1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động xuất khẩu lao động của việt nam sang đài loan 001

138 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ việc chủ yếu xuất khẩu lao động và chuyên gia sang các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và châu Phi trong những năm 80 của thế kỷ 20, đến nay chúng ta đã có quan hệ hợp tác lao động vớ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

DƯƠNG THANH THÙY

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Hà Nội – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

DƯƠNG THANH THÙY

Chuyên ngành : Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế

Mã ngành : 60 31 07

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS KHU THỊ TUYẾT MAI

Hà Nội – 2013

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu,

tư liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có xuất xứ rõ ràng; những phát hiện đưa ra trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tác giả luận văn

Tác giả

Dương Thanh Thùy

Trang 4

Tôi xin cảm ơn quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia

Hà Nội đã chỉ dạy cho tôi những kiến thức rất quý báu trong thời gian qua, giúp tôi có một nền tảng vững chắc để đi vào nghiên cứu và thực nghiệm

Mặc dù đã cố gắng tìm tòi và phát triển ý tưởng, song do những hạn chế nhất định, luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và những người có chung mối quan tâm đến các vấn

đề của luận văn này để luận văn thêm trọn vẹn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội – năm 2013

Tác giả

Dương Thanh Thùy

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iv

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 9

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ĐÀI LOAN 9

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 9

1.1.1 Những khái niệm cơ bản liên quan đến xuất khẩu lao động 9

1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến xuất khẩu lao động 11

1.1.3 Các nhân tố tác động tới xuất khẩu lao động 14

1.1.4 Hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động xuất khẩu lao động 18

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM SANG ĐÀI LOAN 22

1.2.1 Tổng quan về Đài Loan 22

1.2.2 Nhu cầu nhập khẩu lao động của Đài Loan 26

1.2.3 Quan hệ Việt Nam – Đài Loan 36

CHƯƠNG 2 42

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 42

CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ĐÀI LOAN 42

2.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM ……….42

Trang 6

2.1.1 Chủ trương, chính sách của Việt Nam về XKLĐ……… 42

2.1.2 Thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam……… 49

2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ĐÀI LOAN 57

2.2.1 Tình hình hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang Đài Loan 57

2.2.2 Phân tích điểm mạnh và điểm yếu của hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan 69

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ĐÀI LOAN 75

2.3.1 Kết quả đạt được 75

2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 80

CHƯƠNG 3 91

TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ĐÀI LOAN 91

3.1 TRIỂN VỌNG 91

3.1.1 Cơ hội 91

3.1.2 Thách thức 94

3.2 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM SANG ĐÀI LOAN 104

3.2.1 Định hướng và mục tiêu 104

3.2.2 Giải pháp và kiến nghị 110

KẾT LUẬN 125

TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

Trang 7

i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 CNNM Công nhân nhà máy

2 CSNB Chăm sóc người bệnh

3 GDP Tổng sản phẩm quốc nội

4 GVGĐ Giúp việc gia đình

5 LĐNN Lao động nước ngoài

7 WB Ngân hàng thế giới

8 WTO Tổ chức thương mại thế giới

9 XKLĐ Xuất khẩu lao động

Trang 8

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 1.1 Sự thay đổi dân số của một số quốc gia 14

2 Bảng 1.2 Một số chỉ số kinh tế của lãnh thổ Đài Loan 25

3 Bảng 1.3 Lao động nước ngoài tại Đài Loan phân theo quốc gia 33

4 Bảng 1.4 Lao động nước ngoài tại Đài Loan phân theo nghề 35

5 Bảng 1.5 Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam – Đài Loan 36

9 Bảng 2.1 Lao động Việt Nam đưa sang Đài Loan qua các năm 57

10 Bảng 2.2 Tỉ lệ lao động Việt Nam tại thị trường Đài Loan 59

11 Bảng 2.3 Cơ cấu lao động Việt Nam đưa sang Đài Loan theo

12 Bảng 2.4 Lao động Việt Nam tại Đài Loan phân theo khu vực

13 Bảng 2.5 Thống kê lao động nước ngoài bỏ trốn tại Đài Loan 67

14 Bảng 2.6 Cơ cấu dân số Việt Nam theo độ tuổi từ năm 1999 –

15 Bảng 2.7 Tỉ lệ kiều hối từ tổng hoạt động XKLĐ và từ XKLĐ

Đài Loan so với kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam 77

16 Bảng 2.8 Tỉ trọng lao động xuất khẩu trong tổng số lao động

17 Bảng 2.9 Thống kê về số lao động đang sống bất hợp pháp trên

Trang 9

iii

18 Bảng 3.1 So sánh chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam với một

19 Bảng 3.2 Thể lực của thanh niên 18 tuổi của một số nước năm

Trang 10

iv

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

1 Hình 1.1 Cung – cầu lao động tại 2 quốc gia xuất khẩu và

2 Hình 1.2 Hiệu quả kinh tế của xuất khẩu lao động 18

3 Hình 2.1 Con đường về nước của lao động xuất khẩu 66

4 Hình 3.1 Kết quả việc làm của thanh niên Việt Nam giai đoạn

Trang 11

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự mở cửa, giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hộvi của các quốc gia trên toàn thế giới cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã và đang góp phần xóa nhòa dần khoảng cách và ranh giới địa lý giữa các quốc gia Việc người dân của quốc gia này sống và làm việc tại quốc gia khác đã trở thành một hiện tượng rất phổ biến; nó đã và đang trở thành một ngành công nghiệp quan trọng của nhiều quốc gia, đồng thời theo sát với xu thế toàn cầu hóa kinh tế, đó chính là xuất khẩu lao động

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, chúng ta đã chính thức bước chân

ra biển lớn, phải chịu mọi áp lực cạnh tranh một cách bình đẳng như tất cả các quốc gia khác Cơ hội đến với chúng ta nhiều hơn nhưng đồng thời cũng có không ít thách thức Là một quốc gia đang phát triển, chúng ta còn thiếu và yếu

về nhiều mặt, trong đó có vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý, trình độ nguồn nhân lực,… Bên cạnh đó, vấn đề giải quyết nạn thất nghiệp vẫn luôn là một bài toán khó của xã hội Là một tất yếu khách quan, xuất khẩu lao động chính là một trong những con đường giúp chúng ta giải quyết được nhiều vấn đề khó cùng một lúc Lợi ích rõ ràng nhất có thể nhận thấy là tạo ra một khối lượng việc làm lớn cho người lao động, cùng với đó là mang lại một khoản thu ngoại tệ không nhỏ, tăng thu nhập không những cho bản thân gia đình người lao động mà còn cho đất nước Ngoài ra, xuất khẩu lao động còn mang đến cho lực lượng lao động của chúng ta cơ hội được tiếp xúc, học hỏi tác phong làm việc công nghiệp cũng như cung cách quản lý, tiếp nhận khoa học kỹ thuật của các quốc gia phát

