1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động của công ty tài chính công nghiệp tàu thủy trong tập đoàn công nghiệp tàu thủy việt nam

146 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính c ấp thiết của đề tài Ở Việt Nam, Tập đoàn kinh tế đang đang được thí điểm thành lập, các nghiên cứu về Tập đoàn kinh tế, Công ty tài chính đặc biệt là hoạt động của Công ty tài ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

Phạm Xuân Định

HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY TRONG TẬP ĐOÀN

CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Hà Nội – Năm 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

Phạm Xuân Định

HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY TRONG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS.Trịnh Thị Hoa Mai

Hà Nội – Năm 2008

Trang 3

M ỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ iii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iv

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH TRONG TẬP ĐOÀN KINH TẾ 7

1.1 Tổng quan về Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế 7

1.1.1 Tập đoàn kinh tế 7

1.1.2 Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế 17

1.2 Hoạt động của Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế 26

1.2.1 Huy động vốn 26

1.2.2 Điều hoà và quản lý vốn 27

1.2.3 Đầu tư tài chính 29

1.2.4.Tư vấn tài chính 31

1.3 Điều kiện phát triển các Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế 34

1.3.1.Điều kiện về môi trường vĩ mô 34

1.3.2 Điều kiện về môi trường vi mô 36

1.4 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ tài chính trong các Tập đoàn kinh tế ở một số nước trên thế giới 39

1.4.1 Kinh nghiệm phát triển Công ty tài chính trong mô hình Tập đoàn kinh tế ở các nước Đông Á (Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc) 39

1.4.2 Kinh nghiệm phát triển Công ty tài chính trong mô hình Tập đoàn kinh tế ở các nước: Đức, Mỹ 43

1.4.3 Bài học kinh nghiệm đối với hoạt động của Công ty tài chính trong các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam 44

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY TRONG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY VIỆT NAM (Vinashin) 49

2.1 Giới thiệu chung về Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam 49

2.1.1 Sự hình thành và phát triển của Tập đoàn CNTT Việt Nam 49

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Tập đoàn CNTT Việt Nam 50

2.2 Hoạt động của Công ty tài chính Công nghiệp tàu thủy (VFC) 54

2.2.1 Giới thiệu tổng quan về VFC 54

2.2.2 Các hoạt động chủ yếu của VFC 62

2.3 Đánh giá chung 91

2.3.1 Những kết quả đạt được 91

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 96

Trang 4

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU

QUẢ HOẠT ĐỘNG CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY

TRONG TẬP ĐOÀN CNTT VIỆT NAM 107

3.1 Khái quát về thị trường đóng tàu và cơ hội phát triển dịch vụ tài chính của VFC 107

3.1.1 Thị trường đóng tàu 107

3.1.2 Cơ hội phát triển dịch vụ tài chính của VFC 109

3.2 Định hướng phát triển của Tập đoàn CNTT Việt Nam 110

3.3.Định hướng phát triển của VFC 111

3.3.1.Vị trí của VFC trong mô hình mới 111

3.3.2.Mục tiêu chiến lược trong thời gian tới của VFC 112

3.4 Một số giải pháp nâng cao vai trò của VFC trong Vinashin 114

3.4.1 Nhóm giải pháp liên quan đến vấn đề huy động và điều hòa vốn 114

3.4.2 Nhóm giải pháp nâng cao vai trò đầu tư tài chính 119

3.4.3 Nhóm giải pháp liên quan đến bộ máy tổ chức quản lý 122

3.4.4 Giải pháp khác 125

3.5 Một số kiến nghị 127

3.5.1 Kiến nghị với Nhà nước 127

3.5.2 Kiến nghị với Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam 130

KẾT LUẬN 133

TÀI LIỆU THAM KHẢO 135

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Ti ếng Việt Nghĩa đầy đủ Ti ếng Anh

CNTT Công nghiệp tàu thủy

CTTC Công ty tài chính

VFC Công ty tài chính công nghiệp

tàu thủy

Vinashin finance company

Vinashin Tập đoàn công nghiệp tàu thủy

Việt Nam

Việt Nam shipbuilding

VFCS Công ty chứng khoán công

nghiệp tàu thủy

Vinashin finance company securities

XHCN Xã hội chủ nghĩa

CHXHCNVN Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam BTC Bộ Tài chính

TCTD Tổ chức tín dụng

VFL Công ty cho thuê tài chính Vinashin finance Leasing TNHH 1 TV Trách nhiệm hữu hạn một

thành viên NHNN Ngân hàng Nhà nước

AFTA Khu vực mậu dịch tự do Asean Asean free Trade area WTO Tổ chức thương mại thế giới World Trade Organization TĐKT Tập đoàn kinh tế

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

S ố hiệu

bảng Tên b ảng Trang

Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của Vinashin 52

Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của

Bảng 2.6 Chi tiết nguồn vốn uỷ thác từ công ty mẹ 67

Bảng 2.7 Giấy tờ có giá đã phát hành của VFC 68

Bảng 2.8 Tiền giửi của khách hàng khác của VFC 70

Bảng 2.10 Dư nợ cho vay theo nền kinh tế của VFC 73 Bảng 2.11 Dư nợ cho vay theo đối tượng khách hàng của VFC 74 Bảng 2.12 Dư nợ cho vay theo chất lượng nợ vay của VFC 75

Bảng 2.13 Kết quả hoạt động đầu tư cổ phiếu của VFC 78

Bảng 2.14 Kết quả đầu tư trái phiếu của VFC 79 Bảng 2.15 Thu nhập từ dịch vụ của VFC 81

Bảng 2.16 Kết quả hoạt động tư vấn của VFC 83

Bảng 2.17 Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2007, 2008 của

Bảng 2.18 Các hệ số đòn bẩy tài chính 88

Bảng 2.19 Các hệ số khả năng sinh lợi 89

Bảng 2.20 Nhóm chỉ tiêu về sự tăng trưởng và phát triển 90

Trang 7

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

S ố hiệu

sơ đồ Tên sơ đồ Trang

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Tập đoàn CNTT Việt Nam 50

Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty tài chính CNTT 57

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

S ố hiệu

bi ểu đồ Tên bi ểu đồ Trang

Biểu đồ 2.1 Nguồn vốn huy động của VFC 64

Biểu đồ 2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2006-2008 của VFC 86

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính c ấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam, Tập đoàn kinh tế đang đang được thí điểm thành lập, các nghiên cứu về Tập đoàn kinh tế, Công ty tài chính đặc biệt là hoạt động của Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế cũng là một vấn đề rất mới, nhất là khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế và chính thức ra nhập các tổ chức quốc tế như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1995) kèm theo

là những cam kết tham gia khu vực mậu dịch tự do châu Á (AFTA) và đặc biệt khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2006 Cùng với công cuộc đổi mới nền kinh tế, các Tập đoàn kinh tế đã được thí điểm thành lập với mô hình công ty mẹ - công ty con, Tập đoàn CNTT Việt Nam được thành lập theo quyết định 104/2006/QĐ-TTg ngày 15/5/2006 về

việc thành lập công ty mẹ- Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam Qua hơn 10 năm hoạt động theo mô hình tổng công ty và hơn 2 năm theo mô hình

Tập đoàn kinh tế, Vinashin đã có những bước phát triển nhảy vọt, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển của quốc gia, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một nước mạnh về kinh tế biển

Để đáp ứng nhu cầu phát triển cũng như sử dụng hiệu quả của các nguồn vốn, để tăng cường tiềm lực kinh tế nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, thực hiện chủ trương đổi mới doanh nghiệp của Chính phủ, Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (nay là Tập đoàn Công nghiệp tàu

th ủy Việt Nam) đã thành lập Công ty tài chính công nghiệp tàu thủy, nhằm

mục đích kinh doanh các dịch vụ tài chính, giúp Tổng công ty tìm kiếm nguồn vốn trong nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, quản lý một cách tối

