1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Huy động vốn tại ngân hàng TMCP đông nam á chi nhánh hải dương

84 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 885,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử ngân hàng và thực tế hoạt động của các NHTM trên thế giới cho thấy: Quan tâm tìm kiếm các giải pháp khả thi nhằm mở rộng và tăng trưởng nguồn vốn là một tất yếu khách quan, đồng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

PHẠM THỊ THU THỦY

HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐÔNG NAM Á

CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

PHẠM THỊ THU THỦY

HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐÔNG NAM Á

CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ: 60 34 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ PHI NGA

XÁC NHẬN CỦA GVHD XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

MỤC LỤC

Danh mục chữ viết tắt i

Danh mục các bảng ii

Danh mục các hình ii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ VẤN ĐỀ MỞ RỘNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN 5

1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 5

1.1.1 Khái quát về NHTM 5

1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM 5

1.1.3 Vai trò của ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của nền kinh tế 11

1.2 Nguồn vốn và tầm quan trọng của việc mở rộng công tác huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM 14

1.2.1 Nguồn vốn của ngân hàng TM 14

1.2.2 Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần 19

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của NHTM 288

1.3.1 Những nhân tố khách quan 28

1.3.2 Những nhân tố chủ quan 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NH TMCP ĐÔNG NAM Á CN HẢI DƯƠNG 37

2.1 Tổng quan hoạt động ngân hàng TMCP Đông Nam Á CN Hải Dương 37 2.1.1 Sự hình thành và quá trình phát triển 37

2.1.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của bộ máy hoạt động Ngân Hàng TMCP Đông Nam Á CN Hải Dương 39

Trang 4

2.1.3 Hoạt động của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á CN Hải Dương qua 3

năm 2012 - 2014 41

2.2 Thực trạng huy động tiền gửi của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á CN Hải Dương 50

2.2.1 Quy mô nguồn vốn huy động 50

2.2.2 Cơ cấu nguồn vốn huy động 50

2.2.3 Các hình thức huy động tiền gửi 56

2.2.4 Khả năng đáp ứng yêu cầu sử dụng 58

2.3 Đánh giá thực trạng huy động tiền gửi tại NH TMCP Đông Nam Á CN Hải Dương 59

2.3.1 Kết quả đạt được 59

2.3.2 Hạn chế 60

2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 60

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG NAM Á CN HẢI DƯƠNG 64

3.1 Định hướng hoạt động huy động tiền gửi của Ngân hàng trong năm tới 64

3.1.1 Định hướng phát triển 64

3 1.2 Nhiệm vụ đặt ra 64

3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường hiệu quả huy động tiền gửi 65

3.2.1 Giải pháp nhằm khắc phục tồn tại ( Ngắn hạn ) 65

3.2.2 Giải pháp nhằm thực hiện định hướng phát triển của NH Đông Nam Á CN Hải Dương ( Dài hạn ) 70

3.3 Một số kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ 74

KẾT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Cơ cấu vốn huy động tiền gửi theo kỳ hạn thời kỳ 2012 -2014 44

Bảng 2.2: Kết quả dƣ nợ cho vay 2012 - 2014 46

Bảng 2.3: Doanh số thanh toán quốc tế năm 2012 - 2014 49

Bảng 2.4: Quy mô huy động thời kỳ 2012 -2014 50

Bảng 2.5: Cơ cấu vốn huy động tiền gửi theo kỳ hạn thời kỳ 2012 -2014 52

Bảng 2.6: Cơ cấu vốn huy động tiền gửi theo khách hàng 54

Bảng 2.7: Cơ cấu vốn huy động tiền gửi theo loại tiền 55

Bảng 2.8: Cơ cấu vốn huy động tiền gửi theo khách hàng 57

Bảng 2.9: Tổng huy động vốn và tổng dƣ nợ 2012 - 2014 58

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á CN Hải

Dương 39

Hình 2.1: Cơ cấu vốn huy động phân theo kỳ hạn thời kỳ 2012-2014 45

Hình 2.2: Doanh số dư nợ cho vay 2012 -2014 47

Hình 2.3: Quy mô vốn huy đông thời kỳ 2012 - 2014 51

Hình 2.4: Cơ cấu vốn huy động phân theo kỳ hạn 52

Hình 2.5: Cơ cấu vốn huy đ2ộng phân theo khách hàng 55

Hình 2.6: Cơ cấu vốn huy động phân theo loại tiền gửi 56

Hình 2.7: Tổng huy động vốn và tổng dư nợ 58

Trang 8

MỞ ĐẦU 1- Lý do chọn đề tài

Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại (NHTM), nguồn vốn có vai trò đặc biệt quan trọng nó quyết định hầu hết các hoạt động kinh doanh của chính ngân hàng Vì vậy, đối với bất cứ một NHTM nào, vấn

đề mà các nhà quản trị quan tâm hàng đầu là phát triển nguồn vốn, coi công tác huy động vốn là một cuộc tìm kiếm không bao giờ có điểm dừng nhằm tạo lập nguồn vốn huy động luôn dồi dào và ổn định Lịch sử ngân hàng và thực

tế hoạt động của các NHTM trên thế giới cho thấy: Quan tâm tìm kiếm các giải pháp khả thi nhằm mở rộng và tăng trưởng nguồn vốn là một tất yếu khách quan, đồng thời cũng là một bài toán khó đối với các NHTM hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế đã và đang rơi vào khủng hoảng lạm phát tăng cao, nền kinh tế trong nước nói chung và kinh tế Hải Dương nói riêng gặp rất nhiều khó khăn, điều đó gây ảnh hưởng lớn đến tất cả mọt mặt của đời sống xã hội, trong đó hoạt động Ngân hàng và công tác huy động vốn cũng gặp không ít

khó khăn việc tìm kiếm giải pháp mở rộng tăng trưởng và phát triển huy động vốn là việc làm vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của đơn vị

Xuất phát từ thực tiễn đó tôi chọn đề tài: "Huy động vốn tại ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Hải Dương” làm đề tài nghiên cứu cho luận

văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Huy động vốn tại ngân hàng là đề tài nhiều nhà nghiên cứu, giới chuyên môn và nhiều tác giả đã đề cập tới trong chiến lược phát triển ngân hàng Tuy đây không phải là một đề tài mới nhưng mỗi tác giả lại tiếp cận

Trang 9

theo những khía cạnh khác nhau, những nét nhìn mới, từ đó có những giải pháp thiết thực cho ngân hàng trong từng giai đoạn cụ thể

Các công trình nghiên cứu trong nước tác giả đã công bố:

“Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tỉnh Phú Thọ” - Vi Thị Bích Thiện - Trường Đại học kinh tế Quốc dân Hà Nội - Họ và tên người hướng dẫn khoa học: TS-Lê Đức

Lữ

“Giải pháp nhằm nâng cao huy động vốn của chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tỉnh Lạng Sơn” - Nguyễn Thu Hà - Khoa Tài chính ngân hàng, Học viện ngân hàng, chuyên đề tốt nghiệp

“Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Lạng Sơn” - Nguyễn Thị Hường - Trường đại học kinh tế, Luận văn thạc sỹ 2012

“Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam” - Hoàng Thị Hồng Lê - Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, luận văn thạc sĩ kinh tế, 2014

“Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) - Chi nhánh Trà Vinh - Lư Thị Chí Trang - Trường Đại học Trà Vinh, 2014

