, chứng khoán thanh khoản và các khoản phải thu, chúng ta đã tính cả hàng tồn kho trong giá trị tài sản ngắn hạn đảm bảo cho nợ ngắn hạn Tuy nhiên, trên thực tế hàng tồn kho kém thanh khoản hơn vì mất thời gian và chi phí tiêu thụ mới có thể chuyển thành tiền Do vậy, hệ số thanh toán nhanh được sử dụng để phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp, mà không cần phải chịu tổn thất khi phải bán hàng tồn kho, vìhàng tồn kho là loại tài sản kém lỏng nhất trong tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
- Hệ số thanh toán tức thời: tỷ lệ đo lường khả năng thanh toán của doanh nghiệp một cách hữu hiệu nhất phải nói đến là hệ số thanh toán tức thời, nó cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ bằng tiền và chứng khoán dễ bán của doanh nghiệp
Trang 25Bên cạnh các hệ số thanh toán nợ ngắn hạn, thanh toán nhanh và thanh toán ngay, chỉ tiêu vốn lưu động thường xuyên được sử dụng để phân tích khả năng thanh khoản “Vốn lưu động thường xuyên = Tài sản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn”, như vậy vốn lưu động thường xuyên dương phản ánh doanh nghiệp có thể thanh toán hết các khoản
nợ ngắn hạn dựa vào các tài sản ngắn hạn và ngược lại
b) Nhóm hệ số khả năng thanh khoản dài hạn
Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh khoản dài hạn như tỷ số khả năng trả lãi vay, tỷ số khả năng trả nợ, tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn
Tỷ số khả năng trả lãi vay đo lường khả năng trả lãi vay bằng khoản lợi nhuận hoạt động (EBIT) của doanh nghiệp Khả năng trả lãi phụ thuộc vào khả năng sinh lời (EBIT) và mức độ sử dụng nợ Mức độ sử dụng nợ lớn nhưng khả năng sinh lời thấp thì tỷ số này giảm và rủi ro Tỷ số này càng cao thì rủi ro không thể chi trả lãi vay càng thấp và ngược lại
Tỷ số khả năng trả nợ phản ánh toàn bộ trách nhiệm trả nợ của công ty bao gồm chi phí lãi vay, nợ gốc và tiền thuế
Tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn đo lường mức độ tài trợ cho tài sản dài hạn bằng vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn ổn định và doanh nghiệp không phải chịu áp lực chi phí lãi vay Toàn bộ tài sản dài hạn được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu thể hiện khả năng tài chính vững vàng
Khả năng thanh toán (solvency): là khả năng bảo đảm trả được các khoản nợ đến hạn bất cứ lúc nào Khả năng thanh toán là kết quả của sự cân bằng giữa các luồng thu và chi hay giữa nguồn vốn kinh tế (capital) và nguồn lực sẵn có (resource) Hay nói cách khác khả năng thanh toán của doanh nghiệp “là khả năng đáp ứng các chi tiêu
cố định trong dài hạn và có đủ lượng tiền cần thiết để mở rộng và phát triển”
Để đảm bảo tăng trưởng, doanh nghiệp có thể phải giảm tiền mặt nắm giữ và tăng lượng vốn vay, thậm chí chấp nhận giảm mức độ tự chủ Nhiệm vụ của chức năng tài chính là dàn xếp vấn đề này bằng cách duy trì khả năng thanh toán Vì vậy,
Trang 26chức năng tài chính phải kiểm soát được các quyết định sản xuất và thương mại làm thay đổi cấu trúc tài sản có (rủi ro kinh tế) và làm nảy sinh nhu cầu vốn mới (rủi ro tài chính)
1.3.2.2 Hiệu quả sử dụng tài sản:
a) Nhóm hệ số năng lực hoạt động của tài sản ngắn hạn
Năng lực hoạt động của tài sản ngắn hạn thể hiện hiệu quả chính sách tín dụng thông qua khoản mục khoản phải thu và hiệu quả quản trị hàng tồn kho