ưu các nguồn vốn đầu tư, hạn chế thấp nhất việc thất thoát vốn, bước đầu đã

mở ra một triển vọng mới cho sự phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu

của Việt Nam Sự ra đời này là một xu thế tất yếu trong chiến lược phát triển,

Trang 10

đa dạng hoá các hình thức kinh doanh tài chính, tiền tệ, đa dạng hoá các sản

phẩm thông qua liên kết, liên doanh với các định chế tài chính khác

Một Tập đoàn kinh tế có phát triển mạnh hay không phụ thuộc vào năng lực tài chính của Tập đoàn, vì vậy cần thiết phải huy động và sử dụng hiệu

quả các nguồn lực trong nội bộ Tập đoàn cũng như của các thành phần kinh tế

xã hội để đảm bảo đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn tín dụng - đầu tư Mặt khác hoạt động của Công ty tài chính trong Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy đóng vai trò quan trọng chiến lược phát triển kinh tế của Tập đoàn cũng như chiến lược phát triển kinh tế biển của quốc gia Đây không chỉ là vấn đề thời

sự quan trọng mà còn mang tính chiến lược lâu dài được Chính phủ, các cấp

Bộ, Ngành và lãnh đạo Tập đoàn quan tâm Xuất phát từ thực trạng trên tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Hoạt động của Công ty tài chính Công

nghi ệp tàu thủy trong Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam”

2 Tình hình nghiên cứu

- Nghiên cứu về “ Mô hình Tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa” - NXB Chính trị quốc gia – năm 2000 của tác giả Vũ Huy Cừ

Tác giả đã đưa ra cơ sở lí luận và kinh nghiệm thế giới về Tập đoàn kinh

tế; bối cảnh quốc tế những năm bước vào thế kỉ 21; tổng công ty nhà nước - hình thức thí điểm Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam; mô hình Tập đoàn kinh tế ở

Việt Nam; quản lý nhà nước đối với Tập đoàn kinh tế

- Luận án Tiến sỹ của tác giả Phạm Quang Trung - Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2000) “Giải pháp toàn diện cơ chế quản lý tài chính trong

Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay”

Tác giả đã hệ thống hóa và hoàn thiện một số vấn đề lý luận về cơ chế quản lý tài chính trong Tập đoàn kinh tế Phân tích và tổng hợp những xu thế phát triển mới của Tập đoàn kinh tế trên thế giới và khả năng ứng dụng vào

Trang 11

Việt Nam Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

- Luận án TS của tác giả Trần Công Diệu – Học Viện Ngân hàng (2002)

“ Những giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển Công ty tài chính ở Việt Nam”

Luận án đưa những vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức và

hoạt động của Công ty tài chính trong nền kinh tế thị trường Phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động Công ty tài chính ở Việt Nam trong thời gian qua Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện

và phát triển mô hình Công ty tài chính ở Việt Nam Tuy nhiên luận án chưa đưa ra được các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cũng như các giải pháp toàn diện cho sự phát triển của Công ty tài chính trong các Tổng công ty nhà nước và của các Công ty tài chính cổ phần

- Luận án Tiến sỹ của tác giả Vũ Thị Xuân Hương- Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2007) “Phát triển dịch vụ tài chính trong Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam”

Luận án đã khái quát được sự cần thiết thiết khách quan của phát triển

dịch vụ tài chính trong Tập đoàn kinh tế, rút ra được những bài học kinh nghiệm về phát triển dịch vụ tài chính ở các nước trên thế giới, nghiên cứu, đánh giá thực trạng tại Tập đoàn bưu chính và đồng thời đưa ra một số giải pháp phát triển dịch vụ tài chính

- Luận văn tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị của tác giả Đoàn Văn

Hạnh – Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2005) “Tập đoàn kinh tế và

sự hình thành Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam”

Công trình đưa ra những quan điểm về sự hình thành và phát triển của Tập đoàn kinh tế, khái quát quá trình hình thành và phát triển, thực trạng hoạt động, các vấn đề về mô hình và cơ chế quản lý của Tổng công ty Công nghiệp

Trang 12

tàu thủy Việt Nam Luận văn cũng đưa ra một số giải pháp để phát triển Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt nam, hình thành Tập đoàn CNTT Việt Nam, trong đó có đặc biệt có giải pháp về lành mạnh các quan hệ tài chính giữa các đơn vị thành viên và đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong Tập đoàn

Những nghiên cứu về Công ty tài chính trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã là nguồn tư liệu quan trọng trong quá trình nghiên cứu của tác giả, giúp tác giả vận dụng vào việc nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận trong hoạt động của Công ty tài chính của trong Tập đoàn kinh tế, vận dụng đánh giá sự phát sự hoạt động của Công ty tài chính Công nghiệp tàu thủy và đưa ra hệ

thống các giải pháp có tính khả thi với điều kiện của Vinashin và Việt Nam Tuy nhiên những công trình nghiên cứu trên chưa đưa ra được các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cũng như các giải pháp toàn diện cho sự phát triển của Công ty tài chính trong các Tổng công ty nhà nước hay Tập đoàn kinh tế, chưa phân tích được các bài học kinh nghiệm về phát triển Công ty tài chính ở các nước phát triển hay chưa đánh giá và làm rõ được những bất cập, hạn chế trong hoạt động của Công ty tài chính trong các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

3 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của

những hạn chế trong hoạt động của Công ty tài chính Công nghiệp tàu thủy để

từ đó có những giải pháp nâng cao vai trò của Công ty tài chính trong Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống những lý luận chung về Tập đoàn kinh tế, công ty tài chình và vai trò của Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế

- Nghiên cứu thực trạng hoạt động của Công ty tài chính CNTT

Trang 13

- Đề ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Công ty tài chính trong

Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Các hoạt của Công ty tài chính trong Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, bao gồm: Hoạt động huy động vốn; hoạt động điều hòa và quản lý vốn; đầu tư tài chính; dịch vụ và tư vấn tài chính; hoạt động quản lý rủi ro

4.2 Ph ạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu các hoạt động của Công ty tài chính công nghiệp tàu thủy: hoạt động huy động vốn, hoạt động đầu tư tài chính, hoạt động điều hòa và quản lý vốn, hoạt động quản lý rủi ro tài chính Nghiên cứu về thực tế hoạt động của các Công ty tài chính trong các Tập đoàn lớn của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản

- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu hoạt động của Công ty tài chính Công nghiệp tàu thủy từ khi thành lập Tổng công ty CNTT Việt Nam (nay là Tập đoàn CNTT Việt Nam) năm 1996 đến 2008

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư duy logic được

vận dụng để phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động của Công ty tài chính công nghiệp tàu thủy

- Phương pháp phán đoán, suy luận được áp dụng trong quá trình tổng

hợp, phân tích, đánh giá về các vấn đề thực trang hoạt động của Công ty tài chính Công nghiệp tàu thủy trong Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam

6 D ự kiến những đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống một số loại vấn đề lý luận chung về hoạt động của Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế

Trang 14

- Phân tích các bài học kinh nghiệm đối với hoạt của Công ty tài chính trong các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

- Đánh giá và làm rõ các nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong hoạt động của Công ty tài chính Vinashin

- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Công ty tài chính trong Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam

7 B ố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung của Luận văn gồm 3 chương

Trang 15

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH TRONG TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.1 Tổng quan về Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế

1.1.1 Tập đoàn kinh tế

1.1.1.1 Khái ni ệm và các hình thức chủ yếu của Tập đoàn kinh tế

a) Khái ni ệm về Tập đoàn kinh tế

Tập đoàn kinh tế (TĐKT) là một hình thức tổ chức tiên tiến đại diện cho trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất và nền kinh tế xã hội đang trở thành một hình thức phổ biến, có tác động mạnh mẽ làm thay đổi khuynh hướng sản xuất và tiêu dùng của thế giới Mặc dù có vai trò quan trọng như vậy nhưng hiện nay chưa có khái niệm thống nhất về Tập đoàn kinh tế Tuỳ theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau mà các nhà nghiên cứu

đã đưa ra những khái niệm khác nhau về Tập đoàn kinh tế Có quan điểm cho

rằng Tập đoàn kinh tế là một cơ cấu tổ chức, một loại hình tổ chức kinh tế

Lại có quan điểm cho rằng Tập đoàn kinh tế là “Một thực thể kinh tế thực hiện sự liên kết kinh tế giữa các thành viên là các doanh nghiệp có quan hệ với nhau về công nghệ và lợi ích đang được gọi bằng các tên khác nhau như:

Hiệp hội, liên hiệp xí nghiệp, Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế theo mô hình

Tập đoàn, Tập đoàn kinh tế” [21, tr5]

Có nghiên cứu cho rằng “Tập đoàn kinh tế (hay các công ty: Group of companics) là một tổ hợp các công ty độc lập về mặt pháp lý nhưng tạo thành một Tập đoàn gồm một công ty mẹ và một hay nhiều công ty hoặc chi nhánh góp vốn cổ phần chịu sự kiểm soát của công ty mẹ vì công ty mẹ chiếm hơn 1/2 vốn cổ phần” [14]

