Tác giả cũng đưa ra khung lý thuyết cho công tác phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm các khía cạnh như: phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn, phân tích biến động vốn và sử d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
VŨ MINH PHƯƠNG
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN L.Q JOTON
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
VŨ MINH PHƯƠNG
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN L.Q JOTON
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, đến quý thầy cô trong Khoa Tài chính - Ngân hàng, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành luận văn này
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến TS Nguyễn Thế Hùng, người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ về kiến thức, phương pháp nghiên cứu, phương pháp trình bày để em có thể hoàn thiện nội dung và cả hình thức của luận văn
Cuối cùng, em xin dành lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tận tình hỗ trợ, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu đề tài luận văn này,
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan luận văn thạc sỹ với đề tài „„Phân tích tài chính Công ty
cổ phần L.Q Joton‟‟ là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu của riêng em
Các số liệu, tài liệu sử dụng trong luận văn hoàn toàn đƣợc thu thập ban đầu hoặc trích dẫn từ các nguồn tin cậy, bảo đảm tính chính xác, rõ ràng; việc xử lý, phân tích và đánh giá các số liệu đƣợc thực hiện một cách trung thực, khách quan
Trang 5MỤC LỤC
Danh mục các từ viết tắt i
Danh mục các bảng ii
Danh mục các hình vẽ ii
Danh mục các sơ đồ v
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.2 Cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp 9
1.2.1 Bản chất và vai trò của tài chính doanh nghiệp 9
1.2.2 Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp 11
1.2.3 Nội dung của phân tích tài chính doanh nghiệp 18
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp 36
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 39
2.1 Phương pháp nghiên cứu 41
2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu 41
2.1.2 Phương pháp xử lý thông tin 41
2.2 Thiết kế nghiên cứu 43
2.2.1 Xây dựng mô hình nghiên cứu 43
2.2.2 Xây dựng khung lý thuyết 43
2.2.3 Lựa chọn phương pháp nghiên cứu, tiến hành thu thập và phân tích thông tin 43
2.2.4 Trình bày kết quả nghiên cứu 43
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN L.Q JOTON 44
3.1 Khái quát về Công ty cổ phần L.Q Joton 44
Trang 63.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 44
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 44
3.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy 45
3.2 Phân tích thực trạng tình hình tài chính của Công ty cổ phần L.Q Joton 49
3.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính của Công ty 49
3.2.2 Phân tích các nhóm hệ số 72
3.2.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính của Công ty 94
3.3 Đánh giá chung 97
3.3.1 Những ưu điểm 97
3.3.2 Những điểm yếu 98
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN L.Q JOTON 101
4.1 Định hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới 101
4.1.1 Định hướng phát triển của ngành sơn - mực in 101
4.1.2 Định hướng phát triển của Công ty cổ phần L.Q Joton 101
4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty cổ phần L.Q Joton 102
4.2.1 Nâng cao khả năng quản lý tài sản 102
4.2.2 Nâng cao khả năng thanh toán 104
4.2.3 Nâng cao khả năng sinh lời 105
4.2.4 Cải tiến công nghệ kỹ thuật và dây chuyền sản xuất 107
4.2.5 Nâng cao trình độ cán bộ quản lý tài chính của Công ty 107
4.3 Kiến nghị 108
4.3.1 Đối với Nhà nước 108
4.3.2 Đối với Bộ Tài chính 109
KẾT LUẬN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Phân tích cơ cấu tài sản 50
Bảng 3.2: Bảng so sánh cơ cấu tài sản 53
Bảng 3.3: Phân tích cơ cấu và biến động nguồn vốn 57
Bảng 3.4: Bảng so sánh cơ cấu nguồn vốn 59
Bảng 3.5: Bảng cơ cấu tài trợ của Công ty cổ phần L.Q Joton 60
Bảng 3.6: Bảng tổng hợp doanh thu 62
Bảng 3.7: Bảng tổng hợp chi phí 64
Bảng 3.8: Bảng tổng hợp lợi nhuận 66
Bảng 3.9 Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ của Công ty cổ phần L.Q Joton năm 2012 – 2014 68
Bảng 3.10: Bảng phân tích hệ số thanh toán ngăn hạn 72
Bảng 3.11: Bảng phân tích khả năng thanh toán nhanh 73
Bảng 3.12: Bảng phân tích khả năng thanh toán tức thời 74
Bảng 3.13: Bảng hệ số nợ trên tổng tài sản 75
Bảng 3.14: Bảng hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu 76
Bảng 3.15: Bảng so sánh hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu 77
Bảng 3.16: Bảng hệ số khả năng thanh toán lãi vay 78
Bảng 3.17: Bảng so sánh hệ số khả năng thanh toán lãi vay 79
Bảng 3.18: Bảng hệ số vòng quay hàng tồn kho 80
Bảng 3.19: Bảng hệ số vòng quay các khoản phải thu ngắn hạn 82
Bảng 3.20: Bảng so sánh kỳ thu tiền bình quân 83
Bảng 3.21: Bảng hệ số vòng quay các khoản phải thu khách hàng 84
Bảng 3.22: Hiệu quả sử dụng tài sản cố định 85
Bảng 3.23: Bảng so sánh hiệu quả sử dụng TSCĐ 85
Bảng 3.24: Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 86
Trang 9Bảng 3.25: Bảng so sánh hiệu quả sử dụng TSNH 87
Bảng 3.26: Hiệu quả sử dụng tổng tài sản 88
Bảng 3.27: Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời 89
Bảng 3.28: Bảng so sánh tỷ suất doanh lợi 90
Bảng 3.29: Bảng so sánh tỷ suất sinh lời của tài sản 91
Bảng 3.30: Bảng so sánh tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu 92
Bảng 3.31: Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời 93
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 3.1: Biểu đồ thể hiện sự biến động giữa TSNH và TSDH 52
Hình 3.2: Biểu đồ thể hiện sự biến động Nợ phải trả và VCSH 59
Hình 3.3: Biểu đồ khả năng thanh toán ngắn hạn 73
Hình 3.4: Biểu đồ thể hiện khả năng thanh toán nhanh 74
Hình 3.5: Biểu đồ hệ số nợ trên tổng tài sản 76
Hình 3.6: Biểu đồ hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu 77
Hình 3.7: Biểu đồ hệ số khả năng thanh toán lãi vay 79
Hình 3.8: Biểu đồ hệ số vòng quay hàng tồn kho 81
Hình 3.9: Biểu đồ hệ số vòng quay các khoản phải thu 83
Hình 3.10: Biểu đồ hệ số vòng quay các khoản phải thu khách hàng 84
Hình 3.11: Biểu đồ hiệu quả sử dụng TSCĐ 86
Hình 3.12: Biểu đồ hiệu quả sử dụng TSNH 87
Hình 3.13: Hệ số phản ánh khả năng sinh lời 89
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tƣợng sử dụng khác nhau17
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của công ty 45
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tổng thể hoạt động quản trị doanh nghiệp thì quản trị tài chính là bộ phận có vai trò quan trọng và chiếm khá nhiều thời gian và công sức của các nhà quản lý Một doanh nghiệp với tình hình tài chính ổn định và vững mạnh là điều kiện tiên quyết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách trôi chảy, nhịp nhàng và đồng bộ Để đạt được sự ổn định đó phần lớn phụ thuộc vào khả năng quản trị tài chính của doanh nghiệp
Phân tích tài chính là khâu hết sức quan trọng trong hoạt động quản trị tài chính của một doanh nghiệp Một cách tổng quát, phân tích tài chính nghĩa là dựa vào các số liệu hay thông tin trong các báo cáo tài chính hoặc các tài liệu khác để đánh giá hiệu quả hoạt động và thực trạng tài chính của doanh nghiệp, dự đoán tiềm lực tài chính trong tương lai, từ đó các nhà quản trị có thể đưa ra các quyết sách phù hợp với mục tiêu và chiến lược của doanh nghiệp Như vậy, phân tích tài chính là công cụ hiệu quả đối với việc kiểm tra, kiểm soát hoạt động và ra quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp Việc phân tích tài chính không chính xác có thể dẫn đến đánh giá sai thực trạng và tiềm năng của doanh nghiệp, dẫn đến việc đưa ra kế hoạch hoạt động sai lầm, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, thậm chí đẩy doanh nghiệp đến bờ vực phá sản
Thông tin mà phân tích tài chính cung cấp không chỉ quan trọng đối với các nhà quản trị của chính doanh nghiệp đó, mà nó còn là đối tượng quan tâm của rất nhiều chủ thể khác Với các nhà đầu tư giao vốn của mình cho doanh nghiệp thì thu nhập của họ phụ thuộc trực tiếp vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp, họ sử dụng những thông tin từ phân tích tài chính để đánh giá giá trị của doanh nghiệp, làm rõ triển vọng phát triển của doanh nghiệp Với những người cho vay, phân tích tài chính có thể cung cấp thông tin về hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng trả nợ của doanh nghiệp Ngoài ra, còn nhiều chủ thể khác trong nền kinh tế cũng quan tâm tới thông tin tài chính của doanh nghiệp như các cơ quan tài chính, cơ quan thuế, các quỹ đầu tư hay chuyên gia tài chính, các đối tác kinh doanh, người lao động vì nó liên quan đến lợi ích và trách nhiệm của họ
Trang 13Như vậy, phân tích tài chính là một công cụ hữu hiệu dùng để đánh giá giá trị của doanh nghiệp, đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp, chỉ ra tiềm năng phát triển của doanh nghiệp, thông qua đó mỗi đối tượng sử dụng thông tin có thể đưa ra các quyết định và bước đi phù hợp với mục đích của mình Điều này càng cần thiết đối với các công ty cổ phần, loại hình doanh nghiệp có hoạt động tài chính phong phú và phức tạp nhất Công ty cổ phần đóng vai trò lớn trong việc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi phục vụ cho đầu tư phát triển, góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển mạnh mẽ, nâng cao mức sống của người dân Vì vậy, việc các công
ty cổ phần đứng vững và ngày càng phát triển là vấn đề hết sức quan trọng
Xuất phát từ những nhận định trên, em đã chọn đề tài “Phân tích tài chính Công ty cổ phần L.Q Joton” cho luận văn thạc sỹ của mình
Khi thực hiện đề tài nghiên cứu, học viên đã đặt ra một số câu hỏi đối với đề tài này, cụ thể là:
- Cơ sở lý luận cho việc phân tích tài chính doanh nghiệp là gì?