Với các khoản phải thu, chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động là vòng quay khoản phải thu và kỳ thu tiền trung bình Vòng quay khoản phải thu đo lường mức độ đầu tư vào các khoản phải thu để duy trì mức doanh thu cần thiết Kỳ thu tiền bình quân là chỉ tiêu ngược của vòng quay khoản phải thu, chỉ tiêu này cho biết khoảng thời gian trung bình kể từ khi doanh nghiệp xuất hàng đến khi thu được tiền Thông thường, so với kỳ trước, vòng quay các khoản phải thu tăng và kỳ thu tiền bình quân giảm nói lên doanh nghiệp quản lý hiệu quả các khoản phải thu khiến vốn đầu tư vào các khoản phải thu ít hơn và thời gian bán chịu cho khách hàng ngắn hơn Tuy nhiên trong một số trường hợp, vòng quay khoản phải thu tăng (hay kỳ thu tiền bình quân giảm) lại cho thấy sự không hiệu quả trong khâu bán hàng do chính sách thắt chặt tín dụng với khách hàng của doanh nghiệp Ngược lại, đôi khi vòng quay các khoản phải thu giảm (hay kỳ thu tiền bình quân tăng) phản ánh chính sách tín dụng nới lỏng nhằm thu hút khách hàng, mở rộng doanh số của doanh nghiệp chứ không phải do sự quản lý kém hiệu quả các khoản phải thu
Vòng quay các
khoản phải thu =
Doanh thu thuầnKhoản phải thu bình quân
Vòng quay các
khoản phải thu =
Doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Khoản phải thu bình quân
Trang 27Kỳ thu tiền
Các khoản phải thubq
Doanh thu bình quân 1 ngày
Với hàng tồn kho, chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động là vòng quay hàng tồn kho và số ngày một vòng quay hàng tồn kho Vòng quay hàng tồn kho phản ánh số lần trung bình hàng tồn kho luân chuyển trong một chu kỳ Số ngày một vòng quay hàng tồn kho là chỉ tiêu ngược của vòng quay hàng tồn kho, đo lường khoảng thời gian từ khi doanh nghiệp mua nguyên vật liệu tới khi sản xuất xong sản phẩm, kể cả thời gian lưu kho Thông thường, so với kỳ trước vòng quay hàng tồn kho giảm cho thấy thời gian sản xuất và lưu kho hàng hoá dài hơn, hàng tồn kho luân chuyển chậm dẫn tới ứ đọng nguồn vốn Tuy nhiên, đôi khi vòng quay hàng tồn kho giảm là kết quả của việc tăng dự trữ nhằm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng hay đáp ứng nhu cầu tương lai
Hàng tồn khobq
Thời gian tồn kho bình quân = Hàng tồn kho bình quân
Giá vốn bàn hàng bình quân ngày
b) Nhóm hệ số năng lực hoạt động của tài sản dài hạn
Năng lực hoạt động của tài sản dài hạn được đo lường bằng hiệu suất sử dụng tổng tài sản và hiệu suất sử dụng tài sản cố định Các hệ số này cho biết khả năng tạo
ra bao nhiêu đồng doanh thu dựa trên mỗi đồng tài sản và tài sản cố định đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh Thông thường, hiệu suất sử dụng tổng tài sản và tài sản cố định cao đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh và công tác quản lý tài sản càng lớn
Trang 28Khi đánh giá năng lực hoạt động của tài sản dài hạn, cần phải xem xét xu hướng của các chỉ tiêu trên theo thời gian và so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành để chỉ ra những hiệu quả hay yếu kém của doanh nghiệp Ngoài ra, khi đánh giá mức độ và xu hướng của hiệu suất sử dụng tài sản cố định, cần chú ý tới những yếu tố ảnh hưởng tới
hệ số này như: mức độ hiện đại của công nghệ, dây chuyền sản xuất hay phương pháp khấu hao tài sản cố định