Tuy nhiên, với mỗi ngân hàng khác nhau lại có cách thức huy động vốn khác nhau và tại mỗi thời điểm tùy thuộc vào hoạt động của ngân hàng, các ngân hàng sẽ đưa ra các cách thức huy động thay đổi để đáp ứng nhu cầu của mình

Do đó, tác giả mong muốn nghiên cứu đánh giá hoạt động và giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng TMCP Đông Nam Á – CN Hải Dương

Trang 10

3- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về huy động vốn của NHTM trong nền kinh tế thị trường

Phân tích thực trạng công tác huy động vốn tại NH Đông Nam Á CN Hải Dương trong những năm gần đây, đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra tồn tại và tìm nguyên nhân của những tồn tại đó

Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị có tính khả thi góp phần mở rộng công tác

huy động vốn tại NH Đông Nam Á CN Hải Dương trong thời gian tới

4- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu vấn đề huy động vốn của NH Đông Nam Á CN Hải Dương trong giai đoạn từ năm 2012-2014 và các giải pháp nhằm mở rộng công tác huy động vốn của ngân hàng

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Hệ thống hoá những vấn đề mang tính lý luận về ngân hàng, ngân hàng thương mại, huy động vốn của các ngân hàng

- Phân tích thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chi nhánh Hải Dương, từ đó xây dựng các giải pháp huy động vốn hiệu quả tại ngân hàng TMCP Đông Nam Á Chi nhánh Hải Dương

6- Phương pháp nghiên cứu

Để đạt mục đích nghiên cứu, luận văn sử dụng đồng bộ hệ thống phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp biện chứng và logic trong khái quát tổng quan và luận giải vấn đề, sử dụng kết hợp hệ thống các phương pháp thống kê so sánh, phân tích tổng hợp các cơ sở lý luận đã được rút ra trong các công trình nghiên cứu trong nước tác giả đã công bố, thu nhập dữ liệu tình hình hoạt động tình hình thực tế hoạt động của ngân hàng để đạt được mục tiêu nghiên cứu

Trang 11

Đồng thời đề tài cũng sử dụng hệ thống bảng biểu, sơ đồ minh họa để làm tăng tính trực quan và thuyết phục trong quá trình nghiên cứu

7- Kết cấu tiểu luận

Ngoài lời mở đầu, mục lục, danh mục các cụm từ viết tắt, danh mục bảng, sơ

đồ, biểu đồ, tài liệu tham khảo, kết luận, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Ngân hàng thương mại và vấn đề mở rộng công tác huy động

vốn

Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn tại NH TMCP Đông Nam Á

CN Hải Dương

Chương 3: Giải pháp mở rộng công tác huy động vốn tại NH TMCP Đông

Nam Á CN Hải Dương

Trang 12

CHƯƠNG 1: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ VẤN ĐỀ MỞ RỘNG

Cách tiếp cận thận trọng nhất có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện những loại hình dịch vụ cung cấp " Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế." (Peter S.Rose - Quản trị ngân hàng thương mại)

1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM

Cũng giống như một doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng là tối đa hóa lợi nhuận hay nói đúng hơn là tối đa hóa giá trị tài sản của ngân hàng và thông qua đó thực hiện tốt vai trò là trung gian tài chính

Trang 13

trong nền kinh tế Ngân hàng tạo ra lợi nhuận bằng cách bán những tài sản nợ có một số đặc tính (một kết hợp riêng về tính lỏng, rủi ro và lợi tức) và dùng tiền thu được để mua những tài sản có một số đặc tính khác Như thế các ngân hàng cung cấp một dịch vụ chuyển một loại tài sản thành một loại tài sản khác cho công chúng Nghiệp vụ này đã tạo ra lợi nhuận thặng dư cho ngân hàng đồng thời tạo tiện ích cho khách hàng để đôi bên cùng có lợi

1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn

Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu

và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng, các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại:

- Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác

- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận, …

- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và các tổ chức tín dụng nước ngoài

- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước theo quy định của luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

1.1.2.2 Hoạt động cấp tín dụng

Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước như bao thanh toán, tài trợ xuất khẩu, tài trợ nhập khẩu, cho vay thấu chi, và

Trang 14

- Chiết khấu:

Ngân hàng thương mại được phép chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ

có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác

- Cho thuê tài chính:

Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng

- Bao thanh toán:

Các ngân hàng thương mại triển khai thực hiện bao thanh toán như một hình thức cấp tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp như: Bao thanh toán truy đòi, bao thanh toán miễn truy đòi, bao thanh toán ứng trước hay bao thanh toán chiết khấu, bao thanh toán đáo hạn trong phạm vi thanh toán nội địa lẫn quốc tế

- Tài trợ nhập khẩu:

Trang 15

Nghiệp vụ tài trợ nhập khẩu nhằm hỗ trợ về tài chính cùng các phương tiện và các giấy tờ liên quan để doanh nghiệp nhập khẩu có thể thực hiện nghĩa vụ của mình trong hợp đồng mua bán hàng hóa, như:

+ Mở L/C thanh toán hàng nhập khẩu

+ Cho vay ứng trước một phần để thanh toán cho người bán hay ứng trước tiền thuế nhập khẩu

+ Bảo lãnh và tái bảo lãnh việc thanh toán hối phiếu khi đến hạn

+ Chấp nhận hối phiếu

+ Cho thuê kho bãi để chứa và bảo quản an toàn hàng hóa nhập khẩu với giá cho thuê phải chăng tại các địa điểm hay những địa phương khác nhau

+ Giúp khai báo thuế

+ Cho vay để thanh toán tiền hàng nhập khẩu cho nhà xuất khẩu nếu đến hạn mà chưa có tiền

+ Hỗ trợ về mặt chuyên môn, kỹ thuật từ giúp soạn thảo hợp đồng thương mại, mua bảo hiểm cho suốt quá trình vận chuyển và giao hàng hóa, theo dõi và kiểm tra hóa đơn chứng từ và hàng hóa cả về số lượng quy cách và chất lượng

+ Các hỗ trợ khác do sự bất cập về tập quán, pháp luật, …

- Tài trợ xuất khẩu:

Nghiệp vụ tài trợ xuất khẩu nhằm hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu về các giao dịch kinh doanh cả trước và sau các thương vụ xuất, như:

+ Cho vay thu mua hàng xuất khẩu, mua nguyên vật liệu để sản xuất, cho vay đầu tư để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm dịch vụ, cho vay bảo trì đối với các dự án chiến lược về máy móc thiết bị, nhà xưởng ở nước ngoài

+ Cho vay nộp thuế xuất khẩu

+ Giúp khai báo thuế

Trang 16

+ Hỗ trợ về mặt chuyên môn, kỹ thuật từ giúp soạn thảo hợp động thương mại, mua bảo hiểm cho suốt quá trình vận chuyển và chuyển giao hàng hóa, theo dõi và kiểm tra hóa đơn chứng từ và hàng hóa cả về số lượng quy cách và chất lượng

+ Các hỗ trợ cần thiết khác do sự khác biệt về tập quán, pháp luật, … + Cho thuê kho bãi để chứa và đóng gói hàng xuất khẩu