Mỗi quan niệm trên đều phản ánh cách nhìn nhận và tiếp cận khác nhau

ủa các nhà nghiên cứu về đặc điểm của Tập đoàn Quan điểm thứ nhất thiên

Trang 16

về cấu trúc của Tập đoàn, quan điểm thứ hai lại thiên về mối quan hệ liên kết

giữa các đơn vị thành viên trong Tập đoàn, quan điểm thứ ba lại thiên về cơ cấu tổ chức và tư cách pháp nhân của Tập đoàn, tuy nhiên Tập đoàn kinh tế

có thể định nghĩa như sau:

T ập đoàn kinh tế là tổ chức kinh tế có quy mô lớn, có cơ cấu sở hữu, tổ

ch ức và kinh doanh đa dạng, nó vừa có chức năng sản xuất kinh doanh vừa

có ch ức năng liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp thành viên có tư cách pháp nhân d ựa trên nền tảng sự liên kết về mặt tài chính, lợi ích kinh tế, công ngh ệ, thị trường và chiến lược kinh doanh, nhằm tăng cường, tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận.” [14, Tr 15]

b) Các hình th ức chủ yếu của Tập đoàn kinh tế

Để hiểu được đầy đủ về bản chất của Tập đoàn kinh tế, chúng ta đi sâu nghiên cứu những hình thức tồn tại của chúng trong thực tiễn và rút ra những đặc điểm cơ bản về Tập đoàn kinh tế

Nghiên cứu các Tập đoàn kinh tế trên thế giới cho thấy rằng có thể phân chia Tập đoàn kinh tế căn cứ vào hình thức liên kết và tính chất của Tập đoàn kinh tế [14, Tr 16-19]:

1/ Hình th ức thứ nhất: Quan hệ liên kết giữa các thành viên tương đối

lỏng lẻo thông qua các thỏa thuận hoặc các cam kết hợp tác

Trong hình thức này, các doanh nghiệp thành viên tham gia Tập đoàn chỉ chịu sự ràng buộc tương đối lỏng lẻo, các thành viên có tính độc lập cao thông thường cơ sở tồn tại của loại hình Tập đoàn này là các thoả thuận

hoặc hợp đồng tạo ra sự liên kết “mềm” giữa các thành viên để tăng thêm lợi thế cho nhóm các thành viên đó Hình thức liên kết này đã có từ rất sớm, phôi thai từ đầu thế kỷ XIX, các loại hình Cartel là thuộc hình thức này Hình thức của liên kết rất đa dạng, các doanh nghiệp có thể thoả thuận

Trang 17

về một số mặt hợp tác trong một số lĩnh vực như: Chính sách giá cả, khối lượng sản phẩm cung cấp, tiêu chuẩn kỹ thuật, hợp tác về công nghệ, thị trường tiêu thụ (phân chia, tránh cạnh tranh trực tiếp)

Một số loại Tập đoàn kinh tế điển hình cho hình thức này gồm:

Cartel: Là loại hình Tập đoàn kinh tế bao gồm các doanh nghiệp thành viên hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực, thậm chí có cùng sản

phẩm giống nhau Mối liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên trong Cartel chỉ thuần tuý là sự cam kết đối với một số điều khoản nhất định nhằm tránh cạnh tranh trực tiếp với nhau, nhưng các doanh nghiệp thành viên vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân và tính độc lập của chúng

Cartel thường dẫn đến độc quyền, hạn chế cạnh tranh và đi ngược lại nguyên tắc cơ bản của cơ chế thị trường là tự do cạnh tranh Bởi vậy, Chính phủ nhiều nước ngăn cấm hoặc hạn chế hình thành dạng Tập đoàn này bằng cách dùng các đạo luật chống độc quyền

Syndicate: Đây là một dạng đặc biệt của Cartel Các doanh nghiệp thành viên của Syndicate vẫn giữ nguyên tính độc lập về sản xuất nhưng mất tính độc lập về thương mại, vì trong Syndicate có một văn phòng thương mại chung được thành lập do một ban quản trị chung điều hành và

tất cả các doanh nghiệp thành viên phải tiêu thụ hàng hoá của họ qua kênh

của văn phòng này

Conglomerate: Đây là một Tập đoàn đa ngành, đa lĩnh vực, các doanh nghiệp thành viên ít có mối quan hệ công nghệ sản xuất gần gũi,

thậm chí không có mối quan hệ nào về mặt công nghệ sản xuất, chủ yếu ở đây là mối quan hệ về mặt hành chính và tài chính Loại hình Tập đoàn này hình thành bằng cách thu hút cổ phần của những công ty có lợi nhuận cao nhất, đặc biệt là những công ty đang ở vào giai đoạn phát triển cao Trong

Tập đoàn không có ngành nào là chủ chốt Thông qua hoạt động mua bán

Trang 18

chứng khoán trên thị trường, cơ cấu sản xuất của Tập đoàn có xu hướng chuyển đến ngành có lợi nhuận cao và nhờ hoạt động tích cực trên thị trường chứng khoán, nó đã thôn tính dần các doanh nghiệp có lợi nhuận cao làm cho cơ cấu sản xuất thay đổi nhanh chóng Đặc điểm của loại hình

Tập đoàn này là thu hút vốn từ thị trường vốn thông qua phát hành tín phiếu và trái phiếu, hoạt động chủ yếu nhằm mở rộng phạm vi kiểm soát tài chính do đó nó có mối quan hệ rất chặt chẽ với ngân hàng

2/ Hình th ức thứ hai: Mối liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên rất

chặt chẽ, mức độ phụ thuộc lẫn nhau rất cao, các đơn vị thành viên bị hạn chế tính độc lập

Với hình thức này, cơ sở kinh tế của sự liên kết là quyền sở hữu Mối liên kết giữa các thành viên trong Tập đoàn rất chặt chẽ thông qua việc nắm giữ cổ phiếu của nhau hoặc có một doanh nghiệp mạnh nhất đứng ra chi phối

cả Tập đoàn Về mặt cấu trúc có thể có 3 dạng khác nhau của hình thức này:

Dạng thứ nhất: Các doanh nghiệp thành viên có sự liên kết dọc về công nghệ và sử dụng sản phẩm đầu ra của nhau Ví dụ điển hình một Tập đoàn gồm các công ty khai khoáng, luyện kim, chế tạo máy và sản xuất cấu kiện kim loại như Tập đoàn Mitsubishi

Dạng thứ hai: Tập đoàn có liên kết theo chiều ngang, trong loại này các doanh nghiệp có quan hệ với nhau về sản phẩm hay dịch vụ bổ trợ cho nhau hoặc các sản phẩm cho cùng một nhóm khách hàng hoặc cùng nhóm mục tiêu sử dụng Ví dụ trong Tập đoàn LG (Hàn Quốc) có doanh nghiệp sản xuất máy tính, doanh nghiệp sản xuất máy in, máy văn phòng, doanh nghiệp sản xuất giấy… các doanh nghiệp này có thể liên kết lại thành một tổ hợp để tạo lợi thế chung

Trang 19

Dạng thứ ba: Kiểu liên kết hạt nhân, giữa các doanh nghiệp thành viên

có sự liên kết về công nghệ hoặc thị trường… nhưng xoay quanh một nhóm sản phẩm mũi nhọn

Một số loại Tập đoàn kinh tế điển hình cho hình thức này gồm:

Concern: Concern không có tư cách pháp nhân, các doanh nghiệp thành viên vẫn giữ nguyên tính độc lập về mặt pháp lý nhưng giữa chúng có mối quan hệ với nhau dựa trên cơ sở những thoả thuận về lợi ích chung đó là phát minh sáng chế, nghiên cứu khoa học công nghệ, hợp tác sản xuất kinh doanh chặt chẽ, có hệ thống tài chính chung Trong Concern người ta thành lập công

ty mẹ điều hành hoạt động của Tập đoàn Doanh nghiệp này thực chất là một công ty cổ phần nắm giữ cổ phần vốn góp của các doanh nghiệp thành viên, doanh nghiệp này điều hành các hoạt động tài chính của Tập đoàn mà không quan tâm tới lĩnh vực sản xuất

Các doanh nghiệp thành viên trong Concern liên kết lại với nhau nhằm

tạo ra một thế lực tài chính lớn, phát triển kinh doanh và gây ảnh hưởng tới chính trị, xã hội nhằm đảm bảo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của Concern Ngoài ra Concern còn đầu tư vào nhiều lĩnh vực nhằm phân tán

rủi ro, hỗ trợ mạnh mẽ trong việc nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và phương thức quản lý hiện đại