Vòng quay tài sản ngắn hạn = Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Hệ số thanh toán lãi tiền vay =
Lãi tiền vay phải trả
Trang 29Tỷ số nợ đo lường mức sử dụng nợ của doanh nghiệp so với tài sản Bên cạnh
đó, một số tỷ số khác cũng được sử dụng để đo lường mức sử dụng nợ như hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu hay hệ số nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu Giá trị của các hệ số này càng cao cho thấy doanh nghiệp càng phụ thuộc vào chủ nợ và rủi ro tài chính cao, tuy nhiên hệ số này cao hay thấp cũng phụ thuộc vào từng ngành nghề hoạt động Chủ nợ thường thích doanh nghiệp có hệ số nợ thấp vì như thế công ty có khả năng trả
nợ cao hơn, còn cổ đông thích hệ số nợ cao vì nhìn chung sử dụng đòn bẩy tài chính gia tăng khả năng sinh lời cho cổ đông
DFLEBIT = % thay đổi EBIT = % thay đổi EPS EBIT
EBIT - I - PD1-t Đòn bẩy tài chính dùng các chi phí tài chính cố định làm điểm tựa và dùng EBIT làm lực tác động để khuyếch đại EPS Đặc điểm này khiến đòn bẩy tài chính được coi là con dao hai lưỡi Đòn bẩy tài chính lớn có thể khuyếch đại sự gia tăng nhỏ trong EBIT thành sự gia tăng trong thu nhập cổ phần cho cổ đông thường nhưng cũng
có thể phóng đại sự sụt giảm trong thu nhập cổ phiếu thường khi EBIT giảm Mặt khác việc sử dụng đòn bẩy tài chính cao làm tăng rủi ro tài chính và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của doanh nghiệp
Trang 301.3.2.4 Khả năng sinh lời:
Khả năng sinh lời (profitability): Là thước đo hiệu quả về kết quả sản xuất kinh doanh so với một số chỉ tiêu kinh tế được thể hiện trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp
a) Khả năng sinh lời trên doanh thu (ROS - Return on Sales)
Khả năng sinh lời trên doanh thu phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và doanh thu Tùy thuộc vào mục đích đánh giá hiệu quả của từng loại hoạt động kinh doanh mà
có thể sử dụng các chỉ tiêu lợi nhuận khác nhau như: lợi nhuận gộp bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận trước (sau) thuế và tương ứng theo đó là các chỉ tiêu về doanh thu như: doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu từ hoạt động kinh doanh (gồm doanh thu thuần và doanh thu tài chính), tổng doanh thu và thu nhập khác Thông thường, các chỉ tiêu khả năng sinh lời doanh thu cao cho thấy doanh nghiệp quản lý tốt chi phí hoạt động kinh doanh hoặc thực hiện các chiến lược cạnh tranh chi phí
b) Khả năng sinh lời trên tổng tài sản (ROA - Return on Assets)
Khả năng sinh lời trên tổng tài sản phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và tổng tài sản hiện có của doanh nghiệp Tùy theo mục đích phân tích, có thể sử dụng các chỉ tiêu lợi nhuận khác nhau Nếu sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận hoạt động (hay lợi nhuận trước thuế và lãi vay EBIT) thì hệ số này đánh giá khả năng sinh lời của tài sản cho cả chủ sở hữu và chủ nợ Nếu sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận trước (sau) thuế thì hệ số này chỉ đánh giá khả năng sinh lời của tổng tài sản cho chủ sở hữu
ROA = (Thu nhập sau thuế + Tổng chi phí trả lãi)/Giá trị tổng vốn bình quân c) Khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on Equity)
Khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận với phần vốn của chủ sở hữu doanh nghiệp Chỉ tiêu lợi nhuận được sử dụng để phân tích
có thể là lợi nhuận trước hoặc sau thuế Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế được ưa dùng
Trang 31hơn bởi đây là phần lợi nhuận cuối cùng mà chủ sở hữu nhận được sau quá trình sản xuất kinh doanh
ROE = Lợi nhuận ròng/Vốn cổ phần
ROE là thước đo chính xác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy được tạo ra bao nhiêu đồng lời ROE càng cao càng chứng tỏ DN sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, nghĩa là doanh nghiệp đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô
d) Phương pháp phân tích tài chính Dupont
Phương pháp phân tích tài chính Dupont còn được gọi là phân tích tách đoạn, được thực hiện bằng cách tách ROE thành các nhân tố khác nhau, nhằm phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đó tới thu nhập của chủ sở hữu và cho phép đánh giá các nhân
tố ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh
ROS = Lợi nhuận trước thuế x Lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau thuếEBIT x Tổng doanh thu EBIT
ROA = ROS x Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Hoặc:
ROA = Lãi gộp x Vòng quay tổng tài sản
= Lợi nhuận ròng/ doanh thu x doanh thu/ bình quân tổng tài sản
ROE = ROS x Hiệu suất sử dụng tổng tài sản x 1 - Tỷ số nợ 1
Trang 32Vốn chủ sở hữu = Tài sản (A) - Nợ (D)
Tổng tài sản/Vốn chủ sở hữu = 1/(1-D/A)
ROE tăng khi ROS, doanh thu/Tài sản và đòn bẩy tài chính tăng
Như vậy, ROS chịu ảnh hưởng từ lãi vay và thuế phải nộp Trong khi đó, ROA
đo lường bằng lợi nhuận sau thuế trên tổng doanh thu là kết quả tổng hợp của khả năng sinh lời doanh thu và năng lực hoạt động của tài sản, theo đó ROA thấp có thể do quản lý tài sản kém làm năng lực hoạt động tài sản thấp hoặc do quản lý chi phí không tốt làm khả năng sinh lời doanh thu thấp hoặc do kết hợp cả hai lý do trên Đối với ROE, chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng của ba nhân tố: khả năng sinh lời doanh thu, năng lực hoạt động của tài sản và số nhân vốn chủ sở hữu
Theo đó doanh nghiệp có thể tăng ROE bằng cách quản lý tốt chi phí, nâng cao hiệu suất sử dụng tổng tài sản (ROA), hoặc tăng tỷ lệ đòn bẩy tài chính (sử dụng nhiều
nợ hơn để tài trợ cho tổng tài sản)
1.3.2.5 Nhóm các hệ số thị trường:
Các nhóm hệ số hoạt động tài sản, hệ số thanh khoản, hệ số độ bẩy tài chính và
hệ số khả năng sinh lời nêu trên chỉ phản ánh tình hình quá khứ và hiện tại của doanh nghiệp, còn giá trị tương lai của doanh nghiệp phụ thuộc vào kỳ vọng của thị trường Các hệ số giá trị thị trường như P/E( giá cổ phiếu trên lợi nhuận của cổ phiếu) và M/B (giá thị trường trên giá sổ sách của cổ phiếu) được sử dụng để đo lường kỳ vọng của nhà đầu tư vào doanh nghiệp Tỷ số P/E cho biết nhà đầu tư sẵn sàng trả bao nhiêu tiền
để có được một đồng thu nhập trên cổ phần thường, trong khi đó tỷ số M/B so sánh giá trị thị trường của cổ phiếu với giá trị sổ sách của nó Các hệ số này càng lớn, kỳ vọng của thị trường vào doanh nghiệp càng cao
Trang 33xác tình hình phá sản của các doanh nghiệp trong tương lai gần Có khoảng 95% doanh nghiệp phá sản được dự báo nhờ Z score trước ngày sập tiệm một năm, nhưng
tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 74% cho những dự báo trong vòng 2 năm