+ Cho vay hỗ trợ dịch vụ vận chuyển chuyển giao hàng hóa

+ Chiết khấu hối phiếu cho nhà xuất khẩu được nhận tiền sớm

+ Chiết khấu chứng từ thanh toán theo hình thức tín dụng chứng từ + Giúp quản lý nợ, quản lý sổ cái bán hàng, thu nợ các khoản phải thu, bảo đảm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng, xếp hạng tín dụng và thu hộ

+ Cho vay trên cơ sở bộ chứng từ thanh toán theo phương thức nhờ thu + Thuận nhận ngân hàng

- Cho vay thấu chi:

Ngân hàng thương mại cho khách hàng vay không cần thế chấp hay tín chấp một hạn mức nhất định khi khách hàng tạm thời thiếu hụt trong thanh toán trên cơ sở khách hàng phải mở tài khoản tại ngân hàng

- Cho vay theo hạn mức tín dụng và hạn mức tín dụng dự phòng:

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: Khách hàng nộp một bộ hồ sơ vay vốn duy nhất cho một hay nhiều món vay vào đầu quý, ngân hàng thương mại cấp một hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời gian nhất định mà khách hàng và ngân hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Ngân hàng thương mại cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định ngoài hạn mức đã được ký ban đầu giữa ngân hàng và khách hàng , áp dụng hạn mức tín dụng dự phòng khi khách hàng không có đủ vốn vì mức vốn đầu tư cho dự án tăng thêm, nhu cầu tiêu dùng, mua sắm tăng thêm, …

Trang 17

1.1.2 3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ

Để thực hiện các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng, ngân hàng thương mại được mở tài khoản cho các khách hàng trong và ngoài nước

Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, nơi ngân hàng thương mại đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số

dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định., chi nhánh ngân hàng thương mại được mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của chi nhánh Các hoạt động thanh toán và ngân quỹ của ngân hàng gồm:

+ Cung cấp các phương tiện thanh toán

+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng

+ Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ

+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

+ Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi Ngân hàng Nhà nước cho phép

+ Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng

+Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước

+ Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép

1.1.2.4 Các hoạt động khác

- Góp vốn mua cổ phần

Trang 18

Ngân hàng thương mại được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác trong nước theo quy định của pháp luật

- Tham gia thị trường tiền tệ

Ngân hàng thương mại được tham gia thị trường tiền tệ, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, thông qua các hình thức mua bán các công cụ của thị trường tiền tệ

- Kinh doanh ngoại hối

Ngân hàng thương mại được phép trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước

và quốc tế

- Ủy thác và nhận ủy thác

Ngân hàng thương mại được ủy thác và nhận ủy thác làm đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác, đại lý

- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm

Ngân hàng thương mại được cung ứng dịch vụ bảo hiểm, được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật

- Tư vấn tài chính

Ngân hàng thương mại được cung ứng dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư vấn trực tiếp cho khách hàng

- Bảo quản vật quý giá

Ngân hàng thương mại được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và dịch vụ khác có liên quan theo quy định của pháp luật

Trang 19

1.1.3 Vai trò của ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của nền kinh tế

Thông qua chức năng của mình, ngân hàng thương mại đã thể hiện được rõ nét vai trò quan trọng trong nền kinh tế Đó là:

- Cung cấp vốn cho nền kinh tế

Từ chức năng làm trung gian tín dụng, thông qua nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng đã tập hợp những khoản vốn nhàn rỗi tạm thời của các tổ chức, cá nhân và thực hiện cung ứng vốn cho nền kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế, góp phần vào lưu thông hàng hoá tiền tệ, cũng như đẩy mạnh tiêu dùng cá nhân Bằng vốn huy động được trong xã hội thông qua hoạt động tín dụng, Ngân hàng thương mại đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình sản xuất Nhờ có hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp, cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, công nghệ để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh

tế và chất lượng sản phẩm cho xã hội

- Cầu nối các doanh nghiệp với thị trường

Các ngân hàng thúc đẩy sự luân chuyển vốn trong nền kinh tế Thông qua chức năng thanh toán, ngân hàng thực hiện dịch vụ thanh toán hộ cho nền kinh tế, thúc đẩy luân chuyển hàng hoá và vốn trong xã hội Đồng thời giám sát toàn bộ nền kinh tế, góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo

sự ổn định trong đời sống kinh tế xã hội Với nguồn vốn huy động, bên cạnh cung ứng vốn cho nền kinh tế, ngân hàng thực hiện mở rộng đầu tư trong và ngoài nước, tạo điều kiện tốt nhất giúp các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả bằng các dịch vụ cần thiết như: Tư vấn đầu tư, thuê mua tài chính, bảo lãnh, kiểm tra số dư trên tài khoản giao dịch thường xuyên cho khách hàng

- Là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Trang 20

Với vai trò tạo tiền do tham gia vào quá trình cung ứng tiền tệ, ngân hàng còn

là công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Để thực hiện các chính sách đó, Ngân hàng Nhà nước phải sử dụng công cụ điều tiết đảm bảo thực hiện được các chính sách kinh tế vĩ mô, mà đặc biệt là mục tiêu

ổn định tiền tệ Phần lớn các công cụ đó chỉ thực hiện có hiệu quả khi có các ngân hàng thương mại và các trung gian tài chính tham gia đầy đủ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Với những ý nghĩa to lớn trong nền kinh tế hàng hoá thị trường: Góp phần giảm chi phí lưu thông, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc đẩy tăng trưởng trong nền kinh tế phát triển và đặc biệt là mối giao lưu kinh tế quốc tế thì sự ra đời và tồn tại của ngân hàng thương mại là một xu hướng tất yếu và khách quan

- Cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế

Nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế quốc tế, sự hội nhập kinh tế quốc gia với thế giới đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững Một trong các điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy sự hội nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới đó là nền tài chính quốc gia Nền tài chính quốc gia là cầu nối với nền tài chính quốc tế thông qua hoạt động của Ngân hàng thương mại trong các lĩnh vực kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối

và các nghiệp vụ khác Đặc biệt là các hoạt động thanh toán quốc tế, buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng Nhà nước của Ngân hàng thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp tác động góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và thông qua đó Ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế

Trang 21

1.2 Nguồn vốn và tầm quan trọng của việc mở rộng công tác huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM

1.2.1 Nguồn vốn của ngân hàng TM

Huy động vốn là một trong những hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng thương mại

Ng uồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền mà ngân hàng tạo lập

và huy động được để đầu tư cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Nguồn vốn mà ngân hàng tạo lập và huy động được không những

giúp cho ngân hàng tổ chức được mọi hoạt động kinh doanh mà còn góp phần quan trọng trong việc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói riêng cũng như sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung Vốn của NHTM gồm 2 loại cơ bản nếu phân chia theo hình thức sở hữu là vốn chủ sở hữu và vốn nợ (vốn huy động từ bên ngoài)

1.2.1.1 Vốn của chủ sở hữu

- Khái niệm: Vốn chủ sở hữu là điều kiện đầu tiên để ngân hàng được

luật pháp cho phép hoạt động và đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa Nguồn hình thành nên vốn chủ sở hữu gồm nguồn hình thành ban đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động, nguồn vay nợ có khả năng chuyển đổi thành cổ phần và các quỹ