Các doanh nghiệp thành viên trong Concern, hoạt động đa ngành, nhưng các ngành này thường có mối quan hệ gần gũi với nhau về công nghệ sản xuất

và Concern thường có một ngành chủ chốt Trong quá trình hoạt động sản

xuất kinh doanh các doanh nghiệp thành viên luôn chú trọng tới lợi ích của mình và của “công ty mẹ” trên cơ sở các mối liên kết theo chiều dọc hay chiều ngang thông qua những hợp đồng kinh tế, hiệp định hay các khoản cho vay tín dụng Trong cơ cấu của Concern còn có cả một hệ thống các viện

Trang 20

nghiên cứu, các trung tâm khoa học, phòng thí nghiệm, phòng thiết kế nhằm

bảo đảm cho các thành viên luôn được sử dụng công nghệ tiên tiến

Các doanh nghiệp thành viên trong Concern có mối quan hệ tài chính phụ thuộc tương đối lớn vào Tập đoàn và phụ thuộc lẫn nhau, do vậy việc

kiểm tra tài chính giữa chúng được thực hiện rất chặt chẽ Trong Tập đoàn thường có một ngân hàng tham gia và thực hiện việc hỗ trợ đắc lực cho

hoạt động đầu tư kinh doanh của các thành viên thông qua việc huy động vốn từ công ty thành viên khác và các tổ chức, cá nhân ngoài Tập đoàn

Trust: Là một trong những hình thức liên minh độc quyền của các tổ

chức sản xuất kinh doanh Loại hình Tập đoàn này tập hợp trong nó một

loạt doanh nghiệp công nghiệp và do một ban quản trị thống nhất điều khiển, vì vậy các doanh nghiệp này bị mất quyền độc lập về sản xuất và thương mại, các nhà tư bản tham gia Trust trở thành cổ đông Mục tiêu của

việc thành lập các Tập đoàn loại này nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao, chiếm nguồn nguyên liệu và khu vực đầu tư

3/ Hình th ức thứ ba: Tập đoàn có hạt nhân liên kết là công ty tài chính

Do sự phát triển cao của thị trường tài chính và công nghệ thông tin cho phép

một doanh nghiệp chi phối một hoặc nhiều doanh nghiệp khác thông qua quyền sở hữu cổ phiếu Do đó, các doanh nghiệp thành viên trong Tập đoàn không nhất thiết có mối liên hệ về sản phẩm, công nghệ hay kỹ thuật Trong hình thức này hạt nhân liên kết là công ty tài chính, được gọi là công ty mẹ Thường thì với loại hình Tập đoàn này là những Tập đoàn đa ngành Trong hình thức này Consortium là một hình thức điển hình

Consortium: Đây là một trong những hình thức của các tổ chức độc quyền ngân hàng nhằm mục đích chia nhau mua trái khoán trong và ngoài

Trang 21

nước hoặc tiến hành công việc buôn bán Đứng đầu Consortium thường là ngân hàng lớn có vai trò điều hành toàn bộ hoạt động của tổ chức này

Ngoài ra còn có một hình thức khác của Tập đoàn kinh tế đó là Các Tập

đoàn kinh tế xuyên quốc gia là sản phẩm của sự liên minh giữa các nhà tư

bản có thế lực nhất, có quy mô mang tầm cỡ quốc tế, có hệ thống chi nhánh

dày đặc ở nước ngoài hoạt động với mục đích nâng cao tỷ suất lợi nhuận thông qua việc bành chướng quốc tế Cơ cấu tổ chức gồm hai bộ phận đó là công ty mẹ thuộc sở hữu của các nhà tư bản nước chủ nhà và một hệ thống các công ty chi nhánh ở nước ngoài Mối quan hệ giữa công ty mẹ và các doanh nghiệp thành viên là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về tài chính, công nghệ kỹ thuật

Trên đây là các hình thức Tập đoàn điển hình đã tồn tại trong lịch sử phát triển của các Tập đoàn trên thế giới Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện môi trường pháp lý của từng nước, trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau mà các Tập đoàn kinh tế ra đời dưới hình thức nào trên đây cho phù hợp quy mô và phạm vi hoạt động của Tập đoàn

1.1.1.2 Đặc điểm của Tập đoàn kinh tế

Dù được hình thành dưới bất kỳ hình thức nào với các tên gọi khác nhau thì các Tập đoàn kinh tế đều có những đặc điểm chung nhất sau đây:

- Quy mô vốn lớn

Tập đoàn kinh tế có quy mô rất lớn về vốn, lao động, doanh thu và thị trường Nhiều Tập đoàn có chi nhánh văn phòng đại diện ở khắp các quốc gia trên thế giới, phạm vi hoạt động của Tập đoàn doanh nghiệp rất rộng không chỉ tính phạm vi lãnh thổ một quốc gia mà ở nhiều nước hoặc phạm vi toàn cầu

- Cơ cấu tổ chức phức tạp

Đa số các Tập đoàn kinh tế là sự kết hợp của nhiều đơn vị thành viên

Trang 22

công ty mẹ nắm cổ phần chi phối các doanh nghiệp thành viên về mặt tài chính và chiến lược phát triển, công nghệ, thị trường Tuy nhiên các doanh nghiệp thành viên cũng có thể nắm cổ phần của nhau tạo ra mối quan hệ đan xen, chi phối lẫn nhau và gắn kết chặt chẽ Thông thường sự chi phối này chịu

sự tác động của mức độ phát triển thị trường tài chính

- Ngành nghề kinh doanh đa dạng

Đa số các Tập đoàn kinh tế đều hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực hoặc phát triển từ đơn ngành lên đa ngành, chiến lược sản phẩm và hướng đầu tư luôn thay đổi phù hợp với sự phát triển của Tập đoàn và môi trường kinh doanh, nhưng mỗi ngành đều có định hướng chủ đạo, lĩnh vực đầu tư mũi

nhọn với những sản phẩm đặc trưng của Tập đoàn Bên cạnh những đơn vị sản xuất hoặc thương mại, các Tập đoàn doanh nghiệp mở rộng các hoạt động sang lĩnh vực khác như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, nghiên cứu khoa học

Tập đoàn kinh tế hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực là để phân tán rủi ro,

mạo hiểm vào các mặt hàng, các lĩnh vực kinh doanh khác nhau đảm bảo cho hoạt động của Tập đoàn luôn được bảo toàn và hiệu quả Tuy nhiên, lại có hạn chế là khó tập trung được năng lực mũi nhọn, thiếu tính chuyên sâu Đối

với Tập đoàn kinh tế đơn ngành thì có ưu thế là phát triển theo chuyên môn hoá sâu, khai thác được thế mạnh về chuyên môn, bí quyết về công nghệ, uy tín trong ngành nhưng lại có hạn chế về phạm vi thị trường rễ bị rủi ro khi ngành đó bị khủng hoảng hay vì một lý do khách quan nào đó

- Tính đa dạng về tư cách pháp nhân

Các Tập đoàn kinh tế có tính đa dạng về tư cách pháp nhân Có những Tập đoàn kinh tế là pháp nhân kinh tế do Nhà nước thành lập gồm nhiều doanh nghiệp thành viên có quan hệ với nhau về sản xuất, kinh doanh, tài chính trên quy mô lớn Có những Tập đoàn không phải là một pháp nhân kinh

Trang 23

tế mà mỗi đơn vị thành viên là các pháp nhân độc lập Như vậy, tuỳ theo cách

thức thành lập mà Tập đoàn có thể có tư cách pháp nhân hoặc không [2], [20]

-T ính tập trung trong Quản lý và điều hành

Về mặt điều hành, các Tập đoàn kinh tế thường xây dựng một “Holding company” hoặc một ngân hàng độc quyền lớn hoặc một công ty tài chính Do

là dạng các công ty khống chế, nắm cổ phần chi phối với các công ty thành viên nên Tập đoàn kinh tế tiến hành hoạt động và quản lý tập trung vào một

số mặt như: Điều hoà, huy động vốn, quản lý vốn, xây dựng chiến lược phát triển, chiến lược thị trường, chiến lược sản phẩm, chiến lược đầu tư, đào tạo nhân sự cho Tập đoàn Các chiến lược này được soạn thảo từ cơ quan đầu não

của Tập đoàn và thực hiện thống nhất trong các công ty thành viên Việc thực hiện chiến lược chung tổng quát vừa tạo ra sự năng động, linh hoạt của các công ty thành viên trong việc lựa chọn chiến lược phát triển riêng cho mình

và tự chủ trong sản xuất kinh doanh vừa tạo ra sức mạnh tập trung [2], [16]