- Các chỉ tiêu đánh giá thực trạng tài chính Công ty cổ phần L.Q Joton là gì?
- Tình hình tài chính của Công ty cổ phần L.Q Joton trong giai đoạn 2012 -
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp;
+ Phân tích, đánh giá thực trạng tài chính Công ty cổ phần L.Q Joton trong giai đoạn từ 2012 - 2014, đồng thời chỉ ra những ưu điểm, hạn chế về tình hình tài chính của Công ty Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính
Trang 14của Công ty cổ phần L.Q Joton
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình tài chính của Công ty cổ phần L.Q Joton
- Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi của đề tài, đề tài chỉ tập trung phân tích và đánh giá tình hình tài chính của Công ty cổ phần L.Q Joton trong giai đoạn 2012 - 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp xử lý thông tin
Dựa trên cơ sở nội dung của đề tài tiến hành thu thập số liệu, dữ liệu, thực hiện so sánh tương đối, tuyệt đối Phân tích đưa ra những nhận định, đánh giá về tình hình thực tế, những khó khăn tồn tại Từ những kết quả phân tích được đưa ra một số giải pháp khắc phục
5 Những đóng góp của luận văn
- Đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản như khái niệm, đặc điểm và nội dung của phân tích tài chính doanh nghiệp;
- Phân tích tình hình tài chính của Công ty Từ đó, đánh giá một cách khoa học những ưu điểm, hạn chế về tình hình tài chính của Công ty
- Đề xuất một số giải pháp thực tế nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công
ty cổ phần L.Q Joton
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của luận văn được chia thành 4 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương 2 Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3 Phân tích thực trạng tình hình tài chính tại Công ty cổ phần L.Q Joton Chương 4: Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty cổ phần L.Q Joton
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đến nay đã có nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu liên quan đến vấn đề phân tích tài chính tại các doanh nghiệp khác nhau ở Việt Nam Nhìn chung, các tác giả đều giới thiệu và phân tích thực trạng tài chính của 1 doanh nghiệp cụ thể; từ đó hướng tới việc đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, quản lý tài sản trong doanh nghiệp Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn của đất nước, ở mỗi một môi trường kinh tế - văn hóa xã hội khác nhau thì cách thức hoạt động của các doanh nghiệp sẽ khác nhau Đồng thời mỗi một doanh nghiệp khác nhau với bộ máy quản lý cụ thể cũng có cơ chế hoạt động riêng biệt Vì vậy, mặc dù đây là đề tài khá quen thuộc nhưng tác giả vẫn chọn đề tài này nhằm áp dụng vào CTCP L.Q Joton Trong quá trình tìm hiểu và chọn lọc, tôi đã sử dụng và tham khảo một số nội dung trong hai công trình nghiên cứu mà tôi cho là phù hợp, cụ thể như sau
- Năm 2012 có luận văn “Phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần PVI” của tác giả Hồ Thị Khánh Vân (2012) Đây là luận văn Thạc sỹ ngành Tài
chính - Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế - ĐHQG Hà Nội Tác giả đã khái quát được những vấn đề chung về phân tích tài chính doanh nghiệp cũng như thực trạng
về tình hình tài chính tại Công ty PVI, đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty và sử dụng kết quả phân tích này dự báo tình hình tài chính của Công ty, đưa ra các quyết định kinh doanh
Cụ thể trong luận văn, tác giả đã xem xét đánh giá tình hình tài chính của công
ty trong giai đoạn 2010-2011, bằng cách sử dụng các phương pháp cơ bản như thống kê mô tả, so sánh, phân tích, tổng hợp số liệu… và thông qua các chỉ tiêu cơ bản về định tính, định lượng để cho người đọc thấy được các vấn đề hạn chế còn tồn tại Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đưa ra những nguyên nhân chủ quan dẫn tới những thực trạng nêu trên, bao gồm các nguyên nhân chủ quan và một số những nguyên nhân khách quan như: Lãi suất ngân hàng cao, chính sách tài khóa chặt của chính phủ, Xuất phát từ thực trạng và những nguyên nhân kể trên, luận văn đã đưa
Trang 16ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động tài chính tại doanh nghiệp trong đó có một số biện pháp tích cực như: Tăng doanh thu, giảm chi phí, quản lý hàng tồn kho, Nhìn chung luận văn đã trình bày nổi bật được những luận điểm lý thuyết cơ bản, đánh giá một cách khái quát và toàn diện về tình hình tài chính tại Công ty cổ phần PVI và cũng đưa ra được một số biện pháp và kiến nghị có ý nghĩa thực tiễn đối với bản thân doanh nghiệp
- Tác giả Ngô Thị Tân Thành (2010) thực hiện luận văn Thạc sỹ Kinh doanh
và quản lý với đề tài “Phân tích tài chính công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ AIA” Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến hoạt
động tài chính của doanh nghiệp như: Khái niệm, mục tiêu và vai trò của tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp Tác giả cũng đưa ra khung lý thuyết cho công tác phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm các khía cạnh như: phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn, phân tích biến động vốn và sử dụng vốn, phân tích tài chính qua các tỷ số tài chính (bao gồm: nhóm tỷ số thanh khoản, nhóm tỷ số quản lý tài sản, nhóm tỷ số quản lý nợ, nhóm tỷ số khả năng sinh lời, nhóm tỷ số tăng trưởng), phân tích tình hình và khả năng thanh toán, phân tích hiệu quả kinh doanh Các phương pháp phân tích mà tác giả sử dụng trong luận văn là phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tỷ lệ, phương pháp phân tích Dupont Tiếp theo tác giả tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tài chính Công ty Bảo hiểm Nhân thọ AIA và chỉ ra một số hạn chế còn tồn tại như: Kỳ thu tiền bình quân của doanh nghiệp là tương đối cao cho thấy khả năng thu hồi tiền trong thanh toán là tương đối chậm; tình hình lợi nhuận của công ty có chiều hướng giảm sút, doanh thu của công ty có tăng nhưng chưa tương xứng với tiềm năng và quy mô của Công ty; Qui mô hoạt động bảo hiểm chỉ giới hạn một bộ phận dân cư, những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài còn bị hạn chế về hoạt động và cung cấp sản phẩm bảo hiểm
Trên cơ sở phân tích, tác giả đề xuất một số giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm cải thiện tình hình tài chính góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh công
ty AIA ở các khía cạnh như: Điều chỉnh cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn; Quản
Trang 17lý tài sản ngắn hạn và dài hạn; Quản lý hoạt động thanh toán các khoản phải thu, phải trả; Nâng cao khả năng sinh lời; Hoạt động đầu tư tài chính từ các khoản thu của khách hàng
- Năm 2012 có luận văn Thạc sỹ ngành Tài chính - Ngân hàng của tác giả
Trần Thị Thu Hương với đề tài “Phân tích tình hình tài chính tại Tổng công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí” Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản
phân tích tài chính doanh nghiệp Từ đó đánh giá thực trạng công tác phân tích tài chính của Tổng công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí Cụ thể:
Những ưu điểm của Công ty là: Tổng tài sản của công ty không ngừng tăng cho thấy quy mô sản xuất kinh doanh của công ty đang được mở rộng; Công ty đã đầu tư xây dựng mới thêm nhiều công trình phục vụ cho sản xuất hàng hóa (URE, CO2, điện, khí, …); Công ty đã lập báo cáo tài chính định kỳ chi tiết hơn và đầy đủ, có thể theo sát tình hình kinh doanh để có những động thái thích hợp với điều kiện của thị trường; Công ty đang có