Trang 12

2

triển hơn Không những tạo ra những lợi ích về mặt kinh tế, xuất khẩu lao động còn có những ý nghĩa xã hội to lớn, như góp phần ổn định an sinh xã hội, tăng cường tình đoàn kết giữa các quốc gia, thúc đẩy giao lưu văn hóa và quảng bá được hình ảnh của người dân Việt Nam, đất nước Việt Nam với các nước bạn

Nhận thức sâu sắc lợi ích do xuất khẩu lao động mang lại, Chính phủ Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện chính sách cũng như hành lang pháp lý về xuất khẩu lao động Từ việc chủ yếu xuất khẩu lao động và chuyên gia sang các nước

xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và châu Phi trong những năm 80 của thế kỷ 20, đến nay chúng ta đã có quan hệ hợp tác lao động với trên 40 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có những thị trường lớn như Malaysia, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc,… Đặc biệt trong số đó, nhiều năm liền thị trường Đài Loan giữ vị trí dẫn đầu trong việc tiếp nhận lao động của nước ta Tuy nhiên, qua hơn 10 năm hợp tác lao động (từ năm 1999 đến nay), quan hệ Việt Nam – Đài Loan đã trải qua nhiều thăng trầm, thậm chí có những thời điểm, phía Đài Loan đã đóng cửa việc tiếp nhận lao động Việt Nam đối với một số ngành nghề Trong khi đó, nước bạn vẫn tiếp tục mở rộng cơ hội việc làm cho lao động của nhiều quốc gia khác như Philippin hay Indonesia,… Vậy thì xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan có những điểm mạnh, điểm yếu gì? Những cơ hội và thách thức đối với hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan và những giải pháp nhằm giữ vững và mở rộng thị trường đầy tiềm năng này? Đó là một số vấn đề cần phải được nghiên cứu làm rõ và cũng là lý do để tác giả lựa

chọn đề tài: “Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình

Trang 13

3

2 Tình hình nghiên cứu

Thực tế đã có một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực xuất khẩu lao động đã được công bố, như:

- Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường EU, Luận văn Thạc sỹ

kinh tế - Trần Xuân Thọ, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009: luận văn đã hệ thống hóa những cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động; đưa ra cái nhìn tổng quan về thị trường lao động EU; quan hệ Việt Nam – EU; và đặc biệt nghiên cứu chủ yếu về thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường EU Trong đó có những nghiên cứu chi tiết về khu vực Trung và Đông

Âu (với các quốc gia như Séc, Slovakia, Bungaria, Rumania, Đức, Ba Lan, Litva

và các nước vùng Bantic) cũng như các nước Tây, Nam và Bắc Âu (Phần Lan, Italia, vương quốc Anh, Pháp, Bỉ, Thụy Điển, Bồ Đào Nha,…) Đóng góp mới của luận văn là đã đưa ra những dự báo về đặc điểm và xu hướng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường EU trong thời gian tới cũng như một số giải pháp có tính khả thi cao

- Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Trung Đông, Luận án

Tiến sỹ kinh tế - Trần Thị Ái Đức, Học viện chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2011: luận án đã hệ thống hóa những cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động; tìm hiểu về cung – cầu lao động và các quy định lao động ở trị trường Trung Đông, trong đó tập trung vào Cộng đồng các nước vùng Vịnh (GCC) Dựa trên việc tìm hiểu kinh nghiệm xuất khẩu lao động của một số nước trong khu vực châu Á cũng như nghiên cứu thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Trung Đông, tác giả đã có những đánh giá về thành tựu, hạn chế, chỉ ra nguyên nhân của hạn chế và phát hiện những vấn đề cấp thiết trong hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường này trong thời

Trang 14

4

gian qua Qua đó, tác giả đã đưa ra dự báo và giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Trung Đông trong thời gian tới

- Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trong thế kỷ 21,

Luận văn Thạc sỹ thương mại – Vũ Thị Quỳnh Vân, Đại học Ngoại Thương, 2011: luận văn đã hệ thống hóa những cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động; phân tích một số đặc điểm về bối cảnh kinh tế toàn cầu và Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21 tác động tới hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam Tác giả đặc biệt tập trung vào phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam tại một số thị trường trọng điểm trong thời gian qua, từ đó đánh giá các kết quả đạt được cũng như các hạn chế còn tồn tại Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trong những năm đầu của thế kỷ 21

- A Brief Overview of Theories of International Migration – GLOPP,

2007: một nghiên cứu của GLOPP (Toàn cầu hóa và Tùy chọn sinh kế của những người sống trong nghèo đói) về di dân, nghiên cứu này đưa ra cái nhìn tổng quan về các lý thuyết di dân như lý thuyết di dân cổ điển (xem xét di dân là kết quả của sự khác biệt về tiền lương, điều kiện làm việc,…giữa các quốc gia),

lý thuyết hệ thống thế giới (coi di dân như là một hệ quả tất yếu của toàn cầu hóa kinh tế), mô hình lực kéo – lực đẩy, mô hình ra quyết định,…

- Migration and Remittances – World Bank, 2012: báo cáo của Ngân hàng Thế giới về Di cư và Kiều hối năm 2011 Trong báo cáo này, Ngân hàng Thế giới đã đưa ra các con số thống kê về lượng kiều hối được chuyển vào các nước đang phát triển trong năm 2011; danh sách 10 quốc gia nhận kiều hối lớn nhất thế giới; dự báo về lượng kiều hối trong năm tới; đưa ra các lợi ích của di cư

Trang 15

tế khu vực châu Á của ILO - Tổ chức Lao động Quốc tế) Tác phẩm này nghiên cứu những chính sách xuất khẩu lao động của Chính phủ Việt Nam, thực trạng của hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam tại một số thị trường trọng điểm, mức lương tại các thị trường, các minh chứng về vấn đề ngược đãi lao động, tình trạng lao động bỏ trốn và các bất cập của doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam, Tác giả đưa ra quan điểm cốt lõi để nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam là Chính phủ cần thực sự chú trọng nâng cao chất lượng nguồn lao động

Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu, bài báo bàn về các vấn đề liên quan đến xuất khẩu lao động khác Những nghiên cứu này có các cách tiếp cận khác nhau về lĩnh vực xuất khẩu lao động cũng như các thị trường xuất khẩu lao động khác nhau, trong đó thị trường Đài Loan cũng đã được một số tác giả tìm hiểu Tuy nhiên, một nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan trên góc độ đánh giá điểm mạnh, điểm yếu nội tại

và từ cơ sở đó phân tích thách thức và cơ hội thì vẫn chưa có công trình nào

được công bố chính thức Do vậy đề tài “Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan” sử dụng mô hình SWOT để phân tích là một đề

tài mới, chưa có những nghiên cứu hệ thống tại Việt Nam Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã kết hợp việc kế thừa và chọn lọc những thành tựu các nghiên cứu đã có (đặc biệt là cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu lao động) với

Trang 16

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan

- Nghiên cứu thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan

- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang Đài Loan

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Tập trung vào hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan trong giai đoạn 2005 – 2012

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 17

7

- Phương pháp duy vật biện chứng được sử dụng nhằm chỉ ra mối liên hệ giữa hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam và quan hệ giữa hai quốc gia, đồng thời chỉ ra mối liên hệ giữa hoạt động xuất khẩu lao động với các yếu tố khác liên quan

- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp được áp dụng trong việc tập hợp, phân tích số liệu và thông tin nhằm thu được những dữ liệu cần thiết, phục

vụ cho luận văn; cùng với đó là sự tham khảo có chọn lọc từ những kết quả nghiên cứu trước đó nhằm đưa ra những phân tích xác thực cũng như kiến nghị các giải pháp hợp lý

- Trong luận văn có sử dụng phương pháp phân tích SWOT

Theo đó, hai nhân tố đầu tiên của mô hình là “điểm mạnh” và “điểm yếu” được sử dụng để phân tích vị thế hiện tại; sau đó, dựa vào hai nhân tố “cơ hội”

và “thách thức” để xác định triển vọng của hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan Cuối cùng, thông qua việc phân tích tổng

hợp cả bốn nhân tố của mô hình SWOT để đề xuất những giải pháp hợp lý nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan trong thời gian tới

6 N hững đóng góp mới của luận văn

- Làm rõ thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan, đặc biệt trong giai đoạn 2006 – 2012

- Chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, đồng thời phân tích cơ hội và thách thức của hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang Đài Loan

- Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan trong thời gian tới

Trang 18

8

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Mục lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động xuất khẩu lao động

của Việt Nam sang thị trường Đài Loan

Chương 2 Phân tích thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị

trường Đài Loan

Chương 3 Triển vọng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao động

của Việt Nam sang thị trường Đài Loan

Trang 19

1.1.1 Những khái niệm cơ bản liên quan đến xuất khẩu lao động

Trước đây, do yêu cầu của cuộc sống, công việc hoặc do hoàn cảnh khách quan (chiến tranh, thiên tai,…), tại nhiều nơi đã có hiện tượng di dân từ quốc gia này sang quốc gia khác, kéo theo đó là hiện tượng di chuyển việc làm Nhưng

những hiện tượng đó đơn thuần là tự phát Chỉ đến khi sự phát triển kinh tế trên phạm vi toàn cầu có những chuyển biến không đồng đều về chất giữa các quốc gia, dẫn đến sự chênh lệch về thu nhập, mức sống và xuất hiện hiện tượng dư thừa lao động tại một số quốc gia, thì lúc đó việc đưa người lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác làm việc mới được tiến hành một cách chủ động và bài bản Do đó, khi nghiên cứu về vấn đề xuất khẩu lao động, trước hết cần tìm hiểu

và làm rõ một số khái niệm có liên quan như sau:

1.1.1.1 Sức lao động

Sức lao động là một khái niệm trọng yếu trong kinh tế chính trị Mác-xít Mác định nghĩa sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó Sức lao động là khả năng lao động của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất

và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội Nhưng sức lao động mới

Trang 20

Như vậy, thực chất lao động là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế

1.1.1.3 Di chuyển quốc tế sức lao động

Di chuyển quốc tế sức lao động là thuật ngữ để chỉ hiện tượng người lao

động ra nước ngoài nhằm tìm kiếm việc làm, nói cách khác họ di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia và bán sức lao động của mình để kiếm sống

Người lao động khi đó được gọi là người xuất cư, còn sức lao động của người đó được coi là sức lao động xuất khẩu, quốc gia có người xuất cư là nước xuất khẩu lao động

Khi người lao động đến một nước khác hay là nước nhập khẩu lao động,

họ được gọi là người nhập cư, và sức lao động của họ khi đó gọi là sức lao động nhập khẩu

1.1.1.4 Xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động là sự di chuyển quốc tế sức lao động một cách có chủ

đích dưới sự cho phép của pháp luật

Trang 21

11

Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế - xã hội đặc thù, thuộc lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế của một quốc gia nhằm thực hiện việc cung ứng hàng hóa sức lao động cho nhu cầu sử dụng ở nước ngoài theo các hình thức do nhà nước quy định Đây là một hình thức giao dịch hàng hóa sức lao động trên thị trường lao động quốc tế, tuân theo những quy luật của cung - cầu lao động trên thị trường, trong đó người chủ bán hàng hóa sức lao động cho người sử dụng ở nước ngoài thông qua các tổ chức trung gian của nhà nước hoặc tư nhân

1.1.2 Nguyên nhâ n dẫn đến xuất khẩu lao động

1.1.2.1 Sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia

Đây là một trong những nguyên nhân khách quan cơ bản của hoạt động xuất khẩu lao động Sự chênh lệch này đã phân chia thế giới thành nhóm nước đã phát triển và nhóm nước đang phát triển với sự chênh lệch ngày càng tăng về mức sống

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, các nước phát triển đã có những cải tiến vượt bậc trong các lĩnh vực cơ khí hóa và tự động hóa Quá trình tái cơ cấu nền kinh tế được đẩy nhanh, nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả của nền kinh tế, dẫn đến hiện tượng, ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, đôi khi chính lực lượng lao động của nước đó cũng không đáp ứng được mà phải sử dụng lao động từ nước ngoài Thêm vào đó, tại các nước phát triển, mức sống của người dân rất cao, phúc lợi xã hội tốt và được phân bổ đồng đều; hơn nữa, trình độ nguồn nhân lực xét trên bình diện chung đều ở ngưỡng cao cấp, dẫn đến người dân tại các quốc gia này có tâm lý hưởng thụ và không muốn làm một số công việc, trong đó chủ yếu là lao động chân tay, lao động giản đơn và những công việc có tính chất độc hại Trái ngược lại, ở các nước đang phát triển nhưng đông dân, có mức tiền công lao động thấp, lại thường xuyên xảy ra tình trạng dư thừa