1.1.1.3 Công ty tài chính và Ngân hàng trong T ập đoàn kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập, đặc biệt là với sự bùng nổ của thị trường chứng khoán trong vài năm trở lại đây, Công ty tài chính không còn là khái niệm xa lạ ở Việt Nam Tuy nhiên, trong thực tế, còn

có sự nhầm lẫn giữa Công ty tài chính với các công ty được thành lập theo

Luật Doanh nghiệp nói chung hay ranh giới giữa tổ chức ngân hàng với công

ty tài chính Tuy nhiên có một số điểm khác biệt giữa Công ty tài chính và ngân hàng thương mại như sau:

- B ản chất và phạm vi hoạt động: Công ty tài chính là loại hình tổ

chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn

về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp

Trang 24

luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm Trong khi đó, ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan, cụ thể là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán Một điều rõ ràng là một ngân hàng có nguồn

gốc Tập đoàn sẽ phải đối phó thường xuyên với các áp lực ưu đãi tín dụng có lợi cho những mối quan hệ mang tính nội bộ Một khi đã có sự ưu đãi, thì nguồn tài nguyên tín dụng đã bị phân bổ một cách sai lệch Nguồn vốn lẽ ra

phải chảy theo những kênh có khả năng sử dụng nó một cách có hiệu quả nhất

đã chuyển sang các kênh nội bộ Xét ở khía cạnh nào đó, các Công ty tài

chính sẽ chịu áp lực cạnh tranh ở mức độ thấp hơn so với ngân hàng Trong khi ngân hàng hoạt động rộng và huy động vốn chủ yếu từ công chúng thì Công ty tài chính huy động vốn chủ yếu từ nội bộ Tập đoàn và nhóm công ty

Vì thế, rủi ro xảy ra đối với các Công ty tài chính chủ yếu là do nội bộ Tập đoàn hay nhóm công ty gánh chịu, rất ít ảnh hưởng tới cộng đồng Khi các quan hệ kinh tế trong Tập đoàn là minh bạch và tuân thủ đúng pháp luật thì

khả năng xảy ra rủi ro là không lớn

CTTC khác với Ngân hàng là không được thực hiện một số nghiệp vụ

của Ngân hàng như nghiệp vụ thanh toán, nhận tiền gửi dưới 1 năm của dân

cư, vay tiền của Ngân hàng trung ương, CTTC cổ phần không được phát hành

cổ phiếu để tăng vốn tự có Tuy vậy, các Công ty tài chính hiện nay đã khắc

phục bằng việc phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ mới như dịch vụ nhận

ủy thác vốn, nhận ủy thác đầu tư bao thanh toán, thu xếp vốn, v.v cho cả ngắn hạn, trung và dài hạn Những dịch vụ này đã giúp Công ty tài chính thực hiện được các dịch vụ khác tương tự như một ngân hàng thương mại

Trang 25

Rõ ràng, so với Ngân hàng thì CTTC có quy mô nhỏ bé hơn và hoạt động trong lĩnh vực chuyên sâu hơn nhiều CTTC chuyên về các nghiệp vụ trung và dài hạn hơn, đặc biệt là nghiệp vụ tín dụng thuê mua và linh hoạt hơn trong tín dụng trả góp và cho thuê tài chính Hơn nữa, CTTC chuyên khai thác những thị trường cho vay nhiều rủi ro, lãi lớn mà Ngân hàng thương mại không đủ năng lực để tham gia

Như vậy, có thể thấy lợi ích của Công ty tài chính mang lại cho các doanh nghiệp là rất lớn Không phải ngẫu nhiên mà trên thế giới, các Tập đoàn lớn thường có ít nhất một công ty tài chính Công ty tài chính là công cụ

để Tập đoàn điều tiết vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả và thuận lợi

nhất Trong phạm vi nội bộ Tập đoàn hoặc nhóm công ty có quan hệ lợi ích gắn bó, Công ty tài chính có thể dễ dàng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ các công ty thành viên để tập trung vốn đầu tư Với tính nội bộ cao trong hoạt động nghiệp vụ Công ty tài chính có thể kiểm soát rủi ro và tập trung vốn lớn cho các dự án quan trọng trong nội bộ Tập đoàn

1.1.2 Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế

1.1.2.1 Khái ni ệm

a) Công ty tài chính

Công ty tài chính là một tổ chức tài chính trung gian phi ngân hàng mà

hoạt động chủ yếu và thường xuyên của nó là :

- Thu hút vốn bằng cách nhận tiền gửi có kỳ hạn của dân chúng và các

tổ chức kinh tế, chủ yếu huy động vốn trung và dài hạn ; phát hành các chứng khoán nợ hay vay của các tổ chức tín dụng

- Cho vay ngắn hạn, đặc biệt thích hợp với nhu cầu của các doanh nghiệp và người tiêu dùng

- Thực hiện các hoạt động cho thuê tài sản

Trang 26

- Thực hiện các hoạt động bao thanh toán

- Cung cấp các dụch vụ tài chính như kinh doanh vàng bạc, đá quý, mua bán chuyển nhượng chứng khoán ; cầm cố các loại hàng hóa, vật tư, ngoại tệ, dịch vụ bảo lãnh và các dịch vụ tư vấn tài chính…

Nghị định số 79/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 4/10/2002 về Tổ

chức và hoạt động của Công ty Tài chính, đã định nghĩa: Công ty tài chính là

lo ại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có,

v ốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch

v ụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định

c ủa pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận

ti ền gửi dưới 1 năm [4]

b) Công ty tài chính trong T ập đoàn kinh tế

Công ty tài chính trong các Tập đoàn kinh tế nói chung là một mô hình

tổ chức tài chính được phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động như một định chế tài chính trung gian, thu xếp và sử dụng các nguồn vốn, tham gia vào các thị trường tiền tệ để tăng cường tiềm lực tài chính phục vụ cho yêu cầu đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các ngành kinh tế trọng yếu Lợi nhuận của các Tập đoàn trên thế giới do hoạt động của CTTC của Tập đoàn mang lại là khá lớn (khoảng 30-33%) thông qua hoạt động trên thị trường tiền tệ như: mua bán thương phiếu, cổ phiếu, trái phiếu, tiến hành các dịch vụ đầu tư tài chính, cho vay và các dịch vụ khác mang tính chất môi giới đầu tư, tư vấn tài chính đầu tư cho toàn ngành

Ở Việt Nam, thực hiện chủ trương xây dựng các Tập đoàn kinh tế mạnh, Nhà nước khuyến khích thành lập các CTTC trong các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế Nhà nước Điều 43, khoản 3 Luật DNNN đã ghi:" Tuỳ theo quy mô và vị trí quan trọng, Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế Nhà nước có hoặc không có CTTC là doanh nghiệp thành viên"

Trang 27

Đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước Thực tiễn kinh nghiệm của các Tập đoàn trên thế giới khẳng định việc thành lập CTTC trong Tập đoàn sẽ giúp Tập đoàn khai thác triệt để sức mạnh của mình để kinh doanh trên thị trường tài chính tiền tệ, phát huy thế mạnh về nguồn lực tài chính, nguồn lực con người

Hơn nữa, đối với nước ta đang trong quá trình phát triển, nhu cầu hình thành và phát triển một thị trường vốn là cấp bách Đồng thời với sự phát triển thị trường vốn đó thì sự hình thành các định chế trung gian là tất yếu Vì thế, ngoài các tổ chức tài chính như: Ngân hàng thương mại, hợp tác xã tín dụng, công ty bảo hiểm thì cần thiết phải thành lập và đa dạng hoá hình thức và hoạt động của các CTTC nhằm tận dụng mọi nguồn lực tài chính trong nền kinh tế

để đáp ứng nhu cầu đầu tư ngày càng phát triển

1.1.2.2 Đặc điểm

a) Công ty tài chính

- Ho ạt động của Công ty tài chính CTTC thực hiện kinh doanh tiền tệ

và dịch vụ ngân hàng, huy động vốn, tín dụng, mở tài khoản và dịch vụ ngân quỹ và các hoạt động CTTC chủ yếu là cho vay ngắn hạn và trung hạn phục

vụ các hoạt động mua bán vật tư, hàng hoá và dịch vụ đối với các tổ chức kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế

- Th ời hạn hoạt động của Công ty tài chính tại Việt Nam không quá 50

năm Trường hợp cần gia hạn thời hạn hoạt động phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận Mỗi lần gia hạn không quá 50 năm