kế hoạch xây dựng chỉ tiêu lợi nhuận đạt được, áp dụng thêm chính sách thưởng phạt theo lợi nhuận; Bộ phận kế toán luôn cập nhật, chấp hành các chế độ kế toán ban hành, các sổ sách, chứng từ được lưu cẩn thận và dễ kiểm soát; Công ty đã áp dụng hình thức kế toán trên máy vi tính nên tiết kiệm được thời gian cũng như chi phí lưu trữ, dễ dàng cho việc theo dõi tình hình tài chính; Công ty thường xuyên khuyến khích cán bộ, công nhân viên đóng góp ý kiến cho công tác quản lý cũng như cho chiến lược sản xuất kinh doanh của công ty; Công ty đã tăng cường đội ngũ công nhân viên trẻ có trình độ học vấn và kỹ thuật cao, nhiệt tình trong công tác
Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu ra những mặt hạn chế cần phải giải quyết như: Mặc dù hiệu quả kinh doanh tăng nhưng chi phí dành cho quảng cáo tiếp thị cũng cao; Việc thanh toán các khoản tạm ứng và lương vẫn còn chậm trễ; Công ty chưa
có biện pháp cụ thể nào cho việc quản lý chi phí cho hợp lý
Từ những thực trạng như vậy, tác giả đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác phân tích tại công ty: Doanh nghiệp cần cơ cấu lại tài sản
và nguồn vốn; Khai thác hiệu quả nguồn tài trợ từ bên ngoài; Nâng cao hiệu quả quản trị vốn lưu động; Tăng doanh thu
Trang 18- Năm 2012, tác giả Phạm Thị Ngọc Ly đã thực hiện luận văn Thạc sỹ Quản
trị kinh doanh tại trường Đại học Đà Nẵng với đề tài “Phân tích tài chính trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum”
Trước hết, tác giả đã xây dựng và trình bày cơ sở lý thuyết về phân tích tài chính các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Phân tích cấu trúc tài chính và cân bằng tài chính, Phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, Phân tích rủi ro của doanh nghiệp
Sau đó, dựa trên khung lý thuyết đó, tác giả phân tích tài chính các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum Theo đó, các điểm mạnh của doanh nghiệp là: Tỷ suất nợ thấp thể hiện tính tự chủ tài chính cao
và ít chịu áp lực thanh toán từ chủ nợ, cân bằng tài chính được đảm bảo; Một số doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu lớn hơn 50% thể hiện tỷ suất sinh lời của tài sản cao; Hầu hết doanh nghiệp có khả năng thanh toán lãi vay và tỷ suất sinh lời kinh tế khá cao Các điểm yếu còn tồn tại: Ở một số doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực đòi hỏi đầu tư nhiều vào cơ sở vật chất, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải thì tỷ suất nợ cao, cân bằng tài chính không đảm bảo; Nhiều doanh nghiệp thể hiện năng lực hoạt động và khả năng sinh lời không cao so với số liệu thống kê doanh nghiệp nhỏ và vừa toàn quốc
Để giải quyết các tồn tại trên, tác giả đề xuất các giải pháp: cải thiện cấu trúc tài chính đồng thời duy trì cân bằng tài chính; các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động (nâng cao trình độ quản lý và chất lượng của nhân viên, tích cực tham gia các hiệp hội ngành nghề, hoàn thiện cấu trúc tổ chức có tính hệ thống, khoa học, phù hợp với quy mô doanh nghiệp…
- Năm 2011, tác giả Trần Thị Thu Hường thực hiện luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh tại Viện Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội với đề
tài “Hoạch định tài chính cho Công ty cổ phần Sông Đà 7 giai đoạn 2011 – 2015”.Với mong muốn góp phần tham gia nghiên cứu phương pháp hoạch định tài
chính giúp cho Công ty cổ phần Sông Đà 7 có thể có phương pháp hoạch định tài chính một cách hệ thống và sát với thực tế nhất góp phần giúp Công ty chủ động trong hoạt động kinh doanh và đạt kết quả kinh doanh tốt hơn, tác giả đã nghiên cứu
Trang 19các vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Sông Đà 7, từ đó phân tích thực trạng hoạch định tài chính doanh nghiệp, nêu ra những tồn tại và những điểm yếu còn thiếu sót của quá trình hoạch định tài chính và chiến lược kinh doanh tại Công ty Cụ thể tác giả tiến hành hoạch định tài chính theo phương pháp ngân sách cho Công ty, đưa ra được các báo cáo tài chính dự kiến 2011 - 2015, tính toán các chỉ số tài chính dự kiến, so sánh vị thế tài chính của công ty sau hoạch định với các năm trước, so sánh với ngành, từ đó nhận dạng vị thế tài chính của công ty, đưa ra các biện pháp cải thiện tình hình tài chính của công ty sau hoạch định để có được báo cáo tài chính hoạch định cuối cùng Năm 2015, tác giả Vũ Minh Đức thực hiện luận văn Thạc sỹ ngành Tài chính -
Ngân hàng tại Trường Đại học Kinh tế - ĐHQG Hà Nội, với đề tài “Phân tích tài chính Công ty cổ phần Viwaseen3” Cũng như các đề tài trên, trước hết tác giả đã
hệ thống hóa những lý thuyết cơ bản về tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp Sau đó, tác giả đi sâu phân tích tài chính của công ty cổ phần Viwaseen 3, từ đó chỉ ra các thực trạng của công ty Điểm mạnh của công ty là: Khả năng tự tài trợ của công ty ngày một nâng cao, phản ánh khả năng tự chủ trong hoạt động kinh doanh được nâng cao; Công ty còn tăng cường mở rộng quy mô đổi mới trang thiết bị để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm… Bên cạnh đó còn tồn tại các điểm yếu: Tỷ suất nợ quá cao, tỷ suất tự tài trợ thấp cho thấy công ty
sử dụng cơ cấu nợ quá thâm dụng, rủi ro tài chính của công ty hiện tại rất lớn; Những hạn chế trong việc quản lý đã làm lãng phí vốn lưu động và ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của công ty; Công tác quản lý các khoản phải thu của công ty chưa được tốt; Hàng tồn kho còn tồn đọng nhiều làm ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển vốn; Các quỹ được trích lập thường nhỏ hơn so với thực chi làm ảnh hưởng đến hoạt động của công ty có sử dụng đến các quỹ liên quan này Từ những thực trạng nêu trên, tác giả có đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm cải thiện những điểm yếu kém, nâng cao năng lực tài chính của công ty
Những điểm mới trong luận văn của tác giả
Thông qua việc tham khảo nội dung của hai đề tài đã nêu trên, tác giả đã phần
Trang 20nào có những định hướng căn bản góp phần tích cực vào việc xây dựng đề cương luận văn của mình Nhìn chung các đề tài trên đã trình bày khá cụ thể và chi tiết nội dung về mặt lý thuyết căn bản, những chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính tại doanh nghiệp cụ thể… Tuy nhiên, cả hai đề tài nêu trên mới chỉ dừng lại ở việc quản lý tài sản và nguồn vốn tại doanh nghiệp và đưa ra các giải pháp chung chưa sát với thực
tế hoạt động tại chính tại doanh nghiệp Điều này làm cho những đánh giá của các tác giả chưa thực sự sát sao và chưa đánh giá một cách toàn diện hoạt động tài chính tại doanh nghiệp
Qua đây, tác giả đã có những góc nhìn mới và bổ sung nhằm hoàn thiện hơn cho luận văn của mình Hơn nữa, mặc dù đề tài phân tích tài chính doanh nghiệp không phải đề tài mới, nhưng chưa có đề tài nào thực hiện phân tích tài chính tại Công ty cổ phần L.Q Joton, là một doanh nghiệp thuộc quy mô vừa và nhỏ nhưng
đã và đang đóng góp vào sự phát triển kinh tế đất nước, giải quyết vấn đề việc làm cho hàng trăm người lao động Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đưa ra một số những giải pháp và kiến nghị có ý nghĩa hết sức tích cực, phù hợp với sự thay đổi của đất nước trong giai đoạn hiện nay
1.2 Cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Bản chất và vai trò của tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp
Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp là các quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp
Bên trong quá trình tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị hợp thành các quan hệ tài chính của doanh nghiệp
và bao hàm các quan hệ tài chính chủ yếu sau:
- Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với ngân sách Nhà nước: Mối quan hệ kinh tế này được thể hiện trong quá trình hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp
Trang 21phải có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước theo luật định và ngược lại nhà nước cũng
có sự tài trợ về mặt tài chính cho các doanh nghiệp để thực hiện chính sách kinh tế
vĩ mô của mình
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và các tổ chức
xã hội khác: các quan hệ tài chính này rất đa dạng và phong phú được thể hiện trong việc thanh toán, thưởng phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhau (bao hàm cả các dịch vụ tài chính) Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể có quan hệ tài chính với các tổ chức xã hội khác, như doanh nghiệp thực hiện tài trợ cho các tổ chức xã hội
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp: Quan hệ này được thể hiện trong việc doanh nghiệp thanh toán trả tiền công, thực hiện thưởng, phạt vật chất với người lao động trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu của doanh nghiệp: mối quan hệ này thể hiện trong việc các chủ sở hữu thực hiện việc đầu tư, góp vốn vào, hay rút vốn ra khỏi doanh nghiệp và trong việc phân chia lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
- Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là mối quan hệ thanh toán giữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp, cũng như khi phân phối kết quả kinh doanh và thực hiện hạch toán nội bộ doanh nghiệp
1.2.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
- Vai trò huy động, khai thác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp và tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả cáo nhất: Để có đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính doanh nghiệp phải thanh toán nhu cầu vốn, lựa chọn nguồn vốn, bên cạnh đó phải tổ chức huy động và sử dụng đúng đắn nhằm duy trì và thúc đẩy sự phát triển có hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp - đây là vấn đề có tính quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp
trong quá trình cạnh tranh "khắc nghiệt" theo cơ chế thị trường
Trang 22- Vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh: Thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp được tài chính doanh nghiệp phân phối Thu nhập bằng tiền
mà doanh nghiệp đạt được do thu nhập bán hàng trước tiên phải bù đắp hao mòn máy móc thiết bị, trả lương cho người lao động và để mua nguyên vật liệu để tiếp tục chu kỳ sản xuất mới, thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước Phần còn lại doanh nghiệp hình thành các quỹ của doanh nghiệp, thực hiện bảo toàn vốn, hoặc trả lợi tức cổ phần Chức năng phân phối tài chính doanh nghiệp là quá trình phân phối thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp và quá trình phân phối đó luôn gắn liền với những đặc điểm vốn có của hoạt động sản xuất kinh doanh và hình thức sở hữu doanh nghiệp Ngoài ra, nếu người quản lý biết vận dụng sáng tạo các chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp phù hợp với quy luật sẽ làm cho tài chính doanh nghiệp trở thành đòn bẩy kinh tế có tác dụng trong việc tạo ra những động lực kinh tế tác động tới tăng năng suất, kích thích tăng cường tích tụ và thu hút vốn, thúc đẩy tăng vòng quay vốn, kích thích tiêu dùng xã hội
- Vai trò là công cụ kiểm tra các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Tài chính doanh nghiệp thực hiện việc kiểm tra bằng đồng tiền và tiến hành thường xuyên, liên tục thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính Cụ thể các chỉ tiêu đó là: chỉ tiêu về kết cấu tài chính, chỉ tiêu về khả năng thanh toán, chỉ tiêu đặc trưng về hoạt động, sử dụng các nguồn lực tài chính; chỉ tiêu đặc trưng về khả năng sinh lời Bằng việc phân tích các chỉ tiêu tài chính cho phép doanh nghiệp có căn cứ quan trọng để đề ra kịp thời các giải pháp tối ưu làm lành mạnh hoá tình hình tài chính - kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.2 Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.2.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu
về tình hình tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua Thông qua việc phân tích tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp
Phân tích tài chính thực chất là phân tích các chỉ tiêu tài chính trên hệ thống
Trang 23báo cáo tài chính nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản trị doanh nghiệp và những đối tượng sử dụng thông tin theo những mục tiêu khác nhau Vì vậy, phân tích tài chính không phải chỉ phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, mà còn cung cấp những thông tin về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định
1.2.2.2 Mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp
Mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đều nằm trong thể tác động liên hoàn với nhau Bởi vậy, chỉ có thể phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp mới đánh giá đầy đủ và sâu sắc mọi hoạt động kinh tế trong trạng thái thực của chúng Trên cơ sở đó, nêu lên một cách tổng hợp về trình độ hoàn thành các mục tiêu - biểu hiện bằng hệ thống chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tài chính của doanh nghiệp Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, các doanh nghiệp đều bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh Mỗi doanh nghiệp đều có rất nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của mình như các nhà đầu tư, nhà cho vay, nhà cung cấp Mỗi đối tượng này quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên những góc độ khác nhau Song nhìn chung, họ đều quan tâm đến khả năng tạo ra dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán
và mức lợi nhuận tối đa Bởi vậy phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu sau:
- Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ những thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử dụng khác để họ có thể ra các quyết định về đầu tư, tín dụng và các quyết định tương tự Thông tin phải dễ hiểu đối với những người có một trình độ tương đối về kinh doanh và về các hoạt động kinh tế mà muốn nghiên cứu các thông tin này
- Phân tích tình hình tài chính cũng nhằm cung cấp thông tin quan trọng nhất cho chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử dụng khác đánh giá số lượng, thời gian và rủi ro của những khoản thu bằng tiền từ cổ tức hoặc tiền lãi Vì các dòng tiền của các nhà đầu tư liên quan với các dòng tiền của doanh
Trang 24nghiệp nên quá trình phân tích phải cung cấp thông tin để giúp họ đánh giá số lượng, thời gian và rủi ro của các dòng tiền thu thuần dự kiến của doanh nghiệp
- Phân tích tình hình tài chính cũng phải cung cấp tin về các nguồn lực kinh tế, vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của các quá trình, các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp Đồng thời qua đó cho biết thêm nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các nguồn lực này và các tác động của những nghiệp vụ kinh tế, giúp cho chủ doanh nghiệp dự đoán chính xác quá trình phát triển doanh nghiệp trong tương lai
Qua đó cho thấy, phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối chiếu số liệu, so sánh số liệu về tài chính thực có của doanh nghiệp với quá khứ để định hướng trong tương lai Từ đó, có thể đánh giá đầy đủ mặt mạnh, mặt yếu trong công tác quản lý doanh nghiệp và tìm ra các biện pháp sát thực để tăng cường các hoạt động kinh tế và còn là căn cứ quan trọng phục vụ cho việc dự đoán,
dự báo xu thế phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.2.3 Chức năng của phân tích tài chính doanh nghiệp