Công thức tính hệ số nguy cơ phá sản:
Z score = 1,2xA1+1,4xA2+3,3xA3+0,6xA4+1,0xA5
Trong đó:
A1 = Vốn luân chuyển (=Tài sản ngắn hạn –Nợ ngắn hạn)/Tổng tài sản
A2 = Lợi nhuận chưa phân phối/Tổng tài sản
A3 = EBIT (Lợi nhuận trước lãi vay và thuế)/Tổng tài sản
A4 = (Giá thị trường của cổ phiếu xSố lượng cổ phiếu lưu hành)/Tổng nợ
A5 = Hiệu quả sử dụng tài sản (=Doanh thu/Tổng tài sản)
Sau khi đã tính toán được hệ số Z, các doanh nghiệp sẽ đối chiếu với bảng giá trị sau:
Nếu Z score >= 2,99 Doanh nghiệp có tài chính lành mạnh
1,81< Z score < 2,99: Doah nghiệp không có vấn đề trong ngẵn hạn, tuy
nhiên cần phải xem xét điều kiện tài chính một cách thận trọng;
Z score <= 1,81: Doanh nghiệp có vấn đề nghiêm trọng về tài chính
1.3.2.7 Dự báo về tăng trưởng ( hệ số tăng trưởng bền vững):
Tỷ số này dùng để đánh giá khả năng tăng trưởng của vốn chủ sở hữu thông qua tích lũy lợi nhuận do vậy có thể nói tỷ số này phản ảnh triển vọng tăng trưởng bền vững – tăng trưởng từ lợi nhuận giữ lại
Tỷ số tăng trưởng bền vững cho biết triển vọng phát triển của Công ty trong tương lai, nó củng đánh giá hiệu quả quản lý của các nhà quản trị và cho biết kỳ vọng hiệu quản trong tương lai của đơn vị
Tỷ số tăng trưởng bền vững = Tỷ số lợi nhuận giữ lại X lãi trên vốn chủ sở hữu
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN PHÂN BÓN VÀ HÓA CHẤT DẦU KHÍ
2.1 Khái quát về công ty:
Ngay khi có quyết định thành lập, Tổng Công ty đã nhanh chóng tiến hành công tác kiện toàn tổ chức, chuẩn bị các điều kiện về nhân lực và thị trường để có thể tiếp nhận, quản lý, vận hành và tiêu thụ thành công và có hiệu quả các sản phẩm của Nhà máy Đạm Phú Mỹ Ngày 21/09/2004, Tổng Công ty đã tiếp nhận bàn giao Nhà máy đạm Phú Mỹ từ tổ hợp Nhà thầu Technip - Samsung và Ban Quản lý Dự án Nhà máy Đạm Phú Mỹ Đây cũng là thời điểm những lô sản phẩm chính thức đầu tiên của Công
ty được đưa ra thị trường với thương hiệu “Đạm Phú Mỹ”
Kể từ thời điểm những lô sản phẩm chính thức đầu tiên của Tổng công ty được đưa ra thị trường với thương hiệu Đạm Phú Mỹ, Tổng công ty đã thực hiện tốt nhiệm
vụ vận hành sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh, đạt các mục tiêu với kết quả cao và đóng góp quan trọng cho ngành dầu khí cũng như nền nông nghiệp nước nhà
Hiện nay, Tổng Công ty đang cung cấp cho thị trường trong nước khoảng 50% nhu cầu phân đạm u-rê (tổng nhu cầu sử dụng phân đạm u-rê cả nước bình quân
Trang 36khoảng 1,6 – 1,8 triệu tấn/năm) và 40% nhu cầu khí a-mô-ni-ắc lỏng được sản xuất từ nhà máy Đạm Phú Mỹ
Đứng trước xu thế phát triển kinh tế của đất nước ngày 01/09/2006 Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) đã có quyết định về việc cổ phần hóa Công ty Phân đạm và Hóa chất Dầu khí, và đến 01/09/2007 công ty chính thức chuyển thành Công
ty Cổ phần Phân đạm và Hóa chất Dầu khí Ngày 05/11/2007 Công ty chính thức niêm yết 380.000.000 cổ phiếu trên thị trường chứng khoán (mã chứng khoán: DPM) Tại đại hội đồng cổ đông năm 2008 ngày 5/4/2008, Công ty Cổ phần Phân đạm và Hóa chất Dầu khí (Đạm Phú Mỹ- PVFCCo) đã thống nhất chuyển công ty này thành Tổng công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con Ngày 15/05/2008, Công ty Phân đạm và Hóa chất Dầu khí chính thức chuyển đổi thành Tổng Công ty Phân bón