- Các thành phần vốn của chủ sở hữu và đặc điểm của chúng

+ Vốn ban đầu

Vốn ban đầu hình thành khi ngân hàng bắt đầu hoạt động với tính chất sở hữu

và nguồn hình thành khác nhau Nếu là ngân hàng tư nhân thì đó là vốn do cá nhân tự bỏ ra; nếu là ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước thì do ngân sách Nhà nước cấp; nếu là ngân hàng cổ phần thì do cổ đông thông qua mua các cổ

Trang 22

phần (hoặc cổ phiếu); nếu là ngân hàng liên doanh thì do các bên tham gia liên doanh góp

Trường hợp của ngân hàng cổ phần có thể được hình thành từ cổ phần thường và cổ phần ưu đãi

Vốn ban đầu thường phải tuân thủ các qui định của NHNN Các qui định thường nêu rõ số vốn tối thiểu - vốn pháp định mà chủ ngân hàng cần phải có để bắt đầu kinh doanh ngân hàng NHNN, luật NHNN có qui định cụ thể cho từng loại ngân hàng trong từng điều kiện cụ thể

Vốn thường không phải hoàn trả Các cổ đông có thể bán cổ phiếu trên thị trường vốn (thị trường chứng khoán) Các cổ phần thường được hưởng cổ tức cao hay thấp tuỳ thuộc vào kết quả kinh doanh và chính sách phân chia lợi nhuận của ngân hàng

+ Vốn chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động

Bao gồm cổ phần phát hành thêm ( hoặc ngân sách cấp thêm ) trong quá trình hoạt động, lợi nhuận tích luỹ, thặng dư vốn, các quĩ

Cổ phần phát hành thêm, ngân sách cấp thêm: Ngân hàng có thể phát hành thêm cổ phần (thường là cổ phần ưu đãi) hoặc xin cấp thêm vốn từ ngân sách

để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để chống đỡ rủi ro trong trường hợp cần phải duy trì thị giá của cổ phiếu

Huy động vốn cổ phần từ cán bộ công nhân viên ngân hàng mình: Hình thức huy động này huy động vốn từ chính những cán bộ công nhân viên trong ngân hàng mình, làm cho họ trở thành những cổ đông của ngân hàng và gắn chặt quyền lợi với quyền lợi chung của ngân hàng Đây là hình thức mang tính lâu dài và ổn định cần được chú trọng

Huy động từ lợi nhuận bổ sung, các quỹ dự phòng tài chính, quỹ trợ cấp, quỹ khen thưởng là các loại quỹ khác: Nếu như lợi nhuận để lại của ngân hàng đủ

để đáp ứng nhu cầu gia tăng vốn của mình thì thông thường đây chính là

Trang 23

nguồn bổ sung quan trọng nhất Nguồn bổ sung này có thể lấy trực tiếp từ các quỹ như: Quỹ dự phòng tài chính, quỹ trợ cấp.v.v Mặc dù vậy khó nhất là phải xác định được khi nào thì được phép trích lập từ các quỹ trên để làm nguồn vốn bổ sung, tỉ lệ trích lập ra sao cho hợp lý

Vốn bổ sung bằng phát hành giấy nợ có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu: Một số ngân hàng coi cổ phần ưu đãi có thời hạn, các trái phiếu dài hạn cũng thuộc VCC mặc dù chúng mang nhiều tính chất của một khoản nợ Tuy nhiên, phần này thường bị giới hạn và kiểm soát chặt chẽ

- Vai trò

Vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần nhỏ so với vốn nợ, do đặc trưng trong kinh doanh ngân hàng là huy động để cho vay Theo quy định của NHNN Việt Nam tỷ lệ Vốn chủ sở hữu/tiền gửi tối thiểu là 1/20 Tuy chiếm

tỷ trọng nhỏ, song Vốn chủ sở hữu có vai trò rất quan trọng

Vốn chủ sở hữu có vai trò bảo vệ người gửi tiền: Kinh doanh ngân hàng thường xuyên đối đầu với rủi ro Các khoản tổn thất của ngân hàng sẽ được

bù đắp bằng vốn chủ sở hữu Như vậy, nếu quy mô vốn chủ sở hữu lớn, người gửi tiền và người cho vay sẽ cảm thấy an tâm hơn về ngân hàng

Vốn chủ sở hữu có vai trò tạo lập tư cách pháp nhân và duy trì hoạt động cho ngân hàng: Như đã phân tích ở trên, để hoạt động điều kiện đầu tiên là ngân hàng phải có được số vốn tối thiểu ban đầu Số vốn này được sử dụng để mua sắm trang thiết bị, nhập công nghệ, xây thêm chi nhánh, mở văn phòng đại diện

Ngoài ra, Vốn chủ sở hữu có vai trò điều chỉnh các hoạt động của ngân hàng: Rất nhiều quy định về hoạt động của ngân hàng có liên quan chặt chẽ với Vốn chủ sở hữu như quy mô nguồn tiền gửi được tính theo tỷ lệ với Vốn chủ sở hữu Vì vậy quy mô và cấu trúc hoạt động của ngân hàng được điều chỉnh theo vốn chủ sở hữu

Trang 24

1.2.1.2 Vốn nợ

- Khái niệm

Khác với các loại hình doanh nghiệp khác, vốn nợ của NHTM chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với vốn của chủ và đây là loại vốn cơ bản để tài trợ cho các danh mục tài sản của NHTM Vốn nợ được huy động từ các nguồn tiền gửi, vay và một số loại khác

Tiền gửi nhất là tiền gửi ngắn hạn thường nhạy cảm với các biến động

về lãi suất, tỷ giá, thu nhập và nhiều nhân tố khác Lãi suất cao là yếu tố kích thích các doanh nghiệp, dân cư gửi và cho vay Thu nhập gia tăng là điều kiện

để gia tăng quy mô và thay đổi kỳ hạn nguồn tiền gửi

Các yếu tố khác như địa điểm ngân hàng, các loại hình huy động đều ảnh hưởng tới quy mô và cấu trúc của nguồn tiền

+ Tiền vay

Tỷ trọng nguồn này thấp hơn so với nguồn tiền gửi Khác với nhận tiền gửi, ngân hàng không nhất thiết phải đi vay thường xuyên chỉ vay lúc cần thiết và hoàn toàn chủ động quyết định khối lượng vay phù hợp với nhu cầu

sử dụng Các khoản vay thường có thời hạn ngắn, chỉ nhằm đảm bảo thanh toán tức thời khi nhu cầu thanh toán của khách hàng tăng cao Hơn nữa vay NHNN phụ thuộc rất lớn vào chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ

Trang 25

+ Nguồn khác

Phần lớn các nguồn này ngân hàng không phải trả lãi Tuy nhiên, chi phí để

có và duy trì chúng là rất đáng kể Nhìn chung, các nguồn khác trong ngân hàng thường không lớn

- Vai trò

Có thể nói nếu vốn chủ sở hữu có vai trò quan trọng để ngân hàng được đi vào hoạt động và là đệm đỡ không thể thiếu của ngân hàng thì vốn nợ lại là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng

Trên cơ sở vốn nợ tạo lập, ngân hàng sử dụng để cho vay, đầu tư vào chứng khoán, mua sắm tài sản cố định, tiền gửi tại ngân hàng khác và phải được thực hiện dự trữ theo quy định để đảm bảo khả năng thanh toán Qui mô, cơ cấu của các nhóm tài sản này được xác định một phần căn cứ vào qui mô, cơ cấu vốn nợ Thêm vào đó, tính ổn định về chi phí và thời hạn của vốn nợ quy định số tiền phải dự trữ là cơ sở cân nhắc đầu tư bao nhiêu vào chứng khoán ngắn hạn nên cho vay với thời hạn nào, lãi suất bao nhiêu để phù hợp với vốn