Trang 22

12

lao động do nền kinh tế yếu kém không tạo đù công ăn việc làm, tất yếu nảy sinh nhu cầu cung ứng lao động cho những nơi đang thiếu nhân lực và có mức tiền công cao hơn Cung và cầu lao động gặp nhau trên cơ sở đó đã trở thành một trong những nguyên nhân chính xuất hiện hiện tượng di chuyển quốc tế sức lao động

1.1.2.2 Sự tăng thu nhập và nâng cao trình độ chuyên môn cho người

đi lao động nước ngoài

Sự tăng thu nhập được đề cập ở đây xét trên phương diện vi mô là cho bản thân người lao động cũng như các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xuất khẩu lao động; còn xét trên phương diện vĩ mô thì nó làm tăng thu ngoại tệ và tăng thu ngân sách cho nhà nước Người lao động dưới động cơ về thu nhập sẽ tìm kiếm việc làm ở nơi có thu nhập cao hơn, ở đây là các nước nhập khẩu lao động có kinh tế phát triển hơn Việt Nam Còn doanh nghiệp dưới động cơ về lợi nhuận sẽ giúp đỡ người lao động trong việc tìm kiếm chủ lao động có nhu cầu, kí kết hợp đồng, và hoàn thiện các thủ tục pháp lý đưa người lao động đi

Ngoài những ý nghĩa về mặt kinh tế thì thực hiện tốt công tác xuất khẩu lao động sẽ giảm được tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây ra, tạo một hướng đi tích cực cho người lao động, học tập được tác phong làm việc chuyên nghiệp từ các nước có nền sản xuất phát triển hơn chúng ta

1.1.2.3 Sự biến động về nhu cầu sức lao động

Những biến động về nhu cầu sức lao động là nguyên nhân khách quan gây nên xuất khẩu lao động Trên cơ sở tìm hiểu các hiện tượng di dân quốc tế, nhiều

lý thuyết về di dân đã được khái quát, trong đó đáng kể nhất là lý thuyết “lực đẩy – lực hút” do Ravenstein là người đầu tiên đưa ra khi phân tích các dòng di dân chạy từ Ailen sang Anh hồi đầu thế kỷ XIX [41] Ông đã khái quát các yếu tố tại

Trang 23

13

nước xuất cư như thất nghiệp, nghèo đói, điều kiện làm việc không đảm bảo,… gọi là yếu tố lực đẩy và các yếu tố tại nước nhập cư như cơ hội việc làm, thu nhập cao, khả năng thăng tiến,… gọi là yếu tố lực hút Từ đó ông đưa ra lý thuyết di chuyển sức lao động quốc tế “lực đẩy – lực hút” và cho rằng chính các yếu tố lực hút là nguyên nhân quan trọng quyết định việc di cư của người lao động từ Ailen sang Anh làm việc Điều này đến nay vẫn còn nguyên giá trị khi xem xét các nguyên nhân của xuất khẩu lao động trong điều kiện hội nhập kinh

tế, khi mà nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài, thu nhập, điều kiện sống và làm việc tại nước nhập khẩu lao động là yếu tố lực hút, là điều kiện quyết định đến việc xuất cư của người lao động

1.1.2.4 Sự chênh lệch về mức tăng dân số tự nhiên

Trên thế giới, sự phân hóa trong mức tăng dân số tự nhiên ngày càng gia tăng giữa nhóm các nước phát triển, đang phát triển và chậm phát triển Tại các nước phát triển, mức gia tăng dân số chỉ dừng lại ở ngưỡng dưới 1%/năm, cá biệt một số nước còn có tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên bằng 0 hoặc âm, như một số quốc gia ở Bắc Âu (Thụy Điển, Phần Lan,…) Trong khi đó, tại các quốc gia đang phát triển, tỉ lệ này thường được duy trì ở mức từ 1% đến 2% và tại các nước kém phát triển là trên 2% [40]

Ví dụ tại Italia, dân số Italia dự kiến giảm từ 57 triệu người xuống còn 54 triệu người năm 2020, trong khi đó, tại Phillipin và Việt Nam, dân số dự kiến tăng gần gấp đôi, từ 62 triệu người năm 1987 lên 115 triệu người tại Phillipin và

121 triệu người tại Việt Nam năm 2020 (bảng 1.1)

Bên cạnh sự chênh lệch trong tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên là hiện tượng già hóa dân số tại các nước phát triển, dẫn tới sự chênh lệch trong lực lượng dân

số trong độ tuổi lao động tại các nhóm nước kể trên, do vậy đã tạo ra sự chênh

Trang 24

14

lệch trong cung cầu lao động tại các nhóm nước Cụ thể, tại các nước phát triển xuất hiện tình trạng khan hiếm lao động (dư cầu lao động), trong khi tại các nước đang và chậm phát triển lại xảy ra tình trạng dư thừa lao động, thiếu việc làm (dư cung lao động), thúc đẩy sự di chuyển quốc tế sức lao động từ các nước đang và chậm phát triển sang các nước phát triển hơn

Bảng 1.1: Sự thay đổi dân số của một số quốc gia

Quốc gia Dân số năm 1987

Nguồn: Thomas W Merrick (2001) - “ World population in transition”

1.1.3 Các nhân tố tác động tới xuất khẩu lao động

1.1.3.1 Quan hệ cung – cầu về lao động trên thị trường lao động quốc

tế

Cũng giống như mọi hoạt động kinh tế khác, xuất khẩu lao động cũng bị chi phối bởi quan hệ cung - cầu trên thị trường

Trang 25

Ban đầu, khi chưa có xuất khẩu lao động:

Đường cung - cầu lao động ở hai quốc gia 1 và quốc gia 2 lần lượt là (S1, D1) và (S2, D2) Mức lương tương ứng là W1 và W2 (W1>W2)

Khi có hiện tượng xuất khẩu lao động:

Sự di chuyển lao động giữa hai quốc gia (từ quốc gia 2 sang quốc gia 1, do

có sự chênh lệch về mức lương) khiến cho tại quốc gia 1, đường cung lao động dịch chuyển sang phải từ S1 sang S1’, và tại quốc gia 2, đường cung lao động dịch chuyển sang trái, từ S2 sang S2’ Khi đó, mức lương ở cả hai nước cân bằng tại WE