- Chức năng đánh giá: Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển
dịch, các luồng vận động của những nguồn lực tài chính trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ hoặc vốn hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật Các luồng chuyển dịch giá trị, sự vận động của các nguồn tài chính nảy sinh và diễn ra như thế nào, nó tác động ra sao đến quá trình kinh doanh, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, có yếu tố mang tính môi trường, có yếu tố bên trong, có yếu tố bên ngoài cụ thể là những yếu tố nào, tác động đến sự vận động và chuyển dịch ra sao, gần với mục tiêu hay ngày càng xa rời mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, có phù hợp với cơ chế chính sách và pháp luật hay không là những vấn đề mà phân tích tài chính doanh nghiệp phải đưa ra câu trả lời
- Chức năng dự đoán: Mọi quyết định của con người đều hướng vào thực hiện
những mục tiêu nhất định Mục tiêu là đích hướng tới bằng những hành động cụ thể trong tương lai Những mục tiêu này có thể là ngắn hạn có thể là mục tiêu dài hạn Nhưng nếu liên quan đến đời sống kinh tế của doanh nghiệp thì cần nhận thấy tiềm
Trang 25lực tài chính, diễn biến luồng chuyển dịch giá trị, sự vận động của vốn hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp Những quyết định và hành động trong tương lai phụ thuộc vào diễn biến kinh tế xã hội và hoạt động của doanh nghiệp sẽ diễn ra trong tương lai Bản thân doanh nghiệp cho dù đang giai đoạn nào trong chu kỳ phát triển thì các hoạt động cũng đều hướng tới mục tiêu nhất định Những mục tiêu này được hình thành từ nhận thức về điều kiện, năng lực của bản thân cũng như những diễn biến của tình hình kinh tế quốc tế, trong nước, ngành nghề và các doanh nghiệp khác cùng loại, sự tác động của các yếu tố kinh tế xã hội trong tương lai Vì vậy, để
có những quyết định phù hợp và tổ chức thực hiện hợp lý, đáp ứng được mục tiêu mong muốn của các đối tượng quan tâm cần thấy tình hình tài chính của doanh nghiệp trong tương lai
- Chức năng điều chỉnh: Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh
tế tài chính dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình tiến hành các hoạt động
Hệ thống các quan hệ đó bao gồm nhiều loại khác nhau, rất đa dạng, phong phú và phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân và nhân tố cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp Hệ thống các quan hệ kinh tế tài chính đó sẽ là bình thường nếu tất cả các mắt xích trong hệ thống đều diễn ra bình thường và đó là sự kết hợp hài hoà các mối quan hệ Tuy nhiên, những mối quan hệ kinh tế ngoại sinh, bản thân doanh nghiệp cũng như các đối tượng quan tâm không thể kiểm soát và chi phối toàn bộ Vì vậy, để kết hợp hài hoà các mối quan hệ, doanh nghiệp, các đối
tượng có liên quan phải điều chỉnh các mối quan hệ và nghiệp vụ kinh tế nội sinh
1.2.2.4 Ý nghĩa và vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính của doanh nghiệp
Đối với nhà quản trị doanh nghiệp
Các hoạt động nghiên cứu tài chính trong doanh nghiệp được gọi là phân tích tài
Trang 26chính nội bộ Khác với phân tích tài chính bên ngoài do nhà phân tích ngoài doanh nghiệp tiến hành Do đó thông tin đầy đủ và hiểu rõ về doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp có nhiều lợi thế để có thể phân tích tài chính tốt nhất Vì vậy nhà quản trị doanh nghiệp còn phải quan tâm đến nhiều mục tiêu khác nhau như tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch
vụ, hạ chi phí thấp nhất và bảo vệ môi trường Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được mục tiêu này khi doanh nghiệp kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ
Như vậy hơn ai hết các nhà quản trị doanh nghiệp cần có đủ thông tin nhằm thực hiện cân bằng tài chính, nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua để tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp Bên cạnh đó định hướng các quyết định của ban giám đốc tài chính, quyết định đầu tư, tài trợ, phân tích lợi tức cổ phần
Đối với các nhà đầu tư
Các nhà đầu tư là các doanh nghiệp và cá nhân quan tâm trực tiếp đến các giá trị của doanh nghiệp vì họ là người đã giao vốn cho doanh nghiệp và có thể phải chịu rủi ro Mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn và sự rủi ro Vì thế mà họ cần thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng của doanh nghiệp Các nhà đầu tư còn quan tâm đến việc điều hành hoạt động công tác quản lý Những điều đó tạo ra sự an toàn và hiệu quả cho các nhà đầu tư
Đối với ngân hàng, nhà cho vay tín dụng, các đối tác kinh doanh và các tổ chức khác
Những đối tượng này quan tâm đến khả năng thanh toán công nợ, khả năng hợp tác liên doanh của doanh nghiệp, cho nên cũng cần phân tích và đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đặc biệt đối với các chủ nợ, họ quan tâm tới khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp nếu đó là các khoản vay ngắn hạn, đối với khoản vay dài hạn họ phải tin chắc khả năng hoàn trả khi xem xét khả năng sinh lời của doanh nghiệp Song quan trọng nhất đó là cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay Các đối tác kinh doanh còn xem
Trang 27xét đến khả năng hợp tác của doanh nghiệp thông qua tình hình chấp hành các chế
độ, khả năng, tiềm năng kinh tế tài chính của doanh nghiệp
Đối với các cơ quan Nhà nước và người lao động trong doanh nghiệp
Đối với cơ quan quản lý nhà nước, qua việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, sẽ phân tích, đánh giá, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước hay không, có tuân theo pháp luật hay không đồng thời sự giám sát này giúp cơ quan thẩm quyền có thể hoạch định chính sách một cách phù hợp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả Giúp Nhà nước đưa những kế hoạnh phát triển ở tầm vĩ mô sao cho mang lại lợi ích thiết thực nhất Bên cạnh đó, những người hưởng lương trong doanh nghiệp cũng quan tâm đến tình hình tài chính, bởi lợi ích của họ gắn liền với hoạt động tài chính của doanh nghiệp Người lao động quan tâm đến các thông tin và số liệu tài chính để đánh giá, xem xét triển vọng của nó trong tương lai Những người đi tìm việc đều có nguyện vọng được vào làm việc trong các công ty có triển vọng với tương lai lâu dài để hy vọng có mức lương xứng đáng và chỗ làm việc ổn định
Đối tượng sử dụng
thông tin
Cần quyết định cho các mục tiêu
Yếu tố cần dự đoán cho tương lai
Các câu hỏi trả lời nhận được từ các thông tin có dạng câu hỏi
Nhà quản trị
doanh nghiệp
Điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh
- Lập kế hoạch cho tương lai
- Đầu tư dài hạn
- Chiến lược sản phẩm và thị trường
- Chọn phương án nào sẽ có hiệu quả cao nhất?
- Nên huy động nguồn đầu tư nào?
Nhà đầu tư
Có nên đầu tư vào doanh nghiệp hay không
- Giá trị đầu tư nào
sẽ thu được trong tương lai
- Các lợi ích khác có thể thu được
- Năng lực của doanh nghiệp trong điều kiện kinh doanh và huy động vốn đầu tư như thế nào?
Trang 28Nhà cho vay
Có nên cho doanh nghiệp vay vốn hay không
- Doanh nghiệp có khả năng trả nợ theo đúng hợp đồng hay không
- Các lợi ích khác đối với các nhà cho vay
- Tình hình công nợ của doanh nghiệp
- Lợi tức có được chủ yếu từ hoạt động nào?
- Tình hình và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp?
Cơ quan nhà nước
và người làm công
Các khoản đóng góp cho nhà nước
Có nên tiếp tục hợp đồng hay không
- Hoạt động của doanh nghiệp có thích hợp và hợp pháp không?
- Doanh nghiệp có thể tăng thêm thu nhập cho người làm công không?
- Có thể có biến động gì về vốn và thu nhập trong tương lai ?