Như vậy, vốn nợ có vai trò hết sức quan trọng trong việc quyết định danh mục tài sản đầu tư, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của NHTM

Ngoài ra, qui mô và kết cấu của vốn nợ cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự an nguy hoạt động của NHTM Sự không phù hợp giữa việc huy động vốn từ bên ngoài và việc sử dụng vốn về thời hạn, độ nhạy cảm với lãi suất, qui mô các loại tiền có thể dẫn tới các rủi ro về thanh toán, lãi suất, tỷ giá mà ngân hàng phải gánh chịu

Tóm lại, qua những vấn đề được đề cập ở trên thì rõ ràng vốn có vai trò quan trọng quyết định sự sống còn của một ngân hàng đặc biệt là vốn nợ Để có được vốn nợ thì hoạt động huy động vốn từ bên ngoài lại càng có vai trò hết sức quan trọng Sau đây là những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn

Trang 26

1.2.2 Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần

1.2.2.1 Khái niệm về huy động vốn

Huy động vốn là một nghiệp vụ cơ bản của các ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng nhằm thu hút vốn từ các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế nhằm phục vụ mục đích kinh doanh của mình

1.2.2.2 Đối tượng huy động vốn

Hiện nay các ngân hàng thương mại cổ phần chủ yếu huy động vốn từ bốn đối tượng sau:

Dân cư

Đây là đối tượng có nhiều tiềm năng nhất,cung cấp cho ngân hàng một nguồn vốn có quy mô lớn và tính ổn định cao Người dân có thu nhập nhưng lại không có nhu cầu đầu tư trực tiếp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh,nhưng vẫn muốn sinh lời,vì vậy họ đã đầu tư gián tiếp bằng cách gửi tiền vào ngân hàng,uỷ thác vốn cho ngân hàng

Các tổ chức kinh tế

Ngày nay hầu hết các tổ chức kinh tế đều mở tài khoản tại ngân hàng nhằm phục vụ cho các hoạt động của mình Nhìn chung các tài khoản này đem lại cho các ngân hàng một lượng vốn khá ổn định.Phát triển và quản lý tốt các tài

khoản này sẽ cho phép ngân hàng có một nguồn vốn đáng kể với chi phí thấp Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác

Đây là đối tượng không thường xuyên của các ngân hàng thương mại cổ phần, chỉ nhằm mục đích đảm bảo khả năng thanh toán hay bù đắp thiếu hụt tạm thời

Ngân hàng Trung Ương

Chỉ khi không còn huy động từ nguồn nào được nữa, các ngân hàng thương mại sẽ tìm đến ngân hàng Trung ương nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời hay

Trang 27

đảm bảo khả năng thanh toán Khi đó ngân hàng Trung ương sẽ cho các ngân hàng thương mại cổ phần vay chủ yếu dưới hình thức tái chiết khấu hoặc cầm

cố các thương phiếu mà ngân hàng Trung ương nắm giữ

1.2.2.3 Các nghiệp vụ huy động vốn

- Nguồn tiền gửi và các nghiệp vụ huy động tiền gửi:

Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của ngân hàng thương mai Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động,nghiệp vụ đầu tiên là mở các khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng,bằng cách đó ngân hàng huy động tiền gửi của các doanh nghiệp,các tổ chức và dân cư Tiền gửi là nguồn quan trọng,chiếm tỉ trọng lớn trong tổng nguồn tiền gửi của ngân hàng Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao,các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau

+ Tiền gửi thanh toán:

Đây là tiền gửi của doang nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ Trong phạm vi số dư cho phép,các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện Các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều có thể được nhập vào tiền gửi thanh toán theo yêu cầu Nhìn chung,lãi suất của khoản tiền gửi này rất thấp(hoặc bằng không),thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán(tài khoản có thể phát séc)cho khách hàng Thủ tục mở rất đơn giản Yêu cầu của ngân hàng là khách hàng phải có tiền và chỉ thanh toán trong phạm vi số dư Một số ngân hàng kết hợp tài khoản tiền gửi thanh toán với tài khoản cho vay(thấu chi-chi trội trên số dư có của tài khoản tiền gửi thanh toán) Một số ngân hàng sử dụng nhiều hình thức “biến tướng” của tài khoản

Trang 28

thanh toán để nâng lãi suất loại tiền gửi này nhằm canh tranh với các tổ chức tín dụng khác

+ Tiền gửi có kì hạn của các doanh nghiệp,các tổ chức xã hội

Nhiều khoản thu bằng tiền của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội

sẽ được chi trả sau một thời gian xác định Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện cho hoạt động thanh toán song lãi súât lại thấp Để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền,ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kì hạn Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng đối với loại tiền gửi này Nếu cần chi tiêu,người gửi phải đến ngân hàng để rút tiền ra Tuy không thuận lợi cho tiêu dùng bằng hình thức tiền gửi thanh toán,song tiền gửi có kì hạn được hưởng lãi suất cao hơn tuỳ theo độ dài của kì hạn

+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư:

Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng

trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện các mục tiêu bảo toàn Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân hàng đều cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và giữ tiền mặt tại nhà bằng cách mơ rộng mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn(ví

dụ như tiền gửi với các kì hạn khác nhau,tiết kiệm bằng ngoại tệ,bằng vàng…) Ngân hàng có thể mở cho mỗi người tiết kiệm nhiều chương mục tiết kiệm(hoặc là sổ tiết kiệm) cho mỗi kì hạn và mỗi lần gửi khác nhau Sổ tiết kiệm này không dùng để thanh toán tiền hàng và dịch vụ song có thể chấp nhận để vay vốn nếu được ngân hàng cho phép

+ Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn:

Thực chất đây là khoản tiền gửi tiết kiệm thông thường Đối với khoản tiền này,chủ tài khoản có thể rút ra bất kì lúc nào mà không phải báo trước

Trang 29

Khác với loại tiền gửi thanh toán,người gửi tiền không được sử dụng các công

cụ thanh toán để chi trả cho người khác Số dư tài khoản này thường không lớn nhưng có ưu điểm hơn so với các tài khoản giao dịch ở chỗ số dư này ít biến động Chính vì vậy đối với các loai tiền gửi này,các NHTM thường phải trả lãi suất cao so với tiền gửi thanh toán Đó là điều kiện để các NHTM có thể dễ dàng huy động số vốn này

+ Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn:

Khi cá nhân gửi tiền vào ngân hàng loại tiền gửi tiết kiệm có kì hạn trên

cơ sở thoả thuận giữa khách hàng và ngân hàng về thời hạn gửi,lãi suất theo quy định,và khách hàng chỉ được rút tiền khi đến hạn Về nguyên tắc một khi khách hàng đã gửi tiền vào tài khoản này,họ sẽ không được rút ra(cả gốc và lãi) trừ khi đã đến hạn gửi tiền Để tăng sức cạnh tranh trong thu hút tiền gửi,một số NHTM vẫn cho phép khách hàng rút tiền trước hạn Tuy nhiên,nhằm tránh việc khách hàng rút tiền trước hạn,một phần trong tiền lãi

mà khách hàng được hưởng đã bị khấu trừ

Do nguồn vốn huy động từ loại tiền gửi này mang tính ổn định cho nên các NHTM thường đưa ra nhiều loại kì hạn khác nhau như loại 3 tháng,6 tháng,12 tháng,24 tháng…nhằm thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn với lãi suất của các kì hạn khác nhau Thông thường kỳ hạn càng dài thì lãi suất huy động càng cao