Hình 1.1: Cung – cầu lao động tại hai quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu lao động

Như vậy, không chỉ cung - cầu lao động ở từng nước mà chính tương quan trong cung - cầu lao động giữa hai nước đã tác động trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu lao động Mở rộng hơn, ta thấy chính cung - cầu lao động thế giới tác động tới hoạt động xuất khẩu lao động Khi cầu lao động mở rộng sẽ làm gia tăng

L1’ L1

Trang 26

Hiện tại trên thế giới có hơn một trăm quốc gia có lao động xuất khẩu, trong đó ở khu vực châu Á có những quốc gia xuất khẩu lao động lớn như Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam, và dẫn đầu là Phillippines Việc cạnh tranh trong xuất khẩu lao động là hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan, khi mà lượng cung dư thừa quá nhiều và sức hút từ khoản thu nhập cao ở các quốc gia xuất khẩu lao động quá lớn Đặc biệt khi áp lực thất nghiệp tại các quốc gia xuất khẩu lao động không ngừng gia tăng

Một quốc gia khi tham gia vào hoạt động đưa lao động đi xuất khẩu sẽ phải chịu áp lực cạnh tranh từ các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới Khi càng có nhiều nước tham gia xuất khẩu lao động trên một thị trường thì mức

độ cạnh tranh càng cao, cơ hội đưa lao động tới thị trường đó càng thấp và ngược lại Bên cạnh đó, trên một thị trường càng tập trung nhiều quốc gia xuất khẩu lao động lớn và lâu năm thì áp lực cạnh tranh sẽ càng gia tăng, nhất là đối với những nước mới tham gia thị trường

Trang 27

17

1.1.3.3 Chất lượng nguồn lao động xuất khẩu

Như đã trình bày ở trên, mức độ cạnh tranh giữa các quốc gia xuất khẩu lao động là rất lớn và tác động trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu lao động của các quốc gia Nhưng nhân tố chính tạo nên mức độ cạnh tranh giữa các nguồn lao động lại nằm ở chất lượng lao động Khi mà mức lương, thủ tục xuất, nhập lao động đang dần đi tới sự chuẩn hóa thì nhân tố quyết định chủ yếu còn lại là chất lượng của nguồn lao động Chất lượng được đánh giá thông qua những tiêu chí

cơ bản như: sức khỏe, khả năng ngoại ngữ (khả năng sử dụng ngôn ngữ của quốc gia nhập khẩu lao động), kỹ năng hay tay nghề trong công việc, khả năng học hỏi

và thích nghi với môi trường làm việc mới, thái độ và kỷ luật khi làm việc cũng như trong cuộc sống,… Chất lượng nguồn lao động ở một nước được đánh giá tốt đồng nghĩa với việc cơ hội và số lượng lao động của nước đó được xuất khẩu

sẽ cao và ngược lại, một nước sẽ khó có thể đưa lao động đi xuất khẩu nếu chất lượng nguồn lao động tại nước đó bị đánh giá thấp

1.1.3.4 Thể chế, luật pháp và định hướng của quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu lao động

Thể chế, luật pháp của các quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu lao động cũng

có tác động trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu lao động Nếu giữa hai quốc gia có chung các cam kết, đồng thời có các văn bản pháp luật quy định về việc cho phép thực hiện hoạt động xuất khẩu lao động, thì hoạt động này mới có thể diễn

ra Bên cạnh đó, thông qua các hiệp định chung được ký kết, sẽ tạo ra hành lang pháp lý cho việc mở rộng hoạt động trao đổi lao động giữa hai nước Đặc biệt, nếu có sự đồng nhất trong thể chế và hệ thống pháp luật giữa hai quốc gia thì hoạt động xuất khẩu lao động sẽ diễn ra dễ dàng hơn, và người lao động cũng sẽ

Trang 28

18

Quốc gia 1

Quốc gia 2 VMPL1

có nhiều thị trường xuất khẩu lao động bị thu hẹp, nguyên nhân lớn nhất xuất phát từ sự bảo hộ việc làm trong nước của các quốc gia này Hay khi nước tiếp nhận lao động nhận định hoạt động này có thể làm ảnh hưởng không tốt tới tình hình chính trị, xã hội chung thì cũng sẽ có tác động nhằm giảm lượng lao động nhập khẩu vào quốc gia mình Ngược lại, nếu trong kế hoạch phát triển quốc gia khuyến khích tiếp nhận lao động nước ngoài, thì sẽ có tác động kích thích cho hoạt động này và mở rộng cơ hội đối với các thị trường xuất khẩu lao động có liên quan

1.1.4 Hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động xuất khẩu lao động

Để đo lường hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu lao động, ta xem xét hình 1.3 sau đây:

Nguồn: Dominick Salvatore (2003) - International Economics Hình 1.2 : Hiệu quả kinh tế của xuất khẩu lao động

Trang 29

19

Trong hình 1.3, đường OA và O’A lần lượt là đường cung lao động của hai quốc gia 1 và 2 Đường VMPL1 và VMPL2 lần lượt thể hiện giá trị sản phẩm biên của lao động tại hai quốc gia 1 và 2 (trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, đường VMPL chính là đường thể hiện mức lương thực tế của lao động)

Trước khi có xuất khẩu lao động, ở quốc gia 1: mức lương là OC và tổng sản phẩm là OFGA Ở quốc gia 2: mức lương là O’H và tổng sản phẩm là O’JMA Nếu ta giả sử người lao động có thể di chuyển tự do giữa hai nước, khi

đó, theo những học thuyết đã nêu ở mục 1.1.2 ở trên về nguyên nhân dẫn đến hiện tượng di chuyển quốc tế sức lao động, người lao động sẽ có xu hướng đi chuyển từ quốc gia có mức lương thấp tới quốc gia có mức lương cao hơn, tức là lao động tại quốc gia 1 sẽ dịch chuyển sang quốc gia 2 cho tới khi sự chênh lệch tiền lương giữa hai quốc gia biến mất Nói cách khác, mức lương ở quốc gia 1 tăng dần và mức lương ở quốc gia 2 giảm dần, cho tới khi lương ở hai quốc gia cân bằng tại mức BE (= ON = O’T) Tại thời điểm cân bằng, số lượng lao động

di cư từ quốc gia 1 sang quốc gia 2 là AB, mức lương tại cả hai quốc gia là BE

Sau khi có hiện tượng di chuyển lao động, ở quốc gia 1, tổng sản phẩm giảm từ OFGA xuống còn OFBE, ngược lại, tại quốc gia 2, tổng sản phẩm tăng

từ O’JMA lên O’JEB và tổng sản phẩm thế giới tăng lên một khoảng bằng EGM Ngoài ra, nếu giả sử ban đầu ở quốc gia 1, AB là lao động thất nghiệp trước khi tham gia xuất khẩu lao động, thì mức tăng trong tổng sản phẩm thế giới sau khi

có hoạt động xuất khẩu lao động còn lớn hơn (bằng ABEM) Như vậy, hiện tượng xuất khẩu lao động không chỉ có tác động phân phối lại thu nhập quốc tế

mà còn làm tăng tổng sản phẩm quốc tế, kích cầu và thúc đẩy sự phát triển kinh

tế quốc tế

Trang 30

20

Nếu chỉ xét riêng quốc gia xuất khẩu lao động thì cũng có thể thấy những lợi ích thu được từ hoạt động xuất khẩu lao động như sau:

1.1.4.1 Tạo việc làm cho người lao động

Như đã biết, hầu hết những nước xuất khẩu lao động là nước đang phát triển và chậm phát triển, những quốc gia này có tỉ lệ tăng dân số cao, tỉ lệ lao động dư thừa lớn, dẫn tới áp lực rất lớn về vấn đề việc làm Việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu lao động được coi là một trong những giải pháp tối ưu để giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động, giảm tỉ lệ thất nghiệp và cải thiện thu nhập Không những thế, ngoài việc mang lại lợi ích kinh tế to lớn, xuất khẩu lao động còn có ý nghĩa an sinh xã hội rất quan trọng Bởi nó góp phần làm giảm số lượng người lao động nhàn rỗi, tránh được nguy cơ gia tăng các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp, cướp giật,…

1.1.4.2 Tăng thu nhập cá nhân và tích lũy cho đất nước

Trước hết, nó góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Đối với một nước hơn 80 triệu dân, với trên một nửa là số người trong độ tuổi lao động, nhưng số người thất nghiệp ở thành thị lên đến 5,6% và số thời gian chưa được sử dụng ở nông thôn lên đến trên 20%, thì xuất khẩu lao động là một kênh giải quyết việc làm cho người lao động rất có ý nghĩa Trong mấy năm gần đây, số lao động đi xuất khẩu của nước ta mỗi năm đã lên đến trên dưới 80 nghìn người và đến nay đã có khoảng 500 nghìn người Việt Nam đang làm việc

ở khoảng trên 40 nước và vùng lãnh thổ [31] Điều đó đồng nghĩa với việc từng

đó con người đang tạo ra thu nhập cho bản thân họ, gia đình họ, ngoài ra các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xuất khẩu lao động cũng nhờ vào lượng lao động xuất đi mỗi năm ngày một tăng mà có thêm lợi nhuận, tạo việc làm và thu nhập cho không ít cán bộ công nhân viên làm việc trong doanh nghiệp

Trang 31

21

1.1.4.3 Góp phần tăng thu nhập quốc dân

Bên cạnh đó có thể nói, xuất khẩu lao động giữ một vị trí rất quan trọng trong chương trình việc làm quốc gia, nếu không nói là chủ yếu trong chiến lược giải quyết việc làm, đây là một công cụ hữu hiệu để thực hiện mục tiêu của Đảng

và Nhà nước ta đặt ra trong công cuộc xóa đói giảm nghèo Xuất khẩu lao động

đã đem lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế do vậy rút ngắn khoảng cách giàu- nghèo giữa nước phát triển

và nước đang phát triển Theo ước tính, tại Việt Nam, năm 2012 lực lượng lao động ngoài nước đã gửi về cho gia đình khoảng 2 tỷ USD, số kiều hối này chiếm khoảng 1,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (bảng 2.7)

1.1.4.4 Nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động

Nước ta về cơ bản vẫn là một quốc gia thiên về sản xuất nông nghiệp và đang trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, trong khi tại các nước phát triển, cuộc cách mạng công nghiệp đã diễn ra và thành công từ hàng thế kỷ nay Do đó chúng ta thua kém họ về phương thức sản xuất, quản lý,…là điều tất yếu Ngoài những lợi ích về mặt kinh tế khi gửi lao động đi xuất khẩu, thì một yếu tố rất quan trọng khác mà các nhà làm chính sách kỳ vọng, đó chính là có thể nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động, cải thiện tác phong làm việc, học hỏi phương thức quản lý tư bản vốn rất khoa học, chuyên nghiệp và có hiệu quả cao Sau khi kết thúc hợp đồng tại nước ngoài, những lao động đó về nước sẽ mang theo những giá trị vô hình (tác phong, thói quen, nguyên tắc,…của một người lao động công nghiệp) đã tiếp thu được trong thời gian làm việc tại nước bạn Điều này vừa có lợi cho bản thân người lao động nói riêng sau khi về Việt Nam, vì họ

có kỹ năng tốt hơn khi so sánh với những lao động trong nước, giúp họ tìm được công việc tốt hơn; lại vừa có lợi cho thị trường lao động nói chung, vì tạo ra

Trang 32

22

được sự cạnh tranh và động lực để các lao động khác cùng phát triển; đồng thời mang đến môi trường nơi họ làm việc những giá trị tốt để các đồng nghiệp học tập Dần dần, sức lan tỏa của lợi ích này sẽ giúp nâng cao phẩm chất của thị trường lao động Việt Nam

1.2 C Ơ SỞ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM SANG ĐÀI LOAN

1.2.1 Tổng quan về Đài Loan

1.2.1.1 Địa lý tự nhiên và dân cư

Đài Loan là tên gọi của một quần đảo tại Đông Á, bao gồm đảo Đài Loan

và một số đảo nhỏ hơn xung quanh như quần đảo Bành Hồ, Lan Tự, Lục Đảo, và Tiểu Lưu Cầu Hòn đảo chính nằm cách bờ biển đông nam Trung Quốc đại lục qua eo biển Đài Loan khoảng 180 kilômét và được ngăn cách với tỉnh Phúc Kiến của Trung Quốc Đài Loan có biển Hoa Đông nằm ở phía bắc, biển Philippin nằm ở phía đông, eo biển Luzon nằm thẳng hướng nam và biển Đông nằm ở phía tây nam [35]