- Qu ản trị, điều hành và kiểm soát: Công ty tài chính được Ngân hàng

Nhà nước cấp Giấy phép có Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Tổng giám đốc (Giám đốc) Trong Công ty tài chính, Hội đồng quản trị có chức năng quản trị công ty theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định

Trang 28

khác của pháp luật; Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra hoạt động tài chính

của công ty, giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán và hoạt động của hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ của công ty; Tổng giám đốc (Giám đốc) chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị điều hành hoạt động hàng ngày theo nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác cuả pháp luật Đối với Công ty tài chính trực thuộc tổ chức tín dụng, việc quản trị, kiểm soát công ty do Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát của Tổ chức tín dụng quyết định [3], [4]

b) Công ty tài chính trong các T ập đoàn kinh tế

 Tư cách pháp nhân: Công ty tài chính chịu sự quản lý của Tổng công

ty về chiến lược phát triển, về tổ chức và nhân sự, chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước về nội dung và phạm vi hoạt động nghiệp vu CTTC có con

dấu riêng, được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước, được TCT cấp vốn điều lệ ban đầu Hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Hoạt động theo luật doanh nghịêp và quy chế

hoạt động của các tổ chức tín dụng

 Về vai trò và nhiệm vụ: CTTC có nhiệm vụ huy động và cho vay đáp ứng nhu cầu của TCT và các đơn vị thành viên của về vốn Quan hệ giữa Công ty tài chính với các đơn vị thành viên của TCT được thực hiện theo nguyên tắc có vay có trả Trường hợp thực hiện việc cho vay đối với các tổ chức đơn vị kinh doanh khác ngoài TCT, CTTC phải được sự đồng ý của Hội đồng quản trị

 Thời hạn hoạt động: Thời hạn hoạt động của Công ty tài chính không dưới 20 năm kể từ ngày được cấp giấy phép hoạt động, nhưng không được vượt quá thời hạn hoạt động của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế [3], [4]

 Nguyên tắc tổ chức và điều hành:

Trang 29

 Công ty tài chính chịu sự quản lý của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế

về chiến lược phát triển, về tổ chức và nhân sự, chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước về nội dung và phạm vi hoạt động nghiệp vụ

 Điều hành hoạt động của Công ty tài chính là giám đốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm theo tiêu chuẩn của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định

 Công ty tài chính chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về mọi

hoạt động kinh doanh của mình

 Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế chịu trách nhiệm trước pháp luật về các khoản cho vay các doanh nghiệp ngoài Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế do

Hội đồng quản trị chấp thuận, cũng như các quyết định của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế có liên quan đến hoạt động của công ty tài chính

1.1.2.3 Phân bi ệt công ty tà chính và Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế

Công ty tài chính trực thuộc các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế Nhà nước là một trung gian tài chính đặc biệt và là một mô hình quản

lý kinh doanh mới trong hoạt động kinh tế - tài chính tại Việt Nam Sự ra đời

và phát triển của loại hình doanh nghiệp này đã mang lại một luồng sinh khí

mới cho thị trường vốn nước ta Để làm rõ hơn vị trí của CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế, ta sẽ so sánh mô hình này với các CTTC thông thường [3], [4]

CTTC thuộc Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế có tất cả các tính chất của

một CTTC bình thường, là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, được thành lập dưới hình thức là "công ty quốc doanh hoặc công ty cổ phần, hoạt động chủ yếu là cho vay để mua, bán hàng hoá, dịch vụ bằng nguồn vốn của mình

hoặc vay của dân cư"

Trang 30

Bên cạnh những điểm chung đó, CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế còn có những điểm khác biệt lớn lao về tổ chức và nghiệp vụ so với các CTTC thông thường ở Việt Nam là:

Mục tiêu ra đời và hoạt động của CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế là cung cấp những dịch vụ về tài chính cho Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế và các thành viên trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế, đặc biệt là

mục tiêu huy động vốn, đầu tư tài chính và điều hoà vốn để đáp ứng nhu cầu hoạt động và phát triển của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế

- Về tổ chức, CTTC thuộc Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế là một thành viên của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế, chịu sự quản lý trực tiếp của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế về chiến lược phát triển, về tổ chức nhân sự

- Về mặt nghiệp vụ, CTTC thuộc Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế có những nghiệp vụ khác là:

+ Về nghiệp vụ uỷ thác: CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế

thực hiện việc nhận uỷ thác của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế (nhận uỷ thác vay vốn cho Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế, nhận uỷ thác đầu tư vào các dự

án của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế) Thông qua việc quản lý những quỹ

tập trung của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế như quỹ khấu hao cơ bản để phân phối, điều hoà vốn trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế theo cơ cấu đầu

tư toàn ngành

+ Về nghiệp vụ huy động vốn: CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế được phép nhận tiền gửi có kỳ hạn lớn hơn 1 năm của Tổng công ty,

Tập đoàn kinh tế và các doanh nghiệp thành viên

- Về nghiệp vụ sử dụng vốn: CTTC thực hiện cho vay các công ty thành viên trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế theo nguyên tắc có vay có trả, thực hiện chế độ lãi suất nội bộ do CTTC đề nghị và Tổng Giám đốc

Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế duyệt theo uỷ quyền của Hội đồng quản trị

Trang 31

Do có những đặc điểm khác biệt trên nên CTTC thuộc Tổng công ty,

Tập đoàn kinh tế có những ưu điểm và hạn chế so với các CTTC khác đó là: + Thị trường và phạm vi hoạt động của CTTC bị giới hạn trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế Đây là một hạn chế lớn của CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế Tuy nhiên, đây cũng là một lợi thế của các CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế so với các CTTC khác Vì thực tế của

nền kinh tế Việt Nam trong khi thị trường trung và dài hạn của Việt Nam đầy rủi ro, bất trắc, các CTTC khác không phát triển được nghiệp vụ trung và dài hạn, thì các CTTC có ưu thế về thị trường vì các Tổng công ty, Tập đoàn kinh

tế chính là thị trường dịch vụ tài chính ngân hàng to lớn và ngày càng phát triển, ổn định và an toàn Đây chính là ưu điểm mà các CTTC khác không thể

có được

+ Mặt khác, nghiệp vụ nhận tiền gửi có kỳ hạn của các thành viên trong

Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế làm cho CTTC giống như một Ngân hàng nội

bộ của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế và việc quản lý các quỹ tập trung của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế, giúp Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế có khả năng điều hoà nguồn vốn nội bộ từ thành viên này đến các thành viên khác trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế một cách dễ dàng, đạt hiệu quả cao hơn Hơn nữa, lãi suất nội bộ giúp cho CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế

cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho đơn vị trong ngành và các đơn vị cùng ngành kinh tế kỹ thuật Vì vậy, để Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế phát triền và lớn mạnh cần thiết phải thành lập CTTC để tận dụng những ưu điểm này Đó cũng là cơ sở của việc ra đời CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế [6]

Tóm lại, qua đối chiếu so sánh với các CTTC thông thường thì vị trí của CTTC trong TĐKT đã được xác định Tuy nhiên, để thấy được sự cần thiết

Trang 32

thành lập các CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế, chúng ta cần làm

rõ vai trò của CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế

1.1.2.4 V ị trí của Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế

Trong các Tập đoàn ngày nay, bên cạnh các đơn vị sản xuất kinh doanh truyền thống thường có các tổ chức Tài chính-Ngân hàng, Bảo hiểm và các đơn vị nghiên cứu, đào tạo Các tổ chức Tài chính-Ngân hàng và nghiên cứu ứng dụng ngày càng được coi trọng vì nó là đòn bẩy cho sự phát triển của Tập đoàn và là một bộ phận quan trọng, không thể tách rời trong cơ cấu kinh doanh của Tập đoàn

Khi nghiên cứu đặc điểm của các Tập đoàn kinh doanh ngày nay chúng

ta có thể thấy rõ sự cần thiết phải thành lập và phát triển tổ chức Tài chính- Ngân hàng trong các Tập đoàn

Thứ nhất, việc hình thành Tập đoàn xuất phát từ nguyên nhân khách quan nhằm khắc phục sự hạn chế về vốn của từng thành viên cá biệt Trong