Sơ đồ 1.1: Nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng sử dụng
khác nhau
Như vậy, phân tích tình hình tài chính có thể ứng dụng theo nhiều chiều khác nhau như với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ) và với mục đích thông tin (trong hoặc ngoài doanh nghiệp) Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho người sử dụng thấy được thực trạng hoạt động tài chính, từ đó xác định được nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng đến từng hoạt động kinh doanh Trên cơ sở đó có những biện pháp hữu hiệu và ra các quyết định cần thiết
để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh
1.2.2.5 Nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp
- Đánh giá tình hình sử dụng vốn, nguồn vốn như: xem xét việc phân bổ vốn, nguồn vốn có hợp lý hay không? Xem xét mức độ đảm bảo vốn cho nhiệm vụ sản
xuất kinh doanh, phát hiện những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thừa, thiếu vốn
- Đánh giá tình hình thanh toán, khả năng thanh toán của doanh nghiệp, tình hình chấp hành các chế độ, chính sách tài chính, tín dụng của Nhà nước
Trang 29- Đánh giá hiệu quả việc sử dụng vốn
- Phát hiện khả năng tiềm tàng, đề ra các biện pháp động viên, khai thác khả năng tiềm tàng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
1.2.3 Nội dung của phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.3.1 Tài liệu và phương pháp dùng cho phân tích tài chính doanh nghiệp
Tài liệu dùng cho phân tích tài chính doanh nghiệp
Tài liệu quan trọng nhất được sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là các báo cáo tài chính như: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và tình hình cụ thể của doanh nghiệp Báo cáo tài chính là những báo cáo được trình bày hết sức tổng quát, phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành vốn, tình hình tài chính, cũng như kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu để đánh giá tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động vốn vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hệ thống báo cáo tài chính được ban hành thống nhất áp dụng chung cho các
doanh nghiệp.Theo quy định của chế độ kế toán hiện hành tại Việt Nam thì hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp gồm:
- Bảng cân đối kế toán;
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh;
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ;
- Bản thuyết minh Báo cáo tài chính
Việc lập báo cáo tài chính theo quy định của Luật kế toán và quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính được áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc các ngành và các thành phần kinh tế Riêng các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các ngân hàng và tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp, ngành đặc thù thì tuân thủ theo quy định tại chế độ kế toán do Bộ tài chính ban hành riêng hoặc chấp thuận cho ngành ban hành Trong đó:
Trang 30- Bảng cân đối kế toán: là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn
bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Số liệu phần tài sản cho phép các nhà quản trị doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá một cách tổng quát quy mô và kết cấu tài sản của doanh nghiệp Số liệu phần nguồn vốn phản ánh các nguồn tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp Về mặt pháp lý, số liệu phần tài sản thể hiện giá trị các loại tài sản hiện có mà doanh nghiệp sở hữu, có quyền quản lý và sử dụng; Phần nguồn vốn thể hiện phạm vi trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước, chủ nợ và thể hiện quyền sở hữu và lợi ích của các chủ sở hữu vốn của doanh nghiệp Như vậy, Bảng cân đối kế toán cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp, là tài liệu quan trọng giúp các nhà phân tích đánh giá một cách khái quát về tình hình và kết quả kinh doanh, cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn, khả năng thanh toán các khoản nợ, những triển vọng kinh tế tài chính của doanh nghiệp Tuy nhiên, giá trị của Bảng cân đối kế toán được phản ánh theo giá trị sổ sách kế toán chứ không phản ánh theo giá thị trường Trong khi
đó có rất nhiều sự khác biệt giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trường như: giá trị tài sản cố định ròng, giá trị vốn chủ sở hữu, giá trị hàng tồn kho,… Do vậy, khi đọc Bảng cân đối kế toán người đọc cũng cần quan tâm tới điều này
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: là báo cáo tài chính vừa tổng hợp, vừa chi tiết tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh theo từng hoạt động Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh cung cấp các thông tin về thu nhập, chi phí, lãi (lỗ), chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp cũng như lợi nhuận thuần của doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh nhất định Qua đó các nhà quản trị doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá được các thay đổi tiềm tàng về các nguồn lực kinh tế mà doanh nghiệp có thể kiểm soát trong tương lai, đánh giá khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, hoặc đánh giá tính hiệu quả của các nguồn lực bổ sung mà doanh nghiệp có thể sử dụng Tuy nhiên một trong các hạn chế của báo cáo là kết quả thu nhập sẽ lệ thuộc rất nhiều vào quan điểm của
kế toán trong quá trình hạch toán chi phí như chi phí khấu hao, phân bổ chi phí,…
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: là báo cáo tài chính phản ánh tổng hợp và phân
Trang 31loại luồng thu, chi bằng tiền và tương đương tiền của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán Thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ có thể đánh giá khả năng tạo ra các dòng tiền từ các loại hoạt động của doanh nghiệp để đáp ứng kịp thời các khoản nợ cho các chủ nợ, cổ tức cho các cổ đông hoặc nộp thuế cho Nhà nước Đồng thời, đó cũng là mối quan tâm của các nhà quản lý tại doanh nghiệp để có các biện pháp tài chính cần thiết, đáp ứng trách nhiệm thanh toán của mình Báo cáo lưu chuyển tiền
tệ còn là cơ sở để dự đoán các dòng tiền của doanh nghiệp, trợ giúp các nhà quản lý trong công tác hoạch định và kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp
- Bản thuyết minh Báo cáo tài chính là một bộ phận không thể tách rời của báo cáo tài chính doanh nghiệp dùng để mô tả mang tính tường thuật hoặc cung cấp những thông tin chi tiết hơn về tình hình sản xuất kinh doanh, về tình hình tài chính của doanh nghiệp mà các BCTC khác không thể trình bày được Thuyết minh báo cáo tài chính cung cấp cho người sử dụng biết được khái quát tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chuẩn mực và chế độ kế toán áp dụng, niên độ kế toán, đơn vị tiền tệ, tạo điều kiện cho người sử dụng tìm hiểu về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Các phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp thực chất bao gồm hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối liên hệ bên trong và bên ngoài, các luồng chuyển dịch và biến đổi tình hình tài chính của doanh nghiệp, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu chi tiết, Về lý thuyết, có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp Tùy vào đối tượng và mục tiêu phân tích cụ thể, người ta có thể chỉ sử dụng một số phương pháp, cũng có thể kết hợp sử dụng rất nhiều phương pháp khác nhau Ở đây, tôi chỉ đưa ra 3 phương pháp cơ bản, thường được vận dụng trong quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích xu hướng
Phân tích xu hướng là kỹ thuật phân tích bằng cách so sánh các tỷ số tài chính của công ty qua nhiều năm để thấy được xu hướng tốt lên hay xấu đi của các tỷ số tài chính
Phương pháp phân tích cơ cấu
Trang 32Việc phân tích cơ cấu tài chính doanh nghiệp được bắt đầu bằng phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn
Phân tích cơ cấu tài sản là việc xem xét tỷ trọng của từng loại tài sản chiếm trong tổng tài sản và thông qua đó có thể đánh giá được việc bố trí, phân bố vốn, trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp có hợp lý hay không Việc bố trí vốn hợp lý hay không hợp lý sẽ ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến việc quản lý, sử dụng vốn cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích cơ cấu nguồn vốn là việc xem xét tỷ trọng từng loại nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn cũng như xem xu hướng biến động của tưng nguồn vốn qua các thời kỳ
Phương pháp phân tích Dupont
Bản chất của phương pháp Dupont là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu thập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổng hợp