Đài Loan có diện tích 35.883 km2 Hòn đảo có sự tương phản, hai phần ba lãnh thổ ở phía đông chủ yếu là vùng núi non hiểm trở thuộc năm dãy núi chạy

từ phía bắc đến mũi phía nam của đảo, trong khi phía Tây là các đồng bằng từ bằng phẳng đến lượn sóng thoai thoải - nơi sinh sống của hầu hết dân cư Đài Loan Đỉnh núi cao nhất Đài Loan là Ngọc Sơn với cao độ 3.952 mét, và có năm đỉnh núi khác cao trên 3500 mét Điều này đã khiến cho Đài Loan trở thành đảo cao thứ tư thế giới [35]

Khí hậu trên đảo nói chung là khí hậu nhiệt đới đại dương và biến đổi nhiều theo mùa ở phần phía bắc và các vùng đồi núi Khí hậu có 4 mùa, mùa xuân từ tháng 3 đến tháng 4, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9, mùa thu từ tháng 10

Trang 33

23

đến tháng 11, mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2 Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng từ 25 độ C đến 28 độ C Phía Bắc Đài Loan thường có mưa lớn từ cuối tháng 10 tới tháng 3 Phía Nam khí hậu nóng hơn phía Bắc, mùa hè thường có gió mùa Tây Nam kèm theo mưa Vào các tháng 7,8 và 9 ở Đài Loan thường có bão

Dân số Đài Loan tính đến đến năm 2012 vào khoảng 25 triệu người, hầu hết trong số đó cư trú tại đảo Đài Loan, trong đó có khoảng 98% là người Hán Thủ phủ của Đài Loan là Đài Bắc, cũng nơi có mật độ dân số cao nhất, tiếp đó là Cao Hùng Khoảng 59% dân số Đài Loan tập trung ở 4 thành phố lớn là Đài Bắc, Đài Trung, Cao Hùng và Đài Nam [35]

Tiếng Phổ thông chuẩn (hay còn gọi là tiếng Quan thoại) được công nhận

là ngôn ngữ chính thức của Đài Loan, ngôn ngữ này được đại đa số dân chúng sử dụng, là ngôn ngữ chủ yếu giảng dạy trong trường học Chữ viết là chữ Hán dạng phồn thể Ngoài ra, tiếng Anh cũng đang dần trở nên khá phổ biến ở Đài Loan

Người Đài Loan hết sức coi trọng giáo dục, vì nền kinh tế tri thức của

vùng lãnh thổ này đòi hỏi con người phải có kiến thức và kỹ năng tay nghề cao Việc học là bắt buộc, miễn phí trong 9 năm (tới 15 tuổi) và đang được dự định tăng lên 12 năm [38]

Đài Loan có vị trí địa lý khá gần Việt Nam Từ Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh đi Đài Loan chỉ mất khoảng 3 - 4h bay Do đó thời tiết, khí hậu cũng khá gần với thời tiết, khí hậu của miền Bắc Việt Nam Về phong tục, tập quán, sinh hoạt của người Đài Loan cũng có những nét tương đồng với Việt Nam, đều mang sắc thái của nền văn hoá Á Đông

Trang 34

Ngày nay, nền kinh tế Đài Loan khá năng động và được coi là một trong bốn con Rồng của châu Á, cùng với Hàn Quốc, Hồng Kông và Singapore Trong những năm gần đây, nền kinh tế Đài Loan luôn tăng trưởng ở mức khá với tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp ở mức thấp [38] Theo bảng 1.2, trong ba năm từ 2010 đến 2012, chỉ riêng năm 2010 là thời điểm Đài Loan bắt đầu vươn lên từ khủng hoảng nên tăng trưởng GDP chỉ đạt 1,9%; còn trong hai năm còn lại thì tăng trưởng GDP đều ở mức cao, lần lượt là 10,9% và 5,2% Không những có tốc độ tăng trưởng ấn tượng, mà Đài Loan còn giữ được tỉ lệ lạm phát ở mức rất thấp, trong ba năm gần đây tỉ lệ này luôn không vượt quá 2%

Đồng tiền chính thức của Đài Loan là Tân Đài tệ hay Đài tệ (NT$), gồm

có tiền giấy và tiền kim loại Hiện nay, tỷ giá quy đổi giữa Đài tệ và Việt Nam đồng: 1NT$ = 704 VND (số liệu tháng 7/2013) [31]

Trang 35

phẩm, phương tiện giao thông, hàng tiêu dùng, dược phẩm

chính

Trung Quốc + Hồng Công (40,2%), Hoa Kỳ (11,8%), Nhật Bản (5,9%),

Các đối tác nhập khẩu

chính

Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)

Trang 36

26

1.2.1.3 Văn hóa

Văn hóa Đài Loan là một sự pha trộn của nhiều dòng khác nhau, kết hợp chặt chẽ với các yếu tố của văn hóa cổ truyền Trung Hoa, vốn là nguồn gốc lịch

sử và dân tộc của đa số cư dân hiện nay, văn hóa Nhật Bản, tín ngưỡng Khổng

Tử và các sắc màu đến từ Phương Tây

Phong tục tập quán của người Đài Loan rất gần gũi với phong tục tâp quán của người Việt Nam, thời gian tính theo cả dương lịch và âm lịch, phong tục cúng lễ, đốt hương và vàng mã vào ngày rằm, mùng 1, ngày giỗ thờ cúng tổ tiên Trong một gia đình thường sống chung các thế hệ ông bà, cha mẹ và con cháu

Hàng năm có nhiều lễ hội như:

- Lễ hội mùa xuân, tết cổ truyền dân tộc

- Lễ Tảo mộ 05/04 (lễ Thanh minh theo lịch âm)

- Tết Đoan ngọ 05/05 âm lịch (còn gọi là hội thuyền rồng)

- Rằm Trung thu 15/08 âm lịch

- Ngày lễ Quang phục 25/10 chỉ có ở Đài Loan

1.2.2 Nhu cầu nhập khẩu lao động của Đài Loan

1.2.2.1 Chính sách nhập khẩu lao động của Đài Loan

Với tốc độ phát triển thần tốc, Đài Loan nhanh chóng có một nền kinh tế lớn mạnh với trình độ khoa học kỹ thuật, các phương thức sản xuất hiện đại không thua gì các nước tiên tiến trên thế giới Trong bối cảnh nền sản xuất, thương mại, dịch vụ đều tăng trưởng với tốc độ cao, đồng thời dân số lại quá ít,

và trình độ của lực lượng lao động ngày càng tăng; nền kinh tế Đài Loan trở nên thiếu hụt lao động rất lớn, đặc biệt trong các lĩnh vực nông, ngư nghiệp, công xưởng sản xuất (điện tử, cơ khí, dệt may,…), xây dựng và giúp việc tại các cơ sở điều dưỡng, gia đình