Tập đoàn việc huy động vốn từ các công ty thành viên để đầu tư một cách tập trung vào các công ty, các dự án có hiệu quả kinh tế cao khắc phục tình trạng phân tán vốn chính là cơ sở cho việc thành lập công ty tài chính Vì thế, sự ra đời Công ty tài chính sẽ tổng hợp sức mạnh tài chính của mọi thành viên trong Tập đoàn, nâng cao khả năng cạnh tranh

Thứ hai, xu hướng của các Tập đoàn ngày nay là phát triển đa ngành, đa lĩnh vực Do phát triển đa ngành, đa lĩnh vực với các quan hệ liên kết kinh tế dọc, ngang và liên kết kinh tế hỗn hợp dọc ngang rất phức tạp đòi hỏi phải có

sự chuyên môn hoá và hợp tác hóa giữa các doanh nghiệp thành viên trong Tập đoàn Các Công ty tài chính (ngân hàng) được thành lập nhằm thực hiện chức năng chuyên môn hoá trong quản lý tài chính do đó nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng nguồn vốn, tối đa hoá lợi nhuận

Trang 33

Mặt khác trong các Tập đoàn kinh doanh, quan hệ tài chính giữa công ty

mẹ và công ty con là dựa trên mối quan hệ sở hữu, trong đó công ty mẹ đóng vai trò chi phối, kiểm soát công ty con về chiến lược và tài chính Bên cạnh

đó, công ty mẹ sẽ hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty thành viên vay vốn từ nguồn vốn cổ phần chung của Tập đoàn Quan hệ tín dụng này thường được thực hiện thông qua công ty tài chính Công ty tài chính đảm bảo cho các công ty thành viên vay vốn với lãi suất ưu đãi trong nội bộ Tập đoàn Hơn nữa, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán đã tạo điều kiện hình thành những Tập đoàn có hạt nhân liên kết là công ty tài chính: Công ty tài chính là công ty mẹ nắm giữ cổ phần chi phối của các công ty con Trong trường hợp này, Công ty tài chính đóng vai trò chi phối cả Tập đoàn

Riêng đối với Việt Nam, việc thành lập các Công ty tài chính trong các

Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế nhà nước theo mô hình Tập đoàn kinh doanh

là rất cần thiết, nó bắt nguồn từ yêu cầu và điều kiện thực tế chứ không mang tính chủ quan, duy ý chí Phân tích các điều kiện thực tế của Việt nam và của các Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế có thể thấy rõ điều này

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh mạnh mẽ, Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế Nhà nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt

là sự cạnh tranh với các Tập đoàn lớn trong khu vực và trên thế giới đòi hỏi các Tổng công ty phải thay đổi cơ cấu tổ chức, các quan hệ tài chính Vì thế, việc ra đời CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế là thích hợp với hoàn

cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay, là một giải pháp gắn kết kinh tế giữa các công ty thành viên, nhằm tận dụng sức mạnh về vốn và các mối quan hệ với nước ngoài của mỗi Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế mà CTTC sẽ là chất xúc tác đẩy mạnh sự phát triển công nghiêp, thông qua tư vấn và quan hệ để mở

Trang 34

rộng xuất nhập khẩu, đồng thời nó còn tìm kiếm các đề án tài trợ với điều

kiện có lợi nhất cho Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế

Ngoài ra, cơ chế kinh tế mới đòi hỏi các Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế phải chủ động về tài chính và các hoạt động kinh doanh CTTC trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế Nhà nước được thành lập nhằm tạo những bước

biến đổi về chất cho các Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế trong việc tìm kiếm khơi thông các nguồn vốn trong và ngoài nước, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn lớn cho Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế, thực hiện chuyên môn hoá trong quản lý vốn, quản lý danh mục đầu tư nâng cao sức cạnh tranh của các Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế - là yếu tố rất cần thiết đối với các DNNN Việt Nam hiện nay trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới

Hơn nữa, trong tương lai, khi thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển, CTTC với trình độ chuyên môn của mình, sẽ là đại diện cho Tổng công

ty, Tập đoàn kinh tế, các công ty thành viên tham gia thị trường chứng khoán

với vai trò là một nhà môi giới chứng khoán [14]

Qua phân tích trên, ta thấy các chức năng quan trọng của Công ty tài chính trong Tập đoàn là: Huy động vốn, điều hoà vốn, đầu tư tài chính, dịch

vụ và tư vấn tài chính

1.2 Hoạt động của Công ty tài chính trong Tập đoàn kinh tế

1.2.1 Huy động vốn

Trên thế giới các doanh nghiệp cá biệt có thể tìm kiếm nguồn vốn phục

vụ cho hoạt động của mình trực tiếp trên thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán Ở nước ta hiện nay, thị trường tài chính chưa phát triển, thị trường chứng khoán đang ở giai đoạn sơ khai, do đó việc huy động nguồn vốn trực tiếp trên thị trường bị hạn chế Các doanh nghiệp chủ yếu vay vốn từ các tổ chức trung gian tài chính, đặc biệt là các Ngân hàng thương mại Thực

Trang 35

tế, các nguồn này không đáp ứng đủ nhu cầu vốn phát triển của các Tập đoàn, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn

Trong điều kiện như vậy, các tổ chức tài chính của Tập đoàn có những lợi thế nhất định trong việc tìm kiếm các nguồn vốn cung ứng cho các doanh nghiệp thành viên và các dự án của Tập đoàn Công ty tài chính sẽ là tổ chức đại diện cho Tập đoàn và các doanh nghiệp thành viên huy động đồng bộ các nguồn vốn trong nội bộ Tập đoàn, trong dân chúng thông qua phát hành trái phiếu, tín phiếu với mục đích đầu tư vào các dự án có chiều sâu, đổi mới thiết

bị sản xuất, xây dựng, phát triển cơ sở vật chất của các công ty thành viên

Với vị thế của mình, Công ty tài chính còn có thể vay vốn từ các tổ chức tín

dụng để cung cấp cho các công ty thành viên, các dự án của Tập đoàn Ngoài

ra, các tổ chức tài chính trong Tập đoàn còn là kênh dẫn các nguồn vốn đầu tư quốc tế cho các dự án đầu tư của Tập đoàn và của các công ty thành viên

Với trình độ chuyên môn cao và uy tín cuả mình, các tổ chức tài chính của

Tập đoàn sẽ tư vấn cho các đối tác bên ngoài đầu tư vào Tập đoàn Nó chính

là " cầu nối" giữa Tập đoàn và các nhà đầu tư nước ngoài, giúp các nhà đầu tư nước ngoài "sẵn sàng" đầu tư vốn vào các lĩnh vực của Tập đoàn Và khi đó

tổ chức tài chính trở thành người quản lý vốn đầu tư cho các đối tác nước [26]

1.2.2 Điều hoà và quản lý vốn

"Điều hoà vốn" có thể được hiểu là toàn bộ những hoạt động nhằm phân

bổ nguồn vốn giữa các bộ phận trong một tổng thể để tạo ra một cơ cấu vốn

hợp lý, có hiệu quả Cơ chế điều hoà vốn không có nghĩa là chuyển vốn một cách hành chính đơn thuần từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn mà bao gồm hệ

thống quan hệ tài chính dựa trên hoạt động tín dụng thực sự Cơ chế lãi suất

hợp lý và những lợi ích chiến lược lâu dài sẽ có tác dụng duy trì sự liên kết nội bộ bền vững của Tập đoàn

Trang 36

Trong Tập đoàn, tại một khoảng thời gian nhất định, có những doanh nghiệp thiếu vốn để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, trong khi đó các doanh nghiệp khác lại có vốn "nhàn rỗi" (tức là có vốn mà chưa có nhu cầu đầu tư Công ty tài chính đóng vai trò là trung gian tài chính trong cơ chế điều hoà vốn của Tập đoàn Công ty tài chính huy động các nguồn vốn nhàn rỗi

của các đơn vị để hình thành một nguồn vốn tập trung và ổn định hơn

Đây là chức năng đặc biệt chỉ có ở CTTC Việt Nam CTTC thay Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế điều hoà vốn: Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế giao cho CTTC quản lý các quỹ tập trung của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế;

quản lý vốn của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế đầu tư vào các doanh ngiệp thành viên, các dự án, thực hiện huy động vốn và cho vay các doanh nghiệp thành viên theo chính sách, quy định của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế và thông qua các hoạt động đó chi phối, điều hoà nguồn vốn toàn Tổng công ty,