+ Tiết kiệm dài hạn:

Loại tiết kiệm này rất phổ biến ở một số nước công nghiệp,nhằm thu hút số tiền nhàn rỗi trong thời hạn dài So với các loại hình tiết kiệm khác, đối với tài khoản này,bất kì lúc nào chủ tài khoản cũng có thể gửi tiền vào tài khoản với

số lượng không hạn chế,nhưng chỉ được rút ra khi đến hạn Đây là loại hình tiết kiệm ngân hàng cần tận dụng nhằm tạo các nguồn vốn có tính ổn định cao

Trang 30

Nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm của dân cư có số lượng lớn thứ hai trong số các loại tiền gửi vào ngân hàng, nó phụ thuộc rất lớn vào thu nhập bình quân theo đầu người tỷ lệ tiết kiệm trên tổng thu nhập của dân cư, đặc tính tâm lý cuả dân cư,chất lượng phục vụ của ngân hàng, sự ổn định của đồng tiền và nền kinh tế tăng trưởng vững chắc

+ Tiền gửi của các ngân hàng khác:

Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác,ngân hàng thương mại này có thể gửi tiền tại ngân hàng khác Tuy nhiên quy mô này thường không lớn

- Nguồn đi vay và nghiệp vụ đi vay của NHTM

Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM Tuy nhiên khi cần,ngân hàng thường vay mượn thêm Tại nhiều nước ngân hàng Trung ương thường quy định tỉ lệ giữa nguồn tiền huy động và vốn chủ sở hữu Do vậy nhiều ngân hàng vào những giai đoạn cụ thể phải vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế

+ Vay NHNN(vay ngân hàng Trung ương)

Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của NHTM Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ(thiếu hụt dự trữ bắt buộc,dự trữ thanh toán), NHTM thường vay NHNN Hình thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu (hoặc tái cấp vốn) Các thương phiếu đã được các ngân hàng thương mại chiết khấu (hoặc tái chiết khấu) trở thành tài sản của

họ Khi cần tiền,ngân hàng mang những thương phiếu này lên tái chiết khấu tại NHNN Nghiệp vụ này làm thương phiếu của NHTM giảm đi và dự trữ(tiền mặt hoặc tiền gửi tại NHNN) tăng lên NHNN điều hành vay mượn này một cách chặt chẽ; NHTM phải thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định Thông thường NHNN chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chất lượng (thời gian đáo hạn ngắn,khả năng trả nợ cao) và phù hợp

Trang 31

với mục tiêu của NHNN trong từng thời kì Trong điều kiện chưa có thương phiếu, NHNN cho NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tin dụng nhất định

+ Vay các tổ chức tín dụng khác:

Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay các tổ chức tin dụng khác trên thị trường liên ngân hàng Các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do có kết dư gai tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm

cho vay sẽ có thể sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn Ngược lại, các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản Như vậy nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ NHNN Quá trình vay mượn rất đơn giản Ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý(hoặc NHNN) Khoản vay

có thể không cần đảm bảo,hoặc được đảm bảo bằng các chứng khoán của kho bạc Kết quả là dự trữ của ngân hàng cho vay giảm đi va của ngân hàng đi vay tăng lên

+ Vay trên thị trường vốn:

Giống như các doanh nghiệp khác.các ngân hàng cũng vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn Rất nhiều NHTM thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu cho vay trung và dài hạn Do vậy,các khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn Thông thường đây là khoản vay không có bảo đảm Những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay mượn được nhiều hơn Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách này;họ thường

Trang 32

tư Khả năng vay mượn còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường tài chính,tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng Nghiệp vụ vay mượn tương đối phức tạp Ngân hàng cần nghiên cứu kĩ thị trường để quyết định quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích hợp Các vấn đề chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ…cũng được ngân hàng quan tâm

- Nguồn huy động vốn nội tệ và ngoại tệ:

+ Huy động vốn nội tệ:

Tiền gửi bằng nội tệ của các tầng lớp dân cư: Đây chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm,nguồn này có qui mô,cơ cấu lớn trong tổng nguồn huy động bằng nội tệ nhưng tăng trưởng không ổn định.Nhược điểm huy động tiền gửi tiết kiệm có lãi suất huy động bình quân cao,kì hạn tiền gửi danh nghĩa của người dân thường ngắn(kì hạn nhỏ hơn 12 tháng) Điều này đã ảnh hưởng tới khả năng sử dụng vốn,khả năng dịch chuyển kì hạn dư nợ,kết quả kinh doanh và sức cạnh tranh của ngân hàng thương mại

Tiển gửi bằng nội tệ của các tổ chức kinh tế xã hội: Nguồn tiền này cũng có qui mô,cơ cấu lớn trong tổng nguồn huy động Tiền gửi này thường

là tiền gửi giao dịch hoặc có kì hạn ngắn,hưởng lãi suất thấp Nếu ngân hàng huy động được nhiều để cho vay và đầu tư thì không những kéo dài được chênh lệch lãi suất hai đầu trần và sàn,giảm được chi phí vốn bình quân,tăng lợi nhuận

Tiền gửi bằng nội tệ của các tổ chức khác: tiền này có qui mô,cơ cấu nhỏ trong tổng nguồn tiền gửi bằng nội tệ Nguồn tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác thường có mức độ tăng trưởng khá cao nhưng chủ yếu là nguồn trong thanh toán,ngân hàng cũng không sử dụng nhiều nguồn này để cho vay

và đầu tư

Trang 33

Đi vay bằng nội tệ: Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM Tuy nhiên,khi cần ngân hàng có thể vay mượn thêm Tại nhiều nước NHTM thường qui định tỷ lệ giữa nguồn tiền huy động và vốn chủ sở hữu Do vậy nhiều NHTM vào những giai đoạn cụ thể phải vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế Việc đi vay bằng đồng nội

tệ chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt dự trữ

+ Huy động vốn bằng ngoại tệ:

Tiền gửi bằng ngoại tệ cuả các tầng lớp dân cư : Tiền gửi bằng ngoại tệ của các tầng lớp dân cư chiếm tỷ trọng nhỏ Việc huy động vốn bằng ngoại tệ luôn bị tác động mạnh bởi lãi suất ngoại tệ trên thị trường quốc tế và tính trạng khan hiếm tiền đồng VND

+ Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) liên tục cắt giảm lãi suất cho vay từ đó lãi suất huy động bằng USD của các ngân hàng luôn giảm mạnh, hệ quả là người dân chuyển sang dùng đồng tiền có giá (đổi USD sang VND chuyển sang gửi tiết kiệm bằng đồng VND để hưởng lãi suất cao hơn)

Tiền gửi bằng ngoại tệ của các TCKT-XH : Đây chủ yếu là các khoản tiền gửi trong thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn ngắn thường từ 1-3 tháng