Trang 37

27

Trước thực trạng đó, chính quyền Đài Loan đã nhanh chóng ban hành và hoàn thiện chính sách nhập khẩu lao động để đáp ứng kịp thời nhu cầu việc làm đang gia tăng Một số nội dung đáng chú ý như sau [35]:

a Đài Loan nhận lao động nước ngoài vào làm việc theo các phương thức:

- Thông qua các công ty môi giới lao động của Đài Loan

- Thông qua Trung tâm tuyển mộ trực tiếp trực thuộc Ủy ban lao động, Viện hành chính Đài Loan

- Chủ sử dụng lao động Đài Loan tuyển dụng trực tiếp lao động từ nước ngoài

Cho đến nay, phương thức tuyển lao động nước ngoài thông qua công ty môi giới Đài Loan đang là phương thức phổ biến nhất

b Hệ thống quản lý lao động tại Đài Loan được thành lập từ Trung ương tới các địa phương

Ủy ban lao động Đài Loan thuộc Viện hành chính là cơ quan chịu trách nhiệm về lao động nước ngoài làm việc tại lãnh thổ, cơ quan này hoạch định mọi chính sách liên quan đến tiếp nhận và quản lý lao động nước ngoài vào làm việc tại Đài Loan Ủy ban lao động trực tiếp cấp phép cho chủ sử dụng tuyển dụng lao động nước ngoài, sau khi người lao động nhập cảnh, cơ quan này lại cấp phép làm việc cho từng lao động nước ngoài Vì vậy, việc theo dõi thời gian nhập cảnh, thời gian làm việc, thời gian xuất cảnh và các tư liệu khác của lao động nước ngoài tại Đài Loan được cập nhật đầy đủ và chính xác

Tại các địa phương, Cục lao động là đơn vị được giao nhiệm vụ quản lý, thực hiện các chính sách của Đài Loan đối với lao động nước ngoài làm việc trên địa bàn Để thực hiện nhiệm vụ này, Cục lao động các địa phương tổ chức các

Trang 38

c Các quy định đối với lao động nước ngoài

Lao động nước ngoài làm việc tại Đài Loan được điều chỉnh bởi một hệ thống luật pháp tương đối đầy đủ và thống nhất Một số điểm cần lưu ý bao gồm các nội dung sau [34]:

 Thời hạn hợp đồng:

Theo điều 43, Luật Dịch Vụ việc làm, người lao động được tuyển dụng làm công việc trong thời gian tối đa là 9 năm (03 hợp đồng) Tuy nhiên, sau khi hoàn thành mỗi hợp đồng 03 năm, người lao động bắt buộc phải xuất cảnh khỏi Đài Loan và phải được Văn phòng đại diện của Đài Loan ở nước ngoài cấp thị thực thì mới đủ điều kiện trở lại thực hiện hợp đồng đã ký với chủ sử dụng

 Tiền lương:

Tiền lương cơ bản cho mỗi lao động đã được điều chỉnh nhiều lần, hiện nay là 17.280 NT$/tháng (khoảng 600 USD), nếu cộng thêm tiền làm thêm giờ mức lương bình quân là 20.000 NT$/tháng Đương nhiên lương cơ bản của người lao động nước ngoài và người lao động bản địa là không giống nhau và cũng khác nhau khi làm ở các lĩnh vực khác nhau Mức lương này có thể được điều chỉnh tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế

Trang 39

29

 Chi phí ăn, ở của lao động nước ngoài làm việc tại Đài Loan:

Chủ sử dụng lao động Đài Loan được khấu trừ từ tiền lương của lao động Việt Nam chi phí ăn và ở với mức tối đa là 4000 NT$/tháng, mức khấu trừ này

có thể được điều chỉnh trong giới hạn tuỳ thuộc vào sự thoả thuận giữa chủ sử dụng lao động và người lao động

Lao động làm việc trong lĩnh vực khán hộ công và giúp việc gia đình không phải áp dụng quy định khấu trừ trên đây

 Bảo hiểm:

Người lao động tham gia bảo hiểm lao động và bảo hiểm y tế trong đó:

- Bảo hiểm lao động: Chủ chịu 70%, người lao động chịu 20% và chính quyền trợ cấp 10%

- Bảo hiểm y tế: Chủ sử dụng chịu 60%, người lao động trả 30% và chính quyền trợ cấp 10%

Trang 40

30

Luật cũng quy định về chế độ làm thêm giờ, giữa buổi làm việc sau 4 tiếng được nghỉ giải lao 30 phút Tuỳ theo tính liên tục và khẩn trương trong sản xuất

mà công việc được bố trí theo ca, trách nhiệm của chủ là phải sắp xếp ngày nghỉ

bù cho người lao động

 Quan hệ giữa người lao động và chủ sử dụng lao động:

Lao động nước ngoài được phép tham gia công đoàn, nhưng không được bầu là cán bộ công đoàn

Người lao động nước ngoài làm việc ở các doanh nghiệp có thể bị huỷ bỏ hợp đồng lao động trong những trường hợp sau:

- Khi hoạt động sản xuất của doanh nghiệp bị thua lỗ, chủ sử dụng có thể cho lao động thôi việc, hoặc (nếu có thể) chuyển tới chủ khác Nhưng chủ lao động phải thông báo trước cho lao động nước ngoài về ý định đó và phải cấp tiền bôì thường cho họ

- Nếu lao động nước ngoài phạm lỗi hoặc phạm luật dẫn tới việc ngừng hợp đồng lao động, người chủ có thể cho thôi việc mà không phải báo trước và

có quyền từ chối không thanh toán tiền bồi thường

 Nghỉ phép, nghỉ lễ và nghỉ việc:

Đối với các ngành công nghiệp không được luật tiêu chuẩn lao động điều chỉnh, việc bố trí nghỉ phép và nghỉ việc được quyết định giữa người chủ với người lao động Đối với ngành công nghiệp phải tuân theo quy định của luật tiêu chuẩn lao động thì phải tuân theo nguyên tắc sau đây: phải có tối thiểu một ngày nghỉ trong một tuần làm việc

Nghỉ phép: Vì lý do đặc biệt, người lao động có thể xin phép không hưởng

lương và có thể được chấp thuận nếu có người thay thế công việc hoặc khi nghỉ phép không ảnh hưởng gì tới quá trình sản xuất Yêu cầu nghỉ phép phải được

Ngày đăng: 02/10/2020, 20:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w