Phương pháp phân tích Dupont là phân tích tổng hợp tình hình tài chính của doanh nghiệp Thông qua quan hệ của một số chỉ tiêu chủ yếu để phản ánh thành tích tài chính của doanh nghiệp một cách trực quan, rõ ràng Thông qua việc sử dụng phương pháp phân tích Dupont để phân tích từ trên xuống không những có thể tìm hiểu được tình trạng chung của tài chính doanh nghiệp, cùng các quan hệ cơ cấu giữa các chỉ tiêu đánh giá tài chính, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng làm biến động tăng giảm của các chỉ tiêu tài chính chủ yếu, cùng các vấn đề còn tồn tại mà còn có thể giúp các nhà quản lý doanh nghiệp làm tối ưu hóa cơ cấu kinh doanh và cơ cấu hoạt động tài chính, tạo cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả tài chính doanh nghiệp
TS
DT DT
LNST TS
LNST VCSH
LNST
*
Trang 331.2.3.2 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
Đánh giá khái quát tình hình tài chính là việc sử dụng các phương pháp phân tích thích hợp để đưa ra nhận xét sơ bộ, ban đầu về thực trạng và sức mạnh tài chính của doanh nghiệp, về mức độ độc lập tài chính cũng như những khó khăn tài chính
mà doanh nghiệp phải đương đầu
Đánh giá khái quát về tài sản và cơ cấu nguồn vốn
Phân tích cơ cấu tài sản
Qua phân tích cơ cấu tài sản, các nhà quản lý sẽ thấy được những đặc trưng trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, xác định việc sử dụng vốn đã huy động có phù hợp với lĩnh vực kinh doanh và có phục vụ tích cực cho mục đích kinh doanh của doanh nghiệp hay không Từ đó giúp các nhà quản lý bố trí tài sản hợp lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Khi xem xét cơ cấu tài sản, ngoài việc so sánh tổng số tài sản cũng như từng loại tài sản cuối kỳ so với đầu năm còn phải xem xét tỷ trọng từng loại tài sản chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng để thấy được mức độ hợp lý của việc phân bổ
Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản chiếm trong tổng số tài sản được xác định theo công thức:
Tỷ trọng của từng bộ phận tài
sản chiếm trong tổng số tài sản =
Giá của từng bộ phận tài sản
x 100 Tổng số tài sản
Phân tích cơ cấu nguồn vốn
Phân tích cơ cấu nguồn vốn nhằm giúp các nhà quản lý nắm được cơ cấu vốn huy động, biết được trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các nhà cho vay, nhà cung cấp, người lao động, về số tài sản tài trợ bằng nguồn vốn của họ Đồng thời các nhà quản lý cũng nắm được mức độ độc lập về tài chính cũng như xu hướng biến động của cơ cấu nguồn vốn huy động
Để phân tích cơ cấu nguồn vốn, người ta cũng tính ra và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn
Trang 34Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn được xác định theo công thức:
Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn
vốn trong tổng số nguồn vốn =
Giá của từng bộ phận nguồn vốn
x 100 Tổng số nguồn vốn
b Mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Nguồn tài trợ tương ứng cho hai loại tài sản này là nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn Nguồn vốn ngắn hạn trong doanh nghiệp bao gồm các khoản nợ ngắn hạn, còn nguồn vốn dài hạn bao gồm nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu Nguồn vốn dài hạn trước hết được đầu tư để hình thành tài sản dài hạn, nguồn vốn ngắn hạn và phần dư của nguồn vốn dài hạn được đầu tư vào tài sản ngắn hạn
Trong mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, sẽ là hợp lý nếu tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn vì điều này chứng tỏ doanh nghiệp giữ vững mối quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, sử dụng đúng mục đích nợ ngắn hạn Đồng thời nó cũng chỉ ra một sự hợp lý trong chu kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn với chu kỳ thanh toán nợ ngắn hạn Ngược lại, nếu tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn thì đây là dấu hiệu cho thấy một phần nguồn vốn ngắn hạn đã được đầu tư vào tài sản dài hạn Khi đó, chu kỳ luân chuyển tài sản khác với chu kỳ thanh toán nên dễ dẫn đến những vi phạm nguyên tắc tín dụng và có thể đưa đến một hệ quả tài chính không tốt
Trong mối quan hệ giữa tài sản dài hạn với nợ dài hạn, nếu tài sản dài hạn lớn hơn nợ dài hạn và phần thiếu hụt được bù đắp từ vốn chủ sở hữu thì là điều hợp lý
vì khi đó doanh nghiệp đã sử dụng đúng mục đích nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, nếu phần thiếu hụt được bù đắp bằng nợ ngắn hạn thì lại bất hợp lý vì nó làm mất cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn Nếu tài sản dài hạn nhỏ hơn
nợ dài hạn thì chứng tỏ một phần nợ dài hạn đã được chuyển vào tài trợ tài sản ngắn hạn Điều này vừa làm lãng phí chi phí lãi vay nợ dài hạn vừa thể hiện sử dụng sai mục đích nợ dài hạn
Trang 35Ngoài ra, khi phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn, người phân tích cũng cần chú trọng đến vốn lưu động ròng (còn gọi là vốn ngắn hạn thường xuyên) là số vốn mà doanh nghiệp không cần phải vay mượn hay đi chiếm dụng, được sử dụng để duy trì những hoạt động bình thường, diễn ra thường xuyên tại doanh nghiệp Vốn lưu động ròng có thể tính theo một trong hai cách sau:
Trong đó, nguồn tài trợ thường xuyên là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng thường xuyên lâu dài, bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay, nợ dài hạn, trung hạn Nếu vốn lưu động ròng lớn hơn 0 thì đây là dấu hiệu tài chính bình thường hay khả quan, thể hiện sự cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nguồn vốn ngắn hạn hoặc cân đối giữa nguồn vốn dài hạn với tài sản dài hạn Cân bằng tài chính trong trường hợp này gọi là cân bằng tốt
Ngược lại nhỏ hơn 0 sẽ thể hiện một sự mất cân đối giữa tài sản ngắn hạn và
nợ ngắn hạn và mất cân đối giữa nguồn tài trợ thường xuyên với tài sản dài hạn Điều này chỉ ra rằng doanh nghiệp dùng nguồn tài trợ tạm thời cho cả tài sản dài hạn và nếu tình trạng này kéo dài thì có thể dẫn đến tình trạng tài chính của doanh nghiệp có thể mất dần và đi đến bờ vực phá sản Và tất nhiên, cân bằng tài chính trong trường hợp này là cân bằng xấu
c Phân tích khái quát kết quả hoạt động kinh doanh
Để tiến hành phân tích các khoản mục trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, ta phải nghiên cứu từng khoản mục để theo dõi sự biến động của nó Các khoản mục chủ yếu gồm:
Doanh thu: đó là thu nhập mà doanh nghiệp nhận được qua hoạt động sản
xuất kinh doanh Doanh thu thuần là doanh thu đã trừ các khoản giảm trừ Đây là một tỏng những chỉ tiêu có ý nghĩa nhất đối với tình trạng của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Trang 36Giá vốn hàng bán: Đây là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị mua
hàng hóa, giá thành sản xuất của sản phẩm, dịch vụ đã bán Giá trị là yếu tố lớn quyết định khả năng canh tranh và mức kết quả của doanh nghiệp Trong trường hợp doanh nghiệp có vấn đề đối với giá vốn hàng bán, thì ta phải theo dõi và phân tích từng cấu phần của nó: nhân công trực tiếp nguyên vật liệu trực tiếp, năng lượng
Lãi gộp: Là doanh thu trừ giá vốn hàng bán Chỉ tiêu này tiến triển phụ thuộc
vào cách biến đổi của các thành phần của nó Nếu phân tích rõ những chỉ tiêu trên, doanh nghiệp sẽ hiểu được mức độ và sự biến động của chỉ tiêu này
Chi phí bán hàng: là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản
phẩm, hàng hóa, dịch vụ
Chi phí quản lý doanh nghiệp: là toàn bộ chi phí có liên quan đến hoạt
động quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và quản lý điều hành chung của toàn doanh nghiệp
Chi phí tài chính: Đối với những doanh nghiệp chưa có hoạt động tài chính
hoặc có nhưng yếu thì có thể xem chi phí tài chính là lãi vay
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh: Chỉ tiêu tổng hợp này là kết quả của tất
cả các chỉ tiêu trên Khi phân tích kỹ các chỉ tiêu trên ta hiểu được sự tiến triển của chỉ tiêu này và rút ra được những kinh nghiệm nhằm tối đa hóa lợi nhuận
Tổng lợi nhuận trước thuế và sau thuế: Là chỉ tiêu tổng hợp, tóm tắt bảng
báo cáo kết quả kinh doanh Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất của doanh nghiệp Vì lợi nhuận là mục tiêu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, nên chỉ tiêu này được dùng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, của ban lãnh đạo
d Phân tích biến động của dòng tiền
Phân tích biến động các dòng tiền với mục đích tìm ra khả năng, xu hướng cân đối dòng tiền cho nhu cầu của từng hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ cấu dòng tiền của từng hoạt động Từ đó giúp người phân tích nhận thức được dòng tiền dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong thanh toán, trong hoàn trả lãi, trong hoàn trả vốn huy động