Tiền gửi bằng ngoại tệ của các TCTD khác : Nguồn tiền này chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số vốn huy động bằng ngoại tệ Tại Việt Nam đối tượng cho vay chủ yếu là các NHTM nhà nước

Tiền vay bằng ngoại tệ: cũng giống như tiền vay bằng nội tệ, chỉ khi thật sự cần thiết NHTM mới đi vay nhất là bằng ngoại tệ với lãi suất cao và đầy biến động Do vậy lượng vay này thường nhỏ

- Các nguồn khác:

+ Nguồn uỷ thác:

NHTM thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay,uỷ thác cấp

Trang 34

ngân hàng Ví dụ,Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho vay uỷ thác

hộ cho Nhà nước đối với một số dự án trồng rừng với nguồn Ngân sách hoặc nguồn ODA Theo hợp đồng giữa các bên,các nguồn vốn trên được chuyển về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, để từ đó chuyển tải đến địa điểm đã được xác định trước Cùng với sự phát triển các mối quan hệ đa phương,rất nhiều tổ chức kinh tế xã hội có cùng mục tiêu phát triển như của ngân hàng,có nguồn tài chính, đã

sử dụng mạng lưới ngân hàng như các kênh dẫn vốn tới các mục tiêu Kết quả là hình thành nguồn uỷ thác,làm gia tăng nguồn vốn của ngân hàng

+ Nguồn trong thanh toán:

Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành nguồn trong thanh toán(séc trong quá trình chi trả,tiền kí quĩ để mở L/C…) Những ngân hàng là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có kết số dư từ tiền của các ngân hàng thành viên chuyển về để thực hiện cho vay

1.2.2.4 Vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM

Các nguồn vốn huy động được sẽ quyết định quy mô cũng như định hướng hoạt động của ngân hàng Nếu nguồn vốn được coi là yếu tố đầu vào trong quá trình kinh doanh của một NHTM thì nguồn vốn huy động được coi là yếu tố đầu vào thường xuyên, chủ yếu nhất của ngân hàng Ngân

hàng thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, đầu tư chủ yếu dựa vào nguồn này

Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM Cụ thể, nếu ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào với chi phí thấp nó có thể mở rộng được tín dụng đầu tư và thu được lợi nhuận cao

Ngược lại, với quy mô hạn chế và chi phí cao thì ngân hàng có thể gặp khó

khăn trong hoạt động kinh doanh của mình Chi phí huy động vốn của ngân hàng liên quan chặt chẽ với lãi suất tiền gửi các loại, lãi suất tiền gửi tiết

kiệm các loại và lãi suất các công cụ nợ do ngân hàng phát hành

Nguồn vốn huy động không những giúp cho ngân hàng bù đắp được

Trang 35

thiếu hụt trong thanh toán, tăng nguồn vốn trong kinh doanh mà thông qua huy động vốn, ngân hàng nắm bắt được năng lực tài chính của khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng Qua đó, ngân hàng có căn cứ để xác định mức vốn đầu tư cho vay đối với những khách hàng đó hoặc có thể phát hiện kịp thời tệ tham ô, trốn thuế, lừa đảo của các doanh nghiệp làm ăn không chính đáng Từ đó có biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời

Cơ cấu nguồn vốn cũng ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu cho vay của NHTM Vốn tự có của ngân hàng chỉ phát sinh khi nhu cầu thanh toán tín

dụng cấp bách còn ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn huy động được Nếu một ngân hàng huy động được vốn trung và dài hạn thì có thể mở rộng nghiệp vụ tín dụng đầu tư dài hạn Nhưng hiện nay việc huy động vốn trung

và dài hạn chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế nên một ngân hàng có thể dùng vốn hoạt động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn

nhưng không được vượt quá một tỷ lệ nhất định vì điều đó sẽ dẫn đến nguy

cơ mất khả năng thanh toán của ngân hàng

Bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay hay nguồn vốn ngân hàng huy động được lại là nguồn để các doanh nghiệp khác đi vay nên công tác huy động vốn càng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Do vậy, công tác huy động vốn là một mảng hoạt động lớn

của các NHTM và nó quyết định rất lớn đến thành công hay thất bại trong kinh doanh của ngân hàng

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của NHTM

1.3.1 Những nhân tố khách quan

1.3.1.1 Tình hình kinh tế- xã hội

Đây là yếu tố khách quan đối với ngân hàng, yếu tố này ảnh hưởng chung đến việc huy động và khơi thông nguồn vốn của cả nền kinh tế trong đó

Trang 36

gửi, tiền tiết kiệm gửi vào các NHTM ngày càng nhiều… Ngoài ra với một nền kinh tế phát triển thì công nghệ ngân hàng được hiện đại hoá, người dân có thói quen sử dụng những lợi ích do các NHTM cung ứng, các nghiệp vụ thanh toán chủ yếu qua ngân hàng, ngân hàng thu được càng nhiều khoản vốn, chiếm dụng được vốn trong thanh toán Lạm phát là một yếu tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn của ngân hàng Người dân gửi tiền vào ngân hàng

hy vọng rằng họ sẽ thu được khoản tiền lãi nhất định, lạm phát cao hoặc biến động có thể làm trượt giá đồng tiền và họ sẽ chuyển các tài khoản của họ sang hình thái khác có tính ổn định hơn về giá trị

Bên cạnh đó, các yếu tố như thu nhập của dân cư, thời vụ chi tiêu cũng

là các nhân tố ảnh hưởng tới công tác huy động vốn của các ngân hàng Tại các thành phố lớn, nơi tập trung các tầng lớp dân cư có thu nhập cao sẽ hình thành một nguồn tiền gửi lớn Thu nhập gia tăng là điều kiện để gia tăng quy mô và thay đổi kỳ hạn của nguồn tiền, thời vụ chi tiêu ảnh hưởng tới quy mô và tính

ổn định của nguồn tiền Ví dụ: vào dịp cuối năm, nguồn tiền gửi tiết kiệm cũng như tiền gửi của các doanh nghiệp có xu hướng giảm sút đặc biệt trong điều kiện thanh toán bằng tiền mặt còn đang phổ biến như nước ta hiện nay

1.3.1.2 Môi trường pháp lý và các chính sách kinh tế vĩ mô

Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chủ trương, phương hướng trong hoạt động huy động vốn cũng như các hoạt động khác của ngân hàng

thương mại Ngân hàng thương mại xây dựng các chiến lược kinh doanh cho riêng mình phải dựa trên cơ sở tuân thủ pháp luật và chính sách kinh tế vĩ

mô của Nhà nước như chính sách tiết kiệm, chính sách lãi suất, Ngân hàng nhà nước điều hành chính sách tiền tệ theo hướng nâng cao năng lực, vai trò hiệu quả và theo sát thị trường, phối hợp chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác thì mới tạo điều kiện và thúc đẩy phát triển các thị trường tiền tệ cũng như hoạt động của hệ thống ngân hàng Mặt khác, việc xây dựng

Trang 37

một môi trường pháp lý lành mạnh, thông thoáng cũng là một nhân tố quan

trọng góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động huy động và sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại

1.3.1.3 Môi trường cạnh tranh

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập mạnh mẽ như hiện nay thì vấn