Tập đoàn kinh tế một cách hiệu quả hơn

Có thể nhận thấy rằng, cơ chế điều hoà vốn thông qua Công ty tài chính cần phải kết hợp đồng bộ với cơ chế quản lý và sử dụng các quỹ của Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế cũng như của các doanh nghiệp thành viên Không nên để các quỹ chuyên dùng này trở thành một nguồn vốn "chết" mà cần thu hút bộ phận quỹ nhàn rỗi vào Công ty tài chính để cho vay

Thực hiện chức năng này, Công ty tài chính có các nghiệp vụ sau:

+ Cho vay tiêu dùng bằng các hình thức cho vay trả góp

- Chiết khầu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác

Trang 37

+ Công ty tài chính được cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác đối với cac tổ chức và cà nhân + Công ty tài chính và các tổ chức tín dụng khác được tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ khác của nhau

- Bảo lãnh : Công ty tài chính được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh Việc bảo lãnh của Công ty tài chính phải được thực hiện theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước

Ngoài ra Công ty tài chính còn được thực hiện các hoạt động khác theo qui định của Ngân hàng Nhà nước [26], [3], [4]

1.2.3 Đầu tư tài chính

Hoạt động đầu tư là luôn là nhiệm vụ quan trọng và giữ vai trò quyết định đến các kế hoạch về lợi nhuận của Công ty tài chính Vì vậy, để tiến hành đầu tư, các CTTC phải tổ chức thực hiện nghiêm túc quy trình hoạt động đầu tư, sử dụng công cụ phân tích cơ bản, nhằm tập trung giải quyết những

vấn đề vĩ mô như: phân tích sự tác động của lãi suất, tỷ giá, chính sách kinh tế

- xã hội, các quan hệ kinh tế quốc tế, tác động tới hoạt động đầu tư - kinh doanh chứng khoán; phát hiện, dự đoán khuynh hướng phát triển và những

biến động có thể sảy ra đối với toàn bộ nền kinh tế - đặc biệt là đối với thị trường tài chính và triển vọng phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể Đồng thời, để tính toán khả năng sinh lời, triển vọng tăng trưởng, phân tích rủi ro đối với từng danh mục đầu tư cụ thể

Trang 38

và mục tiêu hoạt động đầu tư của CTTC Trên cơ sở đó, phải xác định mục tiêu đầu tư là thu nhập, lãi vốn hay kết hợp cả hai mục tiêu này để hoạt động đầu tư một cách hiệu quả nhất

Mục tiêu đầu tư được thực hiện thông qua các chiến lược đầu tư Nghĩa

là, chiến lược đầu tư phải được thành lập trên cơ sở mục tiêu đầu tư Căn cứ vào mục tiêu đầu tư chủ động xây dựng chiến lược đầu tư để xác định cơ cấu tài sản (phân bố tài sản) và lựa chọn khoản mục đầu tư theo hướng năng động hoặc theo cơ cấu ổn định Từ đó hình thành chiến lược đầu tư mang tính chủ động hay thụ động hoặc sử dụng chiến lược hỗn hợp cả hai thuộc tính này để hình thành danh mục đầu tư

1.2.3 2 Lĩnh vực đầu tư

Lĩnh vực (danh mục) đầu tư thể hiện một cách tổng thể mục tiêu, chiến lược đầu tư, việc phân bố tài sản và lựa chọn khoản mục đầu tư không chỉ đối với các loại hình chứng khoán, ngành, lĩnh vực mà CTTC quan tâm; mà còn thể hiện cả mục tiêu, phạm vi hoạt động của chúng trên thị trường tài chính thế giới Danh mục đầu tư của các CTTC không chỉ tập trung việc phân bố tài sản và lựa chọn những khoản mục đầu tư ở các thị trường vốn phát triển mà còn tranh thủ những cơ hội đầu tư vào những ngành, lĩnh vực đang phục hồi ở những công ty thực hiện việc chuyển đổi mô hình, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước Tuy nhiên đối với các CTTC trong các TĐKT thì ưu tiên hàng đầu vẫn là đầu tư vào các ngành, lĩnh vực mà Tập đoàn đó

có thế mạnh và ưu tiên phát triển

1.2.3 3 Cơ chế đầu tư Tài chính của Công ty tài chính

Công ty tài chính trong Tập đoàn là một mắt xích quan trọng để gắn kết, hợp tác giữa Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế và các đơn vị thành viên, với thị trường tài chính tiền tệ Công ty tài chính trong Tập đoàn ra đời không phải vì

Trang 39

mục tiêu chủ yếu là để tăng thêm một dịch vụ, một sản phẩm, để kinh doanh thêm về tín dụng, vay và cho vay cạnh tranh với Ngân hàng trong lĩnh vực tín dụng mà một trong những mục tiêu chính của việc ra đời của Công ty tài chính trong Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế là thực hiện chức năng đầu tư tài chính cho Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế nhằm phát triển tiềm lực, thế mạnh

của Tập đoàn, từ đó đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh của các doanh nghiệp trong Tập đoàn Thực hiện thành công chức năng này, Công ty tài chính trong Tập đoàn đã thực hiện thành công việc "xã hội hoá" việc đầu tư vào Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế, qua đó vốn của mọi ngành, mọi người có thể được đầu tư vào Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế Nhà nước, khu vực mà từ trước tới nay vẫn bị coi là độc quyền của Nhà nước Hơn thế nữa, việc phát huy nội lực

để đầu tư vào Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế sẽ được khai thác triệt để Một mặt ưu thế nữa của hoạt động đầu tư tài chính cho Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế cuả Công ty tài chính là nó sẽ góp phần cho sự phát triển của thị trường chứng khoán, bằng việc tạo ra hàng hoá có giá trị cho thị trường này, bởi lẽ cổ phiếu của các Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế mạnh chắc chắn sẽ có tính hấp dẫn cao

1.2.4.Tư vấn tài chính

1.2.4.1 Vai trò c ủa dịch vụ tư vấn tài chính

Dịch vụ tư vấn tài chính của các định chế tài chính rất đa dạng, cùng với

sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính thì dịch vụ tư vấn tài chính đã

và đang góp một phần quan trọng trong việc làm lành mạnh hóa và chuyên nghiệp hóa trong hoạt động tài chính

Dịch vụ tài chính là dịch vụ kinh doanh nhưng được hiểu theo nghĩa rất hẹp là nhóm dịch vụ liên quan trực tiếp đến: Huy động vốn; Dàn xếp vốn;

Quản trị các nguồn vốn

Trang 40

Doanh nghiệp bên cạnh hoạt động vận hành kinh doanh được diễn ra lặp

đi lặp lại hàng ngày, thì khi họ muốn triển khai một kế hoạch mới: dự án mở rộng, đầu tư mới, mua lại doanh nghiệp khác, họ sẽ đối mặt với những vấn

đề về vốn

Nền kinh tế và đặc biệt là thị trường tài chính ngày càng phát triển kéo theo sự hình thành của ngày càng nhiều những nhu cầu mới và dịch vụ đáp ứng Dịch vụ tài chính, do đó, cũng đã mở rộng thêm sang những lĩnh vực mới như:

+ Sắp xếp và tái cấu trúc nguồn vốn, cơ cấu sở hữu quy định

+ Quy hoạch chiến lược các khoản đầu tư, trong đó vai trò tiếp theo quan

trọng nhất là vốn

Đây là những công việc mang tính chuyên môn cao, cần cùng lúc phối hợp nhiều nguồn lực quy mô lớn - nhân lực và vật lực Các định chế tài chính chính là những đơn vị đảm nhiệm công việc này

1.2.4.2 Các d ịch vụ tư vấn tài chính

a) D ịch vụ Bên Bán

Dịch vụ “Bên bán” giúp khách hàng tăng nguồn vốn để phục vụ việc mở

rộng kinh doanh bằng cách phát hành thêm hoặc bán chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu hay trái phiếu chuyển đổi) ra công chúng hoặc thu hút nguồn vốn từ các quỹ như là quỹ đầu tư riêng lẻ, các khoản vay hay các khoản tài trợ dự án Dịch vụ tư vấn dựa trên tình hình thị trường và những công cụ tài chính thích hợp nhất để kết hợp hiệu quả giữa kế hoạch ngắn hạn và dài hạn Ngoài ra, có

thể giúp việc bán tài sản hay phần tách ra của việc tái cấu trúc hoặc thay đổi trong định hướng chiến lược

Dịch vụ “Bên bán” bao gồm chào bán riêng lẻ, chào bán lần đầu ra công chúng, phát hành thêm, niêm yết trên thị trường chứng khoán trong và ngoài nước, tài trợ dự án và thoát vốn

Ngày đăng: 02/10/2020, 20:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w