Trang 37Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có tác dụng rất quan trọng trong việc phân tích, đánh giá khả năng tạo ra tiền, khả năng đầu tư, thanh toán, tiềm lực thực sự của doanh nghiệp trong xu hướng phát triển, mở rộng hay đi xuống, thấy được năng lực quản lý dòng tiền của doanh nghiệp
Phương trình cân đối về dòng tiền trong doanh nghiệp được xác định theo công thức:
Tiền tồn
đầu kỳ +
Tiền thu trong kỳ =
Tiền chi trong kỳ +
Tiền tồn cuối kỳ
Để phân tích khả năng tạo tiền của doanh nghiệp, các nhà phân tích so sánh dòng tiền thu, chi của các hoạt động, cụ thể:
- Đối với hoạt động kinh doanh: nếu dòng tiền thu lớn hơn dòng tiền chi, chứng tỏ khả năng thanh toán trong kỳ tới dồi dào, và nếu doanh nghiệp muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cần có hướng đầu tư khác;
- Đối với hoạt động đầu tư: nếu dòng tiền thu lớn hơn dòng tiền chi, chứng tỏ khả năng thanh toán tốt, có được kết quả trên là do là do trong kỳ doanh nghiệp thu hồi vốn gốc, cổ tức, lợi nhuận nhiều;
- Đối với hoạt động tài chính: nếu dòng tiền thu lớn hơn dòng tiền chi, chứng
tỏ doanh nghiệp có nhiều hoạt động tín dụng phục vụ tốt cho khả năng thanh toán Đối với các hoạt động trên, nếu dòng tiền thu nhỏ hơn dòng tiền chi thì nhìn chung khả năng thanh toán của doanh nghiệp hạn chế, doanh nghiệp cần xây dựng
dự toán tiền khoa học nhằm đáp ứng khả năng thanh toán
Việc phân tích được thực hiện trên cơ sở xác định tỷ trọng dòng tiền thu của từng hoạt động, tỷ trọng này cho biết mức độ đóng góp của từng hoạt động trong việc tạo tiền của doanh nghiệp, cụ thể:
- Đối với hoạt động kinh doanh: nếu tiền thu từ hoạt động này cao thể hiện tiền tạo ra chủ yếu từ hoạt động bán hàng, thu từ khách hàng;
- Đối với hoạt động đầu tư: nếu tiền thu từ hoạt động này cao chứng tỏ doanh nghiệp đã thu hồi các khoản đầu tư từ chứng khoán, thu lãi từ hoạt động đầu tư, bán TSCĐ,
- Đối với hoạt động tài chính: nếu tiền thu từ hoạt động này cao chứng tỏ
Trang 38doanh nghiệp nhận được các khoản góp vốn, nhận được các khoản tiền vay,
Từ việc phân tích các nghiệp vụ thu, chi của từng hoạt động, các nhà phân tích
đi đánh giá kết quả từng hoạt động, xác định các nguyên nhân ảnh hưởng tác động đến tình hình tăng, giảm tiền trong ky và đưa ra các giải pháp nhằm huy động và sử dụng tiền có hiệu quả, góp phần ổn định tình hình tài chính và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
1.2.3.3 Phân tích các nhóm hệ số
Đối với những nhà quản lý, việc sử dụng hệ số tài chính để giám sát quá trình kinh doanh nhằm đảm bảo công ty sử dụng hiệu quả các nguồn vốn sẵn có và tránh lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán
Thông qua các hệ số tài chính, nhà quản lý thấy được tình trạng tài chính và hoạt động của công ty có được củng cố không và liệu các hệ số nói chung
của nó tốt hơn hay tồi tệ hơn so với hệ số của các đối thủ cạnh tranh
Khi các hệ số này thấp hơn các chuẩn mực nhất định, thì có giải pháp kiểm soát, khắc phục trước khi phát sinh các vấn đề nghiêm trọng
Ngoài ra, việc phân tích các hệ số tài chính cũng cho phép nhà đầu tư hiểu rõ
hơn mối quan hệ giữa bảng cân đối tài sản và các báo cáo tài chính (ví dụ như để
tính toán thu nhập trên đầu tư của một công ty cần phải lấy số liệu tổng tài sản từ bảng cân đối kế toán và số liệu lợi nhuận ròng từ báo cáo thu nhập)
Hệ số tài chính được phân chia thành 4 nhóm dựa trên các tiêu chí về hoạt động, khả năng thanh toán, nghĩa vụ nợ và khả năng sinh lời của công ty
Nhóm hệ số về khả năng thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Hệ số này được xác định theo công thức:
Hệ số khả năng thanh toán
Trang 39cùng tăng nhưng tốc độ tăng của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn lớn hơn tốc độ tăng của nợ ngắn hạn; hoặc đều chuyển dịch theo xu hướng cùng giảm nhưng tốc độ giảm của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn nhỏ hơn tốc độ giảm của nợ ngắn hạn Tuy nhiên ở đây xuất hiện mâu thuẫn:
Thứ nhất, khả năng thanh toán của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh tình hình tài
chính của doanh nghiệp, không thể nói tình hình tài chính của doanh nghiệp là không tốt nếu khả năng thanh toán ngắn hạn lớn Nhưng khả năng thanh toán ngắn hạn lớn có thể do: các khoản phải thu (tức nợ không đòi được hoặc không dùng để bù trừ được) vẫn còn lớn, hàng tồn kho lớn (tức nguyên vật liệu dự trữ quá lớn không dùng hết và hàng hóa, thành phẩm tồn kho không bán được không đối lưu được) tức là có thể có một lượng lớn Tài sản lưu động tồn trữ lớn, phản ánh việc sử dụng tài sản không hiệu quả, vì bộ phận này không vận động không sinh lời Và khi đó khả năng thanh toán của doanh nghiệp thực tế sẽ là không cao nếu không muốn nói là không có khả năng thanh toán
Thứ hai, tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn có thể được hình thành từ vốn
vay dài hạn như tiền trả trước cho người bán; hoặc được hình thành từ nợ khác (như các khoản ký quỹ, ký cược…) hoặc được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu Chính vì thế có thể vốn vay ngắn hạn của doanh nghiệp nhỏ nhưng nợ dài hạn và nợ khác lớn Nếu lấy tổng tài sản lưu động chia cho nợ ngắn hạn để nói lên khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp thì chẳng khác gì kiểu dùng nợ để trả nợ vay Chính vì vậy, không phải hệ số này càng lớn càng tốt Tính hợp lý của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ngành nghề nào có tài sản lưu động chiếm tỷ trọng cao như Thương mại trong tổng tài sản thì hệ số này cao và ngược lại
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán nhanh được hiểu là khả năng doanh nghiệp dùng tiền hoặc tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền để trả nợ ngay khi đến hạn và quá hạn Tiền ở đây có thể là tiền gửi, tiền mặt, tiền đang chuyển; tài sản có thể chuyển đổi thành tiền là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn (cổ phiếu, trái phiếu) Nợ dến hạn và quá hạn phải trả bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn đến hạn phải trả, nợ khác
kể cả những khoản trong thời hạn cam kết doanh nghiệp còn được nợ Hệ số khả
Trang 40năng thanh toán nhanh được tính theo công thức:
Hệ số khả năng
thanh toán nhanh =
Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn - Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh là một hệ số khắt khe hơn nhiều so với hệ số thanh toán hiện thời (được tính bằng cách lấy tài sản lưu động chia cho tổng nợ ngắn hạn) bởi vì, hệ số này đã loại trừ hàng tồn kho ra khỏi công thức tính toán Công thức này được nhà đầu tư sử dụng khá phổ biến
Hàng tồn kho không được đưa vào công thức tính hệ số thanh toán nhanh, vì
nó khó có thể chuyển ra tiền mặt một cách dễ dàng, các chi phí trả trước cũng không được đưa vào với lý do tương tự
Hệ số này nói lên tình trạng tài chính ngắn hạn của một doanh nghiệp có lành mạnh không Về nguyên tắc, hệ số này càng cao thì khả năng thanh toán công nợ càng cao và ngược lại Hệ số này bằng 1 hoặc lớn hơn, cho thấy khả năng đáp ứng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn cao Doanh nghiệp không gặp khó khăn nếu cần phải thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn Trái lại, nếu hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1, doanh nghiệp sẽ không đủ khả năng thanh toán ngay lập tức toàn
bộ khoản nợ ngắn hạn hay nói chính xác hơn, doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn nếu phải thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn Phân tích sâu hơn, nếu hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn hệ số thanh toán hiện thời rất nhiều cho thấy, tài sản ngắn hạn phụ thuộc rất lớn vào hàng tồn kho Trong trường hợp này, tính thanh khoản của tài sản ngắn hạn là tương đối thấp Tất nhiên, với tỷ lệ nhỏ hơn 1, doanh nghiệp
có thể không đạt được tình hình tài chính tốt nhưng điều đó không có nghĩa là doanh nghiệp sẽ bị phá sản vì có nhiều cách để huy động thêm vốn cho việc trả nợ
Ở một khía cạnh khác, nếu hệ số này quá cao thì vốn bằng tiền quá nhiều, vòng quay vốn lưu động thấp, hiệu quả sử dụng vốn cũng không cao
Khi sử dụng hệ số này cần lưu ý một số điểm như sau:
- Hệ số này vô hình trung đã không tính đến năng lực thanh toán "không dùng tiền" của doanh nghiệp trong việc trả các khoản nợ đến hạn Tức là chưa tính đến khả năng doanh nghiệp dùng một lượng hàng hóa mà thị trường có nhu cầu cao có thể bán ngay được hoặc xuất đối lưu và như vậy sẽ là phiến diện khi lượng tiền có