đề cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại ngày càng trở nên khốc liệt hơn bao giờ hết Sự cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các ngân hàng trong nước với nhau mà còn diễn ra giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài, đặc biệt là với các ngân hàng lớn, có uy tín thương hiệu trên thế giới,

có trình độ công nghệ cao, quy mô vốn lớn và một đội ngũ nhân lực dồi dào

cả về trình độ lẫn kinh nghiệm Điều đó sẽ tạo ra một thách thức rất lớn đối với các ngân hàng thương mịa trong nước khi mà quy mô vốn còn nhỏ, trình

trường tiền tệ, phản ánh đúng tín hiệu của thị trường, điều đó khiến ngân hàng phải tìm kiếm, hoạch định mức lãi suất phù hợp cho mình Trong trường

hợp lãi suất biến động do tác động của các yếu tố phi vật chất (yếu tố tâm lí, yếu tố cạnh tranh không lành mạnh ) sẽ có tác động bất lợi đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng Đây là khó khăn đối với các ngân hàng thương mại có quy mô hoạt động nhỏ, vốn tự có và khả năng tài chính thấp Trong

trường hợp đó là viêc tăng lãi suất huy động, tác động hiệu ứng đối với toàn

Trang 38

hàng gửi tiền trong khi đó có thể không thực sự có khó khăn về nguồn vốn Trong nền kinh tế thị trường, các hiện tượng kinh tế thường có diễn biến, thay đổi nhanh Lãi suất cũng là yếu tố nhạy cảm và thường xuyên thay đổi, gắn liền với sự thay đổi của quan hệ cung cầu về vốn Vì vậy, ngân hàng thương mại trong quá trình hoạt động cần có sự theo dõi sát sao sự biến động

đó để có những giải pháp ứng phó kịp thời nhằm ổn định tình hình kinh doanh của mình

1.3.2.2 Hình thức huy động

Nền kinh tế ngày càng phát triển kéo theo nhu cầu ngày càng cao của con người Để có thể huy động được nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư một cách hiệu quả, ngoài chính sách về lãi suất, ngân hàng còn phải quan tâm đến các hình thức huy động của ngân hàng mình Mỗi lứa tuổi, mỗi cá nhân lại thích một hình thức huy động khác nhau Vì vậy, một ngân hàng thương mại

có nhiều hình thức huy động tiền gửi sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn các ngân hàng có ít hình thức huy động hơn

1.3.2.2 Công nghệ ngân hàng

Hoạt động huy động vốn của ngân hàng ngày càng có có sự cạnh tranh mạnh mẽ không chỉ giữa các ngân hàng thương mại trong nước, mà trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam còn phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với các ngân hàng có nhiều kinh nghiệm và tiềm lực trên toàn thế giới Công nghệ ngân hàng cũng là một nhân tố không kém phần quan trọng quyết định thành công hay thất bại trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại Công nghệ ngân hàng liên quan trực tiếp đến các mặt hoạt động như thanh toán, giao dịch, kế toán…Một ngân hàng sở hữu công nghệ lạc hậu so với các ngân hàng khác: hoạt động giao dịch, thanh toán và các dịch vụ còn thực hiện thủ công dẫn đến chậm trễ trong giao dịch với khách hàng và không đa dạng

Trang 39

hoá được các loại hình dịch vụ cung cấp cho khách hàng, điều này sẽ làm

hạn chế khả năng thu hút vốn của ngân hàng Chính vì vậy ngân hàng không

cạnh tranh được với các ngân hàng khác được đầu tư công nghệ hiện đại hơn

Để có thể cạnh tranh trên thị trường huy động vốn, các ngân hàng phải không ngừng đổi mới công nghệ, áp dụng những công nghệ ngân hàng tiên tiến vào các hoạt động giao dịch thanh toán nhanh với khách hàng, Đối

với một ngân hàng có công nghệ tiên tiến thì chất lượng phục vụ thoả mãn nhu cầu của khách hàng sẽ tốt hơn, sẽ huy động được nhiều vốn hơn Các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay đang đầu tư mạnh mẽ cho công nghệ ngân hàng và coi đây như sức mạnh để cạnh tranh trên thị trường dịch vụ tài chính Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong: ứng dụng lập

mạng thanh toán liên ngân hàng nội bộ tập trung, hệ thống quản lý vốn ngoại tệ tập trung, ứng dụng dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ thẻ ATM

đã mở ra nhiều cơ hội hơn cho ngân hàng Các sản phẩm dịch vụ dựa trên

nền tảng công nghệ thông tin ngày càng đa dạng và phong phú hướng đến việc tối đa hoá tiện ích và lợi ích của khách hàng

1.3.2.3 Chiến lược Marketing ngân hàng

Chiến lược Marketing ngân hàng cần phải được chú trọng đúng mức trong chiến lược kinh doanh dài hạn của ngân hàng nói chung và huy động vốn nói riêng Xây dựng được một chiến lược Marketing hoàn chỉnh sẽ tăng

khả năng sinh lợi trong kinh doanh cũng như tăng cường huy động vốn của ngân hàng Trong cơ chế thị trường các ngân hàng phải cạnh tranh để tồn tại

và phát triển, tạo ra sự khác biệt, vượt trội hơn hẳn so với các đối thủ cạnh tranh Trong thực tế, để đạt được điều này không phải là đơn giản vì khi áp

dụng marketing vào ngân hàng thường gặp một số khó khăn như: Với xu hướng phát triển kinh tế, nhu cầu của khách hàng ngày càng cao Các ngân

Trang 40

nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ… Thông qua công tác marketing ngân hàng

cần phải đưa ra các hình thức huy động vốn với thời hạn, giá cả hợp lý, phù hợp với từng giai đoạn phát triển cụ thể để đáp ứng tốt nhất nhu cầu, mong muốn của khách hàng về chất lượng, chủng loại các sản phẩm của ngân hàng Không những thế, công tác marketing ngân hàng còn phải biết kích thích các nhu cầu của khách hàng nhằm lôi kéo khách hàng về với mình để không ngừng mở rộng thêm các khách hàng mới, ngày càng thu hút được nhiều vốn hơn

Trên cơ sở nghiên cứu thị trường ngân hàng có thể nắm bắt toàn bộ các thông tin về môi trường kinh doanh, về khách hàng, đồng thời xây dựng chiến lược marketing Dựa trên yếu tố này, các ngân hàng sẽ sử dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo các công cụ kỹ thuật của marketing ứng dụng trong hoạt động của ngân hàng để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng

1.3.2.4 Uy tín, thương hiệu của ngân hàng

Các yếu tố này đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động vốn của ngân hàng, bởi vì nó thể hiện uy tín, lòng tin vào ngân hàng của khách hàng,

là sức mạnh trong cạnh tranh của ngân hàng Đặc biệt trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, khi vấn đề cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết Chỉ có những ngân hàng nào khẳng định đuợc uy tín, thương hiệu của mình, chiếm được lòng tin của khách hàng thì ngân hàng đó mới có thể tồn tại

và phát triển vững mạnh được

1.3.2.5 Đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng

Đội ngũ cán bộ nhân viên ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút khách hàng Có thể nói nhân viên ngân hàng, đặc biệt là giao dịch viên

và bảo vệ chính là bộ mặt của ngân hàng bởi họ là những người tiếp xúc trực tiếp với khách hàng Một ngân hàng có đội ngũ nhân viên trẻ trung, nhiệt tình,

Ngày đăng: 02/10/2020, 20:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w