và Hóa chất Dầu khí – Công ty Cổ phần (Tên viết bằng Tiếng Anh
là PetroVietnam Fertilizer and Chemicals Corporation và tên viết tắt là PVFCCo) theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/05/2008 Đây là cơ hội rất tốt để Tổng công ty phát triển ổn định, vững chắc và tăng tốc trong thời gian tới
2.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức:
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG:
ĐHĐCĐ là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty, có nhiệm vụ thông qua các báo cáo của HĐQT về tình hình hoạt động kinh doanh; quyết định các chiến lược, phương án, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và đầu tư; tiến hành thảo luận thông qua bổ sung, sửa đổi Điều lệ của Công ty; bầu, bãi nhiệm HĐQT, Ban kiểm soát; và quyết định bộ máy tổ chức của Công ty
Trang 37HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ:
Hội Đồng Quản trị (HĐQT) là tổ chức quản lý cao nhất của Công ty do Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) bầu ra gồm 5 thành viên với nhiệm kỳ 05 (năm) năm HĐQT nhân danh Công ty quyết định mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ HĐQT có quyền và nghĩa vụ giám sát hoạt động của Tổng giám đốc và những cán bộ quản lý khác trong Công ty
BAN KIỂM SOÁT:
Bao gồm 03 (ba) thành viên do Đại hội đồng cổ đông bổ nhiệm với nhiệm kỳ năm (05) năm; Ban kiểm soát (BKS) có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong hoạt động quản lý của HĐQT, hoạt động điều hành của Tổng Giám Đốc và các Báo cáo tài chính Ban kiểm soát hoạt động độc lập với HĐQT và Tổng Giám Đốc
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC:
Bao gồm 07 người: 01 Tổng giám đốc và 06 Phó Tổng giám đốc Tổng giám đốc điều hành, quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của Công ty, chịu trách nhiệm trước HĐQT về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao
Phó Tổng giám đốc giúp việc Tổng giám đốc trong từng lĩnh vực cụ thể và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về các nội dung công việc được phân công và những công việc được Tổng giám đốc uỷ quyền
Trang 38Sơ Đồ Tổ Chức
2.1.3 Các lĩnh vực kinh doanh của công ty:
- Sản xuất, kinh doanh phân đạm, amoniac hóa lỏng, khí công nghiệp, các sản phẩm hóa chất khác
- Các dịch vụ kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh phân đạm và các sản phẩm hóa chất khác có liên quan (trừ hóa chất có tính độc hại mạnh)
- Sản xuất và kinh doanh điện
- Dịch vụ cho thuê kho bãi, nhà xưởng và lưu giữ hàng hóa
- Dịch vụ cảng biển, cảng sông, bến tàu, cầu tàu
(Và kinh doanh các ngành nghề khác theo GCN Đăng ký kinh doanh của Công ty)
2.2 Phân tích thực trạng tình hình tài chính của Tổng Công tyCổ phần Phân
bón & Hóa chất Dầu khí ( sau đây gọi là Tổng công ty)
Trang 392.2.1 Đánh giá khái quát
a) Tài sản:
Bảng 2.1: Bảng cân đối kế toán qua các năm từ 2008 đến 2011 và bảng
cân đối kế toán năm 2011 công ty cùng ngành (Công ty Cổ phần phân bón
Bình Điền,sau đây gọi là Công ty Bình Điền)
III Các khoản đầu tư tài
Trang 404.Thuế và các khoản phải
C Lợi ích của cổ đông tiểu
(Nguồn số liệu: Báo cáo tài chính của Tổng công ty Cổ phần Phân bón & Hóa chất Dầu khí năm 2009, 2010 v à 2011 và Báo cáo tài chính của Công ty cổ phần Bình Điền)